Vườn Quốc Bidoup – Núi Bà được đánh giá là một trong bốn trung tâm đa dạng sinh học của Việt Nam với nhiều hệ sinh thái rừng khác nhau,với nhiều loại động thực vật quý hiếm cần được bảo
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP
BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC TẠI VƯỜN QUỐC GIA BI DOUP- NÚI BÀ
Sinh viên thực hiện: LÊ THỊ HẰNG Ngành: QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG VÀ DU LỊCH SINH THÁI Niên khóa: 2006- 2010
Tháng 07/2010
Trang 2
NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP
BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC TẠI VƯỜN QUỐC GIA BI DOUP- NÚI BÀ
Tác giả
LÊ THỊ HẰNG
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Kỹ sư chuyên ngành Quản
Lý Môi Trường và Du Lịch Sinh Thái
Giáo viên hướng dẫn
TS Hồ Văn Cử
Tháng 07/2010
Trang 3Cảm ơn các thầy cô trong khoa Môi trường và Tài Nguyên trường đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh, cùng các bạn bè trong lớp đã giúp đỡ góp ý cho tôi trong suốt quá trình hoc tập
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã đã luôn bên cạnh, động viên và giúp đỡ tôi
để có thể hoàn thành luận văn này
Sinh viên thực hiện
Lê Thị Hằng
Khoa Môi Trường và Tài Nguyên
Trang 4TÓM TẮT KHÓA LUẬN
Đề tài “nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học tại VQG Bi doup – Núi Bà” được thực hiện tại VQG Bi doup – Núi Bà từ tháng 2/2010 đến 6/2010 Nội dung đề tài gồm 5 chương:
Chương I – Mở đầu: Giới thiệu về mục đích, nội dung và phạm vi nghiên
cứu đề tài
Chương II – Tổng quan: Giới thiệu một số định nghĩa, tổng quan về VQG
Bi doup – Núi Bà
Chương III – Phạm vi, nội dung và phương pháp nghiên cứu: Tổng quan
các phương pháp sử dụng trong đề tài
Chương IV – Kết quả nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp bảo tồn
Chương 5: Kết luận – Tồn tại – Khuyến nghị: Đưa ra những kết luận , tồn
tại và khuyến nghị về việc bảo tồn đa dạng sinh học
Kết quả đạt được:
- Đa dạng sinh học:
• Về thảm thực vật:Kiểu rừng rậm thường xanh nhiệt đói núi cao (rừng lùn núi cao, rừng hỗn giao lá rộng và lá kim, rừng lá rộng thường xanh, kiểu thảm thực vật nhân tác: cây trồng lâu năm, và hàng năm) Kiểu kiểu quần hệ rừng thưa cây lá kim
• Về thực vật: Có 161 họ, 673 chi và 1.468 loài TV trong đó: 91 loài đặc hữu
62 loài quý hiếm trong SĐVN 2007và sách đỏ IUCN; ngoài ra còn được đánh giá là trung tâm đa dạng về Lan của Việt Nam với trên 250 loài
Trang 5• Về động vật: Có 4 lớp động vật gồm Lớp thú, lớp chim, lớp bò sát và lớp ếch nhái với 27 bộ, 95 họ và 382 loài Trong đó: 36 loài trong SĐVN; 26 loài trong sách đỏ IUCN Là một trong 221 khu chim đặc hữu thế giới và một trong 3 vùng chim đặc hữu của VN Là khu vực ưu tiên bảo tồn số 1 (SA3) thuộc dãy núi chính Nam Trường Sơn
- Những nguyên nhân làm suy giảm đa dạng sinh học
• Trực tiếp: Xâm lấn đất nông ngiệp, khai thác gỗ và lâm sản, khai thác khoáng sản
• Gián tiếp: Sự đói nghèo, gia tăng dân số, cơ sở hạ tầng còn khó khăn
- Và đề xuất một số giải pháp bảo tồn
hwwwwttp://www.chinhphu.vn/portal/page?_pag
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
TÓM TẮT KHÓA LUẬN ii
DANH MỤC BẢNG vi
CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT vii
Chương I: MỞ ĐẦU 1
1.2 Nội dung nghiên cứu 1
1.3 Phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Thời gian nghiên cứu 2
Chương II: TỔNG QUAN 3
2.1 Một số khái niệm 3
2.1.1.Đa dạng sinh học: 3
2.1.2.Hệ sinh thái 3
2.1.3.Quản lý hệ sinh thái 3
2.1.4.Phương thức tiếp cận quản lý hệ sinh thái 4
2.1.5.Bảo tồn đa dạng sinh học 4
2.2 Bảo tồn đa dạng sinh học 5
2.2.1.Trên thế giới 5
2.2.2.Ở Việt Nam 6
2.3 Tổng quan về Vườn Quốc Gia Bi doup – Núi bà 9
2.3.1.Lịch sử hình thành VQG bidoup 9
2.3.2.Cơ cấu hoạt động của bộ máy tổ chức 9
2.3.3.Các hoạt động điển hình 9
2.3.4.Chức năng và nhiệm vụ của VQG 10
2.3.5.Tài nguyên đa dạng sinh học 10
2.3.6.Bảo tồn ĐDSH VQG Bidoup 12
2.3.7.Du lịch sinh thái 12
2.3.8.Những tác động của người dân trong khu vực 12
2.3.9.Điều kiện tự nhiên 13
2.3.10.Kinh tế xã hội 17
Trang 7Chương III: PHẠM VI NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
3.1.Phạm vi nghiên cứu 20
3.2 Nội dung nghiên cứu 20
3.3 Phương pháp nghiên cứu 20
Chương 4: KẾT QUẢ NGIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC VQG BIDOUP- NÚI BÀ 22
4.1.Kết quả nghiên cứu 22
4.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội 22
4.1.1.1 Điều kiện tự nhiên 22
4.1.1.2 Kinh tế xã hội 25
4.1.2.Tài nguyên đa dạng sinh học 27
4.1.3 Tiền năng du lich sinh thái tại VQG Bidoup 36
4.1.4 Những nguyên nhân làm suy giảm đa dạng sinh học 39
4.1.4.1 nguyên nhân gián tiếp 39
4.1.4.2.Nguyên nhân trực tiếp 42
4.1.5 Một số thể chế chính sách áp dụng trong công tác bảo tồn 45
4.2.1.Giải pháp trước mắt: 45
4.2.2.Giải pháp lâu dài 46
4.2.3.Đối với tài nguyên động vật: 47
4.2.4.Các kế hoạch cụ thể: 48
4.2.5.Đối với ban quản lý Vườn Quốc Gia 48
4.2.6.Đối với du lịch 48
Chương V:KẾT LUẬN–TỒN TẠI-KHUYẾN NGHỊ 49
5.1 KẾT LUẬN 49
5.2 TỒN TẠI 50
5.3 KHUYẾN NGHỊ 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51 w.chinhphu.vn/portal/page?_pageid=33,638900&_dad=portal&_schema=POR TAL&docid=81137
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Hình 4.1: Vị trí VQG Bi doup – Núi Bà 23
Bảng 4.2:Tình hình dân số 25
Bảng 4.3: Thành phần dân tộc 26
Bảng 4.4: Những dạng tài nguyên thực vật 28
Bảng 4.5: Bảng so sánh tỉ lệ phần trăm của khu hệ thực vật Bidoup –Núi Bà với một số khu hệ thực vật lân cận và Việt Nam 29
Bảng 4.6: Số loài, số họ trong các bộ thú ở khu vực VQG 31
Bảng 4.7: Thành phần cấu trúc các loài chim khu vực khảo sát 33
Bảng 4.8: Thành phần cấu trúc các loài bò sát, ếch nhái trong vực khảo sát 34
Bảng 4.9: Thành phần các loài có giá trị bảo vệ 34
Bảng 4.10: Số lượng các loài quý hiếm ở các cấp đánh giá theo SĐVN 35
Bảng 4.11: Tình hình vi phạm của cộng đồng dân cư 44
Trang 9CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
BTTN: Bảo tồn thiên nhiên
BVMT: Bảo vệ môi trường
NCKH: Nghiên cứu khoa học
NGO: Non-Governmental Organization
NN & PTNT: Nông nghiệp và phát triển nông thôn
VQG: Vườn quốc gia
SĐVN: Sách đỏ Việt Nam
QLHST: Quản lý hệ sinh thái
WCMC: World Conservation Monitoring Center
WWF: World Wide Fund For Nature
Trang 10Chương I: MỞ ĐẦU1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Thế giới đang đứng trước tình trạng khủng hoảng về môi trường trên phạm vi toàn cầu.Ước tính có khoảng 150 loài sinh vật bị mất đi mỗi ngày do ảnh hưởng của các hoạt động của con người Tình trạng này đang có chiều hướng gia tăng và các hoạt động của con người ngày càng trở thành mối đe dọa đến khả năng cung cấp của HST
Sự tồn tại của con người phụ thuộc hoàn toàn vào tài nguyên ĐDSH và các chức năng tự nhiên của HST Do đó việc bảo tồn ĐDSH và duy trì các chức năng tự nhiên của HST là thực sự cần thiết Tuy nhiên, các nguồn lực đầu tư cho công tác này hiện còn hạn chế, vì vậy cần thiết phải tiến hành nghiên cứu để xác định các ưu tiên bảo tồn nhằm phân bổ các nguồn lực đầu tư cho công tác này được hiệu quả và hợp lý nhất Vườn Quốc gia Bidoup – Núi Bà với tổng diện tích lâm phần được giao quản lý
là 64.800ha Vườn Quốc Bidoup – Núi Bà được đánh giá là một trong bốn trung tâm
đa dạng sinh học của Việt Nam với nhiều hệ sinh thái rừng khác nhau,với nhiều loại động thực vật quý hiếm cần được bảo tồn
Ngoài ra, Vườn Quốc gia Bidup – Núi Bà là nơi chứa đựng một diện tích rất lớn rừng gần như nguyên sinh được các nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm Nhằm góp phần bảo tồn nguồn tài nguyên ĐDSH của VQG Bi doup – Núi Bà, bổ sung cơ sở lý luận và thực tiễn trong công tác quản lý, bảo tồn ĐDSH tại Việt Nam nói chung và điều kiện đặc thù của VQG BIDOUP nói riêng, chúng tôi tiến hành thực hiện
đề tài: “Nghiên cứu và đề xuất giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học tại Vườn quốc gia
Bi doup – Núi Bà”
1.2 Nội dung nghiên cứu
• Tài nguyên ĐDSH tại VQG Bi doup – Núi Bà
• Công tác quản lý bảo tồn tại VQG
• Các hoạt động diễn ra ở VQG
• Cộng đồng dân cư
Trang 111.3 Phạm vi nghiên cứu
Nguyên cứu được tiến hành tại địa bàn 3 xã Đa sar, Đa Nhim, Đa Chais
1.4 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 2/2010 đến tháng 6/2010
Trang 12Chương II: TỔNG QUAN2.1 Một số khái niệm
2.1.1 Đa dạng sinh học:
Đa dạng sinh học là sự phong phú của mọi cơ thể sống có từ tất cả các nguồn trong hệ sinh thái trên cạn, ở biển và các hệ sinh thái dưới nước khác, và mọi tổ hợp sinh thái mà chúng tạo nên; Đa dạng sinh học bao gồm sự đa dạng trong loài (đa dạng
di truyền), giữa các loài và các hệ sinh thái (Công ước Đa dạng sinh học, 1992)
Đa dạng di truyền: Là tính đa dạng của các thông tin di truyền chứa trong tất cả các cá thể thực vật, động vật và vi sinh vật Đa dạng di truyền có ở bên trong và giữa các quần thể của các cá thể tạo nên một loài, cũng như giữa các loài;
Đa dạng loài: Là tính đa dạng của các loài sinh vật khác nhau;
Đa dạng về hệ sinh thái: Là tính đa dạng của các sinh cảnh, các quần xã sinh vật
và các quá trình sinh thái.[2]
2.1.2 Hệ sinh thái
Hệ sinh thái (Ecosystem) là một trong những thành phần tạo nên sinh quyển - đó
là một tổng thể hoàn chỉnh của các HST trên trái đất HST còn bao gồm các sinh cảnh
- là nơi các loài động vật và thực vật cư trú, là một hệ thống chức năng bao gồm các thành phần vô cơ và hữu cơ
Trong số các đặc tính của HST, thì đặc tính ”thay đổi” được các nhà quản lý đặc biệt quan tâm Vì HST luôn luôn biến động, nên việc nhận thức được về sự thay đổi có tính tất yếu là rất quan trọng đối với những người làm công tác quản lý HST Hai đặc tính quan trọng khác của HST là tính phục hồi và ĐDSH.[6]
2.1.3 Quản lý hệ sinh thái
Khái niệm Quản lý hệ sinh thái (Ecosystem management) được đề cập trong Công ước ĐDSH gồm 12 nguyên tắc Các nguyên tắc này được sử dụng nhằm xây dựng một chiến lược bảo tồn phối hợp các nguồn tài nguyên và khuyến khích việc bảo tồn với sử dụng bền vững
Trang 13Mục tiêu của QLHST là tìm ra được cách để tổ chức việc sử dụng HST của con người, nhằm đạt được sự hài hoà giữa lợi ích thu được từ các nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có của các thành phần và quá trình của HST mà vẫn duy trì được khả năng của HST để cung cấp được những lợi ích đó ở mức độ bền vững Nói cách khác, mục tiêu của QLHST là sử dụng mà không làm mất HST
Mục đích của QLHST là đảm bảo sản phẩm và dịch vụ của HST luôn duy trì ở mức bền vững Khái niệm “phát triển bền vững” có giá trị đặc biệt quan trọng trong QLHST, vì khi chúng ta thực hiện các nguyên tắc tiếp cận hệ sinh thái chính là phục
vụ và đảm bảo cho sự phát triển bền vững Để làm được điều này, đòi hỏi các cấp chính quyền địa phương, các tổ chức bảo tồn và các cá nhân cần xem xét lại cách thức thực hiện của mình, bao gồm cả việc quản lý nội tại và mối quan hệ với các bên liên quan [6]
2.1.4 Phương thức tiếp cận quản lý hệ sinh thái
Phương thức tiếp cận QLHST được chính thức thông qua tại Hội nghị các bên lần thứ 5 về Công ước ĐDSH tổ chức tại Nairobi (Kenya) năm 2000
Theo quan điểm của Công ước ĐDSH, phương thức tiếp cận QLHST được định nghĩa là: “một chiến lược quản lý đất, nước và nguồn tài nguyên sinh vật nhằm thúc đẩy việc bảo tồn và sử dụng những nguồn tài nguyên đó một cách bền vững, hợp lý” Phương thứctiếp cận QLHST đặt con người và các phương thức sử dụng nguồn tài nguyên là trọng tâm của khuôn khổ ra quyết định, gồm 4 điểm nổi bật như sau:
Được xây dựng để cân đối ba mục tiêu của Công ước ĐDSH (Bảo tồn, sử dụng bền vững và chia sẻ lợi ích một cách công bằng nguồn tài nguyên sinh vật),
• Đặt con người vào vị trí trung tâm của vấn đề quản lý ĐDSH,
• Mở rộng quản lý ĐDSH vượt ra ngoài khu vực bảo vệ và công nhận rằng làm như vậy là rất quan trọng đối với việc phổ biến các mục tiêu CBD, và
Đáp ứng được các mối quan tâm của các ban, ngành ở phạm vi rộng nhất [7]
2.1.5 Bảo tồn đa dạng sinh học
Bảo tồn đa dạng sinh học là việc quản lý mối tác động qua lại giữa con người và các gen, các loài và các hệ sinh thái nhằm mang lại lợi ích lớn nhất cho thế hệ hiện tại
Trang 14mà vẫn duy trì tiềm năng của chúng để đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng của các thế
hệ tương lai (từ điển đa dạng sinh học và phát triển bền vững, 2001)
Nguyên lý khoa học của Bảo tồn đa dạng sinh học: Theo Soule (1985) sinh học bảo tồn là một khoa học đa ngành được xây dựng nhằm hạn chế các mối đe dọa đối với đa dạng sinh học với hai mục đích – một là tìm hiểu những tác động tiêu cực do con người gây ra đối với các loài, hai là xây dựng những phương pháp tiếp cận để hạn chế sự tuyệt diệt của các loài [4]
2.2 Bảo tồn đa dạng sinh học
2.2.1 Trên thế giới
a Xác lập thứ bậc ưu tiên trên phạm vi toàn cầu
Trên thực tế, các nguồn lực giành cho công tác bảo tồn còn hạn chế, vì vậy để phân bổ các nguồn lực một cách phù hợp và thiết thực, cần phải xác định được các ưu tiên, lập chiến lược và lập kế hoạch trong bảo tồn một cách hiệu quả Nhiều tổ chức phi Chính phủ hoạt động trong lĩnh vực này đã tham gia vào quá trình này nhằm xác định được các khu vực mà họ muốn hướng các nguồn đầu tư của mình vào đó
Có nhiều phương thức tiếp cận khác nhau được sử dụng trong việc xác định này,
có thể nhóm gộp thành 3 nhóm như sau:
• Dựa trên các sinh cảnh đại diện: được một số tổ chức bảo tồn như: WWF,
TNCvà AWF áp dụng
• Dựa trên các tiêu chí về loài: như độ phong phú của loài và số lượng các loài đặc
hữu được Tổ chức Bảo tồn Quốc tế và Tổ chức Bảo tồn Chim Quốc tế sử dụng
• Dựa trên các tiêu chí về các mối đe dọa: để xác định các mức đe dọa tối thiểu
hoặc các vùng biệt lập được CI và WCS sử dụng
b Xác định các cảnh quan
Thuật ngữ “cảnh quan”mang nhiều ý nghĩa khác nhau, phục vụ cho các mục đích khác nhau Theo mục đích bảo tồn, thì cảnh quan có thể hiểu như: một vùng đất rộng lớn bao gồm nhiều đặc trưng khác nhau và được xem như là kết quả của một quá trình biến đổi lâu dài Đến nay vẫn chưa có giải thích cụ thể nào về qui mô của cảnh quan, cũng như chưa có định nghĩa nào về việc xác định ranh giới của cảnh quan Thông thường, các nhà qui hoạch bảo tồn thường xác định ranh giới của cảnh quan dựa trên
Trang 15các yếu tố như: lưu vực, vùng núi, ngọn núi, phạm vi phân bố của một loài hoặc nhóm
loài
c Xác định các khu vực để triển khai các hoạt động bảo tồn
Bảo tồn thông qua việc thiết lập hệ thống các VQG là ý tưởng đầu tiên xuất hiện
ở Hoa Kỳ từ thế kỷ XIX bằng việc thành lập VQG Yellowstone ngày 1 tháng 3 năm
1872 Đến năm 1993, toàn thế giới đã có đến 8.619 khu bảo tồn, chiếm diện tích 7.922.660 km2
Hệ thống khu bảo tồn trên toàn thế giới không chỉ tăng về số lượng mà còn tăng
về diện tích ở tất cả các châu lục Từ những năm 60 của thế kỷ XX, vấn đề bảo tồn đã được chú trọng
Có thể nói rằng, trên thế giới đến nay mặc dù vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức, nhưng bảo tồn ĐDSH đã được quan tâm một cách toàn diện
d Một số phương thức tiếp cận được áp dụng trong quản lý bảo tồn đa dạng sinh học
Nhằm đảm bảo phát triển bền vững (kết hợp hài hoà giữa bảo tồn và phát triển), nhiều ngành, nhiều tổ chức quốc tế liên quan đến sử dụng tài nguyên thiên nhiên đang hình thành và xây dựng những phương thức tiếp cận mới về quản lý tài nguyên thiên nhiên
Một số phương thức tiếp cận chính này là:
• Quản lý hệ sinh thái,
• Quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng,
• Đồng quản lý tài nguyên thiên nhiên,
Trang 16lực trong công tác quản lý bảo tồn ĐDSH, trong đó phải kể đến 2 vấn đề quan trọng sau đây:
a Qui hoạch hệ thống rừng đặc dụng
Nhận thức được tầm quan trọng của nguồn tài nguyên thiên nhiên, của sự suy thoái ĐDSH, Việt Nam đã có những hành động tích cực trong công tác bảo vệ ĐDSH từ những năm 1960
Năm 1992, lần đầu tiên Việt Nam xuất bản Sách Đỏ và được tái bản có những điều chỉnh cập nhật vào năm 2000 Đồng thời nhiều văn bản luật và dưới luật liên quan khác cũng đã được ban hành và xây dựng Chương trình Nâng cao nhận thức môi trường năm 2001
Đến nay ở Việt Nam đã có Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, đã quy định việc bảo vệ
và phát triển nguồn tài nguyên động, thực vật rừng, quy định cụ thể về quản lý hệ thống rừng đặc dụng
Ngoài ra trong phong trào chung của toàn thế giới về bảo tồn và phát triển bền vững, Việt Nam cũng đã tham gia ký kết nhiều công ước quốc tế về môi trường có liên quan và đặc biệt là: “Công ước ĐDSH” (1993) và “Công ước CITES” (1994) Việc xây dựng Kế hoạch Hành động ĐDSH của Việt Nam, đã thể hiện quyết tâm trong bảo
vệ ĐDSH của nước ta
Năm 2000, quy hoạch mới hệ thống rừng đặc dụng với nhiều thay đổi lớn như: đề xuất phân hạng mới, loại bỏ, chuyển hạng, xác nhập, đổi tên và thành lập mới một số khu Đến năm 2003, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 192/2003/QĐ - TTg phê duyệt Chiến lược quản lý Hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam đến năm 2010, theo đó danh sách các khu rừng đặc dụng đã được Cục Kiểm lâm – Bộ
NN và PTNT xây dựng
Có thể nhận định rằng về bảo tồn ĐDSH, Việt Nam đã định hướng một cách toàn diện, vấn đề còn lại là thực hiện cho đúng tiến trình kèm theo đó là những thay đổi, cải tiến về chính sách, thể chế trong quản lý và tất nhiên là để thực hiện tiến trình này rất cần sự hỗ trợ và hợp tác của nhiều tổ chức, cơ quan trong và ngoài nước có liên quan Cùng với việc hình thành và phát triển hệ thống các khu bảo vệ, công tác bảo tồn chuyển vị cũng đã được quan tâm trong bảo tồn ĐDSH ở nước ta Một số loại hình bảo tồn chuyển vị đã triển khai và đạt được những kết quả đáng kể như các vườn thực vật,
Trang 17vườn động vật - vườn thú, trạm cứu hộ động vật, ngân hàng giống Công tác bảo tồn nguồn gen động thực vật, bao gồm nguồn gen thực vật rừng, cây nông nghiệp, nguồn gen vật nuôi và động vật hoang dã cũng đã được các Viện Lâm nghiệp, Viện Nông nghiệp, Viện Chăn nuôi, các vườn thú tiến hành nghiên cứu
Cách phân hạng KBT cũng đã tiếp cận dần theo phân hạng của thế giới, nhằm tăng cường sự gắn kết giữa bảo tồn và phát triển…Tuy nhiên, trong việc quản lý ba loại rừng: rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng ở Việt Nam, thì rừng phòng
hộ và rừng đặc dụng vẫn chưa được quản lý đúng mức; điều này đã ảnh hưởng không
ít đến bảo tồn ĐDSH nói chung Những tồn tại về ranh giới, khai thác trái phép,phát triển cơ sở hạ tầng, mở rộng diện tích đất canh tác, phát triển chăn nuôi, cháy rừng,… cũng là những vấn đề bức xúc và ảnh hưởng nhiều đến bảo tồn
b Xây dựng và quản lý vùng đệm
Cũng như nhiều nước khác trên thế giới, ở Việt Nam, mỗi khi xây dựng một khu bảo tồn, người dân ở quanh vùng buộc phải hy sinh quyền lợi riêng của mình, không được khai thác tài nguyên như trước vì lợi ích của quốc gia và các thế hệ mai sau Phần lớn các VQG và KBT đã và đang được xây dựng thường nằm giữa biển người và chịu sức ép hết sức nặng nề từ phía ngoài
Cộng đồng địa phương, những người sống trong, hay gần các khu bảo tồn đã nhiều đời có mối liên quan trực tiếp với thiên nhiên các vùng đó, tuy nhiên công cuộc bảo tồn ngày nay ít chú trọng đến nhu cầu của cộng đồng
Việt Nam đã cố gắng rất nhiều trong công việc xây dựng các KBTTN và VQG Tuy nhiên, điều khó khăn gặp phải là xung quanh, và ở nhiều nơi cả trong các KBT và VQG có nhiều người dân sinh sống, thậm chí cả ở vùng trung tâm, nơi cần bảo vệ nghiêm ngặt Ở đây, họ phát nương làm rẫy, săn bắn các động vật, khai thác các sản phẩm của rừng để sinh sống Các hoạt động của họ đã làm tổn hại đến mục tiêu của các khu bảo tồn, làm cho các khu bảo tồn bị giảm chất lượng một cách nhanh chóng Như vậy, để có thể bảo tồn ĐDSH nói chung, và các khu bảo tồn thiên nhiên nói riêng: “cần phải dành ưu tiên cho các dự án hỗ trợ dân chúng các vùng đệm, áp dụng các thành tựu công nghệ tiên tiến, nâng cấp hạ tầng cơ sở, cải thiện đời sống xã hội, nhằm mục đích đảm bảo thu nhập ổn định cho nhân dân, nhờ đó ngăn chặn việc tiếp tục xâm lấn vào các khu bảo tồn”[6]
Trang 182.3 Tổng quan về Vườn Quốc Gia Bi doup – Núi bà
2.3.1 Lịch sử hình thành VQG bidoup
Thành lập theo QĐ số 1240/QĐ-TTg, ngày 19/11/2004 của Thủ tướng Chính phủ
2.3.2 Cơ cấu hoạt động của bộ máy tổ chức
Dưới sự quản lý của ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng
Ban Giám đốc gồm: 01 Giám đốc và 03 Phó giám đốc
Tổng số CBCC của VQG Bidoup-Núi Bà: 96 người:
+ Có 41 trình độ Đại học (03 Thạc sĩ), trong đó có: 02 cử nhân môi trường, 02
cử nhân du lịch
+ Trung cấp: 43 người
+ Sơ cấp: 10 người
2.3.3 Các hoạt động điển hình
• Bảo vệ tài nguyên rừng và bảo tồn ĐDSH
• Phục hồi sinh thái rừng
• Phòng chống chữa cháy rừng
Trang 19• Xây dựng cơ sở hạ tầng, đào tạo nguồn nhân lực và trang thiết
2.3.4 Chức năng và nhiệm vụ của VQG
Bảo tồn các HST rừng khí hậu á nhiệt đới núi cao và các loài động thực vật đặc hữu, quí hiếm
Phòng hộ đầu nguồn Sông Đồng Nai và Sông Serepok
Bảo tồn các sinh cảnh rừng, văn hoá bản địa, NCKH, giáo dục, du lịch sinh thái
và an ninh quốc phòng
2.3.5 Tài nguyên đa dạng sinh học
Vườn Quốc Gia Bidoup – Núi Bà nằm ở vùng chuyển tiếp giữa vùng Tây Nguyên và vùng đất thấp miền Nam Việt Nam Vườn Quốc gia Bidoup – Núi Bà nằm phía Đông Bắc của Cao nguyên Đà Lạt, có một số đỉnh núi cao trên 2.000m so với mặt nước biển, gồm Bidoup (2.287m) và Núi Bà (còn gọi là núi Langbian cao 2.267m) Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà có 3 lưu vực: ở phía Đông của Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà xung quanh núi Bidoup tạo thành lưu vực của sông Đa Nhim, cung cấp nước cho hồ thuỷ điện Đa Nhim; phía Tây xung quanh Núi Bà tạo thành lưu vực của hồ Đan Kia, đổ vào sông Đà Đùng; phía Bắc tạo thành lưu vực sông Serepok Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà có 2 loại rừng chính Rừng lá kim, chủ yếu là
thông ba lá (Pinus kesiya) bao phủ 21.019ha chiếm 29% diện tích của vườn quốc gia
Rừng thường xanh là 36.069 ha, chiếm 51% diện tích của Vườn Quốc Gia Bidoup – Núi Bà
Trang 20+ Thực vật: Diện tích rừng 59.034 ha, trong đó rừng nguyên sinh chiếm 74%
Hiện thống kê được 1.468 loài thuộc 161 họ và 673 chi Có 91 loài đặc hữu, 62 loài quí hiếm Đây là vùng phân bố của nhiều loài hạt trần, đã thống kê được 14 loài, trong
đó có các loài rất quí hiếm cần phải bảo tồn
+ Động vật: Rất phong phú và cho thấy tính đặc hữu cao Cho đến nay, đã ghi
được 382 loài có xương sống, gồm 89 loài thú, 202 loài chim, 62 loài bò sát và 29 loài
lưỡng cư Các loài thú cần bảo tồn bao gồm Vượn má hung (Hylobates gabriellae) và
Bò tót (Bos gaurus) Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà cũng nằm trong vùng chim đặc
hữu cao nguyên Đà Lạt (EBA), 7 trên tổng số 8 loài chim phân bố hẹp của vùng chim
này đã được ghi nhận đó là Trĩ sao (Rheinardia ocellata), Trèo cây mỏ vàng (Sitta
solangiae), Khướu đầu đen (Garrulax milleti), Khướu đầu xám (G vassali), Khướu
đầu đen má xám (G yersini), Khướu mỏ dài (Jabouilleia danjoui) và Sẻ thông họng vàng (Carduelis monguilloti) Bidoup-Núi bà nằm trong vùng chim đặc hữu là cao
nguyên Đà Lạt là một trong những trung tâm đa dạng sinh học của Đông dương (Campbell và Hammond, 1989) Càng được đánh giá cao về tính đa dạng sinh học vì Vườn Quốc Gia có 3 vùng chim quan trọng: Bidoup, Cổng trời và Lang bian
- Kiểu rừng thưa cây lá kim á nhiệt đới núi thấp: Có diện tích 20.614ha
- Kiểu rừng tre nứa và hỗn giao tre nứa với cây lá rộng: 1.821ha, phân bố ở độ cao từ 800-1.200m nằn dọc theo các sông suối; trên đá có nguồn gốc granit hoặc phù
sa mới
Trang 21+ Cảnh quan: Với thuỷ hệ trên vùng núi cao đã tạo nên nhiều thác nước rất đẹp cộng với những cảnh quan thiên nhiên là tiền đề để phát triển du lịch sinh thái
2.3.8 Những tác động của người dân trong khu vực
Người dân trong khu vực đa số là người dân tộc, thường xuyên vào rừng săn bắt chim, thú về trao đổi buôn bán hoặc làm thức ăn, làm giảm số lượng của chúng trong
tự nhiên lại có tác động, trực tiếp đến chính người khai thác chúng và cộng đồng có cuộc sống gắn liền với rừng:
Việc người khai thác trắng rừng thông gần với bản làng để lấy đất trồng cà phê, cây công nghiệp khác đẩy lùi rừng thông xa bản làng làm mất đi nơi sinh sống của rất nhiều loài chim sống ở sinh cảnh rừng này (gõ kiến, chim bắt sâu, chich chòe, chào mào…) Những loài chim sống ở rừng, gần với nương rẫy là một trong “những người thợ săn miễn phí” trong việc làm giảm dịch bệnh hại cà phê (ví dụ sâu đục thân cà phê) Những loài chim cú thuộc họ cú mèo, sống về đêm săn bắt chuột, rắn quanh bản làng cũng làm giảm nguy cơ dịch bệnh cho người, tăng năng suất cây trồng
Trang 22Viêc khai thác các loài ếch nhái sống quanh bản làng quá mức làm cho số lượng các loài côn trùng có hại tăng lên, làm cây trồng dễ bị bệnh, tăng chi phí đầu tư thuốc trừ sâu dẫn đến tăng giá thành sản phẩm mặt khác làm mất đi một số loài động vật đặc hữu có giá trị khoa học
Nhình xa hơn, khi khai thác quá mức các loài sống trong rừng sâu Xa bản làng làm tăng nguy cơ dẫn đến tuyệt chủng một số loài chim, thú có giá trị kinh tế, khoa học Đó là nguồn nguyên liệu tốt cho công tác lai tạo, thuần hóa ra những giống vật nuôi có sức chống chịu bệnh tốt, năng suất cao phù hợp với điều kiện khí hậu, môi trường địa phương.[10]
2.3.9 Điều kiện tự nhiên
+ Phía Đông giáp hai Tỉnh Khánh Hòa và Ninh Thuận
+ Phía Nam giáp rừng phòng hộ đầu nguồn Đa Nhim
+ Phía Tây giáp Ban quản lý rừng phòng hộ Sê Rê Pok
+ Phía Bắc giáp Tỉnh Đăc Lắc.[3]
Trang 23Địa hình thấp dần theo hướng Nam Bắc gồm các đỉnh núi cao, thấp, nhấp nhô, bề mặt địa hình bị chia cát mạnh.Vì vậy khi đứng từ sơn nguyên Đà Lạt nhình lên thấy những khối núi sững sờ, với nhiều đỉnh riêng lẻ.Xét về mặt tổng thể có thể chia địa hình của VQG Bidoup –Núi bà thành các khu vực sau:
Phía đông và nam là những dãy núi cao1.900m 2.200m chắn với các đỉnh Hòn Giao (2.060m),Gia Rích (1.922m), Bi doup (2.287m), Langbiang (2.167m), vượt qua dãy này là vùng dốc hiểm trở Khánh Hòa, Ninh thuận và thung lũng sông Đa Nhim, độ cao tương đối giao động từ 300m -500m tạo nên các đỉnh cao trên 2.000m như Langbiang, Bidoup, Hòn Giao[3]
Độ ẩm
+ Mùa mưa độ ẩm đạt trên 85%
+ Mùa khô độ ẩm đạt dưới 80%
Thủy văn
Khu vực Bidoup núi bà do nằm ở khu vực có độ cao cao hơn thành phố Đà Lạt (lượng mưa trung bình năm 1.800mm) và các khu vực xung quanh, lượng mưa hàng năm biến động từ 2.800mm -3.000mm/ năm
Địa chất
Kết quả điều tra, khảo sát địa chất ở Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà cho thấy: Yếu tố kiến tạo địa chất thuộc miền uốn nếp Mê Zô Zôi Nam Bộ, bao gồm ba phức hệ chủ yếu:
- Phức hệ uốn nếp thành tạo lục nguyên biển màu xám (hệ Jura 1-2)
- Phức hệ tạo núi thành tạo nguồn núi lửa màu đỏ (hệ Creta- K)
- Đá mẹ mẫu chất hình thành đất ở khu vực VQG Bidoup – Núi Bà, phân bố thành vùng khá rõ như sau:
Trang 24+ Nhóm đá Mac ma axit:
Gồm các loại đá Granit, Riolit, Riolit-đaxit, Granitbiotit màu hồng, Granoxienit
và alaskit Trong đó đá Granit chiếm phần lớn diện tích trong vùng có kiến trúc hạt mầu trắng, xám, hồng hoặc hồng nhạt Khoáng vật chính là Fenspat chiếm từ 60- 65%, Thạch anh chiếm từ 30-35%
Phân bố ở vùng phía Bắc, Đông Bắc và Tây khu vực VQG bao gồm các xã: Hoà Sơn, Khuê Ngọc Điềm, Hoà Lễ, Hoà Phong, Cư Pui, Cư Drăm và một phần diện tích
xã Yang Mao, Bông Krang, Krông Knô, là chủ yếu Các loại đá khác phân bố trên một phần diện tích các xã Yang Mao, Bông Krang và Krông Knô
+ Nhóm đá trầm tích có kết cấu hạt thô:
Gồm các loại Đá cát, bột cát, Sa Thạch, Kolomerat Phân bố tập trung chủ yếu về phía Đông và Nam của VQG
Thổ nhưỡng
Kết quả điều tra thực địa xây dựng bản đồ lập địa cấp II, Vườn quốc gia Bidoup –
Núi Bà có các nhóm đất chính như sau:
+) Đất mùn Alit trên núi cao (Ha)
Diện tích: 2770,2 ha, chiếm 4,7 % tổng diện tích tự nhiên
Phân bố: Loại đất này phân bố tập trung chủ yếu ở khu vực xung quanh đỉnh núi
Bidoup –Núi Bà, đai cao > 1800 m
Đặc điểm: Đất có màu xám, rất ẩm, thành phần cấp hạt cát li mon, độ dày tầng
thảm mục trung bình 20 - 30cm Tỷ lệ mùn biến động từ khá đến giầu (6 - 10%), phản ứng của đất đều chua, Hàm lượng mùn, đạm, kali tổng số giầu
Hướng sử dụng: Đất mùn núi cao phải được bảo vệ nghiêm ngặt
+) Đất Feralit mùn vàng đỏ núi trung bình trên đá Macma axit (FHa)
Diện tích: 38220,2 ha, chiếm 64,8 % diện tích tự nhiên
Phân bố: Phân bố chủ yếu trên các đai cao từ (900-1800m), chiếm đại đa số diện
tích trong khu vực VQG
Đặc điểm: Điều kiện lạnh và ẩm của vùng núi trung bình đã làm cho quá trình
Feralit yếu dần nhường chỗ cho quá trình mùn hoá mức độ tích luỹ Al > Fe Tầng đất trung bình < 100cm, tầng thảm mục dày từ 20 -30cm, tỷ lệ hữu cơ trong đất cao, giàu mùn (5 - 8%)
Trang 25Đất có màu vàng đỏ, có phản ứng chua PH KCL= 4,0 - 5,0 Hàm lượng đạm và Kali khá giàu Đất có độ phì nhiêu vào loại khá, có khả năng thấm, giữ nước tốt
Do địa hình cao dốc, chia cắt mạnh, nên đất dễ bị xói mòn trượt lở
Hướng sử dụng: Bảo vệ nghiêm ngặt các loại rừng hiện có, khoanh nuôi xúc tiến
tái sinh tự nhiên để bảo vệ tốt lớp thảm che trên lập địa này nhằm điều tiết duy trì nguồn nước ở vùng đầu nguồn cao, dốc
+) Đất Feralit mùn vàng nhạt núi trung bình trên đá cát (FHc)
Diện tích: 4231,7 ha, chiếm 7,2 % diện tích tự nhiên
Đặc điểm: Quá trình phát sinh, hình thành đất trên nền đá cát trong điều kiện
nhiệt độ bình quân năm từ (15-200C), hơi lạnh, ẩm và địa hình cao dốc Đất có màu sắc đặc trưng là vàng nhạt, có phản ứng chua: PHKCl < 4,0 đất có độ phì nhiêu cao (phần lớn diện tích chưa bị tác động của con người, nên vẫn còn nhiều diện tích đất chưa bị thoái hoá) Tuy nhiên thành phần cơ giới nhẹ (thô), kết cấu rời rạc, tơi xốp nên dễ bị xói mòn rửa trôi nếu mất lớp che phủ rừng
Hướng sử dụng: Cần bảo vệ nghiêm ngặt các thảm rừng và các loại đất đai
+) Nhóm đất Feralit đỏ vàng núi thấp trên đá Macma axit (Fa)
Diện tích: 8898,1ha, chiếm 15,1 % diện tích tự nhiên
Phân bố: Thuộc khu vực núi thấp VQG Bidoup- Núi Bà, chịu ảnh hưởng sâu sắc
các điều kiện nhiệt ẩm của khí hậu nhiệt đới gió mùa gần xích đạo, tập trung ở phía Bắc, Tây và phía Tây Nam VQG, phổ biến cấp ở độ dốc III và cấp IV, trong khoảng từ (22- 280)
Đặc điểm: Quá trình Feralit được thực hiện trong điều kiện nền nhiệt ẩm cao của
khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới Đất có màu đỏ vàng, khá chặt, chua PHKcl < 4,5,
tỷ lệ chất hữu cơ đạt bình quân từ 3 - 4 %, những diện tích còn rừng tỷ lệ chất hữu cơ còn cao hơn Nhóm đất này dễ bị rửa trôi, xói mòn, vì vậy trong quá trình
sử dụng phải hết sức lưu ý phòng hộ cho đất
Hướng sử dụng: Bảo vệ nghiêm ngặt các thảm rừng và đất rừng
+) Nhóm đất Feralit vàng nhạt núi thấp trên đá cát (Fc)
Diện tích: 4826,8 ha, chiếm 8,2 % diện tích tự nhiên
Trang 26Phân bố: Phân bố ở đai cao < 900m, trên kiểu địa hình núi thấp (N3) Đất có màu vàng nhạt, có phản ứng chua PHKCl Hàm lượng mùn đất mặt từ nghèo đến trung bình đạt 1,8 - 2,8 %, các tầng dưới nghèo
Hướng sử dụng: Bảo vệ nghiêm ngặt rừng hiện có và khoanh nuôi xúc tiến tái
sinh tự nhiên ở những nơi không còn rừng Những nơi thấp, có điều kiện, trồng các cây lâm nghiệp có khả năng cải tại đất như: Keo tai tượng, Keo lá tràm, Muồng đen, để cải tạo kiểu hoàn cảnh rừng, sau đó trồng các cây bản
Giáo dục
Giáo dục trong xã đều được chú trọng hầu hết các xã đều có cấp I va II Mặc
dù còn nhiều khó khăn về thiếu thốn về điều kiện học tập, sách vở nhưng nhìn chung các trường đã khắc phục được tình trạng học 3 ca Ngoài ra các xã đều đã có các trường mẫu giáo, có phân hiệu trường cấp I tại các thôn, bản tạo điều kiện thuận lợi cho các cháu đến trường
Số học sinh theo học các trường trung học cơ sở, các trường cấp III và học cao hơn ở các xã chiếm tỉ lệ thấp.[1]
Giao thông
Hiện nay hầu hết các xã đều đã có đường liên xã liên thôn nhưng phần lớn các con đường liên buôn còn là đường đất, hệ thống cầu cống còn thiếu và xuống cấp Hơn nữa do địa hình phức tạp, điều kiên khí hậu khắc nghiệt, mùa mưa kéo dài dẫn đến sau mùa mưa các con đường này bị hư hỏng nặng, thường xuyên phải tu bổ, sửa sang ảnh hưởng lớn đến việc đi lại và công sức của nhân dân
Điện
Trang 27Hiện nay hầu hết các xã đều đã và đang triển khai đưa điện lưới về xã, thôn bản Tổng số hộ dùng điện trên địa bàn 57% so với số hộ trong vùng, điện chỉ mới
sử dụng cho sinh hoạt, phục vụ cho sản xuất còn hạn chế.[1]
Nước sạch
Hiện nay chỉ có một số xã đã có hệ thống nước sạch, tuy nhiên đường ống dẫn của hệ thống nước này đang bị hư hỏng, rò rỉ gây nên tình trạng hư hỏng nhiều, còn lại hầu hết các xã người dân chủ yếu sử dụng giếng khoan hoặc giếng khơi.[1]
Bưu chính viễn thông
Hầu hết các xã trong vùng đã có bưu điện văn hóa xã, ngoài công tác phục vụ nhân dân trong việc liên lạc thông tin bưu điện còn là nơi đọc sách báo
Các xã vùng sâu xa đều có máy tiếp phát sóng để phục vụ nhu cầu của người dân, mặc dù cho đến nay chất lượng của các máy còn hạn chế về thời lượng, chất lượng nhưng bước đầu phần nào đã đáp ứng nhu cầu của người dân Ngoài các chương trình phát tiếng kinh, các đài địa phương còn phát tiếng dân tộc, điều đó đã góp phần cho việc tuyên truyền và giới thiệu thông tin kinh tế xã hội phục vụ đồng bào vùng sâu, vùng xa.[1]
Chợ:
Hầu hết các xã trong vùng đều có chợ, tuy mới là chợ tạm nhưng đã góp phần quan trọng trong việc mua bán lương thực, thực phẩm và trao đổi hàng hóa tiều dùng.[1]
Đời sống xã hội
Tình hình thu nhập của người dân trong vùng của người dân còn khá thấp Thu nhập bình quân thấp nhất chỉ đạt 686.400đ/ người/năm Cao nhất bình quân đạt 2.001.120 đ/ người/ năm
Nguyên nhân thu nhập thấp là do xuất phát thời điểm đời sống thấp người dân không có tiền đầu tư cho sản xuất, tập quán canh tác lại lạc hậu, trình độ dân trí thấp Người dân chủ yếu vẫn sản xuất the kiểu tự cung, tự cấp của nền sản xuất nhỏ
Để phát huy tiềm năng đất đai, nguồn lao động dồi dào, giúp người dân thoát khỏi cảnh nghèo nàn lạc hậu, cần xây dựng dự án đầu tư phát triển vùng đệm.[1]
Phân cấp hộ gia đình theo thu nhập
Trang 28Theo quy định mới trong việc phân cấp thu nhập thì hộ nào có mức thu nhập bình quân 80.000đ/ khẩu/ tháng là diện hộ nghèo
Trong toàn khu vực hộ nghèo chiếm 32,8 % tổng số hộ trong vùng Để giảm
tỷ lệ các hộ nghèo và tăng tỷ lệ số hộ đủ ăn cần mở rộng diện tích trồng lúa bằng việc đầu tư thủy lợi: cải tạo, nâng cấp kênh mương, xây dựng các đập giữ nước, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, hỗ trợ nhân dân về phân bón, kỹ thuật canh tác, xây dựng các mô hình vườn rừng, trang trại, chăn nuôi, phát triển các nghành nghề truyền thống, dịch vụ du lịch để người dân phát triển tiềm năng đất đai, các nguồn lực sẵn có của mình [1]
Trang 29Chương III: PHẠM VI NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 3.1.Phạm vi nghiên cứu
Được tiến hành nghiên cứu trên địa bàn 3 xã Đa sar, Đa Nhim, Da chais
3.2 Nội dung nghiên cứu
• Đánh giá hiện trạng tài nguyên DDSH tại VQG Bidoup
• Cộng đồng dân cư VQG Bidoup
• Vận dụng phương thức tiếp cận quản lý hệ sinh thái để đánh giá công tác quản lý bảo tồn đa dạng sinh học
• Đề xuất một số giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học
3.3 Phương pháp nghiên cứu
• Điều tra xã hội học và khảo sát thực địa
Mục đích của phương pháp này là để kiểm tra, chỉnh lý bổ sung những thông tin thu được trực tiếp hoặc gián tiếp, các số liệu và tư liệu sau khi được thu thập và phân tích
sơ bộ được đối chiếu tại địa bàn để chỉnh lý và bổ sung , sau đó được đưa vào sử dụng trong đề tài
• Phỏng vấn
Tiến hành phỏng vấn người dân địa phương, các thợ săn và các cán bộ Kiểm lâm - những người am hiểu về động vật hoang dã, các loài cây rừng để xác định sự có mặt của chúng trong khu vực nghiên cứu Trong quá trình phỏng vấn, chúng tôi đặt ra nhiều câu hỏi có liên quan để kiểm tra độ tin cậy của thông tin do người được phỏng
Trang 30vấn cung cấp, đồng thời sử dụng bộ ảnh màu để hỗ trợ cho việc nhận dạng chính xác các loài Phương pháp phỏng vấn chỉ áp dụng đối với các loài có đặc điểm hình thái dễ nhận biết hoặc có giá trị kinh tế cao
• Đánh giá nhanh có sự tham gia của cộng đồng (PRA)
Điều tra để học hỏi và cùng với cộng đồng tìm hiểu, phân tích và đánh giá các khó khăn, thuận lợi đồng thời đưa ra các giải pháp, quyết định kịp thời nhằm giải quyết các khó khăn của cộng đồng