1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ LIỀU CHIẾU XẠ ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA RỆP SÁP Dysmicoccus neobrevipes Beardsley VÀ Planococcus citri Risso

105 167 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỒ CHÍ MINH WWW XXX KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ LIỀU CHIẾU XẠ ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA RỆP SÁP Dysmicoccus neobrevipes Beardsley VÀ Planococcus citri Risso Họ và

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

WWW XXX

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ LIỀU CHIẾU XẠ

ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA RỆP SÁP Dysmicoccus

neobrevipes Beardsley VÀ Planococcus citri Risso

Họ và tên sinh viên: NGUYỄN HOÀNG HẠNH THI Ngành: BẢO VỆ THỰC VẬT

Niên khóa: 2006 - 2010

Tháng 8/2010

Trang 2

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ LIỀU CHIẾU XẠ

ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA RỆP SÁP Dysmycoccus neobrevipes Beardsley VÀ Planococcus citri Risso

Tác giả

NGUYỄN HOÀNG HẠNH THI

Luận văn được đệ trình để hoàn thành yêu cầu cấp bằng Kỹ sư nông nghiệp ngành

Bảo Vệ Thực Vật

Giảng viên hướng dẫn

TS TRẦN THỊ THIÊN AN

Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 08 năm 2010

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Con thành kính khắc ghi ơn sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ và anh chị trong

gia đình Cảm ơn gia đình đã luôn tin tưởng, yêu thương, động viên và tạo mọi điều

kiện tốt cho con trong quá trình học tập

Xin chân thành bày tỏ lời tri ân sâu sắc đến cô Trần Thị Thiên An đã tận tình

hướng dẫn, chỉ dạy, truyền đạt những kinh nghiệm quý báu và giúp đỡ em trong suốt

thời gian thực tập, hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Xin chân thành cảm ơn:

- Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Nông Lâm TP HCM, ban Chủ Nhiệm Khoa

Nông học, cùng toàn thể qúy thầy cô Khoa Nông Học, Trường Đại Học Nông Lâm TP

HCM đã tận tình dạy dỗ, giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập ở trường

- Cô Thế, chị Khanh ở trung tâm chiếu xạ Vinagamma đã giúp đỡ, tạo điều kiện

để em thực hiện đề tài được thuận lợi

Sau cùng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến bạn Đạt và các bạn lớp Bảo vệ thực

vật 32 đã giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn

tốt nghiệp này

Tp Hồ Chí Minh, tháng 08 năm 2010

Nguyễn Hoàng Hạnh Thi

Trang 4

TÓM TẮT

Đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số liều chiếu xạ đến sự phát triển của

rệp sáp Dysmicoccus neobrevipes Beardsley và Planococcus citri Risso” được tiến

hành từ tháng 1/2010 đến tháng 7/2010 tại phòng thí nghiệm Bộ môn Bảo Vệ Thực

Vật, Khoa Nông Học – Trường Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh và Trung tâm

Nghiên cứu và Triển khai Công nghệ Bức xạ Vinagamma, Tp Hồ Chí Minh Kết quả

thu được của đề tài cho biết:

- Ở nhiệt độ 30 ± 2oC, ẩm độ 65 ± 5%, khi nuôi với thức ăn là bí đỏ rệp sáp

D neobrevipes đẻ ra con, rệp non có 3 tuổi, vòng đời trung bình là 30,83 ± 0,70 ngày

Ở nhiệt độ 28 ± 2oC, ẩm độ 75 ± 5%, khi nuôi với thức ăn là khoai tây rệp sáp P citri

đẻ ra trứng, rệp non có 3 tuổi, vòng đời trung bình là 36,07 ± 0,58 ngày

- Các liều chiếu xạ thí nghiệm (0,1 kGy, 0,2 kGy, 0,3 kGy, 0,4 kGy) đều ảnh

hưởng đến khả năng sống, phát triển và sinh sản của rệp sáp D neobrevipes và P citri

Hai yếu tố liều chiếu xạ và tuổi rệp đều có tác động đến tỉ lệ chết của rệp sau chiếu xạ

Khi liều chiếu xạ tăng thì rệp chịu ảnh hưởng của chiếu xạ càng lớn và rệp tuổi 1, rệp

tuổi 2 nhạy cảm với chiếu xạ hơn rệp tuổi 3 và trưởng thành Liều chiếu xạ 0,4 kGy và

0,3 kGy có tỉ lệ rệp chết cao hơn liều 0,2 kGy và 0,1 kGy Rệp tuổi 1 và rệp tuổi 2 có tỉ

lệ chết cao hơn rệp tuổi 3 và rệp trưởng thành

- Ở các liều chiếu xạ thí nghiệm (0,1 kGy, 0,2 kGy, 0,3 kGy, 0,4 kGy), rệp tuổi

1 và tuổi 2 không phát triển lên trưởng thành, rệp tuổi 3 phát triển lên trưởng thành,

trưởng thành đẻ trứng nhưng trứng không nở Ở nghiệm thức đối chứng, trung bình

một rệp cái D neobrevipes đẻ được 261,53 ± 68,2 con/rệp cái, một rệp cái P citri đẻ

được 172,09 ± 28,25 trứng/rệp cái

- Có thể áp dụng liều chiếu xạ 0,3 kGy để kiểm soát rệp sáp D neobrevipes và

liều chiếu xạ 0,2 kGy để kiểm soát rệp sáp P citri trên trái cây

Trang 5

MỤC LỤC

Trang tựa i

Lời cảm ơn ii

Tóm tắt iii

Mục lục iv

Danh sách các chữ viết tắt vii

Danh sách các bảng viii

Danh sách các hình và đồ thị ix

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 2

1.2.1 Mục đích 2

1.2.2 Yêu cầu 2

1.3 Giới hạn đề tài 3

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Một số kết quả nghiên cứu về rệp sáp D neobrevipes và P citri 4

2.1.1 Vị trí phân loại rệp sáp họ Pseudococcidae 4

2.1.2 Một số nghiên cứu về rệp sáp D neobrevipes 5

2.1.2.1 Nghiên cứu ngoài nước 5

2.1.2.2 Nghiên cứu trong nước 6

2.1.3 Một số kết quả nghiên cứu về rệp sáp P citri 8

2.1.3.1 Nghiên cứu ngoài nước 8

2.1.3.2 Nghiên cứu trong nước 11

2.2 Tổng quan về phương pháp chiếu xạ 14

2.2.1 Khái niệm 14

2.2.2 Đơn vị của liều hấp thụ 14

2.2.3 Quá trình phát triển phương pháp chiếu xạ 14

2.2.4 Đặc điểm của một số tia phóng xạ 15

Trang 6

2.2.4.1 Tia gamma 15

2.2.4.2 Chùm tia điện tử 16

2.2.4.3 Tia X 16

2.2.5 Một số ứng dụng của chiếu xạ 16

2.2.6 Tác động của tia phóng xạ lên hàng nông sản và dịch hại 17

2.2.6.1 Tác động của tia phóng xạ lên nông sản 17

2.2.6.2 Tác động của tia phóng xạ lên dịch hại 18

2.2.7 Chiếu xạ được sử dụng như một biện pháp xử lý kiểm dịch thực vật đối với hàng nông sản tươi 19

2.3 Giới thiệu về máy chiếu xạ nguồn Co-60 22

CHƯƠNG 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 24

3.1.1 Thời gian nghiên cứu 24

3.1.2 Địa điểm nghiên cứu 24

3.2 Nội dung nghiên cứu 24

3.3 Vật liệu nghiên cứu 24

3.4 Phương pháp nghiên cứu 24

3.4.1 Nhân sinh khối rệp sáp D neobrevipes và P citri 24

3.4.2 Nghiên cứu thời gian phát triển các pha cơ thể và vòng đời của rệp sáp D neobrevipes và P citri 26

3.4.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của các liều chiếu xạ đến tỉ lệ chết của rệp sáp

D neobrevipes và P citri 26

3.4.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của các liều chiếu xạ đến khả năng sinh sản của rệp sáp D neobrevipes và P citri 28

3.5 Phương pháp xử lý số liệu 30

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 31

4.1 Thời gian phát triển các pha cơ thể và vòng đời của rệp sáp D neobrevipes và P citri 31

4.1.1 Thời gian phát triển các pha cơ thể và vòng đời của rệp sáp D Neobrevipes 31

4.1.2 Thời gian phát triển các pha cơ thể và vòng đời của rệp sáp P citri 33

4.2 Tỉ lệ chết của rệp sáp D neobrevipes và P citri sau chiếu xạ 35

Trang 7

4.2.1 Tỉ lệ chết của rệp sáp D neobrevipes sau chiếu xạ 35

4.2.1.1 Tỉ lệ chết (%) của rệp sáp D neobrevipes ở 1 ngày sau chiếu xạ 35

4.2.1.2 Tỉ lệ chết (%) của rệp sáp D neobrevipes ở 2 ngày sau chiếu xạ 36

4.2.1.3 Tỉ lệ chết (%) của rệp sáp D neobrevipes ở 3 ngày sau chiếu xạ 38

4.2.1.4 Tỉ lệ chết (%) của rệp sáp D neobrevipes ở 5 ngày sau chiếu xạ 39

4.2.1.5 Tỉ lệ chết (%) của rệp sáp D neobrevipes ở 9 ngày sau chiếu xạ 41

4.2.1.6 Tỉ lệ chết (%) của rệp sáp D neobrevipes ở 15 ngày sau chiếu xạ 42

4.2.2 Tỉ lệ chết của rệp sáp P citri sau chiếu xạ 44

4.2.2.1 Tỉ lệ chết (%) của rệp sáp P citri ở 1 ngày sau chiếu xạ 44

4.2.2.2 Tỉ lệ chết (%) của rệp sáp P citri ở 2 ngày sau chiếu xạ 44

4.2.2.3 Tỉ lệ chết (%) của rệp sáp P citri ở 3 ngày sau chiếu xạ 45

4.2.2.4 Tỉ lệ chết (%) của rệp sáp P citri ở 5 ngày sau chiếu xạ 46

4.2.2.5 Tỉ lệ chết (%) của rệp sáp P citri ở 9 ngày sau chiếu xạ 47

4.2.2.6 Tỉ lệ chết (%) của rệp sáp P citri ở 15 ngày sau chiếu xạ 48

4.2.3 Thảo luận kết quả đạt được 53

4.3 Khả năng sinh sản của rệp trưởng thành D neobrevipes và P citri sau chiếu xạ 54

4.3.1 Khả năng sinh sản của rệp trưởng thành D neobrevipes sau chiếu xạ 54

4.3.2 Khả năng sinh sản của rệp trưởng thành P citri sau chiếu xạ 54

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 57

5.1 Kết luận 57

5.2 Đề nghị 58

TÀI LIỆU THAM KHẢO 59

PHỤ LỤC 64

Trang 8

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT

WTO: Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization)

Ostiloles: 2 cặp cơ quan bài tiết nằm giữa đầu – ngực và nằm trên đốt bụng thứ 6 của rệp sáp

kGy: Đơn vị đo mức độ chiếu xạ của tia gamma (kilo gray)

UV: Tia tử ngoại hay tia cực tím (Ultraviolet radiation)

CV: Hệ số biến thiên (Coefficient of variation)

TT: Trưởng thành

Trang 9

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng Trang

Bảng 4.1 Thời gian phát triển các pha cơ thể và vòng đời rệp sáp D neobrevipes 31

Bảng 4.2 Thời gian phát triển các pha cơ thể và vòng đời rệp sáp P citri 33

Bảng 4.3 Tỉ lệ chết (%) của rệp sáp D neobrevipes ở 1 ngày sau chiếu xạ 35

Bảng 4.4 Tỉ lệ chết (%) của rệp sáp D neobrevipes ở 2 ngày sau chiếu xạ 37

Bảng 4.5 Tỉ lệ chết (%) của rệp sáp D neobrevipes ở 3 ngày sau chiếu xạ 38

Bảng 4.6 Tỉ lệ chết (%) của rệp sáp D neobrevipes ở 5 ngày sau chiếu xạ 39

Bảng 4.7 Tỉ lệ chết (%) của rệp sáp D neobrevipes ở 9 ngày sau chiếu xạ 41

Bảng 4.8 Tỉ lệ chết (%) của rệp sáp D neobrevipes ở 15 ngày sau chiếu xạ 43

Bảng 4.9 Tỉ lệ chết (%) của rệp sáp P citri ở 1 ngày sau chiếu xạ 44

Bảng 4.10 Tỉ lệ chết (%) của rệp sáp P citri ở 2 ngày sau chiếu xạ 45

Bảng 4.11 Tỉ lệ chết (%) của rệp sáp P citri ở 3 ngày sau chiếu xạ 46

Bảng 4.12 Tỉ lệ chết (%) của rệp sáp P citri ở 5 ngày sau chiếu xạ 46

Bảng 4.13 Tỉ lệ chết (%) của rệp sáp P citri ở 9 ngày sau chiếu xạ 47

Bảng 4.14 Tỉ lệ chết (%) của rệp sáp P citri ở 15 ngày sau chiếu xạ 48

Bảng 4.15 Khả năng sinh sản của rệp trưởng thành D neobrevipes sau chiếu xạ 54

Bảng 4.16 Khả năng sinh sản của rệp trưởng thành P citri sau chiếu xạ 55

Trang 10

DANH SÁCH CÁC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ

Hình Trang

Hình 2.1 Rệp sáp D neobrevipes gây hại trên dứa 13

Hình 2.2 Rệp sáp D neobrevipes gây hại trên mãng cầu 13

Hình 2.3 Rệp sáp P citri gây hại trên ca cao 13

Hình 2.4 Thiết bị chiếu xạ tia gamma nguồn Co-60 23

Hình 2.5 Nguồn phóng xạ Co-60 23

Hình 3.1 Nhân nuôi rệp sáp D neobrevipes trong phòng thí nghiệm 25

Hình 3.2 Nhân nuôi rệp sáp P citri trong phòng thí nghiệm 25

Hình 3.3 Chuẩn bị rệp D neobrevipes đưa vào chiếu xạ 27

Hình 3.4 Chuẩn bị rệp P citri đưa vào chiếu xạ 28

Hình 3.5 Đưa rệp vào xử lý chiếu xạ 28

Hình 3.6 Nuôi cá thể rệp D neobrevipes trưởng thành với thức ăn là bí đỏ 29

Hình 3.7 Nuôi cá thể rệp P citri trưởng thành với thức ăn là khoai tây 29

Hình 4.1 Vòng đời rệp sáp D neobrevipes 32

Hình 4.2 Rệp sáp D neobrevipes tuổi 2 lột xác sang tuổi 3 32

Hình 4.3 Rệp sáp D neobrevipes tuổi 3 lột xác sang trưởng thành 32

Hình 4.4 Vòng đời rệp sáp P citri 34

Hình 4.5 Rệp sáp P citri tuổi 1 lột xác sang tuổi 2 34

Hình 4.6 Rệp D neobrevipes bị chết sau khi chiếu xạ 52

Hình 4.7 Rệp P citri bị chết sau khi chiếu xạ 52

Hình 4.8 Rệp D neobrevipes trưởng thành đẻ trứng sau khi được chiếu xạ 56

Hình 4.9Rệp D neobrevipes trưởng thành đẻ con ở nghiệm thức đối chứng 56

Hình 4.10 Rệp P citri trưởng thành đẻ trứng sau khi được chiếu xạ 56

Hình 4.11 Rệp P citri trưởng thành đẻ trứng, trứng nở con ở nghiệm thức đối chứng 56

Trang 11

Đồ thị 4.1 Tỉ lệ chết (%) của rệp sáp D neobrevipes trên mặt phẳng đồng mức

theo liều chiếu xạ và tuổi rệp ở 1 ngày sau xử lý 36

Đồ thị 4.2 Tỉ lệ chết (%) của rệp sáp D neobrevipes trên mặt phẳng đồng mức

theo liều chiếu xạ và tuổi rệp ở 2 ngày sau xử lý 37

Đồ thị 4.3 Tỉ lệ chết (%) của rệp sáp D neobrevipes trên mặt phẳng đồng mức

theo liều chiếu xạ và tuổi rệp ở 3 ngày sau xử lý 38

Đồ thị 4.4 Tỉ lệ chết (%) của rệp sáp D neobrevipes trên mặt phẳng đồng mức

theo liều chiếu xạ và tuổi rệp ở 5 ngày sau xử lý 40

Đồ thị 4.5 Tỉ lệ chết (%) của rệp sáp D neobrevipes trên mặt phẳng đồng mức

theo liều chiếu xạ và tuổi rệp ở 9 ngày sau xử lý 42

Đồ thị 4.6 Tỉ lệ chết (%) của rệp sáp D neobrevipes trên mặt phẳng đồng mức

theo liều chiếu xạ và tuổi rệp ở 15 ngày sau xử lý 43

Đồ thị 4.7 Tỉ lệ chết (%) của rệp sáp P citri trên mặt phẳng đồng mức theo liều

chiếu xạ và tuổi rệp ở 1 ngày sau xử lý 49

Đồ thị 4.8 Tỉ lệ chết (%) của rệp sáp P citri trên mặt phẳng đồng mức theo liều

chiếu xạ và tuổi rệp ở 2 ngày sau xử lý 49

Đồ thị 4.9 Tỉ lệ chết (%) của rệp sáp P citri trên mặt phẳng đồng mức theo liều

chiếu xạ và tuổi rệp ở 3 ngày sau xử lý 50

Đồ thị 4.10 Tỉ lệ chết (%) của rệp sáp P citri trên mặt phẳng đồng mức theo liều

chiếu xạ và tuổi rệp ở 5 ngày sau xử lý 50

Đồ thị 4.11 Tỉ lệ chết (%) của rệp sáp P citri trên mặt phẳng đồng mức theo liều

chiếu xạ và tuổi rệp ở 9 ngày sau xử lý 51

Đồ thị 4.12 Tỉ lệ chết (%) của rệp sáp P citri trên mặt phẳng đồng mức theo liều

chiếu xạ và tuổi rệp ở 15 ngày sau xử lý 51

Trang 12

để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu Việc nước ta gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO đã mở ra nhiều cơ hội cho hàng trái cây xuất khẩu của nước

ta thâm nhập thị trường các nước trên thế giới Tuy nhiên việc tăng nhanh diện tích cây

ăn trái đã làm phát sinh thêm nhiều dịch hại như sâu, bệnh, đặc biệt sâu hại là một trong những đối tượng gây hại nghiêm trọng đối với cây trồng, làm giảm sản lượng cũng như chất lượng quả, ảnh hưởng đến trái cây xuất khẩu ở nước ta Trong đó rệp sáp giả được xem là loài gây hại phổ biến vì là loài đa thực, khả năng sinh sản cao, phát triển nhanh Rệp sáp chích hút quả làm mất giá trị thương phẩm, giảm chất lượng của trái cây Hai loài rệp sáp gây hại phổ biến trên cây ăn trái ở nước ta là

Dysmycoccus neobrevipes Beardsley và Planococcus citri Risso Loài rệp sáp D neobrevipes gây hại chủ yếu trên dứa, mãng cầu, chuối Loài rệp sáp P citri gây hại

chủ yếu trên cam, quýt, mãng cầu, ổi Hiện nay, yêu cầu của một số nước ở châu Âu nhập khẩu trái cây của Việt Nam cũng như ở Mỹ và Nhật Bản thường có yêu cầu rất cao về mặt kiểm dịch thực vật.Đây là điều bất lợi cho việc xuất khẩu hàng nông sản nói chung và trái cây nói riêng của Việt Nam vào thị trường các nước này

Trước đây, các biện pháp xử lý kiểm dịch thực vật được sử dụng như khử trùng xông hơi, xử lý nhiệt (nhiệt lạnh, nhiệt nóng) đã phần nào hạn chế được dịch hại Tuy nhiên việc sử dụng các chất khử trùng xông hơi như Methyl bromide và Ethyllen dibromide đã để lại dư lượng thuốc trên quả, ảnh hưởng đến sức khỏe con người và chất lượng quả Biện pháp xử lý nhiệt không mang lại hiệu quả cao, dễ làm cho trái

Trang 13

cây bị hư hỏng, mất giá trị thương phẩm Nhu cầu cấp bách hiện nay là tìm ra biện pháp kiểm dịch thực vật vừa mang lại hiệu quả cao trong kiểm soát dịch hại vừa không ảnh hưởng đến chất lượng hàng hóa, không độc hại cho con người và môi trường

Ngày nay, phương pháp chiếu xạ với công nghệ xử lý hàng hóa bằng năng lượng ion được xem là hướng phát triển tương đối mới và mang lại hiệu quả cao không chỉ trong việc kiểm soát các đối tượng kiểm dịch thực vật mà con trong lĩnh vực bảo quản thực phẩm, khử trùng hàng hóa và dụng cụ y tế Chiếu xạ ở liều thích hợp sẽ kiểm soát được dịch hại trên trái cây xuất khẩu, kéo dài thời gian bảo quản, không hoặc ít ảnh hưởng đến chất lượng quả Trái cây được chiếu xạ thường không độc hại đối với con người và môi trường (James H Moy, 2005; Peter A Follett và Robert L Griffin, 2006; Trần Khắc Ân, 2007)

Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về chiếu xạ để kiểm dịch ruồi đục trái và nhiều loài côn trùng khác trên trái cây xuất khẩu Tuy nhiên việc nghiên cứu về chiếu

xạ đối với nhóm rệp sáp thì còn rất nhiều hạn chế Vì vậy đề tài “Nghiên cứu ảnh

hưởng của một số liều chiếu xạ đến sự phát triển của rệp sáp Dysmycoccus

neobrevipes Beardsley và Planococcus citri Risso” đã được thực hiện

1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài

1.2.1 Mục đích

Nghiên cứu ảnh hưởng của một số liều chiếu xạ đến sự phát triển của rệp sáp

D neobrevipes và P citri nhằm xác định liều chiếu xạ thích hợp để kiểm soát chúng

trên trái cây xuất khẩu

- Xác định được tỉ lệ chết của rệp sáp D neobrevipes sau chiếu xạ

- Xác định được tỉ lệ chết của rệp sáp P citri sau chiếu xạ

- Xác định được khả năng sinh sản của rệp sáp D neobrevipes và P citri sau

chiếu xạ

Trang 14

1.3 Giới hạn đề tài

- Thời gian: Đề tài được thực hiện từ tháng 1 đến tháng 7 năm 2010

- Địa điểm thực hiện đề tài: Bộ môn Bảo Vệ Thực Vật, Khoa Nông Học – Trường Đại học Nông Lâm và Trung tâm Nghiên cứu và Triển khai Công nghệ Bức xạ Vinagamma tại Tp Hồ Chí Minh

Trang 15

Chương 2

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Một số kết quả nghiên cứu về rệp sáp D neobrevipes và P citri

2.1.1 Vị trí phân loại rệp sáp họ Pseudococcidae

Tổng hợp theo CAB International (2007), Nguyễn Thị Chắt (2008), Nguyễn

Viết Tùng (2006), 2 loài rệp sáp D neobrevipes và P citri có sơ đồ phân loại như sau:

Giống - Genus: Dysmycoccus

Loài - Species: neobrevipes Beardsley Giống - Genus: Planococcus

Loài - Species: citri Risso

- Loài D neobrevipes

Tên tiếng Việt: rệp sáp giả mãng cầu, rệp sáp giả dứa xám

Tên tiếng Anh: Annona mealybug, mealybug gray

- Loài P citri

Tên tiếng Việt: rệp sáp giả cam

Tên tiếng Anh: citrus mealybug, grape mealybug, dompolan mealybug

Trang 16

2.1.2 Một số nghiên cứu về rệp sáp D neobrevipes

2.1.2.1 Nghiên cứu ngoài nước

” Phân bố và ký chủ của rệp sáp giả D neobrevipes

Rệp sáp D neobrevipes là loài đa thực, gây hại phổ biến ở vùng nhiệt đới và

cận nhiệt đới Chúng xuất hiện đầu tiên ở khu vực Nam Mỹ, được tìm thấy ở hầu hết các vùng trồng dứa trên thế giới như Fiji, Jamaica, Malaysia, Mexico, Micronesia, Philippines, Taiwan, quần đảo Hawaii, Việt Nam …, là một trong những loài gây thiệt hại kinh tế quan trọng trên cây dứa ở Hawaii Ngoài ra chúng còn gây hại trên nhiều loại cây khác như chuối, mãng cầu, dứa, cà phê, ca cao, … (Jayma L Martin Kessing, Ronald FL Mau, 2007)

” Đặc điểm hình thái của rệp sáp giả D neobrevipes

Cơ thể rệp sáp giả D neobrevipes trưởng thành có hình oval, màu xám hay xám

cam, được bao phủ bởi một lớp sáp trắng, chân màu vàng nâu, xung quanh cơ thể có

17 cặp tua sáp Các tua sáp ở hai bên mép cơ thể có chiều dài nhỏ hơn 1/4 chiều rộng

cơ thể, các tua sáp phía cuối dài bằng một nửa chiều rộng cơ thể (Jayma L Martin Kessing, Ronald FL Mau, 2007)

Một số đặc điểm có thể dùng để phân loại loài D neobrevipes:

- Có những lỗ chân lông hình tròn ở gần mắt

- Trên lỗ tiết chất sáp nằm ở mép cơ thể có nhiều gai hình nón

- Các lông cứng trên mặt lưng đốt thứ 8 dài bằng các lông cứng trên mặt lưng đốt thứ 6 và 7 Lỗ tiết sáp mỗi bên thùy hậu môn có 2 gai hình nón lớn

- D neobrevipes giống với D brevipes là đều có những lỗ chân lông hình tròn

gần mắt, ở mặt bụng có rất nhiều lỗ chân lông hình tròn để phân chia các đốt 6, 7 và 8

- D brevipes khác với D neobrevipes là có lông cứng trên mặt lưng đốt thứ 8

dài hơn các lông cứng trên mặt lưng đốt thứ 6 và 7

” Đặc điểm sinh học và triệu chứng gây hại của rệp sáp giả D neobrevipes

Rệp sáp D neobrevipes gây hại ở tất cả các bộ phận của cây như lá, thân, gốc,

hoa, trái nhất là trên những bộ phận non như lá non, trái non Quần thể của chúng thường giảm nhanh chóng khi trái và lá già đi Rệp không những chích hút nhựa cây làm cho cây dứa bị héo mà còn là vector truyền bệnh khô đầu lá dứa (Jayma L Martin Kessing, Ronald FL Mau, 2007)

Trang 17

Theo Ito K (1938), rệp sáp non D neobrevipes có 3 tuổi Thời gian từ khi ấu

trùng được đẻ ra đến khi trưởng thành và chết kéo dài từ 59-117 ngày, trung bình 90

ngày Đặc biệt loài này không đẻ ra trứng, trứng nở trong cơ thể rệp mẹ và rệp mẹ đẻ

ra con Rệp cái trải qua 3 tuổi trước khi trưởng thành; thời gian phát triển tuổi 1, tuổi

2, tuổi 3 lần lượt là từ 11-23 ngày, 6-20 ngày, 7-28 ngày Tổng thời gian ấu trùng là

26-52 ngày, trung bình 35 ngày Rệp đực trải qua 4 tuổi trước khi trưởng thành; thời

gian phát triển tuổi 1, tuổi 2, tuổi 3, tuổi 4 lần lượt là từ 11-19 ngày, 7-19 ngày, 2-7

ngày, 2-8 ngày Tổng thời gian ấu trùng là 22-53 ngày Con cái bắt đầu đẻ con ở 26

ngày sau khi trưởng thành, thời gian đẻ kéo dài 30 ngày Mỗi con cái đẻ được khoảng

350 ấu trùng Tuổi thọ trưởng thành cái 48-72 ngày, trung bình 61 ngày Con đực có

tuổi thọ ngắn 2-7 ngày (Jayma L Martin Kessing, Ronald FL Mau, 2007)

Một nghiên cứu ở Australia cho thấy con cái có khả năng sinh sản 350 ấu

trùng và tuổi thọ kéo dài 95 ngày Loài rệp này có thể lây lan nhờ gió và kiến, rệp

non tuổi 1 có thể phát tán đến vài trăm mét nhờ gió

” Một số biện pháp phòng trừ rệp sáp giả D neobrevipes

Biện pháp canh tác: Vệ sinh đồng ruộng trước và sau thu hoạch, dọn sạch cỏ

dại quanh ruộng để rệp sáp mất đi nguồn ký chủ phụ

Biện pháp sinh học: Trong tự nhiên rệp sáp D neobrevipes có rất nhiều thiên

địch Ở Hawaii, người ta sử dụng một số loài thiên địch như ong ký sinh Anagyrus

ananatis Gahan, Hambletonia pseudococcina Compere, bọ rùa Cryptolaemus

montrouzieri, Nephus bilucernarius, Scymnus pictus Gorham để kiểm soát rệp sáp

D neobrevipes Tuy nhiên để việc sử dụng thiên địch có hiệu quả cao cần kiểm soát

kiến cộng sinh với rệp sáp (Jayma L Martin Kessing, Ronald FL Mau, 2007)

2.1.2.2 Nghiên cứu trong nước

” Phân bố và ký chủ của rệp sáp giả D neobrevipes

Rệp sáp D neobrevipes có phạm vi kí chủ rất rộng, gây hại nhiều trên mãng

cầu na, mãng cầu xiêm, ca cao, chuối, dứa, (Nguyễn Thị Chắt, 2008)

” Đặc điểm hình thái của rệp sáp D neobrevipes

Rệp sáp D neobrevipes có hình oval tròn, dài khoảng 3-3,5 mm Nhiều đặc

điểm hình thái của rệp sáp giả mãng cầu D neobrevipes giống rệp giả dứa

D brevipes Tuy vậy rệp sáp giả mãng cầu có circulus ít phát triển, ostiloles nhỏ

Trang 18

còn rệp sáp giả dứa thì ngược lại Theo từ điển bách khoa BVTV (1996) có 2 loài

rệp sáp giả giống Dysmicoccus cùng gây hại trên dứa, đó là Dysmicoccus brevipes Ckll và Dysmicoccus neobrevipes Breardsley Hai loài này có kích thước cơ thể và

vòng đời phát triển gần giống nhau Rệp cái trưởng thành dài 3 mm, bên ngoài phủ

một lớp bột sáp trắng, xung quanh có sợi bột sáp dài Tuy vậy loài D neobrevipes

có các lông cứng trên đốt bụng thứ 8-9 ngắn hơn D brevipes, loài D neobrevipes

có circulus ít phát triển, ostiloles nhỏ còn loài D brevipes thì ngược lại (Nguyễn

Thị Chắt, 2008)

” Đặc điểm sinh học và triệu chứng gây hại của rệp sáp D neobrevipes

Rệp sáp D neobrevipes là loài sâu hại quan trọng nhất trên dứa Chúng xuất

hiện trong suốt những tháng ấm áp, vòng đời ngắn và có thể gia tăng mật số rất nhanh Chúng gây hại trên rễ, gốc, thân, lá, và quả Cả ấu trùng và trưởng thành gây hại bằng cách chích hút nhựa cây Những bộ phận bị tấn công phủ đầy sáp trắng hoặc nấm bồ hóng Rệp bài tiết chất thải có chứa chất đường ngọt tạo điều kiện cho nấm bồ hóng phát triển làm giảm khả năng quang hợp, cây kém phát triển Những

bộ phận bị hại khô dần và chết khi bị rệp tấn công mạnh Quan trọng hơn cả là trong quá trình chích hút nhựa cây rệp còn truyền virus gây bệnh khô đầu lá hay còn gọi là bệnh wilt trên dứa Bệnh này làm lá dứabị đỏ từ đầu lá trở vào và bắt đầu

từ lá phía dưới lên, sau đó chuyển qua nâu rồi hoại dần (Lê Quốc Điền, 2007; Nguyễn Văn Kế, 2001)

Rệp sáp thường tiết ra một chất thải hơi dính như mật ong nên thường có nhiều loại kiến sống kết hợp chặt chẽ với rệp Kiến sống bằng chất mật do rệp tiết ra

và làm tổ cho rệp ở, kéo rệp phân tán đi khắp nơi, làm tăng diện tích cây trồng bị gây hại (Trần Thế Tục và Vũ Mạnh Hải, 2002)

Điều kiện thích hợp để rệp phát triển và sinh sản chủ yếu phụ thuộc nhiệt độ

và ẩm độ Ở nhiệt độ 30-31oC và ẩm độ 70-80%, rệp sáp sinh sản rất mạnh, mỗi con cái có thể đẻ được 300-400 con (Thế Tục và Vũ Mạnh Hải, 2002)

Theo Nguyễn Thị Chắt (2008), rệp cái đẻ trứng xếp không gọn gàng, 1 tuần sau ấu trùng nở và phân tán tìm cây quả mọng chích hút, 3 ngày sau chúng định vị nơi cư trú

Trang 19

” Một số biện pháp phòng trừ rệp sáp D neobrevipes

Biện pháp canh tác: Vệ sinh đồng ruộng , làm sạch cỏ trước và sau gieo trồng Tỉa bỏ những lá, chồi bị nhiễm rệp sáp, trồng cây với khoảng cách thưa để hạn chế

lây nhiễm rệp sáp (Lê Quốc Điền, 2007)

Biện pháp sinh học: Sử dụng thiên địch như bọ rùa Nephus bilucenarius và

Scymnus uncinatus, ong ký sinh Encyrtids (Lê Quốc Điền, 2007)

Biện pháp hóa học: Để phòng trừ rệp sáp trên dứa, chồi giống phải được lấy từ các vườn sạch bệnh và không có rệp, đồng thời phải xử lý bằng dung dịch este của axit photphoric nồng độ 0,02-0,03%, sau đó để khoảng 12 giờ cho thuốc thấm vào lá trong trường hợp nhúng gốc hoặc 3-5 phút trong trường hợp ngâm ngập giống vào dung dịch Trong thời kỳ cây chưa ra hoa, nên phun định kỳ 5-6 tuần một lần các loại thuốc diệt rệp và phun tập trung vào mùa mưa ẩm để diệt rệp được triệt để, không nên phun vào giữa mùa khô (Trần Thế Tục và Vũ Mạnh Hải, 2002) Nên phun định

kỳ và kỹ các lô mới trồng nhất là thời gian đầu vì lá còn ít và nhỏ nên chỗ ẩn núp của kiến và rệp ít hơn (Nguyễn Văn Kế, 2001) Có thể xử lý đất trước khi trồng bằng Diazinon hoặc Nokap, xử lý chồi, hom trước khi trồng bằng thuốc hoá học như Supracide, Admire Khi mật số cao có thể sử dụng loại thuốc ít độc hại cho con người, môi trường như dầu khoáng DC-Tron Plus 98.8EC, SK-Enspray 99EC, Bitadin để phòng trị khi còn trong vườn ươm (Lê Quốc Điền, 2007)

2.1.3 Một số kết quả nghiên cứu về rệp sáp P citri

2.1.3.1 Nghiên cứu ngoài nước

” Phân bố và ký chủ của rệp sáp P citri

P citri là một trong những loài rệp sáp gây hại phổ biến nhất ở vùng nhiệt đới

và cận nhiệt đới (Jayma L Martin Kessing, Ronald FL Mau, 2007) Chúng xuất hiện

ở hầu hết tất cả các vùng trên thế giới nhất là trong các vườn cây ăn quả nhiệt đới và

ôn đới (Blumberg và ctv, 1995; David Kerns và ctv, 2004)

Loài P citri lần đầu tiên được thu thập trên cây cam quýt ở miền nam nước

Pháp và được mô tả bởi Risso năm 1913 (CAB International, 2007), là một trong những loài sâu hại phổ biến trong nhà kính và vườn ươm trồng cây cảnh, đặc biệt là cây họ cam quýt (Blumberg và ctv, 1995) Chúng cũng xuất hiện ở tất cả những vùng trồng cà phê trên thế giới (Jayma L Martin Kessing, Ronald FL Mau, 2007)

Trang 20

Ở California và Arizona (Mỹ), rệp sáp giả cam là một trong những dịch hại nghiêm trọng và khó kiểm soát trên cây họ cam quýt (S E Flanders, 1951; David Kerns và ctv, 2004) Chúng gây hại trên nhiều loại cây như na, xoài, chuối, khế, cây

họ cam quýt, táo, bơ, nho, ca cao, cà phê, hoa trúc đào, đỗ quyên, … (Jayma L Martin Kessing, Ronald FL Mau, 2007)

” Đặc điểm hình thái của rệp sáp P citri

Theo David Kerns và ctv (2004), thành trùng cái cơ thể có hình oval, màu hồng hay màu nâu cam, phủ một lớp sáp trắng, xung quanh có nhiều tua sáp, cơ thể dài 3

mm, rộng 1,5 mm, chân màu nâu đỏ Trứng có màu hồng, được đẻ trong bọc sáp Rệp non mới nở có màu vàng, sau vài ngày chuyển sang màu hồng Thành trùng đực cơ thể dài 4,5 mm, có một đôi cánh

Rệp sáp giả cam P citri có thể nhận biết được ngoài đồng nhờ một số đặc điểm

” Đặc điểm sinh học và triệu chứng gây hại của rệp sáp P citri

Rệp thường gây hại trên cành, lá, quả Ấu trùng và thành trùng cái chích hút nhựa cây và chất dinh dưỡng làm cho cây trở nên còi cọc, bị héo vàng, kém phát triển, làm rụng lá, rụng hoa và trái non (Smith và ctv, 1997; Heinz và ctv, 2004; Jayma L Martin Kessing, Ronald FL Mau, 2007) Nếu rệp gây hại nghiêm trọng có thể làm rụng 80% lá cây, 100% quả Rệp gây hại nặng nhất vào mùa khô (David Kerns và ctv, 2004)

Rệp sáp thường tiết ra một chất thải có lượng đường cao nên thường có nhiều loại kiến sống kết hợp chặt chẽ với rệp Kiến sống bằng chất mật do rệp tiết ra và giúp rệp phân tán đi khắp nơi, làm cho thiệt hại tăng đáng kể (Jayma L Martin Kessing, Ronald FL Mau, 2007)

Chất thải của rệp có chứa chất đường ngọt tạo điều kiện cho nấm phát triển làm giảm khả năng quang hợp, cây kém phát triển (Smith và ctv, 1997; Heinz và ctv, 2004;

Trang 21

Jayma L Martin Kessing, Ronald FL Mau, 2007) Quan trọng hơn cả là trong quá trình chích hút chúng còn truyền virus gây bệnh cho cây trồng (Kubiriba và ctv, 2001;

Watson và Kubiriba, 2005) Trên ca cao, rệp P citri là vector truyền bệnh sưng chồi

(Jayma L Martin Kessing, Ronald FL Mau, 2007)

Theo Jayma L Martin Kessing, Ronald FL Mau (2007), trên lá cà phê, tuổi thọ con đực khoảng 27 ngày, con cái 115 ngày, vòng đời 20-44 ngày Trứng được đẻ trong bọc sáp, 10-20 ngày nở thành rệp tuổi 1 Con đực trải qua 4 tuổi; thời gian phát triển tuổi 1, tuổi 2, tuổi 3, tuổi 4 lần lượt là từ 7-14 ngày (trung bình 9,9 ngày), 6-16 ngày (trung bình 8,7 ngày), 2-3 ngày (trung bình 2,5 ngày), 1-6 ngày (trung bình 3 ngày) Sau khi lột xác qua tuổi 2 được 4 ngày cơ thể rệp đực chuyển sang màu đen, 2 ngày sau tạo kén, hóa nhộng và phát triển thành thành trùng đực Ấu trùng cái trải qua 3 tuổi; thời gian phát triển tuổi 1, tuổi 2, tuổi 3 lần lượt từ 7-17 ngày (trung bình 11,5 ngày), 5-13 ngày (trung bình 8,2 ngày), 4-15 ngày (trung bình 8,4 ngày) Sau 15-26 ngày, rệp cái bắt đầu đẻ trứng Một rệp cái có thể đẻ được 200-400 trứng, trung bình

300 trứng

Theo Shila Goldasteh và ctv (2009), sự phát triển và khả năng sinh sản của rệp

phụ thuộc rất nhiều vào nhiệt độ Trên lá tía tô cảnh (Coleus blumei Benth.), ở ẩm độ

70 ± 10%, rệp cái phát triển được ở nhiệt độ 15-32 oC, rệp đực 18-32oC Ở nhiệt độ

10oC, 12oC và 37oC, ấu trùng đều bị chết Ở nhiệt độ 28oC, thời gian phát triển của

trứng, ấu trùng tuổi 1, tuổi 2, tuổi 3 lần lượt là 4,2 ± 0,14 ngày, 5,12 ± 0,14 ngày, 5,94

± 0,19 ngày, 6,82 ± 0,21 ngày Thời gian trước sinh sản và sau sinh sản lần lượt là 11,96 ± 0,84 ngày và 2,29 ± 0,25 ngày Số lượng trứng trung bình mỗi rệp cái đẻ được phụ thuộc rất nhiều vào nhiệt độ Rệp đẻ trứng ít nhất ở 18oC (24,90 ± 1,84 trứng/rệp

cái) và ở 25oC rệp có thể đẻ được 154 ± 6,94 trứng/rệp cái

Mỗi rệp cái có thể đẻ ít hơn 100 trứng ở nhiệt độ trên 30oC, đẻ hơn 400 trứng ở nhiệt độ 18ºC (Copland và ctv, 1985)

Theo Printz (1923), Bodenheimer và Guttfeld (1929), P citri đẻ được 12 trứng

ở nhiệt độ 17oC và 180 trứng ở nhiệt độ 21oC

Theo Mafi và Radjabi (1997) báo cáo rằng trên lá cam quýt, số trứng/rệp cái

P citri là 150, 180 và 195 trứng tương ứng tại các nhiệt độ 19oC, 23oC và 27oC, ẩm độ 70%, 75% và 80%

Trang 22

Rệp sáp lây lan nhờ gió, chim, con người, … Mỗi con cái có thể đẻ từ 300-600 trứng, 2-10 ngày sau trứng nở Ở tuổi 2, ấu trùng có thể tiếp tục phát triển lên ấu trùng tuổi 3 và thành trùng cái hoặc hóa nhộng phát triển thành thành trùng đực Mỗi tuổi kéo dài từ 7-16 ngày, sau 7-14 ngày nhộng vũ hóa thành thành trùng đực Ở điều kiện tối ưu, vòng đời của rệp khoảng 30 ngày Ở vùng ôn đới, chúng qua đông ở giai đoạn trứng trên rễ cây, thân và các nhánh dưới của cây Vào tháng tư trứng sẽ nở và tiếp tục gây hại chủ yếu trên quả (David Kerns và ctv, 2004)

” Một số biện pháp phòng trừ rệp sáp P citri

Biện pháp canh tác: Tỉa cây, tạo vườn cây thông thoáng, vệ sinh thiết bị và vật liệu thu hoạch để ngăn chặn sự lây lan của rệp

Biện pháp sinh học: Ở Arizona có rất nhiều loài ong ký sinh rệp sáp, trong đó

Anagraphus sp là loài quan trọng và xuất hiện phổ biến nhất Ngoài ra còn có một số

thiên địch ăn mồi như bọ rùa, nhện, chuồn chuồn cỏ, ruồi ăn rệp Trong đó loài thiên

địch ăn mồi được dùng phổ biến và có hiệu quả là bọ rùa Cryptolaemus montrouzieri

Biện pháp hóa học: Ở Arizona, người ta sử dụng các loại thuốc hóa học có hoạt chất Chlorpyrifos, Methidathion (Supracide), Buprofezin, Malathion để kiểm soát rệp sáp Tuy nhiên chúng đều gây độc đối với thiên địch (David Kerns và ctv, 2004)

2.1.3.2 Nghiên cứu trong nước

” Phân bố và ký chủ của rệp sáp P citri

Ở Việt Nam, theo kết quả điều tra tại các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên, rệp sáp giả cam gây hại trên trái cà phê tại Bình Phước và Tây Nguyên, trên lá cao su, ổi, trái nhàu, cam và một số cây trồng khác (Nguyễn Thị Chắt, 2008)

” Đặc điểm hình thái của rệp sáp P citri

Theo Nguyễn Thị Chắt (2008), rệp sáp giả cam có hình oval hơi tròn, lưng phồng cao và phía bụng phẳng, trên lưng phủ nhiều bột sáp trắng nhưng vẫn còn ngấn đốt rõ ràng Nếu gạt bỏ lớp sáp ra, cơ thể có màu nâu hồng hay xám hồng Râu đầu 8 đốt Xung quanh mép cơ thể con cái có 18 cặp tua sáp, riêng cặp thứ 17 dài gấp 1,5 lần

so với các cặp tua xung quanh và hơi cong ra ngoài, cặp thứ 18 nhỏ nhất, bị kẹp dưới cặp 17 Khi rệp sáp giả cam mới trưởng thành, các tua sáp rất rõ ràng, giữa lưng có vệt dọc chưa phủ kín bột sáp Kích thước rệp sáp giả cam biến động từ 3,17-3,39 mm

chiều dài và 2,02-2,06 mm chiều rộng trên cà phê Rệp sáp giả ca cao P lilacinus rất

Trang 23

giống rệp sáp giả cam P citri, tuy nhiên rệp sáp giả cam có những cặp tua sáp gần

cuối bụng dài hơn các tua sáp phía 2 bên sườn và phía đầu, đặc biệt là cặp tua thứ 17 hơi cong sang hai bên Giữa lưng rệp sáp giả cam cũng có vệt dọc nhưng hẹp chạy từ đốt bụng đầu tiên đến cuối bụng Bên dưới lớp bột sáp, cơ thể rệp sáp giả cam có màu nâu hồng hoặc hồng nhạt, còn rệp sáp giả ca cao có màu vàng nhạt

” Đặc điểm sinh học và triệu chứng gây hại của rệp sáp P citri

Rệp sáp giả cam P citri thường đẻ ra trứng hoặc thai trứng, ấu trùng có 3 tuổi

Ấu trùng tuổi 2 có thể phát triển lên ấu trùng cái và ấu trùng đực Ấu trùng đực phát triển tiếp và lột xác thành nhộng giả Từ nhộng giả phát triển tiếp lên nhộng và sau đó

vũ hóa lên thành trùng Ấu trùng cái tuổi 2 thông thường phát triển tiếp tục lên tuổi 3 Sau lần lột xác cuối chúng hóa trưởng thành và tiếp tục chu trình phát triển Trong điều kiện khí hậu nóng, ẩm tại các tỉnh phía nam và tây nguyên, rệp sáp giả cam phần lớn sinh sản vô tính, đẻ ra thai trứng Khi thức ăn đầy đủ số lượng con đực quan sát được rất ít Khi thức ăn không thích hợp, thức ăn không đầy đủ số lượng con đực quan sát được nhiều hơn (Nguyễn Thị Chắt, 2008)

Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Thuỷ và ctv (2006), rệp sáp đực thuộc dạng hình biến thái hoàn toàn, gồm pha trứng, pha sâu non (2 tuổi), nhộng và trưởng thành Khác với rệp sáp đực, rệp cái thuộc dạng hình biến thái không hoàn toàn, chỉ có pha trứng, pha sâu non (3 tuổi) và trưởng thành Thời gian sống của trưởng thành đực rất ngắn, chỉ từ 3,32 ngày đến 3,72 ngày Khác với rệp đực, rệp sáp cái có thời gian sống tương đối dài, thời gian trước đẻ từ 10,46 ngày đến 13,60 ngày, vòng đời ngắn từ 34,19 ngày đến 38,86 ngày Rệp trưởng thành cái thường nằm yên ở một chỗ, đẻ trứng thành ổ có lớp sáp bọc bên ngoài Rệp sáp có khả năng sinh sản cao Trong điều kiện nhiệt độ 27,820C - 28,76oC, ẩm độ 79,43% - 80,94%, rệp cái có thể đẻ

từ 144,75 - 150,4 trứng/rệp cái Rệp sáp xuất hiện với mật độ cao và gây hại nặng từ đầu tháng 3 đến đầu tháng 5 trùng với giai đoạn ra hoa và đậu quả của cây cà phê

Trang 24

Hình 2.1 Rệp sáp D neobrevipes gây hại trên dứa

A: Triệu chứng bệnh héo đầu lá dứa; B: Rệp sáp D neobrevipes gây hại ở gốc dứa

Hình 2.2 Rệp sáp D neobrevipes gây hại trên mãng cầu

Hình 2.3 Rệp sáp P citri gây hại trên ca cao

Trang 25

2.2 Tổng quan về phương pháp chiếu xạ

2.2.1 Khái niệm

Chiếu xạ là công nghệ sử dụng bức xạ ion hóa tác động lên sản phẩm nhằm cải thiện tính chất vật lý, hóa học, sinh học theo hướng mong muốn (Marshall R Cleland, 2006)

2.2.2 Đơn vị của liều hấp thụ

Đơn vị của liều hấp thụ hiện nay được sử dụng là Gray (Gy), là đại lượng đo năng lượng bức xạ iôn hóa bị vật chất hấp thụ 1 Gy bằng năng lượng 1 June truyền cho 1 kg vật chất (Trần Khắc Ân, 2007; Marshall R Cleland, 2006)

1 Gy = 1 J/kg

1 kGy = 1000 Gy

2.2.3 Quá trình phát triển phương pháp chiếu xạ

Ý tưởng dùng bức xạ ion hóa để diệt vi sinh gây bệnh đã nẩy sinh ngay sau khi Henri Becquerel phát hiện ra phóng xạ và Wihelm Conrad Roentgen phát minh ra tia

X vào năm 1895 Cũng từ đó hàng loạt các nghiên cứu về tác dụng diệt vi sinh của tia

X và tia phóng xạ đã được tiến hành Năm 1905, hai sáng chế đã đăng ký ở Mỹ và Anh

về diệt vi sinh bằng tia X Tuy nhiên, do vào thời gian đó nguồn phóng xạ duy nhất chỉ

là Radium nên các ứng dụng thực tế vẫn chưa thể thực hiện được Những nghiên cứu

về lĩnh vực này chỉ được áp dụng và trở nên thương mại khi công nghệ chế tạo máy gia tốc đã được phát triển và khi người ta đã sản xuất được chất phóng xạ hoạt độ cao

từ các lò phản ứng hạt nhân Năm 1955, công ty Johnson&Johnson, lần đầu tiên trên thế giới đã đưa vào sử dụng máy gia tốc chùm tia điện tử dùng cho chiếu xạ khử trùng chỉ phẫu thuật quy mô thương mại và đến năm 1960 máy chiếu xạ nguồn Co-60 với công suất xử lý khoai tây 15.000 tấn/năm đã được đưa vào hoạt động ở Canada

Công nghệ khử trùng dụng cụ y tế và chiếu xạ thực phẩm đã được nghiên cứu ứng dụng ở nước ta từ năm 1981 tại Viện nghiên cứu Hạt nhân, Đà Lạt Năm 1991, tại Viện Khoa học và Kỹ thuật Hạt nhân, Hà Nội, một thiết bị chiếu xạ bán công nghiệp nguồn Cobalt-60 dùng cho bảo quản lương thực thực phẩm (chủ yếu là khoai tây) đã được đưa vào hoạt động Sự kiện này đánh dấu thời điểm Việt Nam bắt đầu ứng dụng công nghệ chiếu xạ Thiết bị chiếu xạ này hiện đang được nâng cấp thành một thiết bị

Trang 26

2.2.4 Đặc điểm của một số tia phóng xạ

Có 4 loại tia phóng xạ được dùng trong chiếu xạ là tia gamma, chùm tia điện tử, tia X và tia cực tím (UV) (Marshall R Cleland, 2006; Trần Khắc Ân, 2007)

Tia gamma, chùm tia điện tử, tia X phát ra chùm electron tạo nguồn năng lượng ion hóa cao nên có thể thâm nhập vào tất cả các vật liệu rắn, có độ dày cao nên được

sử dụng phổ biến Chúng tạo ra năng lượng bằng cách phóng thích các electron, sau đó các electron này ion hóa các nguyên tử khác khi va chạm Trong khi tia cực tím chỉ tác động lên các bề mặt mỏng vì không cung cấp đủ năng lượng để ion hóa các vật liệu nên ít được sử dụng (Marshall R Cleland, 2006)

2.2.4.1 Tia gamma

Tia gamma phát ra từ nguồn Co-60 và Cs-137 Tuy nhiên nguồn Cs-137 ít được

sử dụng Các nhà cung cấp nguồn Co-60 thương mại chủ yếu ở Canada và Anh Co-60

là một hạt nhân phóng xạ nhân tạo, được tạo ra từ nguồn Co-59 Hoạt động của các nguồn phóng xạ đều bị giảm theo thời gian do hiện tượng tự nhiên gọi là tự phân hủy Chu kỳ bán rã là khoảng thời gian mà hoạt động của nguồn phóng xạ giảm đi một nửa Nguồn Co-60 (phát hai tia gamma có năng lượng 1,174 MeV và 1,332 MeV) có chu

kỳ bán rã 5,26 năm, do đó, hoạt động phân rã là 12,35% mỗi năm Hầu hết các nguồn Co-60 có hình dạng bút chì với chiều dài 452 mm và đường kính 11,1 mm Chúng được hạ xuống hồ sâu đầy nước khi nhân viên cần vào phòng xử lý Chúng được nâng lên trên mặt nước hồ để chiếu xạ khi sản phẩm đi qua nguồn trên một băng tải Phòng xử lý chiếu xạ được bao quanh bởi một lớp bê tông dày để bảo vệ nhân viên không bị ảnh hưởng bởi tia bức xạ gamma (Marshall R Cleland, 2006; Trần Khắc

Ân, 2007)

Sử dụng nguồn chiếu xạ Co-60 có nhiều ưu điểm như:

- Sử dụng đến 95% năng lượng phát ra

- Có khả năng xuyên sâu vào bên trong vật chất

- Thực phẩm chiếu xạ nhận được liều tương đối đồng đều

- Sau khi sử dụng, nguồn Co-60 phân rã thành niken là chất không phóng xạ nên không ảnh hưởng đến môi trường

Tuy nhiên, nguồn chiếu xạ Co-60 có chu ký bán rã ngắn nên phải bổ sung thường xuyên và tốc độ chiếu xạ thực phẩm tương đối chậm

Trang 27

2.2.4.2 Chùm tia điện tử

Chùm tia điện tử được phát ra từ máy gia tốc chùm tia điện tử Các electron được tập trung và tăng tốc lên 99% vận tốc ánh sáng và năng lượng tăng lên 10 lần Máy gia tốc chùm tia điện tử phát ra chùm electron có năng lượng cao nhất là 5 MeV

và thấp nhất là 0,1 MeV (Marshall R Cleland, 2006; Trần Khắc Ân, 2007)

Sử dụng chùm tia điện tử có nhiều ưu điểm như:

- Máy gia tốc sử dụng điện nên có thể bật hoặc tắt dễ dàng, không sử dụng các chất phóng xạ nên không cần bổ sung nguồn như Co-60

- Không thải ra chất phóng xạ

Tuy nhiên sử dụng chùm tia điện tử cũng có một số nhược điểm:

- Khả năng xuyên sâu vào vật chất kém

- Tiêu thụ điện năng cao

Chiếu xạ thực phẩm là công nghệ sử dụng năng lượng bức xạ ion hoá để xử lý thực phẩm nhằm nâng cao chất lượng vệ sinh và an toàn thực phẩm

Chiếu xạ là một công nghệ mang lại hiệu quả kinh tế trong việc giảm tổn thất sau thu hoạch, kéo dài thời gian lưu trữ hàng hóa và duy trì chất lượng vệ sinh của sản phẩm tươi (Boylston và ctv, 2002; Cheour và Mahjoub, 2003; Gonzalez Aguilar

và ctv, 2004)

Trang 28

Chiếu xạ có thể loại trừ vi khuẩn gây bệnh trong thịt bò như E coli,

Salmonella (Christopher H Sommers, Xuetong Fan, 2006)

Theo Trần Khắc Ân (2007), chiếu xạ thực phẩm nhằm diệt các vi sinh gây

bệnh như Salmonella, E coli …, các vi khuẩn gây hỏng hoa quả, côn trùng, nấm mà

không gây thay đổi thể trạng vật lý, không làm thay đổi dinh dưỡng, các đặc tính như mùi, vị, màu sắc và không gây nên bất kỳ một độc tố nào cho người sử dụng

Ở liều thấp, chiếu xạ kéo dài tuổi thọ của sản phẩm Ở liều cao hơn, chiếu xạ

có thể diệt côn trùng, nấm mốc, vi khuẩn có hại Một số thực phẩm như thực phẩm từ sữa và trứng không được chiếu xạ vì nó làm thay đổi hương vị và kết cấu trong thực phẩm Trái cây, rau, ngũ cốc, gia vị và các loại thịt có thể được chiếu xạ

Chiếu xạ còn có tác dụng kiểm soát sự nảy mầm của củ, quá trình chín của quả và côn trùng gây hại Chiếu xạ làm chậm sự phát triển và quá trình chín của các loại trái cây, ngăn chặn sự nẩy mầm của các loại củ như khoai tây

Ở nước ta, chiếu xạ được sử dụng chủ yếu để khử trùng dụng cụ y tế và chiếu

xạ thực phẩm Gần đây, chiếu xạ còn được sử dụng để kiểm soát đối tượng kiểm dịch thực vật đối với trái cây xuất khẩu

2.2.6 Tác động của tia phóng xạ lên hàng nông sản và dịch hại

2.2.6.1 Tác động của tia phóng xạ lên nông sản

Theo Luis Palou và ctv (2007), chiếu xạ trái cây để phòng trừ Penicillium ở liều

195, 395, 510, và 875 Gy không ảnh hưởng đến chất lượng quả, màu sắc vỏ, độ chua của quả

Tuy nhiên, nếu chiếu xạ với liều lượng cao có thể làm thay đổi hàm lượng chất dinh dưỡng của một số thực phẩm

Chuối ‘Kluai Khai’ được chiếu xạ ở liều 300 Gy, 600 Gy và 1000 Gy sau một thời gian lưu trữ ở nhiệt độ 30oC thì trọng lượng tươi giảm, trái chín nhanh hơn, nồng

độ chất rắn hòa tan tăng, độ chua cao hơn do sự mất nước So với chuối không chiếu

xạ thì ở lô chiếu xạ vỏ quả chuyển màu vàng nhanh hơn Như vậy chiếu xạ đã làm cho chuối chín nhanh hơn và mềm hơn không chiếu xạ Liều chiếu xạ càng cao thì ảnh hưởng này càng lớn (Chanloy và ctv, 2005)

Theo nghiên cứu của A Uthairatanakij và ctv (2005), xoài được chiếu xạ ở liều 0,4 và 0,6 kGy thì mềm hơn so với xoài không chiếu xạ Tuy nhiên chiếu xạ không có

Trang 29

ảnh hưởng đến màu sắc và hàm lượng các chất hòa tan của xoài Như vậy với liều chiếu xạ 0,6 kGy sẽ không gây tác động xấu đến quá trình chín của xoài

Theo Ashaye (2006), lượng nước hấp thụ bởi hạt đậu chiếu xạ thường cao hơn hạt đậu không chiếu xạ Chiếu xạ làm suy yếu liên kết giữa các phân tử tinh bột và nước, do đó gia tăng sự hấp thu nước

Rodrigo Meirelles de Azevedo Pimentel, Julio Marcos Melges Walder (2004), liều chiếu xạ 0,393 kGy làm chậm quá trình chín của đu đủ vì chiếu xạ làm chậm quá trình sản xuất ethylene, ức chế một số enzym tham gia quá trình làm chín quả Nhưng chiếu xạ không làm giảm trọng lượng của quả đu đủ

Tóm lại, chiếu xạ có thể làm thay đổi chất dinh dưỡng, các tính chất lý hóa trong thực phẩm, tùy thuộc vào liều chiếu xạ Các nghiên cứu cũng cho thấy rằng các chất như carbohydrate, protein, axit béo, chất khoáng và các nguyên tố khác trong trái cây nhiệt đới có thể có thay đổi tối thiểu trong thời gian chiếu xạ Tại một số liều chiếu

xạ, đặc biệt ở liều gần 1 kGy, chất lượng của quả có thể bị ảnh hưởng

2.2.6.2 Tác động của tia phóng xạ lên dịch hại

Các tia phóng xạ phóng ra nguồn năng lượng cao có thể làm phân huỷ một số

chất hữu cơ trong tế bào sinh vật, phá vỡ các liên kết hóa học trong phân tử DNA và phân tử nước, phá hủy protein dẫn đến phân giải cả chuỗi polipeptide thành các gốc acid amin, làm enzyme mất hoạt tính, có thể dẫn đến phá huỷ tế bào sinh vật Kết quả

là sinh vật bị chết hoặc không còn khả năng gây hại, không có khả năng sinh sản (James H Moy, 2005; Peter A Follett, 2002)

Theo Koval (1994), Burditt (1994), năng lượng ion hóa của tia phóng xạ phá vỡ liên kết trong DNA và các phân tử khác, do đó phá vỡ chức năng tế bào ở côn trùng Côn trùng phản ứng với bức xạ khác nhau tùy từng loài côn trùng, tùy giai đoạn sống

và liều lượng nhận được Trứng thường là giai đoạn nhạy cảm nhất và trưởng thành là giai đoạn có khả năng chịu đựng bức xạ cao nhất

Theo Trần Khắc Ân (2007), khi bức xạ ion hóa như hạt alpha, tia gamma, tia X

đi vào vật chất, trên đường đi qua chúng sẽ gây ra sự ion hóa vật chất và mất dần năng lượng Cơ chế diệt vi sinh vật, côn trùng, nấm mốc gây hại cho con người khi sử dụng thực phẩm và các vật phẩm y tế dựa trên tính chất ion hóa các nguyên tử, phân tử cấu thành nên các cơ thể sống, đặc biệt là các phân tử DNA của tế bào sinh vật gây bệnh

Trang 30

Khi các phân tử của DNA bị ion hóa, các liên kết giữa chúng bị đứt gãy Nếu chiếu xạ

ở một liều đủ thì việc phục hồi các đứt gãy trong cấu trúc DNA sẽ không thực hiện được và khi đó tế bào sẽ bị chết trong quá trình phân bào và sinh vật gây bệnh không thể phát triển được Khả năng chịu đựng chiếu xạ bằng bức xạ ion hóa tùy từng loại Mức độ sinh vật gây bệnh bị tiêu diệt bằng bức xạ iôn hóa phụ thuộc chủ yếu vào kích thước DNA, tốc độ hồi phục của chúng và một số các thông số khác

2.2.7 Chiếu xạ được sử dụng như một biện pháp xử lý kiểm dịch thực vật đối với hàng nông sản tươi

Trong những năm gần đây, việc sử dụng chiếu xạ như một biện pháp xử lý kiểm dịch thực vật ngày càng tăng, chủ yếu được dùng để kiểm soát hàng nông sản tươi như trái cây, rau quả Ở Hawaii đã áp dụng phương pháp chiếu xạ như một biện pháp xử lý kiểm dịch để kiểm soát ruồi đục trái trên 14 loại trái cây, rau và mọt đục quả xoài Tại Florida, khoai lang được chiếu xạ để kiểm soát mọt đục khoai lang trước khi được vận chuyển đến California Chiếu xạ có một số ưu điểm so với các phương pháp xử lý khác Gần đây, Dịch vụ nghiên cứu nông nghiệp Mỹ (ARS) đã đề xuất liều chiếu xạ chung cho tất cả các loài ruồi đục trái là 150 Gy Australia quy định liều chiếu xạ xử lý ruồi đục trái là 150 Gy, liều 250 Gy cho tất cả các côn trùng khác và liều 350 Gy cho nhện đối với trái cây nhiệt đới xuất khẩu sang New Zealand (IAEA-TECDOC-1427, 2004) Trái cây xuất khẩu từ Hawaii và các nước vào Mỹ phải được chiếu xạ ở liều tối thiểu là 0,25 kGy để kiểm soát ruổi đục quả (James H Moy, 2005)

Để xác định hiệu quả của biện pháp chiếu xạ trong kiểm soát côn trùng, cần xét 3 điều kiện: 1) Chiếu xạ có giết chết côn trùng gây hại trong hạt được lưu giữ; 2) Chiếu xạ có gây tổn thương côn trùng, làm chúng mất khả năng bay; 3) Chiếu xạ

có làm côn trùng gây hại mất khả năng sinh sản Liều chiếu xạ áp dụng thường không thỏa mãn cả 3 điều kiện trên nhưng đủ để gây tổn thương DNA của chúng bằng cách cắt ít nhất một sợi chuỗi xoắn kép Khi DNA trong trứng của các loài côn trùng bị tổn hại, chúng không thể sống bình thường và không thể phát triển được Để xác định chất lượng của trái cây chiếu xạ cần đo được hàm lượng chất dinh dưỡng, các chỉ số hóa tính, màu sắc, hương thơm, mùi vị của trái cây Trên thực phẩm như trái cây và rau quả, liều chiếu xạ được dùng là 1 kGy Tuy nhiên liều

Trang 31

chiếu xạ thích hợp cho từng loại nông sản cần được nghiên cứu và xác định riêng (James H Moy, 2005)

Theo Peter A Follett và Robert L Griffin (2006), phương pháp kiểm dịch thực vật là phương pháp xử lý để loại bỏ hoặc tiêu diệt dịch hại trong hàng hóa xuất khẩu

để ngăn chặn sự lây lan và thiết lập quần thể của dịch hại vào khu vực mới Chiếu xạ

là một công nghệ đa năng để diệt trừ dịch hại trong trái cây xuất khẩu Với liều chiếu

xạ sử dụng để kiểm soát dịch hại không làm giảm chất lượng hàng hoá, thậm chí có thể kéo dài tuổi thọ hàng hóa Ngoài ra, chiếu xạ có thể được áp dụng cho hàng hóa sau khi đóng gói Chiếu xạ đem lại hiệu quả cao trong việc phòng trừ côn trùng gây hại Không giống như các biện pháp xử lý kiểm dịch thực vật khác, chiếu xạ không cần phải giết các dịch hại ngay lập tức, do đó côn trùng có thể còn sống trong hàng hóa xuất khẩu nhưng không còn khả năng gây hại Trong số các loài côn trùng, các loài thuộc bộ Diptera (bộ hai cánh), Coleoptera (bộ cánh cứng) và Hemiptera (bộ cánh nửa cứng) có sức chịu đựng chiếu xạ kém hơn các loài thuộc bộ Lepidoptera (bộ cánh vảy) Hầu hết các loài côn trùng được xử lý chiếu xạ ở liều dưới 300 Gy Mục tiêu của chiếu xạ trong kiểm dịch thực vật là ngăn cản sự phát triển lên trưởng thành, làm cho con trưởng thành bị vô sinh Trong nông sản, con trưởng thành thường xuất hiện nhiều

và đây là giai đoạn côn trùng có khả năng chịu đựng bức xạ cao nhất, biện pháp xử lý hiệu quả là làm cho chúng vô sinh Trưởng thành cái sau khi chiếu xạ vẫn đẻ trứng nhưng trứng sẽ không nở hoặc trứng nở nhưng con non không phát triển lên được nữa

Biện pháp chiếu xạ ngày càng được ứng dụng rộng rãi ở các nước Tuy nhiên, côn trùng phản ứng với bức xạ khác nhau, tùy từng loài côn trùng, tùy giai đoạn sống

và liều lượng nhận được (Koval, 1994; Burditt, 1994) Vì vậy trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về liều chiếu xạ riêng áp dụng phù hợp cho từng loài côn trùng

Theo nghiên cứu của Cintia Fernanda Pedroso Zanao và ctv (2009), khi chiếu

xạ trừ mọt gạo Sitophilus oryzae L., ở liều chiếu xạ càng cao thì mọt chết càng nhiều,

sau 40 ngày chiếu xạ, ở liều 1 kGy tất cả mọt gạo đều chết Đồng thời chiếu xạ không ảnh hưởng đến thành phần vật lý và hóa học của gạo

Peter A Follett, Robert A Lower (2000), liều 250 Gy có hiệu quả xử lý kiểm

dịch đối với Cryptophlebia spp (Lepidoptera: Tortricidae) trên các loại trái cây ở

Hawaii Khả năng chịu đựng chiếu xạ ở giai đoạn sâu non và nhộng cao hơn ở giai

Trang 32

đoạn trứng Trong đó sâu non tuổi 4 và tuổi 5 có khả năng chịu bức xạ cao nhất Chiếu

xạ làm cho sâu non không phát triển, nhộng không vũ hóa và trưởng thành không có khả năng sinh sản

Theo kết quả nghiên cứu của Peter A Follett (2004), ở Hawaii, chiếu xạ là phương pháp thay thế phương pháp xông hơi khử trùng bằng methyl bromide để trừ sâu bệnh hại trên khoai lang Với liều chiếu xạ 250-300 Gy sẽ kiểm soát sâu bệnh hại trên khoai lang

Đối với loài kiến Pheidole megacephala (Hymenoptera: Formicidae) sau khi

xử lý chiếu xạ thì số lượng trứng, sâu non, nhộng giảm khi liều chiếu xạ tăng Ở liều chiếu xạ 60, 120, 150 Gy số trứng giảm tương ứng là 89,6%, 99,5% và 98,5% so với

không chiếu xạ Có thể sử dụng liều chiếu xạ 150 Gy để kiểm soát Pheidole

megacephala Những loài côn trùng khác như bọ trĩ, rệp sáp và kiến phổ biến trên trái

cây xuất khẩu ở Hawaii có thể xử lý kiểm dịch bằng cách sử dụng liều chiếu xạ 400

Gy (Peter A Follett và Glenn Taniguchi, 2007)

Theo Peter A Follett (2001), liều chiếu xạ 100 Gy làm cho mọt đục quả xoài

Cryptorhynchus mangiferae trưởng thành không có khả năng sinh sản Như vậy có thể

sử dụng liều chiếu xạ 100 Gy để xử lý kiểm dịch đối với mọt đục xoài C mangiferae

Theo M Mansour, F Mohamad (2002), đối với sâu đục quả táo Cydia

pomonella, liều chiếu xạ 200 Gy hoàn toàn ngăn cản sự phát triển của sâu non lên

trưởng thành, đồng thời không ảnh hưởng đến chất lượng táo

Theo G.J Hallman (2002), loài mọt đục quả Conotrachelus nenuphar

(Coleoptera: Curculionidae) được chiếu xạ ở liều 92 Gy làm cho sâu non không phát triển, trưởng thành sinh sản kém, giảm tuổi thọ, sâu non tuổi 1 ở thế hệ tiếp theo không phát triển lên tuổi 2

Coccus viridis là loài rệp sáp vảy gây hại trên cây họ cam quýt, cà phê và nhiều

loại cây ăn trái khác Trên tất cả các cây ký chủ, liều chiếu xạ thấp hơn 250 Gy có thể

làm cho C viridis chết chậm hơn so với liều chiếu xạ lớn hơn 400 Gy Chiếu xạ ở liều

250 Gy không ngăn cản ấu trùng C viridis phát triển lên trưởng thành nhưng tất cả

trưởng thành đều không có khả năng sinh sản Sâu non nhạy cảm với chiếu xạ hơn trưởng thành Như vậy chiếu xạ ở liều 250 Gy được xem là có hiệu quả để xử lý kiểm

dịch đối với C viridis (Arnold H Hara và ctv, 2001)

Trang 33

Ở nước ta những nghiên cứu về phương pháp chiếu xạ đối với côn trùng còn rất hạn chế

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Quảng Hoa, Phạm Bình Quyền (2002), sâu tơ

(Plutella xylostella L.), một đối tượng sâu hại nghiêm trọng trên rau họ thập tự, đã

được xử lý chiếu xạ tia gamma ở các pha trứng, sâu non, nhộng, trưởng thành tại một

số liều chiếu xạ từ 25 Gy đến 500 Gy Sau chiếu xạ ghi nhận được ở liều chiếu xạ càng cao thì tỉ lệ vũ hóa càng thấp, pha trứng là mẫn cảm với bức xạ nhất, sâu tơ cái mẫn cảm với bức xạ hơn sâu tơ đực

Theo Dương Minh Tú và ctv (2002), liều chiếu xạ 250 Gy đáp ứng được yêu

cầu của xử lý kiểm dịch thực vật đối với ruồi đục quả phương đông Bactrocera

dorsalis trên quả tươi xuất khẩu mà không làm ảnh hưởng đến chất lượng của quả

thanh long sau xử lý

2.3 Giới thiệu về máy chiếu xạ nguồn Co-60

Thiết bị chiếu xạ sử dụng nguồn Co-60 tại trung tâm Vinagamma là thiết bị do Hungary thiết kế và chế tạo, hoạt động theo kiểu hàng hoá được xử lý di chuyển bao quanh bản nguồn cố định

Bảo vệ phóng xạ cho buồng chiếu là tường bê tông dày, được thiết kế đảm bảo

an toàn cho nguồn phóng xạ có hoạt độ cực đại Trong buồng chiếu xạ có bể nước bằng thép không rỉ, chiều sâu 6 m để chứa nguồn phóng xạ khi thiết bị không hoạt động Khi nguồn nằm trong bể nước, tia gamma được che chắn bởi một lớp nước dày trung bình 4,5m

Nguồn phóng xạ Co-60 có dạng thanh với chiều dài 452 mm và đường kính 11,1 mm được lắp vào ba giá nguồn Các giá nguồn được nâng lên đến vị trí chiếu xạ, nằm ở giữa theo chiều ngang hệ đảo hàng Hệ đảo hàng được thiết kế bằng thép nằm hai bên giá nguồn khi nguồn được kéo lên Hệ đảo hàng nhận được hộp chứa sản phẩm nạp từ ngoài vào và đảo vị trí các hộp chứa hàng xung quanh bản nguồn Các hộp chứa sản phẩm được làm bằng nhôm dày 1 mm, chuyển động trên các thanh ray, hộp nọ sát hộp kia Tổng số có 68 thùng hàng trong buồng chiếu xạ Hệ thống chiếu xạ được điều khiển tự động theo chương trình đã được cài đặt trên máy tính (Trần Văn Hùng, Mai Văn Nhơn, 2006)

Trang 34

Hình 2.4 Thiết bị chiếu xạ tia gamma nguồn Co-60

(Nguồn: Trung tâm chiếu xạ Vinagamma)

Hình 2.5 Nguồn phóng xạ Co-60

(Nguồn: Marshall R Cleland, 2006)

Trang 35

Chương 3

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

3.1.1 Thời gian nghiên cứu

Đề tài được thực hiện từ tháng 1 đến tháng 7 năm 2010

3.1.2 Địa điểm nghiên cứu

- Bộ môn Bảo Vệ Thực Vật, Khoa Nông Học – Trường Đại học Nông Lâm

Tp Hồ Chí Minh

- Trung tâm Nghiên cứu và Triển khai Công nghệ Bức xạ Vinagamma

Tp Hồ Chí Minh

3.2 Nội dung nghiên cứu:

- Nghiên cứu thời gian phát triển các pha cơ thể và vòng đời của rệp sáp

3.3 Vật liệu nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu là loài rệp sáp D neobrevipes và P citri

- Thiết bị chiếu xạ: máy chiếu xạ tia gamma, nguồn Co-60

- Vật liệu nuôi rệp: bí đỏ, khoai tây, lồng được bao lưới có kích thước 45 cm x

35 cm x 30 cm, hộp nhựa, cọ nhỏ

- Kính lúp, kính sôi nổi, kéo, bút, sổ ghi chép …

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Nhân sinh khối rệp sáp D neobrevipes và P citri

Mục đích: thu nguồn rệp có cùng ngày tuổi để tiến hành xử lý chiếu xạ

Phương pháp:

Trang 36

- Nguồn rệp sáp D neobrevipes và P citri được thu thập trên các vườn dứa và

ca cao tại Tp Hồ Chí Minh

- Tiến hành nhân nuôi rệp sáp D neobrevipes trên quả bí đỏ và rệp P citri trên

củ khoai tây để thu được nguồn rệp trưởng thành đang trong giai đoạn sinh sản Thức

ăn nuôi rệp được thay mới 2 lần/tháng

- Tiến hành thu thập rệp D neobrevipes và P citri trưởng thành đang trong giai

đoạn sinh sản đặt trên những quả bí đỏ và củ khoai tây với số lượng là 30 rệp trưởng

thành D neobrevipes/một quả bí đỏ và 30 rệp trưởng thành P citri/một củ khoai tây Sau 2 ngày tách và chuyển rệp D neobrevipes, P citri trưởng thành qua những quả bí

đỏ và những củ khoai tây mới Ở những quả bí đỏ và củ khoai tây cũ ta thu được rệp cùng tuổi

- Tiếp tục tiến hành như vậy cho đến khi đủ số lượng rệp ở các giai đoạn rệp tuổi 1, tuổi 2, tuổi 3 và rệp trưởng thành cùng ngày tuổi để tiến hành chiếu xạ

Hình 3.1 Nhân nuôi rệp sáp D neobrevipes trong phòng thí nghiệm

Hình 3.2 Nhân nuôi rệp sáp P citri trong phòng thí nghiệm

Trang 37

3.4.2 Nghiên cứu thời gian phát triển các pha cơ thể và vòng đời của rệp sáp

D neobrevipes và P citri

Phương pháp

- Thí nghiệm nghiên cứu thời gian phát triển các pha cơ thể và vòng đời của rệp

sáp D neobrevipes và P citri được thực hiện theo phương pháp nuôi sinh học cá thể

trong phòng

- Mỗi cá thể rệp D neobrevipes được nuôi trên một miếng bí đỏ đặt trong 1 hộp

nhựa nuôi sâu (hộp có nắp bằng lưới) Hai ngày thay miếng bí mới một lần

- Mỗi cá thể rệp P citri được nuôi trên một củ khoai tây đặt trong 1 hộp nhựa

nuôi sâu (hộp có nắp bằng lưới)

- Tiến hành theo dõi hằng ngày tại một giờ cố định để xác định thời điểm rệp lột

xác sang tuổi mới

- Số cá thể rệp theo dõi là n = 30

Chỉ tiêu theo dõi

Thời gian phát triển các pha ấu trùng, thành trùng

3.4.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của các liều chiếu xạ đến tỉ lệ chết của rệp sáp

D neobrevipes và P citri

Bố trí thí nghiệm

Thí nghiệm được bố trí theo kiểu lô phụ với 3 lần lặp lại

- Yếu tố chính là các liều chiếu xạ: D1 (0,1 kGy), D2 (0,2 kGy), D3 (0,3 kGy),

D4 (0,4 kGy) và D5 (đối chứng: không chiếu xạ)

- Yếu tố phụ là các tuổi rệp: rệp tuổi 1, tuổi 2, tuổi 3 và trưởng thành có cùng

Trang 38

Sau khi đã đủ số lượng rệp ở các giai đoạn rệp tuổi 1, tuổi 2, tuổi 3 và rệp trưởng thành cùng ngày tuổi thì tiến hành đếm số lượng rệp trên mỗi quả bí đỏ và mỗi

củ tây trước khi chiếu xạ Số cá thể rệp đem chiếu xạ là 100 rệp D neobrevipes/quả bí

đỏ và 50 rệp P citri/củ khoai tây

Trước khi chiếu xạ, các khay nhựa đựng bí đỏ và khoai tây có rệp cùng ngày tuổi được gắn các liều kế Liều kế có tác dụng xác định liều chiếu xạ mà rệp nhận

được Các khay nhựa đựng bí đỏ có rệp D neobrevipes cùng ngày tuổi được cho vào thùng giấy Các khay nhựa đựng khoai tây có rệp P citri cùng ngày tuổi được dán giấy che lại để chắn gió Sau đó các thùng giấy có rệp D neobrevipes và các khay nhựa có rệp P citri cùng ngày tuổi được đưa vào phòng xử lý chiếu xạ, đặt ở những vị trí cố

định khác nhau để hấp thụ một cách chính xác các liều chiếu xạ được thí nghiệm Thời gian chiếu xạ kéo dài 1 giờ 25 phút cho tất cả các liều chiếu xạ thí nghiệm

Sau khi chiếu xạ xong rệp được theo dõi trong điều kiện phòng thí nghiệm Tiến hành theo dõi hằng ngày để nhận biết rệp chết và xác định số rệp còn sống sau chiếu

xạ ở các nghiệm thức thí nghiệm

Chỉ tiêu theo dõi

Đếm số con rệp còn sống ở 1, 2, 3, 5, 9,15 ngày sau chiếu xạ để tính số rệp chết sau chiếu xạ (rệp bị chết do ảnh hưởng của chiếu xạ có đặc điểm: cơ thể rệp chuyển sang màu nâu, sau đó chuyển sang màu đen và khô)

Tỉ lệ rệp chết sau chiếu xạ được tính theo công thức:

- Tỉ lệ rệp D neobrevipes chết = (số rệp chết / 100) x 100%

- Tỉ lệ rệp P citri chết = (số rệp chết / 50) x 100%

Hình 3.3 Chuẩn bị rệp D neobrevipes đưa vào chiếu xạ

Trang 39

Hình 3.4 Chuẩn bị rệp P citri đưa vào chiếu xạ

Hình 3.5 Đưa rệp vào xử lý chiếu xạ 3.4.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của các liều chiếu xạ đến khả năng sinh sản của rệp

sáp D neobrevipes và P citri

Phương pháp

Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên

Sau khi tiến hành chiếu xạ, rệp được nuôi cá thể để theo dõi khả năng sinh sản sau chiếu xạ

Mỗi cá thể rệp D neobrevipes trưởng thành ở các liều chiếu xạ tiếp tục được

nuôi trên một miếng bí đỏ (kích thước 2 x 3 cm) đặt trong 1 hộp nhựa nuôi sâu (hộp có nắp bằng lưới) Cách 3 ngày một lần thay miếng bí đỏ mới và tiến hành đếm số rệp

Trang 40

con được sinh ra/rệp mẹ ở các nghiệm thức cho đến khi rệp mẹ không còn khả năng sinh sản và chết

Mỗi cá thể rệp P citri trưởng thành ở các liều chiếu xạ được nuôi trên củ

khoai tây đặt trong 1 hộp nhựa nuôi sâu (hộp có nắp bằng lưới) Cách 3 ngày một lần đếm số trứng và số rệp con được sinh ra/rệp mẹ ở các nghiệm thức cho đến khi rệp

mẹ không còn khả năng sinh sản và chết

Số lượng mẫu theo dõi ở mỗi liều chiếu xạ là n = 30 con

Chỉ tiêu theo dõi

Đếm tổng số rệp con được sinh ra từ các rệp mẹ để tính trung bình số rệp con/rệp mẹ/nghiệm thức

Hình 3.6 Nuôi cá thể rệp D neobrevipes trưởng thành với thức ăn bí đỏ

Hình 3.7 Nuôi cá thể rệp P citri trưởng thành với thức ăn là khoai tây

Ngày đăng: 16/03/2019, 11:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w