1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ẢNH HƯỞNG CÁCH GHÉP QUẤN NGỌN VÀ CÁCH GHÉP CHỤP BAO NILON ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG BA GIỐNG CÀ PHÊ CAO SẢN ROBUSTA TRONG VƯỜN ƯƠM

95 58 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ẢNH HƯỞNG CÁCH GHÉP QUẤN NGỌN VÀ CÁCH GHÉP CHỤP BAO NILON ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG BA GIỐNG C

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ẢNH HƯỞNG CÁCH GHÉP QUẤN NGỌN VÀ CÁCH GHÉP CHỤP BAO NILON ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG

BA GIỐNG CÀ PHÊ CAO SẢN ROBUSTA

TRONG VƯỜN ƯƠM

Họ và tên sinh viên: NGUYỄN ĐỨC CƯỜNG

Tháng 08/2010

Trang 2

ẢNH HƯỞNG CÁCH GHÉP QUẤN NGỌN VÀ CÁCH GHÉP CHỤP BAO NILON ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG

BA GIỐNG CÀ PHÊ CAO SẢN ROBUSTA

TRONG VƯỜN ƯƠM

Tác giả

NGUYỄN ĐỨC CƯỜNG

Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng kỹ sư ngành

Nông học

Giáo viên hướng dẫn:

PGS.TS LÊ QUANG HƯNG ThS PHẠM CÔNG TRÍ

Tháng 08 năm 2010

Trang 3

Chân thành gửi lời cảm ơn đến:

- Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh

- Ban Chủ nhiệm Khoa Nông học

- Quý thầy cô Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh đã tận tình dạy dỗ, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập tại trường

- Ban lãnh đạo và toàn thể cán bộ, công nhân, viên chức Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Thủy lợi Nông lâm nghiệp Gia Lai đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập và hoàn thành khóa luận này

Trân trọng tri ân những tác giả của các sách, tài liệu mà tôi đã học tập và tham khảo trong quá trình thực hiện khóa luận

Thân gửi các bạn lời cảm ơn sâu sắc đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

TP Hồ Chí Minh, tháng 08 năm 2010

Sinh viên thực hiện

NGUYỄN ĐỨC CƯỜNG

Trang 4

Thí nghiệm gồm hai yếu tố được bố trí theo kiểu lô phụ (Split - Plot Design), các nghiệm thức trên mỗi lô được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với ba lần lặp lại Yếu tố A: lô chính với hai cách ghép là quấn ngọn và chụp bao nilon Yếu tố B: lô phụ với ba giống TR4, TR5, và TR9

Thí nghiệm đã đạt được kết quả như sau:

Tỷ lệ xuất vườn và hiệu quả kinh tế của hai đợt thí nghiệm chênh lệch nhau ít

Trang 5

MỤC LỤC

Trang tựa i

Lời cảm ơn ii

Tóm tắt iii

Mục lục iv

Danh sách các từ viết tắt viii

Danh sách các bảng ix

Danh sách các biểu đồ và hình xi

Chương 1: MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích, yêu cầu và giới hạn của đề tài 2

1.2.1 Mục đích 2

1.2.2 Yêu cầu 2

1.2.3 Giới hạn đề tài 2

Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Sơ lược về phân loại và nguồn gốc 4

2.2 Đặc điểm thực vật học cà phê vối 4

2.3 Điều kiện sinh thái cà phê Robusta 5

2.3.1 Yêu cầu về khí hậu 5

2.3.2 Yêu cầu về đất đai 5

2.4 Những nghiên cứu và thành tựu về ghép cà phê trên thế giới và ở Việt Nam 6

2.4.1 Những nghiên cứu và thành tựu về ghép cà phê trên thế giới 6

2.4.2 Những nghiên cứu và thành tựu về ghép cà phê ở Việt Nam 7

2.5 Nhân giống vô tính cà phê vối 7

2.5.1 Giâm cành 8

2.5.2 Nuôi cấy mô 8

2.5.3 Nhân giống vô tính bằng phương pháp ghép 9

2.5.3.1 Cơ sở khoa học của nhân giống vô tính bằng phương pháp ghép 9

2.5.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự thành công sau khi ghép trong vườn ươm 10

Trang 6

2.6 Thực tế sản xuất cây giống cà phê vối bằng phương pháp ghép nối ngọn

ở Gia Lai hiện nay 11

Chương 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Thời gian và địa điểm 12

3.2 Điều kiện thời tiết trong thời gian thực hiện thí nghiệm 12

3.3 Vật liệu thí nghiệm 13

3.3.1 Gốc ghép 13

3.3.2 Chồi ghép 13

3.3.3 Vật tư, công cụ và thiết bị hỗ trợ thí nghiệm 13

3.4 Nội dung thí nghiệm 14

3.5 Phương pháp thí nghiệm 14

3.5.1 Bố trí thí nghiệm 14

3.5.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 15

3.6 Phương pháp ghép 15

3.6.1 Cách ghép chụp bao nilon 15

3.6.2 Cách ghép quấn ngọn 16

3.6.3 Chăm sóc sau khi ghép 16

3.6.4 Tiêu chuẩn cây ghép lúc đem trồng 16

3.7 Chỉ tiêu theo dõi 17

3.8 Phương pháp xử lý số liệu 17

Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 Thí nghiệm đợt 1 (03/2010): Ảnh hưởng của cách ghép và các giống cà phê cao sản Robusta 18

4.1.1 Ảnh hưởng của cách ghép và các giống cà phê cao sản Robusta đến tỷ lệ sống sau ghép, đợt 1 (03/2010) 18

4.1.2 Ảnh hưởng của cách ghép và các giống cà phê cao sản Robusta đến tăng trưởng chiều dài chồi sau ghép, đợt 1 (03/2010) 20

4.1.3 Ảnh hưởng của cách ghép và các giống cà phê cao sản Robusta đến số cặp lá trên chồi sau ghép, đợt 1 (03/2010) 22

4.1.4 Ảnh hưởng của cách ghép và các giống cà phê cao sản Robusta đến tỷ lệ phân cành cơ bản sau ghép, đợt 1 (03/2010) 24

Trang 7

4.1.5 Ảnh hưởng của cách ghép và các giống cà phê cao sản Robusta đến

số cặp cành cơ bản sau ghép, đợt 1(03/2010) 26 4.1.6 Ảnh hưởng của cách ghép và các giống cà phê cao sản Robusta đến

chiều dài cành cơ bản, đợt 1 (03/2010) 28 4.1.7 Ảnh hưởng của cách ghép và các giống cà phê cao sản Robusta đến

chiều dài lóng sau ghép, đợt 1 (03/2010) 30 4.1.8 Ảnh hưởng của cách ghép và các giống cà phê cao sản Robusta đến

tỷ lệ xuất vườn sau ghép, đợt 1 (03/2010) 31 4.1.9 Tương quan giữa tỷ lệ xuất vườn với tỷ lệ sống, số cặp lá trên chồi, tỷ lệ

phân cành, số cặp cành và chiều dài cành tại thời điểm 60 NSG,

đợt 1 (03/2010) 32 4.1.10 Hiệu quả kinh tế của cách ghép quấn ngọn và kiểu ghép có bao

chụp trong thí nghiệm đợt 1 (03/2010) 33 4.2 Thí nghiệm đợt 2 (04/2010): Ảnh hưởng của cách ghép và các giống cà phê cao sản Robusta 36 4.2.1 Ảnh hưởng của cách ghép và các giống cà phê cao sản Robusta đến

tỷ lệ sống sau ghép, đợt 2 (04/2010) 36 4.2.2 Ảnh hưởng của cách ghép và các giống cà phê cao sản Robusta đến

tăng trưởng chiều dài chồi sau ghép, đợt 2 (04/2010) 38 4.2.3 Ảnh hưởng của cách ghép và các giống cà phê cao sản Robusta đến

số cặp lá trên chồi sau ghép, đợt 2 (04/2010) 40 4.2.4 Ảnh hưởng của cách ghép và các giống cà phê cao sản Robusta đến

tỷ lệ phân cành cơ bản sau ghép, đợt 2 (04/2010) 41 4.2.5 Ảnh hưởng của cách ghép và các giống cà phê cao sản Robusta đến

số cặp cành cơ bản sau ghép, đợt 2 (04/2010) 43 4.2.6 Ảnh hưởng của cách ghép và các giống cà phê cao sản Robusta đến

chiều dài cành cơ bản , đợt 2 (04/2010) 45 4.2.7 Ảnh hưởng của cách ghép và các giống cà phê cao sản Robusta đến

chiều dài lóng sau ghép, đợt 2 (04/2010) 46 4.2.8 Ảnh hưởng của cách ghép và các giống cà phê cao sản Robusta đến

tỷ lệ xuất vườn sau ghép, đợt 2 (04/2010) 47

Trang 8

4.2.9 Tương quan giữa tỷ lệ xuất vườn với tỷ lệ sống, số cặp lá trên chồi, tỷ lệ

phân cành, số cặp cành và chiều dài cành tại thời điểm 60 NSG,

đợt 2 (04/2010) 48

4.2.10 Hiệu quả kinh tế của cách ghép quấn ngọn và kiểu ghép có bao chụp trong thí nghiệm đợt 2 (04/2010) 49

4.3 So sánh kết quả của hai thí nghiệm về tỷ lệ sống và tỷ lệ xuất vườn 51

4.3.1 So sánh kết quả của hai thí nghiệm về tỷ lệ sống cây cà phê Robusta 60 NSG 51

4.3.2 So sánh kết quả của hai thí nghiệm về tỷ lệ xuất vườn cây cà phê Robusta 60 NSG 53

Chương 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 5.1 Kết luận 55

5.2 Đề nghị 56

TÀI LIỆU THAM KHẢO 57

PHỤ LỤC 59

Phụ lục 1: Một số hình ảnh thí nghiệm 59

Phụ lục 2: Số liệu thô 64

Phụ lục 3: Kết quả xử lý SAS 68

Trang 9

DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT

ANOVA: Phân tích phương sai (Analysis of Variance)

Bộ Nông Nghiệp và PTNT: Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn

Trang 10

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng Trang

Bảng 3.1 Điều kiện khí hậu thời tiết Tp Pleiku 12

Bảng 3.2 Đặc điểm các giống cà phê thí nghiệm 14

Bảng4.1 Tỷ lệ sống cây cà phê (%) vào thời điểm 30, 45, 60 NSG 18

Bảng 4.2 Chiều cao chồi cây cà phê (cm) ở thời điểm 30 và tốc độ tăng trưởng chiều cao chồi trong giai đoạn 30 - 45 NSG (cm/chồi/15 ngày), 30 - 60 NSG (cm/chồi/30 ngày) 21

Bảng 4.3 Số cặp lá trên chồi cà phê (cặp lá) ở thời điểm 30, 45 và 60 NSG 23

Bảng 4.4 Tỷ lệ phân cành cơ bản (%) của chồi cây cà phê vối ở thời điểm 30, 45 và 60 NSG 25

Bảng 4.5 Số cặp cành cơ bản của cây cà phê vối (cặp cành) ở thời điểm 30, 45 và 60 NSG 27

Bảng 4.6 Chiều dài cành (cm) cơ bản cây cà phê vối ở thời điểm 30, 45 và 60 NSG 29

Bảng 4.7 Chiều dài lóng (cm) của cây cà phê ghép Robusta tại thời điểm 60 NSG 30

Bảng 4.8 Tỷ lệ xuất vườn (%) của cây cà phê 60 NSG 31

Bảng 4.9 Tương quan giữa tỷ lệ xuất vườn với tỷ lệ sống, số cặp lá trên chồi, tỷ lệ phân cành, số cặp cành và chiều dài cành 32

Bảng 4 10 Hạch toán chi phí cho mỗi kiểu ghép 34

Bảng 4.11 Số cây ghép xuất vườn và tiền lãi trong thí nghiệm đợt 1 (03/2010) 35

Bảng 4.12 Tỷ lệ sống cây cà phê vối (%) vào thời điểm 30, 45, 60 NSG 36

Bảng 4.13 Chiều cao chồi cây cà phê (cm) ở thời điểm 30 và tốc độ tăng trưởng chiều cao chồi trong giai đoạn 30 - 45 NSG (cm/chồi/15 ngày), 30 - 60 NSG (cm/chồi/30 ngày) 38

Bảng 4.14 Số cặp lá trên chồi cà phê (cặp lá) ở thời điểm 30, 45 và 60 NSG 40

Bảng 4.15 Tỷ lệ phân cành cơ bản (%) của chồi cây cà phê vối ở thời điểm 30, 45 và 60 NSG 42

Trang 11

Bảng 4.16 Số cặp cành cơ bản của cây cà phê vối (cặp cành) ở thời điểm 30, 45

và 60 NSG 44 Bảng 4.17 Chiều dài cành (cm) cơ bản cây cà phê vối ở thời điểm 30, 45 và

60 NSG 45 Bảng 4.18 Chiều dài lóng (cm) của cây cà phê ghép Robusta tại thời điểm

60 NSG 46 Bảng 4.19 Tỷ lệ xuất vườn (%) của cây cà phê 60 gày sau ghép 47 Bảng 4.20 Tương quan giữa tỷ lệ xuất vườn với tỷ lệ sống, số cặp lá trên chồi,

tỷ lệ phân cành, số cặp cành và chiều dài cành 48 Bảng 4.21 Số cây ghép xuất vườn và tiền lãi trong thí nghiệm đợt 2 (04/2010) 50 Bảng 4.22 Tỷ lệ sống của giống cà phê (%) do ảnh hưởng bởi cách ghép và

thời gian 51 Bảng 4.23 Tỷ lệ xuất vườn của giống cà phê (%) do ảnh hưởng bởi cách ghép và

thời gian 53

Trang 12

DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH

Biểu đồ 4.1 Tương quan ba chiều của tỷ lệ sống, tỷ lệ phân cành và tỷ lệ

xuất vườn tại thời điểm 60 NSG, đợt 1 (03/2010) 33

Biểu đồ 4.2 Tương quan ba chiều của tỷ lệ sống, tỷ lệ phân cành và tỷ lệ xuất vườn tại thời điểm 60 NSG, đợt 2 (04/2010) 49

Biểu đồ 4.3 Tỷ lệ sống cây cà phê vối 60 NSG tháng 03 và 04/2010 52

Biểu đồ 4.4 Tỷ lệ xuất vườn cây cà phê vối 60NSG tháng 03 và 04/2010 54

Hình Trang Hình 1.1 Dao ghép chuyên dụng 59

Hình 1.2 Chồi của ba giống cà phê vối cao sản xử lý theo cách ghép chụp bao 59

Hình 1.3 Chồi của ba giống cà phê vối cao sản xử lý theo cách ghép quấn ngọn 60

Hình 1.4 Cây cà phê mít dùng làm gốc ghép 60

Hình 1.5 Vườn ươm Trung Tâm NC TN Thủy Lợi Nông Lâm Nghiệp Gia Lai 61

Hình 1.6 Toàn cảnh khu bố trí thí nghiệm 61

Hình 1.7 Cây ghép cách chụp bao (a) và cách quấn ngọn (b) 15 NSG 62

Hình 1.8 Cây ghép cách chụp bao (a) và cách quấn ngọn (b) 30 NSG 62

Hình 1.9 Cây ghép cách chụp bao (a) và cách quấn ngọn (b) 45 NSG 63

Hình 1.10 Cây ghép cách chụp bao (a) và cách quấn ngọn (b) 60 NSG 63

Trang 13

Cà phê là cây công nghiệp lâu năm Do đó, để đảm bảo cho việc sản xuất và kinh doanh thật sự mang lại hiệu quả kinh tế cao, ngoài khâu chọn giống thì kỹ thuật nhân giống thích hợp cũng có tính quyết định

Những năm trước đây ở Việt Nam, cà phê được nhân giống chủ yếu là bằng hạt (nhân giống hữu tính) vì kỹ thuật đơn giản, nông dân có thể tự chọn lọc và sản xuất cây giống nên giá thành thấp Tuy nhiên, cà phê vối có tính tự bất hợp, cá thể luôn mang tính dị hợp tử cao nên nhân giống bằng hạt gây sự đa tạp về kiểu gen cũng như kiểu hình Việc sử dụng hạt lai đa dòng, đã tạo ra bước đột phá trong cây thực sinh, nhưng vẫn không khắc phục được hoàn toàn những nhược điểm này

Hiện nay, có nhiều phương pháp nhân giống vô tính cà phê được sử dụng trong sản xuất và nghiên cứu như: giâm cành, nuôi cấy mô, ghép nối ngọn

Nhân giống bằng phương pháp giâm cành dễ làm, trang thiết bị đơn giản, giá thành tương đối hợp lý Tuy nhiên, phương pháp này hiệu quả thấp vì cây giâm cành không có rễ cọc, nên chống chịu kém với điều kiện mùa khô khắc nhiệt kéo dài ở Tây Nguyên Do vậy, cây giâm cành không được khuyến cáo trồng ở Tây Nguyên

Nhân giống vô tính bằng phương pháp tạo phôi Sôma qua nuôi cấy mô chưa được áp dụng đại trà trong sản xuất vì đòi hỏi chi phí đầu tư và trình độ chuyên môn cao

Trang 14

Nhân giống vô tính bằng phương pháp ghép nối ngọn với các ưu điểm như: kỹ thuật đơn giản, hệ số nhân giống cao, cây con giữ được đặc tính tốt của bố mẹ, gốc ghép có bộ rễ phát triển mạnh, cây sinh trưởng tốt Trong thực tế sản xuất, phương pháp này đang được áp dụng phổ biến và rất có hiệu quả trên cây cà phê vối, được xem như là phương pháp chủ đạo trong nhân giống vô tính

Tuy vậy, nhân giống cà phê vối bằng phương pháp ghép nối ngọn còn một hạn chế quan trọng đó là giá thành cây giống hơi cao so với khả năng mua của một số bộ phận nông dân, đặc biệt là những nông dân nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số Đó cũng là một trở ngại trong việc khuyến khích người trồng cà phê sử dụng cây ghép, ảnh hưởng đến tốc độ ứng dụng thành tựu và tiến bộ về giống cà phê vối ghép trong sản xuất

Những giống mới liên tục được chọn tạo ra, thì kỹ thuật ghép vườn ươm cũng phải thường xuyên được kiểm tra, cập nhật cho phù hợp để đáp ứng nhu cầu thực tế sản xuất hiện nay

Từ thực tế này, chúng tôi tiến hành đề tài “Ảnh hưởng cách ghép quấn ngọn

và cách ghép chụp bao nilon đến khả năng sinh trưởng ba giống cà phê cao sản Robusta trong vườn ươm” nhằm chọn ra phương pháp ghép phù hợp với mỗi giống

ứng với mỗi thời vụ để cây có tỷ lệ xuất vườn cao nhất và giá thành hạ

1.2 Mục đích, yêu cầu và giới hạn của đề tài

Trang 15

- Ghép chồi cà phê vối trên gốc cà phê mít trong vườn ươm

- Chỉ theo dõi từ giai đoạn ghép cho đến khi xuất vườn

- Địa điểm: Vườn ươm Trung tâm nghiên cứu Thực nghiệm Thủy lợi Nông lâm nghiệp Gia Lai (Địa chỉ: 322, Trường Chinh - Phường Trà Bá - Tp Pleiku - Gia Lai)

Trang 16

Chương 2

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Phân loại và nguồn gốc của cây cà phê vối

Cà phê Robusta tên khoa học là Coffea canephora var Robusta, thuộc chi

Coffea, nhóm Eucoffea, họ Rubiaceae, bộ Rubiales Số lượng nhiễm sắc thể chi Coffea

là x = 11 và C canephora là loài nhị bội 2n = 22 (Trịnh Đức Minh, 1998)

Nguồn gốc của các loài cà phê vối là ở Trung Phi, phân bố rải rác dưới các tán rừng thưa và thấp thuộc vùng châu thổ sông Congo trong khoảng 10o vĩ độ Bắc và 10o

vĩ độ Nam (Hoàng Thanh Tiệm, 1998)

Cà phê được người Pháp đưa vào Việt Nam trồng thử năm 1857 ở Quảng Trạch (Quảng Bình) và tỉnh Quảng Trị Đến năm 1888, cà phê được trồng thành các đồn điền

ở Nghệ An, Quảng Bình, Đăk Lăk với diện tích đến vài trăm ha và hiện nay đã trở thành cây sản xuất hàng hóa chủ lực ở Tây Nguyên (Lê Quang Hưng, 1999)

2.2 Đặc điểm thực vật học cà phê vối

Cà phê vối là loại cây nửa gỗ, cao từ 8 - 12 m, cây phát triển đa thân, khả năng phát sinh chồi vượt mạnh, do đó cây sẽ tạo thành nhiều thân nhỏ trên cùng một gốc Cành mang trái mọc đối xứng từ đốt thân, khả năng phát sinh cành thứ cấp ít hơn so với cà phê chè (Hoàng Thanh Tiệm, 1998)

Lá cà phê vối rất to, dài 20 - 25 cm, rộng 8 - 15 cm, có hình bầu dục hoặc mũi mác có màu xanh sáng hoặc đậm, đuôi lá nhọn Lá có 8 - 14 đôi gân lá và gợn sóng rất nhiều ở bìa phiến lá

Hoa cà phê vối mọc thành chùm ở nách lá có từ 1 xim đến 3 xim và mang 15 -

100 hoa mỗi đốt, cánh hoa màu trắng và mỗi hoa có từ 5 - 7 cánh hoa Hoa cà phê vối

là loại lưỡng tính giao phấn hoàn toàn Quả có hình tròn, núm nhỏ, cuống trái ngắn, bám sát vào đốt của cành Lớp vỏ ngoài của trái màu xanh lục, khi chín chuyển sang màu đỏ và đỏ nâu (Lê Quang Hưng, 1999)

Trang 17

Hạt có dạng hình bầu tròn, ngắn và nhỏ hơn so với cà phê chè, có màu xám xanh đục hoặc ngà vàng tuỳ thuộc vào phương pháp chế biến và điều kiện bảo quản

Thời gian ra hoa tới khi chín từ 9 - 10 tháng Trọng lượng trung bình 100 hạt ở

ẩm độ 12 % từ 13 - 16 g Hàm lượng caffein trong hạt 2,5 - 3 % Tỷ lệ quả tươi so với nhân dao động từ 4 - 6 (Hoàng Thanh Tiệm, 1998)

Cà phê vối là loại cây tự bất hợp, tức là không có khả năng tự thụ phấn Do vậy, trong điều kiện cây mọc hoang dại cũng như các vườn được trồng bằng hạt sẽ bị phân

ly các đặc điểm di truyền, bộc lộ nhiều tính trạng xấu như năng suất thấp, nhiễm bệnh

gỉ sắt, hạt nhỏ

2.3 Điều kiện sinh thái của cà phê vối

Cà phê là cây công nghiệp nhiệt đới, lâu năm đòi hỏi những điều kiện sinh thái tương đối khắt khe do vậy cần phải nắm vững để có biện pháp tác động phù hợp cũng như phân vùng quy hoạch thích hợp để mang lại hiệu quả kinh tế cao Hai yếu tố sinh thái đóng vai trò mang tính quyết định đó là khí hậu và đất đai

2.3.1 Yêu cầu về khí hậu

Nhiệt độ thích hợp cà phê vối từ 24 - 30 oC, thích hợp nhất là từ 24 - 26 oC Ở nhiệt độ dưới 7 oC cây ngừng sinh trưởng và xuống dưới 5 oC cây bị hư hại nghiêm trọng Sự chênh lệch về nhiệt độ giữa các tháng cũng như biên độ nhiệt ngày đêm có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng và hương vị hạt cà phê

Cây cà phê vối thích khí hậu nóng ẩm nên cần lượng mưa trong năm khá cao từ 1.500 - 2.000 mm và phân bố đều Ẩm độ thích hợp trên 80 %

So với cà phê chè thì cà phê vối ưa thích với môi trường ánh sáng dồi dào hơn

và chịu được ánh sáng trực xạ Cường độ ánh sáng thích hợp 41.000 lux

Cây cà phê xuất xứ từ vùng nhiệt đới nên ưa khí hậu nóng ẩm và tương đối lặng gió Với cây cà phê vối là cây giao phấn, nên gió giúp cho qua trình thụ phấn

Độ cao thích hợp cho trồng cà phê vối là những vùng có độ cao dưới dưới 800

m so với mực nước biển (Hoàng Thanh Tiệm, 1998)

2.3.2 Yêu cầu về đất đai

Cà phê là loại cây lâu năm nên có bộ rễ khoẻ, ăn phàm nên đòi hỏi đất tơi xốp,

cơ cấu cụm, nhiều mùn, thoát và giữ nước tốt tạo điều kiện cho bộ rễ phát triển tốt và

Trang 18

cho năng suất cao Đất đỏ bazan được coi là lý tưởng nhất để trồng cà phê (Lê Quang Hưng, 1999)

2.4 Những nghiên cứu và thành tựu về ghép cà phê trên thế giới và ở Việt Nam 2.4.1 Những nghiên cứu và thành tựu về ghép cà phê trên thế giới

Ngày nay kỹ thuật ghép trên cây cà phê đã được sử dụng rất phổ biến Để có những thành tựu như vậy các nhà nghiên cứu đã phải trải qua quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và chọn lọc, nhằm tìm ra phương pháp ghép phù hợp với sản xuất

Năm 1888 ở Giava, ghép chẻ hông cà phê chè lên cà phê dâu da (Liberica) được

thực hiện nhằm làm tăng tính kháng bệnh gỉ sắt của cây cà phê chè Tuy kỹ thuật ghép

đã có nhiều cải tiến, tỷ lệ sống cao nhưng vẫn không làm tăng tính kháng gỉ sắt Vì vậy, kỹ thuật này không được áp dụng rộng rãi trong sản xuất

Đầu thế kỷ 20 tại Indonesia, các nhà nghiên cứu người Hà Lan tiếp tục nghiên cứu một số phương pháp ghép chồi cà phê chè trên gốc ghép Liberica, tạo ra cây ghép

có khả năng kháng tuyến trùng Kết quả năng suất quần thể cao, quả chín tập trung, giảm chi phí thu hoạch, hạn chế mọt đục quả, cỡ quả và hạt ít biến thiên, chất lượng thương phẩm cao và đồng nhất Nhưng có nhược điểm là chồi và gốc ghép kém tương hợp hoặc không tương hợp

Năm 1917 ở Uganda, Maitland đã ghép chồi cà phê chè, cà phê dâu da, cà phê mít lên gốc cà phê vối nhưng cây ghép mọc không tốt, nên không được phổ biến đại trà

Năm 1930, Snowden thực hiện phương pháp ghép chẻ hông, sử dụng nguyên liệu chồi ghép là cà phê chè và cà phê vối, gốc ghép là cà phê vối, cà phê dâu da và cà phê mít, để trồng trong các vườn sản xuất hạt giống Nghiên cứu này cho thấy chồi cà phê vối phù hợp với tất cả gốc ghép, còn chồi cà phê chè chỉ thích hợp với gốc ghép cà phê dâu da Đến năm 1940, nghiên cứu của Thomas cho thấy có nhiều loài cà phê chè

và một số ít cà phê vối bị chết đột ngột, theo ông là do chồi và gốc ghép không tương hợp

Như vậy, việc ứng dụng kỹ thuật ghép, nhất là ghép khác loài cần phải có thời gian đánh giá kỹ các tổ hợp ghép Người ta thường ứng dụng ghép cùng loài để bảo quản nguồn gen của những vật liệu thu thập từ nhiều nguồn địa lý dưới dạng cây ghép trong tập đoàn, để ghép cải tạo cây giống xấu trên vườn trước đây trồng bằng hạt, để

Trang 19

phổ cập trồng các dòng vô tính cà phê vối ở những vùng có mùa khô kéo dài không phù hợp với cây nhân giống vô tính từ giâm cành (Đoàn Triệu Nhạn và cộng tác viên, 1999)

2.4.2 Những nghiên cứu và thành tựu về ghép cà phê ở Việt Nam

Năm 1994 - 1996, Viện KHKT Nông lâm nghiệp Tây Nguyên (trước đây là Viện nghiên cứu cà phê Eakmat) đã cải tiến thành công phương pháp ghép nối ngọn,

tỷ lệ sống trong vườn ươm đạt 95 %, nhờ sử dụng gốc ghép khá nhỏ tuổi và chồi ghép chỉ mang một cặp lá Nhờ đó đã giúp nhân nhanh các dòng vô tính chọn lọc, rút ngắn thời gian chọn tạo (Trịnh Đức Minh, 1998)

Từ năm 1992, Viện nghiên cứu cà phê Eakmat đã áp dụng phương pháp ghép non nối ngọn để cải tạo cây xấu trên vườn cà phê vối kinh doanh ở một số vườn tại Viện và một số hộ gia đình lân cận Bước đầu cho thấy cây cà phê ghép cải tạo có tốc

độ sinh trưởng nhanh gấp đôi so với cây trồng bằng hạt, mau cho quả, đặc biệt là năng suất cao, chất lượng hạt cải thiện và kháng được bệnh gỉ sắt Kết quả về tỷ lệ sống, các chỉ tiêu sinh trưởng và chỉ tiêu năng suất của cây ghép cải tạo ngoài đồng ruộng thu được rất thuyết phục Kỹ thuật này đã được Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn công nhận là tiến bộ khoa học công nghệ cho phổ biến trong sản xuất theo quyết định số 2767 NN - KHCN/QĐ, ngày 29/10/1997

Năm 2001, Bộ Nông Nghiệp và PTNT đã ban hành tiêu chuẩn TCN 479 - 2001

“Quy trình nhân giống cà phê vối bằng phương pháp ghép” Quy trình này giúp chuyển nhanh các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nhằm khẳng định chất lượng

cà phê Việt Nam trên thị trường thế giới

Hiện nay, tiến bộ này đã được khuyến cáo với các mục đích sản xuất cây giống trong vườn ươm phục vụ trồng mới, trồng dặm và ghép cải tạo cây xấu ngoài đồng ruộng

2.5 Nhân giống vô tính cà phê vối

Do đặc điểm cà phê vối là thụ phấn chéo nên nhân giống bằng hạt dù có chọn lọc tốt thì vẫn luôn có ít nhất 5 - 10 % số cây trong vườn không đạt yêu cầu về năng suất, chất lượng hạt và có một số cây bị bệnh gỉ sắt nặng Ngoài nhân giống bằng hạt thì biện pháp nhân giống vô tính là bắt buộc trong quá trình chọn tạo giống Trong sản

Trang 20

suất nó được coi trọng để tạo các vườn đa dòng tương đối đồng đều, sớm cho năng suất cao do có những ưu điểm sau:

- Cây con giữ được những đặc điểm tốt của cây mẹ (năng suất cao, phẩm chất tốt, kháng sâu bệnh hại,…), có độ đồng đều cao

- Cây sớm ra hoa kết quả Chín tập trung vào thời vụ thuận lợi

- Sinh trưởng tốt, có dạng thân tán gọn đẹp

- Thời gian nhân giống nhanh, có thể đáp ứng được một số lượng lớn cây giống tốt trong thời gian ngắn cho sản suất

Có nhiều hình thức nhân giống vô tính (giâm cành, ghép, nuôi cấy mô,…) nhưng trong điều kiện Tây Nguyên hiện nay, thì tạo cây giống vô tính của các dòng chọn lọc bằng phương pháp ghép là dễ thực hiện và hiệu quả nhất

2.5.1 Giâm cành

Kỹ thuật giâm cành cà phê vối được áp dụng đầu tiên ở Bờ Biển Ngà năm

1935, sau đó ở Uganda (1940), sử dụng giâm cành lớn Sau năm 1940, người Pháp áp dụng giâm cành tại Madagascar và Tây Phi Năm 1960, giâm cành trở thành hình thức nhân giống vô tính chính ở hầu hết các nước trồng cà phê vối châu Phi Giâm cành có khả năng ứng dụng rộng rãi song song với các chương trình phổ cập các bộ dòng vô tính chọn lọc vì có thể sản xuất hàng loạt theo lối công nghiệp Tuy nhiên, biện pháp này chỉ được áp dụng phổ biến tại châu Phi trồng cà phê vối chu kỳ ngắn, còn ở các nước trồng cà phê vối chu kỳ dài tại châu Á ít coi trọng phương thức nhân giống này Trong điều kiện Tây Nguyên Việt Nam, với mùa khô khắc nghiệt kéo dài, thì cây giâm cành không có rễ cọc, bộ rễ tơ có xu hướng phát triển nhiều trên tầng mặt nên khả năng chống chịu kém Do đó, cây giâm cành chỉ được khuyến cáo trồng trong những

điều kiện thâm canh cao có dồi dào nước tưới (Trịnh Đức Minh, 1998)

2.5.2 Nuôi cấy mô

Hiện nay, trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu và thành công trong lĩnh vực nuôi cấy mô cà phê, Starisky (1970) là người đầu tiên báo cáo về nuôi cấy mô

cà phê, ông đã gây tạo được phôi Sôma và cây con từ chồi đứng của C canephora

Tuy nhiên, ở Việt Nam đối với cây cà phê việc nhân giống vô tính bằng phương pháp này còn nhiều hạn chế Từ năm 1993 đã có nhiều công trình nghiên cứu, Trung tâm khoa học tự nhiên và công nghệ quốc gia tại TP HCM đã phát triển qui trình tạo và

Trang 21

nhân phôi vô tính từ mô lá cà phê Arabusta nhưng lượng cây tái sinh trực tiếp từ phôi

là không cao và chưa được đáp ứng rộng rãi trong sản xuất Năm 1995, Viện nghiên cứu cà phê Việt Nam cũng ứng dụng tạo phôi vô tính từ mô lá cho một số dòng vô tính chọn lọc cà phê vối (Trịnh Đức Minh, Đặng Bá Đàn, 1998) Hiện nay, Viện KHKT Nông lâm nghiệp Tây Nguyên đang tập trung vào nghiên cứu sản xuất giống cà phê theo hướng hiện đại này Theo Trịnh Đức Minh (1998), nhân invitro rất đa dạng và có nhiều ứng dụng nhưng chủ yếu nhằm hỗ trợ chọn tạo giống Để phục vụ trực tiếp cho sản xuất, các phương pháp nhân giống truyền thống về lâu dài vẫn đóng vai trò chính

2.5.3 Nhân giống vô tính bằng phương pháp ghép

2.5.3.1 Cơ sở khoa học của nhân giống vô tính bằng phương pháp ghép

Sự thành công khi ghép cây được quyết định bởi sự hoạt động của tầng sinh mạch thứ cấp ở chồi ghép và gốc ghép Tầng sinh mạch thứ cấp (tượng tầng hay là tầng phát sinh) là mô phân sinh sơ cấp sinh ra mạch dẫn bằng cách phân chia nguyên nhiễm để cho ra những tế bào mới thực hiện chức năng sinh trưởng của cây Ở các loài cây thân gỗ, tầng sinh mạch thứ cấp nằm ở phần giữa libe sơ cấp và gỗ sơ cấp của thân Tầng này có chức năng sinh ra libe sơ cấp phía ngoài và gỗ sơ cấp phía trong làm tăng đường kính thân cây đồng thời hoàn thiện hệ thống mạch dẫn ở thân cây

Khi ghép, tầng sinh gỗ trên mặt cắt của chồi ghép tiếp hợp chặt với tầng sinh gỗ trên mặt cắt của gốc ghép, hoạt động phân chia của tầng sinh gỗ tại vị trí ghép của cành ghép và gốc ghép giúp vết ghép mau liền

Quá trình lành vết ghép diễn ra như sau:

- Tại vị trí ghép ở hai mặt của vết cắt hình thành một lớp màng mỏng

- Sau đó, tầng sinh gỗ của chồi ghép và gốc ghép sinh trưởng nhanh, tiếp tục phân hoá phía trong là lõi gỗ tạo mạch gỗ vận chuyển nước và muối khoáng, phía ngoài là libe vận chuyển chất hữu cơ

- Kết quả là lớp màng mỏng của chồi ghép và gốc ghép bị phá vỡ Khi đó, các

tổ chức mô tế bào của chúng hoà nhập với nhau tạo hệ thống mạch dẫn hoàn chỉnh (mạch gỗ và libe)

- Chồi ghép và gốc ghép trở thành một thể thống nhất Nhờ vậy mà chồi ghép được cung đầy đủ chất dinh dưỡng, thúc đẩy quá trình sinh trưởng của nó; đồng thời

Trang 22

nhựa luyện cũng được vận chuyển xuống phía dưới để nuôi dưỡng và phát triển bộ rễ Một cây hoàn chỉnh được hình thành

Khả năng hoà nhập của chồi ghép và gốc ghép có ảnh hưởng rất lớn tới kết quả ghép thông qua quá trình lành vết ghép Khi chồi ghép và gốc ghép không hoà nhập thì

hệ thống mạch dẫn không được hình thành, nước và muối khoáng không vận chuyển lên chồi ghép và làm cho chồi ghép bị khô, chết

2.5.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự thành công sau khi ghép trong vườn ươm

- Tính không tương hợp giữa chồi ghép và gốc ghép: do yếu tố di truyền quyết định Đối với cà phê vối tỷ lệ này khoảng 2 %

- Tình trạng sinh lý của cây: chồi ghép lấy ở nơi thiếu ánh sáng, mới bón đạm, chồi nhiều nước, non thì ghép tỷ lệ thành công thấp

- Điều kiện nhiệt độ: nhiệt độ thích hợp cho ghép khoảng 22 - 28 oC Nhiệt độ cao sẽ làm cho quá trình bốc thoát hơi nước nhanh ở chồi ghép trong điều kiện vết ghép chưa tiếp hợp hoàn toàn, dẫn đến chồi ghép sẽ bị héo và chết

- Ẩm độ không khí: ảnh hưởng đến quá trình tiếp hợp, thích hợp là 80 - 85 %

- Kỹ năng của người ghép: trình độ tay nghề của người ghép quyết định đến tỷ

lệ sống Kỹ năng này bao gồm quá trình tạo vết vát, vết chẻ, do buộc dây quá chặt hoặc quá lỏng, hoặc đường kính giữa chồi ghép và gốc ghép không bằng nhau mà người ghép đặt chồi ghép giữa vết chẻ dọc gốc ghép nên không tiếp xúc tượng tầng giữa gốc ghép và chồi ghép

Trang 23

2.6 Thực tế sản xuất cây giống cà phê vối bằng phương pháp ghép nối ngọn ở Gia Lai hiện nay

Trung tâm NC TN Thủy lợi Nông lâm nghiệp Gia Lai đang sản xuất cây giống

cà phê vối bằng phương pháp nối ngọn, trong vườn ươm che lưới, với hai kiểu ghép: ghép quấn hở chồi, sử dụng túi chụp PE và ghép quấn kín chồi

Hàng năm, Trung tâm đã cung cấp hơn nửa triệu cây giống cho sản xuất Gốc ghép là cây cà phê mít hoặc cà phê vối thực sinh, được sản xuất theo quy trình rất nghiêm ngặt Chồi ghép là các giống cà phê cao sản TR4, TR5, TR6, TR7, TR8, TR9,… lấy từ vườn nhân chồi của Trung tâm NC TN Thủy lợi Nông lâm nghiệp Gia Lai

Nhu cầu sử dụng cây cà phê vối ghép ngày càng nhiều Tuy nhiên, sản xuất cây

cà phê vối ghép bằng phương pháp hiện hành (ghép nối ngọn, cách ghép hở chồi và sử dụng túi chụp PE trong vườn che lưới) đã có quy trình công nghệ khá hoàn chỉnh, song tiêu hao nhiều vật tư và công lao động (lưới che bổ sung khi ghép, túi chụp, nhân công che và tháo túi chụp,…) nên chịu áp lực rất lớn của biến động giá cả Việc thường xuyên cải tiến kỹ thuật ghép nhằm hạ giá thành và bình ổn giá cây giống Các nhà trồng cà phê ngày càng quan tâm đến việc sử dụng cây giống cà phê ghép Vì vậy, cải tiến phương pháp ghép, giảm giá thành có ý nghĩa rất quan trọng trong sản xuất

Bên cạnh cách ghép chụp bao nilon, cách ghép quấn kín ngọn bước đầu được triển khai tại Trung tâm NC TN Thủy lợi Nông lâm nghiệp Gia Lai, đã thu được kết quả rất khả quan Những nghiên cứu chính quy đã và đang được tiến hành để rút ra kết luận khoa học, làm cơ sở khuyến cáo cho sản xuất

Năm 2009, Phan Thị Vân và Phan Thị Ngọc Hà đã tiến hành so sánh hiệu quả của hai phương pháp ghép trong vườn ươm vào vụ mùa mưa và vụ mùa khô Tuy nhiên, những nghiên cứu này chỉ mới được thực hiện trên bốn giống TR4, TR5, TR7

và TR8 Một số giống mới vừa được chọn tạo, đang dần được phổ biến trong sản xuất vẫn chưa được khảo nghiệm, cần phải sớm được nghiên cứu để khuyến cáo cho sản xuất và làm cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo

Do đó, việc tiến hành đề tài “Ảnh hưởng cách ghép quấn ngọn và cách ghép chụp bao nilon đến khả năng sinh trưởng ba giống cà phê cao sản Robusta trong vườm ươm” là cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao

Trang 24

Chương 3

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời gian và địa điểm

Đề tài được thực hiện từ tháng 03/2010 đến tháng 05/2010, gồm hai thí nghiệm được tiến hành giống nhau và lặp lại sau 20 ngày:

+ Thí nghiệm đợt 1: từ ngày 10/03/2010 đến ngày 10/05/2010

+ Thí nghiệm đợt 2: từ ngày 30/03/2010 đến ngày 30/05/2010

Các thí nghiệm được bố trí tại vườn ươm chính của Trung tâm NC TN Thủy lợi

Nông lâm nghiệp Gia Lai (Địa chỉ: 322, Trường Chinh - Phường Trà Bá - Tp Pleiku -

Gia Lai)

3.2 Điều kiện thời tiết trong thời gian thực hiện thí nghiệm

Bảng 3.1 Điều kiện khí hậu thời tiết Tp Pleiku

Tháng

Nhiệt độ không khí (oC) Độ ẩm

không khí (%)

Tổng lượng mưa (mm)

Số ngày mưa (ngày)

Tổng giờ nắng (giờ)

Trung

bình

Tối cao

Tối thấp

(Nguồn: Trung tâm dự báo Khí Tượng Thủy Văn tỉnh Gia Lai, 2010)

Qua số liệu ở bảng 3.1 cho thấy điều kiện khí hậu, thời tiết trong thời gian thực hiện hai thí nghiệm:

* Thí nghiệm tháng 03 (10/03 - 10/05/2010): có độ ẩm không khí thấp (71 % -

80 %), lượng mưa thấp (52,7 mm - 122,4 mm)

* Thí nghiệm tháng 04 (30/03 - 30/05/2010 ) độ ẩm không khí đã tăng (73 % -

80 %), lượng mưa cũng tăng lên (55,4 - 122,4 mm)

Trang 25

3.3 Vật liệu thí nghiệm

3.3.1 Gốc ghép

Là gốc cà phê mít thực sinh, được sản xuất theo quy trình của Viện KHKT Nông lâm nghiệp Tây Nguyên

Gốc ghép phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau:

- Cây sinh trưởng bình thường, thân thẳng, không bị dị dạng, bộ rễ khỏe, không nhiễm sâu bệnh

- Cây đạt 4 - 5 cặp lá (5 - 6 tháng tuổi), đường kính gốc 3 - 4 mm, lóng ghép dài

Tiêu chuẩn chồi (theo tiêu chuẩn của Viện KHKT Nông lâm nghiệp Tây Nguyên, đang được áp dụng rộng rãi trong sản xuất hiện nay):

- Chồi dài 4 - 5 cm, có mang một cặp lá bánh tẻ và một cặp lá ở đỉnh sinh trưởng chưa xòe

- Thu hoạch chồi trước 10 giờ sáng và bảo quản ngay

- Chồi đã cách ly phân bón ít nhất 20 ngày

3.3.3 Vật tư, công cụ và thiết bị hỗ trợ thí nghiệm

Vườn ươm, lưới che, thiết bị tưới, dụng cụ vườn ươm, thước đo, máy ảnh Dao ghép: dùng dao ghép chuyên dụng hoặc dao rọc giấy

Bao chụp: dùng túi nilon mềm, kích thước 12 x 22 cm

Dây buộc vết ghép: dùng dây nilon mỏng, dẻo dài 25 - 30 cm, rộng 1 - 1,5 cm

và dây tự hoại dài 20 - 25 cm, rộng 4 - 5 cm

Trang 26

Đặc điểm của ba giống cà phê TR4, TR5 và TR9

Bảng 3.2 Đặc điểm các giống cà phê thí nghiệm

Năng suất

Sinh trưởng Khỏe, cây cao trung bình Khỏe, cây cao trung bình Khoẻ, cây cao

Lá Trung bình, dạng mũi mác Trung bình, dạng mũi mác Trung bình, dạng mũi mác

Màu sắc lá

Lá non: xanh tươi

Lá thuần thục: xanh vàng

Lá non: xanh tươi

cành ngang hơi rũ

Phân cành trung bình, cành rũ

Phân cành nhiều, cành ngang

Trọng lượng

Hàm lượng cafein 1,68 g/100 g chất khô 1,68 g/100 g chất khô

(Theo Bộ môn cây công nghiệp - Viện KHKT Nông lâm nghiệp Tây Nguyên)

3.4 Nội dung thí nghiệm

Thu thập và theo dõi số liệu qua từng giai đoạn sinh trưởng của cây ghép

Thực hiện hai cách ghép quấn ngọn và chụp bao nilon trên ba giống cà phê cao

sản Robusta phổ biến trong sản xuất cây ghép hiện nay

3.5 Phương pháp thí nghiệm

3.5.1 Bố trí thí nghiệm

Thí nghiệm gồm hai yếu tố được bố trí theo kiểu lô phụ (Split - Plot Design),

các nghiệm thức trên mỗi lô được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với ba lần lặp lại

- Yếu tố A: lô chính với hai cách ghép

CG1: Quấn ngọn CG2: Chụp bao nilon

Trang 27

- Yếu tố B: lô phụ với ba giống cà phê cao sản

Thí nghiệm có tất cả 18 ô thí nghiệm

Mỗi ô có 50 cây, một ô được xếp thành 5 hàng, một hàng 10 cây

Khoảng cách giữa các ô thí nghiệm là 20 cm

Khoảng cách giữa các lần lặp lại là 50 cm

Diện tích khu thí nghiệm là 100 m2

Số cây bố trí thí nghiệm: 2 kiểu ghép x 3 giống x 50 cây x 3 lần lặp lại = 900 cây

Vệ sinh gốc, cắt ngang vị trí ghép, vết cắt trên nách lá 3 - 4 cm

Chẻ dọc giữa thân khoảng 2 - 2,5 cm

Trang 28

Dùng bao nilon chụp chồi, giữ ẩm (túi nilon phải có độ phồng không đụng chồi, buộc kín), xếp vào luống có lưới che

Khi cây ghép đã sống, bắt đầu sinh trưởng thì tháo túi chụp

3.6.2 Cách ghép quấn ngọn

Cách ghép này tương tự như cách ghép chụp bao nilon, nhưng có một số điểm khác cần lưu ý sau:

- Vệ sinh chồi: cắt hoàn toàn lá, cả cuống lá, chỉ chừa lại đỉnh sinh trưởng

- Quấn lợp mái kín từ dưới lên trên, không thắt nút cổ áo mà quấn choàng dưới đỉnh sinh trưởng, xoăn dây quấn lơi xuống, chằng xiết vết ghép và buộc nút lại

- Không yêu cầu độ che sáng cao, độ thông sáng khoảng 60 %

- Cây tự bung lá ngọn, phát cành ngang

3.6.3 Chăm sóc sau khi ghép

Để cây mới ghép dưới vườn ươm có lưới che ánh sáng, tưới phun sương đủ ẩm Đối với cách ghép chụp bao, sau ghép 20 - 25 ngày tùy điều kiện thời tiết và tình hình

sẽ tháo chụp cho cây ghép Sau khi tháo chụp cây thường biểu hiện rối loạn dinh dưỡng hoặc bệnh mắt cua, do vậy cần phải phun Nucafe 0,2 - 0,3 %, 2 - 3 lần cách nhau 15 - 20 ngày Thường xuyên vặt bỏ chồi vượt mọc từ phần thân gốc ghép Huấn luyện cây ghép 7 - 10 ngày trước khi trồng Thường sau ghép khoảng 60 ngày là có thể đem trồng

3.6.4 Tiêu chuẩn xuất vườn

Chồi ghép ít nhất phải ra thêm một cặp lá thuần thục

Chiều cao cây tính từ mặt bầu đến đỉnh sinh trưởng của chồi ghép 20 - 30 cm Đường kính đo trên vết ghép 1 cm đạt 3 - 5 mm trở lên

Cây không có ngoại hình lạ, không sâu bệnh không có biểu hiện thiếu hay rối loạn dinh dưỡng

Vết ghép tiếp hợp tốt

Không nhiễm sâu bệnh hại và bị dị dạng

Đã huấn luyện dưới ánh nắng hoàn toàn ít nhất một tuần trước khi đem trồng Bầu đất phải còn nguyên trong túi nhựa, bầu đúng qui cách

Trang 29

3.7 Chỉ tiêu theo dõi

Tỷ lệ sống (%): đếm sau khi ghép 15, 30, 45, 60 ngày, đếm toàn bộ số cây sống trên từng ô thí nghiệm và sau đó tính theo công thức:

Tỷ lệ sống (%) = (Số cây sống : Số cây của ô thí nghiệm) x 100

Chiều cao chồi (cm): dùng thước đo từ vị trí vết ghép tới đỉnh sinh trưởng, thực hiện vào các thời điểm 30, 45, 60 ngày sau khi ghép (NSG)

Số đôi lá của chồi ghép: đếm vào các thời điểm 30, 45, 60 NSG

Số cặp cành cơ bản: toàn bộ số cặp cành trên cây thân chính 30, 45, 60 NSG

Đo chiều dài cành cơ bản (cm) vào các thời điểm 30, 45, 60 NSG

Tỷ lệ phân cành (%): đếm số cây phân cành vào các các thời 30, 45, 60 NSG rồi tính theo công thức:

Tỷ lệ phân cành (%) = (Số cây phân cành : Số cây của ô thí nghiệm) x 100

Chiều dài lóng (cm): đếm tổng số lóng trên chồi ghép ở thời điểm 60 NSG, sau

đó tính theo công thức:

Chiều dài lóng (cm) = Chiều cao chồi ghép : Số lóng của chồi ghép

Tỷ lệ xuất vườn (%): đếm số cây ghép đủ tiêu chuẩn xuất vườn trên từng ô thí nghiệm, tại thời điểm 60 NSG, rồi tính theo công thức:

Tỷ lệ xuất vườn (%) = (Số cây đủ tiêu chuẩn : Số cây của ô thí nghiệm) x 100

Hiệu quả kinh tế của hai cách ghép

3.8 Phương pháp xử lý số liệu

Kết quả thí nghiệm được xử lý thống kê bằng phần mềm Excel và sử dụng phần mềm SAS để tính ANOVA, trắc nghiệm phân hạng

Trang 30

Chương 4

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Thí nghiệm đợt 1 (03/2010): Ảnh hưởng của cách ghép và các giống cà phê cao sản Robusta

4.1.1 Ảnh hưởng của cách ghép và các giống cà phê cao sản Robusta đến tỷ lệ sống sau ghép, đợt 1 (03/2010)

Bảng4.1 Tỷ lệ sống cây cà phê (%) vào thời điểm 15, 30, 45, 60 NSG

NSG Giống

Cách ghép Trung

bình giống

Quấn ngọn

Chụp bao

100

100 97,3

99,7ns

100 98,0 Trung bình

94,0 99,3 93,3

96,0ns99,7 95,7Trung bình

92,7 98,7 92,0

95,0ns99,3 95,0 Cách ghép: p < 0,05

CV % = 3,46 Trung bình

92,7 98,7 92,0

94,7ns98,3 94,7 Trung bình

cách ghép 97,3ns 94,4

Ghi chú: các giá trị trung bình cùng ký tự thì sai biệt không có ý nghĩa về mặt thống kê

ns: không khác biệt về mặt thống kê, CV: hệ số biến động

Tỷ lệ sống của tổ hợp ghép là sự tương hợp giữa gốc ghép và chồi ghép, tỷ lệ sống ảnh hưởng bởi nhiều điều kiện tác động như kỹ thuật ghép, điều kiện khí hậu,

Trang 31

chất lượng chồi ghép, gốc ghép và thao tác ghép Tỷ lệ sống có ý nghĩa quyết định đến

tỷ lệ xuất vườn, tỷ lệ sống cao thì khả năng xuất vườn sau này càng cao, góp phần giảm giá thành cây ghép (Lương Thị Kim Oanh, 2008) Trong thí nghiệm này hai yếu

tố chủ đạo là giống và cách ghép Kết quả tỷ lệ sống cây cà phê vối thể hiện ở bảng 4.1

Sau ghép 15 ngày

Tại thời điểm 15 NSG tỷ lệ sống của ba giống cà phê sự khác biệt không có ý nghĩa về mặt thống kê, mặc dù theo quan trắc thì tỷ lệ sống có chênh lệch chút ít, giống TR5 cao nhất là 100 % và thấp nhất là giống TR9 (98,0 %) Điều này có nghĩa

là, trong cùng điều kiện sức sống, mức chịu ghép của các giống là như nhau Tỷ lệ sống ảnh hưởng bởi hai cách ghép cũng không có khác biệt về mặt thống kê nhưng cách ghép quấn ngọn có tỷ lệ sống (99,3 %) cao hơn cách ghép chụp bao (99,1 %) một

ít do ở thời điểm này chưa tháo chụp nên điều kiện môi trường gần như giống nhau Giữa yếu tố giống và yếu tố cách ghép sự tương tác cũng không có ý nghĩa về mặt thống kê

Sau ghép 30 ngày

Đến thời gian này tỷ lệ sống của ba giống vẫn không có sự khác biệt, tỷ lệ sống

ở thời điểm này cao nhất là giống TR5 (99,7 %) và tiếp theo là giống TR4, TR9 lần lượt 96,0 %, 95,7 % Tỷ lệ sống của cách ghép quấn ngọn và cách ghép chụp bao nilon không có sự khác biệt về mặt thống kê Nhưng thực tế tỷ lệ sống cách ghép quấn ngọn (98,7 %) cao hơn tỷ lệ sống cách có bao chụp (95,6 %) Tương tự, thời điểm 15 NSG

sự tương tác giữa yếu tố giống và cách ghép cũng không có ý nghĩa về mặt thống kê

Sau ghép 45 ngày

Qua số liệu bảng 4.1 thấy rằng tỷ lệ sống của ba giống cà phê không có sự khác biệt về mặt thống kê Tương tự thời điểm 15 và 30 NSG, tỷ lệ sống của giống TR5 vẫn cao nhất (99,3 %), còn hai giống TR4, TR9 có tỷ lệ sống bằng nhau (95,0 %) Tỷ lệ sống của cách ghép quấn ngọn và cách ghép có chụp bao có sự khác biệt về mặt thống

kê ở mức 0,05 (F = 6,48 với p = 0,0344), tỷ lệ sống cách quấn ngọn và chụp bao là 98,4 % và 94,4 % Tại thời điểm này đối với cách chụp bao nilon cây chết nhiều hơn,

do trong điều kiện có bao chụp cây ít chịu tác động của môi trường bên ngoài nên khi

Trang 32

tháo chụp chịu tác động của điều kiện môi trường mới hoàn toàn Sự tương tác giữa cách ghép và giống không có sự khác biệt ý nghĩa

Sau ghép 60 ngày

Tỷ lệ sống của ba giống cũng không có sự khác biệt về mặt thống kê, tỷ lệ sống giống TR5 đạt cao nhất (98,3 %) và giống TR4 và TR9 có tỷ lệ sống bằng nhau (94,7

%) Cách ghép quấn ngọn có tỷ lệ sống (97,3 %) cao hơn cách ghép chụp bao (94,4

%), nhưng theo thống kê thì hai giá trị ở hai cách ghép không có sự khác biệt thống kê

Ở thời điểm này cách ghép chụp bao đã thích nghi với điều kiện môi trường mới nên

tỷ lệ sống không khác biệt với cách ghép quấn ngọn Ảnh hưởng sự tương tác giữa hai yếu tố đến tỷ lệ sống không khác biệt về mặt thống kê

Tóm lại, bảng 4.1 cho thấy qua bốn thời điểm 15, 30, 45, 60 NSG tỷ lệ sống của

ba giống đều giảm dần Cách ghép quấn ngọn có tỷ lệ sống cao hơn cách ghép chụp bao Tỷ lệ sống ba giống tuy không có sự khác biệt về mặt thống kê, nhưng thực tế tỷ

lệ sống của giống TR5 cao nhất ở cả bốn thời điểm; còn giống TR4 cao hơn giống TR9 ở 15 và 30 NSG; đến 45 và 60 NSG thì giống TR4, TR9 bằng nhau

4.1.2 Ảnh hưởng của cách ghép và các giống cà phê cao sản Robusta đến tăng trưởng chiều cao chồi sau ghép, đợt 1 (03/2010)

Chiều cao chồi là chỉ tiêu quan trọng đánh giá sự sinh trưởng của cây ghép trong trong vườn ươm Chiều cao chồi sẽ tăng dần theo từng giai đoạn tăng trưởng của cây Trong từng giai đoạn cụ thể, chiều cao chồi ở ba giống và ở hai cách ghép khác nhau thì tăng trưởng chiều cao chồi cũng khác nhau

Sau ghép 30 ngày

Số liệu xử lý thống kê bảng 4.2 ta thấy chiều cao chồi của ba giống cà phê có sự khác biệt rất có ý nghĩa thống kê ở mức 0,01 (F = 9,68 với p =0,0073), giống TR5 (10,47 cm) có chiều cao chồi cao nhất, tiếp đến là giống TR4 (9,89 cm) và giống TR9 (9,14 cm) Đối với cách ghép quấn ngọn và cách chụp bao thì chiều cao chồi khác biệt rất có ý nghĩa về mặt thống kê (F = 23,27 với p = 0,0013), chiều cao chồi của cách quấn ngọn (10,43 cm) cao hơn cách quấn ngọn (9,23 cm) Còn kết quả tương tác giữa yếu tố giống và cách ghép thì có khác biệt về mặt thống kê (F = 5,88 với p = 0,0269), khi trắc nghiệm phân hạng các giá trị trung bình phân thành ba nhóm ký tự a, b, c

Trang 33

Trong đó, tương tác giữa yếu tố giống và yếu tố cách ghép có chiều cao chồi cao nhất

là 11,62 cm của tương tác QNTR5 (giống TR5 và kiểu ghép quấn ngọn)

Bảng 4.2 Chiều cao chồi cây cà phê (cm) ở thời điểm 30 và tốc độ tăng trưởng chiều

cao chồi trong giai đoạn 30 - 45 NSG (cm/chồi/15 ngày), 30 - 60 NSG (cm/chồi/30 ngày)

NSG Giống

Cách ghép Trung

bình giống

Quấn ngọn

Chụp bao

30

TR4 TR5 TR9

10,42b

11,62a

9,25c

9,35c 9,32c 9,03c

9,89AB 10,47A 9,14B

Cách ghép: p <0,01 Giống: p < 0,01 Tương tác: p < 0,05

CV % = 5,35

Trung bình cách ghép 10,43A 9,23B

30 - 45

TR4 TR5 TR9

0,26ns0,06 0,35

0,26 0,28 0,34

0,26ns0,17 0,34 Trung bình

cách ghép 0,22

30 - 60

TR4 TR5 TR9

0,53ns0,14 0,76

0,60 0,47 0,71

0,56B 0,30B 0,73A

Giống: p < 0,05

CV % = 43,72 Trung bình

cách ghép 0,47

ns 0,59

Ghi chú: các giá trị trung bình cùng ký tự thì sai biệt không có ý nghĩa về mặt thống kê

ns: không khác biệt về mặt thống kê, CV: hệ số biến động

Giai đoạn 30 - 45 NSG

Theo số liệu bảng 4.2 cho thấy tốc độ tăng trưởng chiều cao chồi của ba giống ở giai đoạn 30 - 45 NSG khác biệt không có ý nghĩa thống kê Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng chiều cao chồi của giống TR9 nhanh nhất (0,34 cm /chồi/15 ngày), tiếp đến là giống TR4, TR5 lần lượt là 0,26 cm/chồi/15 ngày; 0,17 cm/chồi/15 ngày Mức độ khác

Trang 34

biệt giữa hai cách ghép không có ý nghĩa thống kê, nhưng tốc độ tăng trưởng chiều cao chồi của cách ghép chụp bao (0,30 cm/chồi/15 ngày) nhanh hơn cách ghép quấn ngọn (0,22 cm/chồi/15 ngày) Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê về tương tác giữa yếu

tố giống và yếu tố cách ghép đến tốc độ tăng tưởng chiều cao chồi

Giai đoạn 30 - 60 NSG

Sự khác biệt về tốc độ tăng trưởng chiều cao chồi của ba giống có ý nghĩa về mặt thống kê (F = 5,18 với p = 0,0361), tốc độ tăng trưởng chiều cao chồi của ba giống TR9, TR4 và TR5 lần lượt là 0,73 cm/chồi/30 ngày; 0,56 cm/chồi/30 ngày và 0,30 cm/chồi/30 ngày Kết quả xử lý cho thấy sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê đối với cách ghép quấn ngọn và cách ghép chụp bao, theo thực tế thí nghiệm thì cách ghép quấn ngọn có tốc độ tăng trưởng chiều cao chồi (0,47 cm/chồi/30 ngày) chậm hơn cách ghép chụp bao (0,59 cm/chồi/30 ngày) Kết quả tương tác yếu tố giống và yếu tố cách ghép đến tốc độ tăng trưởng chiều cao chồi không có ý nghĩa về mặt thống

Số cặp lá trên chồi của thí nghiệm được tổng hợp và trình bày ở bảng 4.3

Sau ghép 30 ngày

Sự hình thành số cặp lá trên chồi của giống TR5 (2,30 cặp lá) cao nhất, tiếp đến

là TR4 (1,55 cặp lá) và TR9 (1,17 cặp lá), sự chênh lệch này có khác biệt về mặt thống

kê (F = 14,10 với p = 0,0024) Ảnh hưởng của hai cách ghép đến số cặp lá trên chồi không có khác biệt, nhưng thực tế thí nghiệm thì kiểu ghép quấn ngọn (1,64 cặp lá) thấp hơn cách ghép chụp bao (1,70 cặp lá) Số cặp lá trên chồi ảnh hưởng bởi sự tương tác giữa hai yếu tố cũng không có khác biệt về mặt thống kê

Trang 35

Bảng 4.3 Số cặp lá trên chồi cà phê (cặp lá) ở thời điểm 30, 45 và 60 NSG

NSG Giống

Cách ghép Trung

bình giống

Quấn ngọn

Chụp bao

30

TR4 TR5 TR9

1,83ns2,07 1,20

1,27 2,53 1,13

1,55B 2,30A 1,17B Giống: p < 0,01

CV % = 22,49 Trung bình

cách ghép 1,64

45

TR4 TR5 TR9

2,00ns2,90 2,10

2,43 2,63 2,53

2,22B 2,77A 2,32B Giống: p < 0,05

CV % = 11,56 Trung bình

cách ghép 2,33

60

TR4 TR5 TR9

3,10ns3,10 2,93

3,10 3,13 2,93

3,10ns3,12 2,83 Trung bình

cách ghép 2,98

ns 3,06

Ghi chú: các giá trị trung bình cùng ký tự thì sai biệt không có ý nghĩa về mặt thống kê

ns: không khác biệt về mặt thống kê, CV: hệ số biến động

Sau ghép 45 ngày

Theo số liệu và kết quả phân hạng bảng 4.3 cho thấy sự hình thành số cặp lá trên chồi của ba giống vẫn có khác biệt ý nghĩa (F = 3,09 với p = 0,0210), giống TR5 (2,77 cặp lá) cao nhất khác biệt với TR9 (2,32 cặp lá) và TR4 (2,22 cặp lá) Ảnh hưởng của hai cách ghép đến số cặp lá trên chồi vẫn chưa có khác biệt, nhưng thực tế thì cách chụp bao (2,53 cặp lá) cao hơn so với cách ghép quấn ngọn (2,33 cặp lá) Ảnh hưởng của tương tác giữa yếu tố giống và yếu tố cách ghép đến số cặp lá trên chồi vẫn không có khác biệt về mặt thống kê

Trang 36

Sau ghép 60 ngày

Đến thời điểm này số cặp lá trên chồi của ba giống lại không khác biệt, nhưng thực tế cho thấy giống TR5 (3,12 cặp lá) cao nhất, hai giống TR4, TR9 có số liệu lần lượt 3,10 cặp lá; 2,83 cặp lá Số cặp lá trên chồi của cách ghép quấn ngọn (2,98 cặp lá) thấp hơn cách ghép chụp bao (3,06 cặp lá) nhưng về mặt thống kê vẫn không có khác biệt ý nghĩa Ảnh hưởng của tương tác giữa yếu tố cách ghép và yếu tố giống đến sự hình thành cặp lá trên chồi cũng vậy, vẫn không có khác biệt

Tóm lại, số cặp lá trên chồi của ba giống, cho thấy giống TR5 cao nhất cả ba thời điểm, khác biệt có ý nghĩa với hai giống TR4 và TR9 ở thời điểm 30 và 45 NSG Nhưng đến 60 NSG sự khác biệt này không có ý nghĩa về mặt thống kê Hai cách ghép

và tương tác ảnh hưởng đến số cặp lá trên chồi không có ý nghĩa.ở cả ba thời điểm

4.1.4 Ảnh hưởng của cách ghép và các giống cà phê cao sản Robusta đến tỷ lệ phân cành cơ bản sau ghép, đợt 1 (03/2010)

Tỷ lệ phân cành của chồi cây cà phê ghép thuộc vào nhiều yếu tố như đặc tính của giống, sự tiếp hợp giữa chồi và gốc ghép, cách ghép và sự sinh trưởng của cây Tỷ

lệ cành tăng dần theo thời gian thí nghiệm, tỷ lệ phân cành càng nhiều thì tỷ lệ xuất vườn càng cao

Qua bảng 4.4 ta thấy tỷ lệ cành cũng thay đổi khác nhau ở các giai đoạn

Sau ghép 30 ngày

Tỷ lệ phân cành của ba giống khác biệt rất có ý nghĩa (F = 43,86 với p = 0,0001), trong đó cao nhất là giống TR5 (81,7 %), tiếp đến là giống TR4 (52,3 %) và thấp nhất là giống TR9 (37,3 %) Cách ghép quấn ngọn có tỷ lệ phân cành (58,9 %) cao hơn cách chụp bao (55,3 %) nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê và

sự tương tác giữa yếu tố giống và yếu tố cách ghép ảnh hưởng đến tỷ lệ phân cành cũng không khác biệt

Trang 37

Bảng 4.4 Tỷ lệ phân cành cơ bản (%) của chồi cây cà phê vối ở thời điểm 30, 45 và 60

NSG

NSG Giống

Cách ghép Trung

bình giống

Quấn ngọn

Chụp bao

30

TR4 TR5 TR9

48,0ns90,7 38,0

56,7 72,7 36,7

52,3B 81,7A 37,3B Giống: p < 0,01

CV % = 14,60 Trung bình

cách ghép 58,9

45

TR4 TR5 TR9

74,0ns92,7 70,1

72,0 80,0 67,3

73,0B 86,3A 69,0B Giống: p < 0,01

CV % = 7,71 Trung bình

cách ghép 79,1

60

TR4 TR5 TR9

87,3ns94,6 84,0

84,7 89,3 76,0

86,0AB 92,0A 80,0B

Giống: p < 0,01 Cách ghép: p < 0,05

CV % = 5,07 Trung bình

có khác biệt

Trang 38

Sau ghép 60 ngày

Qua bảng 4.4 thấy được tỷ lệ phân cành của ba giống khác biệt rất có ý nghĩa (F

= 11,37 với p = 0,0046), giống TR5 (92,0 %) không khác biệt với giống TR4 (86,0 %) nhưng có ý khác biệt có ý nghĩa với giống TR9 (80,0 %) Đến thời điểm này ảnh hưởng của hai cách ghép đến tỷ lệ phân cành đã có sự khác biệt (F = 6,74 với p = 0,0138), trong đó tỷ lệ phân cành của cách ghép chụp bao, quấn ngọn lần lượt là 83,3

%; 88,7 % Tương tác giữa yếu tố cách ghép và yếu tố giống vẫn không có khác biệt.về mặt thống kê

Theo dõi tỷ lệ phân cành trong giai đoạn vườn ươm cho thấy tỷ lệ phân cành của ba giống có khác biệt rất ý nghĩa ở cả ba thời điểm 30, 45 và 60 NSG, giống TR5 luôn có tỷ lệ phân cành cao nhất và giống TR9 thấp nhất Đối với yếu tố cách ghép thì hai thời điểm 30, 45 NSG không có khác biệt ý nghĩa nhưng đến 60 NSG có sự khác biệt Kết quả tương tác giữa yếu tố giống và cách ghép không ảnh hưởng có ý nghĩa đến tỷ lệ phân cành

4.1.5 Ảnh hưởng của cách ghép và các giống cà phê cao sản Robusta đến số cặp cành cơ bản sau ghép, đợt 1 (03/2010)

Số cặp cành trên chồi ghép là chỉ tiêu để đánh giá khả năng tiếp hợp giữa chồi

và gốc ghép và sinh trưởng giữa các giống trong vườn ươm tốt hay xấu Giống nào tiếp hợp tốt, cách ghép phù hợp thì cây ghép sinh trưởng mạnh, khả năng phân cành sớm và nhiều Kết quả thí nghiệm về số cặp cành cơ bản được trình bày bảng 4.5

Sau ghép 30 ngày

Từ kết quả tổng hợp ở bảng 4.5 cho thấy rằng số cặp cành cơ bản của ba giống

có sự khác biệt có ý nghĩa (F = 7,34 với p = 0,0155), trong đó giống TR5 có số cặp cành nhiều nhất (0,83 cặp cành), giống TR4, TR9 có số cặp cành lần lượt là 0,57 cặp cành; 0,43 cặp cành Cách ghép quấn ngọn (0,63 cặp cành) cao hơn cách ghép chụp bao (0,56 cặp cành) nhưng về mặt thống kê thì không khác biệt Tương tác giữa yếu tố giống và yếu tố cách ghép đến số cặp cành có khác biệt ý nghĩa (F = 4,98 với p = 0,0393) và khi trắc nghiệm phân hạng các giá trị trung bình phân thành hai nhóm ký tự

a và b, trong đó số cặp cành cao nhất là (1,03 cặp cành) của tổ hợp giữa cách ghép

quấn ngọn và giống TR5, khác biệt với các tổ hợp còn lại

Trang 39

Bảng 4.5 Số cặp cành cơ bản của cây cà phê vối (cặp cành) ở thời điểm 30, 45 và 60

NSG

NSG Giống

Cách ghép Trung

bình giống

Quấn ngọn

Chụp bao

30

TR4 TR5 TR9

0,43b 1,03a 0,43b

0,70b 0,63b 0,43b

0,57B 0,83A 0,43B

Giống: p < 0,05 Tương tác: p < 0,05

CV % = 30,12 Trung bình

cách ghép 0,63

45

TR4 TR5 TR9

0,73ns1,03 0,80

0,80 0,93 0,70

0,77B 0,98A 0,76B Giống: p < 0,01

CV % = 12,65 Trung bình

cách ghép 0,86

60

TR4 TR5 TR9

0,97ns1,03 0,93

1,03 1,03 0,83

1,00ns1,03 0,88 Trung bình

Trang 40

Sau ghép 60 ngày

Từ bảng 4.5 thấy được giống TR5 có số cặp cành nhiều nhất (1,03 cặp cành), thấp nhất là giống TR9 (0,88 cặp cành) nhưng về mặt thống kê giữa ba giống không có

sự khác biệt Số cặp cành ở cách ghép quấn ngọn (0,98 cặp cành) và cách ghép chụp bao (0,97 cặp cành), hai giá trị này về mặt thống kê thì chênh lệch không có ý nghĩa Kết quả tương tác vẫn không có khác biệt về mặt thống kê

Tóm lại, bảng 4.5 cho thấy giống TR5 có số cặp cành nhiều nhất nhưng chỉ có khác biệt ý nghĩa ở hai thời điểm 30 và 45 NSG, giống TR9 có số cặp cành ít nhất ở cả

ba thời điểm Còn ở hai cách ghép và tương tác thì ảnh hưởng không có khác biệt đến

Chiều dài cành thí nghiệm được thể hiện ở bảng 4.6

Sau ghép 30 ngày

Chiều dài cành ở thời gian 30 NSG sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các giống (F = 13,56 với p = 0,0027), giống TR5 có chiều dài cành (1,98 cm) dài nhất khác biệt với giống TR9 (0,58 cm) và TR4 (1,30 cm) Giữa hai cách ghép thì cách ghép quấn ngọn có chiều dài cành (1,36 cm) dài hơn cách ghép chụp bao (1,21 cm), nhưng sự chênh lệch này không có ý nghĩa thống kê Kết quả cho thấy tương tác giữa yếu tố cách ghép và yếu tố giống lại có sự khác biệt có ý nghĩa (F = 4,63 với p = 0,0461) và kết quả trắc nghiệm phân hạng các giá trị trung bình chia làm bốn nhóm ký

tự là a, b, c và d Trong đó chiều dài cành dài nhất là tổ hợp giữa cách ghép quấn ngọn

và giống TR5 có chiều dài cành dài nhất là 2,46 cm

Ngày đăng: 16/03/2019, 11:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w