Xuất phát từ những vấn đề trên, trong khuôn khổ cho phép của một khóa luận tốt nghiệp cuối khóa, dưới sự hướng dẫn của thầy Nguyễn Minh Cảnh, Bộ môn Quản lý tài nguyên rừng, Khoa Lâm ngh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU VÀ ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC RỪNG
TỰ NHIÊN TRẠNG THÁI IIB TẠI TIỂU KHU 184 THUỘC NÔNG LÂM TRƯỜNG ĐỒNG NAI, HUYỆN BÙ ĐĂNG,
TỈNH BÌNH PHƯỚC LÀM CƠ SỞ ĐỀ XUẤT
Trang 2NGHIÊN CỨU VÀ ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC RỪNG TỰ NHIÊN TRẠNG THÁI IIB TẠI TIỂU KHU 184 THUỘC NÔNG LÂM TRƯỜNG ĐỒNG NAI, HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC LÀM CƠ SỞ
ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP PHỤC HỒI RỪNG
Tác giả
VŨ VĂN HÙNG
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu
Cấp bằng Kỹ sư ngành LÂM NGHIỆP
Giáo viên hướng dẫn:
ThS Nguyễn Minh Cảnh
Tháng 07 năm 2010
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được khóa luận này, tôi xin chân thành cảm ơn đến:
Ban lãnh đạo trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh cùng Ban lãnh đạo Khoa Lâm nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại trường
Quý Thầy Cô Trường Đại học Nông Lâm, quý Thầy Cô Khoa Lâm nghiệp đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập tại trường
Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy Nguyễn Minh Cảnh đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành khóa luận
Ban Giám đốc và tập thể công nhân viên Nông Lâm trường Đồng Nai, huyện
Bù Đăng, tỉnh Bình Phước đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện ngoại nghiệp
Các bạn của tôi, trong đó có tập thể lớp DH06LN đã cùng tôi chia sẻ những khó khăn trong cuộc sống, trong thời gian học tập và thực hiện khóa luận Xin chân thành cảm ơn!
TP HCM, tháng 07 năm 2010
Sinh viên: Vũ Văn Hùng
Trang 4TÓM TẮT
Vũ Văn Hùng, sinh viên Khoa Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh
Đề tài: “Nghiên cứu và đánh giá đặc điểm cấu trúc rừng trạng thái IIB tại
tiểu khu 184 thuộc Nông Lâm trường Đồng Nai, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước làm cơ sở đề xuất các biện pháp phục hồi rừng” được thực hiện từ tháng
03 đến tháng 07 năm 2010
Giáo viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Minh Cảnh
Phương pháp nghiên cứu được tiến hành trong đề tài là điều tra và thu thập
số liệu ngoài hiện trường Sử dụng phần mềm Excel 2003 và Statgraphics Plus 3.0
để xử lý số liệu và thiết lập các phương trình hồi quy
Kết quả nghiên cứu bao gồm những nội dung chính sau đây:
1 Kết cấu tổ thành loài
Đã thống kê được số loài thực vật tại khu vực nghiên cứu là 36 loài, với các loài chiếm số lượng nhiều như Trâm, Giẻ, Dền, Còng, Trường, Côm, Chò chỉ,…
2 Độ hỗn giao của rừng tại khu vực nghiên cứu là K = 36/313 = 0,12
3 Quy luật phân bố số cây theo cấp đường kính (N/D1,3)
Đường phân bố thực nghiệm số cây theo cấp đường kính có dạng phân bố giảm, phương trình cụ thể là: N % = 27,5095 – 4,29174*sqrt(D)
4 Quy luật phân bố số cây theo cấp chiều cao (N/Hvn)
Quy luật phân bố số cây theo cấp chiều cao có một đỉnh lệch trái, hàm lý thuyết mà đề tài đã chọn để mô phỏng cho quy luật này là:
Ln(N%) = - 4,21347 + 1,1423*H – 0,0442073*H2
5 Tương quan giữa chiều cao và đường kính (Hvn/D1,3)
Tương quan giữa chiều cao và đường kính của cây rừng tại khu vực nghiên cứu có mối tương quan rất chặt và được mô phỏng theo phương trình:
Hvn = 1/(0,0385648 + 0,601485/D1,3)
6 Phân bố trữ lượng theo cấp đường kính
Trang 5Trữ lượng tại khu vực nghiên cứu tăng dần theo cấp đường kính và đạt cực đại ở cấp kính 27 – 29 cm với 19,88 m3/ha Trữ lượng bình quân lâm phần trạng thái IIB tại khu vực nghiên cứu là 129,8 m3/ha
7 Tình hình tái sinh dưới tán rừng
Số loài cây tái sinh thống kê được là 21 loài, trong đó chiếm tỷ lệ cao nhất là Trâm (chiếm 21,56%), tiếp theo là Trường, Chò chai, Bứa,… Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao không đồng đều Số cây tái sinh tại khu vực nghiên cứu là 7267 cây/ha và số cây tái sinh có triển vọng là 6666 cây/ha
8 Độ tàn che của rừng
Độ tàn che bình quân của rừng trạng thái IIB tại khu vực nghiên cứu là 0,59
Trang 6MỤC LỤC
Trang
Trang tựa - i
Lời cảm ơn - ii
Tóm tắt - iii
Mục lục - v
Danh sách các chữ viết tắt - vii
Danh sách các bảng - viii
Danh sách các hình - ix
Chương 1 MỞ ĐẦU - 1
1.1 Đặt vấn đề - 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu - 2
1.3 Giới hạn nghiên cứu - 2
Chương 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU - 3
2.1 Khái niệm về cấu trúc rừng - 3
2.2 Tình hình nghiên cứu cấu trúc rừng tự nhiên trên thế giới - 4
2.3 Những nghiên cứu cấu rừng tự nhiên ở Việt Nam - 6
2.4 Những nghiên cứu về tái sinh rừng trên thế giới - 9
2.5 Những nghiên cứu về tái sinh rừng ở Việt Nam - 10
Chương 3 ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU - 12
3.1 Đặc điểm khu vực nghiên cứu - 12
3.1.1 Điều kiện tự nhiên - 12
3.1.1.1 Vị trí địa lý - 12
3.1.1.2 Địa hình, địa mạo - 13
3.1.1.3 Khí hậu - 13
3.1.1.4 Thủy văn - 14
3.1.1.5 Tài nguyên đất - 15
3.1.1.6 Tài nguyên rừng - 17
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội - 18
Trang 73.1.2.1 Đặc điểm dân cư - 18
3.1.2.2 Sản xuất nông – lâm nghiệp - 18
3.2 Nội dung nghiên cứu - 20
3.3 Phương pháp nghiên cứu - 20
3.3.1 Cơ sở phương pháp luận - 20
3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu - 20
3.3.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu - 21
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN - 29
4.1 Cấu trúc tổ thành loài - 29
4.1.1 Tổ thành loài tầng cây gỗ lớn - 29
4.1.2 Tầng cây bụi và thảm tươi - 31
4.2 Độ hỗn giao của rừng - 32
4.3 Phân bố số cây theo cấp đường kính - 32
4.4 Phân bố số cây theo cấp chiều cao - 36
4.5 Tương quan giữa chiều cao Hvn và đường kính D1,3 - 40
4.6 Phân bố trữ lượng theo cấp đường kính - 42
4.7 Đánh giá tình hình tái sinh dưới tán rừng - 44
4.7.1 Tổ thành loài cây tái sinh - 44
4.7.2 Phân bố lớp cây tái sinh - 45
4.8 Xác định độ tàn che của rừng - 46
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ - 47
5.1 Kết luận - 47
5.2 Kiến nghị - 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO - 49
Trang 8DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
a, b, c Các tham số phương trình
Cv% Hệ số biến động, %
D1,3 Đường kính thân cây tại tầm cao 1,3 m
D1,3_lt Đường kính 1,3 m tính theo lý thuyết
D1,3_tn Đường kính 1,3 m thực nghiệm
Ex Độ nhọn phân bố
H Chiều cao của cây (m)
Hvn Chiều cao vút ngọn của cây (m)
H_tn Chiều cao thực nghiệm (m)
H_lt Chiều cao lý thuyết (m)
N Số cây
NLT Nông Lâm Trường
N %_tn Phần trăm số cây thực nghiệm
N %_lt Phần trăm số cây lý thuyết
Ln Logarit tự nhiên (cơ số e)
Trang 9DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1: Diện tích các loại đất tại khu vực nghiên cứu - 16
Bảng 3.2: Diện tích các loại đất loại rừng - 17
Bảng 3.3: Tình hình phân bố dân cư theo xã - 18
Bảng 4.1: Tổ thành loài thực vật trạng thái IIB tại khu vực nghiên cứu - 30
Bảng 4.2: Bảng phân bố số cây theo cấp đường kính trạng thái rừng IIB và các đặc trưng mẫu tại khu vực nghiên cứu - 33
Bảng 4.3: Bảng so sánh các chỉ số thống kê từ các hàm thử nghiệm của phân bố số cây theo cấp đường kính - 34
Bảng 4.4: Bảng phân bố số cây theo cấp chiều cao của trạng thái rừng IIB tại khu vực nghiên cứu - 37
Bảng 4.5: Bảng so sánh các chỉ số thống kê từ các hàm thử nghiệm của phân bố số cây theo cấp chiều cao - 37
Bảng 4.6: Bảng so sánh các chỉ tiêu thống kê từ các hàm thử nghiệm quy luật tương quan giữa chiều cao và đường kính - 40
Bảng 4.7: Bảng phân bố trữ lượng theo cấp đường kính tại khu vực nghiên cứu 43
Bảng 4.8: Tổ thành loài cây tái sinh dưới tán rừng tại khu vực nghiên cứu - 44
Bảng 4.9: Phân bố lớp cây tái sinh dưới tán rừng theo cấp chiều cao tại khu vực nghiên cứu - 45
Trang 10Hình 4.3: Đồ thị biểu diễn phân bố số cây theo cấp đường kính của trạng thái rừng
IIB tại khu vực nghiên cứu - 35
Hình 4.4: Đồ thị biểu diễn phân bố số cây theo cấp chiều cao từ các hàm thử
nghiệm - 38
Hình 4.5: Đồ thị biểu diễn phân bố số cây theo cấp chiều cao của trạng thái rừng
IIB tại khu vực nghiên cứu - 39
Hình 4.6: Đồ thị biểu diễn quy luật tương quan giữa chiều cao và đường kính của
trạng thái rừng IIB tại khu vực nghiên cứu - 41
Hình 4.7: Biểu đồ biểu diễn phân bố trữ lượng theo cấp đường kính (M/D1,3) - 43
Hình 4.8: Biểu đồ phân bố % số cây tái sinh theo cấp chiều cao - 45
Trang 11Tuy nhiên, ngày nay do nhu cầu kinh tế quá lớn, con người đã lạm dụng quá mức tài nguyên rừng làm cho rừng bị tàn phá, hủy hoại nặng nề và ngày càng bị suy thoái nghiêm trọng Điều này đã đặt ra cho những người làm công tác lâm nghiệp trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng một nhiệm vụ cấp thiết là làm thế nào
để khôi phục rừng tự nhiên, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về kinh tế - xã hội nhưng vẫn duy trì được vai trò sinh thái bảo vệ môi trường của rừng Trong nhiệm
vụ này, vấn đề quan trọng là phải khai thác rừng sao cho hợp lý vì khai thác rừng là biện pháp kỹ thuật lâm sinh quan trọng và có ý nghĩa quyết định đến việc duy trì và phát triển vốn rừng Khai thác hợp lý sẽ thúc đẩy sinh trưởng của rừng và xúc tiến tái sinh tự nhiên, ngược lại nếu lạm dụng rừng, khai thác quá mức, thiếu kiểm soát
sẽ phá vỡ cấu trúc rừng, dẫn đến mất rừng, ảnh hưởng đến môi trường sinh thái
Vì vậy để công tác tổ chức, quản lý và bảo vệ rừng có hiệu quả cần thiết phải
có những hiểu biết sâu sắc về các đặc trưng cấu trúc rừng nhằm lựa chọn được các biện pháp lâm sinh phù hợp để tác động đến rừng làm cho rừng ngày càng phát triển
Trang 12Xuất phát từ những vấn đề trên, trong khuôn khổ cho phép của một khóa luận tốt nghiệp cuối khóa, dưới sự hướng dẫn của thầy Nguyễn Minh Cảnh, Bộ môn Quản lý tài nguyên rừng, Khoa Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm Thành phố
Hồ Chí Minh, đề tài “Nghiên cứu và đánh giá đặc điểm cấu trúc rừng trạng thái
IIB tại tiểu khu 184 thuộc Nông Lâm trường Đồng Nai, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước làm cơ sở đề xuất các biện pháp phục hồi rừng” được thực hiện trong
khoảng thời gian từ tháng 03/2010 đến tháng 07/2010 với hy vọng các kết quả đạt được ở đề tài này sẽ đóng góp một phần nhỏ trong thực tiễn sản xuất và kinh doanh rừng, cũng như đóng góp những cơ sở lý luận khoa học nhằm phục vụ công tác quản lý và phát triển bền vững khu rừng tự nhiên tại khu vực nghiên cứu
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu một số đặc điểm cơ bản về cấu trúc rừng trạng thái IIB tại Nông Lâm trường Đồng Nai, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước
- Từ kết quả nghiên cứu sẽ đề xuất một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp nhằm phục hồi diện tích rừng tại khu vực nghiên cứu
1.3 Giới hạn nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện do thời gian có hạn nên đề tài chỉ nghiên cứu một
số đặc điểm cơ bản của cấu trúc rừng trạng thái IIB tại tiểu khu 184 thuộc Nông – Lâm trường Đồng Nai, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước
Đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung chính sau: Cấu trúc tổ thành loài thực vật, phân bố số cây theo cấp đường kính D1,3, phân bố số cây theo cấp chiều cao vút ngọn (N/Hvn), phân bố trữ lượng theo cấp đường kính D1,3, tương quan giữa chiều cao và đường kính, đánh giá tình hình tái sinh dưới tán rừng và xác định độ tàn che của rừng
Tuy đã rất cố gắng trong việc điều tra, khảo sát, thu thập số liệu để thực hiện
đề tài, nhưng do hạn chế về mặt thời gian, kinh phí, trình độ chuyên môn còn hạn chế … nên kết quả chưa thật đầy đủ và chính xác, vì vậy nó chỉ mang tính tham khảo Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý Thầy Cô, các bạn bè cùng chuyên môn và những ai quan tâm để trong tương lai, nếu được tiếp tục nghiên cứu
sẽ có được những kết quả chính xác và tin cậy hơn
Trang 13Chương 2
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Khái niệm về cấu trúc rừng
Cấu trúc rừng là sự tổ chức và sắp xếp các thành phần rừng theo không gian
và thời gian, sự phân bố các lớp cây rừng theo chiều thẳng đứng và chiều nằm ngang (dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 1995)
Theo Assmann (1968) định nghĩa: “Một lâm phần hay một rừng cây là tổng thể các cây cùng sinh trưởng và phát triển trên một diện tích, tạo thành một hoàn cảnh và điều kiện nhất định và có cấu trúc bên ngoài cũng như bên trong khác biệt với diện tích rừng khác, …” Như vậy, một rừng cây hay một lâm phần trên diện tích đất nhất định sẽ được hình thành khi có đủ số lượng cây cá thể, tạo nên từng tán
và độ tàn che và có cấu trúc bên trong cũng như hình dạng bên ngoài khác biệt với cánh rừng khác (dẫn nguồn Tô Quang, 2008)
Cấu trúc rừng là cơ sở quan trọng trong nghiên cứu sinh thái học, hệ sinh thái rừng và đặc biệt là để xây dựng những mô hình lâm sinh hiệu quả Giữa cấu trúc rừng và sinh thái rừng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Bất kỳ một quy luật cấu trúc quần thể nào cũng đều có nội dung sinh thái học bên trong nó Quán triệt quan điểm sinh thái mới có cơ sở khoa học để giải thích các quy luật cấu trúc của quần thể thực vật Cấu trúc quần xã thực vật rừng biểu thị các đặc điểm phân bố các cơ quan của các thành phần quần xã theo không gian và thời gian Cấu trúc rừng là nhân tố rất quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp tới tình hình cạnh tranh giữa thực vật
và cơ chế tác động lẫn nhau giữa chúng trong hệ sinh thái rừng Để tồn tại một loài cây thì cần một diện tích dinh dưỡng (hay còn gọi là không gian sinh trưởng) nhất định mà diện tích này biến đổi theo tuổi cây, điều kiện khí hậu và đất đai Lượng cây quá nhiều làm tăng sự cạnh tranh giữa các loài thực vật trong một quần xã, sự cạnh tranh không gian sống làm cho chúng chèn ép lẫn nhau dẫn đến khả năng chết
Trang 14rất cao và đôi khi mất khả năng tái sinh bằng hạt và năng lực tái sinh bằng chồi (Xukasov, 1953; Knapp, 1954) (dẫn nguồn Nguyễn Đức Trung, 2005)
2.2 Tình hình nghiên cứu cấu trúc rừng tự nhiên trên thế giới
Khái niệm “cấu trúc rừng” đã được rất nhiều nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu và đã đưa ra ứng dụng ngoài thực tế, mỗi công trinh nghiên cứu có phương pháp và mục đích sử dụng khác nhau
Theo Wenk (1995) nghiên cứu xác định cấu trúc của một loại hình rừng nhằm mục đích không những đánh giá được nhiều hiện trạng rưng qua các quy luật phân bố số cây theo chiều cao vút ngọn Hvn (cấu trúc đứng), theo đường kính D1,3, theo tổng diện ngang G1,3 (cấu trúc ngang), … mà còn có thể xác định chính xác kích thước bình quân lâm phần phục vụ cho công tác điều tra quy hoạch rừng
Cũng theo Wenk, ở rừng trồng thuần loài đều tuổi phân bố số cây theo D1,3,
Hvn, … khi mới trồng có quy luật chính thái, sau đó lệch sang trái khi đã bước vào tuổi khép tán, chuyển sang lệch phải khi rừng đã lớn tuổi
Trong sự phụ thuộc chỉ vào đường kính trung bình của lâm phần (N.V Tretiakov, năm 1952; A.V Tiurin, năm 1956) hay từ những yếu tố liên quan khác nhau của cây rừng (A.I Moskolev, năm 1974; B.Rollet, năm 1974), và những nhà khoa học đã sử dụng hàm toán học (dẫn nguồn Hoàng Sỹ Động, 2002) như sau:
Hàm Pearson, V.S.Moisev (1971), Đồng Sĩ Hiền và B.Rollet (1974) đã nghiên cứu đối với rừng Thông, rừng Vân sam non và rừng thường xanh mưa ẩm nhiệt đới
Hàm Gamma, S.N.Xvalov (1984) đã sử dụng để nghiên cứu rừng Thông ở Liên Xô
Hàm Weibull, O.A.Atrosenko (1980), Vũ Tiến Hinh (1980), Trần Văn Con (1986) và Hoàng Sỹ Động (1986) đã sử dụng nghiên cứu đối với rừng Thông, rừng Khộp và rừng lá rộng thường xanh mưa ẩm nhiệt đới ở Việt Nam (dẫn theo Hoàng
Sỹ Động, 2002)
Theo Richards P.W (1934) “cấu trúc” nghĩa là phân bố cây rừng theo tầng (chiều thẳng đứng) Phương pháp vẽ biểu đồ mặt cắt đứng của rừng do David và Richards (1933 -1934) đề xướng và sử dụng lần đầu tiên ở Guyan đến nay vẫn là phương pháp có hiệu quả để nghiên cứu cấu trúc tầng tán của rừng Tuy nhiên
Trang 15phương pháp này có nhược điểm là chỉ minh họa được cách sắp xếp theo hướng thẳng đứng của các loài cây gỗ trong một diện tích có hạn Cusen (1951) đã khắc phục bằng cách vẽ một số dải kề bên nhau và đưa lại một hình ảnh về không gian ba chiều Phương pháp biểu đồ trắc diện do David va Richards đề xuất trong khi phân loại và mô tả rừng nhiệt đới phức tạp về thành phần loài và cấu trúc thảm thực vật theo chiều nằm ngang và chiều thẳng đứng (dẫn theo Vương Tấn Nhị dịch)
Richards P.W (1952) cũng đã phân biệt tổ thành thực vật của rừng mưa thành hai loại là rừng mưa hỗn hợp có tổ thành loài cây phức tạp và rừng mưa đơn ưu có
tổ thành loài cây đơn giản Trong những lập địa đặc biệt thì rừng mưa đơn ưu chỉ bao gồm một vài loài cây Cũng theo tác giả thì rừng mưa thường có nhiều tầng (thường có ba tầng, trừ tầng cây bụi và tầng cây thân cỏ) Trong rừng mưa nhiệt đới, ngoài cây gỗ lớn, cây bụi và các loài thân cỏ còn có nhiều loài dây leo đủ hình dáng
và kích thước, cùng nhiều thực vật phụ sinh trên thân cây hoặc cành cây (dẫn theo Vương Tấn Nhị dịch)
Trong công trình nghiên cứu của Richards P.W (1952) tác giả cuốn “Rừng mưa nhiệt đới” Tổng kết kết quả nghiên cứu về cấu trúc rừng tự nhiên tác giả đã rút
ra nhận xét:
Thực vật ở các quần xã thực vật “rừng mưa nhiệt đới” rất phức tạp Nhìn chung, trong quần xã thực vật các loài cây thường có hình dạng khác nhau, dạng sống khác nhau, nhưng các thành viên cùng một nhóm sinh thái thì đều giống nhau
về dạng sống và về quan hệ đối với hoàn cảnh xung quanh Các dạng sống này đều biểu hiện đến mức độ nào đó cách sắp xếp hợp lý trong không gian đươc diễn ra theo hai hướng: Thẳng đứng và nằm ngang Cách sắp xếp này có ý nghĩa quan trọng đối với việc phân biệt các quần thể phụ khác nhau Cách sắp xếp theo hướng thẳng đứng của thực vật rừng tự nhiên nhiệt đới được phát họa tốt nhất bằng các biểu đồ mặt cắt đứng và hiểu biết tốt nhất qua nghiên cứu các biểu đồ này
Các tác giả cũng nhấn mạnh rằng, các biểu đồ mặt cắt đứng chỉ minh họa được cách sắp xếp trên hướng thẳng đứng của các cây gỗ trong một diện tích riêng
và có hạn Một dải kề ngay bên cạnh có thể biểu lộ những đặc điểm hoàn toàn khác biệt; và vì lý do này, dải càng dài thì càng có thêm cơ hội để thu thập được những
Trang 16Theo Prodan (1952) đã nghiên cứu quy luật phân bố, chủ yếu là phân bố đường kính có liên hệ với giai đoạn phát dục của lâm phần và biện pháp kinh doanh Theo tác giả, sự phân bố số cây theo cỡ đường kính có giá trị tiêu biểu nhất cho lâm phần, phản ánh được cấu trúc lâm sinh của lâm phần Những quy luật phân
bố mà ông xác định được ở rừng tự nhiên được chấp nhận và kiểm chứng nhiều nơi trên thế giới Đó là phân bố của rừng tự nhiên có quy luật một đỉnh lệch trái, số cây tập trung rất nhiều ở cấp đường kính nhỏ do bởi có nhiều loài, nhiều thế hệ cùng tồn tại Song ở cỡ đường kính lớn, chỉ có một số loài nhất định do bởi đặc tính sinh học hay do bởi vị trí thuận lợi trong rừng chúng mới có khả năng tồn tại và phát triển
Về phân bố chiều cao, rừng tự nhiên thường có dạng nhiều đỉnh, rừng có nhiều thế
hệ do bởi các biện pháp chặt chọn không quy tắc nên phân bố có dạng như vậy và giới hạn của đường cong phân bố là phân bố giảm đặc trưng cho rừng chặt chọn không đều tuổi (dẫn nguồn Cao Thế Hiệp, 2007)
Tác giả Meyer (1952); Turnbull (1963); Rollet (1969) dùng thuật ngữ “cấu trúc” để chỉ rõ sự phân bố cây gỗ theo các cấp kính hoăc là phân bố diện ngang thân cây theo cấp kính (dẫn theo Nguyễn Trọng Dũng, 2009)
Chuỗi phân bố cây theo cấp đường kính chỉ ra cơ sở và là quy luật cấu trúc trung tâm của những chỉ tiêu điều tra rừng không chỉ với rừng trồng mà còn đối với tất cả các kiểu rừng Nghiên cứu chúng ta là bắt buộc đối với bất kì ai muốn hiểu biết về cấu trúc rừng trên thế giới Những nhà khoa học điều tra rừng, thậm chí những nhà lâm sinh học đã nghiên cứu quy luật này từ những thế kỷ trước (dẫn theo Nguyễn Thị Ái Nhi, 2005)
2.3 Những nghiên cứu cấu trúc rừng tự nhiên ở Việt Nam
Đào Công Khanh (1966); Bảo Huy (1993) đã căn cứ vào tổ thành loài cây mục đích để phân loại rừng phục vụ cho việc xây dựng các biện pháp lâm sinh Nhìn chung, các tác giả đã tiến hành xác định loại cấu trúc của các kiểu rừng, nhưng chỉ mang tính chất mô tả định tính, thuyết minh cho kết quả phân loại của minh mà thôi (dẫn theo Nguyễn Thị Ái Nhi, 2005)
Đồng Sỹ Hiền (1974) trong công trình nghiên cứu “Lập biểu thể tích và biểu
độ thon cây đứng cây rừng Việt Nam” tác giả đã đi sâu vào xác định quy luật phân
bố cây rừng theo chiều cao (H) và đường kính (D1,3) làm cơ sở cho việc xây dựng
Trang 17biểu thể tích môt, hai hoặc ba nhân tố Kết quả nghiên cứu cấu trúc đứng của rừng
tự nhiên Việt Nam đặc trưng bởi phân bố nhiều đỉnh về chiều cao và phân bố giảm một đỉnh lệch trái về phía đường kính
Trong những năm gần đây, một số công trình nghiên cứu đi sâu vào cấu trúc rừng, thông qua việc xác định phân bố số cây theo cấp chiều cao (Hvn) và cấp đường kính (D1,3), song kết quả nghiên cứu về cấu trúc rừng lại phục vụ cho các mục tiêu nghiên cứu tương đối khác nhau (dẫn nguồn Nguyễn Trọng Dũng, 2009)
Đối với phương pháp nghiên cứu, tác giả Đồng Sỹ Hiền đã đưa ra kết luận: Khi nghiên cứu cấu trúc rừng, dùng đường cong mô tả phân bố là phương pháp tổng quát nhất, có đường cong phân bố thì có thể xác định cả vị trí của cây bình quân và phạm vi biến động Phương pháp biểu diễn quy luật phân bố số cây theo D1,3, H1,3tương đối đơn giản và rõ ràng
Theo Thái Văn Trừng (1970 – 1978), trước năm 1954 hầu như chỉ có người Pháp thực hiện các nghiên cứu về cấu trúc rừng Đông Dương Sau năm 1954, rừng nước ta được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước hết sức quan tâm tuy nhiên
số lượng công trình về cấu trúc rừng tự nhiên nhiệt đới còn ít Có thể kể đến một số tác phẩm như:
“Lâm nghiệp Đông Dương”, Paul Maurand (1943)
“Những quần thể thực vật thưa Nam Đông Dương”, Rollet, Lý Văn Hội, Neang Sam Oil (1952)
Công trình nghiên cứu của M.Loeschau (1962, 1964, 1966) nghiên cứu về cấu trúc và trạng thái rừng ở miền Bắc Việt Nam Trên cơ sở cấu trúc, các đặc điểm lâm sinh và trữ lượng rừng… tác giả đã đề xuất được các chỉ tiêu định lượng để
phân loại rừng ở phía Bắc Việt Nam của Trần Ngũ Phương (1965) về “Bước đầu nghiên cứu rừng miền Bắc Việt Nam” và của Thái Văn Trừng (1978) về “Thảm thực vật rừng Việt Nam trên quan điểm hệ sinh thái” cho đến nay những nghiên cứu này
vẫn được áp dụng rộng rãi trong thực tiễn điều tra quy hoạch và điều chế rừng (dẫn nguồn Nguyễn Cao Cường, 2007)
Thái Văn Trừng (1978) khi nghiên cứu kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới nước ta, đã đưa ra mô hình cấu trúc tầng, như tầng vượt tán, tầng ưu thế
Trang 18sung phương pháp biểu đồ mặt cắt của David và Richards, trong đó tầng cây bụi và thảm tươi được phóng với tỉ lệ lớn hơn Ngoài ra tác giả còn dựa vào bốn tiêu chuẩn
để phân chia kiểu thảm thực vật rừng Việt Nam, đó là: Dạng sống ưu thế của những thực vật tầng cây lập quần, độ tàn che của tầng ưu thế sinh thái, hình thái sinh thái của nó và trạng thái của tán lá, dựa vào đó tác giả chia thảm thực vật rừng Việt Nam thành 14 kiểu
Công trình nghiên cứu về cấu trúc rừng ở nước ta đáng lưu ý nhất là “Quy luật cấu trúc rừng gỗ hỗn loài” của Nguyễn Văn Trương (1983) Theo tác giả, khi nghiên cứu đặc điểm lâm học của rừng phải tập trung xác định thành phần loài cây, tìm hiểu về cấu trúc của từng loại rừng, cấu trúc đường kính thông qua phân bố số cây và tổng diện ngang trên mặt đất, cấu trúc nhóm loài cây, tình hình tái sinh diễn thế của rừng,… Từ đó mới có được những kết quả loogic cho những biện pháp xử
lý rừng có khoa học và hiểu quả, vừa cung cấp được lâm sản vừa được nuôi dưỡng
và tái sinh rừng…
Trong phương pháp nghiên cứu của Nguyễn Văn Trương, tác giả đã sử dụng
ô tiêu chuẩn có diện tích từ 0,25 ha đến 1 ha trong đó các cây có D1,3 1 cm trở lên được đo đếm về D1,3, Hvn, DT,… Cự ly cấp kính là 4 cm, chiều cao là 2 m, cấp tiết diện ngang là 0,025 m2 Trong xử lý tính toán số liệu nghiên cứu theo xu hướng hiện nay, tác giả dùng phương pháp toán học để tiếp cận vấn đề và định lượng hóa quy luật phân bố bằng các mô hình toán học cụ thể, sau đó ông xây dựng mô hình
có cấu trúc chuẩn
Đồng Sỹ Hiền (1974) dùng hàm Meyer và họ đường cong Pearson để nắn phân bố thực nghiệm số cây theo đường kính làm cơ sở cho lập biểu thể tích và biểu
độ thon cây đứng cho rừng tự nhiên ở Việt Nam
Trần Văn Con (1990) đã sử dụng mô hình Weibull để mô phỏng cấu trúc số cây theo cấp đường kính (N/D1,3) của rừng khộp và cho rằng khi rừng còn non thì phân bố dạng giảm, và khi rừng càng lớn thì càng có xu hướng chuyển sang phân bố một đỉnh và lệch dần từ trái sang phải Do sự biến thiên về lập địa có lợi hay không
có lợi cho quá trình tái sinh (dẫn theo Nguyễn Cao Cường, 2007)
Trên đây là những công trình khoa học của những nhà nghiên cứu về lâm nghiêp, trong đó chủ yếu là nghiên cứu về cấu trúc rừng làm cơ sở tài liệu tham khảo và định hướng để thực hiện khóa luận này
Trang 192.4 Những nghiên cứu về tái sinh rừng trên thế giới
Trên thế giới tái sinh rừng đã được nghiên cứu từ hàng trăm năm trước đây, nhưng từ năm 1930 mới bắt đầu nghiên cứu tái sinh rừng nhiệt đới Do đặc điểm của rừng tự nhiên nhiệt đới là thành phần loài rất phức tạp, nên trong quá trình nghiên cứu, các tác giả chỉ tập trung vào các loại cây gỗ có ý nghĩa nhất định (dẫn nguồn Tô Quang, 2008)
Theo Richards (1952) quá trình tái sinh tự nhiên của rừng nhiệt đới rất phức tạp và sự hiểu biết của con người về vấn đề này còn hạn chế, mặc dù có ý nghĩa thực tiễn rất lớn Theo tác giả, các cây tái sinh tự nhiên có một thời gian ức chế kéo dài ảnh hưởng đến sinh trưởng của chúng, nếu đạt được chiều cao khoảng 2 m thì chúng có thể tồn tại và tham gia vào quần thể rừng
Khi nghiên cứu tái sinh của rừng tự nhiên nhiệt đới G Van Steenis (1956) cũng đã nhận định: tái sinh của rừng mưa nhiệt đới là liên tục gần như quanh năm Còn theo các nhà nghiên cứu khác như T Haig và M.A.Huber (1956) thì sự tái sinh rừng tự nhiên được xem là căn bản nhất trong quá trình cải thiện tình hình rừng (dẫn nguồn Nguyễn Thị Ái Nhi, 2005)
Nghiên cứu tái sinh ở rừng nhiệt đới Châu Phi, A.Obrevin (1938) nhận thấy, cây con của các loài cây ưu thế trong mùa mưa thì rất hiếm, ông gọi là hiện tượng
“không bao giờ sinh con đẻ cái” của cây mẹ trong thành phần tầng cây gỗ của rừng mưa Tổ thành loài cây mẹ ở tầng trên và cây con ở tầng dưới thường khác nhau rất nhiều, biến đổi không giống nhau giữa các vùng Vì vậy tổ thành loài cây trong rừng mưa không ổn định trong không gian và thời gian Tác giả đã đưa ra bức khảm sinh thái, nhưng phần lý giải các hiện tượng trong đó còn hạn chế, ít thuyết phục và chưa có tính thực tiễn, nhất là khi muốn đưa ra các biện pháp kĩ thuật lâm sinh nhằm điều khiển tái sinh theo mục đích kinh doanh (dẫn nguồn Phùng Ngọc Lan, 1986)
Theo Xannikow (1967), Vipper (1973), trong nghiên cứu tái sinh rừng, người
ta nhận thấy tầng cỏ và tầng cây bụi qua quá trình sinh trưởng thu nhận ánh sáng, các chất dinh dưỡng sẽ làm ảnh hưởng đến cây tái sinh Nhưng lâm phần thưa, rừng
đã bị khai thác nhiều, tạo ra nhiều khoảng trống lớn, tạo điều kiện cho thảm tươi và
Trang 20triển và khả năng sinh tồn của cây tái sinh Nếu lâm phần kín, đất khô, nghèo dinh dưỡng, cây bụi thảm tươi phát triển chậm sẽ tạo điều kiện cho cây tái sinh vươn lên (dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 1992)
Nghiên cứu của Baur trong rừng nhiệt đới đã chỉ ra sự thiếu hụt ánh sáng ảnh hưởng chủ yếu đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây con Ngoài nhân tố ánh sáng thì tầng cây bụi và thảm tươi cũng có ảnh hưởng lớn đến quá trình tái sinh của các loài cây gỗ Nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố đến tái sinh rừng, Ghent.A.W (1969) đã nhận xét: thảm mục, chế độ thủy nhiệt và tầng mặt đều có mối quan hệ tái sinh rừng ở mức độ khác nhau (dẫn theo Nguyễn Trọng Dũng, 2009)
Dawkins (1958) đã nói: “Dù cho kinh doanh được đưa vào như thế nào, điều phải suy xét đầu tiên về lâm sinh phải là tái sinh…” Như vậy có thể nói, vấn đề tái sinh đã được bàn đến rất nhiều, nhất là khi xử lý lâm sinh liên quan đến tái sinh của các loài cây mục đích ở các kiểu rừng Từ đó, các nhà lâm học đã xây dựng thành công nhiều phương thức chặt tái sinh (dẫn theo Nguyễn Thị Ái Nhi, 2005)
2.5 Những nghiên cứu về tái sinh rừng ở Việt Nam
Tái sinh rừng có vai trò rất quan trọng, đó là quá trình tạo nên thành phần cơ bản của rừng và đã có nhiều công trình nghiên cứu về tái sinh rừng ở Việt Nam như:
Từ năm 1962 đến năm 1969, Viện Điều Tra – Quy Hoạch rừng đã điều tra tái sinh ở một số tỉnh: Quảng Bình, Nghệ An, Yên Bái, Quảng Ninh với sự giúp đỡ của chuyên gia Trung Quốc, ô tiêu chuẩn được lập với diện tích 2000 m2 cho từng trạng thái Đo đếm tái sinh trên ô dạng bản có diện tích từ 100 m2 đến 125 m2, kết hợp điều tra theo tuyến Từ đó tiến hành phân chia trạng thái rừng và đánh giá tái sinh (dẫn nguồn Tô Quang, 2008)
Thái Văn Trừng (1978), khi nghiên cứu về thực vật rừng Việt Nam đã có kết luận, ánh sáng là nhân tố sinh thái khống chế và ảnh hưởng đến quá trình tái sinh tự nhiên trong rừng
Trần Xuân Thiệp (1995), đã định lượng cây tái sinh tự nhiên trong các trạng thái rừng khác nhau, theo tác giả số lượng cây tái sinh biến động từ 8.000 đến 12.000, lớn hơn rừng nguyên sinh (dẫn nguồn Nguyễn Thị Thoa, 2003)
Trang 21Lê Đồng Tấn (1999), nghiên cứu quá trình phục hồi rừng tự nhiên của một số quần xã thực vật sau nương rẫy tại tỉnh Sơn La theo phương pháp điều tra trên các ô tiêu chuẩn 400 m2, kết hợp điều tra trên các ô định vị Tác giả kết luận, mật độ cây tái sinh giảm từ chân đồi lên đỉnh đồi; trên 3 dạng địa hình và trên 3 cấp độ dốc khác nhau, tổ hợp loài cây ưu thế là giống nhau (dẫn theo Nguyễn Thị Thoa, 2003)
Vũ Đình Huề (1969), đã chia tái sinh thành 5 cấp: rất tốt, tốt, trung bình, xấu
và rất xấu Trong nghiên cứu này, việc nghiên cứu tái sinh rừng mới chỉ dựa vào số lượng chứ chưa quan tâm đến chất lượng tái sinh
Trần Ngũ Phương (2000) khi nghiên cứu rừng nhiệt đới ở Việt Nam đã nhấn mạnh: “Rừng tự nhiên có nhiều tầng, khi tầng trên già cỗi tàn lụi rồi tiêu vong, tầng
kế tiếp sẽ thay thế, …”
Tái sinh rừng là quá trình phục hồi thành phần cơ bản của rừng: thảm cây gỗ
và các thành phần khác của lâm phần Sự xuất hiện lâm phần mới lại góp phần hình thành môi trường rừng và các thành phần khác như thực vật tầng thấp, động vật và
vi sinh vật đặc trưng cho mỗi loại rừng Vì thế, khái niệm tái sinh rừng còn được hiểu theo nghĩa rộng là tái sinh hệ sinh thái rừng (dẫn nguồn Nguyễn Văn Thêm, 1995)
Tóm lại, qua các công trình nghiên cứu về tái sinh rừng ở trên thế giới và Việt Nam cho thấy vai trò của quá trình tái sinh rừng trong nghiên cứu cấu trúc rừng rất quan trọng Một trong những vai trò đó là giúp các nhà khoa học nghiên cứu về thành phần cơ bản của rừng, tầng tán của rừng, sự phụ thuộc của quá trình tái sinh rừng vào ngoại cảnh, … Các công trình trên đây cũng là cơ sở, tài liệu tham khảo và định hướng để thực hiện khóa luận này
Trang 22
Chương 3
ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC , NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm khu vực nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
NLT Đồng Nai nằm trên địa bàn các xã Phú Sơn, Thọ Sơn, Đồng Nai, Phước Sơn và một phần nhỏ xã Đoàn Kết thuộc huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước Diện tích NLT Đồng Nai hiện quản lý có phạm vi ranh giới như sau:
Phía Bắc giáp tỉnh Đắk Nông;
Phía Đông giáp tỉnh Đắk Nông và tỉnh Lâm Đồng;
Phía Tây giáp các xã Phú Sơn, Thọ Sơn, Đồng Nai, Phước Sơn và Đoàn Kết thuộc huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước;
Phía Nam giáp Ban QLRPH Thống Nhất
Tọa độ địa lý:
Từ 11o42’30” đến 11o53’25” vĩ độ Bắc
Từ 107o15’00” đến 107o25’30” kinh độ Đông
Vị trí tự nhiên của NLT Đồng Nai có một số lợi thế cho phát triển kinh tế –
xã hội và sử dụng tài nguyên đất đai như sau:
Nằm cách quốc lộ 14 (thuộc hệ thống đường Hồ Chí Minh) khoảng 10 km, là đường nối liền các tỉnh phía Bắc, qua Tây nguyên vào các tỉnh Nam Bộ;
Nằm gần trung tâm thị trấn huyện Bù Đăng và cách thị xã Đồng Xoài khoảng
60 km, thị xã Gia Nghĩa khoảng 45 km là hai khu trung tâm hành chính thuộc tỉnh Bình Phước và tỉnh Đắk Nông mới hình thành và đang trên đà phát triển mạnh;
Phía Đông giáp với sông Đồng Nai, có 2 thủy điện ĐakKar và ĐakmLo hiện đang xây dựng, trong tương lai là nguồn cung cấp điện, nước cho hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp và đời sống của người dân nơi đây
Trang 23Trong vùng có nhiều trảng cỏ rộng lớn và hồ nước nên có nhiều tiềm năng để phát triển các hoạt động dịch vụ môi trường rừng (du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng )
Với các đặc điểm nêu trên cho thấy: NLT Đồng Nai có vị trí thuận lợi trong việc phát triển về kinh tế, quốc phòng nhất là việc khai thác sử dụng đất và hòa nhập với sự phát triển kinh tế ngoài tỉnh So với các khu vực khác trong tỉnh Bình Phước, khu vực này có vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên có nhiều đặc điểm thuận lợi hơn, nên NLT Đồng Nai có nhiều tiềm năng để trở thành một đơn vị kinh tế lâm nghiệp phát triển mạnh trong tương lai
3.1.1.2 Địa hình, địa mạo
NLT Đồng Nai thuộc vùng địa mạo “cao nguyên Bà Rá” (Theo bản đồ phân vùng địa mạo Việt Nam 1/1.000.000 – Tổng cục Địa chất; năm 1979; chủ biên: TS
Lê Đức An) Đặc điểm địa mạo đơn giản, hình thái sơn văn cao nguyên bazan chiếm toàn bộ diện tích NLT Đồng Nai
Dạng địa hình chủ yếu trong địa bàn là đồi cao: địa hình có độ cao từ 200 –
300 m, độ chia cắt địa hình trung bình < 50 m;
Dạng địa hình trũng: nằm xen giữa các dạng đia hình đồi, dạng địa hình này phân bố ở rải rác nhiều nơi và có diện tích không đáng kể
Theo kết quả rà soát quy hoạch 3 loại rừng giai đoạn 2006-2010, diện tích đất quy hoạch cho lâm nghiệp của NLT Đồng Nai là 11.718 ha, trong đó: diện tích
có độ dốc cấp I (< 8o) là 4.643,6 ha; 2.524 ha đất đai có độ dốc cấp II (< 8– 15o); 2071,4 ha đất đai có độ dốc cấp III (16o – 25o); 2.479,0 ha đất đai có độ dốc cấp IV (> 25o - 35o)
Địa hình của NLT Đồng Nai với trên 50 % diện tích tương đối bằng phẳng là điều kiện rất thuận lợi cho việc đưa cơ giới vào sản xuất nông lâm nghiệp cũng như phát triển hệ thống giao thông đường bộ, ổn định dân cư
3.1.1.3 Khí hậu
Điều kiện khí hậu của NLT Đồng Nai nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, có nền nhiệt cao đều quanh năm, ít gió bão và không có mùa đông lạnh Khí hậu huyện Bù Đăng nói chung và NLT Đồng Nai nói riêng mang đặc thù khí hậu nhiệt đới gió mùa không đồng nhất với các đặc điểm sau:
Trang 24 Khí hậu có tính biến động rất cao do hệ quả của phức hệ gió mùa và quan hệ tương tác với cảnh quan địa hình
Diễn thế khí hậu quan hệ với động lực gió mùa
Nhiệt độ bình quân trong năm khoảng 26,20C Nhiệt độ trung bình tối cao không quá 280 C và nhiệt độ trung bình tối thấp không dưới 240 C
Tổng giờ nằng trong năm trung bình 2.474 giờ Số giờ nắng bình quân trong ngày 6,2 – 6,6 giờ Thời gian nắng dài nhất trong tháng 261 giờ và ngắn nhất
là 137 giờ
Lượng mưa bình quân trong năm tương đối cao (2.700 mm), nhưng phân hóa theo mùa, tạo ra hai mùa rất trái ngược nhau: Mùa khô kéo dài trong 06 tháng từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa rất thấp chỉ chiếm khoảng
10 – 15 % lượng mưa cả năm Mùa mưa kéo dài trong 06 tháng từ tháng 5 đến tháng 11, mưa rất tập trung, lượng mưa trong 06 tháng mùa mưa chiến
85 – 90 % tổng lượng mưa cả năm, chỉ riêng 04 tháng mưa lớn nhất, lượng mưa đã chiếm 62 – 63 % lượng mưa cả năm
Lượng mưa phân hóa theo mùa đã chi phối mạnh mẽ đến sản xuất nông nghiệp Mùa mưa cây cối phát triển rất tốt và là mùa sản xuất chính, ngược lại mùa khô, cây cối khô cằn phát triển rất kém
3.1.1.4 Thủy văn
Nước mặt:
Trên vùng dự án có 1 con sông lớn chảy qua là sông Đồng Nai, dài 45 km nằm ở phía Đông Theo số liệu của Phân viện Khảo sát Quy hoạch Thủy lợi Nam Bộ,(năm 2004), các chỉ số đặc trưng của hệ thống sông Đồng Nai đi qua tỉnh Bình Phước như sau: Diện tích lưu vực: 620 km2; Mô đun dòng chảy bình quân: 0,8 l/s.km2; Lưu lượng nước bình quân: 19,1 m3/s; Tổng lượng nước đến bình quân: 602,1 triệu m3
Ngoài ra, trong khu vực còn có hệ thống các nhánh sông, suối khá cao như
Da Tơi, Da Dang, Da R’Lou, Da Tiam, Da ú Trong lâm phần có các suối Da Nao,
Da M’Lo, Da Bo Tuy nhiên hệ thống sông suối trong vùng phần lớn có lòng sông hẹp, dốc, có nguy cơ tạo lũ lớn lơn trong mùa mưa và kiệt nước trong mùa khô Khả
Trang 25năng cung cấp nước cũng như bồi đắp phù sa rất ít Để sử dụng nguồn nước này cho sản xuất 1 cách bền vững thì cần có những đầu tư lớn vào các công trình thủy lợi
Do nguồn nước mặt trong vùng dự án rất hạn chế, chỉ đáp ứng một phần nhỏ nhu cầu về nước cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của nhân dân Vì vậy, ngành trồng trọt phải tập trung phát triển cây lâu năm chịu hạn, ít dùng nước; bố trí mùa vụ hợp lý để tận dụng nguồn nước mưa
Nước ngầm:
Theo tài liệu và bản đồ địa chất thủy văn tỷ lệ 1/100.000 (Đoàn Địa chất 801, Liên đoàn Địa chất – Thủy văn 8, năm 1994; chủ biên: KS Trần Hồng Lĩnh), khu vực NLT Đồng Nai có các đặc điểm về nước ngầm như sau:
Tầng chứa nước chính là Bazan Pleistoxen (Bpq) và Đệ tứ (Q); mức chứa nước nghèo đến trung bình, lưu lượng nước 5 – 20 l/s; thuộc loại nước nhạt Clorua – bicacrbonat; Sulfat – clorua; độ khoáng hoá M = 0,1 – 0,2 g/l; có thể sử dụng tốt trong sinh hoạt; độ sâu nước ngầm 10 – 25m
Tại những nơi có địa hình cao, việc sử dụng nước ngầm cho tưới cây trồng gặp nhiều khó khăn do mức nước ngầm sâu, do đó nước tưới chủ yếu dựa vào nguồn nước mặt do mưa và hệ thống suối cung cấp
3.1.1.5 Tài nguyên đất
Bản đồ đơn vị đất đai được xây dựng trên cơ sở bản đồ đất tỉnh Bình Phước của “Chương trình Điều tra bổ sung, chỉnh lý, xây dựng bản đồ đất phục vụ công tác quy hoạch nông - lâm - thủy lợi cấp tỉnh vùng Đông Nam Bộ” do Phân viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp xây dựng năm 2003
Hệ thống phân loại được sử dụng là hệ thống phân loại đất Việt Nam 1984,
có vận dụng một số tiêu chuẩn chuẩn đoán đất trong phân loại đất quốc tế đã được công bố qua các tài liệu của FAO/UNESCO/ISRIC 1988, 1990, 1993, 1994
Kết quả điều tra, xây dựng bản đồ đơn vị đất NLT Đồng Nai (tỷ lệ 1/25.000) cho thấy trong khu vực có một nhóm đất với 2 loại đất khác nhau Diện tích của các loại đất như thống kê tại bảng sau:
Trang 26Bảng 3.1: Diện tích các loại đất tại khu vực nghiên cứu
Loại đất Diện tích
I Nhóm đất đỏ vàng Ferralsols 11.596,5 99,0
1 Đất nâu đỏ trên đá bazan (Fk) Rhodi - Acric Ferralsols 5.824,8 49,7
2 Đất đỏ vàng trên đá phiến (Fs) Skeleti - Chromic Acricsols 5.771,7 49,3
WRB*: Cơ sở tham chiếu tài nguyên đất thế giới, ISS/FAO/UNESCO, 1998
(Nguồn: Phân viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp phía Nam)
Kết quả đánh giá tiềm năng đất đai của bao gồm các sản phẩm: bản đồ dạng
đất tỷ lệ 1/25.000 và tài liệu đánh giá khả năng thích nghi đất đai cùng với các tài
liệu đánh giá, mô tả về đặc tính thổ nhưỡng cho thấy tiềm năng về đất của NLT
Đồng Nai là rất lớn đối với việc phát triển sản xuất nông - lâm nghiệp
Đặc điểm của các loại đất trong NLT Đồng Nai như sau:
Nhóm nâu đỏ trên đá bazan:
Tổng diện tích nâu đỏ trên đá bazan (Fk) 5.824,8 ha (chiếm 49,7 %), loại đất
này phân bố ở hầu hết trong loại rừng sản xuất trên tất cả các tiểu khu thuộc các xã
Đồng Nai, Thọ Sơn và Phú Sơn
Đất nâu đỏ trên đá bazan có thành phần cơ giới nặng đến rất nặng, đất Fk
giàu Al, quá trình tích lũy mùn mạnh, tầng đất dày, cấu tượng viên, đất tơi xốp Đất
có nhiều kết von ở tầng mặt và tăng lên ở độ sâu 70-100 cm Kích thước kết von từ
0,2 – 0,7 cm, kết von không gắn kết Độ phì nhiêu của đất cao Tầng mặt có hàm
lượng mùn 2 – 4 %, đạm, lân đều giàu (N: 0,17 – 0,19 %; P2O5: 0,13 – 0,15 %),
nghèo K, đất chua pH KCL < 5 Thành phần cơ giới nặng, tỷ lệ sét là 50 %
Hướng sử dụng đất Fk: đây là các loại đất tốt hiện được sử dụng trồng cây
lâu năm, hoa màu và trồng rừng Các khu vực đất có tầng trung bình có thể trồng
cây hàng năm và trồng rừng cây lấy gỗ và các lâm sản khác
Trang 27Theo kết quả rà soát quy hoạch 3 loại rừng tỉnh Bình Phước giai đoạn
2006-2010, đất quy hoạch cho lâm nghiệp của NLT Đồng Nai phân bố tại 16 tiểu khu rừng với diện tích là 11.718 ha (số liệu chi tiết thể hiện ở bảng 3.2), toàn bộ diện tích đất lâm nghiệp NLT Đồng Nai thuộc đối tượng rừng phòng hộ và rừng sản xuất
Bảng 3.2: Diện tích các loại đất loại rừng
TT Loại đất loại rừng Tỷ lệ
(%)
Diện tích(ha)
Phân theo 3 loại rừng RĐD RPH RSX Tổng diện tích tự nhiên 100,0 11.718,0 3.151,0 8.567,0
1 Đất có rừng 69,0 8.083,3 2.044,6 6.038,7 1.1 Rừng tự nhiên 68,2 7.995,2 2.044,6 5.950,6 1.1.1 Rừng gỗ thường xanh 49,0 5.746,6 1.111,9 4.634,7 1.1.2 Rừng hỗn giao gỗ - lồ ô 7,3 850,7 65,0 785,7
1.1.3 Rừng lồ ô thuần loại 11,9 1.397,9 867,7 530,2
2 Đất chưa có rừng 31,0 3.634,7 1.106,4 2.528,3 2.1 Đất trống 16,4 1.925,2 877,4 1.047,8 2.2 Đất SX nông nghiệp 14,5 1.693,9 229,0 1.464,9
(Nguồn: Kết quả rà soát 3 loại rừng tỉnh Bình Phước giai đoạn 2006 – 2010)
Trang 283.1.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội
3.1.2.1 Đặc điểm dân cư
NLT Đồng Nai nằm trên địa bàn 5 xã Phú Sơn, Thọ Sơn, Đồng Nai, Đoàn
Kết và Phước Sơn, số liệu được thể hiện ở bảng 2.3 Sau khi rà soát 3 loại rừng
phần lớn diện tích lâm phần mà dân cư sinh sống đã được điều chỉnh ra khỏi đất lâm
nghiệp, hiện tại chỉ còn một phần nhỏ dân cư sống tại tiểu khu 184, 202, 204 và rải
rác tại tiểu khu 185, 190
Bảng 3.3: Tình hình phân bố dân cư theo xã
Đơn vị hành chính Diện tích tự
nhiên (km2)
Dân số (người)
Mật độ DS (người/km2)
( Nguồn: Kết quả thu thập tình hình kinh tế xã hội tại 5 xã tháng 11 năm 2009)
Thành phần dân tộc cư trú trong vùng gồm nhiều dân tộc, trong đó nhiều
nhất là người Kinh và S’Tiêng; Người Tày, M’nông, H’mông, Nùng, Dao…di cư từ
miền Bắc vào định cư, làm ăn sinh sống trong lâm phần NLT
Người S’Tiêng là dân bản địa sống lâu đời tại đây, các hộ này đã chuyển từ
phát nương làm rẫy, sống du canh du cư sang sống định canh định cư, ổn định sản
xuất, gây trồng các loại cây có giá trị kinh tế cao như điều, cà phê, cao su Người
STiêng có quá trình hình thành và phát triển lâu đời và còn lưu giữ nhiều truyền
thống văn hoá đặc trưng mang đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc Đa số lao động làm
nông nghiệp, một số lao động còn lại hoạt động trong các lĩnh vực thương mại, dịch
vụ và phi nông nghiệp
3.1.2.2 Sản xuất nông – lâm nghiệp
Nông nghiệp
Trang 29Nông nghiệp là ngành sản xuất chủ yếu ở của các xã trên địa bàn NLT Đồng Nai, tiềm năng đất đai ở đây được khai thác tốt, cơ cấu cây trồng vật nuôi từng bước được chuyển dịch hợp lý, phù hợp với thổ nhưỡng, thị trường và khả năng đầu tư của người lao động
Ngành trồng trọt: Tập trung vào các cây trồng chính là điều, cao su, các loài cây lâu năm và cây ăn quả, nhưng chủ yếu mới mở rộng thêm diện tích, chưa chú ý đến thâm canh, tăng vụ tăng năng suất Diện tích trồng trọt đến năm 2009 là chính với diện tích là 14.004 ha Trong đó, diện tích trồng cây hàng năm là 982 ha, các loài cây được trồng gồm: mì, bắp Năng xuất các loại lương thực đều thấp, mì đạt
15 tấn/ha, bắp đạt 2,5 tấn/ha
Cây lâu năm chủ yếu là điều, cao su một số diện tích trồng tiêu, cà phê và cây ăn trái Năng xuất điều không ổn định, trung bình đạt 1,2 tấn/ha Phần lớn diện tích cao su mới trồng 1 – 5 tuổi, chưa cho thu hoạch, một số ít diện tích cao su đang khai thác cho năng xuất trung bình 1,5 tấn/ha/năm
Về chăn nuôi: Vật nuôi trên địa bàn gồm trâu, bò (4.885 con), lợn (4.823 con), gia cầm (45.477 con) Ngoài ra có một số hộ nuôi dê với số lượng không đáng kể
Lâm nghiệp
Theo kết quả thống kê tại biên bản bàn giao Ban quản lý rừng phòng hộ Đồng Nai về Công ty Cao su Phú Riềng thì tình hình sử dụng diện tích rừng và đất lâm nghiệp dưới các mô hình, dự án như sau:
Thực hiện liên doanh liên kết và chuyển giao cho thuê đất với các doanh nghiệp, cá nhân để cải tạo rừng nghèo, rừng bị tác động nặng theo chủ trương của UBND tỉnh là 11 dự án với diện tích là 2.618,8 ha
Diện tích trồng rừng bằng vốn ngân sách và vốn giao khoán là 683,1 ha
Diện tích rừng tự nhiên giao khoán cho tập thể, công ty là 327,7 ha
Diện tích quy hoạch cho dự án ổn định dân cư tự do, dự án định canh định cư theo Quyết định số 33/2007/TTg là 412,2 ha
Diện tích thu hồi giao về địa phương để chuyển mục đích sử dụng đất lâm nghiệp thực hiện Chương trình 134 là 139,1 ha
Chuyển chủ quản lý giao cho Công ty Vynaphyghen là 671,1 ha
Trang 303.2 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, những nội dung được thực hiện trong đề tài bao gồm:
- Xác định tổ thành loài thực vật trạng thái IIB
- Xác định độ hỗn giao của rừng
- Xác lập quy luật phân bố số cây theo cấp đường kính D1,3
- Xác lập quy luật phân bố số cây theo cấp chiều cao Hvn
- Xác lập quy luật tương quan giữa chiều cao Hvn và đường kính D1,3
- Xác lập quy luật phân bố trữ lượng M theo cấp đường kính D1,3
- Đánh giá tình hình tái snh dưới tán rừng
- Xác định độ tàn che của rừng (qua vẽ trắc đồ David và Richards)
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Cơ sở phương pháp luận
Dựa trên nội dung nghiên cứu đã đưa ra, phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn là khảo sát khu vực nghiên cứu, điều tra, quan sát và thu thập
số liệu ở thực địa, kế thừa những tài liệu và số liệu có sẵn liên quan đến khu vực nghiên cứu, thu thập số liệu tại các ô mẫu và phân tích những hiện tượng thấy được tại địa điểm nghiên cứu Trên cơ sở đó tổng hợp và rút ra những nhận định chung về một số đặc điểm và cấu trúc của rừng tự nhiên trạng thái IIB, qua đó đề xuất ra những biện pháp kỹ thuật lâm sinh cho phù hợp với tình hình thực tế của rừng tại khu vực nghiên cứu
3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu
Trong quá trình thực hiện khóa luận, tác giả đã sử dụng nhiều phương pháp thu thập số liệu như: Phương pháp điều tra và kế thừa những tài liệu có sẵn (điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế xã hội, bản đồ trạng thái, )
Áp dụng các quy trình điều tra trong công tác ngoại nghiệp để điều tra trên các
ô mẫu điển hình (Giáo trình Điều tra rừng của TS Giang Văn Thắng, Bộ môn quản
lý tài nguyên rừng, khoa Lâm Nghiệp, trường đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh) Cụ thể, đề tài đã tiến hành lập 5 ô điều tra tạm thời theo phương pháp điều tra lâm học, diện tích mỗi ô là 1000 m2 (40 m x 25 m) Số lượng ô mẫu cho trạng thái này là 5 ô
Trang 31+ Đo đếm cây gỗ lớn:
- Tên cây: Xác định đến loài chưa rõ tên thì ghi theo kí hiệu sp1, sp2, …
- Đường kính ngang ngực (D1,3, cm) được đo bằng thước mét dây và ghi số hiệu cây ở vị trí 1,3 m (vị trí ngang ngực) Đo toàn bộ cây đứng có đường kính D1,3
8 cm
- Chiều cao vút ngọn (Hvn, m) và chiều cao dưới cành (Hdc, m) được đo bằng sào kết hợp với mục trắc Chiều cao vút ngọn (Hvn) của cây rừng được xác định từ gốc cây lên đến đỉnh sinh trưởng của cây Chiều cao dưới cành (Hdc) của cây được xác định từ gốc cây đến cụm cành đầu tiên tham gia vào tán của cây rừng
- Đường kính tán lá (DT, m) được đo bằng thước mét dây Đo hình chiếu tán lá theo 2 hướng Đông Tây - Nam Bắc, sau đó tính trị số bình quân
- Phẩm chất cây: phẩm chất cây phân theo loại a, b, c và ghi chú tình hình dây leo ảnh hưởng trực tiếp đến cây đứng
Loại a: Cây thân thẳng, phát triển tốt, tán cân đối, không có hiện tượng sâu bệnh, cụt ngọn, hai thân
Loại b: Thân cong, phát triển trung bình, tán mất cân đối, không có hiện tượng sam bọng, sâu non
Loại c: Thân cong queo, phát triển kém, cụt ngọn, có từ hai thân trở lên, có hiện tượng sam bọng, sâu bệnh
+ Đo đếm cây tái sinh:
Trong ô điều tra 1000 m2, tiến hành lập 4 ô dạng bản ở bốn góc của ô điều tra, diện tích của mỗi ô dạng bản là 25 m2 (5 m x 5 m)
Nội dung điều tra trong ô dạng bản bao gồm: Xác định tên cây, chiều cao, chất lượng cây
- Đo chiều cao theo 3 cấp: cấp I (< 1 m), cấp II (1 – 3 m), cấp III (> 3 m)
- Xác định mật độ cây tái sinh, thành phần loài cây tái sinh
- Chất lượng cây tái sinh được phân theo 2 cấp: Khỏe, yếu
- Số liệu điều tra được ghi vào biểu riêng cho từng ô điều tra và ô dạng bản + Xác định độ tàn che:
Sử dụng phương pháp vẽ trắc đồ của David và Richards, biểu diễn trên giấy
Trang 32các yếu tố đã xác định để vẽ như: tọa độ đã đo ở mỗi ô điều tra, chiều cao vút ngọn, chiều cao dưới cành, đường kính ngang ngực, đường kính tán (Đông Tây và Nam Bắc), tọa độ của từng cây Sau đó tính diện tích tán che trên giấy kẻ ly theo tỷ lệ %
3.3.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Sau khi có được số liệu thô từ các phương pháp điều tra, nhập vào máy tính để
xử lý thông qua hai phần mềm chủ yếu là Excel và Statgraphics Plus 3.0 dưới sự hướng dẫn của thầy Nguyễn Minh Cảnh
Các nhân tố điều tra, đo đếm trong ô tiêu chuẩn được tổng hợp, xử lý và tính toán bao gồm:
+ Tính tổ thành loài (IV %) trạng thái rừng IIB
+ Tính các đặc trưng mẫu: D1,3 bình quân, Hvn bình quân, N/ha bình quân, trữ lượng bình quân, …
+ Xác lập phân bố số cây theo cấp đương kính (N/D1,3), phân bố số cây theo chiều cao (N/Hvn), phân bố trữ lượng theo cấp đường kính (M/D1,3), tương quan giữa chiều cao vút ngọn và đường kính D1,3, …
+ Đánh giá tình hình tái sinh của loài cây dưới tán rừng
+ Vẽ trắc đồ cho trạng thái rừng IIB tại khu vực nghiên cứu, tính độ tàn che
G % là tỷ lệ phần trăm của tiết diện ngang
G loài (3.3)
Trang 33Trong đó: G loài là tổng diện ngang của loài
G là tổng diện ngang của lâm phần
Theo Danied Marmillod, những loài cây có IV 5 % mới thực sự có ý nghĩa
về mặt sinh thái trong lâm phần Theo Thái Văn Trừng (1978), trong một lâm phần nhóm loài cây nào đó > 50 % tổng số cá thể của tầng cây cao thì nhóm loài đó được coi là nhóm loài ưu thế Cần tính tổng IV % của những loài có trị số lớn hơn 5 %, xếp từ cao xuống thấp và dừng lại khi tổng IV % đạt 50 %
S là diện tích ô tiêu chuẩn (m2)
Khi X = N K = 1 : Rừng thuần loại
Khi X < N 0 < K < 1 : Rừng hỗn loài có loài hỗn giao
0 < K < 0,5 : Rừng hỗn loại có độ hỗn giao thấp 0,5 < K < 1 : Rừng hỗn loại có độ hỗn giao cao
Tính tiết diện ngang (G, m2/cây) và thể tích thân cây (V, m3/cây)
+ Tiết diện ngang của các cây trong ô tiêu chuẩn được tính theo công thức:
2 3 , 1
4 D
G (3.6)
+ Thể tích thân cây đứng được tính theo công thức:
3 , 1
2 3 , 1
(với f1,3 = 0,45) (3.7)
Trang 34Kết hợp quan trắc và phẫu đồ ngang để xác định tỷ lệ che phủ (%) hình chiếu tán cây rừng so với bề mặt đất rừng thông qua các phẫu đồ rừng theo phương pháp của David và Richards (1934)
Tính tổ thành loài cây tái sinh
+ Số cây trung bình theo loài được xác định dựa vào công thức:
m
n n
m i i
/ (3.9) Trong đó: Sodb là tổng diện tích các ô dạng bản điều tra cây tái sinh (m2)
n là số lượng cây tái sinh điều tra được
Cụ thể, tổng diện tích các ô dạng bản điều tra cây tái sinh là: 300 m2 (25 m2/1 ô dạng bản * 4 ô dạng bản /1 ô tiêu chuẩn * 3 ô tiêu chuẩn) (Ghi chú: đề tài chỉ điều tra tái sinh trong 3/5 ô tiêu chuẩn 1000 m2)
Xác định các phân bố
+ Phân bố số cây theo cấp đường kính
+ Phân bố số cây theo cấp chiều cao
+ Phân bố trữ lượng theo cấp đường kính
Để hoàn thành được những nội dung nghiên cứu về quy luật phân bố số cây theo các chỉ tiêu D1,3, Hvn, luận văn đã sử dụng công thức tham khảo của Brooks
và Caruther và tập hợp số liệu theo hình thức chia tổ sau:
- Số tổ: m = 5 * log(n) hay m = 3,3 * log(n) + 1
n là số cây đo đếm được (dung lượng mẫu)
Trang 35k là cự ly tổ
Xmax là trị số lớn nhất
Xmin là trị số nhỏ nhất Biểu đồ phân bố thực nghiệm được lập dựa trên giá trị giữa tổ và tần suất
1 2
f S
i i i
m i
2003 hoặc Statgraphics Plus 3.0 Sau đó dựa vào đường phân bố thực nghiệm, lựa
chọn các hàm toán học (hàm lý thuyết) phù hợp để mô phỏng các quy luật phân bố
N/D1,3, N/H, H/D1,3, …
Đề tài đã sử dụng chủ yếu các hàm toán học đã được thiết lập sẵn trên phần
mềm Statgraphics Plus 3.0 Thử nghiệm lần lượt các hàm, so sánh để chọn được
hàm phù hợp nhất căn cứ vào hệ số tương quan (lớn nhất), sai số phương trình (nhỏ
nhất), phù hợp với đặc tính sinh học và quy luật của đối tượng nghiên cứu và những
phương trình toán học trên dễ vận dụng ngoài thực tế và áp dụng tính toán không
quá phức tạp
Trang 36 Kiểm tra tính phù hợp của một phân bố
Kiểm tra sự phù hợp của một dạng phân bố (test for goodness of fit) là kiểm tra một phân bố thực nghiêm có “lắp” được vào một phân bố lý thuyết xác định trước hay không Phương pháp kiểm tra là sử dụng trắc nghiệm khi bình phương (2) trên cơ sở xem xét mức độ chênh lệch giữa tần số quan sát và tần số lý thuyết của một phân bố Các bước trình tự thực hiện như sau:
Đặt giả thuyết H0: f(x) = f0(x), trong đó f0(x) là một hàm phân bố lý thuyết đã xác định, nghĩa là không có sự khác nhau giữa phân bố thực nghiệm và phân bố lý thuyết
Để kiểm tra giả thuyết H0, đề tài đã sử dụng công thức của Pearson:
So sánh giá trị 2 tính với 2 bảng ứng với mức ý nghĩa ( = 0,05) và độ tự
do df = m – p – 1 (m là số tổ sau khi gộp, p là số tham số của phân bố cần kiểm tra) Chấp nhận H0 nếu 2tính 2 bảng hoặc bác bỏ nếu 2 tính 2 bảng
Tương quan giữa chiều cao vút ngọn (Hvn) và đường kính ngang ngực (D1,3) Phân tích tương quan giữa Hvn và D1,3 là đề cập đến cường độ của mối quan
hệ giữa H1,3 và D1,3, dựa vào phương trình toán học để đánh giá xem hai nhân tố Hvn
và D1,3 có mối quan hệ ở mức độ nào
Áp dụng phương pháp phân tích hồi quy và tương quan để mô hình hóa một đường hồi quy thực nghiệm theo một dạng toán học nào đó Việc chọn một hàm lý thuyết thích hợp nhất ngoài căn cứ vào các thông số thống kê có được từ các phương trình xây dựng, kiểm tra sự tồn tại của các tham số phương trình, kiểm tra
sự tồn tại của các hàm hồi quy (logic toán học), còn phải căn cứ vào tính phù hợp với quy luật sinh trưởng và phát triển của rừng (logic sinh học)
Phương pháp để thiết kế một mô hình hồi quy tương quan là:
Thử nghiệm một số dạng phương trình toán học để đưa ra phương trình toán học phù hợp
Trang 37 Xác định hệ số tương quan (r)
Dấu của r biểu thị chiều hướng thay đổi của biến này có quan hệ tới biến kia
Cụ thể r mang dấu (+) quan hệ giữa hai biến là tỷ lệ thuận (cả hai biến cùng tăng hoặc cùng giảm), còn nếu r mang dấu (-) thì quan hệ giữa hai biến sẽ là tỷ lệ nghịch (biến này tăng thì biến kia giảm và ngược lại) Giá trị r được đánh giá như sau:
r = 0: Không có tương quan
0 < r 0,3: Tương quan yếu
0,3 < r 0,5: Tương quan vừa phải
Trong đó: r là hệ số tương quan
n là dung lượng mẫu
Nếu t tính > t bảng thì r tồn tại là có ý nghĩa và nếu t tính < t bảng thì r tồn tài
không có ý nghĩa Thông thường chỉ kiểm tra ý nghĩa khi r khá nhỏ ( r < 0,25)
mà thôi
Nếu kết quả cho hệ số tương quan tồn tại có ý nghĩa thì ta kết luận rằng mô hình thật sự tồn tại mối tương quan
Kiểm tra sự tồn tại của các tham số phương trình
Kiểm tra sự tồn tại của phương trình (hàm hồi quy) bằng trắc nghiệm F thông qua việc so sánh trị số Ftính = MShồi quy /MSsai số với trị số Fbảng với hai bậc tự do df1 =
1 và df2 = n – 2
Trang 38Nếu Ftính > Fbảng thì giả thuyết H0 bị bác bỏ (với H0 là giả thuyết không tồn tại hàm hồi quy) Nếu Ftính < Fbảng thì giả thuyết H0 được chấp nhận, nghĩa là hàm hồi quy không tồn tại thật sự
Kiểm tra tính phù hợp của một phân bố bằng tiêu chuẩn 2
Kiểm tra giả thuyết về dạng liên hệ (chọn phương trình thích hợp) dựa vào trắc nghiệm Khi bình phương (2) Nếu 2
tính < 2
bảng (ứng với xác suất p > 0,05) thì hàm lý thuyết được chọn là phù hợp Điều kiện để thực hiện kiểm tra này là tần số
lý thuyết trong mỗi lớp phải lớn 5 và số dung lượng mẫu cho quan sát phải lớn hơn
50 để áp dụng được công thức (3.18)
Trang 39Trong hệ sinh thái rừng tự nhiên nhiệt đới, thành phần thực vật (tổ thành loài) hết sức đa dạng và phong phú Sự phong phú và đa dạng của hệ thực vật được quyết định bởi các đặc điểm của khu hệ thực vật và sự thích ứng của loài cây với điều kiện lập địa nơi chúng sinh sống Trong thực tế, chúng ta có thể bắt gặp hằng trăm loài cây cùng sinh sống trong một không gian nhất định, thậm chí một vài hecta Mặt khác, một số loài rất ít bắt gặp ở nơi này nhưng lại có thể rất phong phú
ở một nơi khác Sự pha trộn một cách ngẫu nhiên có trong tự nhiên khó cho chúng
ta nhận ra được ranh giới giữa chúng một cách rõ ràng
Mục đích của việc nghiên cứu tổ thành loài thực vật nhằm chỉ ra những loài nào đang tồn tại ở những nơi chúng sinh sống, vị trí phân bố của chúng trong không gian cũng như các loài cây khác đi kèm với chúng Từ đó xem xét loài nào có vai trò quan trọng và sự đóng góp của chúng trong sự hình thành trạng thái rừng
Rừng có thành phần hệ thực vật khác nhau dẫn đến sự khác biệt tương ứng
về các đặc trưng về cấu trúc khác của rừng Nghiên cứu tổ thành loài thực vật rừng được xem là công việc quan trọng đầu tiên trong việc nghiên cứu cấu trúc rừng nhằm đề xuất một số biện pháp kinh doanh rừng phù hợp
Đề tài sử dụng chỉ số IV% (Important Value) để biểu thị công thức tổ thành tầng cây gỗ cho rừng tự nhiên trạng thái IIB tại khu vực nghiên cứu Từ những số
Trang 40liệu điều tra và thu thập ở 3 ô tiêu chuẩn được tổng hợp và tính toán theo công thức
tính tổ thành loài đã đã trình bày rõ ở mục 3.3.3 Kết quả về tổ thành các loài cây
chủ yếu được trình bày ở bảng 4.1 và hình 4.1 dưới đây:
Bảng 4.1: Tổ thành loài thực vật trạng thái IIB tại khu vực nghiên cứu
6.785.99
5.94
33.40
Trâm Giẻ Dền Còng Trường Côm Chò chỉ Loài khác
Hình 4.1: Biểu đồ thống kê tổ thành loài thực vật trạng thái IIB
tại khu vực nghiên cứu