1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH BỆNH GỈ SẮT TRÊN GIỐNG CÀ PHÊ VỐI GIAI ĐOẠN KINH DOANH VÀ KHẢO SÁT HIỆU QUẢ TRỊ BỆNH CỦA MỘT SỐ LOẠI THUỐC HÓA HỌC TẠI HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI

62 181 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH BỆNH GỈ SẮT TRÊN GIỐNG CÀ PHÊ VỐI GIAI ĐOẠN KINH DOANH VÀ KHẢO SÁT HIỆU QUẢ TRỊ BỆNH CỦA MỘT SỐ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH BỆNH GỈ SẮT TRÊN GIỐNG

CÀ PHÊ VỐI GIAI ĐOẠN KINH DOANH VÀ KHẢO SÁT HIỆU QUẢ TRỊ BỆNH CỦA MỘT SỐ LOẠI THUỐC HÓA HỌC TẠI HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI

Sinh viên thực hiện: NÔNG THỊ KIM Ngành: NÔNG HỌC

Lớp: DH06NHGL Niên khóa: 2006 – 2010

Tháng 08/2010

Trang 2

ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH BỆNH GỈ SẮT TRÊN GIỐNG

CÀ PHÊ VỐI GIAI ĐOẠN KINH DOANH VÀ KHẢO SÁT HIỆU QUẢ TRỊ BỆNH CỦA MỘT SỐ LOẠI THUỐC HÓA HỌC TẠI HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI

Tác giả

NÔNG THỊ KIM

Khóa luận được đệ trình để hoàn thành yêu cầu

cấp bằng kỹ sư ngành Nông học

Giáo viên hướng dẫn Th.S VÕ THỊ THU OANH

Tháng 08 năm 2010

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành gởi lời cảm ơn đến:

- Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm Khoa Nông học, quý Thầy Cô giáo trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh đã giúp đỡ, truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập tại trường

- Cô Võ Thị Thu Oanh đã tận tình trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện và hoàn thiện luận văn này

- Ban lãnh đạo, các cô chú và các anh chị và trạm Bảo vệ Thực vật huyện Ia Grai

đã tạo điều kiện giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện đề tài

- Gia đình, tập thể lớp ĐH06NHGL đã góp ý, động viên tôi trong thời gian học tập cũng như trong thời gian làm đề tài

Sinh viên

Nông Thị Kim

Trang 4

TÓM TẮT

Đề tài “Điều tra tình hình bệnh gỉ sắt trên giống cà phê vối giai đoạn kinh doanh và khảo sát hiệu quả trị bệnh của một số loại thuốc hóa học tại huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai” nhằm tìm hiểu tình hình nhiễm bệnh gỉ sắt trên giống cà phê vối giai đoạn kinh doanh tại các xã trồng cà phê phổ biến của huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai Đồng thời đánh giá hiệu quả của 5 loại thuốc hóa học trong việc trị bệnh gỉ sắt cà phê

để chọn ra loại thuốc có hiệu quả cao và kinh tế nhất Kết quả thu được như sau:

Tình hình bệnh gỉ sắt trên cây cà phê vối giai đoạn kinh doanh:

- - Qua 4 tháng ghi nhận tại 7 điểm điều tra cho thấy bệnh cao nhất vào tháng 6 với TLB (%) trung bình 12,37 %, thấp nhất vào tháng 5 với 10,07 % CSB (%) trung bình cao nhất vào tháng 3 với 4,49 % và thấp nhất vào tháng 5 với 3,42 %

- Các vườn cà phê được điều tra tại các điểm thì những vườn cà phê trồng càng lâu năm thì tỷ lệ nhiễm bệnh càng cao và mức độ càng nặng Cao nhất là giai đoạn cây

> 22 năm tuổi với TLB là 16,52 %, CSB 7,48 %

- Trong 5 loại thuốc hóa học phòng trị bệnh rỉ sắt thì thuốc Tilt super 300 EC

có hiệu lực cao nhất đạt 66,02 %, tiếp đến là Encoleton 25 WP 54,18 %, kế tiếp là Anvil 5 SC 40,38%, Viben C 50 BTN 22,33 % và Copforce Blue 51 WP chỉ có tác dụng khống chế bệnh và hiệu quả không cao, đạt 12,46 % Các NTXLT đều có hiệu quả cao hơn so với NT đối chứng

- Thuốc Tilt Super 300 EC có hiệu quả trị bệnh gỉ sắt cao nhất với mức chi phí phù hợp

Trang 5

MỤC LỤC Trang

Trang tựa i

Lời cảm tạ ii

Tóm tắt iii

Mục lục iv

Danh sách các từ viết tắt vi

Danh sách các bảng vii

Danh sách các hình viii

Danh sách các biểu đ ix

Tên khoa học: Jasminum arabicaum Giới: Plantae Bộ: Gentianales Họ: Rubiaceae

Chi: Coffea Loài: Eucofea K.Schum, Agrocofea Pierre, Mascarocoffea, Paracoffea

2.1.3 Khái quát về giống cà phê vối (Coffea canephora Pierre) 5

Trang 6

2.1.4.1 Tình hình sản xuất và xuất khẩu cà phê trên thế giới 5

2.4.2 Tình hình sản xuất cà phê vối tại huyện Ia Grai – Gia Lai 16

2.4 Khái quát về đặc tính của một số loại thuốc hóa học dùng trong thí nghiệm 18

Trang 7

3.1.1 Điều tra tình hình nhiễm bệnh gỉ sắt cà phê vối giai đoạn kinh doanh từ tháng 3

đến tháng 7 năm 2010 tại huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai 21

3.3.2 Khảo sát hiệu lực của một loại thuốc hóa học trên vườn cà phê vối 16 năm 21

4.1 Điều tra tình hình bệnh gỉ sắt cà phê vối giai đoạn kinh doanh 24

4.1.2 Điều tra ảnh hưởng của giai đoạn sinh trưởng cây cà phê đến bệnh gỉ sắt 25

4.2 Khảo sát hiệu quả trị bệnh gỉ sắt của một số loại thuốc hóa học trên vườn cà phê

Trang 8

5 GSVTP : Giảm so với trước phun

6 GĐST : Giai đoạn sinh trưởng

Bảng 2.3: Thời gian tiềm dục và phát triển của nấm gỉ sắt trên 2 giống 11

Bảng 2.4: Thời gian tiềm dục và phát triển của nấm gỉ sắt trên các dòng vô tính cà phê

Trang 9

Bảng 2.5: Tình hình sản xuất cà phê từ năm 2005 – 2009 tại Ia Grai 16

Bảng 2.6: Diện tích, năng suất, sản lượng, kinh doanh tại huyện Ia Grai 16

Bảng 2.7: Các loại bệnh phổ biến trên cây cà phê vối 17

Bảng 2.8: Tình hình bệnh gỉ sắt cà phê vối từ năm 2005 – 2009 tại huyện Ia Grai 17

Bảng 3.1: Các loại thuốc thí nghiệm và liều lượng sử dụng 20

Bảng 4.1: Diễn biến tỷ lệ bệnh (%) qua 4 tháng tại 7 điểm điều tra 24

Bảng 4.2: Diễn biến chỉ sô bệnh (%) qua 4 tháng tại 7 điểm điều tra 25

Bảng 4.3: Ảnh hưởng của giai đoạn sinh trưởng đến % TLB, % CSB 25

Bảng 4.4: Ảnh hưởng của các loại thuốc thí nghiệm đến (%) TLB gỉ sắt qua 3 lần

Bảng 4.5: Ảnh hưởng của các loại thuốc hóa học đến % CSB gỉ sắt qua 3 lần xử lý 27

Bảng 4.6: Số lượng vết bệnh qua 3 lần xử lý thuốc 28

Bảng 4.7: Số lượng bệnh tử qua 3 lần xử lý thuốc 29

Bảng 4.8: Hiệu lực một số loại thuốc thí nghiệm đối với bệnh gỉ sắt qua 3 lần xử lý 30

Bảng 4.9: Lượng toán chi phí cho 3 lấn xử lý thuốc trong thí nghiệm và xử lý cho

Trang 10

DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ

Đồ thị 4.1 Lượng vết bệnh qua 3 lần xử lý Error! Bookmark not defined

Đồ thị 4.2 Số lượng bệnh tử qua 3 lần xử lý thuốc Error! Bookmark not defined

Đồ thị 4.1 Hiệu quả trị bệnh của 5 loại thuốc hóa học 30

Trang 11

Đối với huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai, cây cà phê là loại cây công nghiệp phát triển nhanh và chủ yếu trên địa bàn tỉnh huyện Đến nay toàn huyện có 16.449 ha với sản lượng bình quân hằng năm đạt 34.668 tấn cà phê nhân Đây là nơi có đặc điểm khí hậu, đất đai khá lý tưởng cho sự sinh trưởng và phát triển của cây cà phê vối sinh trưởng và phát triển nhưng đồng thời cũng là một môi trường thích hợp cho sự phá hoại của các loại sâu bệnh hại Trong đó, phổ biến nhất là bệnh gỉ sắt cà phê luôn xuất hiện quanh năm đã làm ảnh hưởng đến năng xuất và phẩm chất của cây cà phê Vì vậy,

để khai thác tốt các điều kiện tự nhiên của huyện Ia Grai nhằm phát triển diện tích và nâng cao năng xuất nhằm đáp ứng yêu cầu hợp tác quốc tế trong thời gian tới thì việc điều tra tình hình bệnh gỉ sắt cà phê tại đây là một công tác có ý nghĩa thực tiễn và cấp bách

Trên cơ sở đó, được sự phân công của Bộ môn Bệnh cây, Khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh tôi tiến hành thực hiện đề tài:

“Điều tra tình hình bệnh gỉ sắt (Hemileia vastatrix) cà phê vối giai đoạn kinh doanh và

khảo sát hiệu quả trị bệnh của một số loại thuốc hóa học tại huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai”

Trang 13

Chương 2

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Sơ lược về cây cà phê

chuyển từ lục địa này sang lục địa khác Đối với cà phê chè (Coffea arabica) có nguồn

gốc từ Ethiopia đem đến Yêmen sang Java (1690) đến Amsterdam (Hà Lan) năm

1706, sang Trung Mỹ năm 1724, đến Colombia năm 1724 Từ Yêmen sang Brasil (Nam Mỹ) năm 1715 và từ Java sang Pabua New Guine vào năm 1700 Đối với cà phê

vối ( Coffea canephora) có nguồn gốc từ Tây Phi và Madagasca sang Nam Mỹ và

Amsterdam vào năm 1899 Sau đó từ Amsterdam đưa sang Java vào năm 1900 và sau

đó từ Java lại trở về Châu Phi vào năm 1912 (Berthaud và Charrier, 1985)

Ở Việt Nam cây cà phê được trồng từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX tại một số tỉnh Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, cao nguyên miền Trung và Đông Nam Bộ (Đoàn Triệu Nhạn, 1999)

2.1.2 Phân loại thực vật học

Tên khoa học: Jasminum arabicaum Giới: Plantae Bộ: Gentianales Họ: Rubiaceae Chi: Coffea Loài: Eucofea K.Schum, Agrocofea Pierre, Mascarocoffea, Paracoffea Miq

Cà phê là một loại cây lưu niên, thân gỗ nhỏ, cao từ 4 – 20 m tùy theo từng loài và điều kiện sinh sống Cây có đặc tính sinh trưởng lưỡng tính hình theo 2 chiều là chiều

Trang 14

thẳng đứng và chiều nằm ngang Những chồi sinh trưởng theo chiều thẳng đứng được gọi là chồi vượt gồm thân chính và các chồi vượt mọc từ thân chính Những chồi chỉ phát triển theo chiều nằm ngang được gọi là những cành ngang bao gồm những cành ngang cơ bản mọc trên thân chính và các cành ngang thứ cấp mọc từ cành ngang cơ bản trên thân chính, các cành thứ cấp mọc từ cành ngang cơ bản và từ những cành ngang thứ cấp khác (Lương Thành Trung, 1991)

có một chồi là phát triển thành cành ngang cơ bản và chỉ mọc một lần không có khả năng tái sinh Các cành ngang cơ bản mọc thành từng cặp đối xứng nhau qua thân chính và cặp mọc ra sau luôn vuông góc so với cặp mọc ra trước Các chồi ngủ còn lại chỉ có thể phát triển thành chồi vượt tạo thành thân mới mọc nhiều lần thường xuyên quanh năm Vì vậy trong điều kiện tự nhiên cây cà phê thường có rất nhiều thân mọc thành từng bụi (Đoàn Triệu Nhạn, 1999)

2.1.2.3 Lá

Lá cà phê mọc đối xứng, hình bầu dục dài, đầu nhọn cuống ngắn, mép lá xoắn, phiến lá có màu xanh đậm, bóng, hơi gợn sóng và có từ 6 – 12 cặp gân (Đoàn Triệu Nhạn, 1999)

2.1.2.4 Hoa – quả – hạt

Hoa cà phê thuộc loại lưỡng tính phát triển trên các nách lá của cành ngang tạo thành các xim hoa Mỗi xim hoa có tư 1 – 5 hoa Cuống hoa ngắn, lá đài phát triển Hoa thường có 5 cánh màu trắng, phía dưới dính với nhau thành hình tràng ống Nhị hoa mảnh, phía dưới dính liền với tràng hoa, phía trên có bao phấn dài hẹp và vươn ra ngoài tràng hoa Nhụy gồm một bầu noãn hạ và một vòi nhụy dài với 2 nuốm Bầu noãn có 2 ngăn, trong mỗi ngăn có 1 noãn (Lương Thành Trung, 1991)

Trang 15

Quả cà phê thuộc loại quả hạch, thường có 2 hạt Lúc quả chín hạt được bao bọc bởi một lớp thịt dày Mỗi hạt có một nội nhũ cứng được bọc bởi lớp da mỏng màu bạc gọi là vỏ lụa và phần còn lại của ngoại bì hóa gỗ có màu vàng nhạt gọi là vỏ thóc Giữa lớp vỏ thịt và vỏ thóc là lớp chất nhầy dính (Đoàn Triệu Nhạn, 1999)

Hạt cà phê thường được gọi là nhân, có màu xanh xám, xám xanh hoặc xanh lục… Hạt là một nội nhũ cứng mặt trong phẳng, có rãnh hẹp ở giữa, mặt ngoài cong, chứa một phôi nhũ nằm ở dưới đáy (Đoàn Triệu Nhạn, 1999)

2.1.3 Khái quát về giống cà phê vối (Coffea canephora Pierre)

Cây cà phê vối (Coffea canephora) hoặc (Coffea robusta) có nguồn gốc từ vùng

Trung Phi thuộc châu thổ sông Conggo Cây có dạng cây gỗ hoặc cây bụi, chiều cao của cây trưởng thành có thể lên tới 10 m Trong điều kiện tự nhiên có rất nhiều thân do khả năng phát sinh chồi vượt rất mạnh Lá to hình bầu hoặc hình mũi mác có màu xanh sáng hoặc xanh đậm, đuôi lá nhọn, mép lá thường gợn sóng, có chiều rộng từ 10 – 15 cm, dài từ 20 – 30 cm Quả hình tròn hoặc hình trứng, cuống quả ngắn và dài hơn

cà phê chè Hàm lượng cafein trong hạt từ 2,5 – 3 % Cà phê vối là cây tự bất hợp Giống như cà phê chè, cây cà phê vối 3 – 4 tuổi có thể bắt đầu thu hoạch Cây cho hạt trong khoảng từ 20 đến 30 năm Cà phê vối ưa sống ở vùng nhiệt đới, độ cao thích hợp để trồng cây là dưới 1000 m Nhiệt độ ưa thích của cây khoảng 24 – 29 °C, lượng mưa khoảng trên 1000 mm Cây cà phê vối cần nhiều ánh sáng mặt trời hơn so với cây

cà phê chè

Cà phê vối, là cây quan trọng thứ hai trong các loài cà phê Khoảng 39 % các sản phẩm cà phê được sản xuất từ loại cà phê này Việt Nam là nước xuất khẩu cà phê vối lớn nhất thế giới Các nước xuất khẩu quan trọng khác gồm Uganda, Brasil, Ấn Độ Năm 2009 Việt Nam xuất khẩu trên 1.183.000 tấn cà phê loại này, chiếm gần một nửa lượng cà phê vối xuất khẩu của toàn thế giới Hiện nay gần 90 % diện tích cà phê ở

Việt Nam được trồng cà phê vối, 10 % trồng cà phê chè (Coffea arabica Line), khoảng

1 % còn lại trồng cà phê mít (coffea excelsa)

2.1.4 Tình hình sản xuất cà phê hiện nay

2.1.4.1 Tình hình sản xuất và xuất khẩu cà phê trên thế giới

Brazil là nước sản xuất cà phê lớn nhất trên thế giới với 17 triệu tấn năm 2008, chiếm 21,96 % tổng sản xuất cà phê thô trên thế giới Việt Nam đứng thứ hai trên thế

Trang 16

giới về sản lượng cà phê thô 15,6 triệu tấn Năm 2008, toàn thế giới sản xuất cà phê

77,4 triệu tấn (International Coffee Organization, 2008)

Bảng 2.1: Sản lượng cà phê thô 10 nước trên thế giới

Brazil 17.000.000 Vietnam 15.580.000 Colombia 9.400.000 Indonesia 2.770.554 Ethiopia 1.705.446 Mexico 962.000 India 954.000 Peru 677.000 Guatemala 568.000

Honduras 370.000

(Nguồn: International Coffee Organization, 2008)

2.1.4.2 Tình hình sản xuất và xuất khẩu cà phê Việt Nam

Năm 2009, cả nước đạt 522 nghìn ha Chủ yếu tập trung ở vùng Tây Nguyên,

trong đó nhiều nhất là tỉnh Đắk Lắk với diện tích là 184400 ha, Gia lai đứng thứ 2 với

diện tích là 76356 ha

Bảng 2.2: Tình hình sản xuất cà phê đến hết tháng 9/2009

Địa phương

Tổng diện tích (ha)

Diện tích trồng mới (ha)

Diện tích cho sản phẩm (ha)

Năng suất nhân (tạ/tạ/ha)

Sản lượng cà nhân (tấn)

Trang 17

Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê Việt Nam tính chung 10 tháng đầu niên vụ

2009, xuất khẩu cà phê Việt Nam đạt 1,03 triệu tấn, hay 17,2 triệu bao, tăng 1,1 % so với cùng kỳ niên vụ trước

Về thị trường xuất khẩu: Việt Nam đã mở rộng thị trường xuất khẩu sang nhiều nước như Đức: 17,8 %, Mỹ: 13,8 %, Anh: 12,7 %, Bỉ: 7,3 %, Tây Ba Nha: 6,9 %, Italia: 5,6 %, Nhật Bản: 3,2 %

2.2 Bệnh gỉ sắt cà phê (Hemileia vastatrix)

2.2.1 Khái quát về bệnh gỉ sắt cà phê

Bệnh gỉ sắt còn gọi là bệnh nấm vàng da cam Đây là bệnh phổ biến và nghiêm trọng trên cây cà phê, đặc biệt là cây cà phê chè Bệnh gây hại chủ yếu trên lá, có thể xuất hiện trên thân, quả nhưng rất ít Bệnh gây hại ở khắp các vùng trồng cà phê chủ yếu trên thế giới như Ấn Độ, Philippines, Thái Lan, các nước Châu Mỹ như: Cuba, Mexico, Brasil và các nước Châu Phi: Conggo, Kenya…

Ở Việt Nam bệnh hại nặng ở các vùng trồng cà phê phía Bắc, vùng Phủ Qùy Bệnh gây hại phổ biến ở các vùng miền Nam Trung Bộ như: Đắk Lắk, Lâm Đồng (Vũ Triệu Mân và ctv, 2008)

2.2.2 Nguồn gốc của nấm Hemileia vastatrix

Theo Rayner (1972) bệnh gỉ sắt cà phê được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1861 tại vùng hồ Victoria ở Kenya Năm 1868 xuất hiện ở Srilanca Sau đó bệnh bắt đầu lan sang miền Nam Ấn Độ (1869) và vượt qua hàng nghìn dặm về phía đông bán đảo Sumatra (1876) và đảo Java (1879 – 1880) thuộc Indonexia và bang Philippin (1990) Đến khoảng giữa thế kỷ XX hầu như nấm gỉ sắt đã có mặt ở các đồn điền của Châu Á, Châu Phi và gây ra nhiều tổn thất đáng kể Năm 1970 nấm này vượt qua Đại Tây Dương đến Châu Mỹ tại Brasil (1970), Paraquay (1972), Nicaragua (1976) Từ đó đến nay loại nấm này đã có mặt ở tất cả các nước trồng cà phê trên thế giới và trở thành mối lo ngại lớn cho việc kinh doanh cà phê chè

Tại nước ta bệnh xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1888 và đã gây nhiều thiệt hại nghiêm trọng (Trần Thị Kim Loang, 1999)

2.2.3 Tác hại của nấm Hemileia vastatrix

Bệnh làm rụng lá, cây kiệt sức, sản lượng kém và nếu nặng thì cây có thể chết Khi xuất hiện ở Srilanca (1868) bệnh đã gây ra nạn dịch dữ dội và có tính hủy diệt Tại

Trang 18

đây, bệnh đã làm giảm hơn 75 % sản lượng chỉ trong vòng 10 năm (1869 – 1868) Đến năm 1890 tại đây phải hủy bỏ toàn bộ diện tích cà phê để thay bằng cây chè và cây cao

su Ở bang Parana (Brasil) trong vụ 1973 – 1974 bệnh đã làm giảm 34 % sản lượng mặc dù 40 % diện tích trồng cà phê đã được phun thuốc hóa học (Trần Thị Kim Loang, 1999)

Tại Việt Nam, Tháng 3 năm 1958 bệnh đã làm rụng lá toàn bộ cây cà phê chè của nông trường Đông Hiếu Tại Đắk Lắk bệnh làm hủy diệt hàng nghìn ha cà phê chè trong những năm 1940 – 1945 và đến năm 1957 toàn bộ diện tích cà phê này phải thay bằng cà phê vối Những năm gần đây bệnh xuất hiện trên cây cà phê vối Tỷ lệ bệnh hiện nay đã lên đến 50 %, thậm chí có vườn bị nhiễm 70 – 85 % Trên đồng ruộng đã xuất hiện những cây cà phê vối bị rụng gần hết lá do nấm gỉ sắt (Trần Thị Kim Loang, 1999)

Ở các vết bệnh cũ, già thường có 2 loại nấm ký sinh trên nấm gỉ sắt, đó là nấm

Verticillum hemileiae và nấm Cladosporiumn hemileiae Hai nấm này thường xuất hiện chậm, ít có tác dụng ngăn chặn sự phát triển của nấm H vastatrix (Vũ Triệu Mân,

2008)

2.2.5 Tác nhân gây bệnh

Bệnh gỉ sắt cà phê do nấm Hemileia vastatrix B & Br gây ra, thuộc họ

Puccinniaceae, bộ Uredinales, lớp nấm đảm Basidiomycetes Đây là loại nấm chuyên

kí sinh trên cây cà phê Nấm Hemileia vastatrix được Berkeley và Broomes mô tả và

đặt tên vào năm 1869 Theo Ward (1982), Thirumalachar và Narahimhaswamy trong

Trang 19

vòng đời của nấm H vastatrix có 3 dạng bào tử là Uredospore (bào tử hạ),

Teleutospore (bào tử đông) và Basidiospore (bào tử đảm) Trong đó bào tử hạ phổ biến nhất Bào tử này có dạng hình bán nguyệt, hình hạt đậu, hình trứng, đôi khi có hình tam giác và có màu vàng nâu gỉ sắt Mặt bằng của bào tử không có gai nhưng các mặt bên có nhiều gai nhỏ không đều Bào tử nấm nảy mầm, xâm nhập qua các khí khổng ở mặt dưới lá Nấm mọc nhanh với nhiều vòi hút có vỏ bọc Các sợi nấm liên kết với nhau lại thành bó và chui ra khỏi khí khổng mang các bào tử hạ ở đầu những cuống nhỏ gọi là sterigma

Bào tử hạ nảy mầm ở nghiệt độ từ 15 – 28 oC Ở nhiệt độ từ 21 – 25 oC có 50 % bào tử nảy mầm trong 3 – 4 giờ Khi bào tử nảy mầm đòi hỏi phải có sự hiện diện của nước Sau khi nảy mầm 1 giờ, ống mầm xâm nhập vào khí khổng và tiến hành xâm nhiễm Sau 12 – 18 giờ vết bệnh mới xuất hiện ở mặt dưới lá và 3 tuần sau bào tử mới xuất hiện (Đoàn Triệu Nhạn, 1999)

(Nguồn:http://fungavera.com/fungavera/funga%20pdf/59_Hemi_vastat.pdf )

Hình 2.1: Bào tử nấm Hemileia vastatrix

Theo nghiên cứu của Trạm cây nghiệt đới Tây Hiếu: Bào tử có thể nảy mầm thuận lợi từ 19 – 24 oC; trong giọt nước thì cần từ 1 giờ 50 phút đến 7 giờ, ở nhiệt độ trên

28oC và dưới 16 oC bào tử hạ trong giọt nước có thể không nảy mầm được

Trang 20

Tùy theo vùng sinh thái khí hậu và điều kiện trồng trọt mà nấm có thời gian ủ bệnh khác nhau Theo dõi tại Phủ Quỳ - Nghệ An cho thấy ở điều kiện nhiệt độ 21,8 – 25,7

oC và ẩm độ từ 71 – 94 % thì thời gian ủ bệnh ở lá già khoảng 21 ngày, ở lá bánh tẻ khoảng 15 ngày và ở lá non khoảng 13 ngày

Ở vùng Tây Bắc - Việt Nam giữa lá non và lá bánh tẻ thời gian ủ bệnh không chênh lệch nhau lắm: lá non giống Burbon có thời gian ủ bệnh là 13 – 13 ngày, lá bánh

tẻ là 14 – 15 ngày, lá già 23 – 24 ngày (Đoàn Triệu Nhạn, 1999)

Các thí nghiệm lây bệnh nhân tạo để xác định thời gian tiềm dục của nấm rỉ sắt trên các giống cà phê của Bộ môn Bảo vệ thực vật, Viện Khoa học kĩ thuật nông lâm nghiệp Tây Nguyên tại Đắk Lắk cho thấy sự khác nhau khá rõ về thời gian tiềm dục và phát triển giữa các giống

(Nguồn:http://www.caripestnetwork.org)

Hình 2.1: Chu kỳ của nấm H vastatrix

Trang 21

Bảng 2.3: Thời gian TD và PT của nấm gỉ sắt trên 2 giống Caturra và Robusta

Đợt

lây t

oC H (%)

Lượng mưa (mm)

Caturra Robusta

TD PT TD PT 20/5 24,2 86,1 334,9 18 – 24 14 – 18 21 – 27 27 – 40

7/7 23,6 81,1 258,2 12 – 18 12 - 16 18 – 22 25 – 38

1/8 23,6 83,5 307,9 12 – 18 10 - 12 14 – 18 22 – 36

(Nguồn: Vũ Triệu Mân, 2008)

Ghi chú: toC: Nhiệt độ trung bình (oC)

H: Ẩm độ trung bình (%)

TD: Thời gian tiềm dục (ngày)

PT: Thời gian phát triển (ngày)

Thời gian tiềm dục và phát triển của nấm gỉ sắt trên cà phê vối bao giờ cũng dài

hơn trên cà phê chè Trên các giống cà phê vối mức độ nhiễm bệnh cũng rất khác nhau

đối với từng cá thể Nhóm cây nhiễm bệnh nhẹ mặc dù có xuất hiện vết bệnh nhưng

không thấy xuất hiện hay chậm xuất hiện bào tử hơn các nhóm nhiễm bệnh trung bình

và nặng

Bảng 2.4: Thời gian TD và PT của nấm gỉ sắt trên các dòng vô tính cà phê vối (ngày)

Dòng vô tính Mức độ nhiễm bệnh Lây lần 1 (6/1994) Lây lần 2 (8/1994)

Bằng cách bắt bào tử tại Ruisu, người ta xác định bào tử nấm được lan truyền chủ

yếu bằng các luồng không khí Gió mang các bào tử đi, các bào tử này có thể nổi trên

mặt nước, dính vào mặt nước hay mép lá và nước mưa làm bào tử nảy mầm Một trận

mưa tối thiểu phải trên 8 mm mới có thể tách rời các bào tử và mang chúng đi đến nơi

Trang 22

khác Các nghiên cứu được thực hiện ở Châu Mỹ La Tinh cho thấy có sự hiện diện của những dòng không khí từ Châu Phi sang Brasil giữa tháng 1 vào đúng lúc đợt phát sinh bào tử lớn nhất xảy ra ở Tây Nam Châu Phi

Cho đến nay, người ta đã phát hiện ra 32 chủng sinh lý của nấm H vastatrix B &

Br trong 32 chủng này chỉ có chỉ có một số chủng phổ biến Trong 1000 bào tử nảy mầm kiểm tra có chủng II chiếm 58,2 %, chủng I chiếm 14,4 %, chủng III chiếm 8,9

%, chủng XV chiếm 3,6 %, các chủng còn lại chiếm 15 % Tại Việt Nam chủng I và II chiếm ưu thế trên cây cà phê chè (Đoàn Triệu Nhạn, 1999)

2.2.6 Sự phát sinh phát triển của nấm H vastatrix

Nhiệt độ và mưa là 2 yếu tố chính ảnh hưởng đén sự phát sinh, phát triển của bệnh

gỉ sắt Các yếu tố chính ảnh hướng đến quá trình và mức độ phát triển của bệnh là sự phân bố mưa, cường độ mưa, số lượng mầm bệnh có mặt trước khi khởi đầu mùa mưa

và số lượng lá trên cây

Mayne (1930) quan sát tại Ấn Độ cho thấy bệnh tăng nhanh trong giai đoạn trước khi hoa nở và cuối mùa mưa Waller (1982) cho biết tại Ấn Độ bệnh rất nặng những vùng có mưa hầu như quanh năm ngoại trừ trường hợp mưa kéo dài và to làm giảm khả năng phát tán của bào tử khác hoặc làm giảm nhiệt độ Ngược lại ở những vùng mùa khô kéo dài bệnh nhẹ hơn

Downson và Block cho thấy càng lên cao thì mức độ gây hại của bệnh giảm dần Block còn cho biết ở độ cao 1830 m ở Kenya, với lượng mưa 830 mm thì sự thiệt hại

do bệnh gỉ sắt không có ý nghĩa về mặt kinh tế Theo dõi trên các giống cà phê Catuai

và Garnica (giống lai giữa Caturra và Mundonovo) tại Mexico ở các độ cao khác nhau (1.100 m, 730 m và 469 m ) cho thấy ở độ cao thấp bệnh đến sớm hơn, nhanh hơn và nặng hơn ở độ cao cao Cao điểm bệnh thường ở vào thường điểm bắt đầu mùa thu hoạch

Sương đêm giữ một vai trò quan trọng trong việc phát sinh phát triển bệnh gỉ sắt tại Brasil, nhất là trong thời kỳ khô hạn như tháng 5 – 7 Có một sự tương quan chặt giữa

sự hình thành giọt sương và sự phát triển của bệnh gỉ sắt Ở bang Minas Gerais sương

là nguyên nhân của 55 % trường hợp xuất hiện của bệnh

Tại Tây Hiếu – Phủ Qùy – Nghệ An, có hai đỉnh của bệnh: đỉnh 1 từ tháng 9 – 11, đỉnh 2 từ tháng 2 – 4 Nhiệt độ là yếu tố quan trọng nhất đối với sự phát sinh phát triển

Trang 23

bệnh tại đây Tại Điện Biên (Lai Châu) bệnh phát sinh quanh năm, nặng nhất vào 2 thời kỳ: tháng 3, 4 và tháng 9, 10, 11 Mùa thu hoạch bệnh phát triển và lây lan nặng hơn mùa xuân Tại Sơn La bệnh phát sinh vào tháng 9, 10, 11 một số ít vào tháng 7, 8 (Đoàn Triệu Nhạn, 1999)

Tại Tây Nguyên, mưa là yếu tố quyết định sự phát sinh phát triển của bệnh gỉ sắt trên cà phê Trong đó thời gian bắt đầu mùa mưa quyết định sự phát sinh sớm hay muộn của bệnh Sự phát sinh phụ thuộc chủ yếu vào các điều kiện khí hậu và số lá còn lại trên cây vào cuối mùa bệnh năm trước Trên cây cà phê chè phát sinh từ đầu mùa mưa (tháng 4, 5), phát triển trong suốt mùa mưa, phát triển mạnh từ tháng 7, 8 và đạt đỉnh cao vào tháng 9, 10 Trong mùa bệnh, tỷ lệ cây bệnh trên đồng ruộng là 100 % và

tỷ lệ bệnh trên 90 %, chỉ số bệnh đạt cao nhất khoảng 25 % vào tháng 9 Trên cây cà phê vối nhân giống hữu tính (bằng hạt), tỷ lệ và mức độ nhiễm bệnh thay đổi theo vườn (khoảng 35 – 77 % số cây trên vườn), sự phát sinh phát triển cũng khác nhau tùy theo nhóm Số cây nhiễm bệnh trên cà phê vối được phân làm 3 dạng như sau:

- Một dạng có diễn biến giống như cà phê chè, tức là bệnh phát sinh từ đầu mùa mưa, phát triển vào tháng 7, 8 và đạt đỉnh cao vào đầu tháng 10, 11 Cây ở dạng này là những cây bị bệnh nặng, tỷ lệ bệnh trung bình cao nhất trên 90 %, chỉ số bệnh 30 % Dạng cây này chiếm tỷ lệ khoảng 10 % số cây bệnh

- Một dạng có mức bệnh nhẹ, phát sinh từ đầu mùa mưa nhưng đến tháng 12 mới phát triển mạnh, đạt đỉnh cao vào tháng 1, tỷ lệ bệnh dưới 40%, chỉ số bệnh dưới

2 % Dạng này chiếm tỷ lệ không nhiều, khoảng 20 % số cây bị bệnh

- Dạng phổ biến trên đồng ruộng phát sinh từ tháng 6, phát triển mạnh từ tháng

11, đạt đỉnh cao vào tháng 12 – 1 với tỷ lệ lá bệnh bình quân 80 %, chỉ số bệnh từ 2 –

15 % Dạng này chiếm 70 % tổng số cây bệnh

Mức độ bệnh khác nhau giữa các cá thể trong cùng một vườn chứng tỏ có sự quan

hệ trực tiếp đến bản chất di truyền của chúng, tức khả năng kháng bệnh của từng cá thể (Đoàn Triệu Nhạn, 1999)

2.3 Biện pháp phòng trừ bệnh gỉ sắt cà phê

2.3.1 Dùng giống chống bệnh

Tại Ấn, Độ người ta đã đi sâu vào việc chọn lọc các giống cà phê chè kháng bệnh

gỉ sắt Nhưng hầu như các giống sau khi được trồng rộng rãi trong sản xuất một số

Trang 24

năm lạ trở nên mẫn cảm với các chủng sinh lý mới của nấm gỉ sắt Tại Ấn Độ, đã chọn lọc được một số giống từ các con lai khác loài trong tự nhiên giữa C arabica với C liberica như S.795 kháng được chủng sinh lý II Giống Sin 4 do Trung tâm nghiên cứu bệnh gỉ sắt Oeiras (Bồ Đào Nha) cung cấp kháng được chủng sinh lý I, II, VIII và XII nhưng lại mẫn cảm với chủng sinh lý XIII và XIV Từ năm 1950 tại Brasil người ta đã lai tạo các con lai khác loài giữa cà phê vối tứ bội với cà phê chè hay lai Hibrido de Timor với cà phê chè để tạo ra các con lai có tính kháng ngang đối với bệnh gỉ sắt như Icatu và Catimor (Lương Thành Trung, 1991)

Tại Việt Nam, từ năm 1978, Viện nghiên cứu cà phê đã chọn lọc được một số giống có năng suất cao và kháng bệnh gỉ sắt như S.73 và Bourbon ĐL Từ năm 1986, Viện đã tiếp nhận một số giống kháng bệnh gỉ sắt gồm 36 ký hiệu có nguồn gốc Ethiopia, giống Catimor F4 của Trung tâm nghiên cứu bệnh gỉ sắt Oeiras (Bồ Đào Nha) và Arabusta F1 Từ cơ sở này Viện đã chọn lọc được giống cà phê chè Catimor F6 kháng bệnh gỉ sắt, giống này được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận là giống quốc gia năm 1994 Hiện nay giống này đang được trồng phổ biến ở nước ta để thay thế cho các giống mẫn cảm với bệnh gỉ sắt như Caturra, Typica, Mundo novo…(Đoàn Triệu Nhạn, 1999)

2.3.2 Ghép chồi

Viện nghiên cứu cà phê đã chọn ra một số dòng có năng suất cao và ít bị bệnh gỉ sắt, trong đó có 3 dòng vô tính được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận vào tháng 9/1997 là: 16/20, 4/55, 1/20 Hiện nay Viện nghiên cứu cà phê đang sử dụng chồi của các dòng vô tính trên để thay thế các cây bị bệnh gỉ sắt trên vườn cà phê (Lương Thành Trung, 1991)

2.3.3 Hóa học

Trong số các thuốc được thí nghiệm trên nhiều nước thì thuốc gốc đồng vượt hơn hẳn các thuốc khác Hiện nay có thể dung một trong các loại thuốc sau để phòng trừ bệnh gỉ sắt: Impact 125 SC ( 2 – 4 cc/200cc nước/gốc), Anvil 5SC (0,2 %) phun 2 – 3 lần cách nhau 1 tháng, Tilt super 300 EC (0,1 %) phun 2 lần cách nhau 1 tháng (Đoàn Triệu Nhạn, 1999)

Trang 25

2.4 Khái quát về điều kiện tự nhiên và tình hình sản xuất cà phê vối tại huyện Ia Grai – Gia Lai

2.4.1 Về điều kiện tự nhiên

2.4.1.1 Vị trí địa lý

Ia Grai là một huyện của Tỉnh Gia Lai, Việt Nam, nằm về phía Tây của tỉnh Gia Lai Giáp với huyện Chư Păh ở phía Bắc, thành phố Pleiku ở phía Đông, huyện Chư Prông ở phía Đông Nam, huyện Đức Cơ ở phía Nam, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum ở phía Tây Bắc Về phía Tây, Ia Grai giáp với tỉnh Natarakiri Campuchia

2.4.1.2 Địa hình – đất đai

Huyện Ia Grai có địa hình thuộc dạng sơn nguyên với độ cao trung trung bình 750

m so với mặt nước biển Địa hình có độ phân cách mạnh

Diện tích đất tự nhiên của huyện là 1.157,3 km² ha, với nhiều loại đất như Feralit

đỏ vàng, Feralit vàng đỏ, đất đỏ bazan, đất dốc tụ….trong đó đất đỏ bazan chiếm 42 % diện tích đất tự nhiên của huyện Do đó, đất đại ở đây rất phì nhiêu, cộng thêm tầng canh tác dày (70 cm) nên rất thích hợp cho nhiều loại cây công nghiệp dài ngày như cà phê, điều, tiêu Nhưng do có độ dốc lớn nên dễ bị xói mòn và rửa trôi trong mùa mưa 2.4.1.3 Khí hậu, thời tiết

Theo số liệu của Đài khí tượng thủy văn khu vực Tây Nguyên, khu vực Ia Grai có các đặc điểm khí hậu thủy văn như sau:

- Nhiệt độ trung bình các tháng trong năm là 24,3 0C Tổng tích ôn khá cao khoảng 8500 – 9100 0C và phân bố tương đối đều theo mùa, thuận lợi cho sản xuất cây trồng quanh năm

- Ẩm độ không khí trung bình qua các tháng trong năm biến động từ 68 – 94

cũng rất thuận lợi cho sự phát sinh phát triển của nấm gỉ sắt Hemileia vastatrix làm

cho việc kinh doanh cà phê ở đây thêm phần khó khăn

Trang 26

2.4.2 Tình hình sản xuất cà phê vối tại huyện Ia Grai – Gia Lai

Bảng 2.5: Tình hình sản xuất cà phê từ năm 2005 – 2009 tại Ia Grai

Năm Diện tích (ha) Sản lượng (Tấn)

(Nguồn: Phòng thống kê huyện Ia Grai – Gia Lai)

Về diện tích cà phê của huyện từ năm 2005 đến 2009 tương đối ổn định Sản

lượng có thay đổi nhưng không nhiều chênh lệch khoảng 5 tấn

2.3.2.2 Tình hình sản xuất cà phê tại các xã của huyện Ia Grai

Bảng 2.6: Diện tích, năng suất, sản lượng, kinh doanh tại huyện Ia Grai

STT Xã, TT Diện tích (Ha) Năng suất (Tạ/ha) Sản lượng (Tấn) Kinh doanh (Ha)

(Nguồn: phòng thống kê huyện Ia Grai, năm 2009)

Trong huyện Ia Grai, xã Ia Dêr có diện tích (1431 ha) và sản lượng (2519 tấn) cà phê cao nhất, xã Ia O có diện tích (133 ha) và sản lượng (214 tấn) thấp nhất Về năng suất giữa các xã tương đối đồng đều, trong đó cao nhất là xã Ia Sao với 18,7 tạ/ha

Trang 27

2.3.2.3 Các loại bệnh phổ biến trên cà phê

Cà phê là một loại cây được trồng phổ biến tại huyện Ia Grai – Gia Lai Các vườn trồng cà phê tại đây bị rất nhiều bệnh như gỉ sắt, nấm hồng, đốm mắt nâu… Trong đó bệnh gỉ sắt cà phê là một trong những loại bệnh phổ biến làm ảnh hưởng đến năng suất

cũng như chất lượng cà phê

Bảng 2.7: Các loại bệnh phổ biến trên cây cà phê vối

Tên bệnh Tác nhân Bộ phận

gây hại Mức độ

1 Đốm mắt nâu Cercospora coffeicola lá Trung bình

2 Khô cành, khô quả Colletotrichum

coffeanum cành, quả Nặng

3 Nấm hồng Corticium

salmonicolor cành, thân Trung bình

4 Gỉ sắt Hemileia vastatrix lá Nặng

5 Thán thư Colletotrichum zibethinum lá, quả Trung bình

6 Vàng lá thối rễ Fusarium oxysporum, rễ Nhẹ

Rhizoctonia bataticola (Nguồn: Trạm BVTV huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai, năm 2009)

2.3.2.4 Tình hình bệnh gỉ sắt cà phê vối từ năm 2005 - 2009

Theo số liệu thống kê của Trạm Bảo vệ Thực vật huyện Ia Grai thì tỷ lệ nhiễm bệnh gỉ sắt ngày càng tăng Năm 2009, % TLB: 15,59 % tăng 2,38 % so với năm 2008

và 6,65 % so với năm 2005; % CSB: 6,13 % tăng 1,26 % so với năm 2008 và 3,95 %

so với năm 2005 Bệnh gỉ sắt đã làm giảm 289 tấn cà phê trong năm 2009 Vì vậy cần nghiên cứu để tìm ra biện pháp phòng trị bệnh cao nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất cà phê của địa phương

Bảng 2.8: Tình hình bệnh gỉ sắt cà phê vối từ năm 2005 – 2009 tại huyện Ia Grai

Trang 28

2.4 Khái quát về đặc tính của một số loại thuốc hóa học dùng trong thí nghiệm 2.4.1 Anvil 5SC

- Nhóm hóa học: Triazol

- Hoạt chất: Hexaconazole

Thuốc trừ nấm, tác động nội hấp, phổ tác dụng rộng

- Sử dụng: trừ bệnh gỉ sắt, bệnh khô vằn, lem lép hạt, bệnh phấn trắng

- Sản xuất từ nguyên liệu của Syngenta Thụy Sỹ

- Đóng gói tại Syngenta Việt Nam

- Sử dụng: trừ bệnh sương mai hại cà chua, dưa chuột, gỉ sắt

- Sản xuất từ nguyên liệu của Agria SA Bulgaria

- Đóng gói tại Cty cổ phần Bảo vệ Thực vật Sài Gòn

- Sản phẩm của Enchochem In t Corp – China

- Đóng gói tại Cty TNHH Anfa Sài Gòn

- Sử dụng: trừ bệnh gỉ sắt, khô vằn, thán thư, phấn trắng, mốc xám, thối trái

- Sản xuất từ nguyên liệu của Syngenta Thụy Sỹ

Trang 29

- Đóng gói tại Syngenta Việt Nam

- Sử dụng: trừ bệnh đạo ôn, gỉ sắt, đốm lá, thán thư, chết cây con, phấn trắng

- Sản phẩm của công ty Thuốc sát trùng Việt Nam

Trang 30

Chương 3

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

3.1.1 Thời gian

Đề tài được tiến hành từ tháng 03 đến tháng 07 năm 2010

3.1.2 Địa điểm nghiên cứu

- Điều tra các vườn cà phê vối giai đoạn kinh doanh tại 6 xã (Ia Bă, Ia Dêr, Ia Hrung, Ia Pếch, Ia Sao, Ia Yok) và thị trấn Ia Kha

- Bố trí thí nghiệm tại hộ ông Nguyễn Văn Cảnh, thôn 2, thị trấn Ia Kha, huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai

3.2 Vật liệu nghiên cứu

- Sổ ghi chép, bút, máy ảnh

- Các vườn cà phê vối giai đoạn kinh doanh

- Phiếu điều tra định kỳ 15 ngày/lần

- Các loại thuốc sử dụng trong thí nghiệm

và liều lượng sử dụng (bảng 3.1)

Bảng 3.1: Các loại thuốc thí nghiệm và liều lượng sử dụng

Tên thuốc Hoạt chất (g/ml) LL Cty sản xuất

Anvil 5 SC Hecxaconazole 27 Syngenta Việt Nam Copforce Blue 51 WP Coper + Zineb 81 CP BVTV Sài Gòn Encoleton 25 WP Triadimefon 27 TNHH Anfa Sài Gòn Tilt Super 300 EC Propiconazole 14 Syngenta Việt Nam Viben C 50 BTN Benomyl + Coper 27 TST Việt Nam

Trang 31

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.1.1 Điều tra tình hình nhiễm bệnh gỉ sắt cà phê vối giai đoạn kinh doanh từ tháng 3 đến tháng 7 năm 2010 tại huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai

Phương pháp điều tra: lập phiếu điều tra, tiến hành điều tra tại 7 điểm (6 xã và thị trấn) của huyện Ia Grai, mỗi điểm chọn 10 hộ cố định Điều tra gồm phỏng vấn và kết hợp điều tra ngoài đồng Điều tra định kỳ 15 ngày/lần

- Phỏng vấn trực tiếp điền vào phiếu điều tra

- Điều tra ngoài đồng: điều tra 5 điểm trên 2 đường chéo góc, mỗi điểm điều tra 5 cây, mỗi cây lấy 4 cành theo 4 hướng (Đông, Tây, Nam, Bắc), trên mỗi cành tiến hành đếm 20 lá từ gốc cành ra phía ngoài cành

Các chỉ tiêu theo dõi: Tỷ lệ bệnh (%) và chỉ số bệnh (%)

n: cấp bệnh cao nhất theo bảng phân cấp

Mức độ nhiễm bệnh được đánh giá theo thang 5 cấp:

3.3.2 Khảo sát hiệu lực của một loại thuốc hóa học trên vườn cà phê vối 16 năm

Thí nghiệm được tiến hành trên vườn cà phê vối 16 năm tuổi tại TT Ia Kha, Huyện

Ia Grai, Tỉnh Gia Lai Thí nghiệm được bố trí theo khối đầy đủ hoàn toàn ngẫu nhiên (RCBD) 3 lần lặp lại với 6 nghiệm thức (5 NT xử lý thuốc và 1 NT phun nước lã), mỗi

Ngày đăng: 16/03/2019, 11:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm