1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÌM HIỂU ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LOẠI GIÁ THỂ NHƯ: GAMSORD (POLIME TINH BỘT), CÁT, DỚN TRẮNG, BỘT DỪA, ĐẤT RỪNG, TRẤU ĐỐT, MỐP…ĐẾN TỶ LỆ SỐNG CỦA CÂY MÔ SÂM NGỌC LINH (Panax vietnamensis) TỪ GIAI ĐOẠN INVITRO SANG GIAI ĐOẠN INVIVO TẠI CÔNG TY CỔ PHẦ

87 106 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 0,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thí nghiệm 1: Tìm hiểu ảnh hưởng của các giá thể: GAM-Sord, cát + GAM-Sord, dớn trắng đến tỷ lệ sống và các chỉ tiêu sinh trưởng về hệ rễ, lá, trọng lượng tươi đối với 3 cấp cây cấy mô s

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

TÌM HIỂU ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LOẠI GIÁ THỂ NHƯ:

GAM-SORD (POLIME TINH BỘT), CÁT, DỚN TRẮNG,

BỘT DỪA, ĐẤT RỪNG, TRẤU ĐỐT, MỐP…ĐẾN

TỶ LỆ SỐNG CỦA CÂY MÔ SÂM NGỌC LINH

(Panax vietnamensis) TỪ GIAI ĐOẠN INVITRO

SANG GIAI ĐOẠN INVIVO TẠI CÔNG TY

CỔ PHẦN SÀI GÒN MĂNG ĐEN,

HUYỆN KONPLONG, TỈNH KON TUM

Họ và tên sinh viên: NGUYỄN THỊ THANH LOAN Ngành: LÂM NGHIỆP

Niên khóa: 2006 – 2010

Trang 2

GAM-SORD (POLIME TINH BỘT), CÁT, DỚN TRẮNG, BỘT DỪA, ĐẤT RỪNG, TRẤU ĐỐT, MỐP…ĐẾN

TỶ LỆ SỐNG CỦA CÂY MÔ SÂM NGỌC LINH

(Panax vietnamensis) TỪ GIAI ĐOẠN INVITRO

SANG GIAI ĐOẠN INVIVO TẠI CÔNG TY

CỔ PHẦN SÀI GÒN MĂNG ĐEN,

HUYỆN KONPLONG, TỈNH KON TUM

Tác giả

NGUYỄN THỊ THANH LOAN

Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Kỹ sư ngành Lâm nghiệp

Giáo viên hướng dẫn: KS TRẦN TRỌNG NGHĨA

Tháng 07/2010

Trang 3

Trang 4

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Con xin thành kính gửi lời biết ơn sâu sắc nhất đến ba mẹ_Người đã sinh thành, chăm lo, dạy dỗ con cho đến ngày hôm nay

Em xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc đến:

- Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh, khoa Lâm Nghiệp, các thầy cô đã truyền đạt cho em những kiến thức bổ ích trong suốt thời gian tham gia lớp học và thực hiện đề tài

- Đặc biệt, xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Trần Trọng Nghĩa, người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn em lựa chọn, nghiên cứu và hoàn thành đề tài khóa luận tốt nghiệp

- Ông Hồ Thái Hòa_Chủ tịch hội đồng quản trị, các cô chú, anh chị trong Công

ty cổ phần Sài Gòn Măng Đen – Kon Tum đã tạo những điều kiện tốt nhất cho

em trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành đề tài

- Cuối cùng, xin chân thành cảm ơn các bạn sinh viên lớp Lâm Nghiệp 32 và tất

cả mọi người đã động viên, giúp đỡ em trong học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Tp Hồ Chí Minh tháng 07/2010 Nguyễn Thị Thanh Loan

Trang 6

Nguyễn Thị Thanh Loan, Đại Học nông Lâm TP.HCM Tháng 07/2010

“Tìm hiểu ảnh hưởng của các loại giá thể như: GAM-sord (polime tinh bột), cát, dớn trắng, bột dừa, đất rừng, trấu đốt, mốp…đến tỷ lệ sống của cây mô Sâm

Ngọc Linh (Panax vietnamensis Ha et Grushv) từ giai đoạn invitro sang giai đoạn

invivo tại Công ty cổ phần Sài Gòn Măng Đen, huyện Konplong, tỉnh Kon Tum” Giáo viên hướng dẫn: KS Trần Trọng Nghĩa

Ẩn khuất dưới tán rừng già Ngọc Linh, mọc từng đám nơi ẩm ướt ở độ cao từ

kiệt nguồn giống vì nạn khai thác tràn lan Để phát triển loài cây quý này vẫn còn nhiều khó khăn, nhất là vấn đề cây giống Những năm gần đây, nhân giống vô tính sâm Ngọc Linh là một hướng đi rất được kỳ vọng nhằm bảo tồn được nguồn gen quý, đáp ứng được nhu cầu về giống để nhân rộng mô hình trồng cây sâm Ngọc Linh ở những nơi có khí hậu phù hợp trong tương lai

Đề tài được thực hiện từ ngày 1/5/2010 đến 30/7/2010 với mục đích: Trồng

thành công cây cấy mô sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis Ha et Grushv) giai đoạn

sau ống nghiệm trên giá thể thích hợp

Đề tài tiến hành so sánh tỷ lệ sống và các chỉ tiêu sinh trưởng của cây cấy mô sâm Ngọc Linh trên các giá thể khác nhau và được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên (CRD)

Kết quả cho thấy:

Giá thể là dớn trắng thích hợp nhất cho cây cấy mô sâm Ngọc Linh (tỷ lệ sống cao, có sự tăng trưởng về các chỉ tiêu sinh trưởng) Các giá thể có sự tham gia của GAM-Sord đều ảnh hưởng bất lợi đến tỷ lệ sống sót của cây Việc nuôi trồng sâm sau ống nghiệm không nên sử dụng giá thể là GAM-Sord (cây chết 100% chỉ sau một tuần)

Trang 7

Trang tựa i

Lời cảm ơn iv

Tóm tắt v

Mục lục vi

Danh sách các hình và biểu đồ ix

Chương 1.MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích, mục tiêu của đề tài 3

Chương 2.TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

2.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 4

2.1.1.Vị trí địa lý 4

2.1.3 Khí hậu 5

2.1.4 Tài nguyên đất 5

2.1.5 Tài nguyên rừng 5

2.2 Đối tượng nghiên cứu: Sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis Ha et Grushv) 6

2.2.1 Nguồn gốc và lịch sử phát triển sâm Ngọc Linh 6

2.2.2 Đặc điểm sinh học và phân bố sâm Ngọc Linh 6

2.2.3 Tác dụng dược lý của sâm Ngọc Linh 8

2.2.4 Hiện trạng và tiềm năng của sâm Ngọc Linh 9

Chương 3.NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13

3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 13

3.2 Điều kiện ngoại cảnh 13

3.3 Điều kiện kỹ thuật 13

3.4 Cách xử lý các giá thể nhằm đảm bảo yêu cầu kỹ thuật trong công việc nuôi trồng 14

3.5 Nguồn mẫu và cách xử lý mẫu 15

3.6 Nội dung nghiên cứu 16

3.7 Phương pháp nghiên cứu 16

3 7.1 Bố trí thí nghiệm: 16

3.7.2 Chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thu thập số liệu 18

Trang 8

4.1 Thí nghiệm 1: Tìm hiểu ảnh hưởng của các giá thể: GAM-Sord, cát + GAM-Sord, dớn trắng đến tỷ lệ sống và các chỉ tiêu sinh trưởng về hệ rễ, lá, trọng lượng tươi

đối với 3 cấp cây cấy mô sâm Ngọc Linh sau 45 ngày 21

4.1.1 Đối với mẫu cây cấp 1 21

4.1.1.1 Tỷ lệ % cây sống 22

4.1.1.2 Trọng lượng tươi (g/cây) 24

4.1.1.3 Diện tích lá (cm2) 25

4.1.1.4 Số lượng rễ/cây 26

4.1.1.5 Chiều dài rễ (cm) 27

4.1.2 Đối với mẫu cây cấp 2 29

4.1.2.1 Tỷ lệ % cây sống 29

4.1.2.2 Trọng lượng tươi (g/cây) 31

4.1.2.3 Diện tích lá (cm2) 32

4.1.2.4 Số lượng rễ/cây 34

4.1.2.5 Chiều dài rễ (cm) 35

4.1.3 Đối với mẫu cây cấp 3 36

4.1.3.1 Tỷ lệ % cây sống 36

4.1.3.2 Trọng lượng tươi (g/cây) 38

4.1.3.3 Số lượng rễ/cây 39

4.1.3.4 Chiều dài rễ (cm) 40

4.2 Thí nghiệm 2: Tìm hiểu ảnh hưởng của các giá thể: bột dừa, cát + GAM-Sord, đất rừng + GAM-Sord, trấu đốt + GAM-Sord so với giá thể đối chứng là dớn trắng về tỷ lệ sống và các chỉ tiêu sinh trưởng về hệ rễ, lá, trọng lượng tươi của cây cấy mô sâm Ngọc Linh sau 30 ngày 41

4.2.1 Tỷ lệ % cây sống 41

4.2.2 Trọng lượng tươi (g/cây) 43

4.2.3 Diện tích lá (cm2) 44

4.2.4 Số lượng rễ/cây 44

Trang 9

5.2 Đề nghị 52TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 10

Bảng 4.1 Kết quả theo dõi tỷ lệ % cây sống, trọng lượng tươi, diện tích lá, số lượng rễ

và chiều dài rễ trung bình của mẫu cây cấp 1 sâm Ngọc Linh sau 45 ngày 21

Bảng 4.1.a Kết quả theo dõi tỷ lệ % cây sống 22

Biểu đồ 4.1 Tỷ lệ sống trung bình của cây cấp 1 trên các loại giá thể 22

Bảng 4.1.b Kết quả phân tích phương sai từ số liệu bảng 4.1.a 22

Bảng 4.1.c Kết quả so sánh đối chiếu các nghiệm thức (chỉ tiêu tỷ lệ % cây sống) 23

Bảng 4.2.a Kết quả theo dõi trọng lượng tươi (g/cây) 24

Bảng 4.2.b Kết quả phân tích phương sai từ số liệu bảng 4.2.a 24

Bảng 4.2.c Kết quả so sánh đối chiếu các nghiệm thức trọng lượng tươi (g/cây) 24

Bảng 4.3.a Kết quả theo dõi diện tích lá 25

Bảng 4.3.b Kết quả phân tích phương sai từ số liệu bảng 4.3.a 25

Bảng 4.3.c Kết quả so sánh đối chiếu các nghiệm thức (diện tích lá) 25

Bảng 4.4.a Kết quả theo dõi số lượng rễ/cây 26

Bảng 4.4.b Kết quả phân tích phương sai từ số liệu bảng 4.4.a 26

Bảng 4.4.c Kết quả so sánh đối chiếu các nghiệm thức (số lượng rễ/cây) 27

Bảng 4.5.a Kết quả theo dõi chiều dài rễ 27

Bảng 4.5.b Kết quả phân tích phương sai từ số liệu bảng 4.5.a 28

Bảng 4.5.c Kết quả so sánh đối chiếu các nghiệm thức (chiều dài rễ) 28

Bảng 4.2 Kết quả theo dõi tỷ lệ % cây sống, trọng lượng tươi, diện tích lá, số lượng rễ và chiều dài rễ trung bình của mẫu cây cấp 2 sâm Ngọc Linh sau 45 ngày 29

Bảng 4.6.a Kết quả theo dõi tỷ lệ % cây sống 29

Bảng 4.6.b Kết quả phân tích phương sai từ số liệu bảng 4.6.a 30

Bảng 4.6.c Kết quả so sánh đối chiếu các nghiệm thức (tỷ lệ % cây sống) 30

Bảng 4.7.a Kết quả theo dõi trọng lượng tươi 31

Bảng 4.7.b Kết quả phân tích phương sai từ số liệu bảng 4.7.a 31

Bảng 4.7.c Kết quả so sánh đối chiếu các nghiệm thức (trọng lượng tươi) 32

Bảng 4.8.a Kết quả theo dõi diện tích lá 32

Bảng 4.8.b Kết quả phân tích phương sai từ số liệu bảng 4.8.a 33

Trang 11

Bảng 4.9.c Kết quả so sánh đối chiếu các nghiệm thức (số lượng rễ/cây) 34

Bảng 4.10.a Kết quả theo dõi chiều dài rễ 35

Bảng 4.10.b Kết quả phân tích phương sai từ số liệu bảng 4.10.a 35

Bảng 4.10.c Kết quả so sánh đối chiếu các nghiệm thức (chiều dài rễ) 35

Bảng 4.3 Kết quả theo dõi tỷ lệ % cây sống, trọng lượng tươi, số lượng rễ và chiều dài rễ trung bình của mẫu cây cấp 3 sâm Ngọc Linh sau 45 ngày 36

Bảng 4.11.a Kết quả theo dõi tỷ lệ % cây sống 36

Biểu đồ 4.11 Tỷ lệ sống trung bình của cây cấp 3 trên các loại giá thể 37

Bảng 4.11.b Kết quả phân tích phương sai từ số liệu bảng 4.11.a 37

Bảng 4.11.c Kết quả so sánh đối chiếu các nghiệm thức (tỷ lệ % cây sống) 37

Bảng 4.12.a Kết quả theo dõi trọng lượng tươi 38

Bảng 4.12.b Kết quả phân tích phương sai từ số liệu bảng 4.12.a 38

Bảng 4.12.c Kết quả so sánh đối chiếu các nghiệm thức (trọng lượng tươi) 38

Bảng 4.13.a Kết quả theo dõi số lượng rễ/cây 39

Bảng 4.13.b Kết quả phân tích phương sai từ số liệu bảng 4.13.a 39

Bảng 4.13.c Kết quả so sánh đối chiếu các nghiệm thức (số lượng rễ/cây) 39

Bảng 4.14.a Kết quả theo dõi chiều dài rễ 40

Bảng 4.14.b Kết quả phân tích phương sai từ số liệu bảng 4.14.a 40

Bảng 4.14.c Kết quả so sánh đối chiếu các nghiệm thức (chiều dài rễ) 40

Bảng 4.4 Kết quả theo dõi tỷ lệ % cây sống, trọng lượng tươi, diện tích lá, số lượng rễ và chiều dài rễ trung bình của mẫu cây cấp 1 sâm Ngọc Linh sau 30 ngày 41

Bảng 4.15.a Kết quả theo dõi tỷ lệ % cây sống 41

Biểu đồ 4.15 Tỷ lệ sống trung bình của cây cấp 1 trên các loại giá thể 42

Bảng 4.15.b Kết quả phân tích phương sai từ số liệu bảng 4.15.a 42

Bảng 4.15.c Kết quả so sánh đối chiếu các nghiệm thức (tỷ lệ % cây sống) 42

Bảng 4.16.a Kết quả theo dõi trọng lượng tươi 43

Bảng 4.16.b Kết quả phân tích phương sai từ số liệu bảng 4.16.a 43

Bảng 4.17.a Kết quả theo dõi diện tích lá 44

Trang 12

Bảng 4.18.c Kết quả so sánh đối chiếu các nghiệm thức (số lượng rễ) 45

Bảng 4.19.a Kết quả theo dõi chiều dài rễ 45

Bảng 4.19.b Kết quả phân tích phương sai từ số liệu bảng 4.19.a 46

Bảng 4.19.c Kết quả so sánh đối chiếu các nghiệm thức (chiều dài rễ) 46

Trang 13

Chương 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Trong tất cả các vị thuốc Đông y thì nhân sâm là vị thuốc quý, được truyền miệng và sử dụng nhiều nhất Về phía Tây y, cũng có một số nghiên cứu về sâm được thực hiện nhằm tìm ra những hoạt chất quý giúp tăng tuổi thọ, trợ giúp điều trị ung thư Để có lượng sâm dồi dào cung cấp cho nhu cầu thị trường, các nước như Trung Quốc, Hoa Kỳ, Hàn Quốc đều trồng sâm để chủ động về thu hoạch thay thế nguồn sâm thiên nhiên đang dần cạn kiệt Ở Việt Nam cũng đã và đang có những nghiên cứu chuyên sâu, ứng dụng sản xuất có hiệu quả giống sâm quý

Năm 1973, đoàn điều tra dược liệu của Ban Dân y Liên khu 5 do Dược sĩ Đào

1800m trên vùng núi Ngọc Linh Qua quá trình nghiên cứu đã đưa ra kết luận đây là một loại nhân sâm vô cùng quý hiếm, khu ủy khu 5 đã khoanh vùng bảo vệ, khai thác làm thuốc chữa bệnh cho cán bộ, chiến sỹ

Hơn 30 năm sau, một cây cỏ hoang dại sống từ khai thiên lập địa, âm thầm trên núi Ngọc Linh đã trở thành danh thảo nổi tiếng khắp trong và ngoài nước với tên gọi

Sâm Ngọc Linh hay Sâm Việt Nam (Panax vietnamensis Ha et Grushv), được xếp vào

một trong 5 loài sâm quý của thế giới Ngoài tác dụng tăng lực, chống lão hóa, tăng sức đề kháng như các loài sâm khác, sâm Việt Nam còn có tính kháng khuẩn, chống stress tâm lý Khoa học đã chứng minh tuổi thọ của sâm Ngọc Linh lên tới 500 năm tuổi Là loài cây có giá trị kinh tế cao (giá trên thị trường khoảng trên dưới 20 triệu đồng/kg sâm tươi, cao gấp 3 - 4 lần so với sâm Mỹ, sâm Triều Tiên, và giá sâm khô cũng trên dưới 100 triệu đồng/kg) Sâm Ngọc Linh được xem là vùng sâm thuộc khu vực nhiệt đới độc nhất còn lại trên thế giới

Theo Sở Khoa học và Công nghệ Kon Tum, trước đây, do những bất cập trong chính sách và công tác quản lý, cây sâm Ngọc Linh trong tự nhiên hầu như bị khai thác

Trang 14

cạn kiệt và có nguy cơ tuyệt chủng, là một loài thực vật nằm trong sách đỏ Việt Nam cấm khai thác Mặt khác, do phân bố hẹp, chủ yếu ở hai bên sườn núi Ngọc Linh ( Trà

My - Quảng Nam và Đăk Tô - Kon Tum), là loại cây sinh trưởng chậm ( hơn 6 năm mới có thể sử dụng), điều kiện sống khá đặc biệt nên rất khó trồng và phổ biến rộng rãi Vì vậy, việc bảo tồn và phát triển loài thực vật quý hiếm này đặt ra nhiều vấn đề đáng quan tâm đối với các nhà khoa học và quản lý

Việc nhân giống sâm Ngọc Linh ngoài tự nhiên rất hạn chế do mỗi năm chỉ có khoảng 100.000 hạt giống Số hạt giống này không đảm bảo tỷ lệ sống và đặc tính di truyền, đó là còn chưa nói đến quá trình cây sâm sinh trưởng, phát triển và cho ra hạt cũng phải 4-5 năm tuổi trong khi nhu cầu về cây giống lại rất cao Với ưu điểm không phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, sản xuất số lượng lớn cây giống đồng nhất về hình thái và có thể sản xuất cây giống quanh năm nên phương pháp nhân giống vô tính cây sâm thông qua kỹ thuật nuôi cấy mô được xem là giải pháp tối ưu cho việc bảo tồn sâm Ngọc Linh cũng như phát triển loại cây dược liệu quý hiếm này

Năm 2006, Viện Sinh học Tây Nguyên đã chủ trì đề tài Nghiên cứu nhân giống

vô tính và sản xuất sinh khối rễ cây sâm Ngọc Linh với mục tiêu nghiên cứu nhân giống vô tính cây sâm Ngọc Linh để cung cấp cây giống và nhân sinh khối rễ sâm bằng hệ thống nuôi cấy bioreactor Theo Tiến Sĩ Dương Tấn Nhựt (chủ nhiệm đề tài),

đề tài này mang tính rủi ro khá cao vì từ trước đến nay chưa có cây sâm (nhân giống

vô tính invitro) nào sống sót sau khi đưa ra trồng ở môi trường tự nhiên

Theo Bí thư tỉnh ủy tỉnh Kon Tum và Giám đốc công ty sâm Ngọc Linh cho biết, cho đến nay hầu như chưa có một cây con sau ống nghiệm nào trồng thành công tại Kon Tum mà hầu hết là được trồng từ hạt

Đến năm 2010, sau nhiều lần đưa cây sâm vô tính lên trồng ở khu vực núi Ngọc Linh với hơn 2.000 cây, Tiến Sĩ Nhựt đã gặt hái được kết quả rất đáng vui mừng, tỷ lệ cây sống đạt khoảng 80%

Phương pháp nhân giống invitro là hướng đi được nhiều người kỳ vọng, nếu thành công sẽ giải tỏa được áp lực về cây giống vì có thể nhân giống và ra bầu nhanh chóng một lượng lớn cây giống trong một thời gian ngắn hơn (khoảng 3 tháng) so với chu kỳ 1 năm của việc nhân giống hữu tính bằng hạt

Trang 15

Để nuôi trồng cây nhân giống vô tính ngoài môi trường tự nhiên thì yếu tố giá thể là hết sức quan trọng Giá thể có thể hiểu đơn giản là loại môi trường sinh học nhân tạo được sử dụng trong kỹ thuật ra cây sau nuôi cấy trong phòng thí nghiệm, nó ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ sống và sinh trưởng, phát triển của cây

Với mong muốn góp phần vào việc tìm hiểu, nghiên cứu và xây dựng các biện pháp kỹ thuật nuôi trồng sâm Ngọc Linh ở nơi có điều kiện khí hậu phù hợp, em thực hiện đề

tài: “Tìm hiểu ảnh hưởng của các loại giá thể như: GAM-sord (polime tinh bột), cát, dớn trắng, bột dừa, đất rừng, trấu đốt, mốp…đến tỷ lệ sống của cây mô Sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis Ha et Grushv) từ giai đoạn invitro sang giai đoạn invivo tại Công ty cổ phần Sài Gòn Măng Đen, huyện Konplong, tỉnh Kon Tum”

Do trình độ và khả năng còn hạn chế, tài liệu liên quan đến đề tài còn ít nên đề tài khó tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo tận tình của quý thầy cô và ý kiến của độc giả

1.2 Mục đích, mục tiêu của đề tài

Mục đích: Trồng thành công cây cấy mô sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis

Ha et Grushv) giai đoạn sau ống nghiệm trên giá thể thích hợp

Mục tiêu:

- Xác lập hay chọn lọc được loại giá thể có ảnh hưởng tốt đến tỷ lệ sống, hệ rễ,

lá, trọng lượng tươi của cây cấy mô sâm Ngọc Linh

- Tìm hiểu, phân tích ưu nhược điểm của từng loại giá thể

- Chọn ra giá thể thích hợp, đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật để ứng dụng vào sản xuất đại trà

Trang 16

Chương 2

2.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu

2.1.1.Vị trí địa lý

Kon Tum là một tỉnh miền núi nằm ở cực bắc Tây Nguyên

- Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam

- Phía Đông giáp tỉnh Quảng Ngãi

- Phía Nam giáp tỉnh Gia Lai

- Phía Tây giáp Cộng hoà Dân Chủ Nhân Dân Lào và Vương quốc

Campuchia (có chung đường biên giới dài 280.7 km)

- Tọa độ địa lý:

- Kon Tum có diện tích tự nhiên 9676.5 km2, chiếm 3.1% diện tích toàn quốc Đơn vị hành chính tỉnh Kon Tum gồm 8 huyện và 1 thị xã Kon Tum - trung tâm kinh

tế - chính trị - văn hóa - xã hội của tỉnh; dân số trung bình khoảng 389.745 người với hơn 22 dân tộc sinh sống, trong đó dân tộc thiểu số chiếm trên 53% dân số Công ty cổ phần Sài Gòn Măng Đen nằm trên cao nguyên Măng Đen (huyện Kon Plong, tỉnh Kon Tum), cách thị xã Kon Tum chừng 50km, quanh năm bồng bềnh trong màn sương huyền ảo và tiết trời mát dịu được ví như Đà Lạt thứ 2 của Tây Nguyên

Trang 17

1100 - 1300m, phát triển theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, địa hình phân cắt mạnh, bề mặt lồi kéo dài

2.1.3 Khí hậu

Khí hậu Kon Tum có nét chung của khí hậu vùng nhiệt đới gió mùa của phía

bình năm 1.880 mm, có sự phân hoá theo thời gian và không gian Mỗi năm có hai mùa rõ rệt: Mùa mưa chủ yếu bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 11, mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau

Cao nguyên Măng Đen (huyện Konplong) thuộc khu vực khí hậu Đông dãy

Trang 18

cho công tác nghiên cứu khoa học, trong đó điển hình là cây sâm khu 5, đặc sản quý

của núi rừng Ngọc Linh phía bắc Kon Tum

2.2 Đối tượng nghiên cứu: Sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis Ha et Grushv)

2.2.1 Nguồn gốc và lịch sử phát triển sâm Ngọc Linh

Cây sâm Việt Nam là cây thuốc giấu của đồng bào dân tộc Xê Đăng sống trên vùng núi cao thuộc hai tỉnh Kon Tum và Quảng Nam; thân thảo sống đan xen trong quần thể thực vật đa dạng vùng rừng núi hiểm trở, lạnh và mây mù gần như quanh năm, không có dân cư

Năm 1973, đoàn điều tra dược liệu Ban Dân Y khu 5 do Dược sỹ Đào Kim Long và Nguyễn Châu Giang hướng dẫn đã phát hiện một loài Panax mọc thành quần thể ở độ cao 1800m tại vùng Lộc Lây, huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum và đặc tên là

“sâm đốt trúc” với tên khoa học sơ bộ xác định là Panax articulatus KL Dao ( trong

kháng chiến để giữ bí mật nên thường gọi là Sâm K5), họ nhân sâm (Araliaceae)

Năm 1974, qua báo cáo của Dược sỹ Nguyễn Thới Nhâm về kết quả phân tích

sơ bộ cây sâm K5 so với cây sâm Triều Tiên và sâm tam thất Khu ủy Khu 5 đã cho bảo vệ chặt chẽ vùng sâm này và cũng từ đấy sâm K5 được sử dụng để chữa bệnh có hiệu quả cho các thương bệnh binh, cán bộ và nhân dân

Trải qua hơn 30 năm, sâm K5 còn gọi là Sâm Ngọc Linh hay sâm Việt Nam,

một loài sâm đặc hữu của nước ta dã được thế giới biết đến với tên khoa học là Panax

vietnamensis Ha et Grushv (Hà Thị Dung và Grushvisky, 1985)

2.2.2 Đặc điểm sinh học và phân bố sâm Ngọc Linh

Phân loại khoa học

Tên thường gọi: Sâm Ngọc Linh, sâm Việt Nam, sâm Khu Năm (sâm K5), sâm trúc (sâm đốt trúc, trúc tiết nhân sâm), củ ngải rọm con hay cây thuốc giấu

Trang 19

+ Đặc điểm hình thái:

Sâm Ngọc Linh có dạng thân khí sinh thẳng đứng, màu lục hoặc hơi tím, nhỏ,

có đường kính thân độ 4-8mm, thường tàn lụi hàng năm tuy thỉnh thoảng cũng tồn tại một vài thân trong vài năm Thân rễ có đường kính 1-2cm, mọc bò ngang như củ hoàng tinh trên hoặc dưới mặt đất độ 1-3cm, mang nhiều rễ nhánh và củ Các thân mang lá và tương ứng với mỗi thân mang lá là một đốt dài khoảng 0.5-0.7cm, tuy sâm chỉ có một lá duy nhất không rụng suốt từ năm thứ 1 đến năm thứ 3 và chỉ từ năm thứ

4 trở đi mới có thêm 2 đến 3 lá

Lá kép hình chân vịt mọc vòng với 3-5 nhánh lá, mọc ở đỉnh thân Cuống lá kép dài 6-12mm, mang 5 lá chét, lá chét ở chính giữa lớn hơn cả với độ dài 12-15cm, rộng 3-4 cm Lá chét phiến hình bầu dục, mép khía răng cưa, chóp nhọn, lá có lông ở cả hai mặt

Cây 4 - 5 năm tuổi có hoa hình tán đơn mọc dưới các lá thẳng với thân, cuống tán hoa dài 10 - 20 cm có thể kèm 1 - 4 tán phụ hay một hoa riêng lẻ ở phía dưới tán chính Mỗi tán có 60 - 100 hoa, cuống hoa ngắn 1 - 1.5 cm, lá đài 5, cánh hoa 5, màu vàng nhạt, nhị 5, bầu 1 ô với 1 vòi nhụy

Quả mọc tập trung ở trung tâm của tán lá, dài độ 0.8cm - 1cm và rộng khoảng 0.5cm - 0.6cm, sau hai tháng bắt đầu chuyển từ màu xanh đến xanh thẫm, vàng lục, khi chín ngả màu đỏ cam với một chấm đen không đều ở đỉnh quả Mỗi quả chứa một hạt, một số quả chứa 2 hạt và số quả trên cây bình quân khoảng 10 đến 30 quả

Mùa hoa nở từ tháng 4 đến tháng 5, mùa ra quả từ tháng 7 đến tháng 9 hàng năm

+ Đăc điểm sinh thái:

Mọc dưới tán rừng ẩm, nhiều mùn, thích hợp với nhiệt độ ban ngày từ 20°C - 25°C, ban đêm 15°C - 18°C, sâm Ngọc Linh có thể sống rất lâu, thậm chí trên 100 năm, sinh trưởng khá chậm Bộ phận dùng làm thuốc chủ yếu là thân rễ, củ và ngoài ra cũng có thể dùng lá và rễ con

Trang 20

tuyến Bắc, đỉnh cao nhất là Ngọc Linh cao 2598m Những điểm vốn trước đây có sâm Ngọc Linh mọc tự nhiên từ độ cao khoảng 1500m đến 2200m, chủ yếu tập trung ở

1800 – 2000m, thuộc địa bàn của hai huyện Đăk Tô (Kon Tum) và Trà My (Quảng Nam)

Năm 1894, Nhà nước quy hoạch vùng sâm thành vùng cấm quốc gia nhằm bảo

vệ và phát triển cây thuốc quý này Tuy nhiên trong hai thập kỷ qua, do khai thác quá mức nên sâm Ngọc Linh đang có nguy cơ tuyệt chủng Cây đã được đưa vào sách đỏ Việt Nam và danh lục đỏ cây thuộc Việt Nam Hiện nay vùng sâm Việt Nam được xem là vùng sâm thuộc khu vực nhiệt đới độc nhất còn lại trên thế giới Ngoài Ngọc Linh, sâm còn phân bố tại núi Ngọc Lum Heo thuộc xã Phước Lộc, huyện Phước Sơn

và còn có thể có ở đỉnh Ngọc Am tỉnh Quảng Nam theo những kết quả điều tra mới nhất Trên độ cao 1.200 đến 2.100m, sâm Ngọc Linh mọc dày thành đám dưới tán rừng dọc theo các suối ẩm trên đất nhiều mùn

2.2.3 Tác dụng dược lý của sâm Ngọc Linh

+ Tính vị: Có vị đắng kéo dài, không độc

kết quả nghiên cứu từ năm 1978 của Bộ Y tế Việt Nam, phần thân rễ của cây sâm Ngọc Linh Việt Nam chứa 26 hợp chất saponin có cấu trúc hóa học đã biết (thường thấy ở sâm Triều Tiên, sâm Mỹ, sâm Nhật) và 24 saponin có cấu trúc mới không có trong các loại sâm khác, trong khi sâm Triều Tiên có khoảng 25 saponin Những kết quả nghiên cứu, phân lập thành phần hóa học mới nhất được công bố còn kéo dài danh sách saponin của sâm Ngọc Linh hơn nữa, lên tổng cộng 52 loại Ngoài ra trong sâm Ngọc Linh còn có 14 axít béo, 16 axít amin (trong đó có 8 axít amin không thay thế được) và 18 nguyên tố đa lượng, vi lượng

nhiều nhất, tương tự một số cây sâm quý đã từng được nghiên cứu sử dụng từ lâu trên thế giới Hợp chất hóa học đa dạng và tác dụng thực tiễn đối với sức khỏe của con người khiến sâm Ngọc Linh hiện nay được bán trên thị trường với giá càng ngày càng cao, thậm chí còn cao hơn sâm Triều Tiên nhiều lần

Trang 21

+ Tác dụng đối với sức khỏe:

Trước khi có những nghiên cứu kỹ lưỡng về tác dụng đối với sức khỏe của sâm Ngọc Linh, sâm đã được các dân tộc thiểu số Việt Nam, như người Xê Đăng, dùng như một loại thuốc trong những bài thuốc cổ truyền cầm máu, lành vết thương, làm thuốc bổ, sốt rét, đau bụng, phù thũng

Theo Tiến sĩ Nguyễn Bá Hoạt, Phó viện trưởng Viện Dược liệu Việt Nam, những kết quả nghiên cứu dược lý thực nghiệm sâm Ngọc Linh đã chứng minh tác dụng chống stress vật lý, stress tâm lý và trầm cảm, kích thích hệ miễn dịch, chống ôxi hóa, lão hóa, phòng chống ung thư, bảo vệ tế bào gan

Nghiên cứu dược lý lâm sàng của sâm Ngọc Linh cũng cho kết quả tốt: bệnh nhân ăn ngon, ngủ tốt, lên cân, tăng thị lực, hoạt động trí tuệ và thể lực cải thiện, gia tăng sức đề kháng, cải thiện các trường hợp suy nhược thần kinh và suy nhược sinh dục, nâng cao huyết áp ở người bị huyết áp thấp

Theo Dược sĩ Đào Kim Long, sâm Ngọc Linh còn có những tính năng tuyệt hảo như tăng lực, phục hồi sự suy giảm chức năng giúp cho tình trạng của cơ thể trở lại bình thường; kháng các độc tố gây hại tế bào, giúp kéo dài sự sống của tế bào và tăng các tế bào mới

Đặc biệt, sâm Ngọc Linh có những tính năng mà sâm Triều Tiên và sâm Trung

hiệp lực tốt với thuốc kháng sinh, thuốc trị bệnh tiểu đường

2.2.4 Hiện trạng và tiềm năng của sâm Ngọc Linh

Sau khi dược tính và tác dụng đối với sức khỏe của sâm Ngọc Linh được công

bố công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, những năm 80 của thế kỷ 20, trên thị trường tự do giá sâm Ngọc Linh tương đương giá sâm Triều Tiên và vào những năm 90, giá sâm Ngọc Linh còn đắt hơn sâm Triều Tiên nhiều lần Theo Dược

sĩ Đào Kim Long thì ngay cả dân Hàn Quốc, Nhật Bản, xứ sở của sâm, cũng qua đây tìm cho được sâm Ngọc Linh để chữa bệnh Việc khai thác, mua bán và sử dụng tràn lan chưa có quy định quản lý, bảo vệ cùng các chính sách, giải pháp đầu tư, quy hoạch phát triển khiến trên 108 vùng sâm mọc tự nhiên giữa Quảng Nam và Kon Tum dần cạn kiệt, kéo theo hàng ngàn hecta rừng nguyên sinh bị tàn phá nặng nề Trước nguy

Trang 22

cơ tuyệt chủng của giống sâm quý, Chính phủ Việt Nam đã quyết định thành lập vùng cấm quốc gia ở khu vực có sâm mọc tập trung tại 2 tỉnh Kon Tum và Quảng Nam, đồng thời xếp sâm Ngọc Linh vào danh sách các loại cây cấm khai thác, mua bán bất hợp pháp

Để bảo vệ và phát triển cây thuốc này cùng một số cây dược liệu khác, Trại dược liệu Trà Linh được thành lập tại Quảng Nam Tháng 4 năm 1987, trại đã thu được 53,3kg thân rễ, trồng được 81.000 cây sâm và đến tháng 9 nǎm 1992 trại đã có 100.000 cây Từ nǎm 1985, Trại đã áp dụng các biện pháp bón phân và chǎm sóc để tǎng nǎng suất thân rễ, tǎng tỷ lệ nảy mầm và tỷ lệ cây sống

Từ tháng 1 năm 1995, công việc nghiên cứu gieo trồng sâm Ngọc Linh được tiến hành một cách có hệ thống hơn tại Trại Dược liệu Trà Linh, với việc nhân giống bằng cây lai hữu tính và vô tính, gia tăng diện tích trồng, vận động bà con dân tộc thiểu số trong vùng nhận giống về trồng Kết quả của những nỗ lực từ Trại Dược liệu

đã giúp tăng số lượng hạt đậu trên cây, tỷ lệ nảy mầu của hạt cao đến 75% khi gieo trồng và tỷ lệ cây sống khi trồng đại trà lên tới 95% Đặc biệt, với việc áp dụng thành công phương pháp nhân giống vô tính bằng cách ươm đoạn đầu của thân rễ trong túi polyethylen hoặc ươm trên đất mùn cho tỷ lệ sống và đâm chồi tới 65% Cây nhân bản

vô tính mọc khỏe, nhanh, ra hoa sớm và năng suất thân rễ và củ cao hơn so với cây mọc từ hạt

Đến nay, trại Trà Linh đã quản lý điểm trồng sâm trên 3ha với hơn 270.000 cá thể, trong đó gần 100.000 cây đang ra hoa đậu quả (cây trên 4 tuổi); đồng thời gieo ươm 50 - 70 ngàn cây giống mỗi năm Trong khi đó, tại Kon Tum, lâm trường Ngọc Linh đang lưu giữ 4.000 mét vuông cây sâm ở xã Măng Ri (huyện Đăk Tô) nhưng trồng chưa đúng kỹ thuật nên cây còi cọc, ra hoa đậu quả không đáng kể nên trước mắt còn chưa sản xuất được giống

Tuy cây sâm Ngọc Linh đã thoát nguy cơ tuyệt chủng nhưng độ an toàn còn thấp và mức độ đe dọa vẫn ở bậc E trong sách đỏ Việt Nam Chính phủ Việt Nam và

Bộ Y tế đang từng bước nghiên cứu giải pháp đầu tư phát triển bền vững cho công nghiệp dược phẩm và xuất khẩu với việc đưa sâm Ngọc Linh trở thành cây trồng chính cho vùng cao, khai thác lợi thế khí hậu, thổ nhưỡng để trồng sâm theo hướng sản xuất

Trang 23

hàng hóa và tạo vùng nguyên liệu, hướng tới khẳng định một thương hiệu “sâm Việt Nam” như “sâm Triều Tiên”, “sâm Trung Quốc”, “sâm Nhật Bản”, “sâm Mỹ”

Sự ra đời và phát triển của công nghệ nhân giống vô tính bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật đã đáp ứng được nhu cầu cả về số lượng và chất lượng cây

giống Trên thế giới, cây Nhân Sâm Panax ginseng C A Meyer đã được nhân giống

thành công bằng nuôi cấy mô Vì vậy, nhân giống vô tính cây sâm Ngọc Linh bằng nuôi cấy mô invitro là một kỹ thuật tiên tiến có thể ứng dụng tốt cho sản xuất sản phẩm sâm Ngọc Linh

 Những nghiên cứu invitro trên sâm Ngọc Linh trong thời gian gần đây:

- Năm 2006 Sở Khoa học Công nghệ Kon Tum đã đề xuất với Tiến Sĩ Dương

Tấn Nhựt (Phó Viện trưởng Viện Sinh học Tây Nguyên, chủ nhiệm đề tài) xây dựng

đề án nghiên cứu nhân giống vô tính và sản xuất sinh khối rễ cây sâm Ngọc Linh Tổng kinh phí cho dự án là 1,7 tỷ đồng trong 4 năm (2008 - 2011), nhằm xây dựng quy trình nhân giống với số lượng lớn và sản xuất sinh khối invitro

Trung tâm Sâm và dược liệu Thành Phố Hồ Chí Minh đã phân tích hàm lượng hoạt chất có trong sinh khối rễ và các nguồn sinh khối invitro khác, kết quả thu được cho thấy các hoạt chất chính có trong cây sâm Ngọc Linh đều hiện diện trong các mẫu phân tích và những chất này thông thường chỉ có khi trồng cây sâm tự nhiên từ 4 - 5 năm

- Được sự giúp đỡ của Bộ Khoa học Công nghệ, Bộ Quốc phòng và các nhà

khoa học Hàn Quốc, Học viện Quân y đã triển khai nghiên cứu thành công Đề tài

"Ứng dụng công nghệ Biomass tạo sinh khối tế bào rễ sâm Ngọc Linh” theo Nghị định thư giữa Việt Nam và Hàn Quốc trong thời gian 2006 - 2008 nhằm tạo nguồn hoạt chất

ổn định

Chỉ với một vài tế bào từ rễ của sâm Ngọc Linh, bằng kỹ thuật sinh khối tế bào, các nhà khoa học của Học viện Quân y đã có thể sản xuất sâm Ngọc Linh với số lượng lớn trong vòng 10 - 20 ngày Các hoạt chất có trong sâm Ngọc Linh sinh khối cũng có chất lượng tương đương với sâm Ngọc Linh trong tự nhiên

- Tháng 11 năm 2008, kết quả thí nghiệm: Định tính saponin trong sinh khối

callus, sinh khối rễ, sinh khối chồi sâm Ngọc Linh invitro đã nhận thấy sự hiện diện

Trang 24

của Majonoside - R2 Đây là hợp chất chủ yếu quyết định các tác dụng sinh học điển hình của sâm Ngọc Linh (Luận văn Thạc sĩ sinh học Vũ Quốc Luận)

- Tháng 4 năm 2010, qua phân tích phôi sâm Ngọc Linh của Công ty Nam An,

thôn 1, xã Lộc An, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng, tổng hàm lượng saponin gấp 12 lần so với kết quả của Học Viện Quân y

Trang 25

Chương 3

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Đề tài được thực hiện tại Công ty cổ phần Sài Gòn Măng Đen, thị trấn Măng Đen, huyện Konplong, tỉnh Kon Tum

Thời gian thực hiện đề tài: 1/5/2010 đến 30/7/2010

3.2 Điều kiện ngoại cảnh

Các yếu tố ngoại cảnh tại khu vực tiến hành thí nghiệm tương đối thích hợp

cho sự sinh trưởng và phát triển của cây sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis Ha et Grushv)

Thí nghiệm được bố trí dưới dàn che bằng lưới kỹ thuật và tấm lợp nilông che mưa đảm bảo các tiêu chuẩn sau:

- Ánh sáng khuếch tán 30% ánh sáng mặt trời

- Nhiệt độ trung bình 220C, độ ẩm trung bình 82-84%

- Chế độ gió: khu vực thí nghiệm được che bằng lưới hạn chế gió mạnh nhưng

vẫn đảm bảo độ thông thoáng

3.3 Điều kiện kỹ thuật

Do đối tượng thí nghiệm được lấy từ cây cấy mô trong ống nghiệm nên điều kiện kỹ thuật phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau:

- Trước khi trồng phải chuẩn bị đầy đủ những vật liệu, vật dụng cần thiết như:

giá thể, khay trồng…và giá thể phải được xử lý hạn chế mầm bệnh lây nhiễm cho cây

- Thao tác lấy cây khỏi ống nghiệm và thao tác trồng phải nhẹ nhàng cẩn thận,

tránh làm tổn thương các bộ phận của cây để hạn chế sự xâm nhập của nấm bệnh từ môi trường ngoài

- Kỹ thuật chăm sóc:

Trang 26

+ Nước tưới phải sạch, tưới bằng bình phun không tạo áp lực mạnh làm tổn thương cây

Mùa khô tưới nước cho cây 2 lần/ngày

Mùa mưa tưới nước 1 lần/ngày

Thời điểm tưới tốt nhất cho cây là vào buổi sáng, tất cả các biện pháp tưới theo nguyên tắc “chất trồng đã ráo nước mới được tưới nước”

+ Cung cấp dinh dưỡng:

Cây sau khi trồng được một tuần mới bắt đầu cung cấp dinh dưỡng

Sử dụng phân vô cơ NPK (30-10-10) 1/16 muỗng cà phê, dung dịch kích thích

rễ 1ppm NAA; 0.5ppm B1 và GreenNA (thành phần cơ bản hữu cơ với tỷ lệ potasium K-humat 26% với tổng lượng vi lượng 0.05% Fe, Cu, Zn, Mn, B, Mo) 0.5ml Tất cả pha trong 1 lít nước

Phun 2 lần/tuần, sau khi phun 2h phải phun lại bằng nước

3.4 Cách xử lý các giá thể nhằm đảm bảo yêu cầu kỹ thuật trong công việc nuôi trồng

+ Dớn trắng

Dớn trắng rất có giá trị vì chúng có cấu trúc dạng sợi, rất dài, dù ở dạng khô hay tươi Các sợi dớn dù khô hay tươi cũng rất bền, chắc, khó bị phân huỷ nên khi sử dụng rất ít bị thay chất trồng như các chất trồng khác Dớn trắng còn có một số thành phần kháng khuẩn tự nhiên giúp ức chế sự tăng trưởng của một số nấm

Dớn có khả năng giữ nước rất lớn gấp 20 lần trọng lượng khô của chúng, cần phải ngâm dớn trong nước khoảng 30 phút sau đó rửa lại 2 đến 3 lần

+ Cát

Cát phải được rửa sạch luôn được tưới ẩm Có ưu điểm là thoáng khí nhưng

nghèo chất dinh dưỡng và nhanh bị khô

+ GAM-Sord (polime tinh bột giữ nước)

Là loại vật liệu polime rất thân thiện với môi trường vì các polime có nguồn gốc tự nhiên nên có thể tái tạo và tự phân huỷ trong đất

GAM-Sorb khi gặp nước trương lên 100 lần so với thể tích ban đầu của nó, ở 6g trong 1000ml nước đã trương nở toàn phần Sản phẩm này phối trộn với đất để cung cấp nước dần cho cây, tiết kiệm nước tưới, điều hòa, giữ độ ẩm cho đất Thường

Trang 27

4-được ngâm trong nước khoảng 15 - 20 phút trước khi sử dụng để pha trộn với các loại giá thể trồng cây sau nuôi cấy mô với một tỷ lệ thích hợp, phù hợp với từng loại cây

+ Đất rừng

Được lấy dưới tán rừng tự nhiên lá rộng tại thị trấn Măng Đen, huyện Konplong, tỉnh Kon Tum, nên có nhiều mầm bệnh Trước khi sử dụng làm giá thể phải được hấp khoảng 3 tiếng rồi để nguội

3.5 Nguồn mẫu và cách xử lý mẫu

Thí nghiệm tiến hành trên loài Sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis Ha et

Grushv) được lấy từ Phòng thí nghiệm nuôi cấy mô Nam Anh thuộc Công ty Nam An,

946 xa lộ Trường Sơn, phường Linh Trung, quận Thủ Đức, Thành Phố Hồ Chí Minh

Cây đem thí nghiệm là cây đã được 4 tháng tuổi

Cách xử lý mẫu:

- Chai mẫu được bật nút 1-24h nhằm tăng khả năng thích nghi với môi trường

bên ngoài

- Mẫu cấy được lấy nhẹ nhàng ra khỏi ống nghiệm và chia thành 3 cấp:

Cấp 1: chiều cao cây 4-8mm

Cấp 2: chiều cao cây nhỏ hơn 4mm

Cấp 3: chủ yếu là tiền cây con và cây con có rễ củ chưa phát triển phôi lá

Được chia làm 3 cấp như trên là tại vì:

Trang 28

+ Trong chai mẫu luôn có 3 cấp cây trên, cây cấp 2, 3 tương đối nhiều cho nên tận dụng trong nuôi trồng ngoài môi trường thành công sẽ đáp ứng được số lượng cây giống rất lớn với gía thành thấp

+ Phân ra ba cấp cây nhằm theo dõi, đánh giá các chỉ tiêu tỷ lệ sống, hệ rễ, lá và trọng lượng tươi theo 3 cấp độ để thấy rõ sự khác biệt trong từng cấp

- Sau đó rửa bằng nước sạch 1-3 lần nhưng tránh làm tổn thương cây và làm đứt

đỉnh rễ

- Ngâm mẫu trong dung dịch kích thích rễ với liều lượng 1ppm NAA; 0.5ppm

B1 trong 1 lít nước, thời gian khoảng 10 giây

3.6 Nội dung nghiên cứu

Trong khuôn khổ một báo cáo tốt nghiệp, với thời gian hạn chế, đề tài chỉ nghiên cứu được một số nội dung cơ bản sau:

- Tìm hiểu ảnh hưởng của các giá thể đến tỷ lệ sống và các chỉ tiêu sinh trưởng

về hệ rễ, lá, trọng lượng tươi đối với 3 cấp cây cấy mô sâm Ngọc Linh

- Phân tích đánh giá và so sánh với nghiệm thức đối chứng để chọn ra giá thể

thích hợp cho cây sâm Ngọc Linh

3.7 Phương pháp nghiên cứu

Khi các vật liệu đã được chế biến làm giá thể, chúng tôi tiến hành thành lập các nghiệm thức thí nghiệm, mỗi nghiệm thức tương ứng với một giá thể đưa vào thí nghiệm Giá thể có thể là một vật liệu, có thể là hỗn hợp các vật liệu được pha trộn theo một tỷ lệ nhất định

3 7.1 Bố trí thí nghiệm

 Thí nghiệm1: Tìm hiểu ảnh hưởng của các giá thể: Sord, cát + Sord, dớn trắng đến tỷ lệ sống và các chỉ tiêu sinh trưởng về hệ rễ, lá, trọng lượng tươi đối với 3 cấp cây cấy mô sâm Ngọc Linh trong thời gian 45 ngày

GAM-Sử dụng mẫu tương đối đồng nhất cho tất cả các nghiệm thức, các thông số ban đầu của mẫu thí nghiệm như sau:

+ Diện tích lá:

con có rễ củ chưa phát triển phôi lá

Trang 29

Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên (CRD)

Sâm Ngọc Linh được trồng trong khay ly, 1/3 đáy ly được để mốp trắng bẻ nhỏ,

độ dày giá thể xấp xỉ 2/3 ly, bố trí trồng 1 - 2 cây/ly

Trang 30

 Thí nghiệm 2: Tìm hiểu ảnh hưởng của các giá thể: bột dừa, cát + GAM-Sord, đất rừng + GAM-Sord, trấu đốt + GAM-Sord so với giá thể đối chứng là dớn trắng về tỷ lệ sống và các chỉ tiêu sinh trưởng về hệ rễ, lá, trọng lượng tươi của cây cấy mô sâm Ngọc Linh trong thời gian 30 ngày

Thí nghiệm chỉ sử dụng mẫu cây cấp 1, các thông số ban đầu của mẫu thí nghiệm như sau:

Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên (CRD)

Sâm Ngọc Linh được trồng trong khay ly, 1/3 đáy ly được để mốp trắng bẻ nhỏ,

độ dày giá thể xấp xỉ 2/3 ly, bố trí trồng 1-2 cây/ly

3.7.2 Chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thu thập số liệu

Tất cả các chỉ tiêu sinh trưởng cả về định lượng lẫn định tính đều được theo dõi, đánh giá Song vì sâm Ngọc Linh là loài sinh trưởng chậm mà thời gian nuôi trồng ngắn nên các chỉ tiêu về sinh trưởng vẫn chưa thể hiện rõ hoặc chưa có sự khác biệt

Trang 31

Để đảm bảo cho việc xác định chính xác và việc so sánh có ý nghĩa, đề tài chỉ tiến hành đo đếm cụ thể một số chỉ tiêu sau:

sự sinh trưởng của cây

 Phương pháp xác định các chỉ tiêu theo dõi:

- Diện tích lá: được tính ở tất cả các lá của cây đem trồng rồi lấy bình quân

- Chiều dài rễ: được đo ở tất cả các rễ trên cây rồi tính bình quân (cho cây)

- Số lượng rễ: được đếm tất cả các rễ trên cây

- Trọng lượng tươi: được cân trước khi tưới nước trong điều kiện bình thường

- Tỷ lệ sống: số cây còn sống khỏe trên tổng số cây thí nghiệm

Các chỉ tiêu được lấy từ các cây trung bình của một đơn vị thí nghiệm đo vào lần cuối khi kết thúc thí nghiệm

3.7.3 Phương pháp tính toán kết quả

+ Kết quả phân tích phương sai (ANOVA) được xử lý trên phần mềm STATGRAPHIC 3.0 sẽ được trình bày ở bảng số liệu có cấu trúc như sau:

Trang 32

SS: Tổng các bình phương MS: Trung bình bình phương

So sánh P tính với mức ý nghĩa , qua đó sẽ có một trong các kết luận sau:

- Nếu P tính >  = 0.05 thì sự khác biệt giữa các trung bình là không có ý nghĩa

- Nếu P tính <  = 0.05 thì sự khác biệt giữa các trung bình là có ý nghĩa

- Nếu P tính <  = 0.01 thì sự khác biệt giữa các trung bình là rất có ý nghĩa

Từ kết quả phân tích phương sai, chúng ta có kết luận chung về sự khác biệt có

ý nghĩa hay không có ý nghĩa giữa các trung bình nghiệm thức Song, để có những kết

luận cụ thể riêng giữa nghiệm thức này với nghiệm thức khác cần phải qua trắc

nghiệm so sánh giữa các trung bình Hai trắc nghiệm được sử dụng phổ biến trong nghiền cứu khoa học cho các so sánh theo cặp là LSD và DUNCAN Trắc nghiệm LSD thích hợp với so sánh cặp đã dự kiến trước, trắc nghiệm đa biên độ DUNCAN áp dụng đối với so sánh theo cặp bất kỳ

+ Vẽ các biểu đồ trên phần mềm Excel 2007

Trang 33

Chương 4

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Kết quả nghiên cứu sự ảnh hưởng của các giá thể đến tỷ lệ sống và các chỉ tiêu về hệ rễ, lá, trọng lượng tươi của sâm Ngọc Linh

4.1 Thí nghiệm 1: Tìm hiểu ảnh hưởng của các giá thể: Sord, cát + Sord, dớn trắng đến tỷ lệ sống và các chỉ tiêu sinh trưởng về hệ rễ, lá, trọng lượng tươi đối với 3 cấp cây cấy mô sâm Ngọc Linh sau 45 ngày

GAM-4.1.1 Đối với mẫu cây cấp 1

Bảng 4.1 Kết quả theo dõi tỷ lệ % cây sống, trọng lượng tươi, diện tích lá, số lượng rễ và chiều dài rễ trung bình của mẫu cây cấp 1 sâm Ngọc Linh sau 45 ngày

NGHIỆM

THỨC

Tỷ lệ % cây sống trung bình

Trọng lượng tươi trung bình (g/cây)

Diện tích lá trung bình (cm2)

Số lượng rễ/cây trung bình

Chiều dài rễ trung bình (cm) S1 0.00 0.00 0.00 0.0 0.0 S2 26.67 0.16 3.05 16.3 17.5 S3 46.67 0.18 3.25 18.6 20.0 S4 6.67 0.11 2.02 10.3 10.8 S5 93.33 0.21 3.30 22.0 22.8

Trang 34

Biểu đồ 4.1 Tỷ lệ sống trung bình của cây cấp 1 trên các loại giá thể

Bảng 4.1.b Kết quả phân tích phương sai từ số liệu bảng 4.1.a

Trang 35

Bảng 4.1.c Kết quả so sánh đối chiếu các nghiệm thức (chỉ tiêu tỷ lệ % cây sống)

Phương pháp: Trắc nghiệm LSD với P = 0.05

Nhận xét: Từ số liệu thu được ở bảng 4.1.a, biểu đồ 4.1 và kết quả phân tích

phương sai (bảng 4.1.b), với P tính = 0.0000 < 0.01 cho thấy sự khác biệt về tỷ lệ % cây sống giữa các trung bình nghiệm thức là rất có ý nghĩa về mặt thống kê Nghĩa là việc sử dụng các loại giá thể: GAM-Sord, cát + GAM-Sord (6g/1000ml) tỷ lệ (1 cát, 2 GAM-Sord), cát + GAM-Sord (6g/1000ml) tỷ lệ (1 cát, 1 GAM-Sord), cát + GAM-Sord (6g/500ml) tỷ lệ (1 cát, 1 GAM-Sord) và dớn trắng có ảnh hưởng rất khác nhau đến tỷ lệ % cây sống

Qua kết quả so sánh đối chiếu các trung bình nghiệm thức cho thấy, giữa 2 nghiệm thức 1, 4 là không có sự khác biệt về mặt thống kê Còn các nghiệm thức 2, 3

và 5 thì lại rất khác biệt nhau và khác biệt so với 1, 4 về mặt thống kê Từ đó chúng ta

có thể kết luận như sau:

- Việc sử dụng giá thể là GAM-Sord, cát + GAM-Sord (6g/500ml) tỷ lệ (1 cát,

1 GAM-Sord) thì không khác biệt nhau về tỷ lệ % cây sống và có tỷ lệ sống thấp nhất (0%) so với các giá thể còn lại

- Việc sử dụng các giá thể là cát + GAM-Sord (6g/1000ml) tỷ lệ (1 cát, 2 GAM-Sord), cát + GAM-Sord (6g/1000ml) tỷ lệ (1 cát, 1 GAM-Sord) và dớn trắng thì rất khác biệt nhau, trong đó dớn trắng là giá thể có tỷ lệ % (93.33) cây sống cao nhất

Trang 36

4.1.1.2 Trọng lượng tươi (g/cây)

Bảng 4.2.a Kết quả theo dõi trọng lượng tươi (g/cây)

NGHIỆM THỨC

TRỌNG LƯỢNG TƯƠI (g/cây)

Trọng lượng tươi trung bình

Bảng 4.2.c Kết quả so sánh đối chiếu các nghiệm thức trọng lượng tươi (g/cây)

Phương pháp: Trắc nghiệm LSD với P = 0.05

Trang 37

Nhận xét: Dựa vào số liệu thu được ở bảng 4.2.a và kết quả phân tích phương

sai (bảng 4.2.b) cho thấy P tính = 0.0018 < 0.01, ta có thể có kết luận chung rằng: sự tăng trưởng về trọng lượng tươi giữa các trung bình nghiệm thức là rất có ý nghĩa về mặt thống kê Qua kết quả so sánh đối chiếu các trung bình nghiệm thức cho thấy, giữa các nghiệm thức 4, 2, 3 cũng như giữa các nghiệm thức 2, 3, 5 là không có sự khác biệt về mặt thống kê Song, nghiệm thức 5 thì khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê đối với nghiệm thức 1 và 4 Từ đó chúng ta có thể kết luận rằng: việc sử dụng giá thể là dớn trắng thì tăng trưởng về trọng lượng tươi là tốt nhất

Bảng 4.3.c Kết quả so sánh đối chiếu các nghiệm thức (diện tích lá)

Phương pháp: Trắc nghiệm LSD với P = 0.05

Trang 38

Nhận xét: Từ số liệu thu được ở bảng 4.3.a và kết quả phân tích phương sai

(bảng 4.3.b), với P tính = 0.0029 < 0.01 cho thấy sự khác biệt về diện tích lá giữa các

trung bình nghiệm thức là rất có ý nghĩa về mặt thống kê Tuy nhiên, qua kết quả so

sánh đối chiếu các trung bình nghiệm thức thì các nghiệm thức 4, 2, 3, 5 thì không có

sự khác biệt về mặt thống kê, chỉ có nghiệm thức 1 là khác biệt có ý nghĩa so với các

nghiệm thức còn lại Vì vậy, viêc sử dụng các giá thể là cát + GAM-Sord (6g/1000ml)

tỷ lệ (1 cát, 2 GAM-Sord), cát + GAM-Sord (6g/1000ml) tỷ lệ (1 cát, 1 GAM-Sord),

cát + GAM-Sord (6g/500ml) tỷ lệ (1 cát, 1 GAM-Sord) và dớn có ảnh hưởng như nhau

đến diện tích lá của cây trong thời gian thí nghiệm; giá thể là GAM-Sord có ảnh hưởng

xấu nhất đến trọng lượng tươi của cây

Diện tích lá trung bình của các nghiệm thức trong thời gian thí nghiệm là:

S1 0 0 0 0.0 S2 17 17 15 16.3 S3 19 20 17 18.6 S4 16 15 0 10.3 S5 20 23 23 22.0

Bảng 4.4.b Kết quả phân tích phương sai từ số liệu bảng 4.4.a

Tổng 1071.73 14

Trang 39

Bảng 4.4.c Kết quả so sánh đối chiếu các nghiệm thức (số lượng rễ/cây)

Phương pháp: Trắc nghiệm LSD với P = 0.05

Nhận xét: Từ số liệu thu được ở bảng 4.4.a và kết quả phân tích phương sai

(bảng 4.4.b) cho thấy P tính = 0.0006 < 0.01, ta có thể có kết luận chung rằng: sự tăng

trưởng về số lượng rễ giữa các trung bình nghiệm thức là rất có ý nghĩa về mặt thống

kê Qua kết quả so sánh đối chiếu các trung bình nghiệm thức cho thấy, giữa các

nghiệm thức 2, 4 và 2, 3, 5 là không có sự khác biệt về mặt thống kê, chỉ có nghiệm

thức 5 và 3 là khác biệt có ý nghĩa so với nghiệm thức 1 và 4 Từ đó chúng ta có thể

kết luận: việc sử dụng giá thể là dớn hoặc cát + GAM-Sord (6g/1000ml) tỷ lệ (1 cát, 1

GAM-Sord) cho kết quả về số lượng rễ tốt hơn so với các giá thể khác

Trang 40

Bảng 4.5.b Kết quả phân tích phương sai từ số liệu bảng 4.5.a

Tổng 1174.44 14

Bảng 4.5.c Kết quả so sánh đối chiếu các nghiệm thức (chiều dài rễ)

Phương pháp: Trắc nghiệm LSD với P = 0.05

Nhận xét: Dựa vào số liệu thu được ở bảng 4.5.a, biểu đồ 4.5 và kết quả phân

tích phương sai (bảng 4.5.b) có P tính = 0.0006 < 0.01 cho thấy sự khác biệt về chiều dài rễ giữa các trung bình nghiệm thức là rất có ý nghĩa về mặt thống kê Nghĩa là việc

sử dụng giá thể có ảnh hưởng khác nhau đến chiều dài rễ của cây Tuy nhiên, qua kết quả so sánh đối chiếu các nghiệm thức ta thấy rằng, chỉ có nghiệm thức 3 và 5 là khác biệt có ý nghĩa so với nghiệm thức 1 và 4 Vì vậy, việc sử dụng gía thể là dớn và cát + GAM-Sord (6g/1000ml) tỷ lệ (1 cát, 1 GAM-Sord) có thể xem là có ảnh hưởng tốt nhất đến chiều dài rễ của cây trong thời gian thí nghiệm

Ngày đăng: 16/03/2019, 11:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm