Thí nghiệm 1: Tìm hiểu ảnh hưởng của các giá thể: GAM-Sord, cát + GAM-Sord, dớn trắng đến tỷ lệ sống và các chỉ tiêu sinh trưởng về hệ rễ, lá, trọng lượng tươi đối với 3 cấp cây cấy mô s
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÌM HIỂU ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LOẠI GIÁ THỂ NHƯ:
GAM-SORD (POLIME TINH BỘT), CÁT, DỚN TRẮNG,
BỘT DỪA, ĐẤT RỪNG, TRẤU ĐỐT, MỐP…ĐẾN
TỶ LỆ SỐNG CỦA CÂY MÔ SÂM NGỌC LINH
(Panax vietnamensis) TỪ GIAI ĐOẠN INVITRO
SANG GIAI ĐOẠN INVIVO TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN SÀI GÒN MĂNG ĐEN,
HUYỆN KONPLONG, TỈNH KON TUM
Họ và tên sinh viên: NGUYỄN THỊ THANH LOAN Ngành: LÂM NGHIỆP
Niên khóa: 2006 – 2010
Trang 2GAM-SORD (POLIME TINH BỘT), CÁT, DỚN TRẮNG, BỘT DỪA, ĐẤT RỪNG, TRẤU ĐỐT, MỐP…ĐẾN
TỶ LỆ SỐNG CỦA CÂY MÔ SÂM NGỌC LINH
(Panax vietnamensis) TỪ GIAI ĐOẠN INVITRO
SANG GIAI ĐOẠN INVIVO TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN SÀI GÒN MĂNG ĐEN,
HUYỆN KONPLONG, TỈNH KON TUM
Tác giả
NGUYỄN THỊ THANH LOAN
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Kỹ sư ngành Lâm nghiệp
Giáo viên hướng dẫn: KS TRẦN TRỌNG NGHĨA
Tháng 07/2010
Trang 3
Trang 4
Trang 5
LỜI CẢM ƠN
Con xin thành kính gửi lời biết ơn sâu sắc nhất đến ba mẹ_Người đã sinh thành, chăm lo, dạy dỗ con cho đến ngày hôm nay
Em xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc đến:
- Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh, khoa Lâm Nghiệp, các thầy cô đã truyền đạt cho em những kiến thức bổ ích trong suốt thời gian tham gia lớp học và thực hiện đề tài
- Đặc biệt, xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Trần Trọng Nghĩa, người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn em lựa chọn, nghiên cứu và hoàn thành đề tài khóa luận tốt nghiệp
- Ông Hồ Thái Hòa_Chủ tịch hội đồng quản trị, các cô chú, anh chị trong Công
ty cổ phần Sài Gòn Măng Đen – Kon Tum đã tạo những điều kiện tốt nhất cho
em trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành đề tài
- Cuối cùng, xin chân thành cảm ơn các bạn sinh viên lớp Lâm Nghiệp 32 và tất
cả mọi người đã động viên, giúp đỡ em trong học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tp Hồ Chí Minh tháng 07/2010 Nguyễn Thị Thanh Loan
Trang 6Nguyễn Thị Thanh Loan, Đại Học nông Lâm TP.HCM Tháng 07/2010
“Tìm hiểu ảnh hưởng của các loại giá thể như: GAM-sord (polime tinh bột), cát, dớn trắng, bột dừa, đất rừng, trấu đốt, mốp…đến tỷ lệ sống của cây mô Sâm
Ngọc Linh (Panax vietnamensis Ha et Grushv) từ giai đoạn invitro sang giai đoạn
invivo tại Công ty cổ phần Sài Gòn Măng Đen, huyện Konplong, tỉnh Kon Tum” Giáo viên hướng dẫn: KS Trần Trọng Nghĩa
Ẩn khuất dưới tán rừng già Ngọc Linh, mọc từng đám nơi ẩm ướt ở độ cao từ
kiệt nguồn giống vì nạn khai thác tràn lan Để phát triển loài cây quý này vẫn còn nhiều khó khăn, nhất là vấn đề cây giống Những năm gần đây, nhân giống vô tính sâm Ngọc Linh là một hướng đi rất được kỳ vọng nhằm bảo tồn được nguồn gen quý, đáp ứng được nhu cầu về giống để nhân rộng mô hình trồng cây sâm Ngọc Linh ở những nơi có khí hậu phù hợp trong tương lai
Đề tài được thực hiện từ ngày 1/5/2010 đến 30/7/2010 với mục đích: Trồng
thành công cây cấy mô sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis Ha et Grushv) giai đoạn
sau ống nghiệm trên giá thể thích hợp
Đề tài tiến hành so sánh tỷ lệ sống và các chỉ tiêu sinh trưởng của cây cấy mô sâm Ngọc Linh trên các giá thể khác nhau và được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên (CRD)
Kết quả cho thấy:
Giá thể là dớn trắng thích hợp nhất cho cây cấy mô sâm Ngọc Linh (tỷ lệ sống cao, có sự tăng trưởng về các chỉ tiêu sinh trưởng) Các giá thể có sự tham gia của GAM-Sord đều ảnh hưởng bất lợi đến tỷ lệ sống sót của cây Việc nuôi trồng sâm sau ống nghiệm không nên sử dụng giá thể là GAM-Sord (cây chết 100% chỉ sau một tuần)
Trang 7Trang tựa i
Lời cảm ơn iv
Tóm tắt v
Mục lục vi
Danh sách các hình và biểu đồ ix
Chương 1.MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích, mục tiêu của đề tài 3
Chương 2.TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
2.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 4
2.1.1.Vị trí địa lý 4
2.1.3 Khí hậu 5
2.1.4 Tài nguyên đất 5
2.1.5 Tài nguyên rừng 5
2.2 Đối tượng nghiên cứu: Sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis Ha et Grushv) 6
2.2.1 Nguồn gốc và lịch sử phát triển sâm Ngọc Linh 6
2.2.2 Đặc điểm sinh học và phân bố sâm Ngọc Linh 6
2.2.3 Tác dụng dược lý của sâm Ngọc Linh 8
2.2.4 Hiện trạng và tiềm năng của sâm Ngọc Linh 9
Chương 3.NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 13
3.2 Điều kiện ngoại cảnh 13
3.3 Điều kiện kỹ thuật 13
3.4 Cách xử lý các giá thể nhằm đảm bảo yêu cầu kỹ thuật trong công việc nuôi trồng 14
3.5 Nguồn mẫu và cách xử lý mẫu 15
3.6 Nội dung nghiên cứu 16
3.7 Phương pháp nghiên cứu 16
3 7.1 Bố trí thí nghiệm: 16
3.7.2 Chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thu thập số liệu 18
Trang 84.1 Thí nghiệm 1: Tìm hiểu ảnh hưởng của các giá thể: GAM-Sord, cát + GAM-Sord, dớn trắng đến tỷ lệ sống và các chỉ tiêu sinh trưởng về hệ rễ, lá, trọng lượng tươi
đối với 3 cấp cây cấy mô sâm Ngọc Linh sau 45 ngày 21
4.1.1 Đối với mẫu cây cấp 1 21
4.1.1.1 Tỷ lệ % cây sống 22
4.1.1.2 Trọng lượng tươi (g/cây) 24
4.1.1.3 Diện tích lá (cm2) 25
4.1.1.4 Số lượng rễ/cây 26
4.1.1.5 Chiều dài rễ (cm) 27
4.1.2 Đối với mẫu cây cấp 2 29
4.1.2.1 Tỷ lệ % cây sống 29
4.1.2.2 Trọng lượng tươi (g/cây) 31
4.1.2.3 Diện tích lá (cm2) 32
4.1.2.4 Số lượng rễ/cây 34
4.1.2.5 Chiều dài rễ (cm) 35
4.1.3 Đối với mẫu cây cấp 3 36
4.1.3.1 Tỷ lệ % cây sống 36
4.1.3.2 Trọng lượng tươi (g/cây) 38
4.1.3.3 Số lượng rễ/cây 39
4.1.3.4 Chiều dài rễ (cm) 40
4.2 Thí nghiệm 2: Tìm hiểu ảnh hưởng của các giá thể: bột dừa, cát + GAM-Sord, đất rừng + GAM-Sord, trấu đốt + GAM-Sord so với giá thể đối chứng là dớn trắng về tỷ lệ sống và các chỉ tiêu sinh trưởng về hệ rễ, lá, trọng lượng tươi của cây cấy mô sâm Ngọc Linh sau 30 ngày 41
4.2.1 Tỷ lệ % cây sống 41
4.2.2 Trọng lượng tươi (g/cây) 43
4.2.3 Diện tích lá (cm2) 44
4.2.4 Số lượng rễ/cây 44
Trang 95.2 Đề nghị 52TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 10Bảng 4.1 Kết quả theo dõi tỷ lệ % cây sống, trọng lượng tươi, diện tích lá, số lượng rễ
và chiều dài rễ trung bình của mẫu cây cấp 1 sâm Ngọc Linh sau 45 ngày 21
Bảng 4.1.a Kết quả theo dõi tỷ lệ % cây sống 22
Biểu đồ 4.1 Tỷ lệ sống trung bình của cây cấp 1 trên các loại giá thể 22
Bảng 4.1.b Kết quả phân tích phương sai từ số liệu bảng 4.1.a 22
Bảng 4.1.c Kết quả so sánh đối chiếu các nghiệm thức (chỉ tiêu tỷ lệ % cây sống) 23
Bảng 4.2.a Kết quả theo dõi trọng lượng tươi (g/cây) 24
Bảng 4.2.b Kết quả phân tích phương sai từ số liệu bảng 4.2.a 24
Bảng 4.2.c Kết quả so sánh đối chiếu các nghiệm thức trọng lượng tươi (g/cây) 24
Bảng 4.3.a Kết quả theo dõi diện tích lá 25
Bảng 4.3.b Kết quả phân tích phương sai từ số liệu bảng 4.3.a 25
Bảng 4.3.c Kết quả so sánh đối chiếu các nghiệm thức (diện tích lá) 25
Bảng 4.4.a Kết quả theo dõi số lượng rễ/cây 26
Bảng 4.4.b Kết quả phân tích phương sai từ số liệu bảng 4.4.a 26
Bảng 4.4.c Kết quả so sánh đối chiếu các nghiệm thức (số lượng rễ/cây) 27
Bảng 4.5.a Kết quả theo dõi chiều dài rễ 27
Bảng 4.5.b Kết quả phân tích phương sai từ số liệu bảng 4.5.a 28
Bảng 4.5.c Kết quả so sánh đối chiếu các nghiệm thức (chiều dài rễ) 28
Bảng 4.2 Kết quả theo dõi tỷ lệ % cây sống, trọng lượng tươi, diện tích lá, số lượng rễ và chiều dài rễ trung bình của mẫu cây cấp 2 sâm Ngọc Linh sau 45 ngày 29
Bảng 4.6.a Kết quả theo dõi tỷ lệ % cây sống 29
Bảng 4.6.b Kết quả phân tích phương sai từ số liệu bảng 4.6.a 30
Bảng 4.6.c Kết quả so sánh đối chiếu các nghiệm thức (tỷ lệ % cây sống) 30
Bảng 4.7.a Kết quả theo dõi trọng lượng tươi 31
Bảng 4.7.b Kết quả phân tích phương sai từ số liệu bảng 4.7.a 31
Bảng 4.7.c Kết quả so sánh đối chiếu các nghiệm thức (trọng lượng tươi) 32
Bảng 4.8.a Kết quả theo dõi diện tích lá 32
Bảng 4.8.b Kết quả phân tích phương sai từ số liệu bảng 4.8.a 33
Trang 11Bảng 4.9.c Kết quả so sánh đối chiếu các nghiệm thức (số lượng rễ/cây) 34
Bảng 4.10.a Kết quả theo dõi chiều dài rễ 35
Bảng 4.10.b Kết quả phân tích phương sai từ số liệu bảng 4.10.a 35
Bảng 4.10.c Kết quả so sánh đối chiếu các nghiệm thức (chiều dài rễ) 35
Bảng 4.3 Kết quả theo dõi tỷ lệ % cây sống, trọng lượng tươi, số lượng rễ và chiều dài rễ trung bình của mẫu cây cấp 3 sâm Ngọc Linh sau 45 ngày 36
Bảng 4.11.a Kết quả theo dõi tỷ lệ % cây sống 36
Biểu đồ 4.11 Tỷ lệ sống trung bình của cây cấp 3 trên các loại giá thể 37
Bảng 4.11.b Kết quả phân tích phương sai từ số liệu bảng 4.11.a 37
Bảng 4.11.c Kết quả so sánh đối chiếu các nghiệm thức (tỷ lệ % cây sống) 37
Bảng 4.12.a Kết quả theo dõi trọng lượng tươi 38
Bảng 4.12.b Kết quả phân tích phương sai từ số liệu bảng 4.12.a 38
Bảng 4.12.c Kết quả so sánh đối chiếu các nghiệm thức (trọng lượng tươi) 38
Bảng 4.13.a Kết quả theo dõi số lượng rễ/cây 39
Bảng 4.13.b Kết quả phân tích phương sai từ số liệu bảng 4.13.a 39
Bảng 4.13.c Kết quả so sánh đối chiếu các nghiệm thức (số lượng rễ/cây) 39
Bảng 4.14.a Kết quả theo dõi chiều dài rễ 40
Bảng 4.14.b Kết quả phân tích phương sai từ số liệu bảng 4.14.a 40
Bảng 4.14.c Kết quả so sánh đối chiếu các nghiệm thức (chiều dài rễ) 40
Bảng 4.4 Kết quả theo dõi tỷ lệ % cây sống, trọng lượng tươi, diện tích lá, số lượng rễ và chiều dài rễ trung bình của mẫu cây cấp 1 sâm Ngọc Linh sau 30 ngày 41
Bảng 4.15.a Kết quả theo dõi tỷ lệ % cây sống 41
Biểu đồ 4.15 Tỷ lệ sống trung bình của cây cấp 1 trên các loại giá thể 42
Bảng 4.15.b Kết quả phân tích phương sai từ số liệu bảng 4.15.a 42
Bảng 4.15.c Kết quả so sánh đối chiếu các nghiệm thức (tỷ lệ % cây sống) 42
Bảng 4.16.a Kết quả theo dõi trọng lượng tươi 43
Bảng 4.16.b Kết quả phân tích phương sai từ số liệu bảng 4.16.a 43
Bảng 4.17.a Kết quả theo dõi diện tích lá 44
Trang 12Bảng 4.18.c Kết quả so sánh đối chiếu các nghiệm thức (số lượng rễ) 45
Bảng 4.19.a Kết quả theo dõi chiều dài rễ 45
Bảng 4.19.b Kết quả phân tích phương sai từ số liệu bảng 4.19.a 46
Bảng 4.19.c Kết quả so sánh đối chiếu các nghiệm thức (chiều dài rễ) 46
Trang 13Chương 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Trong tất cả các vị thuốc Đông y thì nhân sâm là vị thuốc quý, được truyền miệng và sử dụng nhiều nhất Về phía Tây y, cũng có một số nghiên cứu về sâm được thực hiện nhằm tìm ra những hoạt chất quý giúp tăng tuổi thọ, trợ giúp điều trị ung thư Để có lượng sâm dồi dào cung cấp cho nhu cầu thị trường, các nước như Trung Quốc, Hoa Kỳ, Hàn Quốc đều trồng sâm để chủ động về thu hoạch thay thế nguồn sâm thiên nhiên đang dần cạn kiệt Ở Việt Nam cũng đã và đang có những nghiên cứu chuyên sâu, ứng dụng sản xuất có hiệu quả giống sâm quý
Năm 1973, đoàn điều tra dược liệu của Ban Dân y Liên khu 5 do Dược sĩ Đào
1800m trên vùng núi Ngọc Linh Qua quá trình nghiên cứu đã đưa ra kết luận đây là một loại nhân sâm vô cùng quý hiếm, khu ủy khu 5 đã khoanh vùng bảo vệ, khai thác làm thuốc chữa bệnh cho cán bộ, chiến sỹ
Hơn 30 năm sau, một cây cỏ hoang dại sống từ khai thiên lập địa, âm thầm trên núi Ngọc Linh đã trở thành danh thảo nổi tiếng khắp trong và ngoài nước với tên gọi
Sâm Ngọc Linh hay Sâm Việt Nam (Panax vietnamensis Ha et Grushv), được xếp vào
một trong 5 loài sâm quý của thế giới Ngoài tác dụng tăng lực, chống lão hóa, tăng sức đề kháng như các loài sâm khác, sâm Việt Nam còn có tính kháng khuẩn, chống stress tâm lý Khoa học đã chứng minh tuổi thọ của sâm Ngọc Linh lên tới 500 năm tuổi Là loài cây có giá trị kinh tế cao (giá trên thị trường khoảng trên dưới 20 triệu đồng/kg sâm tươi, cao gấp 3 - 4 lần so với sâm Mỹ, sâm Triều Tiên, và giá sâm khô cũng trên dưới 100 triệu đồng/kg) Sâm Ngọc Linh được xem là vùng sâm thuộc khu vực nhiệt đới độc nhất còn lại trên thế giới
Theo Sở Khoa học và Công nghệ Kon Tum, trước đây, do những bất cập trong chính sách và công tác quản lý, cây sâm Ngọc Linh trong tự nhiên hầu như bị khai thác
Trang 14cạn kiệt và có nguy cơ tuyệt chủng, là một loài thực vật nằm trong sách đỏ Việt Nam cấm khai thác Mặt khác, do phân bố hẹp, chủ yếu ở hai bên sườn núi Ngọc Linh ( Trà
My - Quảng Nam và Đăk Tô - Kon Tum), là loại cây sinh trưởng chậm ( hơn 6 năm mới có thể sử dụng), điều kiện sống khá đặc biệt nên rất khó trồng và phổ biến rộng rãi Vì vậy, việc bảo tồn và phát triển loài thực vật quý hiếm này đặt ra nhiều vấn đề đáng quan tâm đối với các nhà khoa học và quản lý
Việc nhân giống sâm Ngọc Linh ngoài tự nhiên rất hạn chế do mỗi năm chỉ có khoảng 100.000 hạt giống Số hạt giống này không đảm bảo tỷ lệ sống và đặc tính di truyền, đó là còn chưa nói đến quá trình cây sâm sinh trưởng, phát triển và cho ra hạt cũng phải 4-5 năm tuổi trong khi nhu cầu về cây giống lại rất cao Với ưu điểm không phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, sản xuất số lượng lớn cây giống đồng nhất về hình thái và có thể sản xuất cây giống quanh năm nên phương pháp nhân giống vô tính cây sâm thông qua kỹ thuật nuôi cấy mô được xem là giải pháp tối ưu cho việc bảo tồn sâm Ngọc Linh cũng như phát triển loại cây dược liệu quý hiếm này
Năm 2006, Viện Sinh học Tây Nguyên đã chủ trì đề tài Nghiên cứu nhân giống
vô tính và sản xuất sinh khối rễ cây sâm Ngọc Linh với mục tiêu nghiên cứu nhân giống vô tính cây sâm Ngọc Linh để cung cấp cây giống và nhân sinh khối rễ sâm bằng hệ thống nuôi cấy bioreactor Theo Tiến Sĩ Dương Tấn Nhựt (chủ nhiệm đề tài),
đề tài này mang tính rủi ro khá cao vì từ trước đến nay chưa có cây sâm (nhân giống
vô tính invitro) nào sống sót sau khi đưa ra trồng ở môi trường tự nhiên
Theo Bí thư tỉnh ủy tỉnh Kon Tum và Giám đốc công ty sâm Ngọc Linh cho biết, cho đến nay hầu như chưa có một cây con sau ống nghiệm nào trồng thành công tại Kon Tum mà hầu hết là được trồng từ hạt
Đến năm 2010, sau nhiều lần đưa cây sâm vô tính lên trồng ở khu vực núi Ngọc Linh với hơn 2.000 cây, Tiến Sĩ Nhựt đã gặt hái được kết quả rất đáng vui mừng, tỷ lệ cây sống đạt khoảng 80%
Phương pháp nhân giống invitro là hướng đi được nhiều người kỳ vọng, nếu thành công sẽ giải tỏa được áp lực về cây giống vì có thể nhân giống và ra bầu nhanh chóng một lượng lớn cây giống trong một thời gian ngắn hơn (khoảng 3 tháng) so với chu kỳ 1 năm của việc nhân giống hữu tính bằng hạt
Trang 15Để nuôi trồng cây nhân giống vô tính ngoài môi trường tự nhiên thì yếu tố giá thể là hết sức quan trọng Giá thể có thể hiểu đơn giản là loại môi trường sinh học nhân tạo được sử dụng trong kỹ thuật ra cây sau nuôi cấy trong phòng thí nghiệm, nó ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ sống và sinh trưởng, phát triển của cây
Với mong muốn góp phần vào việc tìm hiểu, nghiên cứu và xây dựng các biện pháp kỹ thuật nuôi trồng sâm Ngọc Linh ở nơi có điều kiện khí hậu phù hợp, em thực hiện đề
tài: “Tìm hiểu ảnh hưởng của các loại giá thể như: GAM-sord (polime tinh bột), cát, dớn trắng, bột dừa, đất rừng, trấu đốt, mốp…đến tỷ lệ sống của cây mô Sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis Ha et Grushv) từ giai đoạn invitro sang giai đoạn invivo tại Công ty cổ phần Sài Gòn Măng Đen, huyện Konplong, tỉnh Kon Tum”
Do trình độ và khả năng còn hạn chế, tài liệu liên quan đến đề tài còn ít nên đề tài khó tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo tận tình của quý thầy cô và ý kiến của độc giả
1.2 Mục đích, mục tiêu của đề tài
Mục đích: Trồng thành công cây cấy mô sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis
Ha et Grushv) giai đoạn sau ống nghiệm trên giá thể thích hợp
Mục tiêu:
- Xác lập hay chọn lọc được loại giá thể có ảnh hưởng tốt đến tỷ lệ sống, hệ rễ,
lá, trọng lượng tươi của cây cấy mô sâm Ngọc Linh
- Tìm hiểu, phân tích ưu nhược điểm của từng loại giá thể
- Chọn ra giá thể thích hợp, đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật để ứng dụng vào sản xuất đại trà
Trang 16Chương 2
2.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
2.1.1.Vị trí địa lý
Kon Tum là một tỉnh miền núi nằm ở cực bắc Tây Nguyên
- Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam
- Phía Đông giáp tỉnh Quảng Ngãi
- Phía Nam giáp tỉnh Gia Lai
- Phía Tây giáp Cộng hoà Dân Chủ Nhân Dân Lào và Vương quốc
Campuchia (có chung đường biên giới dài 280.7 km)
- Tọa độ địa lý:
- Kon Tum có diện tích tự nhiên 9676.5 km2, chiếm 3.1% diện tích toàn quốc Đơn vị hành chính tỉnh Kon Tum gồm 8 huyện và 1 thị xã Kon Tum - trung tâm kinh
tế - chính trị - văn hóa - xã hội của tỉnh; dân số trung bình khoảng 389.745 người với hơn 22 dân tộc sinh sống, trong đó dân tộc thiểu số chiếm trên 53% dân số Công ty cổ phần Sài Gòn Măng Đen nằm trên cao nguyên Măng Đen (huyện Kon Plong, tỉnh Kon Tum), cách thị xã Kon Tum chừng 50km, quanh năm bồng bềnh trong màn sương huyền ảo và tiết trời mát dịu được ví như Đà Lạt thứ 2 của Tây Nguyên
Trang 171100 - 1300m, phát triển theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, địa hình phân cắt mạnh, bề mặt lồi kéo dài
2.1.3 Khí hậu
Khí hậu Kon Tum có nét chung của khí hậu vùng nhiệt đới gió mùa của phía
bình năm 1.880 mm, có sự phân hoá theo thời gian và không gian Mỗi năm có hai mùa rõ rệt: Mùa mưa chủ yếu bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 11, mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau
Cao nguyên Măng Đen (huyện Konplong) thuộc khu vực khí hậu Đông dãy
Trang 18cho công tác nghiên cứu khoa học, trong đó điển hình là cây sâm khu 5, đặc sản quý
của núi rừng Ngọc Linh phía bắc Kon Tum
2.2 Đối tượng nghiên cứu: Sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis Ha et Grushv)
2.2.1 Nguồn gốc và lịch sử phát triển sâm Ngọc Linh
Cây sâm Việt Nam là cây thuốc giấu của đồng bào dân tộc Xê Đăng sống trên vùng núi cao thuộc hai tỉnh Kon Tum và Quảng Nam; thân thảo sống đan xen trong quần thể thực vật đa dạng vùng rừng núi hiểm trở, lạnh và mây mù gần như quanh năm, không có dân cư
Năm 1973, đoàn điều tra dược liệu Ban Dân Y khu 5 do Dược sỹ Đào Kim Long và Nguyễn Châu Giang hướng dẫn đã phát hiện một loài Panax mọc thành quần thể ở độ cao 1800m tại vùng Lộc Lây, huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum và đặc tên là
“sâm đốt trúc” với tên khoa học sơ bộ xác định là Panax articulatus KL Dao ( trong
kháng chiến để giữ bí mật nên thường gọi là Sâm K5), họ nhân sâm (Araliaceae)
Năm 1974, qua báo cáo của Dược sỹ Nguyễn Thới Nhâm về kết quả phân tích
sơ bộ cây sâm K5 so với cây sâm Triều Tiên và sâm tam thất Khu ủy Khu 5 đã cho bảo vệ chặt chẽ vùng sâm này và cũng từ đấy sâm K5 được sử dụng để chữa bệnh có hiệu quả cho các thương bệnh binh, cán bộ và nhân dân
Trải qua hơn 30 năm, sâm K5 còn gọi là Sâm Ngọc Linh hay sâm Việt Nam,
một loài sâm đặc hữu của nước ta dã được thế giới biết đến với tên khoa học là Panax
vietnamensis Ha et Grushv (Hà Thị Dung và Grushvisky, 1985)
2.2.2 Đặc điểm sinh học và phân bố sâm Ngọc Linh
Phân loại khoa học
Tên thường gọi: Sâm Ngọc Linh, sâm Việt Nam, sâm Khu Năm (sâm K5), sâm trúc (sâm đốt trúc, trúc tiết nhân sâm), củ ngải rọm con hay cây thuốc giấu
Trang 19+ Đặc điểm hình thái:
Sâm Ngọc Linh có dạng thân khí sinh thẳng đứng, màu lục hoặc hơi tím, nhỏ,
có đường kính thân độ 4-8mm, thường tàn lụi hàng năm tuy thỉnh thoảng cũng tồn tại một vài thân trong vài năm Thân rễ có đường kính 1-2cm, mọc bò ngang như củ hoàng tinh trên hoặc dưới mặt đất độ 1-3cm, mang nhiều rễ nhánh và củ Các thân mang lá và tương ứng với mỗi thân mang lá là một đốt dài khoảng 0.5-0.7cm, tuy sâm chỉ có một lá duy nhất không rụng suốt từ năm thứ 1 đến năm thứ 3 và chỉ từ năm thứ
4 trở đi mới có thêm 2 đến 3 lá
Lá kép hình chân vịt mọc vòng với 3-5 nhánh lá, mọc ở đỉnh thân Cuống lá kép dài 6-12mm, mang 5 lá chét, lá chét ở chính giữa lớn hơn cả với độ dài 12-15cm, rộng 3-4 cm Lá chét phiến hình bầu dục, mép khía răng cưa, chóp nhọn, lá có lông ở cả hai mặt
Cây 4 - 5 năm tuổi có hoa hình tán đơn mọc dưới các lá thẳng với thân, cuống tán hoa dài 10 - 20 cm có thể kèm 1 - 4 tán phụ hay một hoa riêng lẻ ở phía dưới tán chính Mỗi tán có 60 - 100 hoa, cuống hoa ngắn 1 - 1.5 cm, lá đài 5, cánh hoa 5, màu vàng nhạt, nhị 5, bầu 1 ô với 1 vòi nhụy
Quả mọc tập trung ở trung tâm của tán lá, dài độ 0.8cm - 1cm và rộng khoảng 0.5cm - 0.6cm, sau hai tháng bắt đầu chuyển từ màu xanh đến xanh thẫm, vàng lục, khi chín ngả màu đỏ cam với một chấm đen không đều ở đỉnh quả Mỗi quả chứa một hạt, một số quả chứa 2 hạt và số quả trên cây bình quân khoảng 10 đến 30 quả
Mùa hoa nở từ tháng 4 đến tháng 5, mùa ra quả từ tháng 7 đến tháng 9 hàng năm
+ Đăc điểm sinh thái:
Mọc dưới tán rừng ẩm, nhiều mùn, thích hợp với nhiệt độ ban ngày từ 20°C - 25°C, ban đêm 15°C - 18°C, sâm Ngọc Linh có thể sống rất lâu, thậm chí trên 100 năm, sinh trưởng khá chậm Bộ phận dùng làm thuốc chủ yếu là thân rễ, củ và ngoài ra cũng có thể dùng lá và rễ con
Trang 20tuyến Bắc, đỉnh cao nhất là Ngọc Linh cao 2598m Những điểm vốn trước đây có sâm Ngọc Linh mọc tự nhiên từ độ cao khoảng 1500m đến 2200m, chủ yếu tập trung ở
1800 – 2000m, thuộc địa bàn của hai huyện Đăk Tô (Kon Tum) và Trà My (Quảng Nam)
Năm 1894, Nhà nước quy hoạch vùng sâm thành vùng cấm quốc gia nhằm bảo
vệ và phát triển cây thuốc quý này Tuy nhiên trong hai thập kỷ qua, do khai thác quá mức nên sâm Ngọc Linh đang có nguy cơ tuyệt chủng Cây đã được đưa vào sách đỏ Việt Nam và danh lục đỏ cây thuộc Việt Nam Hiện nay vùng sâm Việt Nam được xem là vùng sâm thuộc khu vực nhiệt đới độc nhất còn lại trên thế giới Ngoài Ngọc Linh, sâm còn phân bố tại núi Ngọc Lum Heo thuộc xã Phước Lộc, huyện Phước Sơn
và còn có thể có ở đỉnh Ngọc Am tỉnh Quảng Nam theo những kết quả điều tra mới nhất Trên độ cao 1.200 đến 2.100m, sâm Ngọc Linh mọc dày thành đám dưới tán rừng dọc theo các suối ẩm trên đất nhiều mùn
2.2.3 Tác dụng dược lý của sâm Ngọc Linh
+ Tính vị: Có vị đắng kéo dài, không độc
kết quả nghiên cứu từ năm 1978 của Bộ Y tế Việt Nam, phần thân rễ của cây sâm Ngọc Linh Việt Nam chứa 26 hợp chất saponin có cấu trúc hóa học đã biết (thường thấy ở sâm Triều Tiên, sâm Mỹ, sâm Nhật) và 24 saponin có cấu trúc mới không có trong các loại sâm khác, trong khi sâm Triều Tiên có khoảng 25 saponin Những kết quả nghiên cứu, phân lập thành phần hóa học mới nhất được công bố còn kéo dài danh sách saponin của sâm Ngọc Linh hơn nữa, lên tổng cộng 52 loại Ngoài ra trong sâm Ngọc Linh còn có 14 axít béo, 16 axít amin (trong đó có 8 axít amin không thay thế được) và 18 nguyên tố đa lượng, vi lượng
nhiều nhất, tương tự một số cây sâm quý đã từng được nghiên cứu sử dụng từ lâu trên thế giới Hợp chất hóa học đa dạng và tác dụng thực tiễn đối với sức khỏe của con người khiến sâm Ngọc Linh hiện nay được bán trên thị trường với giá càng ngày càng cao, thậm chí còn cao hơn sâm Triều Tiên nhiều lần
Trang 21+ Tác dụng đối với sức khỏe:
Trước khi có những nghiên cứu kỹ lưỡng về tác dụng đối với sức khỏe của sâm Ngọc Linh, sâm đã được các dân tộc thiểu số Việt Nam, như người Xê Đăng, dùng như một loại thuốc trong những bài thuốc cổ truyền cầm máu, lành vết thương, làm thuốc bổ, sốt rét, đau bụng, phù thũng
Theo Tiến sĩ Nguyễn Bá Hoạt, Phó viện trưởng Viện Dược liệu Việt Nam, những kết quả nghiên cứu dược lý thực nghiệm sâm Ngọc Linh đã chứng minh tác dụng chống stress vật lý, stress tâm lý và trầm cảm, kích thích hệ miễn dịch, chống ôxi hóa, lão hóa, phòng chống ung thư, bảo vệ tế bào gan
Nghiên cứu dược lý lâm sàng của sâm Ngọc Linh cũng cho kết quả tốt: bệnh nhân ăn ngon, ngủ tốt, lên cân, tăng thị lực, hoạt động trí tuệ và thể lực cải thiện, gia tăng sức đề kháng, cải thiện các trường hợp suy nhược thần kinh và suy nhược sinh dục, nâng cao huyết áp ở người bị huyết áp thấp
Theo Dược sĩ Đào Kim Long, sâm Ngọc Linh còn có những tính năng tuyệt hảo như tăng lực, phục hồi sự suy giảm chức năng giúp cho tình trạng của cơ thể trở lại bình thường; kháng các độc tố gây hại tế bào, giúp kéo dài sự sống của tế bào và tăng các tế bào mới
Đặc biệt, sâm Ngọc Linh có những tính năng mà sâm Triều Tiên và sâm Trung
hiệp lực tốt với thuốc kháng sinh, thuốc trị bệnh tiểu đường
2.2.4 Hiện trạng và tiềm năng của sâm Ngọc Linh
Sau khi dược tính và tác dụng đối với sức khỏe của sâm Ngọc Linh được công
bố công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, những năm 80 của thế kỷ 20, trên thị trường tự do giá sâm Ngọc Linh tương đương giá sâm Triều Tiên và vào những năm 90, giá sâm Ngọc Linh còn đắt hơn sâm Triều Tiên nhiều lần Theo Dược
sĩ Đào Kim Long thì ngay cả dân Hàn Quốc, Nhật Bản, xứ sở của sâm, cũng qua đây tìm cho được sâm Ngọc Linh để chữa bệnh Việc khai thác, mua bán và sử dụng tràn lan chưa có quy định quản lý, bảo vệ cùng các chính sách, giải pháp đầu tư, quy hoạch phát triển khiến trên 108 vùng sâm mọc tự nhiên giữa Quảng Nam và Kon Tum dần cạn kiệt, kéo theo hàng ngàn hecta rừng nguyên sinh bị tàn phá nặng nề Trước nguy
Trang 22cơ tuyệt chủng của giống sâm quý, Chính phủ Việt Nam đã quyết định thành lập vùng cấm quốc gia ở khu vực có sâm mọc tập trung tại 2 tỉnh Kon Tum và Quảng Nam, đồng thời xếp sâm Ngọc Linh vào danh sách các loại cây cấm khai thác, mua bán bất hợp pháp
Để bảo vệ và phát triển cây thuốc này cùng một số cây dược liệu khác, Trại dược liệu Trà Linh được thành lập tại Quảng Nam Tháng 4 năm 1987, trại đã thu được 53,3kg thân rễ, trồng được 81.000 cây sâm và đến tháng 9 nǎm 1992 trại đã có 100.000 cây Từ nǎm 1985, Trại đã áp dụng các biện pháp bón phân và chǎm sóc để tǎng nǎng suất thân rễ, tǎng tỷ lệ nảy mầm và tỷ lệ cây sống
Từ tháng 1 năm 1995, công việc nghiên cứu gieo trồng sâm Ngọc Linh được tiến hành một cách có hệ thống hơn tại Trại Dược liệu Trà Linh, với việc nhân giống bằng cây lai hữu tính và vô tính, gia tăng diện tích trồng, vận động bà con dân tộc thiểu số trong vùng nhận giống về trồng Kết quả của những nỗ lực từ Trại Dược liệu
đã giúp tăng số lượng hạt đậu trên cây, tỷ lệ nảy mầu của hạt cao đến 75% khi gieo trồng và tỷ lệ cây sống khi trồng đại trà lên tới 95% Đặc biệt, với việc áp dụng thành công phương pháp nhân giống vô tính bằng cách ươm đoạn đầu của thân rễ trong túi polyethylen hoặc ươm trên đất mùn cho tỷ lệ sống và đâm chồi tới 65% Cây nhân bản
vô tính mọc khỏe, nhanh, ra hoa sớm và năng suất thân rễ và củ cao hơn so với cây mọc từ hạt
Đến nay, trại Trà Linh đã quản lý điểm trồng sâm trên 3ha với hơn 270.000 cá thể, trong đó gần 100.000 cây đang ra hoa đậu quả (cây trên 4 tuổi); đồng thời gieo ươm 50 - 70 ngàn cây giống mỗi năm Trong khi đó, tại Kon Tum, lâm trường Ngọc Linh đang lưu giữ 4.000 mét vuông cây sâm ở xã Măng Ri (huyện Đăk Tô) nhưng trồng chưa đúng kỹ thuật nên cây còi cọc, ra hoa đậu quả không đáng kể nên trước mắt còn chưa sản xuất được giống
Tuy cây sâm Ngọc Linh đã thoát nguy cơ tuyệt chủng nhưng độ an toàn còn thấp và mức độ đe dọa vẫn ở bậc E trong sách đỏ Việt Nam Chính phủ Việt Nam và
Bộ Y tế đang từng bước nghiên cứu giải pháp đầu tư phát triển bền vững cho công nghiệp dược phẩm và xuất khẩu với việc đưa sâm Ngọc Linh trở thành cây trồng chính cho vùng cao, khai thác lợi thế khí hậu, thổ nhưỡng để trồng sâm theo hướng sản xuất
Trang 23hàng hóa và tạo vùng nguyên liệu, hướng tới khẳng định một thương hiệu “sâm Việt Nam” như “sâm Triều Tiên”, “sâm Trung Quốc”, “sâm Nhật Bản”, “sâm Mỹ”
Sự ra đời và phát triển của công nghệ nhân giống vô tính bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật đã đáp ứng được nhu cầu cả về số lượng và chất lượng cây
giống Trên thế giới, cây Nhân Sâm Panax ginseng C A Meyer đã được nhân giống
thành công bằng nuôi cấy mô Vì vậy, nhân giống vô tính cây sâm Ngọc Linh bằng nuôi cấy mô invitro là một kỹ thuật tiên tiến có thể ứng dụng tốt cho sản xuất sản phẩm sâm Ngọc Linh
Những nghiên cứu invitro trên sâm Ngọc Linh trong thời gian gần đây:
- Năm 2006 Sở Khoa học Công nghệ Kon Tum đã đề xuất với Tiến Sĩ Dương
Tấn Nhựt (Phó Viện trưởng Viện Sinh học Tây Nguyên, chủ nhiệm đề tài) xây dựng
đề án nghiên cứu nhân giống vô tính và sản xuất sinh khối rễ cây sâm Ngọc Linh Tổng kinh phí cho dự án là 1,7 tỷ đồng trong 4 năm (2008 - 2011), nhằm xây dựng quy trình nhân giống với số lượng lớn và sản xuất sinh khối invitro
Trung tâm Sâm và dược liệu Thành Phố Hồ Chí Minh đã phân tích hàm lượng hoạt chất có trong sinh khối rễ và các nguồn sinh khối invitro khác, kết quả thu được cho thấy các hoạt chất chính có trong cây sâm Ngọc Linh đều hiện diện trong các mẫu phân tích và những chất này thông thường chỉ có khi trồng cây sâm tự nhiên từ 4 - 5 năm
- Được sự giúp đỡ của Bộ Khoa học Công nghệ, Bộ Quốc phòng và các nhà
khoa học Hàn Quốc, Học viện Quân y đã triển khai nghiên cứu thành công Đề tài
"Ứng dụng công nghệ Biomass tạo sinh khối tế bào rễ sâm Ngọc Linh” theo Nghị định thư giữa Việt Nam và Hàn Quốc trong thời gian 2006 - 2008 nhằm tạo nguồn hoạt chất
ổn định
Chỉ với một vài tế bào từ rễ của sâm Ngọc Linh, bằng kỹ thuật sinh khối tế bào, các nhà khoa học của Học viện Quân y đã có thể sản xuất sâm Ngọc Linh với số lượng lớn trong vòng 10 - 20 ngày Các hoạt chất có trong sâm Ngọc Linh sinh khối cũng có chất lượng tương đương với sâm Ngọc Linh trong tự nhiên
- Tháng 11 năm 2008, kết quả thí nghiệm: Định tính saponin trong sinh khối
callus, sinh khối rễ, sinh khối chồi sâm Ngọc Linh invitro đã nhận thấy sự hiện diện
Trang 24của Majonoside - R2 Đây là hợp chất chủ yếu quyết định các tác dụng sinh học điển hình của sâm Ngọc Linh (Luận văn Thạc sĩ sinh học Vũ Quốc Luận)
- Tháng 4 năm 2010, qua phân tích phôi sâm Ngọc Linh của Công ty Nam An,
thôn 1, xã Lộc An, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng, tổng hàm lượng saponin gấp 12 lần so với kết quả của Học Viện Quân y
Trang 25Chương 3
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Đề tài được thực hiện tại Công ty cổ phần Sài Gòn Măng Đen, thị trấn Măng Đen, huyện Konplong, tỉnh Kon Tum
Thời gian thực hiện đề tài: 1/5/2010 đến 30/7/2010
3.2 Điều kiện ngoại cảnh
Các yếu tố ngoại cảnh tại khu vực tiến hành thí nghiệm tương đối thích hợp
cho sự sinh trưởng và phát triển của cây sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis Ha et Grushv)
Thí nghiệm được bố trí dưới dàn che bằng lưới kỹ thuật và tấm lợp nilông che mưa đảm bảo các tiêu chuẩn sau:
- Ánh sáng khuếch tán 30% ánh sáng mặt trời
- Nhiệt độ trung bình 220C, độ ẩm trung bình 82-84%
- Chế độ gió: khu vực thí nghiệm được che bằng lưới hạn chế gió mạnh nhưng
vẫn đảm bảo độ thông thoáng
3.3 Điều kiện kỹ thuật
Do đối tượng thí nghiệm được lấy từ cây cấy mô trong ống nghiệm nên điều kiện kỹ thuật phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau:
- Trước khi trồng phải chuẩn bị đầy đủ những vật liệu, vật dụng cần thiết như:
giá thể, khay trồng…và giá thể phải được xử lý hạn chế mầm bệnh lây nhiễm cho cây
- Thao tác lấy cây khỏi ống nghiệm và thao tác trồng phải nhẹ nhàng cẩn thận,
tránh làm tổn thương các bộ phận của cây để hạn chế sự xâm nhập của nấm bệnh từ môi trường ngoài
- Kỹ thuật chăm sóc:
Trang 26+ Nước tưới phải sạch, tưới bằng bình phun không tạo áp lực mạnh làm tổn thương cây
Mùa khô tưới nước cho cây 2 lần/ngày
Mùa mưa tưới nước 1 lần/ngày
Thời điểm tưới tốt nhất cho cây là vào buổi sáng, tất cả các biện pháp tưới theo nguyên tắc “chất trồng đã ráo nước mới được tưới nước”
+ Cung cấp dinh dưỡng:
Cây sau khi trồng được một tuần mới bắt đầu cung cấp dinh dưỡng
Sử dụng phân vô cơ NPK (30-10-10) 1/16 muỗng cà phê, dung dịch kích thích
rễ 1ppm NAA; 0.5ppm B1 và GreenNA (thành phần cơ bản hữu cơ với tỷ lệ potasium K-humat 26% với tổng lượng vi lượng 0.05% Fe, Cu, Zn, Mn, B, Mo) 0.5ml Tất cả pha trong 1 lít nước
Phun 2 lần/tuần, sau khi phun 2h phải phun lại bằng nước
3.4 Cách xử lý các giá thể nhằm đảm bảo yêu cầu kỹ thuật trong công việc nuôi trồng
+ Dớn trắng
Dớn trắng rất có giá trị vì chúng có cấu trúc dạng sợi, rất dài, dù ở dạng khô hay tươi Các sợi dớn dù khô hay tươi cũng rất bền, chắc, khó bị phân huỷ nên khi sử dụng rất ít bị thay chất trồng như các chất trồng khác Dớn trắng còn có một số thành phần kháng khuẩn tự nhiên giúp ức chế sự tăng trưởng của một số nấm
Dớn có khả năng giữ nước rất lớn gấp 20 lần trọng lượng khô của chúng, cần phải ngâm dớn trong nước khoảng 30 phút sau đó rửa lại 2 đến 3 lần
+ Cát
Cát phải được rửa sạch luôn được tưới ẩm Có ưu điểm là thoáng khí nhưng
nghèo chất dinh dưỡng và nhanh bị khô
+ GAM-Sord (polime tinh bột giữ nước)
Là loại vật liệu polime rất thân thiện với môi trường vì các polime có nguồn gốc tự nhiên nên có thể tái tạo và tự phân huỷ trong đất
GAM-Sorb khi gặp nước trương lên 100 lần so với thể tích ban đầu của nó, ở 6g trong 1000ml nước đã trương nở toàn phần Sản phẩm này phối trộn với đất để cung cấp nước dần cho cây, tiết kiệm nước tưới, điều hòa, giữ độ ẩm cho đất Thường
Trang 274-được ngâm trong nước khoảng 15 - 20 phút trước khi sử dụng để pha trộn với các loại giá thể trồng cây sau nuôi cấy mô với một tỷ lệ thích hợp, phù hợp với từng loại cây
+ Đất rừng
Được lấy dưới tán rừng tự nhiên lá rộng tại thị trấn Măng Đen, huyện Konplong, tỉnh Kon Tum, nên có nhiều mầm bệnh Trước khi sử dụng làm giá thể phải được hấp khoảng 3 tiếng rồi để nguội
3.5 Nguồn mẫu và cách xử lý mẫu
Thí nghiệm tiến hành trên loài Sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis Ha et
Grushv) được lấy từ Phòng thí nghiệm nuôi cấy mô Nam Anh thuộc Công ty Nam An,
946 xa lộ Trường Sơn, phường Linh Trung, quận Thủ Đức, Thành Phố Hồ Chí Minh
Cây đem thí nghiệm là cây đã được 4 tháng tuổi
Cách xử lý mẫu:
- Chai mẫu được bật nút 1-24h nhằm tăng khả năng thích nghi với môi trường
bên ngoài
- Mẫu cấy được lấy nhẹ nhàng ra khỏi ống nghiệm và chia thành 3 cấp:
Cấp 1: chiều cao cây 4-8mm
Cấp 2: chiều cao cây nhỏ hơn 4mm
Cấp 3: chủ yếu là tiền cây con và cây con có rễ củ chưa phát triển phôi lá
Được chia làm 3 cấp như trên là tại vì:
Trang 28+ Trong chai mẫu luôn có 3 cấp cây trên, cây cấp 2, 3 tương đối nhiều cho nên tận dụng trong nuôi trồng ngoài môi trường thành công sẽ đáp ứng được số lượng cây giống rất lớn với gía thành thấp
+ Phân ra ba cấp cây nhằm theo dõi, đánh giá các chỉ tiêu tỷ lệ sống, hệ rễ, lá và trọng lượng tươi theo 3 cấp độ để thấy rõ sự khác biệt trong từng cấp
- Sau đó rửa bằng nước sạch 1-3 lần nhưng tránh làm tổn thương cây và làm đứt
đỉnh rễ
- Ngâm mẫu trong dung dịch kích thích rễ với liều lượng 1ppm NAA; 0.5ppm
B1 trong 1 lít nước, thời gian khoảng 10 giây
3.6 Nội dung nghiên cứu
Trong khuôn khổ một báo cáo tốt nghiệp, với thời gian hạn chế, đề tài chỉ nghiên cứu được một số nội dung cơ bản sau:
- Tìm hiểu ảnh hưởng của các giá thể đến tỷ lệ sống và các chỉ tiêu sinh trưởng
về hệ rễ, lá, trọng lượng tươi đối với 3 cấp cây cấy mô sâm Ngọc Linh
- Phân tích đánh giá và so sánh với nghiệm thức đối chứng để chọn ra giá thể
thích hợp cho cây sâm Ngọc Linh
3.7 Phương pháp nghiên cứu
Khi các vật liệu đã được chế biến làm giá thể, chúng tôi tiến hành thành lập các nghiệm thức thí nghiệm, mỗi nghiệm thức tương ứng với một giá thể đưa vào thí nghiệm Giá thể có thể là một vật liệu, có thể là hỗn hợp các vật liệu được pha trộn theo một tỷ lệ nhất định
3 7.1 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm1: Tìm hiểu ảnh hưởng của các giá thể: Sord, cát + Sord, dớn trắng đến tỷ lệ sống và các chỉ tiêu sinh trưởng về hệ rễ, lá, trọng lượng tươi đối với 3 cấp cây cấy mô sâm Ngọc Linh trong thời gian 45 ngày
GAM-Sử dụng mẫu tương đối đồng nhất cho tất cả các nghiệm thức, các thông số ban đầu của mẫu thí nghiệm như sau:
+ Diện tích lá:
con có rễ củ chưa phát triển phôi lá
Trang 29Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên (CRD)
Sâm Ngọc Linh được trồng trong khay ly, 1/3 đáy ly được để mốp trắng bẻ nhỏ,
độ dày giá thể xấp xỉ 2/3 ly, bố trí trồng 1 - 2 cây/ly
Trang 30 Thí nghiệm 2: Tìm hiểu ảnh hưởng của các giá thể: bột dừa, cát + GAM-Sord, đất rừng + GAM-Sord, trấu đốt + GAM-Sord so với giá thể đối chứng là dớn trắng về tỷ lệ sống và các chỉ tiêu sinh trưởng về hệ rễ, lá, trọng lượng tươi của cây cấy mô sâm Ngọc Linh trong thời gian 30 ngày
Thí nghiệm chỉ sử dụng mẫu cây cấp 1, các thông số ban đầu của mẫu thí nghiệm như sau:
Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên (CRD)
Sâm Ngọc Linh được trồng trong khay ly, 1/3 đáy ly được để mốp trắng bẻ nhỏ,
độ dày giá thể xấp xỉ 2/3 ly, bố trí trồng 1-2 cây/ly
3.7.2 Chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thu thập số liệu
Tất cả các chỉ tiêu sinh trưởng cả về định lượng lẫn định tính đều được theo dõi, đánh giá Song vì sâm Ngọc Linh là loài sinh trưởng chậm mà thời gian nuôi trồng ngắn nên các chỉ tiêu về sinh trưởng vẫn chưa thể hiện rõ hoặc chưa có sự khác biệt
Trang 31Để đảm bảo cho việc xác định chính xác và việc so sánh có ý nghĩa, đề tài chỉ tiến hành đo đếm cụ thể một số chỉ tiêu sau:
sự sinh trưởng của cây
Phương pháp xác định các chỉ tiêu theo dõi:
- Diện tích lá: được tính ở tất cả các lá của cây đem trồng rồi lấy bình quân
- Chiều dài rễ: được đo ở tất cả các rễ trên cây rồi tính bình quân (cho cây)
- Số lượng rễ: được đếm tất cả các rễ trên cây
- Trọng lượng tươi: được cân trước khi tưới nước trong điều kiện bình thường
- Tỷ lệ sống: số cây còn sống khỏe trên tổng số cây thí nghiệm
Các chỉ tiêu được lấy từ các cây trung bình của một đơn vị thí nghiệm đo vào lần cuối khi kết thúc thí nghiệm
3.7.3 Phương pháp tính toán kết quả
+ Kết quả phân tích phương sai (ANOVA) được xử lý trên phần mềm STATGRAPHIC 3.0 sẽ được trình bày ở bảng số liệu có cấu trúc như sau:
Trang 32SS: Tổng các bình phương MS: Trung bình bình phương
So sánh P tính với mức ý nghĩa , qua đó sẽ có một trong các kết luận sau:
- Nếu P tính > = 0.05 thì sự khác biệt giữa các trung bình là không có ý nghĩa
- Nếu P tính < = 0.05 thì sự khác biệt giữa các trung bình là có ý nghĩa
- Nếu P tính < = 0.01 thì sự khác biệt giữa các trung bình là rất có ý nghĩa
Từ kết quả phân tích phương sai, chúng ta có kết luận chung về sự khác biệt có
ý nghĩa hay không có ý nghĩa giữa các trung bình nghiệm thức Song, để có những kết
luận cụ thể riêng giữa nghiệm thức này với nghiệm thức khác cần phải qua trắc
nghiệm so sánh giữa các trung bình Hai trắc nghiệm được sử dụng phổ biến trong nghiền cứu khoa học cho các so sánh theo cặp là LSD và DUNCAN Trắc nghiệm LSD thích hợp với so sánh cặp đã dự kiến trước, trắc nghiệm đa biên độ DUNCAN áp dụng đối với so sánh theo cặp bất kỳ
+ Vẽ các biểu đồ trên phần mềm Excel 2007
Trang 33Chương 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Kết quả nghiên cứu sự ảnh hưởng của các giá thể đến tỷ lệ sống và các chỉ tiêu về hệ rễ, lá, trọng lượng tươi của sâm Ngọc Linh
4.1 Thí nghiệm 1: Tìm hiểu ảnh hưởng của các giá thể: Sord, cát + Sord, dớn trắng đến tỷ lệ sống và các chỉ tiêu sinh trưởng về hệ rễ, lá, trọng lượng tươi đối với 3 cấp cây cấy mô sâm Ngọc Linh sau 45 ngày
GAM-4.1.1 Đối với mẫu cây cấp 1
Bảng 4.1 Kết quả theo dõi tỷ lệ % cây sống, trọng lượng tươi, diện tích lá, số lượng rễ và chiều dài rễ trung bình của mẫu cây cấp 1 sâm Ngọc Linh sau 45 ngày
NGHIỆM
THỨC
Tỷ lệ % cây sống trung bình
Trọng lượng tươi trung bình (g/cây)
Diện tích lá trung bình (cm2)
Số lượng rễ/cây trung bình
Chiều dài rễ trung bình (cm) S1 0.00 0.00 0.00 0.0 0.0 S2 26.67 0.16 3.05 16.3 17.5 S3 46.67 0.18 3.25 18.6 20.0 S4 6.67 0.11 2.02 10.3 10.8 S5 93.33 0.21 3.30 22.0 22.8
Trang 34Biểu đồ 4.1 Tỷ lệ sống trung bình của cây cấp 1 trên các loại giá thể
Bảng 4.1.b Kết quả phân tích phương sai từ số liệu bảng 4.1.a
Trang 35Bảng 4.1.c Kết quả so sánh đối chiếu các nghiệm thức (chỉ tiêu tỷ lệ % cây sống)
Phương pháp: Trắc nghiệm LSD với P = 0.05
Nhận xét: Từ số liệu thu được ở bảng 4.1.a, biểu đồ 4.1 và kết quả phân tích
phương sai (bảng 4.1.b), với P tính = 0.0000 < 0.01 cho thấy sự khác biệt về tỷ lệ % cây sống giữa các trung bình nghiệm thức là rất có ý nghĩa về mặt thống kê Nghĩa là việc sử dụng các loại giá thể: GAM-Sord, cát + GAM-Sord (6g/1000ml) tỷ lệ (1 cát, 2 GAM-Sord), cát + GAM-Sord (6g/1000ml) tỷ lệ (1 cát, 1 GAM-Sord), cát + GAM-Sord (6g/500ml) tỷ lệ (1 cát, 1 GAM-Sord) và dớn trắng có ảnh hưởng rất khác nhau đến tỷ lệ % cây sống
Qua kết quả so sánh đối chiếu các trung bình nghiệm thức cho thấy, giữa 2 nghiệm thức 1, 4 là không có sự khác biệt về mặt thống kê Còn các nghiệm thức 2, 3
và 5 thì lại rất khác biệt nhau và khác biệt so với 1, 4 về mặt thống kê Từ đó chúng ta
có thể kết luận như sau:
- Việc sử dụng giá thể là GAM-Sord, cát + GAM-Sord (6g/500ml) tỷ lệ (1 cát,
1 GAM-Sord) thì không khác biệt nhau về tỷ lệ % cây sống và có tỷ lệ sống thấp nhất (0%) so với các giá thể còn lại
- Việc sử dụng các giá thể là cát + GAM-Sord (6g/1000ml) tỷ lệ (1 cát, 2 GAM-Sord), cát + GAM-Sord (6g/1000ml) tỷ lệ (1 cát, 1 GAM-Sord) và dớn trắng thì rất khác biệt nhau, trong đó dớn trắng là giá thể có tỷ lệ % (93.33) cây sống cao nhất
Trang 364.1.1.2 Trọng lượng tươi (g/cây)
Bảng 4.2.a Kết quả theo dõi trọng lượng tươi (g/cây)
NGHIỆM THỨC
TRỌNG LƯỢNG TƯƠI (g/cây)
Trọng lượng tươi trung bình
Bảng 4.2.c Kết quả so sánh đối chiếu các nghiệm thức trọng lượng tươi (g/cây)
Phương pháp: Trắc nghiệm LSD với P = 0.05
Trang 37Nhận xét: Dựa vào số liệu thu được ở bảng 4.2.a và kết quả phân tích phương
sai (bảng 4.2.b) cho thấy P tính = 0.0018 < 0.01, ta có thể có kết luận chung rằng: sự tăng trưởng về trọng lượng tươi giữa các trung bình nghiệm thức là rất có ý nghĩa về mặt thống kê Qua kết quả so sánh đối chiếu các trung bình nghiệm thức cho thấy, giữa các nghiệm thức 4, 2, 3 cũng như giữa các nghiệm thức 2, 3, 5 là không có sự khác biệt về mặt thống kê Song, nghiệm thức 5 thì khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê đối với nghiệm thức 1 và 4 Từ đó chúng ta có thể kết luận rằng: việc sử dụng giá thể là dớn trắng thì tăng trưởng về trọng lượng tươi là tốt nhất
Bảng 4.3.c Kết quả so sánh đối chiếu các nghiệm thức (diện tích lá)
Phương pháp: Trắc nghiệm LSD với P = 0.05
Trang 38Nhận xét: Từ số liệu thu được ở bảng 4.3.a và kết quả phân tích phương sai
(bảng 4.3.b), với P tính = 0.0029 < 0.01 cho thấy sự khác biệt về diện tích lá giữa các
trung bình nghiệm thức là rất có ý nghĩa về mặt thống kê Tuy nhiên, qua kết quả so
sánh đối chiếu các trung bình nghiệm thức thì các nghiệm thức 4, 2, 3, 5 thì không có
sự khác biệt về mặt thống kê, chỉ có nghiệm thức 1 là khác biệt có ý nghĩa so với các
nghiệm thức còn lại Vì vậy, viêc sử dụng các giá thể là cát + GAM-Sord (6g/1000ml)
tỷ lệ (1 cát, 2 GAM-Sord), cát + GAM-Sord (6g/1000ml) tỷ lệ (1 cát, 1 GAM-Sord),
cát + GAM-Sord (6g/500ml) tỷ lệ (1 cát, 1 GAM-Sord) và dớn có ảnh hưởng như nhau
đến diện tích lá của cây trong thời gian thí nghiệm; giá thể là GAM-Sord có ảnh hưởng
xấu nhất đến trọng lượng tươi của cây
Diện tích lá trung bình của các nghiệm thức trong thời gian thí nghiệm là:
S1 0 0 0 0.0 S2 17 17 15 16.3 S3 19 20 17 18.6 S4 16 15 0 10.3 S5 20 23 23 22.0
Bảng 4.4.b Kết quả phân tích phương sai từ số liệu bảng 4.4.a
Tổng 1071.73 14
Trang 39Bảng 4.4.c Kết quả so sánh đối chiếu các nghiệm thức (số lượng rễ/cây)
Phương pháp: Trắc nghiệm LSD với P = 0.05
Nhận xét: Từ số liệu thu được ở bảng 4.4.a và kết quả phân tích phương sai
(bảng 4.4.b) cho thấy P tính = 0.0006 < 0.01, ta có thể có kết luận chung rằng: sự tăng
trưởng về số lượng rễ giữa các trung bình nghiệm thức là rất có ý nghĩa về mặt thống
kê Qua kết quả so sánh đối chiếu các trung bình nghiệm thức cho thấy, giữa các
nghiệm thức 2, 4 và 2, 3, 5 là không có sự khác biệt về mặt thống kê, chỉ có nghiệm
thức 5 và 3 là khác biệt có ý nghĩa so với nghiệm thức 1 và 4 Từ đó chúng ta có thể
kết luận: việc sử dụng giá thể là dớn hoặc cát + GAM-Sord (6g/1000ml) tỷ lệ (1 cát, 1
GAM-Sord) cho kết quả về số lượng rễ tốt hơn so với các giá thể khác
Trang 40Bảng 4.5.b Kết quả phân tích phương sai từ số liệu bảng 4.5.a
Tổng 1174.44 14
Bảng 4.5.c Kết quả so sánh đối chiếu các nghiệm thức (chiều dài rễ)
Phương pháp: Trắc nghiệm LSD với P = 0.05
Nhận xét: Dựa vào số liệu thu được ở bảng 4.5.a, biểu đồ 4.5 và kết quả phân
tích phương sai (bảng 4.5.b) có P tính = 0.0006 < 0.01 cho thấy sự khác biệt về chiều dài rễ giữa các trung bình nghiệm thức là rất có ý nghĩa về mặt thống kê Nghĩa là việc
sử dụng giá thể có ảnh hưởng khác nhau đến chiều dài rễ của cây Tuy nhiên, qua kết quả so sánh đối chiếu các nghiệm thức ta thấy rằng, chỉ có nghiệm thức 3 và 5 là khác biệt có ý nghĩa so với nghiệm thức 1 và 4 Vì vậy, việc sử dụng gía thể là dớn và cát + GAM-Sord (6g/1000ml) tỷ lệ (1 cát, 1 GAM-Sord) có thể xem là có ảnh hưởng tốt nhất đến chiều dài rễ của cây trong thời gian thí nghiệm