1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ẢNH HƯỞNG MỘT SỐ CÔNG THỨC PHÂN BÓN ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA CÂY CÓI (Cyperus malaccensis Lamk.) TRỒNG TẠI CẦN ĐƯỚC - LONG AN NĂM 2009 – 2010

80 138 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 699,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2.3 Tình hình sản xuất cói trong nước hiện nay Việc trồng và sản xuất cây cói có một vị trí khá quan trọng trong hệ thống canh tác nông nghiệp ở các vùng ven biển ở nước ta, ở những vùn

Trang 1

ẢNH HƯỞNG MỘT SỐ CÔNG THỨC PHÂN BÓN ĐẾN SINH TRƯỞNG

VÀ NĂNG SUẤT CỦA CÂY CÓI (Cyperus malaccensis Lamk.)

TRỒNG TẠI CẦN ĐƯỚC - LONG AN

NĂM 2009 – 2010

Tác giả

CAO PHƯƠNG BÌNH

Luận văn được đệ trình để hoàn thành yêu cầu cấp bằng

kỹ sư nông nghiệp ngành Nông Học

Giảng viên hướng dẫn:

ThS LÊ TRỌNG HIẾU

Tháng 08/2010

Trang 2

LỜI CẢM TẠ

Con xin thành kính ghi ơn cha mẹ, các cô chú, anh em trong gia đình đã vun đắp tạo mọi điều kiện tốt nhất về vật chất và tinh thần để con được thành quả ngày hôm nay

Tôi xin chân thành cảm ơn ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm thành phố

Hồ Chí Minh, ban Chủ nhiệm khoa Nông học cùng toàn thể các thầy cô đã tận tình giảng dạy, truyền đạt những kiến thức quý báu trong suốt thời gian học tập tại trường

Trân trọng cảm ơn gia đình ông Lê Hoàng Sơn thường trú tại xã Long Định, huyện Cần Đước, tỉnh Long An đã giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Trân trọng cảm ơn ThS Lê Trọng Hiếu, giảng viên khoa Nông học, trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này

Xin chân thành cảm ơn thành viên lớp Nông học 32 trong khoảng thời gian từ tháng 08/2009 đến tháng 07/2010 đã hết lòng động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành tốt khoá luận

Thành phố Hồ Chí Minh tháng 08/2010 Người viết

Cao Phương Bình

Trang 3

TÓM TẮT

Cao Phương Bình, Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, tháng 08 năm 2010

Đề tài: “Ảnh hưởng một số công thức phân bón đến sinh trưởng và năng suất của cây

cói (Cyperus malaccensis Lamk.) năm 2009 – 2010 trồng tại Cần Đước – Long An”

Giảng viên hướng dẫn: ThS Lê Trọng Hiếu

Thí nghiệm đã được tiến hành trong khoảng thời gian từ tháng 08/2009 đến tháng 07/2010 tại Cần Đước – Long An Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối đầy đủ hoàn toàn ngẫu nhiên đơn yếu tố, gồm sáu nghiệm thức và ba lần lặp lại

Số nhánh hữu hiệu cây cói ngắn trong vụ một, nghiệm thức có số nhánh hữu hiệu cói ngắn cao nhất là nghiệm thức 5 (311,3 nhánh/m2), nghiệm thức 3 có số nhánh hữu hiệu cói ngắn thấp nhất (221,7 nhánh/m2) Trong vụ hai nghiệm thức 2 (313,3 nhánh/m2) đạt số nhánh cao nhất, nghiệm thức 5 (201,7 nhánh/m2) có số nhánh hữu hiệu thấp nhất

Số nhánh hữu hiệu cây cói dài trong vụ một đạt cao nhất ở nghiệm thức 6 (598,3 nhánh/m2), thấp nhất ở nghiệm thức 1 (486,3 nhánh/m2) Trong vụ hai nghiệm thức 6 (504,3 nhánh/m2) đạt số nhánh cao nhất, nghiệm thức 1 (247,0 nhánh/m2) có số nhánh hữu hiệu thấp nhất

Trang 4

Trọng lượng chất khô thực thu cây cói ngắn: trong vụ một nghiệm thức 4 (120 – 80 – 120) đạt năng suất thực thu cây cói ngắn 12,16 kg/30 m2 cao nhất, nghiệm thức 1 (30 – 20 – 30) thấp nhất 7,45 kg/30 m2 Vụ hai nghiệm thức 2 (60 – 40 – 60) có năng suất thực thu cây cói ngắn cao nhất 5,90 kg/30 m2, nghiệm thức 3 (90 – 60 – 90)

có năng suất thấp nhất 2,63 kg/30 m2

Trọng lượng chất khô thực thu cây cói dài: vụ một nghiệm thức 6 đạt (26,47 kg/30 m2), nghiệm thức 5 đạt (25,17 kg/30 m2) có năng suất cao nhất, nghiệm thức 1 đạt (18,52 kg/30 m2) có năng suất thực thu thấp nhất Vụ hai nghiệm thức 6 đạt (19,13 kg/30 m2), nghiệm thức 4 (17,50 kg/30 m2) , nghiệm thức 5 (18,83 kg/30 m2) có năng suất cao hơn so với nghiệm thức 1 (30 – 20 – 30) đạt năng suất thực thu cây cói dài thấp nhất 8,66 kg/30 m2

Lợi nhuận: tính trên ô thí nghiệm 30 m2 trong cả hai vụ nghiệm thức 6 (180 – 120 – 180) đạt cao nhất 229.025 VNĐ, nghiệm thức 5 (150 – 100 – 150) đạt 223.194 VNĐ, thấp nhất ở nghiệm thức 1 (30 – 20 – 30) lợi nhuận thu được 77.957 VNĐ

Trang 5

MỤC LỤC

Trang tựa i

Lời cảm tạ ii

Tóm tắt iii

Mục lục v

Danh sách các bảng ix

Danh sách các chữ viết tắt x

Danh sách các hình xi

Chương 1 GIỚI THIỆU 1

1.2 Mục đích – Yêu cầu 2

1.2.1 Mục đích 2

1.2.2 Yêu cầu 2

1.3 Giới hạn đề tài 2

Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Sơ lược về cây cói 3

2.2 Tình hình sản xuất cói trên thế giới 4

2.3 Tình hình sản xuất cói trong nước hiện nay 5

2.3 Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài 9

2.3.1 Cơ sở lý luận 9

2.3.2 Khả năng cung cấp dinh dưỡng của đất 10

2.3.3 Cơ sở thực tiễn của đề tài 12

2.4 Điều kiện và các thời kỳ sinh trưởng và phát triển của cây cói 12

2.4.1 Thời kỳ nảy mầm 13

Trang 6

2.4.2 Thời kỳ đâm tiêm và đẻ nhánh 13

2.4.3 Thời kỳ cây cói vươn cao 14

2.4.4 Thời kỳ ra hoa và chín 14

2.5 Vai trò của các nguyên tố dinh dưỡng 14

2.5.1 Nguyên tố đạm (N) 14

2.5.2 Nguyên tố lân (P) 16

2.5.3 Nguyên tố kali (K) 17

2.6 Xác định tỷ lệ giữa các loại phân bón và thời kỳ bón phân 18

2.6.1 Tỷ lệ bón phân 18

2.6.2 Thời kỳ bón phân 19

2.7 Một số sản phẩm được làm từ cây cói 20

2.7.1 Chiếu chẻ 20

2.7.2 Chiếu se đan 20

2.7.3 Thảm cói và một số sản phẩm khác 20

Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 21

3.1 Thời gian và điều kiện thí nghiệm 21

3.1.2 Thời gian 21

3.1.3 Vật liệu thí nghiệm 21

3.1.4 Điều kiện thời tiết 22

3.1.5 Điều kiện đất đai ở khu thí nghiệm 22

3.2 Phương pháp thí nghiệm 23

3.2.1 Thiết kế thí nghiệm 23

3.2.2 Bố trí thí nghiệm 24

3.3 Các chỉ tiêu tiến hành theo dõi 24

Trang 7

3.3.2 Số nhánh (tiêm) hữu hiệu 25

3.3.3 Trọng lượng chất tươi và sự tích lũy chất tươi 25

3.3.4 Trọng lượng chất khô và sự tích lũy chất khô 25

3.3.5 Lượng toán hiệu quả kinh tế 25

3.5 Phương pháp xử lý số liệu 25

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 26

4.1 Động thái tăng trưởng chiều cao 26

4.2 Khả năng đẻ nhánh của cây cói (số nhánh/m2) 28

4.3 Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong đất 30

4.4 Trọng lượng chất tươi và sự tích lũy chất xanh của cây cói 33

4.5 Trọng lượng chất khô của cây cói 36

4.5.1 Trọng lượng chất khô cây cói trong một m2 36

4.5.2 Trọng lượng chất khô lý thuyết của cây cói 38

4.5.3 Trọng lượng chất khô thực thu của cây cói 39

4.6 Tỷ lệ giữa số nhánh hữu hiệu và trọng lượng của cây cói trên một m2 41

4.7 Tình hình sâu bệnh hại 42

4.8 Lượng toán hiệu quả kinh tế trong hai vụ 43

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 44

5.1 Kết luận 44

5.2 Đề nghị 45

TÀI LIỆU THAM KHẢO 46

PHỤ LỤC 48

Phụ lục 1 : Hình ảnh thí nhiệm 48

Phụ lục 2 : Lượng toán hiệu quả kinh tế 49

Trang 8

Phụ lục 3 : Quy trình kỹ thuật 49

Phụ lục 4 : Xử lý số liệu 51

Xử lý số liệu vụ một tháng 08/2009 – tháng 01/2010 51

Xử lý số liệu vụ hai tháng 01/2010 – tháng 07/2010 60

Trang 9

DANH SÁCH BẢNG

Bảng 2.1. Diễn biến sản lượng cói Nga Sơn 2003 – 2007 7

Bảng 2.2 Diện tích, năng suất, sản lượng cây cói Việt Nam những năm gần đây 9

Bảng 3.1 Lượng mưa và nhiệt độ từ 01/08/2009 đến 31/05/2010 22

Bảng 3.2 Kết quả phân tích đất trước khi trồng 23

Bảng 4.1 Chiều cao cây vụ một tháng 08/2009 – tháng 01/2010 (cm/cây) 26

Bảng 4.2 Chiều cao cây cói vụ hai tháng 01/2010 – tháng 01/2009 (cm/cây) 27

Bảng 4.3 Số nhánh hữu hiệu cây cói ngắn (chiều cao < 1,6 m) 28

Bảng 4.4 Số nhánh hữu hiệu cây cói dài (chiều cao >1,6 m ) 29

Bảng 4.5 Kết quả phân tích đất sau trồng của khu thí nghiệm trong hai vụ 32

Bảng 4.6 Trọng lượng chất tươi cây cói ngắn trong một m2 34

Bảng 4.7 Trọng lượng chất tươi cây cói dài trong một m2 35

Bảng 4.8 Trọng lượng chất khô cây cói ngắn trong một m2 36

Bảng 4.9 Trọng lượng chất khô cây cói dài trong một m2 37

Bảng 4.10 Trọng lượng chất khô lý thuyết của cây cói trong hai vụ 38

Bảng 4.11 Trọng lượng chất khô thực thu của cây cói ngắn 39

Bảng 4.12 Trọng lượng chất khô thực thu của cây cói dài 40

Bảng 4.13 Tỷ lệ số nhánh hữu hiệu và trọng lượng trong hai vụ trên một m2 44

Bảng 4.14 Lợi nhuận thu được trong vụ một (tháng 08/2009 – tháng 01/2010) 43

Bảng 4.15 Lợi nhuận thu được trong vụ hai (tháng 01/2010 – tháng 07/2010) 43

Trang 11

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Hình 7.1 Toàn cảnh khu thí nghiệm 75 NSCN 48 Hình 7.2 Thu hoạch cói trong một m2 48 Hình 7.3 Sản phẩm cói sau thu hoạch 48

Trang 12

Chương 1

GIỚI THIỆU

1.1 Đặt vấn đề

Cây cói (Cyperus malaccensis Lamk.) hay còn gọi là cây lác đây là cây lấy sợi

được trồng chủ yếu ở của vùng ven biển nhiệt đới Cây cói có nhiều công dụng như

thân dùng để dệt chiếu, được dùng làm các mặt hàng thủ công mỹ nghệ (giầy, dép, mũ,

võng, hộp, thảm) Ngoài ra người nông dân có thể tận dụng những loại cói ngắn, xấu

có thể dùng lợp nhà, cói phế phẩm xay thành bột làm nguyên liệu giấy, bìa cứng Sản

phẩm cói không chỉ tiêu thụ trong thị trường nội địa mà còn hướng tới thị trường xuất

khẩu mang lại giá trị kinh tế cao cho người nông dân Trong khi đó vấn đề cung cấp

các nguyên tố dinh dưỡng cho quá trình sinh trưởng của cây cói một cách đầy đủ và

cân đối còn ít được quan tâm thời gian vừa qua Người nông dân chủ yếu bón phân

cho cây cói là các loại phân có chứa đạm ở các liều lượng khác nhau theo kinh nghiệm

là chủ yếu trong khi đó việc cung cấp cho cây cói các nguyên tố đa lượng còn lại là

P2O5,K2O còn ít được quan tâm và nghiên cứu trong thời gian vừa qua

Để góp phần cải thiện những vấn đề còn gặp phải trong việc canh tác cây cói,

đặc biệt là trong việc thâm canh tăng năng suất cho cây cói, đề tài“Ảnh hưởng một số

công thức phân bón đến sinh trưởng và năng suất của cây cói

(Cyperus malaccensis Lamk.) trồng tại Cần Đước - Long An năm 2009 – 2010”, đã

được tiến hành nhằm đánh giá được khả năng sinh trưởng và năng suất của cây cói ở

các công thức phân bón khác nhau nhằm tìm ra được công thức phân bón thích hợp

nhất cho cây cói ở tỉnh Long An, và mang lại được hiệu quả kinh tế cho người trồng

cói tại đây

Trang 13

1.2 Mục đích – Yêu cầu

1.2.1 Mục đích

Thí nghiệm đã được tiến hành để có thể tìm ra được công thức phân bón thích hợp cho cây cói, nhằm nâng cao năng suất và lợi nhuận cho người trồng cói tại Cần Đước – Long An

Trang 14

Chương 2

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Sơ lược về cây cói

Cây cói dùng để dệt chiếu cũng như các mặt hàng thủ công mỹ nghệ khác thuộc

họ cói (Cyperaceae) Theo sách Vân Đài Loạn Ngữ của Lê Quý Đôn, cách đây hơn 5

thế kỉ, nhân dân ta đã biết trồng cây cói làm nguyên liệu dệt chiếu Nghề dệt chiếu có

từ thời vua Lê Thánh Tông (1460-1497) do Phạm Đôn Lễ đưa về từ Quảng Tây (Trung Quốc)

Cây cói (Cyperus malaccensis Lamk.) có thể là sản phẩm đặc biệt của vùng ven

biển nhiệt đới, vì theo điều tra thì ở các nước như Trung Quốc, Nhật Bản thường trồng

cây cói không chẻ thuộc họ Bấc (Juncacea) Ngoài ra còn trồng các loài trồng phổ biến trong sản xuất là cói bông trắng (Cyperus tojet jormis) và cói bông nâu (Cyperus

corymborus)

Cây cói thuộc lớp thực vật một lá mầm (Monocotylendones hay Liliopsida),

trong đó có chi Cyperus, chi Eleocharis và Fimbristylis gồm các cây cói trồng cũng

như các giống cói hoang dại Họ cói có khoảng 70 chi với khoảng 4.000 loài, phân bố rộng rãi khắp nơi ở các nước nhiệt đới châu Á, Nam Mỹ, mọc hầu hết các vùng đất ẩm ướt, vùng phù sa bồi lấp gần các cửa sông ven biển Tại Việt Nam, họ cói có 28 chi và gần 400 loài, chiếm khá nhiều trong các loại cỏ thường gặp, việc phân biệt các loại này gặp không ít khó khăn bởi vì nó rất giống nhau, các tài liệu mô tả cũng không đồng nhất Cây cói thường mọc hoang dại và sau đó được người nông dân đưa vào canh tác

ở các vùng ven biển trong phạm vi phân bố rộng ở nước ta, theo Nguyễn Tất Cảnh và ctv.(2008) Việt Nam có 26 tỉnh và thành phố trồng được cây cói tập trung chủ yếu ở khu vực đồng bằng sông Hồng, khu vực duyên hải Bắc Trung Bộ, khu vực đồng bằng sông Cửu Long

Trang 15

Cây cói là thực vật một lá mầm trổ hoa, nhìn tương đối giống cỏ và cỏ bấc Cây thân cỏ sống lâu năm, ít khi một năm, thường mọc ở chỗ ẩm ướt Thân rễ nằm dưới đất, thân khí sinh không phân đốt, tiết diện ngang hình tam giác hay tròn Lá có bẹ ôm lấy thân mọc ra từ gốc, hai mép của bẹ thường dính nhau thành ống, lá xếp thành ba dãy theo thân Hoa nhỏ, mọc thành bông nhỏ ở kẽ một lá bắc, những bông nhỏ này lại tập hợp lại thành bông, chùm, hoa lưỡng tính hay đơn tính, thụ phấn nhờ gió Bao hoa dạng vảy khô xác hay dạng lông cứng, từ 1 đến 6 hay nhiều mảnh, có khi không có, bao phấn đính gốc Bộ nhụy gồm ba lá noãn hợp thành bầu trên, một ô chỉ chứa một noãn, một vòi và ba đầu nhụy dài Quả đóng, hạt có nội nhũ bột bao quanh phôi

2.2 Tình hình sản xuất cói trên thế giới

Cây cói là loại cây trồng được trồng từ rất lâu trên thế giới Ở khu vực Cận Đông những chiếc rỗ được tìm thấy có đến 7.000 năm tuổi Ở Châu Phi và Pêru, những chiếc giỏ làm bằng cói đã được tìm thấy sớm nhất đã xuất hiện cách đây 4.500 năm Ngoài ra, ở Nam Phi cũng có rất nhiều vật dụng khác nhau được tìm thấy mà

nguyên liệu chính là cây họ lác Cyperaceae như khay đựng thức ăn hay chiếc giỏ dùng

đựng nông sản sau khi thu hoạch Điều khiến người ta ngạc nhiên là những chiếc giỏ này có thể đựng được cả chất lỏng Nó được dùng đựng nước hoặc ủ bia do những khu vực này khan hiếm sét để nặn gốm Thậm chí vào cuối thế kỷ trước, ở Transkei người dân còn dùng những chiếc giỏ này để đựng sữa để bảo quản sau khi thu hoạch và có thể mang các sản phẩm đó đi bán, do những tiến bộ của khoa học kỹ thuật và sức mạnh của thời đại công nghiệp những kỹ thuật đan lát độc đáo này ngày càng bị mất

đi Tuy nhiên, vào những năm gần đây, do thị hiếu về mặt hàng thủ công mỹ nghệ ngày càng tăng nên ngành trồng cói đang có cơ hội được phát triển trong thời gian sắp tới

Ở Quảng Đông (Trung Quốc), các nghiên cứu được tiến hành từ năm 1993 đến

1999 trên những loại cây vùng ngập mặn như cây cói, cây đước Nhằm tạo ra được biện pháp thích hợp trong việc tái sinh và giữ gìn hệ sinh thái vùng nước chảy và hệ sinh thái bờ biển Sau hơn 7 năm nỗ lực, một vành đai xanh được thiết lập ở ven cửa sông hay cửa biển Nó đã mang lại hiệu quả cao trong việc bảo vệ môi trường địa phương cũng như mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân

Trang 16

Ở Hàn Quốc và Nhật Bản, nghề dệt thảm từ nguồn nguyên liệu là cây cói đã có truyền thống lâu đời Ở Nhật Bản, những chiếc thảm Tatami nổi tiếng đã xuất hiện từ thế kỷ thứ VIII, những chiếc thảm này có nhiều kích cỡ khác nhau Nó được ưa thích bởi nhiều đặc tính riêng biệt như: cây cói có tác dụng làm cho không khí trong lành hơn do nó có khả năng hấp thu một lượng khí CO2, hoặc hấp thu hơi nước khi ẩm độ trong phòng quá cao và giải phóng hơi nước khi ẩm độ xuống thấp Ngoài ra nó còn tính năng giữ nhiệt độ luôn ở mức ổn định, điều này giúp người dùng cảm thấy mát mẻ trong mùa hè và ấm áp vào mùa đông

2.3 Tình hình sản xuất cói trong nước hiện nay

Việc trồng và sản xuất cây cói có một vị trí khá quan trọng trong hệ thống canh tác nông nghiệp ở các vùng ven biển ở nước ta, ở những vùng sản xuất cói truyền thống chủ yếu đang kinh doanh các mặt hàng cói nguyên liệu thô, chiếu dệt bằng tay truyền thống (chiếu chẻ), quại và lõi, thãm cói và chiếu xe đan xuất khẩu và các sản phẩm thủ công mỹ nghệ phục vụ thị trường xuất khẩu, để có thể thực hiện được những yêu cầu trên cần chú trọng trong công tác nghiên cứu nâng cao chất lượng cói nguyên liệu bằng các chương trình lai tạo giống mới và kỹ thuật canh tác cải tiến, nghiên cứu các công thức phân bón thích hợp cho các vùng canh tác cói chính trong phạm vi cả nước

Theo điều tra tổng diện tích năm 2007 của tổng cục thống kê diện tích trồng cói

là khoảng 13.800 ha và sản lượng khoảng 80 – 100 nghìn tấn/năm, đây là năm có sản lượng cói cao nhất đạt 100 nghìn tấn Bên cạnh đó năm 2007 là năm có giá cói thấp nhất đến 1.000 đ/kg Bắc Trung Bộ là vùng sản xuất cói lớn nhất nước với 5,5 nghìn

ha, chiếm 40 % diện tích cả nước (tập trung chủ yếu tại huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa) Đây là một trong những vùng sản xuất cói có nguồn nguyên liệu khá là phong phú, có các sản phẩm hàng thủ công từ cây cói nổi tiếng từ nhiều năm nay; tiếp đến là vùng đồng bằng sông Cửu Long với 4,8 nghìn ha, chiếm 34,7 % (chủ yếu tại các tỉnh Vĩnh Long, Long An, Trà Vinh) Đồng bằng sông Hồng có diện tích 1,6 nghìn ha, chiếm 11,5 % (Ninh Bình, Thái Bình) và vùng duyên hải nam Trung Bộ 0,9 nghìn ha, chiếm 6,5 % diện tích cói toàn quốc (Quảng Nam, Bình Định)

Trang 17

Cây cói là loại cây mang lại nguồn thu nhập chính cho những người nông dân ở những vùng ven biển, như ở Kim Sơn (Ninh Bình), có đến 90 % số làng đều có nghề sản xuất, nó tạo công ăn việc làm cho gần 25.000 lao động trong đó lực lượng lao động thường xuyên là vào khoảng 12.000 lao động, số lao động này chiếm 62 % dân số của toàn huyện Kim Sơn Mặc dù diện tích và sản lượng cói tại Ninh Bình chỉ chiếm 10 % diện tích và sản lượng cói tại Việt Nam nhưng doanh thu đạt được lại chiếm xấp xỉ 50

% tổng doanh thu các mặt hàng từ cây cói của cả nước Chế biến các mặt hàng từ cây cói, và với nghề truyền thống này đã mang lại thu nhập cho người nông dân ở đây, cũng như giải quyết công ăn việc làm cho nông dân trong lúc nông nhàn Hằng năm cói xuất khẩu chiếm 7 0% giá trị xuất khẩu của cả huyện Năm 2005 giá trị hàng thủ công mỹ nghệ từ nguyên liệu cói đạt gần 133 tỷ đồng và trung bình 5 năm gần đây đạt

108 tỷ đồng (Đỗ Huy Bảng, Sở khoa học công nghệ Ninh Bình, 2008)

Theo Nguyễn Quang Học, Nguyễn Tất Cảnh, Nguyễn Văn Thắng trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội (2008), trồng và chế biến các mặt hàng cói xuất khẩu đã trở thành nghề chính của người nông dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa là nơi có diện tích cói lớn nhất tỉnh, diện tích trồng cói của huyện Nga Sơn chiếm 65,2 % tổng diện tích cói của toàn tỉnh và 28,47 % diện tích cói cả nước, giá trị xuất khẩu cói và các sản phẩm thủ công mỹ nghệ làm từ cói của Nga Sơn chiếm 3,38 % tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn tỉnh Thanh Hóa (năm 2007) Thị trường xuất khẩu chủ yếu là Trung Quốc chiếm khoảng 80 – 85 % giá trị xuất khẩu các sản phẩm từ cói, tiếp đến là thị trường Lào xuất khẩu theo con đường tiểu ngạch Nhật Bản nhập chủ yếu là các mặt hàng chiếu xe đan, sản phẩm thủ công mỹ nghệ từ cây cói như thảm, túi, khay, hộp Trong đó khoảng 70 – 80 % giá trị xuất khẩu được xuất theo con đường chính ngạch,

10 – 15 % được xuất theo con đường tiểu ngạch và giá trị còn lại cung cấp ra ngoài tỉnh Có đến 80 % nông dân ở Nga Sơn sống bằng nghề trồng cây cói, tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2006 đạt 90 tỉ đồng, nộp ngân sách nhà nước 4,6 tỉ đồng Tính riêng nghề chế biến và gia công các sản phẩm từ cây cói đã thu hút khoảng 40 nghìn lao động của 22 xã ở địa phương

Trang 18

Bảng 2.1 Diễn biến sản lượng cói Nga Sơn 2003 – 2007

Lượng cói mua vào hàng năm 5.032,00 6.196,00 11.654,0

0 9.624,00 5.646,00

(Nguồn Nguyễn Quang Học Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội) Tại huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long dự án phát triển chương trình trồng và chế biến cây cói (cây lác) giai đoạn 2006 – 2008, với tổng vốn đầu tư lên đên 10 tỉ đồng, trong đó chú trọng phát triển công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp tập trung ở bốn làng nghề trồng và se lõi cói tại Thanh Bình, Quới Thiện, Trung Thành Đông, Trung Thành Tây, tiếp tục chỉ đạo phát triển ở các làng nghề trên để tận dụng tối đa lợi thế về nguồn nguyên liệu sản xuất khá phong phú hiện có trong vùng phát triển sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu được làm từ cói tạo ra việc làm và thu nhập ổn định cho bà con ở các làng nghề cũng như lao động ở các vùng lân cận

Với diện tích trồng cói khoảng 364 ha theo thống kê cuối năm 2005, ở những vùng canh tác cói ở bốn làng nghề Thanh Bình, Quới Thiện, Trung Thành Đông, Trung Thành Tây đã có truyền thống canh tác cây cói lâu đời, đến năm 2006 do giá cói nguyên liệu tăng đồng thời có sự chỉ đạo tập trung phát triển cây cói giai đoạn

2006 – 2008 nên diện tích được mở rộng lên tới 514 ha Nhưng do giá cói xuống thấp đến nỗi không thể đủ bù đắp vào chi phí phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, cũng như công lao động ngày càng khan hiếm đã dẫn tới nông dân đã cải tạo lại diện tích cói già cỗi, chuyển sang sản xuất lúa và rau màu nên diện tích cuối năm 2008 giảm còn 386

ha, đứng trước thực trạng trên giữ vững và phát triển bốn làng nghề hiện có để đóng góp cho giá trị sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp tốc độ tăng trưởng bình quân 23 % trên năm (năm 2008 – 2010) và 25 – 30 % trên năm (năm 2010 – 2015),

Trang 19

nhu cầu sản xuất tại chỗ và giải quyết lao động tại địa phương (theo số liệu phòng

Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long)

Thực hiện việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng tăng hiệu quả sử dụng

đất tại tỉnh Trà Vinh đã quy hoạch vùng trồng cây cói nguyên liệu phục vụ nguyên liệu

ổn định cho các làng nghề dệt chiếu xuất khẩu ở địa phương Cho đến nay ở huyện

Châu Thành, Càng Long đã trồng được 639,6 ha với sản lượng bình quân hàng năm

khá cao 15.400 tấn Các huyện Trà Cú, Tiểu Cần, Cầu Kè, đang triển khai kế hoạch

trồng cói trên các vùng đất đang quy hoạch trồng cói, tạo nguồn nguyên liệu tại chỗ

Nghề dệt chiếu từ cây cói ở Trà Vinh đã có truyền thống từ rất lâu đời đến nay

trên toàn tỉnh đã khôi phục và phát triển được hơn 900 cơ sở ngành nghề đan lát và dệt

chiếu

Nhưng do giá cả bấp bênh do những thị trường tiêu thụ truyền thống như thị

trường Đông Âu, và việc tìm kiếm thị trường mới gặp không ít khó khăn nên trong

thời gian vừa qua diện tích trồng cói đã suy giảm tương đối để thay thế vào đó là

những mô hình canh tác khác

Sản phẩm làm từ cói ở nước ta được tiêu thụ nội địa chiếm một tỷ lệ khá thấp,

chủ yếu được xuất khẩu đến nhiều nước và các khu vực trên thế giới như: Trung Quốc, Đức, Nhật Bản, Hà Lan, Thái Lan, Đài Loan trong đó xuất khẩu thông

qua con đường tiểu ngạch vào thị trường Trung Quốc chiếm một tỷ lệ rất đáng kể Do

đó chịu sự ảnh hưởng rất lớn từ sự biến động của thị trường, cũng như chính sách của

chính quyền địa phương trong quá trình định hướng phát triển ngành cói Việt Nam

Trang 20

Bảng 2.2 Diện tích, năng suất, sản lượng cây cói Việt Nam những năm gần đây

(1000 ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (1000 tấn)

(Nguồn : Cục trồng trọt, Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn.)

2.3 Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài

2.3.1 Cơ sở lý luận

Tỉnh Long An cũng như ở các vùng khác ven biển ở đồng bằng sông Cửu Long

có điều kiện tự nhiên phù hợp cho cây cói sinh trưởng và phát triển tốt Sản lượng của cây trồng là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố bao gồm tính chất di truyền học của cây trồng và những điều kiện ngoại cảnh tác động vào quá trình sinh trưởng cũng như tác động vào các yếu tố cấu thành năng suất của cây trồng Trong đó, vai trò của dinh dưỡng trong các quá trình sống của cây trồng thường là yếu tố ảnh hưởng khá lớn tới mức sản lượng Bón phân là phương pháp tốt nhất để cung cấp những yếu tố dinh dưỡng mà cây cần để có thể tồn tại và tạo ra năng suất, có thể giúp cây trồng gia tăng sức đề kháng đối với một số sâu bệnh hại

Trên thực tế, nếu trong quá trình canh tác khi bón phân không đúng phương pháp, không đúng chủng loại và liều lượng không thích hợp có thể gây mất thời gian,,

Trang 21

hơn nữa có thể gây ngộ độc cho cây hoặc sự thiếu hụt dinh dưỡng có thể gây ra hậu quả xấu làm đình trệ sự tăng trưởng của cây một cách có ý nghĩa

Bón phân hợp lý sẽ tạo điều kiện sử dụng tốt hơn nữa tiềm năng sử dụng của đất đai, của giống cây trồng cuối cùng là góp phần tăng năng suất và phẩm chất của giống cây trồng

2.3.2 Khả năng cung cấp dinh dưỡng của đất

Cây cói có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt trên nhiều loại đất mà ở cùng điều kiện đất đai đó cây trồng khác khó có thể sinh trưởng và phát triển tốt cũng như cho năng suất như mong muốn

Để đảm bảo cho cây cói trong quá trình canh tác thì việc bón phân làm tăng khả năng cung cấp chất dinh dưỡng của đất cho cây cói là một biện pháp kỹ thuật đóng một vai trò vô cùng quan trọng

Khả năng cung cấp chất dinh dưỡng của đất tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố như: tính chất lý học, hóa học của đất, điều kiện tự nhiên của vùng, đây là những yếu tố rất quan trọng góp phần quyết định hàm lượng các chất dinh dưỡng trong đất mà cây trồng có thể sử dụng được

Khả năng cung cấp chất dinh dưỡng của đất cho cây trồng bao gồm lượng dinh dưỡng tổng số có trong đất, trong đó, một hàm lượng dinh dưỡng sẽ được đất giữ chặt trong kết cấu của keo đất, gọi là lượng dinh dưỡng cố định, cây trồng hầu như không thể hút được hàm lượng dinh dưỡng ở dạng cố định Một lượng dinh dưỡng còn lại trong đất ít hơn đây chính là lượng dinh dưỡng dễ tiêu trong đất, chính lượng dinh dưỡng này cây trồng mới có thể hấp thu được, nhưng trong thực tế lượng dinh dưỡng

dễ tiêu rất dễ bị mất đi do rửa trôi và trực di

Bón phân là cung cấp dinh dưỡng cho cây, tuy nhiên khi cung cấp lượng phân vào đất chỉ một phần chất dinh dưỡng trong phân được cây trồng sử dụng, phần còn lại

có thể bị đất cố định, bay hơi hay rửa trôi, trực di và bị cỏ dại hấp thu

Phương pháp xác định lượng dinh dưỡng và phân bón cần thiết cho cây cói Lượng dinh dưỡng cần thiết là nhu cầu dinh dưỡng mà cây cói đòi hỏi trong từng giai đoạn cũng như trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển của nó

Trang 22

Lượng phân bón cần thiết là nhu cầu phân bón phải cung cấp vào đất để cây cói

có thể hấp thu được tốt nhất các yếu tố dinh dưỡng cần thiết để mang lại được năng suất như mong muốn Lượng phân bón có thể ít hơn lượng dinh dưỡng cần thiết của cây cói khi mà trong đất hàm lượng dinh dưỡng dễ tiêu có khả năng cung cấp cho cây trồng một cách đầy đủ ở các giai đoạn sinh trưởng của cây cói, hoặc ngược lại lượng phân bón vào đất có thể nhiều hơn rõ rệt lượng dinh dưỡng cần thiết của cây khi khả năng cung cấp dinh dưỡng của đất là khá kém

Ngoài việc thực hiện các thí nghiệm về phân bón ở ngoài đồng ruộng thì còn phải có các phương pháp khác để xác định lượng phân bón cần thiết trên cơ sở đảm bảo được các yêu cầu về việc cung cấp đầy đủ và cân đối dinh dưỡng cho cây cói

Phương pháp dựa vào các triệu chứng thiếu dinh dưỡng biểu hiện trên cây trồng: khi cây cói không được cung cấp đầy đủ lượng dinh dưỡng để đáp ứng cho nhu cầu tối thiểu của cây, cây cói sẽ sinh trưởng bất thường, phát sinh những triệu chứng

về màu sắc ở thân, lá Các triệu chứng này phản ảnh một hay nhiều hiện tượng thiếu các nguyên tố dinh dưỡng

Phương pháp chuẩn đoán bằng mắt này khó thực hiện khi sự thiếu hụt ở mức độ thấp, thường mang tính tương đối, không kịp thời

Phương pháp phân tích đất: thông thường phân tích đất là để xem xét các đặc tính lý tính, hóa tính của đất Trong một nghĩa hẹp là quá trình phân tích nhanh để có thể xác định được lượng dinh dưỡng có trong đất Theo một nghĩa rộng hơn thì quá trình phân tích đất bao gồm việc giải thích, đánh giá và giới thiệu phân bón (loại phân

và lượng phân) dựa trên kết quả phân tích đất

Tuy nhiên, phương pháp phân tích đất chưa có thể giải thích được đầy đủ những hiện tượng sinh học xảy ra trong quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng cũng như chưa thể xác định được các chất dinh dưỡng mà bản thân cây trồng đã hấp thụ được

Phương pháp phân tích cây: muốn xác định nhu cầu dinh dưỡng của cây thì phải tiến hành phân tích hàm lượng các chất dinh dưỡng trong cây vào giai đoạn mà

Trang 23

cây tích lũy tối đa trước khi thu hoạch khoảng 1 - 1,5 tháng Thường thì tiến hành phân tích hàm lượng các nguyên tố chủ yếu như N, P, K

Mục đích của phương pháp phân tích cây là xác định hàm lượng dinh dưỡng cây trồng hấp thu một cách tương đối chính xác, kịp thời, xác định được mối tương quan giữa một số triệu chứng thường gặp được với sự thiếu hụt các nguyên tố dinh dưỡng, dù vậy phương pháp này lại không giải thích được hiệu lực hay sự trao đổi các chất dinh dưỡng trong đất

2.3.3 Cơ sở thực tiễn của đề tài

Hằng năm để cho năng suất và phẩm chất của cây cói được tốt, cây cần lấy đi một lượng dinh dưỡng từ đất, nhất là nhu cầu rất lớn của cây với các nguyên tố

N – P – K Điều đó làm cho đất ngày càng suy giảm một cách nhanh chóng, nếu không kịp cung cấp một cách kịp thời sẽ ảnh hưởng rõ rệt tới năng suất của cây

Trong khi đó người dân trong khi trồng cói chỉ sử dụng một loại phân đạm là chủ yếu nên không thể đảm bảo được cung cấp đầy đủ các nguyên tố mà cây cói cần, theo nghiên cứu của Lê Song Dự (1996) đã đề xuất bón phân đạm cho cây cói từ

300 – 500 kg urea/ha Theo Ninh Thị Nhíp (2006) cho thấy vùng Kim Sơn, Ninh Bình người dân thường bón cho cói bông trắng từ 486 – 540 kg urea/ha Dựa vào nghiên cứu của Lê Trọng Hiếu (Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh, 2007) xác định lượng phân đạm bón càng cao, cói sinh trưởng càng mạnh, năng suất càng cao mức 60 – 100 N/ha thích hợp cho cây cói vụ hè thu năm 2007 trên đất phù sa cổ ở xã Long Định, huyện Cần Đước, tỉnh Long An Theo Vũ Đình Chính (2008) đưa ra kết luận trên đất Kim Sơn – Ninh Bình khuyến cáo công thức với liều lượng 200 kgN + 90 kgP2O5 + 60

kg K2O Vì vậy việc xác định công thức phân bón bao gồm đầy đủ các nguyên tố N –

P – K hợp lý cho nhu cầu sinh trưởng của cây cói để tăng năng suất và tăng vụ, tăng phẩm chất sản phẩm cói khi thu hoạch nhằm đem lại được hiệu quả kinh tế và không làm suy giảm tiềm năng của đất đai ở những vùng canh tác cói truyền thống

2.4 Điều kiện và các thời kỳ sinh trưởng và phát triển của cây cói

Cây cói có thể sống ở đất chua và đất nước lợ, nước mặn, ở đó cói mọc tốt, đanh cây, dai sợi Cây cói mọc ở những vùng nước ngọt thân có thể cao trên 2 m thân

Trang 24

xốp và giòn, cói sinh trưởng mạnh ở đất nhiều màu, luôn ẩm ướt nhưng cần ráo chân, tránh đọng nước và ngập úng khi trồng và sau khi cắt cói vì dễ bị thối mầm hoặc có thể làm cho cây mất sức

Cây cói có khả năng chịu hạn rất khỏe, trong điều kiện hạn hán cây cói sinh trưởng và phát triển kém làm tăng sự phát triển của cỏ dại, nên có sự cạnh tranh gay gắt giữa cỏ dại và cây cói

2.4.1 Thời kỳ nảy mầm

Một chu kỳ sinh trưởng của cây cói từ nảy mầm đến thu hoạch vào khoảng 3 –

4 tháng nhưng thời gian khai thác có thể lên đến 7 – 10 năm tùy vào điều kiện đất đai

và kỹ thuật canh tác, cũng như các yếu tố ngoại cảnh khác tác động đến cây cói Từ đó

có thể chia một chu kỳ sinh trưởng của cây cói thành các thời kỳ sau

2.4.2 Thời kỳ đâm tiêm và đẻ nhánh

Đâm tiêm là giai đoạn đầu của đẻ nhánh Khi đốt cuối cùng của thân ngầm nhô lên khỏi mặt đất 5 – 20 cm (lá chưa xòe ra) gọi là đâm tiêm Sau khi tiêm mọc 5 – 7 ngày lá mác bắt đầu xòe ra gọi là đẻ nhánh

Cây cói có thể đâm tiêm, đẻ nhánh liên tục nhưng có thể chia ra thành những đợt nở rộ, thường theo quan sát cứ 20 – 25 ngày thì sẽ có một đợt đâm tiêm mới Trong điều kiện thời tiết thuận lợi ở miền Bắc nước ta cây cói trồng ở vụ mùa thường

cứ 8 – 12 ngày thì nở rộ một đợt đâm tiêm mới

Ở những vùng trồng cói chính ở miền Bắc nước ta theo kết quả nghiên cứu thì những đợt nhánh cuối tháng 3 đầu tháng 4, tháng 7, tháng 8 và tháng 11, tháng12 mới

có khả năng phát triển thành thân hữu hiệu (tức những cây cói có thể thu hoạch và dệt chiếu được) Các đợt cói khác do điều kiện ngoại cảnh không phù hợp nên thường bị chết lụi và được thu hoạch thành dạng cói bổi

Ở nhiệt độ dưới 12 oC tiêm hầu như không phát triển, nhiệt độ > 25 oC cây cói

đẻ nhánh thuận lợi Đất có độ pH từ 5 – 6 có độ mặn 0,15 – 0,2 % thích hợp nhất cho cây cói đẻ nhánh Mực nước trong ruộng quá cao không thích hợp cho cây cói đâm tiêm, nên giữ cho đất có độ ẩm thích hợp để cây cói có khả năng đâm tiêm tốt Kết hợp

Trang 25

bón thúc thêm N – P – K với liều lượng hợp lý cũng góp phần tăng được khả năng đâm tiêm của cây cói

2.4.3 Thời kỳ cây cói vươn cao

Sau khi nhánh đã có lá mác vượt quá 10 cm khỏi bẹ lá, thân cói bắt đầu giai đoạn vươn cao Tốc độ vươn cao của thân khi gặp điều kiện môi trường thuận lợi (nhiệt độ cao, mưa khá nhiều, biên độ nhiệt độ ngày và đêm cao) thì có thể đạt 5 – 10 cm/ngày Thời gian vươn cao bắt đầu kể từ khi nhánh xuất hiện đến lúc khi nhánh ngừng sinh trưởng thường kéo dài khoảng 30 – 40 ngày

Nhiệt độ ảnh hưởng đến thời kỳ vươn cao, ở nhiệt độ 25 – 27 oC thì cói vươn cao mạnh nhất, nhiệt độ thấp hạn chế khả năng vươn cao, làm thân cói nhỏ, thấp cây

và chóng lụi tàn Trong khi đó nhiệt độ cao kèm thêm mưa làm cho cây cói vươn cao nhanh Mưa nhỏ cộng thêm sương nhiều cũng có khả năng góp phần tăng thêm khả năng vươn cao của cây cói Tuy nhiên, mực nước trong ruộng cói quá nhiều thì lại ảnh hưởng không tốt cho lắm đến sự sinh trưởng của cây làm cho thân cây mềm yếu, rất dễ

bị lốp đỗ

Thời kỳ vươn cao cũng đòi hỏi phải cung cấp đầy đủ ánh sáng cho cây cói tránh hiện tượng trồng quá dày sẽ tác động tiêu cực đến cây cói Đồng thời phải cung cấp cân đối, đầy đủ các nguyên tố N – P – K cho cây trong giai đoạn này, đất quá mặn (> 1,5%) thì hạn chế khả năng vươn cao của cây cói

2.4.4 Thời kỳ ra hoa và chín

Mầm hoa hình thành ở kẽ lá mác, đối với vụ cói chiêm ở miền Bắc ra hoa rộ từ tháng 5, đến trung tuần tháng 6 thì lụi dần, vụ cói mùa ra hoa rộ vào tháng 8 đến trung tuần tháng 9 thì tàn lụi dần Khi hoa từ màu trắng chuyển sang màu ngà là cây cói bắt đầu chín, lúc này thân cói từ màu xanh chuyển sang màu vàng óng, thân cói va chạm vào nhau phát ra tiếng động

2.5 Vai trò của các nguyên tố dinh dưỡng

Trang 26

2.5.1 Nguyên tố đạm (N)

N có vai trò vô cùng quan trọng đối với các quá trình sinh trưởng và phát triển

và hình thành năng suất của cây trồng

Trong cây N có mặt trong nhiều hợp chất hữu cơ quan trọng có vai trò trong trao đổi chất và năng lượng cũng như các hoạt động sinh lý khác nhau trong cây trồng

Protein cấu tạo bởi nitơ; protein là thành phần của cấu trúc chất nguyên sinh trong tế bào, cấu tạo nên màng sinh học, các cơ quan trong tế bào

Protein là thành phần không thể thiếu của các enzyme

N có trong thành phần các axit nucleic là acid có vai trò quan trọng trong quá trình sinh tổng hợp protein, sự phân chia và sinh trưởng của tế bào Mỗi phân tử diệp lục có bốn phân tử nitơ nên hàm lượng nitơ trong lá rất cao, diệp lục tố là quyết định việc hấp thu và biến đổi năng lượng ánh sáng mặt trời thành năng lượng hóa học thông qua các hoạt động quang hợp của cây trồng, tổng hợp nên các chất hữu cơ cung cấp năng lượng cho các hoạt động sống của sinh vật

N là thành phần của một số phytohoocmon như axit và cytokinin đây là hai hoocmon quan trọng trong việc phân chia và sinh trưởng của tế bào sinh vật

N tham gia vào thành phần của hợp chất phytocrom, sắc tố này có tác dụng điều khiển các quá trình sinh trưởng và phát triển của cây có liên quan đến tác động của ánh sáng mặt trời như phản ứng quang chu kỳ cho sự nở hoa, nảy mầm, tính hướng quang của cây trồng

Do đó cây cói có phản ứng rất mạnh mẽ với việc sử dụng phân đạm, phản ứng của cây cói khi tiến hành bón phân đạm là cây bắt đầu quá trình đâm tiêm nhanh hơn, nhiều hơn, tăng trưởng nhanh về chiều cao, tăng sinh khối nhanh do N nhanh chóng đi vào các thành phần của protein và các acid nucleic Bên cạnh đó khi cây cói hấp thu được lượng phân đạm thì các hoạt động sinh lý như quang hợp, hô hấp, hấp thu dinh dưỡng khoáng cũng được tiến hành nhanh chóng hơn làm tăng năng suất của cây cói

Bón phân đạm đầy đủ và cân đối với các phân lân và kali giúp cây cói có khả năng đâm tiêm nhanh, nhiều độ che phủ trên mặt ruộng lớn, sinh trưởng mạnh, thân

Trang 27

Bón thừa N làm cây cói mọc lướt, cây to xốp, nhiều nước dẫn đến sợi không bền, cây dễ bị đỗ ngã, rất dễ bị sâu bệnh hại tấn công yếu ớt ảnh hưởng đến năng suất

Thiếu N cây cói sinh trưởng kém, diệp lục hình thành ít, thân lá chuyển sang màu vàng, khả năng đẻ nhánh hữu hiệu của cây giảm sút một cách đáng kể, giảm khả năng quang hợp và khả năng tích lũy vật chất, thiếu N làm giảm năng suất của cây cói một cách nghiêm trọng và rõ rệt Trong quá trình canh tác tùy theo mức độ thiếu đạm của cây trồng thì sự ảnh hưởng đến năng suất là khác nhau và cần có biện pháp bổ sung phân đạm cho cây sinh trưởng và phát triển bình thường

Phương pháp bón phân đạm cần lưu ý tới diễn biến của thời tiết, không nên bón phân đạm lúc trời mưa to, lúc ruộng đầy nước Cần phải luôn luôn bón đầy đủ và cân đối với các nguyên tố lân và kali Không nên bón phân đạm một cách tập trung vào một thời điểm mà cần chia thành nhiều lần bón, có thể bón phân đạm bằng cách vãi hoặc lấp đất

2.5.2 Nguyên tố lân (P)

Lân giữ vai trò rất quan trọng đối với sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng Lân có trong thành phần của nhân tế bào, rất cần cho sự hình thành bộ phận mới của cây trồng Lân tham gia vào các thành phần của protein, của các enzyme, trực tiếp hay gián tiếp tham gia vào các quá trình sinh tổng hợp các acid amin

Khi được hấp thụ vào trong cây trồng lân tham gia vào nhiều hợp chất hữu cơ quan trọng quyết định quá trình trao đổi chất và năng lượng, quyết định đến các hoạt động sinh lý ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây trồng

Lân tham gia vào thành phần các acid nucleotit AND và ARN có vai trò quan trọng trong quá trình di truyền của cây trồng, quá trình phân chia tế bào sinh trưởng của cây Do đó trong suốt quá trình sinh sống của cây giai đoạn cây còn non và giai đoạn cây sinh trưởng mạnh thì hàm lượng lân trong cây trồng là cao nhất

Lân tham gia vào thành phần của phospholipid đây là hợp chất của lipid và phosphoric, nó giữ một vai trò rất quan trọng trong cấu tạo nên hệ thống màng sinh học trong tế bào như màng nguyên sinh chất, màng không bào, màng bao bọc các cơ quan, màng trong của lục lạp và ty thể, quyết định tính thấm, trao đổi chất và năng

Trang 28

lượng Chức năng của màng sinh chất gắn liền với hàm lượng và thành phần của phospholipid trong chuỗi

Lân có mặt trong hệ thống ATP, ADP là các chất dự trữ và trao đổi năng lượng sinh học trong cây, chúng cung cấp nguồn năng lượng cho các hoạt động sống của tế bào Trong quá trình quang hợp năng lượng ánh sáng mặt trời được tích lũy vào ATP, còn trong quá trình hô hấp nguồn năng lượng của việc oxy hóa các hợp chất hữu cơ cũng được tổng hợp nên các phân tử ATP Sự tổng hợp và hình thành các phân tử ATP được thực hiện nhờ quá trình phosphorin hóa

Lân tham gia vào nhóm hoạt động của các enzyme oxy hóa khử là NAD, NADP, FAD, FMN Đây là enzyme cực kì quan trọng trong các phản ứng oxy hóa khử của cây trồng, đặc biệt trong các quá trình quang hợp, hô hấp và đồng hóa nitơ

Lân có mặt trong một số nhóm chất rất phổ biến trong quá trình trao đổi chất là các ester phosphoric của các sản phẩm trung gian, như các hesophosphat, triozophosphat, các chất hữu cơ muốn tham gia vào quá trình trao đổi chất thì phải ở dạng hoạt hóa tự kết hợp với phospho

Đối với cây cói khi bón lân cây sinh trưởng tốt, có hệ thống rễ phát triển ăn sâu vào đất và lan rộng ra xung quanh, đẻ nhánh khỏe, tiến hành trao đổi chất và năng lượng mạnh mẽ, xúc tiến các hoạt động sinh lý, đặc biệt là quang hợp và hô hấp góp phần tăng năng suất của cây cói Bón lân có tác dụng tăng phẩm chất rõ rệt cây cói nhỏ, sợi dai, tỷ lệ cói chẻ tăng Lân giúp cho cây cói tăng khả năng chống chịu hạn, chịu độ chua của đất, chống lại tốt điều kiện bất lợi của thời tiết và sức tấn công của sâu bệnh hại được tốt hơn Tuy nhiên phải luôn nhớ bón cân đối và hợp lý không nên

bón quá nhiều lân làm cho cây thiếu một số nguyên tố vi lượng

2.5.3 Nguyên tố Kali (K)

Trong sản xuất nông nghiệp Kali giữ vai trò quan trọng, nó làm tăng năng suất

và chất lượng cây cói K tham gia vào quá trình chuyển hóa năng lượng trong quá trình đồng hóa các chất dinh dưỡng của cây K giúp cây chống chịu với những điều kiện bất thuận, làm cho cây cứng cáp, tăng khả năng chịu úng, chịu hạn, chịu rét

Trang 29

Mặc dù K không tham gia vào cấu trúc tạo hợp chất hữu cơ, nhưng vai trò sinh

lý của nó đối với cây là cực kỳ quan trọng Đó là vai trò điều chỉnh các hoạt động trao đổi chất và các hoạt động sinh lý của cây

K có tác dụng làm giảm độ nhớt của chất nguyên sinh, tăng mức độ thủy hóa của keo nguyên sinh tức làm tăng các hoạt động sống diễn ra trong tế bào

K điều chỉnh sự đóng mở khí khổng Sự tập trung hàm lượng cao của ion K+trong tế bào khí khổng làm thay đổi sức trương của tế bào khí khổng và điều chỉnh sự đóng mở của nó Sự đóng mở của khí khổng có vai trò điều chỉnh quan trọng trong quá trình trao đổi nước và quá trình đồng hóa CO2 của lá cây

K điều chỉnh dòng vận chuyển các chất hữu cơ trong mạch floem Trong tế bào mạch floem hàm lượng K rất cao Sự có mặt của K đã điều chỉnh tốc độ vận chuyển của các chất đồng hóa trong mạch rây, đặc biệt là điều chỉnh vận chuyển các chất hữu

cơ về các cơ quan nên kali có ý nghĩa quan trọng trong tăng năng suất

K hoạt hóa rất nhiều enzyme tham gia vào các biến đổi chất ATP – aza, RDP – cacboxylaza, nitrat reductaza

K làm tăng tính chống chịu của cây đối với các điều kiện ngoại cảnh bất thuận như tính chống chịu hạn, nóng

K có vai trò trong việc điều chỉnh sự vận động ngũ nghỉ ở một số lá ở thực vật như lá ở các cây họ đậu và họ trinh nữ Sự có mặt với hàm lượng cao ở trong tế bào của tổ chức cây đã điều chỉnh sức trương của tổ chức này gây nên hiện tượng đóng hoặc mở của lá cây vào ban ngày và ban đêm Ngoài ra vai trò của nguyên tố K trong việc điều chỉnh sức trương của tế bào có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ cho sự hoạt động ổn định của tế bào góp phần vào sự thuận lợi trong các hoạt động sinh lý của cây trồng

Thiếu nguyên tố K cây sinh trưởng kém hẳn đi, còi cọc rất dễ bị đỗ ngã, giảm một cách rõ rệt khả năng chống chịu của cây trồng dẫn đến làm giảm năng suất Bên cạnh đó bón phân kali cân đối và thích hợp làm tăng khả năng hấp thụ các phân đạm

và phân lân

2.6 Xác định tỷ lệ giữa các loại phân bón và thời kỳ bón phân

Trang 30

2.6.1 Tỷ lệ bón phân

Giữa các nguyên tố dinh dưỡng N : P : K có một tỷ lệ tối ưu nhất định cho cây cói trong toàn bộ quá trình sinh trưởng hay trong từng thời kỳ sinh trưởng khác nhau của cây cói Tỷ lệ N : P : K thích hợp làm cho cây sinh trưởng tốt hơn, chống chịu tốt hơn cho năng suất cao nhất Còn ngược lại nếu ta chọn tỷ lệ N : P : K không thích hợp thì chúng ta đã làm giảm khả năng tương tác thuận của các nguyên tố có tác dụng không tốt cho sự sinh trưởng và năng suất của cây cói

Chẳng hạn nếu bón phân đạm quá nhiều có thể hạn chế khả năng hấp thu lân và kali của cây trồng và ngược lại

Để tìm ra được một công thức phân bón thích hợp cho từng loại cây trồng nói chung và cây cói nói riêng thì cần phải tiến hành các thí nghiệm trong một khoảng thời gian dài và trong những điều kiện khác nhau của các điều kiện ngoại cảnh Sau khi tiến hành các thí nghiệm công thức nào cho năng suất cao và phù hợp với điều kiện canh tác của vùng cũng như mang lại được hiệu quả kinh tế mong muốn cho người nông dân trực tiếp sản xuất sẽ được chọn để từ đó nhân rộng ra sản xuất

Thời kỳ khủng hoảng dinh dưỡng của cây là khoảng thời gian mà một yếu tố dinh dưỡng nào đó rất cần thiết cho sự sinh trưởng của cây và để đạt được năng suất

ổn định Đối với cây cói giai đoạn cây đâm tiêm, vươn cao là lúc cần cung cấp phân đạm và phân lân nhiều cho cây có thể sinh trưởng tốt trong giai đoạn này Trong giai đoạn cây vươn cao và dần ổn định về hình thái cần bón giảm lượng phân đạm và phân lân, tăng cường cung cấp lượng phân kali

Trang 31

Thời kỳ hiệu suất cao nhất là giai đoạn yếu tố dinh dưỡng đó phát huy hiệu quả cao nhất, lượng chất dinh dưỡng cần ít nhất cho một đơn vị sản phẩm thu hoạch nhưng mang lại được hiệu quả cao trong đầu tư sản xuất nên chi phí đầu tư cho phân bón là đạt được hiệu quả cao nhất Quá trình sinh trưởng của cây cói thời kỳ hiệu suất cao

nhất của đạm là thời kỳ vươn cao của cây

2.7 Một số sản phẩm được làm từ cây cói

2.7.1 Chiếu chẻ

Chiếu cói chẻ là mặt hàng được thị trường trong và ngoài nước ưa chuộng nếu đảm bảo được chất lượng sản phẩm thì đây là sản phẩm thế mạnh của ngành chế biến các sản phẩm từ cây cói

Các sản phẩm chiếu chẻ rất phong phú và đa dạng ngoài chiếu chẻ mộc còn có chiếu chẻ màu, chiếu se chẻ, chiếu in hoa, chiếu chẻ nét, bình quân 1 tấn cói khô nguyên liệu có thể dệt được 500 m2 chiếu chẻ

2.7.2 Chiếu se đan

Tùy vào yêu cầu của thị trường mà các cơ cở sản xuất chiếu cáo thể sản xuất chiếu se đan có thể sản xuất với nhiều kích thướt khác nhau Làm chiếu se đan có thể tận dụng được cói ngắn, nhưng yêu cầu là sợi cói phải săn, chắc, đồng màu, không bị

ẩm mốc

Một tấn cói nguyên liệu bình quân có thể sản xuất ra được 400 m2 chiếu se đan

2.7.3 Thảm cói và một số sản phẩm khác

Thảm cói là một mặt hàng mang lại hiệu quả kinh tế cao và được thị trường rất

ưa chuộng chủ yếu là thị trường châu Âu (Đông Âu, Tây Âu, Bắc Âu), có thể tận dụng được các cây cói ngắn, đã bị xuống màu, và sản xuất được nhiều kích cỡ sản phẩm khác nhau phù hợp trong việc trang trí nội thất trong nhà, sàn tàu

Ngoài những mặt hàng chủ lực trên còn sản xuất những sản phẩm khác như: khay, hộp, đĩa, túi xách, các vật dụng dùng trong ngành trang trí nội thất, bao manh với rất nhiều chủng loại phong phú

Trang 33

Chương 3

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM

3.1 Thời gian và điều kiện thí nghiệm

3.1.3 Vật liệu thí nghiệm

Giống cói được sử dụng là giống cói bông trắng (C tagetiormis Roxb.), một

giống cói được trồng phổ biến trong sản xuất Đặc điểm của giống là thân tương đối tròn, sợi dài, hoa có màu trắng, năng suất khá cao, chất lượng sợi cói tốt

Đất đã được sử dụng để trồng cây cói trong thí nghiệm là đất xám phù sa cổ nhiễm mặn trên diện tích 700 m2

Phân bón sử dụng là các loại phân vô cơ có dạng đơn chất như sau:

N : phân urê (46 – 0 – 0)

Lân : phân DAP (18 – 46 – 0)

Kali : phân KCl (0 – 0 – 60)

Trang 34

3.1.4 Điều kiện thời tiết

Điều kiện thời tiết của vùng đất canh tác tại xã Long Định, huyện Cần Đước, tỉnh Long An trong suốt quá trình đề tài được thực hiện có những biến động khá lớn giữa các tháng về nhiệt độ, ẩm độ, tổng số giờ nắng và tổng lượng mưa

Bảng 3.1 Lượng mưa và nhiệt độ từ 01/08/2009 đến 31/05/2010

Tổng số giờ nắng(giờ)

Tổng lượng mưa (mm)

Theo bảng 3.1 trong vụ một từ tháng 08/2009 đến tháng 01/2010 với nền nhiệt

độ trung bình cao và tổng lượng mưa hàng tháng tương đối cao đã ảnh hưởng rất tốt đến khả năng sinh trưởng của cây cói tại khu thí nghiệm, trong vụ hai từ tháng 01/2010 tới tháng 07/2010 trong điều kiện nhiệt độ cao và lượng mưa ít đã ảnh hưởng không tốt đến khả năng sinh trưởng cũng như năng suất thực thu của cây cói

3.1.5 Điều kiện đất đai ở khu thí nghiệm

Phương pháp lấy mẫu đất: tiến hành lấy 8 điểm theo 2 đường chéo góc của toàn

bộ ruộng thí nghiệm, mỗi điểm lấy sâu 0 – 30 cm, lấy mẫu tiến hành phân tích tại phòng thí nghiệm đất bộ môn Nông hóa Thổ nhưỡng, khoa Nông Học, Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh

Trang 35

Phân tích các chỉ tiêu đạm dễ tiêu theo phương pháp Nessler, lân dễ tiêu theo phương pháp Bray, kali dễ tiêu theo phương pháp quang kế ngọn lửa

P hân tích đạm tổng số theo phương pháp Kjeldahl, lân tổng số theo phương pháp Troug Meyer, kali tổng số theo phương pháp quang kế ngọn lửa

Phân tích các nguyên tố trung lượng Ca, Mg theo phương pháp Complexon

(Trilon B), xác định chất hữu cơ trong đất theo phương pháp Tiurin

Bảng 3.2 Kết quả phân tích đất trước khi trồng

Trang 36

Chiều biến thiên

Bón phân:

Do đặc thù canh tác của vùng người nông dân thường không sử dụng phân bón lót và vôi cho ruộng sản suất có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sinh trưởng và năng suất của cây cói

Trong thời gian tiến hành đề tài việc bón phân cho ruộng thí nghiệm được chia làm ba lần bón với phương pháp bón vãi đều trên mặt ruộng:

Lần bón phân thứ nhất 10 ngày sau khi đi ngọn với liều lượng phân bón 1/3 N + 1/3 P2O5 + 1/3 K2O trong mỗi công thức

Lần bón phân thứ hai được bón vào giai đoạn 30 ngày sau đi ngọn với liều lượng 1/3 N + 1/3 P2O5 + 1/3 K2O trong mỗi công thức

Lần bón phân cuối cùng cho ruộng thí nghiệm theo từng công thức là lượng phân còn lại trong các công thức phân bón trong các nghiệm thức

3.3 Các chỉ tiêu tiến hành theo dõi

3.3.1 Chiều cao cây

Mỗi ô tiến hành theo dõi ở 3 – 5 bụi trên mỗi nghiệm thức, mỗi cây được đánh

Trang 37

chiều cao của cây được tính từ mặt đất đến đỉnh cao nhất của cây Bắt đầu theo dõi sau khi đi ngọn 32 ngày và 8 ngày sau theo dõi chiều cao một lần theo định kỳ Thời gian

theo dõi tiến hành thường vào buổi sáng

3.3.2 Số nhánh (tiêm) hữu hiệu

Số nhánh hữu hiệu cây cói ngắn có chiều cao từ 1,4 – 1,6 m, số nhánh hữu hiệu cây cói dài có chiều cao > 1,6 m, số nhánh hữu hiệu được đếm trên một m2

3.3.3 Trọng lượng chất tươi và sự tích lũy chất tươi

Trọng lượng chất tươi cây cói ngắn được tính trong một m2, trọng lượng chất tươi của cây cói dài được tính trong một m2

3.3.4 Trọng lượng chất khô và sự tích lũy chất khô

Theo lý thuyết: mỗi một nghiệm thức cắt cây cói trên một m2 đem chẻ cây cói

ra sau đó phơi khô và cân, gồm trọng lượng cây cói khô dài > 1,6 m và cây cói khô ngắn < 1,6 m

Theo thực tế: tiến hành cắt cây cói trong mỗi ô thí nghiệm 30 m2 cũng chia ra làm hai loại cây cói dài có chiều cao > 1,6 m, và cây cói ngắn có chiều cao < 1,6 m sau

đó chẻ cói xong và phơi khô sau đó cân toàn bộ cói khô của mỗi nghiệm thức

3.3.5 Lượng toán hiệu quả kinh tế

Tổng thu – tổng chi, được tính trên diện tích 30 m2

3.5 Phương pháp xử lý số liệu

Sau khi thu thập số liệu thì số liệu được xử lý thống kê bằng chương trình

EXCEL và phần mềm MSTATC

Trang 38

Chương 4

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Động thái tăng trưởng chiều cao

Chiều cao cây phụ thuộc vào đặc tính của giống, chiều cao tăng nhanh hay chậm ngoài phụ thuộc vào lý tính và hóa tính của đất đai, điều kiện khí hậu thời tiết của vùng mà ruộng cói đang được trồng, trong đó việc bón phân cung cấp dinh dưỡng cho cây cói cũng đóng một vai trò rất quan trọng trong việc tăng khả năng vươn cao của cây cói Bên cạnh đó các tác động của ngoại cảnh như: nhiệt độ, ánh sáng, lượng mưa và yếu tố sâu bệnh cũng ảnh hưởng đến khả năng vươn cao của cây cói

Bảng 4.1 Chiều cao cây cói vụ một tháng 08/2009 – tháng 01/2010 (cm/cây)

Ghi chú:những giá trị không cùng ký tự theo sau trong cùng một cột sự khác biệt rất có ý nghĩa về mặt thống kê

α =0,01, những giá trị không cùng ký tự theo sau trong cùng một cột sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê α = 0,05

Sau khi tiến hành đi ngọn cho ruộng cói vào giai đoạn 10 NSCN sẽ bón phân

Trang 39

Giai đoạn 32 NSCN: cây cói lúc này đã nhận được lượng dinh dưỡng của hai đợt bón phân trước đó làm cây ở các nghiệm thức 4, nghiệm thức 5, nghiệm thức 6 nhanh chóng vươn cao trắc nghiệm phân hạng nghiệm thức 6 (170,66 cm) sự khác biệt

có ý nghĩa về mặt thống kê với nghiệm thức 1 (121,66 cm), nghiệm thức 2 (114,66 cm)

Giai đoạn 48 NSCN: nghiệm thức 6 có chiều cao (198,67 cm) sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê với các nghiệm thức 1 (156,20 cm) và nghiệm thức 2 (145,00 cm) có chiều cao thấp hơn Tiến hành bón phân lần cuối cho các ô thí nghiệm đây là lượng dinh dưỡng cần thiết cho quá trình già hóa của cây

Giai đoạn 64 NSCN: cây cói đạt được chiều cao tối đa dưới tác dụng của các liều lượng phân bón đặc biệt là tác dụng của phân đạm cộng thêm lượng phân kali làm cây ít bị đỗ ngã nghiệm thức 6 (222,66 cm) với liều lượng phân bón cao nhất trong thí nghiệm, nghiệm thức 1 (190,33 cm) đạt thấp nhất

Bảng 4.2 Chiều cao cây cói vụ hai tháng 01/2010 – tháng 07/2010 (cm/cây)

Ghi chú: những giá trị không cùng ký tự theo sau trong cùng một cột sự khác biệt rất có ý nghĩa về mặt thống kê

α =0,01; những giá trị không cùng ký tự theo sau trong cùng một cột sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê α =

0,05

Trang 40

Các công thức phân bón đã có tác dụng thúc đẩy quá trình vươn cao của cây cói

đó là một trong những yếu tố không thể thiếu để có thể góp phần làm tăng khả năng

sinh trưởng của cây cói

Dưới tác dụng của các công thức phân bón trong vụ hai tháng 01/2010 – tháng

07/2010, cho thấy kết quả là ở các nghiệm thức có công thức phân bón với liều lượng

N: 120 – 180, lượng P2O5: 80 – 120, lượng K2O: 120 – 180 đạt được chiều cao hơn các

nghiệm thức còn lại trong thí nghiệm

Qua bảng 4.2 cho thấy được sau 64 NSCN chiều cao cây cao nhất ở nghiệm

thức 6 (180 – 120 – 180) đạt 190,26 cm, thấp nhất ở nghiệm thức 1 (30 – 20 – 30) đạt

167,36 cm

4.2 Khả năng đẻ nhánh của cây cói (số nhánh/m 2 )

Khả năng đẻ nhánh là số nhánh của cây cói có thể có tối đa trên một bụi cói, sau

khi tiến hành đi ngọn và bón phân thì cây cói bắt đầu đâm tiêm và hình thành các

nhánh hữu hiệu nếu điều kiện thời tiết khí hậu, điều kiện đất đai, cung cấp các nguyên

tố dinh dưỡng, tình hình sâu bệnh hại rất cần thiết cho cây cói tăng nhanh mật độ cói

Ngày đăng: 16/03/2019, 11:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w