1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG BỆNH CHỔI RỒNG TRÊN CÂY NHÃN TẠI CÁC TỈNH PHÍA NAM VÀ BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ

102 124 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 2,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG BỆNH CHỔI RỒNG TRÊN CÂY NHÃN TẠI CÁC TỈNH PHÍA NAM VÀ BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ Tác giả BÙI QUỐC HƯNG Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA NÔNG HỌC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG BỆNH CHỔI RỒNG TRÊN CÂY NHÃN TẠI CÁC TỈNH PHÍA NAM VÀ BƯỚC ĐẦU NGHIÊN

Trang 2

ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG BỆNH CHỔI RỒNG TRÊN CÂY NHÃN TẠI CÁC TỈNH PHÍA NAM VÀ BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU

MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ

Tác giả

BÙI QUỐC HƯNG

Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu

cấp bằng Kỹ sư ngành Nông học

Giáo viên hướng dẫn

NGUYỄN HỮU TRÚC

Tháng 8 năm 2010

Trang 3

CẢM TẠ

CHÂN THÀNH CẢM TẠ

Cám ơn công ơn to lớn của Cha Mẹ và gia đình đã suốt đời tận tụy vì con để cho con

có được ngày hôm nay

Cám ơn thầy Nguyễn Hữu Trúc đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt kinh nghiệm và giúp

đỡ cho tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài Tôi xin gửi lời cám ơn sâu sắc đến Thầy

Cám ơn quý thầy cô trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt thời gian học tập tại trường

Cám ơn chị Trần Thị Mỹ Hạnh, Viện cây ăn quả miền Nam đã nhiệt tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi thực hiện đề tài

Cám ơn anh Nguyễn Thành Hiếu, Viện cây ăn quả miền Nam đã tạo điều kiện thuận lợi trong thời gian tôi thực hiện đề tài

Cám ơn cô Tuyến, anh Quang, gia đình chú Bảy, chú Út Hiền đã giúp đỡ tôi trong thời gian tôi thực hiện đề tài

Cám ơn bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành khoá luận

Xin chân thành cám ơn

ĐH Nông Lâm TP HCM, tháng 08 năm 2010

Sinh viên

BÙI QUỐC HƯNG

Trang 4

TÓM TẮT

Đề tài “Điều tra hiện trạng bệnh chổi rồng trên cây nhãn tại các tỉnh phía

Nam và bước đầu nghiên cứu một số biện pháp phòng trừ” được thực hiện từ

tháng 1 đến tháng 6 năm 2010

- Địa điểm điều tra: Xã Tân Phong huyện Cai Lậy, xã Hoà Khánh huyện Cái Bè tỉnh Tiền Giang; xã Bình Hoà Phước, Lộc Hòa huyện Long Hồ, xã Chánh An, An Phước huyện Măng Thít tỉnh Vĩnh Long; xã Tóc Tiên huyện Tân Thành, xã Xuyên Mộc huyện Xuyên Mộc tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu và xã Xuân Tâm huyện Xuân Lộc, xã Xuân Hòa huyện Xuân Lộc tỉnh Đồng Nai Phương pháp: Điều tra ngẫu nhiên 30 hộ trồng nhãn ở mỗi tỉnh bằng phiếu điều tra in sẵn

- “Thí nghiệm đánh giá hiệu quả của nấm Paecilomyces sp đến tỷ lệ chết của

nhện lông nhung” được tiến hành tại phòng thí nghiệm côn trùng - Bộ môn Bảo vệ thực vật - Viện Cây ăn quả miền Nam, xã Long Định, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên, 3 nghiệm thức, 10 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại được bố trí trên một chậu nhựa Phương pháp: Mỗi đọt nhãn được cắt ra từ cây nhãn con 45 ngày tuổi và được giữ tươi trong môi trường thạch cao Sau đó tiến hành thả nhện lông nhung vào với số lượng 30 con/đọt Sử dụng kính lúp

để đếm và ghi nhận số nhện chết ở thời điểm: 1, 3, 5, và 7 ngày sau xử lý

- “Thí nghiệm khảo sát hiệu quả của việc cắt tỉa cành kết hợp xử lý thuốc trừ nhện” được thực hiện tại xã Hiệp Đức, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối đầy đủ hoàn toàn ngẫu nhiên, gồm 3 nghiệm thức với 7 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại bố trí trên 1 cây Phương pháp: Mỗi cây theo dõi 4 hướng, mỗi hướng là một cành cấp 3 Đếm số chồi nhiễm trên tổng số chồi ở thời điểm: 21, 28, 35

và 42 ngày sau cắt tỉa

- “Thí nghiệm đánh giá hiệu quả trừ nhện lông nhung của các lần phun nước khác nhau kết hợp xử lý thuốc bảo vệ thực vật” được tiến hành tại tại xã Hiệp Đức, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối đầy đủ hoàn toàn ngẫu nhiên, gồm 5 nghiệm thức với 4 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại bố trí trên một cây Phương pháp: Dùng kính lúp để đếm và ghi nhận lại mật số nhện lông nhung ở các thời điểm: Trước phun, 7 ngày, 14 ngày, 21 ngày sau khi phun lần 1

Trang 5

Kết quả cho thấy:

- Mức độ nhiễm bệnh chổi rồng và các yếu tố liên quan:

+ Diện tích nhãn nhiễm bệnh chổi rồng ở ĐBSCL chiếm 96,7%, còn ở ĐNB diện tích nhiễm bệnh chiếm 86,7%

+ Bệnh chổi rồng ở ĐBSCL xuất hiện nhiều và phổ biến quanh năm Ở ĐNB, thời gian xuất hiện bệnh chổi rồng nhiều từ tháng 1 – 3, 5 – 7, 11 – 12

+ Có 40% vườn nhãn bị nhiễm ở mức cấp 2 và 26,7% vườn bị nhiễm ở mức cấp

3 tại ĐBSCL Còn ở ĐNB, có 85% vườn nhãn bị nhiễm ở mức cấp 1

+ Hầu hết các hộ điều tra còn hiểu biết hạn chế về bệnh chổi rồng trên nhãn + Giống nhãn xuồng cơm ráo không bị nhiễm bệnh chổi rồng Các giống tiêu da

bò, tiêu quế, xuồng cơm trắng, nhãn long, nhãn Daw đều bị nhiễm bệnh chổi rồng

+ Trồng xen canh, nuôi ong mật và cỏ bồ ngót, cỏ bóng nẻ trong vườn nhãn làm tăng tỷ lệ cây nhiễm bệnh chổi rồng trên vườn Ngược lại, việc tỉa cành tạo tán, vệ sinh vườn giúp giảm tỷ lệ cây nhiễm bệnh trên vườn

+ Việc sử dụng các loại thuốc trừ sâu không làm giảm tỷ lệ cây nhiễm bệnh chổi rồng trên vườn Đa số hộ nông dân sử dụng các loại thuốc không đặc trị nhện lông nhung: Karate, Fenbis, Dipterex, Sherpa

+ Biện pháp cắt cành kết hợp phun thuốc trừ nhện giúp giảm mức độ nhiễm bệnh ở mức cấp 1

- Nấm Paecilomyces sp và thuốc trừ nhện Ortus 5SC cho hiệu quả trừ nhện

lông nhung cao

- Cắt tỉa cành 50 cm kết hợp phun thuốc trừ nhện có tỷ lệ nhiễm chổi rồng thấp nhất

- Việc phun nước lên tán cây bước đầu ghi nhận không có hiệu quả trừ nhện lông nhung

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

Trang tựa i

Cảm tạ ii

Tóm tắt iii

Mục lục v

Danh sách các chữ viết tắt viii

Danh sách các bảng ix

Danh sách các hình xi

CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích 2

1.3 Yêu cầu 2

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN 3

2.1 Sơ lược về cây nhãn 3

2.1.1 Nguồn gốc cây nhãn 3

2.1.2 Tình hình sản xuất nhãn trên thế giới và trong nước 3

2.1.3 Một số giống nhãn trồng 4

2.1.4 Nhân giống nhãn 6

2.1.5 Kỷ thuật trồng và chăm sóc 6

2.2 Tình hình bệnh chổi rồng ở Nam bộ 11

2.3 Những nghiên cứu về bệnh chổi rồng 12

2.3.1 Trên thế giới 12

2.3.1 Trong nước 13

2.4 Đặc điểm hình thái, sinh học của một số nhện lông nhung 13

2.4.1 Đặc điểm hình thái, sinh học của nhện lông nhung Eriophyes dimocarpi 14

2.4.2 Đặc điểm hình thái, sinh học của nhện lông nhung Eriophyes litchii 14

2.5 Phổ ký chủ của nhện lông nhung Eriophyes dimocarpi 14

2.6 Thời điểm phòng trừ nhện lông nhung có hiệu quả 15

2.7 Khả năng lan truyền chổi rồng qua hạt và qua con đường ghép 15

Trang 7

2.8 Hiện trạng khắc phục bệnh chổi rồng trên nhãn tiêu da bò ở miền đông Nam bộ 15

2.9 Biện pháp phòng trừ nhện lông nhung 16

2.10 Khả năng chống chịu của một số giống nhãn 17

2.11 Nấm Paecilomyces sp sử dụng trong thí nghiệm 17

2.11.1 Nguồn gốc, phân loại 17

2.11.2 Đặc điểm hình thái, sinh học nấm Paecilomyces sp 17

2.11.3 Độc tố diệt côn trùng 18

2.11.4 Những nghiên cứu và ứng dụng 18

2.12 Đặc điểm chung của các loại thuốc hoá học sử dụng trong thí nghiệm 18

2.12.1 Sơ lược về thuốc gốc Fenpyroximate 18

2.12.2 Sơ lược về thuốc gốc Diafenthiuron 18

2.12.3 Sơ lược về thuốc gốc Petroleum Sprayoil 19

CHƯƠNG 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 20

3.1.1 Địa điểm 20

3.1.2 Thời gian nghiên cứu 20

3.2 Vật liệu thí nghiệm 20

3.3 Phương pháp nghiên cứu 21

3.3.1 Điều tra hiện trạng bệnh chổi rồng trên nhãn 21

3.3.2 Đánh giá hiệu quả của nấm Paecilomyces sp và Ortus 5SC đến tỉ lệ chết của nhện lông nhung trong phòng thí nghiệm 22

3.3.3 Khảo sát hiệu quả của việc tỉa cành kết hợp xử lý thuốc trừ nhện 22

3.3.4 Đánh giá hiệu lực diệt nhện của các lần phun nước khác nhau kết hợp xử lý thuốc bảo vệ thực vật 23

3.4 Phương pháp xử lý số liệu 25

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ THẢO LUẬN 26

4.1 Điều tra mức độ nhiễm bệnh chổi rồng trên nhãn tại các vùng điều tra và tìm hiểu các yếu tố liên quan đến bệnh chổi rồng 26

4.1.1 Diện tích vườn nhãn 26

4.1.2 Thời gian xuất hiện bệnh chổi rồng trong năm 27

4.1.3 Mức độ nhiễm bệnh chổi rồng trong vườn nhãn 27

Trang 8

4.1.4 Dự đoán thiệt hại về năng suất do chổi rồng tại các điểm điều tra 28

4.1.5 Hiểu biết của chủ vườn về bệnh chổi rồng 29

4.1.6 Tình hình nhiễm bệnh của các giống nhãn điều tra 29

4.1.7 Ảnh hưởng của loại hình canh tác đến bệnh chổi rồng 30

4.1.8 Ảnh hưởng của cỏ dại trong vườn nhãn đến bệnh chổi rồng 31

4.1.9 Ảnh hưởng của việc nuôi ong mật đến bệnh chổi rồng 33

4.1.10 Ảnh hưởng của việc tỉa cành tạo tán đến bệnh chổi rồng 33

4.1.11 Ảnh hưởng của việc vệ sinh vườn nhãn đến bệnh chổi rồng 34

4.1.12 Ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đến bệnh chổi rồng 35

4.1.13 Biện pháp quản lý của nông dân 36

4.2 Hiệu quả của nấm Paecilomyces sp và Ortus 5SC đến tỷ lệ chết của nhện lông nhung 38

4.3 Hiệu quả của việc cắt tỉa cành kết hợp xử lý thuốc trừ nhện 44

4.4 Hiệu quả trừ nhện của các lần phun nước khác nhau kết hợp xử lý thuốc bảo vệ thực vật 50

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 53

5.1 Kết luận 53

5.2 Đề nghị 54

TÀI LIỆU THAM KHẢO 55

PHỤ LỤC 58

Trang 9

DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT

ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long

ĐNB: Đông Nam bộ

STT: Số thứ tự

NSP: Ngày sau phun

NSCT: Ngày sau cắt tỉa

Trang 10

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Trang

Bảng 3.1: Các nghiệm thức của thí nghiệm đánh giá hiệu quả của nấm Paecilomyces

sp và Ortus 5SC đến tỉ lệ chết của nhện lông nhung 22

Bảng 3.2: Các nghiệm thức của thí nghiệm khảo sát hiệu quả của việc tỉa cành kết hợp xử lý thuốc trừ nhện 22

Bảng 3.3: Các nghiệm thức của thí nghiệm đánh giá hiệu quả trừ nhện của các lần phun nước khác nhau kết hợp xử lý thuốc bảo vệ thực vật 24

Bảng 4.1: Phân bố diện tích bị nhiễm bệnh chổi rồng theo số hộ điều tra 26

Bảng 4.2: Thời gian xuất hiện bệnh chổi rồng trong năm theo ghi nhận của hộ nông dân 27

Bảng 4.3: Mức độ nhiễm bệnh chổi rồng theo số hộ điều tra 28

Bảng 4.4: Thiệt hại năng suất do bệnh chổi rồng 28

Bảng 4.5: Hiểu biết của chủ vườn về bệnh chổi rồng 29

Bảng 4.6: Tình hình nhiễm bệnh chổi rồng trên các giống nhãn được điều tra 30

Bảng 4.7: Mối liên quan giữa loại hình canh tác và bệnh chổi rồng ở ĐBSCL 30

Bảng 4.8: Mối liên quan giữa loại hình canh tác và bệnh chổi rồng ở ĐNB 31

Bảng 4.9: Mối liên quan giữa cỏ dại trong vườn nhãn và bệnh chổi rồng ở ĐBSCL 31

Bảng 4.10: Mối liên quan giữa cỏ dại trong vườn nhãn và bệnh chổi rồng ở ĐNB 32

Bảng 4.11: Mối liên quan giữa nuôi ong mật và bệnh chổi rồng ở ĐBSCL 33

Bảng 4.12: Mối liên quan giữa tỉa cành tạo tán và bệnh chổi rồng ở ĐBSCL 33

Bảng 4.13: Mối liên quan giữa tỉa cành tạo tán và bệnh chổi rồng ở ĐNB 34

Bảng 4.14: Mối liên quan giữa vệ sinh vườn nhãn và bệnh chổi rồng ở ĐBSCL 35

Bảng 4.15: Mối liên quan giữa vệ sinh vườn nhãn và bệnh chổi rồng ở ĐNB 35

Bảng 4.16: Mối liên quan giữa việc sử dụng thuốc trừ sâu và bệnh chổi rồng ở ĐBSCL 36

Bảng 4.17: Mối liên quan giữa việc sử dụng thuốc trừ sâu và bệnh chổi rồng ở ĐNB 36 Bảng 4.18: Mối quan hệ giữa các biện pháp quản lý trong giai đoạn đọt non và bệnh chổi rồng 37

Trang 11

Bảng 4.19: Mối liên quan giữa các biện pháp quản lý ở giai đoạn ra hoa và bệnh chổi

rồng 38

Bảng 4.20: Mật số nhện lông nhung sau khi xử lý 38

Bảng 4.21: Hiệu quả phòng trừ nhện lông nhung của các loại thuốc 39

Bảng 4.22: Đánh giá hiệu lực của các loại thuốc xử lý trong thí nghiệm 40

Bảng 4.23: Tỷ lệ chồi nhiễm bệnh sau khi cắt tỉa cành kết hợp phun thuốc trừ nhện 44

Bảng 4.24: Hiệu quả trừ nhện lông nhung của các lần phun nước khác nhau kết hợp xử lý thuốc bảo vệ thực vật 50

Trang 12

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Trang

Hình 4.1: Các nghiệm thức của thí nghiệm đánh giá hiệu quả của nấm Paecilomyces

sp và thuốc Ortus 5SC đến tỷ lệ chết của nhện lông nhung 41

Hình 4.2: Nghiệm thức 2 của thí nghiệm 42

Hình 4.3: Nhện lông nhung ở nghiệm thức đối chứng vào 7 ngày sau phun 42

Hình 4.4: Nhện lông nhung ở nghiệm thức Paecilomyces sp vào 7 ngày sau phun 43

Hình 4.5: Nhện lông nhung bị chết do nấm Paecilomyces sp vào 7 ngày sau phun 43

Hình 4.6: Cành cắt 50 cm 45

Hình 4.7: Cành cắt 30 cm 45

Hình 4.8: Nghiệm thức cắt tỉa cành 50 cm 45

Hình 4.9: Nghiệm thức cắt tỉa cành 30 cm 45

Hình 4.10: Nghiệm thức đối chứng vào 21 ngày sau cắt tỉa 46

Hình 4.11: Nghiệm thức cắt tỉa cành 30 cm vào 21 ngày sau cắt tỉa 46

Hình 4.12: Nghiệm thức cắt tỉa cành 50 cm vào 21 ngày sau cắt tỉa 47

Hình 4.13: Nghiệm thức đối chứng vào 42 ngày sau cắt tỉa 47

Hình 4.14: Nghiệm thức cắt tỉa cành 30 cm vào 42 ngày sau cắt tỉa 48

Hình 4.15: Nghiệm thức cắt tỉa cành 50 cm vào 42 ngày sau cắt tỉa 48

Hình 4.16: Triệu chứng bệnh chổi rồng trên chồi non 49

Hình 4.17: Toàn cảnh khu thí nghiệm cắt tỉa cành kết hợp phun thuốc trừ nhện 49

Hình 4.18: Phun nước lên tán cây với áp lực mạnh 51

Hình 4.19: Nghiệm thức đối chứng vào 14 ngày sau phun lần 1 52

Hình 4.20: Toàn cảnh khu thí nghiệm 52

Trang 13

Chương 1

MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề

Cây nhãn (Dimocarpus longan Lour.) là cây ăn quả quan trọng ở Việt Nam, có

thị trường tiêu thụ khá rộng Nhãn có thể ăn tươi và dùng để chế biến, quả nhãn ăn ngon ngọt, có mùi thơm, ngoài các chất Ca, Fe, P, K còn cung cấp năng lượng khá cao

và các chất dinh dưỡng rất cần cho sức khỏe con người Ngoài ra, thịt nhãn sấy khô còn được dùng làm thuốc bổ, thuốc an thần, hạt nhãn và vỏ nhãn đều được dùng làm thuốc trong đông y Hiện nay, nhãn đang có triển vọng xuất khẩu sang thị trường Châu

Âu rất lớn Năm 2005, diện tích nhãn của Việt Nam là 70.200 ha với sản lượng 481.000 tấn (Nguyễn Văn Kế, 2008) Phần lớn diện tích tập trung ở Nam bộ

Những loại sâu bệnh hại chính trên cây nhãn gồm: Bọ xít nhãn (Tessaratoma

longicorne), sâu đục quả (Acrocercops cramerella), bệnh thối trái do Phythopthora

sp., đã gây trở ngại đáng kể cho việc sản xuất nhãn Đặc biệt những năm gần đây, bệnh chổi rồng xuất hiện và ngày càng lan rộng đã ảnh hưởng nghiêm trọng cũng như gây thiệt hại lớn đến sản xuất nhãn, nhất là một số vùng trồng nhãn ở Đông Nam bộ Chỉ riêng hai huyện Tân Phú và Định Quán tỉnh Đồng Nai, năm 2004 nhãn bị nhiễm bệnh khoảng 3.450 ha chiếm hơn 70% diện tích trồng nhãn của tỉnh Năm 2003, tại Bà Rịa Vũng Tàu đã có 110 ha bị nhiễm, đến năm 2006 tăng lên 583 ha (Nguyễn Văn Hoà và ctv, 2007) Ở Đồng bằng sông Cửu Long, bệnh chổi rồng xuất hiện ở mức khá và cũng

có chiều hướng gia tăng, có nguy cơ phát thành dịch bệnh Số liệu thống kê từ Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Vĩnh Long vào cuối năm 2009 cho thấy diện tích nhãn bị nhiễm bệnh chổi rồng là 1.854 ha Chổi rồng là một bệnh hại trên nhãn rất quan trọng tại các nước Châu Á làm giảm từ 20 – 50% sản lượng nhãn (Chen, 1990)

Theo Nguyễn Văn Hòa và ctv (2007), nhện lông nhung (Eriophyes dimocarpi) được

xác định là có liên quan đến bệnh chổi rồng trên nhãn Cây nhãn bị bệnh chổi rồng, chồi lá và hoa sẽ không tiếp tục phát triển mà biến dạng, co cụm, thoái hóa chức

Trang 14

năng khô dần và chết Bệnh chổi rồng trên nhãn xảy ra đã làm giảm sản lượng, riêng những vườn bị nhiễm 100% sẽ không cho thu hoạch, do đó diện tích nhãn dần bị thu hẹp ở các tỉnh phía Nam

Xuất phát từ thực tế trên, đề tài “Điều tra hiện trạng bệnh chổi rồng trên cây

nhãn tại các tỉnh phía Nam và bước đầu nghiên cứu một số biện pháp phòng trừ”

Trang 15

Chương 2

TỔNG QUAN

2.1 Sơ lược về cây nhãn

2.1.1 Nguồn gốc cây nhãn

Cây nhãn (Dimocarpus longan Lour.) thuộc họ bồ hòn (Sapindaceae) là cây

nhiệt đới lẫn á nhiệt đới (Vũ Công Hậu, 1998)

Theo Nguyễn Văn Kế (2008), nguồn gốc của cây nhãn từ Bắc Myanmar tới Nam Trung Quốc Nhưng cũng có tác giả cho là nó trải dài tới tận miền Tây Nam Ấn

Độ và Sri Lanka

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng cây nhãn có nguồn gốc ở miền Nam Trung Quốc, đời Hán Vũ Đế cách đây hơn 2.000 năm đã có sách ghi chép về cây nhãn (Trần Thế Tục, 2001)

2.1.2 Tình hình sản xuất nhãn trên thế giới và trong nước

Trên thế giới

Hiện nay, Trung Quốc là nước có diện tích trồng nhãn và sản lượng đứng hàng đầu trong các nước trồng nhãn Ngoài Trung Quốc nhãn còn được trồng nhiều ở Thái Lan, Ấn Độ, Malaysia, Việt Nam, Philippines Đến thế kỷ 19, nhãn mới được trồng ở Châu Mỹ, Châu Phi, Châu Đại Dương, các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới Ở Trung Quốc, nhãn được trồng nhiều nhất và lâu đời nhất ở Phúc Kiến chiếm 48,7% diện tích toàn quốc Diện tích trồng nhãn ở Trung Quốc năm 1995 đã hơn 80.000 ha (Trần Thế Tục, 2001)

Số liệu trong cuộc hội thảo về cây ăn quả năm 2007 tại Malaysia cho thấy trong năm 2005 Thái Lan đã xuất khẩu 242.000 tấn nhãn và sản lượng nhãn của Thái Lan đã đạt tới 706.000 tấn trên diện tích trồng là 153.000 ha (Nguyễn Văn Kế, 2008)

Nhãn thường được ăn tươi, chủ yếu người tiêu dùng là người gốc Châu Á Hồng Kông là nơi nhập nhãn nhiều nhất Người Mỹ và người Châu Âu ít ăn nhãn (Nguyễn Văn Kế, 2008)

Trang 16

Ở Việt Nam

Ngay từ cuối thế kỷ trước Việt Nam đã là một trong ba nước trồng nhãn nhiều nhất thế giới, năm 2005 diện tích nhãn của Việt Nam là 70.200 ha với sản lượng 481.000 tấn (Nguyễn Văn Kế, 2008)

Nhãn được trồng từ bao giờ chưa được xác định, cây nhãn trồng lâu nhất là ở chùa Phố Hiến, xã Hồng Châu, thị xã Hưng Yên, tỉnh Hải Hưng (Trần Văn Minh, 1997)

Hiện nay nhãn được trồng nhiều ở các tỉnh Đồng bằng Bắc bộ như: Hưng Yên, Hải Dương, Hà Nam, Thái Bình, Hà Nội, Hà Tây, Hải Phòng, Bắc Ninh, Bắc Giang

Cả vùng có khoảng 2 triệu cây, tính theo mật độ thông thường diện tích trồng nhãn lên đến 20.000 – 31.250 ha (Trần Thế Tục, 2001)

Trong những năm gần đây cây nhãn được phát triển mạnh ở các tỉnh phía Nam như Đồng Tháp, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Bến Tre, Bà Rịa Vũng Tàu, Tiền Giang và Đồng Nai

2.1.3 Một số giống nhãn trồng

a Giống nhãn trong nước

- Nhãn long: Bản lá to dày, lá kép có khoảng 4 cặp lá chét, quả to, hạt lớn, để lộ vết trắng, cơm mỏng, nước nhiều, ăn ngon thơm, giống này tỷ lệ phần thịt kém Có thể dùng làm gốc ghép vì sức sống mạnh Giống này đang bị loại dần trong sản xuất do chất lượng kém (Nguyễn Văn Kế, 2008)

- Tiêu da bò: Màu vỏ vàng, cơm dày, ráo (ít nước), chùm lớn, có 5 cặp lá chét, bản

lá nhỏ, thuôn nhọn, kích thước quả từ nhỏ đến trung bình, năng suất cao Thời gian nuôi quả dài nên thường làm 2 năm 3 vụ Những năm đầu thế kỷ 21 ghi nhận nhãn tiêu

da bò bị bệnh đọt chổi khá nhiều (Nguyễn Văn Kế, 2008)

- Tiêu lá bầu: Lá tròn hơn tiêu da bò, 5 cặp lá chét Năng suất cao Thịt quả không ráo bằng tiêu da bò nên giá rẻ hơn (Nguyễn Văn Kế, 2008) Trọng lượng dày trung bình 5 – 6 mm, phần ăn được đạt 60 – 70%, vị rất ngọt, độ brix 23 – 26%, quả có thịt dày, nhiều nước, ngọt thơm, chùm đều, chủ yếu để ăn tươi (Trần Thế Tục, 2001)

- Tiêu trắng: Năng suất kém, chùm trái nhỏ và thưa, quả nhỏ, vỏ vàng nhạt Hạt nhỏ, cơm giòn, ngọt vừa (Nguyễn Văn Kế, 2008)

Trang 17

- Tiêu hồng: Quả hơi dẹp theo bề nghiêng, gần cuống quả trước khi chín ửng hồng, cơm giòn, ít nước, hạt trung bình (Nguyễn Văn Kế, 2008)

- Tiêu me: Hạt nhỏ, cơm ngọt, giòn, ít nước, trái tròn dẹp (theo bề đứng) Điểm đặc biệt là vỏ, thân, cành có vết nứt trông giống vỏ cây me Giống này có năng suất thấp (Nguyễn Văn Kế, 2008)

- Thái long tiêu: Đầu lá bầu, vỏ quả vàng nhạt, quả trung bình, hạt nhỏ, cơm giòn, thơm (Nguyễn Văn Kế, 2008)

- Nhãn xuồng: Quả to, đường kính có thể vượt 3 cm, được trồng tại Bà Rịa Vũng Tàu, gần cuống lõm sâu, cơm ráo, giòn, thơm Có 2 loại: xuồng cơm trắng và xuồng cơm vàng (Nguyễn Văn Kế, 2008)

- Nhãn bánh xe: Trồng tại Vũng Tàu, quả to, 15 – 19 g, cơm dày, hạt nhỏ, thịt quả giòn, có mùi thơm đặc trưng (Nguyễn Văn Kế, 2008)

- Nhãn super: Lá dày, cứng, đọt non đỏ, quả trung bình, màu vỏ vàng, hạt rất nhỏ, cơm ráo, dày, cây sinh trưởng khoẻ, dễ ra hoa và ra hoa nhiều đợt trong năm (Nguyễn Văn Kế, 2008)

- Nhãn lồng Hưng Yên: Ở miền Bắc nước ta có 3 nhóm nhãn: Nhãn nước, nhãn lồng, nhãn cùi Theo báo cáo của đại học Nông Nghiệp 1 thì trọng lượng quả biến động 6 – 14 g, trong đó nhãn lồng Hưng Yên là giống đã có từ lâu (Nguyễn Văn Kế, 2008)

b Giống nhãn ở nước ngoài

Trung Quốc

- Giống Chuliang: Quả lớn, nặng trung bình 12 – 16,5 g Thịt dày và ráo, phần

ăn được 69 – 74%, độ brix 20 – 23%, thơm, tỷ lệ sấy khô quả là 35 – 38%, tỷ lệ thịt sấy khô 13 – 16%, khi sấy khô có màu vàng, cây cho quả sớm, năng suất cao và ổn định (Nguyễn Văn Kế, 2008)

- Giống Fuyan: Quả lớn, vỏ mỏng, hạt nhỏ, cơm ráo và giòn, năng suất cao, nhưng ăn nhạt, độ brix chỉ độ 15 – 16% nên rất tốt để đóng hộp (Nguyễn Văn Kế, 2008)

- Giống Fengko: Năng suất cao, quả to, màu vỏ nâu vàng, thịt dày, ngọt, độ brix 20%, cuống quả dai (Nguyễn Văn Kế, 2008)

Trang 18

Thái Lan

Giống I Do (Daw): Giống cho quả sớm từ cuối tháng 6 đến đầu tháng 7, năng suất cao và ổn định, không bị hiện tượng cách niên, không nhiễm bệnh “đọt chổi”, quả

to nhưng hạt quá lớn, dùng để xuất tươi và chế biến, không neo quả lâu trên cây được

vì hạt có thể nảy mầm ngay trong quả (Nguyễn Văn Kế, 2008)

Giống Si Chompoo: Giống cho quả chín trung bình từ giữa tháng 7 tới đầu tháng 8, quả trung bình, hình oval, vỏ nâu nhạt hơi xanh, hạt nhỏ, thịt dày, màu hơi hồng, ngọt, độ brix 21 – 22%, ráo Khuyết điểm là năng suất thất thường, cây đòi hỏi chăm sóc nhiều (Nguyễn Văn Kế, 2008)

Giống Biao Khiao (Biew Khiew): Giống cho quả trễ, chín cuối tháng 8 đến tháng 9, quả tròn, màu xanh nâu, thịt dày, giòn, thơm, ngọt, độ brix 22% Bất lợi là ra quả thất thường, nhiễm bệnh chổi cùn (Nguyễn Văn Kế, 2008)

2.1.4 Nhân giống nhãn

Bó bầu (chiết cành): Rất phổ biến ở Nam Bộ, đôi khi nông dân gặp khó khăn vì cành nù, có cựa gà không chịu đâm rễ Để tránh tình trạng có thể khía vỏ 2 – 4 lằn trên chổ lột vỏ Khi rễ đâm nhiều và chuyển qua màu nâu thì cắt được Để dễ thấy rễ mọc

ra có thể dùng vật liệu bọc bầu là nylong trong Áp dụng các chất điều hoà tăng trưởng như NAA ở nồng độ 1000 ppm, bôi vào trên chổ khoanh vỏ một vòng thuốc độ 2,5 cm

sẽ làm rễ đâm mạnh và nhiều hơn Cây nhãn chiết có bộ rễ mọc khoẻ không kém gì cây trồng bằng hạt mà lại mau cho quả (Nguyễn Văn Kế, 2008)

Ghép cành: Ghép mắt trên gốc ghép từ 12 – 18 tháng tuổi Mắt lấy trên những cành gỗ 1/2 cứng, cành gỗ có đường kính từ 0,5 cm trở lên Kiểu ghép áp cành giả (inarching) hay ghép đeo bầu cho tỷ lệ thành công cao hơn nhưng bất tiện là phải đem bầu lên cao và phải dưỡng cây lâu Hiện nay phần lớn nhãn xuồng được nhân giống bằng phương pháp ghép áp giả (đeo bầu) Cũng giống như chiết cành, cây sẽ cho trái sau khi trồng độ 3 năm (Nguyễn Văn Kế, 2008)

2.1.5 Kỷ thuật trồng và chăm sóc

Chuẩn bị đất và bón lót

Đất thấp: Nhãn không chịu được sự úng ngập, do vậy khi trồng trên đất thấp cần lên liếp Chiều rộng của liếp và của mương thay đổi theo khu đất Ở ĐBSCL liếp thường rộng 6 – 8 m, mương rộng 3 – 4 m, sâu 1 – 1,2 m Đã lên liếp rồi những vẫn

Trang 19

thấy đất thấp trũng thì phải đắp mô trên liếp, lúc đầu mô rộng 0,6 – 0,8 m, cao 30 – 50

cm, mô sẽ được bồi rộng và cao dần hàng năm Giữa mô khoét một hố nhỏ, bón lót

200 – 300 g phân lân (khi đất chua phèn nên rãi vôi ở đáy hố) + 10 kg phân chuồng hoai + tro trấu (Nguyễn Văn Kế, 2008)

Đất cao: Chỉ cần đào hố kích thước độ 0,6 m x 0,6 m x 0,6 m bón lót như trên trước khi trồng 2 – 4 tuần lễ Trồng hơi âm hoặc trồng bằng mặt đất rồi đắp vồng để dễ tưới vào mùa khô, vồng được mở rộng theo tán cây Chú ý nếu đất dốc nên trồng theo đường đồng cao độ, thẳng góc với hướng dốc, để tránh xói mòn (Nguyễn Văn Kế, 2008)

Khoảng cách và mật độ trồng

Thường 6 m x 6 m (225 cây/ha) khi trồng ở khoảng cách 3 m x 3 m thì khi cây giao tán phải tỉa bớt Ở Thái Lan khoảng cách là 8 m x 8 m có nơi 12 m x 12 m (khoảng 70 cây/ha) Tại Taiwan khoảng cách thay đổi từ 4 đến 6 m như vậy mật độ là

300 – 600 cây/ha) (Nguyễn Văn Kế, 2008)

Xuống giống

Quan sát khi nhánh có nhiều cành cấp 1 (3 – 4 cành) thì đặt nhánh thẳng, khi ít cành cấp 1 thì đặt hơi xiên sau này tán cây sẽ xoè rộng Chú ý cắm cây cột nhánh chiết lại để chống gió làm lung lay Nén đất xung quanh rễ cho chặt, tưới nước, tủ gốc để giữ ẩm nếu trời không mưa (Nguyễn Văn Kế, 2008)

Bón phân thúc

Thời kỳ kiến thiết cơ bản (từ 1 – 3 năm đầu): Tùy theo độ tuổi, tính chất đất mà lượng phân bón thay đổi Lượng phân bón tính cho mỗi năm tuổi trong thời kỳ này thường là 100 g N, 50 g P2O5, 100 g K2O Như vậy năm thứ 3 sẽ bón là 300 g N, 150 g

P2O5, 300 g K2O Lượng phân bón trên phải chia ra từ 3 – 4 lần/năm Phân chuồng bón

1 lần trong năm (10 kg) Khi cây còn nhỏ có thể hoà phân vào nước tưới, khi cây lớn thì bón vào đất, luân phiên quanh tán, vùi phân để bớt bị rửa trôi và bốc hơi (Nguyễn Văn Kế, 2008)

Thời kỳ kinh doanh: Từ năm thứ 4 trở đi nhãn bắt đầu có nhiều trái, lượng phân gia giảm tuỳ theo sức lớn của cây, sản lượng mà cây cho theo nguyên tắc bù lại lượng dưỡng liệu mà cây lấy đi của đất, sự bón phân ở thời kỳ này cần hài hòa với các biện pháp khác, nhất là xử lý ra hoa, thường là:

Trang 20

+ N: 400 – 600 g/gốc/năm

+ P2O5: 150 – 300 g/gốc/năm

+ K2O: 400 – 800 g/gốc/năm

Chia lượng phân trên làm 4 lần bón chính trong năm:

+ Lần 1: Sau thu hoạch vụ phụ: Bón phân chuồng, 1/2 phân lân, 1/4 tổng lượng

N, 1/4 tổng lượng kali Kết hợp bấm đọt, sửa cành

+ Lần 2: Bón nuôi quả vụ chính: Sau khi quả hơi lớn, tức khoảng 1 tháng sau khi thụ Lần này bón 1/4 N, 1/4 K

+ Lần 3: Sau khi thu hoạch vụ chính, kết hợp với bấm đọt nhẹ để lấy quả vụ phụ 1/4 N, 1/4 K

+ Lần 4: Bón nuôi quả vụ phụ dùng số phân còn lại (Nguyễn Văn Kế, 2008)

Tưới nước

Tháng đầu sau khi trồng cần tưới nước đầy đủ để giữ ẩm cho cây, trong tuần đầu tưới 1 – 2 lần/ngày, sau đó 3 – 4 ngày tưới 1 lần, khi cây đã hồi phục tưới thưa hơn (Trần Thế Tục, 2001)

Nhãn là cây chịu hạn giỏi, tuy nhiên muốn có năng suất cao cần tưới nước khi

có thể Thời kỳ cây còn nhỏ cần tưới đều để cây mau ra cành nhánh mới, mau cho quả

Ở thời kỳ khai thác cần tưới, nhất là vào các giai đoạn cây cần nước: Ra hoa và thụ quả, nuôi quả, sau thu hoạch, cắt tỉa và bón phân cần tưới nước cho cây mau phục sức,

ra tược mới (Nguyễn Văn Kế, 2008)

Tỉa cây và tỉa hoa quả

Thời kỳ cây còn nhỏ: Cần tỉa tạo hình, làm khung tán mạnh khoẻ, hứng được nhiều ánh nắng Cần cắt bỏ cành mọc vống, cành đâm vào trong tán, cành xà, cành sâu bệnh Người ta để cây mọc cao tới 1,2 m thì bấm ngọn, giữ 3 – 4 cành chính, giữ các cành này có góc phân cành lớn, mỗi cành chính giữ lại 2 cành phụ mọc cách nhau và

xa thân, trên mỗi cành này lại giữ lại 2 cành nữa cho tới khi tán cây có được 24 – 32 cành phụ (Nguyễn Văn Kế, 2008)

Thời kỳ khai thác: Ngoài việc cắt tỉa, sửa cành cho tán cây cân đối và thoáng, người ta còn bấm đọt sau khi thu hoạch, thường sâu 10 – 20 cm tính từ ngọn vào, cành

sẽ đâm đọt, đợt đọt non đầu tiên ra khoảng 10 – 15 ngày sau bấm, lặt bớt một số đọt, khi đợt đọt non này già đi và đợt đọt non thứ hai xuất hiện khoảng 30 – 40 ngày sau

Trang 21

đó, khi đợt đọt non thứ hai già thì áp dụng biện pháp xử lý ra hoa Trong thời kỳ này cũng cần theo dõi để tỉa hoa quả, tránh hiện tượng ra quả cách niên Tỉa lúc phát hoa dài khoảng 10 cm vì lúc ấy có thể phân biệt cành yếu hay mạnh Tỉa bớt quả non khi quả lớn bằng hạt đậu, tức sau thụ phấn 4 – 6 tuần lễ Để các quả thưa ra, đừng giữ quả dính chùm vào nhau (Nguyễn Văn Kế, 2008)

ra hoa thất thường (Nguyễn Văn Kế, 2008)

+ Khoanh vỏ rộng độ 5 cm, lột lớp vỏ vừa khoanh đi để hạn chế sự tăng trưởng của cây, thúc cây ra hoa, khoanh các cành lớn, sau khi đợt lá thứ nhất già đi (vụ phụ) hay đợt lá thứ 2 già đi (vụ chính) Sự khoanh vỏ cần hạn chế, nó tùy theo mùa vụ, thời tiết, sức sinh trưởng của cây Cần chừa 1/4 số cành để nuôi bộ rễ, sau khoanh vỏ độ 1 tháng cây sẽ ra hoa (Nguyễn Văn Kế, 2008)

+ Xử lý bằng chất KClO3 có thể tưới vào đất ở mức 30 – 40 g cho mỗi m đường kính tán, như vậy nếu cây có đường kính tán 4 m thì sử dụng 120 g đến 160 g clorat kali, hòa nước cần từ 10 lít tới 20 lít nước, tưới dung dịch vào đất cách gốc khoảng 50 – 70 cm Cây sẽ cảm ứng và ra hoa khá tốt, ra hoa độ 4 – 6 tuần sau xử lý Để đạt hiệu quả cao, trước khi xử lý cần chăm sóc cây tốt: 1) Sau thu hoạch vụ trước cần cắt tỉa cây, loại bỏ các cành nằm khuất trong tán, cành sâu bệnh; 2) Bón phân cân đối cho các cơi đọt ra mau và sớm trưởng thành; 3) Khi lá non gần đạt kích thước tối đa thì không bón đạm mà tăng cường bón lân độ 0,5 kg đến 1 kg lân tùy cây lớn bé; 4) Sau khi cây

ra cơi đọt thứ hai và màu lá chuyển sang xanh lợt là thời điểm thích hợp để xử lý ra hoa (Nguyễn Văn Kế, 2008)

+ Xử lý bằng Paclobutrazol kết hợp với Thioure (Rabon): Sau khi thu hoạch cắt tỉa cây, bón phân tưới nước rồi phun Rabon với liều lượng 35 ml/8 lít Thioure có tác dụng phá vỡ miên trạng của chồi ngủ, làm cây ra đọt đồng loạt, khi lá còn màu nâu phun Paclobutrazol (40 ml/8 lít) khi đọt già phun Rabon lần 2 (40 ml/8 lít), rồi phun phân bón lá giàu lân, sau đó cây sẽ ra hoa (Nguyễn Văn Kế, 2008)

Trang 22

Phòng trừ sâu bệnh hại

+ Bọ xít nhãn (Tessaratoma longicorne): Đây là loài côn trùng chuyên phá

nhãn, kích thước to, màu nâu vàng, dài khoảng 25 – 30 mm, ngang khoảng 15 – 17

mm Đẻ trứng thành từng hàng màu nâu ở lá Cả ấu trùng và thành trùng đều chích hút nhựa ở đọt non, cuống hoa làm rụng hoa Nếu ít có thể bắt bằng vợt, nhiều thì dùng thuốc như Bimecron, Hostathion, Trebon (Nguyễn Văn Kế, 2008)

+ Sâu đục quả (Acrocercops cramerella): Thành trùng là một loài bướm hoạt

động về đêm, đẻ trứng trên vỏ quả, sâu non nở ra đục ăn vỏ quả, thường đường xâm nhập ở gần cuống quả, chúng ăn vỏ, thịt và đôi khi cả hạt Thỉnh thoảng chúng đục những đường ngầm nằm ở giữa lớp vỏ và lớp thịt Khi đủ sức sâu dài độ 1,2 – 1,5 cm, màu trắng hồng Nhộng hình thành trên lá hoặc trên vỏ quả Nhìn bên ngoài khó mà phân biệt 1 quả có sâu đục, nhưng khi đục đến hạt thì quả sẽ xùi mủ và không ăn được Ngoài việc vệ sinh vườn, có thể phòng bằng cách phun thuốc gốc cúc 2 tuần/lần, ngưng phun thuốc ít nhất 2 tuần trước khi thu hoạch (Nguyễn Văn Kế, 2008)

+ Sâu ăn bông (Autoba grisescens): Trưởng thành là một loài bướm đêm nhỏ,

màu nâu, sải cánh rộng độ 18 mm Ấu trùng là con sâu màu hồng, ban ngày ẩn núp trong các đường hầm ở cuống phát hoa, đến đêm chui ra ăn bông hoặc quả non Sâu nhả tơ, kết dính với phân có màu nâu đậm và làm nhộng ngay gốc cuống bông nên dễ nhận ra Nếu mật số nhiều có thể phun thuốc (Nguyễn Văn Kế, 2008)

+ Vạt sành (Phaneroptera furcifera): Con cái có một lưỡi dao cong ở cuối

bụng, rạch chồi non rồi đẻ trứng thành hàng dài bên trong Ấu trùng không cánh, màu xanh lục hơi vàng tụ tập trên các lá non, ăn lá chừa lại gân (Nguyễn Văn Kế, 2008)

+ Câu cấu xanh hại nhãn (Hypomeces squamosus): Sâu cắn các cành lá non khi

trên cây xuất hiện các đợt chồi Phòng trừ bằng cách phun Sherpa (0,2%), Polytrin (0,2%), Sumicidin (0,2%) khi thấy sâu xuất hiện (Trần Thế Tục, 2001)

+ Rệp hại hoa quả non: Thường xuất hiện khi phát hoa vươn dài đến quả non ổn định Rệp có kích thước nhỏ 0,3 – 0,6 mm nên rất khó phát hiện Cây bị rệp hại trong vòng 5 – 7 ngày hoa quả non rụng hàng loạt Dùng Sherpa (0,1 – 0,2%), Trebon (0,1 – 0,2%) phun 2 lần Lần 1 khi phát hiện, lần 2 phun sau lần 1 năm ngày (Trần Thế Tục, 2001)

Trang 23

+ Bệnh tổ rồng hại hoa (hay còn gọi là bệnh cùi nhãn, bệnh hoa tre, bệnh chổi xể): Bệnh xuất hiện ở chồi non, lá, hoa Bệnh làm chùm hoa sun lại không nở được, hoa dị dạng Bệnh ở lá thì lá nhỏ lại, quăn, mặt lá lồi lõm không bằng phẳng Chưa có biện pháp phòng trừ hữu hiệu (Trần Thế Tục, 2001) Hiện nay bệnh còn có tên là bệnh chổi rồng

+ Khô cháy hoa do Phyllostista sp.: Trên cánh hoa có các vết đen nhỏ bằng đầu

kim gút làm hoa vàng, khô và rụng đi Phun Benomyl 0,1% hoặc các loại thuốc gốc đồng (Nguyễn Văn Kế, 2008)

+ Thối trái do Phythopthora sp., Glicephalotrichum bulbilium, Botriodiplodia

theobromae, Collectotrichum sp.: Kiểm soát bằng Topsin M, Mancozeb Quả nhãn hay

bị thối nâu vào mùa mưa, nhũn, chảy nước chua thường do Phythopthora sp thì phải

dùng Aliette hoặc Ridomil MZ (0,1 – 0,2%) (Nguyễn Văn Kế, 2008)

+ Bệnh mốc xám: Vết bệnh 1/2 mm – 3 mm xám, ở giữa lá có đốm đen Phun Mancozeb 0,2% (Nguyễn Văn Kế, 2008)

+ Bệnh nấm đen: Làm đen vỏ, rụng trái, phun Benomyl 0,1 – 0,2%, hoặc Oxyclorua đồng 1% (Nguyễn Văn Kế, 2008)

+ Bệnh xém mép lá, khô đầu lá, đốm lá: Có thể dùng Zineb (0,4%), Viben C (0,3%), Score (0,05%), Bavistin (0,3%), phun khi xuất hiện bệnh, lần hai phun cách lần đầu 2 – 3 tuần (Trần Thế Tục, 2001)

2.2 Tình hình bệnh chổi rồng ở Nam bộ

Tại Việt Nam, bệnh chổi rồng gây tác hại lớn đến sản xuất nhãn ở Đông Nam

bộ (Mai Văn Trị, 2004) Thiệt hại nặng nhất là ở Đồng Nai, chỉ riêng 2 huyện Tân Phú

và Định Quán, năm 2004 nhãn bị nhiễm khoảng 3.450 ha chiếm hơn 70% diện tích trồng nhãn Năm 2003, tại Bà Rịa Vũng Tàu đã có 110 ha bị nhiễm đến năm 2006 tăng lên 583 ha (Nguyễn Văn Hoà và ctv, 2007)

Số liệu thống kê từ Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đến cuối tháng 12 năm 2009 tại tỉnh Vĩnh Long, 2 huyện có diện tích vườn nhãn bị nhiễm bệnh chổi rồng nhiều nhất là Long Hồ và Trà Ôn Năm 2008, thống kê có trên 189 ha vườn nhãn tiêu

da bò ở huyện Long Hồ bị nhiễm Đến cuối tháng 8 năm 2009, trong tổng số 9.897 ha nhãn trong tỉnh, đã có 680 ha bị nhiễm bệnh Đến cuối năm 2009, diện tích bị bệnh chổi rồng của tỉnh là 1.854 ha, với tỷ lệ bệnh trên mỗi cây từ 5 – 22%, có cây bị 100%

Trang 24

2.3 Những nghiên cứu về bệnh chổi rồng

2.3.1 Trên thế giới

Hội chứng chổi rồng (witches’ broom) là dịch hại quan trọng trên cây nhãn, đặc biệt là trên cây nhãn tiêu da bò Bệnh xuất hiện ở Trung Quốc từ năm 1955 và một số nước trong khu vực như Thái Lan, Hồng Kông (Chen và ctv, 2000) Trong thập niên qua, bệnh gây hại nặng ở Quảng Đông – Trung Quốc

Có nhiều quan điểm khác nhau về tác nhân gây bệnh Ở Thái Lan, Visitpanich

và ctv (1996) đã tìm thấy Phytoplasma trên những cây con bị bệnh Tuy nhiên, sau đó Sdoodee và ctv (1999), bằng phương pháp PCR, không tìm thấy sự hiện diện của Phytoplasma trên nhãn bị bệnh mà gợi ý sự hiện diện của Prokaryote

Theo nhiều tác giả thì bệnh chổi rồng trên nhãn do virus gây ra Ở Trung Quốc những virus được tìm thấy trên những cây nhãn bị nhiễm chổi rồng nhưng không có trên cây khoẻ (Chen và ctv, 2000) Virus tương tự cũng được tìm thấy ở tuyến nước

bọt của những côn trùng vector như bọ xít nhãn Tessaratoma papillosa, rệp lá

Cornogenapsylla sinica hoặc được truyền qua bởi dây tơ hồng Cuscuta camestris hoặc

lây lan qua hạt và mắt ghép (Zhang, 1999; Chen và ctv, 2000) Trong nghiên cứu của

He và ctv (2000), đã báo cáo và chứng minh rằng do nhện Eriophyes dimocarpi

Kungan., loài nhện này ẩn náo trong lá chét, chóp của nụ hoa và chùm hoa Theo thống kê có 76,89% cây nhãn già nhiễm bệnh chổi rồng, 90,13% cây nhãn tơ nhiễm bệnh (He và ctv, 2000)

Gần đây, Feng và ctv (2005) cho rằng triệu chứng chổi rồng do nhện Eriophyes

dimocarpi và sử dụng các loại thuốc trừ nhện giúp giảm quần thể nhện và cải thiện khả

năng đậu quả Còn theo He và ctv (2005), bệnh chổi rồng do nhện Eriophyes litchii

gây ra, sau khi cắt bỏ cành nhiễm và phun thuốc trừ nhện thì không thấy bệnh chổi rồng phát triển trở lại

Có 6 biện pháp tổng hợp để quản lý tốt dịch hại này: Tuyển chọn và sử dụng giống kháng, quản lý cây giống sạch bệnh, thường xuyên quản lý côn trùng truyền bệnh, cắt tỉa cành, chùm hoa bị bệnh đem tiêu hủy, quản lý tốt phân bón, nước tưới giúp cây sinh trưởng tốt (Chen và ctv, 2001)

Trang 25

2.3.2 Trong nước

Ở miền Bắc chổi rồng được ghi nhận trước đây (Đặng Vũ Thị Thanh và Hà Minh Trung, 1997) Trước đây, miền Nam chưa được ghi nhận cho mãi đến năm 2003, một đợt bộc phát bệnh chổi rồng xảy ra ở Đông Nam bộ (Mai Văn Trị, 2004) Thiệt hại nặng nhất ở vùng nhãn trung du, đất đen, đất đá bọt phía Bắc Đồng Nai và vùng

đất xám, đất đỏ ở Đồng Nai và Bà Rịa Vũng Tàu (Mai Văn Trị và ctv, 2005)

Theo Nguyễn Văn Hoà và ctv (2007), đã kết luận triệu chứng chổi rồng xảy ra trên phần non của chồi lá và chồi hoa, chồi hoa nhiễm chổi rồng có tỷ lệ đậu quả thấp hoặc không cho quả Kết quả xác định tác nhân gây nên hiện tượng chổi rồng cho thấy khi khảo nghiệm tác nhân Phytoplasma bằng sinh học phân tử sử dụng đoạn mồi universal phytoplasm primers chưa cho kết quả nhân đoạn DNA, ngay cả khi sử dụng chất kháng sinh là Oxytetracylin 10% ở nồng độ 500ppm + thuốc trừ nhện Ortus cũng không khống chế được bệnh chổi rồng

Theo khảo sát vùng Đông Nam bộ cho thấy bệnh chổi rồng có liên quan đến nhện và côn trùng chích hút và có thể chúng là nguyên nhân trực tiếp hay yếu tố liên quan đến sự phát sinh, phát triển dịch hại này (Mai Văn Trị và ctv, 2005) Theo

Nguyễn Văn Hòa và ctv (2007), nhện lông nhung Eriophyes dimocarpi có thể là vector

truyền bệnh chổi rồng trên nhãn và triệu chứng bệnh chổi rồng lộ ra sau 20 ngày lây nhiễm

Ở thí nghiệm xác định vector truyền bệnh ghi nhận bệnh chổi rồng không do bọ

xít nhãn và sâu đục gân lá mà khẳng định nhện lông nhung Eriophyes dimocarpi có

liên quan đến bệnh chổi rồng, hoặc là trung gian lan truyền bệnh hoặc là tác nhân gây nên bệnh chổi rồng trên nhãn (Nguyễn Văn Hòa và ctv, 2007) Trong khi đó nhện lông nhung, loài có kích thước rất nhỏ không thể quan sát được bằng mắt thường nên việc kiểm soát và phòng trị gặp rất nhiều khó khăn, chúng thường phát triển mạnh khi cây

ra các đọt non vào giai đoạn tháng 4, tháng 5 và giai đoạn tháng 10, 11 và 12 hàng năm (Nguyễn Văn Hoà và ctv, 2007)

2.4 Đặc điểm hình thái, sinh học của một số loài nhện lông nhung

Theo ghi nhận ở Việt Nam đã xác định được 2 loài nhện lông nhung là

Eriophyes dimocarpi gây hại trên nhãn và Eriophyes litchii gây hại trên vải

Trang 26

2.4.1 Đặc điểm hình thái, sinh học của nhện lông nhung Eriophyes dimocarpi

Nhện lông nhung Eriophyes dimocarpi có liên quan đến bệnh chổi rồng trên

nhãn mới được khẳng định gần đây, do đó chưa có đề tài nào nghiên cứu về đặc điểm hình thái, sinh học của loài này Nhưng theo quan sát cho thấy về đặc điểm hình thái

của nhện lông nhung Eriophyes dimocarpi cũng gần giống với nhện lông nhung

Eriophyes litchii

2.4.2 Đặc điểm hình thái, sinh học của nhện lông nhung Eriophyes litchii

Đây là một loài nhện có kích thước nhỏ, khó quan sát bằng mắt thường Nhện lông nhung trưởng thành có dạng hình ống, chiều dài 0,13 – 0,17 mm, chiều rộng 0,035 – 0,04 mm, thu nhỏ dần về phía cuối thân, màu trắng ngà, vòng đời nhện lông nhung khoảng 8 – 10 ngày, trong một năm có thể hoàn thành 13 – 15 thế hệ, chúng thường phát triển mạnh vào giai đoạn khi cây ra các đọt non và mật số tăng cao vào khoảng tháng 4 và tháng 5 (Vũ Khắc Nhượng, 2005)

Nhện trưởng thành đẻ trứng dưới gốc các sợi lông nhung, nhện non nở ra lại tiếp tục sống dưới lớp lông nhung cho tới khi trưởng thành, cứ như vậy đến lứa nhện thứ ba, chúng mới di chuyển tìm nơi ở mới Nhện bò từ đám lông nhung vào phần thân, sau đó chúng bò từ thân vào các nách lá, chồi non Nhện lông nhung có thể tự di chuyển từ nơi ở cũ sang nơi ở mới nhưng phạm vi hẹp và di chuyển nhờ gió (Đào Đăng Tựu và Trần Huy Thọ, 2008)

Sau khi xuất hiện lớp lông nhung 12 – 18 ngày có thể quan sát thấy nhện trưởng thành, lúc này lông nhung có màu trắng bạc – trắng, khi lông nhung có màu trắng vàng – vàng, xuất hiện trưởng thành lứa thứ hai Khi lông nhung có màu vàng nâu – nâu tươi, xuất hiện trưởng thành lứa thứ ba, thời gian từ khi xuất hiện lông nhung tới khi lông nhung có màu nâu tươi từ 46 – 55 ngày Như vậy, mỗi đợt chồi non phát triển có

3 lứa nhện lông nhung phát sinh Trong đó nhện trưởng thành lứa 1, 2 và nhện non của lứa thứ 3 sinh sống ở nơi có lông nhung cũ, còn nhện trưởng thành lứa thứ 3 di chuyển

đi nơi khác (Đào Đăng Tựu và Trần Huy Thọ, 2008)

2.5 Phổ ký chủ của nhện lông nhung Eriophyes dimocarpi

Đối với các loài cỏ hiện diện trên vườn nhãn nhiễm chổi rồng chúng tôi ghi

nhận được có 3 loài có sự hiện diện của nhện lông nhung: Cỏ Bồ ngót (Sauropus

androgynus), cỏ bóng nẻ (Securinega virosa) có mật số nhện lông nhung xuất hiện

Trang 27

thường xuyên và một loài thân bụi với mật số nhện xuất hiện lẻ tẻ Nhện xuất hiện chủ yếu trên lá non và lá lụa, triệu chứng biểu hiện trên các loại cây ký chủ có khác so với trên cây nhãn (Nguyễn Văn Hòa và ctv, 2007)

2.6 Thời điểm phòng trừ nhện lông nhung có hiệu quả

Thuốc được phun vào lúc nhện mới xâm nhập hoặc lông nhung mới nhú có hiệu quả đạt 100%, phun thuốc khi lông nhung có màu trắng – trắng vàng thì hạn chế mật

số nhện lông nhung (Đào Đăng Tựu và Trần Huy Thọ, 2008)

Mật số nhện lông nhung xuất hiện trên đọt non nhãn chủ yếu vào giai đoạn

tháng 4, 5 và giai đoạn tháng 10, 11, 12 (Nguyễn Văn Hòa và ctv, 2007)

2.7 Khả năng lan truyền chổi rồng qua hạt và qua con đường ghép

Giai đoạn cây nhãn con 12 tháng tuổi trong điều kiện lồng lưới và phun thuốc bảo vệ thực vật 7 ngày/lần với các thuốc trừ nhện và côn trùng thì chỉ có cây con từ hạt lấy trên cây nhãn tiêu da bò nhiễm chổi rồng có triệu chứng chổi rồng (Nguyễn Văn Hòa và ctv, 2007) Kết quả này cũng tương tự theo nghiên cứu của Zhang (1999); Chen và ctv (2000)

Kết quả theo dõi qua 120 ngày cho thấy các cây nhãn tiêu da bò được ghép từ nguồn mắt ghép trên cây nhãn nhiễm chổi rồng và chưa có triệu chứng chổi rồng đều không thể hiện triệu chứng chổi rồng, cũng không có sự khác biệt về sinh trưởng (Nguyễn Văn Hòa và ctv, 2007)

2.8 Hiện trạng khắc phục bệnh chổi rồng trên nhãn tiêu da bò ở miền Đông Nam

bộ

Kết quả điều tra cho thấy, ở các hộ có áp dụng biện pháp phòng trừ chổi rồng,

tỷ lệ hộ không tiêu hủy các bộ phận bị nhiễm chổi rồng sau khi cắt tỉa khá cao Mặc dù

có phun thuốc bảo vệ chồi non (62,86%) nhưng vườn nhãn tiêu da bò thuộc những hộ này có tỷ lệ cây nhiễm chổi rồng khá cao Tỷ lệ hộ tiêu hủy nguồn bệnh sau khi cắt tỉa cành kết hợp phun thuốc bảo vệ chồi non thấp (5,17%), vườn nhãn thuộc những hộ này có tỷ lệ nhiễm chổi rồng thấp Kết quả khảo sát cho thấy, mặc dù có áp dụng phun thuốc, việc tiêu hủy nguồn bệnh là quan trọng, có ảnh hưởng đáng kể đến tỷ lệ nhiễm chổi rồng (Nguyễn Văn Hòa và ctv, 2007)

Đã có một số hộ đã mạnh dạn ghép nhãn xuồng cơm vàng lên nhãn tiêu da bò nhiễm chổi rồng Đây là biện pháp đối phó với dịch hại chổi rồng có hiệu quả nhất, do

Trang 28

nhãn xuồng cơm vàng không nhiễm chổi rồng sau ghép, khả năng sinh trưởng phát triển tốt và nhanh cho quả (Nguyễn Văn Hòa và ctv, 2007)

Kết quả điều tra cho thấy đa số nhà vườn chưa hiểu biết về dịch hại chổi rồng trên cây nhãn nên việc sử dụng thuốc còn nhiều hạn chế Nhiều hộ cho rằng chổi rồng

do một loại nấm nào đó gây ra nên đã dùng thuốc bệnh để phòng trừ và họ cho biết sử dụng thuốc bệnh không có hiệu quả trong việc phòng trừ chổi rồng (> 21%) Những nhà vườn có áp dụng biện pháp phun thuốc bảo vệ các đợt ra chồi non cho biết sử dụng nhóm thuốc gốc cúc tổng hợp và thuốc trừ nhện làm giảm tỷ lệ nhiễm chổi rồng Tuy nhiên, hộ sử dụng những loại thuốc này chiếm tỷ lệ thấp (< 16%) (Nguyễn Văn Hòa và ctv, 2007)

2.9 Biện pháp phòng trừ nhện lông nhung

Biện pháp cơ học: Theo Dennill (1999), việc xén tỉa cành theo đúng phương pháp cũng giúp giảm mật số nhện trên chồi non Việc tiêu hủy các bộ phận nhiễm chổi rồng sau khi cắt tỉa là quan trọng vì có ảnh hưởng đáng kể đến tỷ lệ cây nhiễm chổi rồng (Nguyễn Văn Hòa và ctv, 2007)

Biện pháp hóa học: Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Hòa và ctv (2007), việc sử dụng thuốc Ortus 5SC, Kuraba WP, dầu khoáng SK – Enspray 99EC, Kumulus 80DF cho hiệu quả trừ nhện lông nhung cao Đánh giá hiệu lực trừ nhện lông

nhung Eriophyes litchii trên vải của các loại thuốc hóa học như Ortus 5SC, Pegasus

500SC, Comite 73EC, Sirbon 5EC Các thuốc được phun ở nồng độ 0,15%, sau phun 1 ngày thì hiệu lực của thuốc Ortus 5SC và Pegasus 500SC đạt từ 80,8 – 81,2%, còn thuốc Comite 73EC và Sirbon 5SC chỉ đạt 75,7 – 76,6% Sau phun 3 ngày thì hiệu lực thuốc Ortus 5SC và Pegasus 500SC đạt 93,6 – 94,4%, còn thuốc Comite 73EC và Sirbon 5SC chỉ đạt 84,8 – 87,4% Sau phun 5 ngày thì hiệu lực của thuốc Ortus 5SC

và Pegasus 500SC đạt 95,8 – 96,7%, còn thuốc Comite 73EC và Sirbon 5EC đạt 89,6 – 90,2% Như vậy hai loại thuốc Ortus 5SC và Pegasus 500SC cho hiệu lực trừ nhện cao hơn thuốc Comite 73SC và Sirbon 5EC ở 1, 3, 5 ngày sau phun (Dương Tiến Viện, 2008)

Theo Smith và Stafford (1948); Nicholas và ctv (1994), việc sử dụng các loại thuốc nhóm carbamate, cúc tổng hợp và thuốc có nhóm hóa học lưu huỳnh để trừ

Trang 29

nhện, trong đó loại thuốc có chứa nhóm hóa học lưu huỳnh có tác dụng tốt trong việc trừ nhện

2.10 Khả năng chống chịu của một số giống nhãn

Các giống khác nhau có mức độ mẫn cảm khác nhau đối với bệnh chổi rồng (So

và Zee, 1972; Mai Văn Trị và ctv, 2005) Ở Thái Lan, giống Heaw và Daw nhiễm chổi rồng nhẹ so với một số giống khác (So và Zee, 1972)

Khảo sát ngoài đồng cho thấy giống tiêu da bò nhiễm nặng nhất trong khi giống xuồng cơm vàng chưa thấy triệu chứng (Mai Văn Trị và ctv, 2005)

Theo Nguyễn Văn Hòa và ctv (2007), trong 11 giống nhãn được đánh giá, giống xuồng cơm vàng, long và super không có triệu chứng chổi rồng Ba giống tiêu

da bò, tiêu lá bầu và nhãn Daw nhập từ Thái Lan nhiễm chổi rồng nặng, đặc biệt là giống tiêu da bò Các giống xuồng CK, xuồng CT1, xuồng TDX, xuồng TDV và xuồng BC nhiễm chổi rồng trung bình

2.11 Nấm Paecilomyces sp sử dụng trong thí nghiệm

2.11.1 Nguồn gốc, phân loại

Nấm Paecilomyces sp được phân lập trên thân côn trùng ngủ nghĩ trong đất Nấm có hình dạng giống như nấm mốc xanh Penicillium và nấm chổi Gliocladium (Trần Văn Mão, 2002) Nấm Paecilomyces sp thuộc ngành phụ lớp nấm bất toàn Deuteromycetes, giống Paecilomyces

2.11.2 Đặc điểm hình thái, sinh học nấm Paecilomyces sp

Khuẩn lạc của nấm Paecilomyces sp có thể dạng thảm nhung hoặc bó sợi, màu

sắc của khuẩn lạc cũng thay đổi khác nhau, có thể màu trắng, hồng nhạt, tím đinh hương, nâu vàng, nâu xám, thỉnh thoảng có màu lục nhạt

Cuống bào tử của nấm phân sinh, phân nhánh, mức độ phân nhánh của nấm

Paecilomyces sp thường lớn hơn nấm mốc xanh Penicillium, gốc cuống dạng bình,

phình to, phía trên nhỏ và uốn cong Cuống bình thường sắp xếp dạng vòng hoặc không đồng đều Bào tử phân sinh đơn bào, hình bầu dục, không màu, mọc thành chuỗi, bề mặt nhẵn hoặc có gai (Trần Văn Mão, 2002)

Nấm Paecilomyces sp rất cần dưỡng chất trong quá trình phát triển, nếu thiếu

dưỡng chất sẽ làm giảm khả năng gây bệnh đối với côn trùng Nhiệt độ và ẩm độ cũng

ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển của bào tử nấm Paecilomyces Nhiệt độ thấp

Trang 30

sẽ làm tăng khả năng sinh bào tử của nấm và có lợi cho việc duy trì sự sống của nấm,

tuy nhiên ẩm độ cao sẽ có lợi cho bào tử nảy mầm và sự sinh trưởng của sợi nấm Nấm

ký sinh côn trùng nói chung rất cần có ánh sáng cho sự phát triển và nấm

Paecilomyces sp cũng không ngoại lệ Ánh sáng là nhân tố không thể thiếu trong sự

hình thành bào tử của nấm Paecilomyces sp (Trần Văn Mão, 2002)

2.11.3 Độc tố diệt côn trùng

Osborne và ctv (1990) cho rằng Paecilomyces fumosoroseus có khả năng gây

chết loài Bemisia tabaci và Bemisia argentifolii trong vòng 24 – 48 giờ nhờ tiết ra các

độc tố gây hại Dipicolinic acid, là chất dẫn xuất của pyridine, được tiết ra bởi hầu hết

các loại nấm ký sinh côn trùng như Beauveria bassiana, P farinosus, P

fumosoroseus, Verticillium lecanii (Shima, 1955) Dipicolinic acid có vai trò quan

trọng như là một nhân tố độc cho côn trùng nhất là đối với nhộng của rầy phấn trắng

2.11.4 Những nghiên cứu và ứng dụng

Liang (1981) đã phân lập được nấm Paecilomyces sp., nấm này có thể ký sinh

trên nhiều loại côn trùng thuộc bộ cánh cứng, cánh nửa cứng, cánh màng, cánh vẩy và

hai cánh Người ta đã sản xuất ra chế phẩm Pelomin từ nấm Paecilomyces sp để

phòng trừ ngài đục quả táo rất hiệu quả, người ta còn sử dụng nấm này để phòng trừ

sâu róm hại thông mang lại hiệu quả cao (Trần Văn Mão, 2002)

2.12 Đặc điểm chung của các loại thuốc hóa học sử dụng trong thí nghiệm

2.12.1 Sơ lược về thuốc gốc Fenpyroximate

Thuốc gốc Fenpyroximate sử dụng trong thí nghiệm là Ortus 5 SC

Tên hóa học: Tert – butyl (E) – α – (1,3 – dimethyl – 5 – phenoxypyrazol) – 4 – ylmethyleneamino oxy) – P – toluate

Tính chất: Tác động tiếp xúc và vị độc Ức chế lột xác của nhện non, hiệu lực

tương đối nhanh

2.12.2 Sơ lược về thuốc gốc Diafenthiuron

Thuốc gốc Diafenthiuron sử dụng trong thí nghiệm là Pegasus 500SC

Tên hóa học: 1 – tert – butyl – 3 – (2,6 – di – isopropyl – 4 - phenoxyphenyl)

thiourea

Tính chất: Tác động tiếp xúc, vị độc và xông hơi, có khả năng thấm sâu Phổ

tác dụng rộng, diệt được cả trứng sâu

Trang 31

2.12.3 Sơ lược về thuốc gốc Petroleum Sprayoil

Thuốc gốc Petroleum Sprayoil sử dụng trong thí nghiệm là SK Enspray 99EC Thành phần chính là Hydrocarbon mạch thẳng no có nhánh (Isoparafin)

Tính chất: Tác động của dầu với sâu là bịt lỗ thở ngăn cản hô hấp, thay đổi tập quán đẻ trứng, hạn chế trứng nở

Bệnh chổi rồng ngày càng phát triển mạnh và lan rộng gây thiệt hại nặng về năng suất vì vậy việc điều tra hiện trạng bệnh chổi rồng và khảo sát một số biện pháp phòng trừ nhằm nắm bắt được thực trạng bệnh chổi rồng, tìm hiểu các yếu tố liên quan đến bệnh chổi rồng, sự hiểu biết và biện pháp quản lý của nông dân để từ đó phát triển các biện pháp quản lý cho phù hợp và đưa ra biện pháp quản lý tổng hợp bệnh chổi rồng, khôi phục lại vùng sản xuất nhãn

Trang 32

Chương 3

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

3.1.1 Địa điểm

Địa điểm điều tra:

Tại ĐBSCL: Xã Tân Phong huyện Cai Lậy, xã Hoà Khánh huyện Cái Bè tỉnh Tiền Giang và xã Bình Hoà Phước, Lộc Hoà huyện Long Hồ, xã Chánh An, An Phước huyện Măng Thít tỉnh Vĩnh Long

Tại ĐNB: Xã Tóc Tiên huyện Tân Thành, xã Xuyên Mộc huyện Xuyên Mộc tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu và xã Xuân Tâm huyện Xuân Lộc, xã Xuân Hòa huyện Xuân Lộc tỉnh Đồng Nai

Thí nghiệm trong phòng được tiến hành tại phòng thí nghiệm côn trùng - Bộ môn Bảo vệ thực vật - Viện Cây ăn quả miền Nam, xã Long Định, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang Các thí nghiệm ngoài đồng được thực hiện tại xã Hiệp Đức huyện Cai Lậy tỉnh Tiền Giang

3.1.2 Thời gian nghiên cứu

Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2010

3.2 Vật liệu thí nghiệm

Vườn nhãn tiêu da bò 6 năm tuổi, đang bị nhiễm bệnh chổi rồng Cây nhãn con

trồng trong chậu nhựa 45 ngày tuổi Nhện lông nhung Eriophyes dimocarpi, chế phẩm nấm Paecilomyces sp

120 phiếu điều tra tại các nông hộ trồng nhãn in sẵn, kính lúp, chậu nhựa, bình phun, kéo cắt, nước, máy bơm, máy ảnh kỷ thuật số, giấy, viết …

Các loại thuốc bảo vệ thực vật:

+ Fenpyroximate (Ortus 5SC)

+ Petroleum Spray Oil (dầu khoáng SK Enspray 99EC)

+ Diafenthiuron (Pegasus 500SC)

Trang 33

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Điều tra hiện trạng bệnh chổi rồng trên nhãn

Tiến hành điều tra ngẫu nhiên các vườn nhãn tại 4 tỉnh: Tiền Giang, Vĩnh Long,

Bà Rịa Vũng Tàu và Đồng Nai Điều tra mỗi tỉnh 30 phiếu

Vườn nhãn được điều tra phải có diện tích từ 0,3 ha trở lên

Điều tra, thu thập các thông tin về giống, kỹ thuật canh tác (tỉa cành tạo tán, phun thuốc ), dịch hại, biện pháp phòng trừ và năng suất, thông qua phỏng vấn nhà vườn hoặc người quản lý nhà vườn

Các chỉ tiêu theo dõi

Công tác điều tra được tiến hành chủ yếu thông qua phiếu điều tra với các nội dung chủ yếu sau:

- Thông tin chung: Họ và tên chủ hộ, kinh nghiệm trồng nhãn, tỷ lệ thu nhập từ nhãn, hiểu biết của chủ vườn về bệnh chổi rồng

- Thông tin về vườn nhãn: Giống trồng, diện tích, kỹ thuật canh tác, loại cây trồng xen, loại cỏ trong vườn, tình hình nuôi ong mật

- Thông tin về tình hình bệnh chổi rồng, diễn biến dịch hại chổi rồng trên nhãn

và biện pháp quản lý của nông dân:

+ Thời gian xuất hiện bệnh chổi rồng trong năm

+ Biện pháp quản lý của nông dân

+ Tỷ lệ nhiễm bệnh chổi rồng (%) = (tổng số cây nhiễm bệnh chổi rồng/tổng số cây điều tra) x 100

+ Dự đoán thiệt hại về năng suất do bệnh chổi rồng

+ Tiến hành khảo sát, đánh giá hiện trạng bệnh chổi rồng theo phương pháp của Đặng Vũ Thị Thanh và Hà Minh Trung (1997)

Mức độ nhiễm được đánh giá theo cấp sau:

- Không xuất hiện

Cấp 1 (+): Xuất hiện ít, lẻ tẻ (< 5% diện tích lá, hoa)

Cấp 2 (+ +): Xuất hiện thường xuyên (6 – 25% diện tích lá, hoa)

Cấp 3 (+ + +): Xuất hiện nhiều (26 – 50% diện tích lá, hoa)

Cấp 4 (+ + + +): Xuất hiện rất nhiều (> 50% diện tích lá, hoa)

Trang 34

3.3.2 Đánh giá hiệu quả của nấm Paecilomyces sp và Ortus 5SC đến tỷ lệ chết của

nhện lông nhung trong phòng thí nghiệm

Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên, 4 nghiệm thức, 7 lần

lặp lại, mỗi lần lặp lại được bố trí trên một chậu nhựa

Mỗi đọt nhãn được cắt ra từ cây nhãn con 45 ngày tuổi và được giữ tươi trong

môi trường thạch cao Sau đó tiến hành thả nhện lông nhung vào với số lượng 30

con/đọt Nhện được sử dụng trong thí nghiệm là nhện tuổi 1, 2

Bảng 3.1: Các nghiệm thức của thí nghiệm đánh giá hiệu quả của nấm Paecilomyces

sp và Ortus 5SC đến tỷ lệ chết của nhện lông nhung

1 Nấm Paecilomyces sp 5 Phun ướt đều 2 mặt lá

Chỉ tiêu theo dõi: Số lượng nhện chết/tổng số nhện trên mỗi chậu nhựa ở các

thời điểm 1, 3, 5 và 7 ngày sau khi xử lý

Sử dụng kính lúp để đếm và ghi nhận số nhện chết và tính hiệu lực thuốc theo

công thức Abbott

3.3.3 Khảo sát hiệu quả của việc tỉa cành kết hợp xử lý thuốc trừ nhện

Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối đầy đủ hoàn toàn ngẫu nhiên, gồm 3

nghiệm thức với 7 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại bố trí trên 1 cây

Bảng 3.2: Các nghiệm thức của thí nghiệm khảo sát hiệu quả của việc tỉa cành kết hợp

xử lý thuốc trừ nhện

STT Nghiệm thức Cách xử lý thuốc Pegasus 500SC

1 Cắt tỉa cành 50 cm Phun ướt đều trên tán, phun định kỳ 7

ngày 1 lần từ khi tỉa đến 35 ngày sau tỉa

2 Cắt tỉa cành 30 cm

3 Đối chứng (không cắt tỉa)

Ghi chú: Các nghiệm thức đều được phun thuốc Pegasus 500SC với nồng độ 1,25‰

Trang 35

Cắt tỉa và tiêu hủy bộ phận bị nhiễm: Cắt tỉa cành nhánh, phát hoa, chồi ngọn

và cây con bị nhiễm bệnh

Vườn nhãn tiêu da bò 6 năm, đang bị nhiễm bệnh chổi rồng tại xã Hiệp Đức,

huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang

Chỉ tiêu theo dõi:

+ Theo dõitình hình sinh trưởng, phát triển của cây

+ Mỗi cây theo dõi 4 hướng, mỗi hướng là một cành cấp 3 Đếm số chồi nhiễm

trên tổng số chồi ở các ngày lấy chỉ tiêu

Thời điểm theo dõi: 21, 28, 35 và 42 ngày sau xử lý

3.3.4 Đánh giá hiệu quả trừ nhện của các lần phun nước khác nhau kết hợp xử lý

thuốc bảo vệ thực vật

Việc phun nước trên tán cây có ảnh hưởng nhất định đến mật số nhện Do đó

cần khảo sát hiệu lực diệt nhện ở các lần phun nước khác nhau kết hợp xử lý thuốc bảo

vệ thực vật nhằm xác định việc phun nước và số lần phun có hiệu quả đối với việc

quản lý nhện lông nhung

Trang 36

Vườn nhãn tiêu da bò 6 năm, đang bị nhiễm bệnh chổi rồng tại xã Hiệp Đức, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang

Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối đầy đủ hoàn toàn ngẫu nhiên, gồm 5 nghiệm thức với 4 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại bố trí trên một cây

Bảng 3.3: Các nghiệm thức của thí nghiệm đánh giá hiệu quả trừ nhện của các lần

phun nước khác nhau kết hợp xử lý thuốc bảo vệ thực vật

Phun ướt đều tán cây 1 giờ sau khi phun nước tiến hành phun thuốc Phun thuốc định kỳ 7 ngày 1 lần

Phun ướt đều tán cây 1 giờ sau khi phun nước tiến hành phun thuốc Phun thuốc định kỳ 7 ngày 1 lần

Phun ướt đều tán cây 1 giờ sau khi phun nước tiến hành phun thuốc Phun thuốc định kỳ 7 ngày 1 lần

4 Phun Ortus 5SC + dầu

khoáng SK Enspray

99EC

Ortus 5 SC: 2,5 Dầu khoáng SK Enspray 99EC: 6,25

Phun ướt đều tán cây Phun định kỳ 7 ngày 1 lần

5 Đối chứng Chỉ phun nước Phun ướt đều tán cây

Phun định kỳ 7 ngày 1 lần

Trang 37

Thời điểm theo dõi:

+ Trước khi phun

+ 7 ngày sau khi phun lần 1

+ 7 ngày sau khi phun lần 2

+ 7 ngày sau khi phun lần 3

Chỉ tiêu theo dõi: Mỗi cây chọn 4 hướng, mỗi hướng là một cành, một cành

theo dõi trên 5 lá chét Dùng kính lúp để đếm và ghi nhận lại mật số nhện lông nhung

3.4 Phương pháp xử lý số liệu

Các số liệu được chuyển đổi sang arcsin (x)1/2, (x + 0,5)1/2, log (x + 1) trước khi

xử lý ANOVA và trắc nghiệm phân hạng bằng phần mềm MSTATC

Các số liệu được tính toán bằng phần mềm Mirosoft Excell

Trang 38

Chương 4

KẾT QUẢ THẢO LUẬN

4.1 Hiện trạng bệnh chổi rồng trên nhãn tại các vùng điều tra và các yếu tố liên

quan đến bệnh chổi rồng

4.1.1 Diện tích vườn nhãn

Bảng 4.1: Phân bố diện tích bị nhiễm bệnh chổi rồng theo số hộ điều tra

Phân loại vườn nhãn

Đồng bằng sông Cửu Long Đông Nam bộ

Số

hộ

Diện tích (ha)

Tỷ lệ (%)

Số

hộ

Diện tích (ha)

Tỷ lệ (%)

Vườn không nhiễm bệnh 2 1,2 3,3 8 12,5 13,3

Từ bảng 4.1 cho thấy: Trong 60 hộ điều tra tại ĐBSCL với tổng diện tích là

32,29 ha thì có 58 hộ có vườn bị nhiễm bệnh chổi rồng chiếm 96,7% với tổng diện tích

bị nhiễm bệnh là 31,09 ha, có 2 vườn không bị nhiễm bệnh chổi rồng với tổng diện

tích là 1,2 ha Kết quả điều tra ở ĐNB có 52 vườn bị nhiễm bệnh chổi rồng với tổng

diện tích bị nhiễm bệnh là 55,7 ha chiếm 86,7%, số vườn không bị nhiễm bệnh là 8 với

tổng diện tích không bị nhiễm bệnh là 12,5 ha Điều này cho thấy bệnh chổi rồng ngày

càng lan rộng và gây hại nghiêm trọng đến sản xuất nhãn ở Nam bộ Kết quả điều tra

cũng cho thấy diện tích trồng nhãn ngày càng bị thu hẹp, diện tích trung bình của 60

hộ tại ĐBSCL và ĐNB lần lượt là 0,5382 ha, 1,1367 ha Theo ý kiến của các nhà vườn

sự sụt giảm về quy mô sản xuất ở các vườn trồng nhãn là do giá cả sụt giảm và tình

hình dịch hại phát triển mạnh, đặc biệt là bệnh chổi rồng làm thiệt hại đến hiệu quả

kinh tế một cách đáng kể

Trang 39

4.1.2 Thời gian xuất hiện bệnh chổi rồng trong năm

Bảng 4.2: Thời gian xuất hiện bệnh chổi rồng trong năm theo ghi nhận của hộ nông

dân

Thời gian xuất hiện bệnh

chổi rồng trong năm

Mức độ phổ biến ở Đồng bằng sông Cửu Long

Mức độ phổ biến ở Đông Nam bộ

Nhìn chung, bệnh chổi rồng ở ĐBSCL xuất hiện nhiều và phổ biến quanh năm

Ở ĐNB, thời gian xuất hiện bệnh chổi rồng nhiều từ tháng 1 – 3, 5 – 7, 11 – 12 Đó là

do những tháng này mưa ít và là thời điểm ra đọt non, ra hoa mạnh nhất của cây nhãn,

đó là thời điểm thích hợp cho nhện lông nhung phát triển, ngoài ra bệnh chổi rồng chỉ gây hại trên đọt non và hoa nên bệnh chổi rồng có xu hướng phát triển mạnh trong giai đoạn này Riêng ở ĐBSCL, các vườn nhãn xử lý ra hoa không đồng loạt giữa các hộ

và giữa các cây trong cùng một vườn nên thời điểm ra đọt non cùng không đồng đều

và trải đều giữa các tháng trong năm tạo điều kiện cho nhện lông nhung phát triển tốt đồng thời nguồn bệnh trên cây vẫn được tồn giữ Do đó bệnh chổi rồng xuất hiện phổ biến quanh năm

4.1.3 Mức độ nhiễm bệnh chổi rồng trong vườn nhãn

Kết quả điều tra 60 vườn nhãn của 60 hộ ở ĐBSCL cho thấy mức độ nhiễm bệnh chổi rồng nhiều nhất là cấp 2 với 24 vườn nhãn chiếm 40,0%, kế đến là những vườn nhãn có mức độ nhiễm bệnh ở mức cấp 3 với 16 vườn nhãn chiếm 26,7%, những vườn có mức độ nhiễm bệnh chổi rồng cấp 1 chiếm 21,7% với 13 vườn, thấp nhất là những vườn có mức độ nhiễm bệnh cấp 4 với 5 vườn chiếm 8,3% Kết quả điều tra tại

Trang 40

ĐNB thấy rằng hầu hết vườn nhãn có bệnh chổi rồng ở mức độ nhiễm bệnh cấp 1 với

51 vườn chiếm 85%, chỉ có 1 vườn ở mức độ nhiễm cấp 2 chiếm 3,3% và không có

vườn nhãn nào ở mức cấp 3 và cấp 4 Kết quả này cho thấy rằng bệnh chổi rồng đang

gây thiệt hại nặng đến năng suất nhãn, đặc biệt là hai tỉnh Tiền Giang và Vĩnh Long

Bảng 4.3: Mức độ nhiễm bệnh chổi rồng theo số hộ điều tra

Mức độ nhiễm Đồng bằng sông Cửu Long Đông Nam bộ

4.1.4 Dự đoán thiệt hại về năng suất do bệnh chổi rồng tại các điểm điều tra

Bảng 4.4: Thiệt hại năng suất do bệnh chổi rồng

Thiệt hại về năng suất

Theo kết quả điều tra về thiệt hại năng suất tại 4 điểm ở ĐBSCL cho thấy huyện

Cai Lậy bị thiệt hại nặng nhất về năng suất với mức thiệt hại là 67,3%, kế đó là huyện

Cái Bè với mức thiệt hại là 59,3%, thấp hơn là hai huyện Long Hồ và Măng Thít với

mức thiệt hại là 46,0% và 45,7% Kết quả điều tra tại 3 điểm ở ĐNB cho thấy huyện

Ngày đăng: 16/03/2019, 11:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm