XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ TÀI NGUYÊN DU LỊCH CỦA KHU DU LỊCH THÁC ĐAMB’RI TỈNH LÂM ĐỒNG BẰNG PHƯƠNG PHÁP CHI PHÍ DU HÀNH TCM Tác giả CAO VĂN TRAI Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHÍ MINH
**************
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ TÀI NGUYÊN DU LỊCH CỦA KHU DU
LỊCH THÁC ĐAMB’RI TỈNH LÂM ĐỒNG BẰNG
PHƯƠNG PHÁP CHI PHÍ DU HÀNH (TCM)
Sinh viện thực hiện : CAO VĂN TRAI
Ngành : QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG & DU LỊCH SINH THÁI Niên khóa : 2006 - 2010
Tháng 7/2010
Trang 2XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ TÀI NGUYÊN DU LỊCH CỦA KHU DU LỊCH THÁC ĐAMB’RI TỈNH LÂM ĐỒNG BẰNG
PHƯƠNG PHÁP CHI PHÍ DU HÀNH (TCM)
Tác giả
CAO VĂN TRAI
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Kỹ sư ngành
Quản lý môi trường và Du lịch sinh thái
Giáo viên hướng dẫn:
ThS Vũ Thị Hồng Thủy
Tháng 07 năm 2010
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Trước hết, cho con gửi lời cám ơn Bố, Mẹ những người sinh ra và nuôi nấng con nên người Bố mẹ chính là động lực, là bàn đạp giúp con vượt qua mọi thử thách trong cuộc sống
Xin được gửi tới Cô Vũ Thị Hồng Thủy, người Cô đáng kính, người Mẹ thứ hai của em lời biết ơn sâu sắc từ tận đáy lòng Cô là người đã hết lòng chỉ dạy, hướng dẫn cho em trong thời gian học tập tại trường và làm khóa luận cũng như truyền cho em những kinh nghiệm thật hữu ích trên con đường đời sau này
Xin được cám ơn các giảng viên Khoa Môi trường và Tài Nguyên cũng như các Thầy, Cô thính giảng đã truyền cho em những kiến thức bổ ích khi còn ngồi trên ghế nhà trường
Nhân đây cũng cho tác giả cám ơn tới Ban giám đốc và toàn thể nhân viên Công
ty Cổ phần du lịch Đamb’ri đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và cung cấp các tài liệu cần thiết cho tác giả thực hiện khóa luận
Cuối cùng, cho tác giả gửi loài cám ơn tới các bạn lớp ĐH06DL nhất là các bạn cùng làm chung thể loại đề tài, các bạn đã giúp đỡ tác giả rất nhiều về những thắc mắc gặp phải khi thực hiện đề tài
Trân trọng,
Cao Văn Trai
Trang 4TÓM TẮT
Đề tài nghiên cứu “Định giá giá trị du lịch của Khu du lịch thác Đamb’ri – Lâm Đồng bằng phương pháp chi phí du hành (TCM)” được tiến hành tại Xã Đamb’ri – Thành phố Bảo Lộc – Lâm Đồng, thời gian từ tháng 3/2012 đến tháng 6/2010
Các KDL là một loại tài sản không thể xác định giá trị dựa vào giá thị trường và do
đó, chúng ta không thể thấy được giá trị thực của chúng Việc định xác định được giá trị cụ thể của KDL thác Đamb’ri sẽ là một tiền đề quan trọng cho việc đưa ra các quyết định quy hoạch, phát triển và BVMT theo xu hướng và nhu cầu của du khách
Nghiên cứu tập trung vào việc xác định mức sẵn lòng trả (WTP) của du khách khi tới với KDL bằng cách sử dụng phương pháp rất phổ biến là Chi phí du hành (TCM) Nghiên cứu đã thu được 217 bảng câu hỏi có thể dùng để phân tích từ du khách và giá trị của KDL đã được xác định bằng dự toán chi phí du hành của họ Kế quả phân tích hồi quy ta được phương trình tuyến tính bậc nhất đa biến:
V = 2,956 – 0,00142*TC + 0,00986*AGE + 0,085*EDU + 0,0121*INC – 0,271*Ln(DIS) + 0,259*EQ
Cố định biến TC và lấy giá trị trung bình của các biến còn lại ta xác định được
phương trình đường cầu: TC = – 0,704V + 2,12
Phần diện tích bên dưới đường cầu chính là giá trị của KDL Kết quả tính toán cho
ra giá trị của KDL Thác Đamb’ri là 861.619.000.000 đồng
Trang 5MỤC LỤC
TRANG TỰA……… i
LỜI CẢM TẠ ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ VÀ BIỂU ĐỒ viii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ix
Chương 1 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA ĐỀ TÀI 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
1.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 3
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
1.4.1 Phương pháp điều tra và thu thập số liệu 3
1.4.2 Phương pháp 4
1.5 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI 4
1.6 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4
1.7 HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI 4
Chương 2 6
CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI 6
2.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 6
2.1.1 Một số khái niệm liên quan 6
2.1.1.1 Cung du lịch 6
2.1.1.2 Cầu du lịch 6
2.1.1.3 Giá trị của một tài nguyên môi trường 7
2.1.2 Cơ sở lựa chọn phương pháp nghiên cứu 8
2.1.3 Mối quan hệ giữa chi phí du hành và số lần đi du lịch 9
2.1.3.1 Chi phí du hành 9
2.1.3.2 Chi phí vận chuyển 9
2.1.3.3 Số lần đi du lịch 10
2.1.3.4 Mối quan hệ 10
2.1.3.5 Ước lượng các tham số của mô hình 11
2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 13
Chương 3 16
TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 16
3.1 TỔNG QUAN VỀ TỈNH LÂM ĐỒNG 16
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 16
Trang 63.1.1.1 Vị trí địa lý 16
3.1.1.2 Hành chính 16
3.1.1.3 Địa hình 16
3.1.1.4 Khí hậu 17
3.1.1.5 Thủy văn 17
3.1.1.6 Sinh vật 18
3.1.2 Về kinh tế 19
3.1.2.1 Ngành nông nghiệp 19
3.1.2.2 Ngành lâm nghiệp 21
3.2.3 Ngành công nghiệp 21
3.2.4 Ngành dịch vụ 22
3.2.4.1 Lĩnh vực thương mại 22
3.2.4.2 Xuất nhập khẩu 22
3.2.4 Lĩnh vực du lịch 23
3.1.3 Về vấn đề xã hội 24
3.1.3.1 Dân số 24
3.1.3.2 Lao động 25
3.1.3.3 Giao thông 26
3.1.3.4 Giáo dục 27
3.1.3.5 Y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân 28
3.2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH DU LỊCH TỈNH LÂM ĐỒNG 29
3.2.1 Hiện trạng phát triển du lịch 29
3.2.2 Tiềm năng phát triển du lịch Lâm Đồng 32
3.3 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN DU LICH ĐAMB’RI 33
3.3.1 Lịch sử hình thành và phát triể của Công ty Cổ phần du lịch Đamb’ri 33
3.3.2 Các hoạt động giả trí tại Khu du lịch thác Đamb’ri 34
Chương 4 36
ĐỊNH GIÁ GIÁ TRỊ TÀI NGUYÊN CỦA KHU DU LỊCH THÁC ĐAMB’RI 36
4.1 LÝ THUYẾT MÔ HÌNH 36
4.1.1 Phương pháp chi phí du hành (TCM) 36
4.1.1.1 Chi phí cơ hội (chi phí thời gian) 40
4.1.1.2 Một cuộc hành trình – nhiều điểm tham quan 40
4.1.2 Lựa chọn phương pháp đánh giá 41
4.1.2.1 Phương pháp chi phí du hành theo vùng (ZTCM) 41
4.1.2.2 Phương pháp chi phí du hành cá nhân (ITCM) 42
4.2 LỰA CHỌN MÔ HÌNH VÀ CÁC BIẾN TÁC ĐỘNG ĐẾN SỐ LẦN ĐI DU LỊCH 42
4.2.1 Lựa chọn mô hình 42
4.2.2 Phân tích mối tương quan giữa các yếu tố ảnh hưởng lên số lần tới thác của mỗi cá nhân 43
4.3 CHUẨN HÓA SỐ LIỆU – XÂY DỰNG MÔ HÌNH THỰC NGHIỆM 44
4.3.1 Chuẩn hóa số liệu 44
4.3.2 Phân tích hồi qui giữa các biến 45
4.3.2.1 Lựa chọn mô hình 45
Trang 74.3.2.2 Mô hình thực nghiệm 46
4.4 XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ TÀI NGUYÊN DU LỊCH CỦA KDL THÁC ĐAMB’RI 52
Chương 5 55
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 55
5.1 KẾT LUẬN 55
5.2 KIẾN NGHỊ 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
PHỤ LỤC 60
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.4 Một số chỉ tiêu về xuất, nhập khẩu của Lâm Đồng 22
Bảng 3.5 Một số chỉ tiêu về hiện trạng phát triển du lịch tỉnh Lâm Đồng 23
Bảng 3.6 Dự báo dân số tỉnh Lâm Đồng (nghìn người) 26
Bảng 2.8 Bảng tổng hợp kết quả ngành du lịch Lâm Đồng từ năm 2004 - 2009 30
Bảng 3.7 Lượng khách và doanh thu của KDL Thác Đamb’ri 35
Bảng 4.1 Tóm tắt các đặc tính biến 45
Bảng 4.2 Tóm tắt số liệu phân tích tương quan hồi quy giữa các biến 46
Bảng 4.3 Kiểm định t cho các hệ số βi ước lượng trong mô hình 48
Bảng 4.4 Kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến bằng R2Aux 49
Bảng 4.5 Phân tích hiện tượng tự tương quan giữa các biến độc lập 49
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ VÀ BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Tổng giá trị kinh tế của tài nguyên và dịch vụ môi trường 8
Đồ thị 2.2 Mối quan hệ giữa số lần đi du lịch và chi phí du hành 11
Đồ thị 4.1 Hàm cầu du lịch theo hàm tuyến tính bậc nhất 52
Đồ thị 4.2 Hàm cầu du lịch đối với KDL thác Đamb’ri 53
Trang 10DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
NN & PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
QLCTR Quản lý chất thải rắn
Trang 11về thu nhập Năm 1950, lượng khách quốc tế mới chỉ đạt 25,3 triệu lượt và thu nhập
từ du lịch chỉ đạt 2,1 tỉ USD Đến năm 2005, con số tương ứng là 808 triệu lượt khách và 623 tỉ USD Hôi đồng du lịch và lữ hành thế giới ước tính trong năm 2005
lữ hành và du lịch thế giới đóng góp khoảng 6201,5 tỉ USD vào tổng sản phẩm quốc
tế, chiếm 10,6% tổng sản phẩm GDP và tạo khoảng 223 triệu việc làm, chiếm tới 8,3 tổng lao động trên toàn thế giới
Ngành Du lịch Việt Nam thực sự có cơ hội phát triển trong những năm cuối thập niên 90 của thế kỉ 20 Cùng với sự đổi mới của đất nước ngành du lịch đã có những thành công bước đầu để chứng tỏ nó là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng Trong nững năm gần đây, du lịch đã được sự quan tâm to lớn của Đảng, Nhà nước
và Tổng cục du lịch quốc gia, tạo mọi điều kiện ban đầu cho phát triển ngành du lịch với mục tiêu trở thành ngành kinh tế mũi nhọn Năm 2005, thu hút 3,5 triệu lượt khách du lịch quốc tế đóng góp khoảng 4% GDP cả nước
So với một số quốc gia trong khu vực và trên thế giới, Việt Nam có lợi thế hơn rất nhiều để phát triển du lịch Là một nước nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, đất nước ta được thiên nhiên hết sức ưu đãi về cảnh quan thiên nhiên như: Các khu rừng nhiệt đới nguyên sinh, Vịnh Hạ Long, Vịnh Nha Trang, Phong Nha – Kẻ Bàng, các bãi biển dài và đẹp…Không những vậy, là một nước có bề dày lịch sử hơn 4000 năm, có nhiều dân tộc cùng chung sống nên Việt Nam còn là điểm đến đặc sức về văn hóa các dân tộc, các di tích lịch sử, các món ăn đặc sản
Trang 12Với ưu thế về khí hậu, cảnh quan thiên nhiên và tài nguyên rừng, từ lâu du lịch là nguồn tài nguyên và thế mạnh của Lâm Đồng Rừng của Lâm Đồng là khu vực lưu giữ nguồn gen động, thực vật quý hiếm, có chức năng bảo vệ nguồn sinh thủy khu vực đầu nguồn của 7 hệ thống sông, suối lớn Tính đa dạng sinh học của hệ sinh thái này đóng vai trò quan trọng trong cảnh quan du lịch, đặc biệt là rừng thông Đà Lạt Cùng với sông, suối, hồ, đập, thác nước, rừng Lâm Đồng đã tạo nên một quần thể
có sức thu hút khách du lịch trong và ngoài nước như rừng cảnh quan bao quanh Đà Lạt, khu du lịch hồ Tuyền Lâm, khu du lịch hồ Suối Vàng – Đankia, khu du lịch Thung lũng tình yêu, khu du lịch thác Datanla, thác Prenn, thác Pongour, thác ĐamB’ri, núi Lang Biang…
Đà Lạt còn được mệnh danh là "Thành phố của mùa Xuân" Ở đây rất mát mẻ, nhiệt
độ trung bình cao nhất trong ngày 24ºC và nhiệt độ trung bình thấp nhất trong ngày 15ºC Lượng mưa trung bình năm 1.755mm Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 11 Có nắng trong tất cả các mùa Nhờ khí hậu
đó, cả thành phố Đà Lạt như một vườn hoa trăm hương, ngàn sắc suốt quanh năm Với nhiều cảnh đẹp và khu du lịch như vậy, năm 2009 tỉnh Lâm Đồng thu hút trên 2,4 triệu lượt khách du lịch Các KDL quan tâm đến doanh thu qua hoạt động kinh doanh của mình mà họ chưa thực sự thấy được giá trị thực sự của đơn vị mình quản
lý cũng như nhu cầu thực sự của tùng du khách khi họ đến với KDL là gì Chính vì
vậy, tác giả thực hiện đề tài “Xác định giá trị tài nguyên du lịch của KDL thác Đamb’ri tỉnh Lâm Đồng bằng phương pháp chi phí du hành (TCM)” nghiên
cứu này sẽ đưa ra một giá trị cụ thể hơn cho KDL và hi vọng sẽ hỗ trợ phần nào cho các chiến lược kinh doanh cũng như kế hoạch phát triển KDL theo hướng bền vững
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu chung của nghiên cứu này là xác định giá trị du lịch của thác Đamb’ri để
đề ra những chính sách quản lý tài nguyên thiên nhiên và môi trường một cách hiệu quả ở những khu vực này
• Tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển của KDL thác Đamb’ri
Trang 13• Xem xét tiềm năng phát triển Du lịch sinh thái tại KDL thác Đamb’ri
• Tìm hiểu về nhu cầu giải trí cũng như đăc điểm của du khách
• Ước lượng giá trị giải trí của Thác ĐamB’ri bằng phương pháp Chi phí du hành (TCM)
• Đề xuất các công cụ kinh tế: Từ kết quả định giá để đề xuất những giải pháp nhằm khuyến khích mức sẵn lòng trả của du khách, từ đó điều chỉnh giá cả phù hợp để thu hút một cách tối đa số lượng du khách
1.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Khảo sát hiện trạng phát triển du lịch và công tác BVMT trong nghành Du lịch tại TP Bảo lộc
- Khảo sát, điều tra khách du lịch đến với KDL thác Đamb’ri
- Xác định giá trị tài nguyên KDL thác Đamb’ri bằng phương páp TCM
- Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển KDL theo hướng sinh thái và BVMT đối với các đối tượng khi tới thác Đamb’ri
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.4.1 Phương pháp điều tra và thu thập số liệu
¾ Tham khảo tài liệu
Các số liệu thứ cấp được thu thập qua sách, mạng internet, các báo cáo trong và ngoài nước, các tài liệu và số liệu thống kê của Sở Tài Nguyên & Môi Trường, Sở Thể Thao – Văn Hóa – Du Lịch Lâm Đồng và Phòng Tài Nguyên & Môi Trường Thành Phố Bảo Lộc
¾ Điều tra thực địa
Cuộc khảo sát thực địa được tiến hành tại KDL Thác Đamb’ri – Thôn 14 – Xã Đamb’ri – TP Bảo Lộc bằng Phương pháp chi phí du hành (TCM), việc tiến hành thu thập số liệu được tiến hành vào hai đợt: Đợt 1 từ ngày 28/3 – 5/4/2010, đợt 2 từ 29/3 – 5/5/2010 dựa trên bảng câu hỏi gồm 21 câu bằng hình thức phỏng vấn trực tiếp Thông tin được phỏng vấn gồm các vấn đề chính:
9 Thông tin chung về người được phỏng vấn: Giới tính, hôn nhân, tuổi, thu nhập…
Trang 149 Ý kiến của du khách về KDL Thác Đamb’ri: Yếu tố thu hút, chi phí tại thác, vấn đề cần cải thiện tại KDL…
9 Ý kiến của du khách về vấn đề môi trường tại thác
1.4.2 Phương pháp thống kê, phân tích và xử lý số liệu
9 Dùng phương pháp thống kê mô tả để xác định và diễn tả các biến ảnh hưởng, chuẩn hóa số liệu
9 Dùng phương pháp phân tích tương quan hồi qui bậc nhất đa biến đối với các yếu tố ảnh hưởng đến số lần tới tham quan thác của khách du lịch
9 Sử dụng phần mềm Excel để xử lý số liệu thu thập được
1.5 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài hoàn thành sẽ đóng góp được một số những ý nghĩa sau:
9 KDL thác Đamb’ri – một loại tài sản không được mua bán, trao đổi trên thị trường nên chưa thể xác định được giá trị, đề tài hoàn thành đã ước lượng được giá trị của KDL bằng một con số cụ thể giúp người dân dễ dàng hơn trong việc nhận ra giá trị của KDL và từ đó họ sẽ có cái nhìn và quyết định chính xác hơn trong việc BVMT mỗi khi họ tới Đamb’ri du lịch
9 Những người dân địa phương sẽ nhận ra được tầm quan trọng và những lợi ích của mình trong quá trình phát triển KDL theo hướng DLST
9 Các nhà đầu tư khi thấy được giá trị của KDL sẽ có những dự án đầu tư qui mô hơn nhằm phát triển KDL nhằm tận dụng những lợi thế có sẵn để thu lợi nhuận
và từ đó có nguồn tài chính để cải thiện và bảo tồn HST nơi đây
1.6 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
9 Địa điểm nghiên cứu là khuôn viên KDL Thác Đamb’ri
9 Thời gian nghiên cứu từ 3/2010 đến thánh 6/2010
9 Đối tượng nghiên cứu là khách du lịch đến KDL Thác Đamb’ri
1.7 HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài có rất nhiều những hạn chế do:
Trang 159 Thời gian thực hiện ngắn, chỉ trong vòng 4 tháng
9 Kiến thức tích lũy còn có nhiều hạn chế
9 Số lượng mẫu điều tra còn ít 217 mẫu (bị loại 23 mẫu do không đạt yêu cầu) nên độ chính xác và tính bao quát chưa cao
9 Đề tài chỉ sử dụng phương pháp chi phí du hành (TCM) nên chưa phản ánh được hết giá trị của KDL thác Đamb’ri
Chính vì những hạn chế đó nên trong tương lai cần có những nghiên cứu với qui mô rộng hơn, kết hợp nhiều phương pháp hơn thì mới có thể phản ánh một cách chính xác giá trị của KDL
Trang 169 Khái niệm cung du lịch
Cung du lịch là khả năng cung cấp dịch vụ du lịch và hàng hóa du lịch (cả hàng hóa vật chất và dịch vụ du lịch) mà người bán có khả năng và sẵn sàng bán ở những mức giá khác nhau trong một thời gian và không gian xác định
9 Khái niệm loại hình cung du lịch
Loại hình cung du lịch là tập hợp các sản phẩm du lịch của một vùng và của một quốc gia có liên quan mật thiết với nhau hoặc vì chúng thỏa mãn cùng một động cơ
du lịch, cùng diễn ra ở một loại điểm đến, được bán cho cùng một giới khách hàng, được hình thành trên cơ sở cùng sử dụng chung một loại hình dịch vụ riêng lẻ hoặc đưa đến khách du lịch theo một nghĩa như nhau
2.1.1.2 Cầu du lịch
Cầu du lịch là một bộ phận nhu cầu xã hội có khả năng thanh toán về vật chất, dịch
vụ du lịch, đảm bảo sự đi lại, lưu trú tạm thời của những người ngoài nơi ở thường xuyên của họ nhằm mục đích nghỉ ngơi, giải trí, tìm hiểu văn hóa, chữa bệnh, tham gia các chương trình đặc biệt hoặc các mục đích khác
9 Một số nhu cầu du lịch
Trang 17• Nhu cầu về ăn uống và lưu trú: Đây là nhu cầu thiết yếu của khách du lịch Tuy nhiên, việc ăn uống và lưu trú không chỉ đơn giản là đáp ứng nhu cầu sinh hoạt mà nó còn là sự khám phá, thưởng thức những điều mới lạ Có những du khách khi tới với biển ngoài việc du lịch thì thưởng thức những món hải sản là một trong những mục đích chính của họ
• Cầu về dịch vụ đặc trưng: Đây là mục đích chính của chuyến đi Đó là những thứ rất riêng của mỗi điểm du lịch mà du khách muốn cảm thụ và khám phá
• Cầu về dịch vụ đi kèm: Bao gồm các dịch vụ phát sinh bởi nhu cầu của khách du lịch trong quá trình thực hiện chuyến du lịch (thông tin, giặt ủi,…) và thường chỉ đáp ứng nhu cầu trong một thời gian ngắn
• Cầu về hàng hóa lưu niệm: Đó là những vật phẩm đặc trưng tại các địa điểm
du lịch mà khách tới tham quan Dịch vụ phát sinh khi khách du lịch muốn có một vật phẩm làm kỉ niệm sau mỗi chuyến du lịch
• Cầu về hàng hóa có giá trị kinh tế cao: Kết hợp với chuyến du lịch một số du khách mua một số hàng hóa có giá trị cao được bán tại các điểm du lịch có giá trị rẻ hơn nơi họ sinh sống
2.1.1.3 Giá trị của một tài nguyên môi trường
9 Giá trị của một tài nguyên du lịch
Giá trị của tài nguyên du lịch không thể xác định thông qua trao đổi, mua bán trên thị trường và cũng không có quan hệ mật thiết với các loại hàng hóa khác Vì vậy, không thể dựa vào giá thị trường để xác định giá trị của một tài nguyên du lịch
9 Đánh giá giá trị tài nguyên môi trường
Hầu hết tài nguyên môi trường là tài sản công cộng không có sự mua bán trên thị trường nên không có giá cả nhưng chúng đều có giá trị Chính vì vậy, định giá tài nguyên môi trường là ước lượng đưa ra giá trị bằng tiền của các tài nguyên tự nhiên
và dịch vụ môi trường vốn không có giá trị trên thị trường
Việc phân loại giá trị tài nguyên dựa vào những mối quan hệ giữa con người với tài nguyên môi trường
Trang 18Tổng giá trị kinh tế (Total economics value) = giá trị sử dụng (use value) + giá trị không sử dụng (non-use value)
Giá trị sử dụng (use value) = giá trị sử dụng trực tiếp (direction use value) + giá trị sử dụng gián tiếp (indirection use value)
Giá trị không sử dụng (non-use value) = giá trị nhiệm ý (option value) + giá trị lưu truyền (request value) + giá trị tồn tại (existence value)
Sơ đồ 2.1 Tổng giá trị kinh tế của tài nguyên và dịch vụ môi trường
Nguồn: Phan Thị Giác Tâm, 2007, Bài giảng Kinh tế môi trường
2.1.2 Cơ sở lựa chọn phương pháp nghiên cứu
Các điểm hay khu du lịch là một loại hàng hóa có hai mặt giá trị Các hoạt động vui chơi giải trí như: Chèo thuyền, câu cá, cưỡi voi, đi xe đạp…đó là các giá trị sử dụng, còn ngắm thác, ngắm cây cối, tận hưởng không khí mát mẻ…đó là các giá trị không sử dụng Chính vì vậy, công cụ dung để đánh giá giá trị cho loại hàng hóa này phải phù hợp
Khi vào nghỉ ngơi, giải trí tại một khu du lịch được một tổ chức hay công ty nào đó thì du khách phải trả những khoản theo qui định của khu du lịch Đó là điều hiển nhiên và các khu du lịch có thể hoạt động được là dựa vào nguồn thu từ chính những du khách đó
Trên thế giới, người ta sử dụng khá nhiều phương pháp để định giá trị môi trường Các phương pháp này được chia ra làm hai nhóm:
Trang 19Nhóm thứ nhất, bao gồm các phương pháp định giá dựa trên giá sẵn lòng trả thực thụ, bao gồm:
9 Phương pháp sử dụng giá thị trường (Market Price Method)
9 Phương pháp sử dụng năng suất (Productivity Method)
9 Phương pháp giá trị thụ hưởng (Hedonic Price method)
9 Phương pháp chi phí du hành (Travel cost Method – TCM)
9 Phương pháp chuyển dịch lợi ích (Benefit Transfer Method - BTM)
9 Phương pháp chi phí thay thế (Replacement Cost)
Nhóm thứ hai, bao gồm các phương pháp định giá dựa trên giá sẵn lòng trả ước định, mang tính chất dự báo, bao gồm:
9 Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (Contingent Valuation Method – CVM)
9 Phương pháp lựa chọn ngẫu nhiên (Contingent Choice Method)
Mặc dù vây, hai phương pháp được lựa chon nhiều nhất là phương pháp chi phí du
hành (Travel cost Method – TCM) và phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (Contingent Valuation Method – CVM) Sau khi tìm hiểu về địa điểm, những hạn chế gặp phải
cũng như những dữ liệu có thể thu được, quá trình điều tra phỏng vấn, thu thập dữ
liệu được tiến hành theo phương pháp chi phí du hành (Travel Cost Method – TCM)
2.1.3 Mối quan hệ giữa chi phí du hành và số lần đi du lịch
2.1.3.2 Chi phí vận chuyển
Trang 20Theo Deshazo (1997), chi phí vận chuyển bao gồm phí tầu hỏa, xe buýt, máy bay, bảo quản duy trì xe Chi phí vận chuyển của du khách dựa trên khoảng cách và phương tiện vận chuyển họ dùng
Theo Udomsak (2001), chi phí cho phương tiện mà du khách thuê có thể khác nhau
do phụ thuộc vào chuyến đi đến điểm du lịch bằng phương tiện tư nhân hay công cộng Chi phí này cũng phụ thuộc vào khoảng cách từ nơi du khách xuất phát đến địa điểm tham quan Nó được phân thành hai loại: (1) Chi phí du lịch trung bình do
du khách sử dụng phương tiện tư nhân gánh chịu (2) Chi phí du lịch trung bình do
du khách sử dụng phương tiện công cộng gánh chịu
Điều quan trọng và cố lõi để có thể ước lượng được giá trị của KDL Thác Đamb’ri
là điều tra được số lần du khách tới KDL trong một năm và thông qua chi phí du lịch của từng du khách khi họ tới KDL
2.1.3.3 Số lần đi du lịch
Số lần đi du lịch được xét trong đề tài không phải là tổng số lần người đó đi du lịch
ở bất kì đâu mà chỉ tính riêng cho số lần đến KDL Thác Đamb’ri trong năm nghiên cứu
2.1.3.4 Mối quan hệ
Chi phí là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng rất lớn đến quyết định đi
du lịch của từng du khách bởi nó liên quan đến vấn đề nhạy cảm là thu nhập của mỗi cá nhân Một điều đơn giản và dễ hiểu là chi phí mỗi du khách phải bỏ ra càng lớn để thực hiện một chuyến du lịch thì số lần đi du lịch của họ càng thấp và tới một giới hạn nào đó khi chi phí của chuyến du lịch vượt quá mức sẵn lòng trả của khách thì số lần du lịch của họ là bằng không Điều này đồng nghĩa với đường cầu cắt trục hoành (Với trục hoành là số lần đi du lịch của du khách)
Ta có thể thể hiện mối quan hệ giữa số lần đi du lịch (Trips) và chi phí du hành (TC) qua đồ thị tổng quát:
Trang 21Đồ thị 2.2 Mối quan hệ giữa số lần đi du lịch và chi phí du hành
Hàm cầu được xây dựng dựa trên số lần tham quan tới một địa điểm du lịch trong cùng một giai đoạn về thời gian của một cá nhân riêng lẻ
2.1.3.5 Ước lượng các tham số của mô hình
Trang 22| Tstat | > T tra bảng: Chấp nhận giả thiết H1, tức là hệ số βi ≠ 0 khi đó các biến độc lập thực sự tác động đến số lần đi du lịch
Việc kiểm định các giả thiết này được tiến hành như sau:
F stat > F α, k-1,n-k: Bác bỏ giả thiết H0
F stat < F α, k-1,n-k: Chấp nhận giả thiết H0
Trong đó
k: Số biến độc lập
n: Số quan sát
α: Mức ý nghĩa
2.1.3.5.3 Hiện tượng tự tương quan (autocorrelation)
Hiện tượng tự tương quan là hiện tượng mà một số hạng sai số (error term) của một mẫu quan sát cụ thể nào đó của tổng thể có quan hệ tuyến tính với một hay nhiều số hạng sai số của mẫu quan sát trong tổng thể Cụ thể là:
E(ui, uj) ≠ 0 Cov(ui, uj) ≠ 0 Với ∀ i ≠ j
Để kiểm tra hiện tượng tự tương quan giữa các biến trong mô hình ta dùng công cụ phân tích Correlation trong Excel
Giả thiết
H0: | βi | < 0,8 Không có hiện tượng tự tương quan
H1: | βi | > 0,8 Có hiện tượng tự tương quan giữa hai biến
2.1.3.5.4 Hiện tượng đa cộng tuyến (Multicollinearity)
Hiện tượng Đa cộng tuyến xảy ra khi mà tồn tại một mối quan hệ tuyến tính hoàn hảo hay xấp xấp xỉ hoàn hảo giữa một vài hay tất cả các biến “giải thích” trong một
mô hình hồi quy
Trang 23¾ Các loại Đa cộng tuyến
- Đa cộng tuyến chính xác (perfect/exact collinearity): thường rất ít khi xảy ra trong thực tế Trừ trường hợp chúng ta rơi vào bẫy biến giả (dummy trap)
- Đa công tuyến không chính xác (Near collinearity): thường hay xảy ra trong thực
tế (khi các biến độc lập tương quan khá cao) Trường hợp này chúng ta có thể ước lượng các hệ số hồi qui
¾ Cách phát hiện hiện tượng đa cộng tuyến
Sử dụng mô hình hồi qui phụ, tức là hồi qui lần lượt các biến độc lập theo tất cả các biến còn lại Từ mô hình hồi quy phụ đó ta có được giá trị R2 của mỗi mô hình Giá trị R2 cho biết mô hình giải thích được bao nhiêu phần trăm của biến phụ thuộc Nếu R2AUX > R2ORIGINAL → có hiện tượng đa cộng tuyến
2.1.3.5.5 Hiện tượng phương sai sai số thay đổi (Heteroscdasticity)
Dùng kiểm định White để xem xét trong mô hình có hiện tượng phương sai sai số thay đổi hay không
Đặt giả thiết: H0: Có hiện tượng phương sai sai số thay đổi
H1: Không có hiện tượng phương sai sai số thay đổi
Để xác định được giá trị giải trí của một địa điểm du lịch cụ thể cần xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng trả của từng du khách và sau đó là giá trị
Trang 24thặng dư của họ và hai phương pháp được áp dụng rộng rãi nhất để tiến hành các công việc trên là TCM và CVM
Tại Việt Nam:
9 Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hải và Trần Đức Thanh đã sử dụng kết hợp hai phương pháp TCM và CVM để đánh giá những lợi ích du lịch mang lại từ vườn quốc gia Cúc Phương – Việt Nam, giai đoạn 1996 – 1997, kết quả nghiên cứu đã xác định được tổng lợi ích mà vườn quốc gia mang lại trong một năm là 1.502 triệu đồng, thặng dư của du khách là 105 triệu đồng và WTP của khách là 504 triệu đồng để cải thiện hệ thống đường sá của vườn
9 Hai tác giả Trần Thu Hà và Vũ Tấn Phương đã đánh giá giá trị cảnh quan của vườn Quốc gia Ba Bể và khu du lịch hồ Thác Bà bằng cách sử dụng đồng thời hai phương pháp TCM và CVM Kết quả tổng giá trị của vườn Quốc gia Ba Bể được ước tính là 1.552.611.000 đồng/năm và của hồ Thác Bà là 529.962.000 đồng/năm không tính giá trị mang lại do khách nước ngoài
9 Hai tác giả Phạm Khánh Nam và Trần Võ Hùng Sơn đã nghiên cứu và định giá khu du lịch sinh thái đảo Hòn Mun – Khánh Hòa – Việt Nam bằng hai phương pháp TCM và CVM , kết quả đã xác định được giá trị của Hòn Mun là 259,8 tỉ đồng/năm
9 Nghiên cứu của Phạm Hồng Hạnh, 2007, “Đánh giá giá trị giải trí du lịch của
khách du lịch trong nước đối với khu bảo tồn Vịnh Nha Trang” Kết quả nghiên
cứu cho thấy tổng lợi ích giải trí của du khách trong nước đối với Vịnh Nha Trang là 23.281,281 tỉ đồng và thặng dư tiêu dùng là 7.760,427 tỷ đồng hàng
năm
Trên thế giới:
9 Hai tác giả John Rolfe, Jack Sinden đã sử dụng Phương pháp TCM để ước tính giá trị của khu giải trí Prabha Prayaga vào năm 1998 Kết quả thặng dư của khách du lịch được tính là 1.502.891 USD
9 Các tác giả Sohrabi Saraj, Yachkaschi, Oladi, Fard Teimouri, Latifi đã tực hiện việc nghiên cứu và định giá khu rừng tự nhiên Abbas Abad – Behshahr nằm ở
Trang 25phía Bắc Iran bằng phương pháp TCM Kết quả, giá trị giải trí của khu rừng được ước tính vào khoảng 1.266.000.000 Rials cho toàn bộ các địa điểm giải trí 138ha, nghĩa là giá trị thu được vào khoảng 9.000.000 Rials/ha và 97.000.000 Rials/ha đối với 13ha trung tâm Giá trị này cao hơn nhiều so với 341.000 Rials/ha đối với giá trị sản xuất gỗ Nói chung, giá trị gỗ chỉ chiếm khoảng 4%
so với giá trị tổng khu rừng Với kết quả này, các nhà quản lý khu rừng đã thực hiện việc bảo toàn hệ sinh thái của khu rừng để phục vụ cho việc giải trí
9 Hai tác giả Anex & Robert P vào năm 1995 đã sử dụng Phương pháp TCM để đánh giá chi phí các dịch vụ xử lý chất thải nguy hại của hộ gia đình Nghiên cứu được thực hiện tại khu Clawson – Knetsch, King Country, Washington DC Ban đầu, mức phí được thu thấp hơn so với số tiền bỏ ra cho việc thu gom chất thải nguy hại Tuy nhiên, sau khi nghiên cứu thì thặng dư người tiêu dùng lại cao hơn nhiều Điều này đã khuyến khích các gia đình đóng góp nhiều hơn cho phúc lợi xã hội
Qua kết quả của các nghiên cứu trong nước cũng như nước ngoài có sử dụng phương pháp TCM ta thấy được lợi ích rất lớn của việc sử dụng phương pháp này vào việc ước lượng giá trị của các địa điểm giải trí, qua đó, việc áp áp dụng phương pháp này nhằm ước lượng giá trị của KDL Thác Đamb’ri là một việc làm rất cần thiết Qua nghiên cứu không những sẽ xác định được giá trị thực của thác mà ta còn
có thể dựa vào ý kiến du khách để có những định hướng nhằm phát triển KDL đúng hướng và bền vững hơn
Trang 27Nằm trên cao nguyên Langbiang với độ cao trung bình 1.500m địa hình tỉnh Lâm Đồng là sự phân bậc khá rõ ràng từ Bắc xuống Nam Phía Bắc là vùng núi cao, vùng sơn nguyên Đà Lạt với đỉnh cao gần 1.300m đến trên 2.000m như ngọn LangBiang (2.153m) Phía Đông và Tây có địa hình núi thấp (cao 500 - 1.000m) Phía Nam là vùng chuyển tiếp giữa cao nguyên Di Linh và bán bình nguyên, tại những vùng chuyển tiếp độ cao chênh lệch nhau từ 400 - 500m Với địa hình đồi núi thung lũng xen kẽ và độ cao chênh lệnh giữa các vùng mà hình thành các tiểu vùng khí hậu khác nhau trong tỉnh Vì vậy hệ thực vật, động vật cũng đa dạng về chủng loại, thành phần
số ẩm/ năm >150), nửa cuối mùa đông hơi thiếu ẩm Trên toàn lãnh thổ, tuy có sự khác nhau về độ cao và độ che phủ của thảm thực vật, nhưng nhìn chung khí hậu đặc biệt ôn hòa, dịu mát quanh năm
3.1.1.5 Thủy văn
Do địa hình cao, đây là nơi xuất phát, đầu nguồn của hệ thống sông suối đổ về miền Đông Nam Bộ Các sông lớn trong tỉnh thuộc hệ thống sông Đồng Nai, Đại Ngà - La Ngà và Sông Krông Nô (thượng nguồn sông Sêrêpok)
Dòng chính sông Đồng Nai bắt nguồn từ núi Lâm Viên, Bidoup trên cao nguyên Langbiang Sông chảy qua sơn nguyên Đà Lạt nhiều nơi bị chặn lại thành
hồ (Xuân Hương, Than Thở ) Khi chảy ra rìa sơn nguyên dòng chảy có nhiều ghềnh thác (Ankroet, Đatanla, Prenn, Pongour, Gougah) Phần trung du (Liên
Trang 28Khương - Tân Uyên) lòng sông mở rộng, chảy quanh co Một số phụ lưu quan trọng
đổ vào dòng chính ở đoạn này là Đa Nhim, Đa Quyeon, Cam Ly, Đa Huoai, Darsi, Dasiat, DakLoa, Đạ Lây, Đạ mis, Đạ Kho, Đạ Quay, Đamb’ri, Đạmbré ở bờ trái và
Đa Dung ở bờ phải với tổng diện tích lưu vực là 7.453 km2
Hệ thống sông La Ngà bao gồm các nhánh sông Đariam, Đạ Bình, Đạ Nga chảy qua địa phân Thành phố Bảo Lộc, Bảo Lâm và Di Linh
Nhánh Đariam chạy song song với Quốc Lộ 20, có diện tích lưu vực 370 km2, chiều dài suối chính 60 km
Nhánh Đại Nga thuộc địa phận huyện Bảo Lâm có chiều dài 30 Km, diện tích lưu vực 102 km2
Toàn bộ diện tích lưu vực sông này là 968km2
Hệ thống sông Krông Nô: Chạy ven theo ranh giới phía bắc và đông bắc ranh giới giữa 02 tỉnh Lâm Đồng và ĐắkLắk, gồm 02 nhánh sông chính là Đác Măng và Krông Nô, 02 nhánh hợp lại chảy vào sông Sêrêpok, chi lưu của sông Cửu Long, có diện tích lưu vực thuộc tỉnh Lâm Đồng là 1.248km2
Với lưu lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.800 mm nguồn nước mặt rất lớn, các sông suối có nguồn nước dồi dào và phong phú phân bố rải rác khắp tỉnh Nhưng 80% lượng mưa đều tập trung vào các tháng mùa mưa, hệ thống sông suối thường nhỏ hẹp, có nhiều thác ghềnh, sườn dốc đứng nên khả năng sử dụng nguồn nước mặt trong các tháng mùa khô bị hạn chế
3.1.1.6 Sinh vật
Về thực vật cả tỉnh có 238 loài cây bao gồm 14 chi, 112 họ và 14 ngành Trong số
đó có 20 loài cây được liệt vào dạng quý hiếm thuộc 18 chi, 14 họ, 4 ngành mà tiêu biểu là có nhân sâm Ngọc Linh
Tổng diện tích đất lâm nghiệp toàn tỉnh 602.142 ha, trong đó: rừng tự nhiên 547.813 ha; rừng trồng 54.329 ha, đất lâm nghiệp 33.512 ha
Phân theo 3 loại rừng:
- Rừng đặc dụng : 83.813 ha, chiếm 13,91%
Trang 29- Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà : 56.437 ha
- Vườn quốc gia Cát Tiên : 27.237 ha
- Rừng phòng hộ : 172.800 ha, chiếm 28,73%
- Rừng sản xuất : 345.003 ha, chiếm 57,36%
- Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà : 56.437 ha
- Vườn quốc gia Cát Tiên : 27.237 ha
Tổng trữ lượng lâm sản : gỗ 56.182.789 m3 (rừng tự nhiên 55.172.965 m3, chiếm 95,04%; rừng trồng 1.009.824m3, chiếm 4,96%) và 518 triệu cây tre nứa Ngoài ra, rừng ở Lâm Đồng còn có các loại dược liệu quý mọc ở tầng cây bụi rừng tự nhiên như sa nhân, bạc gạc, gối hạc, các loài song, mây và hạ Cau Dừa, đót,
Rừng Lâm Đồng có nhiều động vật quý hiếm như Tê giác một sừng (Rhinocoros),
hổ (Pantheratigris), Nai cà tong (cervus eldi), Bò tót (Bosgaurus) Đại diện của các
bộ thú như bộ ăn sâu bọ (Insectirora), bộ cánh da (Dermotera), bộ linh trưởng (Primater), bộ móng guốc ngón chẵn (Artiodactyla)
3.1.2 Về kinh tế
3.1.2.1 Ngành nông nghiệp
Giá trị sản xuất ngành nông lâm nghiệp tăng bình quân 7,4% năm thời kỳ 2001 -
2007 Sản xuất nông nghiệp đã chú trọng ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật đã tăng năng suất, chất lượng, chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng có năng suất chất lượng cao và phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu của từng vùng, tập trung đầu tư thâm canh các vùng cây công nghiệp dài ngày, mở rộng diện tích trồng rau hoa và bước đầu hình thành một số khu nông nghiệp công nghệ cao và các vùng nguyên liệu tập trung cà phê, chè, điều, rau, hoa là cơ sở cho phát triển công nghiệp chế biến
Hiệu quả sản xuất trên đơn vị diện không ngừng tăng lên Đến năm 2007, giá trị sản xuất thu được trên 1 ha đất nông nghiệp bình quân 50 - 55 triệu đồng/ha, trong đó
Trang 30một số hộ nông dân sản xuất đạt 150 - 180 triệu đồng /ha/năm, cá biệt có doanh nghiệp nước ngoài đầu tư trồng hoa đạt 2 - 3 tỷ đồng /ha/năm
3.1.2.1.1 Về trồng trọt
Đến năm 2007, tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm có 100,98 nghìn ha, trong
đó lúa 33,0 nghìn ha, cây công nghiệp hàng năm 3,1 nghìn ha; diện tích cây lâu năm
có 187,04 nghìn ha, trong đó cây ăn quả 10,0 nghìn ha
Diện tích cây cà phê từ 38,7 nghìn ha năm 1990 tăng lên 124,4 nghìn ha năm 2000
và 128,24 nghìn ha năm 2007 Sản lượng từ 25,4 nghìn tấn năm 1990 tăng lên 273,0 nghìn tấn năm 2007
Diện tích cây chè đến năm 2007 đạt 26,69 nghìn ha Công tác cải tạo giống, thâm canh được quan tâm, diện tích chè cành chiếm 12% Sản lượng chè búp tươi từ 36 nghìn tấn năm 1990 tăng lên 182,8 nghìn tấn năm 2007 và chế biến được trên 30.000 tấn
Cây dâu tằm: Từ năm 1999 đến cuối năm 2000 ngành dâu tằm tơ đang từng bước khôi phục lại Đến năm 2007 có 6.356 ha, sản lượng lá 52.416 tấn và sản xuất 4.000 tấn kén
Trang 31Đàn heo có số lượng đàn lớn với 367,2 nghìn con năm 2007 Tốc độ tăng trưởng bình quân 1995 - 2000 là 5%, 2001 - 2007 là 12% năm
Ngoài các vật nuôi truyền thống, một số vật nuôi khác cũng phát triển khá như đàn ong và dê cừu
3.1.2.2 Ngành lâm nghiệp
Công tác quản lý bảo vệ rừng đã được các cấp các ngành chú ý triển khai Diện tích rừng trồng từ năm 1976 - 2007 là 49.006 ha, trong đó: thời kỳ 1995 - 2000 đã trồng được 15.176 ha, thời kỳ 2001 - 2006 là 14,5 nghìn ha, năm 2007 trồng được 993 ha, loại cây trồng chủ yếu là thông 3 lá, thông 2 lá, sao đen, keo , diện tích rừng trồng được đầu tư từ các nguồn vốn: ngân sách tỉnh 24.707 ha (chủ yếu trồng rừng tập trung trên đối tượng rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng), vốn chương trình 327 7.538 ha và vốn chương trình 5 triệu ha rừng 5.760 ha (chủ yếu đầu tư trồng rừng trên đối tượng rừng phòng hộ và rừng đặc dụng), vốn trồng rừng phòng
hộ đầu nguồn thuỷ điện Trị An 1.954 ha, vốn liên doanh liên kết trồng rừng nguyên liệu giấu với Công ty CP giấy Tân Mai 10.176ha; vốn trồng rừng sản xuất và sản xuất nông lâm kết hợp của các thành phần kinh tế khác 5.300 ha Diện tích giao khoán quản lý bảo vệ rừng tăng từ 196nghìn ha năm 2000 lên 299 nghìn ha năm
2005 và đạt 328nghìn ha năm 2007, có trên 6,5 nghìn hộ đồng bào dân tộc được nhận khoán quản lý bảo vệ rừng
Khối lượng gỗ khai thác bình quân mỗi năm 40.000 - 45.000 m3/năm Gỗ xuất khẩu bình quân hàng năm khoảng 1.000 - 1.500 m3
3.2.3 Ngành công nghiệp
Thời kỳ 2001 - 2005 ngành công nghiệp đã có bước phát triển khá, nhất là công nghiệp khai thác mỏ và công nghiệp sản xuất phân phối điện nước Công nghiệp chế biến đã có bước tăng trưởng về số lượng, quy mô và năng lực sản xuất Một số ngành công nghiệp đã được đầu tư dựa trên thế mạnh về nguồn nguyên liệu tại chỗ như chè, tơ tằm, hạt điều, sản xuất vật liệu xây dựng ngành điện và nước đã được đầu tư xây dựng và đưa vào sử dụng nhiều công trình lớn đã nâng cao giá trị sản
Trang 32xuất, phục vụ sản xuất và sinh hoạt của người dân Giá trị sản xuất ngành công nghiệp - xây dựng tăng bình quân 17,9% năm thời kỳ 2001-2005, giá trị sản xuất công nghiệp năm 2006 đạt 2.970 tỷ đồng, năm 2007 đạt 3.400 tỷ đồng; tỷ trọng ngành công nghiệp trong GDP của tỉnh năm 2006 chiếm tỷ lệ 19,5%, năm 2007 là 19,4%
3.2.4 Ngành dịch vụ
Thời gian qua ngành dịch vụ phát triển khá nhanh, giá trị ngành dịch vụ đạt tốc độ tăng bình quân 19,3% Tỷ trọng ngành dịch vụ trong GDP năm 2007 đạt 30,7% Khu vực kinh tế dịch vụ với các hoạt động thương mại, xuất nhập khẩu, du lịch và dịch vụ sản xuất, tiêu dùng được phát triển
3.2.4.1 Lĩnh vực thương mại
Thành phần kinh tế Nhà nước chi phối bán buôn những hàng hóa, vật tư chiến lược phục vụ nền kinh tế và đời sống như: sắt thép, xi măng, xăng dầu, phân bón, Tổng giá trị bán buôn của khu vực kinh tế này có tốc độ tăng bình quân hàng năm khoảng 5,75%, đáp ứng một phần nhu cầu xã hội và góp phần ổn định thị trường Công tác cung cấp hàng hóa cho dân cư đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc
ít người được đáp ứng tốt
3.2.4.2 Xuất nhập khẩu
Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng dần qua các năm Năm 2004 đạt 108,8 triệu USD, năm 2005 đạt 133,3 triệu USD, năm 2006 là 158 triệu USD và năm 2007 đạt 198 triệu USD Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của tỉnh như cà phê, điều, chè, rau, hoa, tơ tằm, lụa tơ tằm
Tổng kim ngạch nhập khẩu năm 2006 là 45 triệu USD và năm 2007 là 38 triệu USD Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là máy móc thiết bị và nguyên vật liệu Thị trường nhập khẩu hầu hết ở các nước trong khu vực Châu á
Bảng 3.4 Một số chỉ tiêu về xuất, nhập khẩu của Lâm Đồng
Đơn vị tính: nghìn USD
Trang 33Lượng khách đến Lâm Đồng đã tăng nhanh, từ 0,725 triệu lượt khách năm 2000 lên 1,488 triệu lượt khách năm 2007; trong đó khách quốc tế đạt 98,4nghìn lượt khách Doanh thu năm 2007 đạt 270,95 tỷ đồng
Bảng 3.5 Một số chỉ tiêu về hiện trạng phát triển du lịch tỉnh Lâm Đồng
Trang 34Nguồn: Cục Thống Kê Lâm Đồng
Tuy nhiên ngành du lịch phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh, đạt
hiệu quả thấp và chưa trở thành một ngành kinh tế động lực của tỉnh Đầu tư cho du
lịch - dịch vụ tuy có tăng, song còn nặng cho khách sạn, nhà nghỉ; hạn chế trong
đầu tư nâng cấp xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch, tình trạng cảnh quan du
lịch xuống cấp còn xảy ra, các sản phẩm du lịch còn đơn điệu
3.1.3 Về vấn đề xã hội
3.1.3.1 Dân số
Dân số trung bình toàn tỉnh (thời điểm 01/04/2009) là 1.186.786 người người Dân
cư thành thị chiếm 37,56 % dân số Cộng đồng dân cư gồm nhiều dân tộc cùng
chung sống, trong đó người Kinh chiếm 78%; các dân tộc ít người như K’Ho, Mạ,
Tày, Nùng, chiếm 22% dân số toàn tỉnh Các dân tộc ít người này sống ở 96/145
xã của tỉnh Trong tổng số đồng bào dân tộc ít người, các dân tộc ít người gốc Tây
nguyên chiếm 76% và các dân tộc ít người từ các tỉnh biên giới phía Bắc di cư vào
Lâm Đồng chiếm 24%
Sự đa dạng cộng đồng dân cư ở Lâm Đồng đã hội tụ nhiều nét văn hoá tốt đẹp của
nhiều vùng trong cả nước cũng như tạo nên sự đa dạng về tập quán sản xuất và tay
nghề của người dân trong tỉnh Mặt khác, vấn đề dân tộc thiểu số và tăng cơ học dân
số luôn là yếu tố gây nghèo chính, bất lợi đối với tăng trưởng kinh tế và công tác
xoá đói giảm nghèo ở Lâm Đồng
Mật độ dân số trung bình toàn tỉnh là 124 người/km2 Dân số phân bố không đều,
tập trung chủ yếu ở thành phố Đà Lạt (485 người/km2), thị xã Bảo Lộc (638
Trang 35người/km2), các huyện gần các trục giao thông quốc lộ 20, 27 chạy qua như Đơn Dương (147 người/km2), Đức Trọng (179 người/km2), các huyện khác, mật độ dân
cư dưới 100 người/km2
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên trung bình hàng năm thời kỳ 2001-2007 là 2,1% Trong những năm gần đây, dân số của Lâm Đồng có biến động do tăng cơ học, chủ yếu là
do dân di cư tự do từ các tỉnh phía Bắc và miền Trung vào Lâm Đồng, tạo sức ép lớn cho tỉnh về giải quyết các vấn đề đời sống xã hội, chính trị và môi trường sinh thái
Trong tương lai, theo dự báo, nếu tỷ lệ tăng tự nhiên bình quân hàng năm đến năm
2010 còn 1,4%, năm 2015 là 1,3% và năm 2020 là 1,2%; và tỷ lệ tăng cơ học bình quân hàng năm khoảng 0,3 – 0,4%, thì tỷ lệ tăng dân số bình quân thời kỳ 2008 -
2010 là 2%, thời kỳ 2011 - 2015 là 1,78% và thời kỳ 2016-2020 là 1,52%; quy mô dân số Lâm Đồng đến năm 2010 khoảng 1.274,2 nghìn người, năm 2015 có 1.388,3 nghìn người và năm 2020 khoảng 1.497 nghìn người Trong đó, dân số đô thị chiếm 40% vào năm 2010, 42% năm 2015 và 45% vào năm 2020
3.1.3.2 Lao động
Năm 2007, tổng dân số trong độ tuổi lao động có 680,6 nghìn người, chiếm tỷ lệ 56,8% dân số toàn tỉnh; trong đó ở thành thị chiếm 37,7%, nông thôn 62,3% Thời
kỳ 2001 - 2007 tốc độ tăng dân số trong độ tuổi lao động bình quân là 2,31%
Nguồn lao động của tỉnh đến năm 2007 có 650 nghìn người chiếm tỷ lệ 95,5% tổng dân số trong độ tuổi lao động; tốc độ tăng nguồn lao động bình quân thời kỳ 2001 -
2007 là 2,55% Hàng năm giải quyết việc làm được cho 20 - 24 nghìn lao động, tỷ
lệ thất nghiệp khu vực thành thị đến năm 2007 là 4,13%, tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở khu vực nông thôn đạt 85,25%
Trong tổng số lao động làm việc trong nền kinh tế quốc dân, lao động khu vực nông lâm nghiệp chiếm 75,8%, lao động trong khu vực công nghiệp - xây dựng 7,6%, lao động khu vực dịch vụ chiếm 16,7% Lao động trong khu vực nhà nước quản lý gần 34.000 người, trong đó lao động trong ngành giáo dục chiếm hơn 1/3 Chất lượng
Trang 36nguồn lao động không đồng đều giữa các vùng trong tỉnh, các khu vực và các ngành kinh tế, nhất là khu vực nông thôn còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
Bảng 3.6 Dự báo dân số tỉnh Lâm Đồng (nghìn người)
1- Tỷ trọng dân số thành thị 38,5 37,7 40,0 45,0 50,0
2-Tỷ trọng dân số nông thôn 61,5 62,3 60,0 55,0 50,0
II-Số người trong tuổi lao động 580,0 680,6 726,3 798,3 868,3
km, chiếm 25,7%, đường đất 929,48 km, chiếm 45,5%
3.1.3.3.1 Quốc lộ
Lâm Đồng có các quốc lộ sau:
- Quốc lộ 20: là tuyến quan trọng nhất nối thành phố Đà Lạt với Quốc lộ 1 và đi thành phố Hồ Chí Minh, nối với Quốc lộ 27 ở Ngã ba Finnôm Toàn tuyến được rải
bê tông nhựa tiêu chuẩn cấp III miền núi, cầu cống chủ yếu tải trọng tương đương H30 - XB80 khổ 7m bằng thép, bê tông liên hợp và bê tông cốt thép Đoạn từ thành phố Đà Lạt đến chân đèo Dran dài 36 km đường hẹp, thảm nhựa kết hợp láng nhựa cấp IV - V miền núi, cầu hẹp hơn, chỉ đạt tải trọng tương đương H13 Tổng số cầu trên toàn tuyến là 26 cầu với chiều dài 781,7 m
- Quốc lộ 27: Trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng từ Krông Nô đến Eo Gió giáp ranh với Ninh Thuận dài 123,55 km, trong đó đoạn từ Km 83 (cầu Krông Nô) đến Km 174 ở ngã ba Liên Khương (Quốc lộ 20) là đoạn được nâng cấp đạt tiêu chuẩn cấp IV miền núi Toàn tuyến đã được bê tông nhựa
Trang 37- Quốc lộ 28: có chiều dài trên đất Lâm Đồng là 92 km từ ranh giới Bình Thuận v đến cầu Kinh Đức trên sông Đồng Nai Hiện tại đã đạt đường cấp VI miền núi, mặt đường bê tông nhựa kết hợp láng nhựa, cầu vĩnh cửu tải trọng H30-XB80 (trừ đoạn tránh ngập thuỷ điện Đồng Nai 3)
- Quốc lộ 55: đi qua các tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Thuận nối với quốc lộ 1A và kết thúc tại thị xã Bảo Lộc Đoạn qua địa phận Lâm Đồng dài 24 km, xây dựng theo chuẩn tương đương đường cấp III miền núi, mặt bê tông nhựa
3.1.3.3.2 Đường tỉnh
Mạng lưới đường tỉnh gồm 4 tuyến 721, 722, 723 và 725 với tổng chiều dài 308,4
km, trong đó có 59 km đường bê tông nhựa và láng nhựa, 98, 28 km cấp phối đá dăm, còn lại là đường đất
3.1.3.3.3 Đường hàng không
Lâm Đồng có sân bay Liên Khương thuộc cụm cảng hàng không sân bay miền Nam, đường băng dài 2080 m, rộng 40 m, Hiện nay đang nâng cấp thành sân bay quốc tế Ngoài ra tại Đà Lạt có sân bay Cam Ly đã ngưng sử dụng từ 1975, cần được sữa chữa mở rộng để có thể tiếp nhận các loại máy bay trọng tải nhỏ để phục
vụ du lịch
3.1.3.3.4 Đường sắt
Tuyến đường sắt Đà Lạt - Phan Rang dài 84 km với 6 ga và 3 ga phụ được xây dựng từ thời Pháp Từ 1975 đến nay không sử dụng Hiện nay ngành đường sắt đã khôi phục 10 km tuyến Đà Lạt - Trại Mát để phục vụ du lịch
3.1.3.4 Giáo dục
Quy mô và hệ thống giáo dục và đào tạo Lâm Đồng phát triển ở tất cả các ngành học, bậc học, các loại hình giáo dục, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, đáp ứng được nhu cầu học tập của tỉnh trong thời gian qua So với mặt bằng chung của Tây Nguyên, Lâm Đồng có nhiều hoạt động, công tác giáo dục dẫn đầu:
tỷ lệ trẻ 5 tuổi huy động vào mẫu giáo chuẩn bị cho tiểu học đạt 99,9%, trong khi đó của Tây Nguyên là 88%; bình quân ở Lâm Đồng có 1,8 điểm trường tiểu học (Tây
Trang 38Nguyên là 1,68); tỷ lệ đơn vị xã phường đạt chuẩn quốc gia phổ cập trung học cơ sở 53,8% (Tây Nguyên 34%); 4,25 điểm trường THPT/huyện (Tây Nguyên là 2,14)
Hệ thống đào tạo, giáo dục chuyên nghiệp và dạy nghề tiếp tục phát triển, cơ sở vật chất được đầu tư phát triển Hệ thống trung học chuyên nghiệp có 3 trường: Trung học kỹ thuật dạy nghề Bảo Lộc, Trung học y tế Lâm Đồng, Trung học kinh tế - kỹ thuật, với 145 giảng viên và 3722 học sinh Đại học Đà Lạt với 332 giảng viên và 22,1 nghìn học viên; 1 trường cao đẳng sư phạm
Năm 2007 thành phố Đà Lạt, Thị xã Bảo Lộc và 3 huyện với 135 xã phường đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở Công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông được chú ý
Hạn chế: Quy mô giáo dục, đào tạo và dạy nghề phát triển nhanh nhưng mạng lưới,
cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục chưa đáp ứng kịp Chất lượng giáo dục dân tộc, vùng khó khăn chuyển biến chậm, khoảng cách về chất lượng giáo dục giữa các vùng trong tỉnh còn lớn, chậm được thu hẹp Nhiệm vụ đào tạo giữa các cơ sở đào tạo trong tỉnh còn chồng chéo, trùng lắp Trang thiết bị và dụng cụ cho dạy và học còn thiếu, qui mô và chất lượng đào tạo nghề chưa đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động
3.1.3.5 Y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân
Hệ thống y tế từ tỉnh đến cơ sở được củng cố, kiện toàn Toàn tỉnh có 183 cơ sở y
tế, trong đó có 12 bệnh viện, 19 phòng khám bệnh đa khoa khu vực, 1 bệnh viện điều dưỡng phục hồi chức năng, 1 trung tâm phòng chống bệnh xã hội; 100% số xã phường, thị trấn trong tỉnh có trạm y tế, 93/145 số xã, phường, thị trấn có bác sĩ phục vụ đạt tỷ lệ 64,13%, 82,4% số thôn bản có nhân viên y tế hoạt động Các chương trình y tế được triển khai thực hiện tốt, khống chế không để dịch bệnh lớn xảy ra, bệnh sốt rét được đẩy lùi và được kiểm soát, 95% trẻ em được tiêm phòng đầy đủ các loại vắc - xin
Trang 39Công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu và hệ thống y tế cơ sở đã không ngừng phát triển và mở rộng, đáp ứng cơ bản nhu cầu chăm sóc sức khoẻ nhân dân trong tỉnh Dịch vụ y tế đã có bước phát triển, vươn đến phục vụ ở vùng sâu, vùng xa của tỉnh Tuy nhiên khoảng cách và mức độ hưởng thụ các dịch vụ y tế giữa thành thị và nông thôn còn chênh lệch Hoạt động xã hội hóa công tác y tế chưa được quan tâm đúng mức
3.2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH DU LỊCH TỈNH LÂM ĐỒNG
3.2.1 Hiện trạng phát triển du lịch
Lâm Đồng nằm trên cao nguyên thứ ba và cao nhất của vùng Tây Nguyên là cao nguyên Lâm Viên – Di Linh (cao 1500m so với mực nước biển) 70% diện tích tự nhiên của tỉnh là núi rừng Tài nguyên du lịch tự nhiên của Lâm Đồng đa dạng và phong phú, được hình thành bởi đặc điểm tổng hợp của các yếu tố, địa hình, khí hậu (nhiệt độ trung bình là 190C) rừng và các khu hệ động thực vật, thuỷ văn đã tạo ra cảnh quan đặc sắc với nhiều hồ, thác nước, đồi núi, rừng thông ngoạn mục
Chính bởi những lợi thế rất lớn như vậy, những năm trở lại đây Lâm Đồng đã có những đầu tư rất lớn về cở sở hạ tầng và vật chất kĩ thuật nhằm nâng cao khả năng phục vụ cho du lịch
Giai đoạn 2001- 2005, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm về khách du lịch đạt 17,2%, lượng khách đến tham quan, nghỉ dưỡng tại Đà Lạt- Lâm Đồng năm 2000 đạt 710.000 lượt (trong đó có 69.580 lượt khách quốc tế), đến năm 2005 đạt 1.560.972 lượt (trong đó có 100.657 lượt khách quốc tế); thời gian lưu trú bình quân tăng từ 2,1 ngày/năm 2001 lên 2,3 ngày/năm 2005; thu hút được 5.000 lao động trực tiếp phục vụ trong ngành du lịch
Năm 2009, tổng số khách du lịch tới Lâm Đồng là 2.500.000 lượt (trong đó có 130.000 lượt khách du lịch quốc tế); thời gian lưu trú bình quân là 2,4 ngày/năm
Trang 40Bảng 2.8 Bảng tổng hợp kết quả ngành du lịch Lâm Đồng từ năm 2004 - 2009
Nguồn: Sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch tỉnh Lâm Đồng
Hệ thống cơ sở vật chất, kỹ thuật
- Hệ thống cơ sở lưu trú du lịch: Năm 2009 trên địa bàn toàn tỉnh Lâm
Đồng có tổng cộng 673 cơ sở lưu trú du lịch, với tổng số 11.000 phòng, sức chứa tối đa khoảng 38.000 khách/ngày - đêm Trong đó có 85 khách sạn cao cấp từ 1-5 sao với 2.976 phòng bao gồm 11 khách sạn cao cấp từ 3 - 5 sao với 927 phòng (kể
cả khách sạn Blue Moon đang trình hồ sơ thẩm định để công nhân hạng 4 sao với
86 phòng) và 588 cơ sở lưu trú du lịch đạt chuẩn với 8.024 phòng Riêng thành phố Đà Lạt chiếm trên 90% tổng cơ sở lưu trú trên địa bàn tỉnh Số lượng và chất lượng các dịch vụ phục vụ khách trong các khách sạn ngày càng được nâng cao, bao gồm: nhà hàng, vũ trường, massage, sauna, karaoke, internet, cửa hàng bán hàng lưu niệm, tennis, hồ bơi, chăm sóc sức khoẻ, chăm sóc tóc, thẩm mỹ, phục
vụ hội nghị - hội thảo nhiều cơ sở lưu trú còn tổ chức dịch vụ lữ hành để tổ chức các tour du lịch phục vụ du khách
01 Lượng khách Ngàn lượt 2004 2005 2006 2007 2008 2009
1.350 1.560,9 1.848 2.200 2.300 2.500
02 Ngày lưu trú bình quân Ngày 2,2 2,3 2,3 2,3 2,3 2,4
03 Doanh thu Xã hội từ DL Tỷ đồng 1.215 1.405 1.663 3.000 3.220 3.400