1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BƯỚC ĐẦU KHẢO NGHIỆM VÀ SO SÁNH SINH TRƯỞNG MỘT SỐ DÒNG BẠCH ĐÀN LAI NHÂN TẠO TẠI TRẠM THỰC NGHIỆM LÂM NGHIỆP BÀU BÀNG, HUYỆN BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

69 67 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 683,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT Đề tài nghiên cứu “Bước đầu khảo nghiệm và so sánh sinh trưởng một số dòng Bạch đàn lai nhân tạo tại Trạm thực nghiệm Lâm nghiệp Bàu Bàng, huyện Bến Cát tỉnh Bình Dương” được tiế

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

BƯỚC ĐẦU KHẢO NGHIỆM VÀ SO SÁNH SINH TRƯỞNG MỘT SỐ DÒNG BẠCH ĐÀN LAI NHÂN TẠO TẠI TRẠM

THỰC NGHIỆM LÂM NGHIỆP BÀU BÀNG,

Trang 2

BƯỚC ĐẦU KHẢO NGHIỆM VÀ SO SÁNH SINH TRƯỞNG MỘT SỐ DÒNG BẠCH ĐÀN LAI NHÂN TẠO TẠI TRẠM THỰC NGHIỆM

LÂM NGHIỆP BÀU BÀNG, HUYỆN BẾN CÁT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

LÊ THANH DƯƠNG

Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu

Cấp bằng Kỹ sư ngành LÂM NGHIỆP

Giáo viên hướng dẫn:

ThS Nguyễn Minh Cảnh

Tháng 07/ 2010

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để đạt kết quả trong học tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của quý Thầy Cô giáo Trường Đại học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh; quý Thầy Cô giáo trong Khoa Lâm nghiệp và Thầy Cô giáo Bộ môn Quản lý tài nguyên rừng, Bộ môn Lâm sinh, cũng như lãnh đạo, cán bộ viên chức Trung tâm khoa học sản xuất lâm nghiệp Đông Nam Bộ Nhân dịp này, tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến:

- Thầy ThS Nguyễn Minh Cảnh, đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và trong suốt quá trình thực hiện khóa luận này

- Quý Thầy, Cô giáo trong khoa Lâm nghiệp và quý Thầy Cô giáo thuộc Bộ môn Quản lý tài nguyên rừng, Bộ môn Lâm sinh đã truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt những năm học vừa qua

- Cảm ơn các anh tại Trạm thực nghiệm lâm nghiệp Bàu Bàng, đặc biệt chân thành cảm ơn anh Trần Hữu Biển hiện đang công tác tại Trung tâm khoa học sản xuất lâm nghiệp Đông Nam Bộ đã tạo điều kiện thuận lợi cung cấp các thông tin số liệu để tôi hoàn thành khóa luận này

- Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến những người thân trong gia đình, bạn bè, tập thể lớp DH06LN đã động viên, hỗ trợ tôi trong quá trình học tập và thực hiện khóa luận

- Xin chân thành cảm ơn!

Tp.Hồ Chí Minh, tháng 07 năm 2010

Sinh viên thực hiện

Lê Thanh Dương

Trang 4

TÓM TẮT

Đề tài nghiên cứu “Bước đầu khảo nghiệm và so sánh sinh trưởng một số dòng Bạch đàn lai nhân tạo tại Trạm thực nghiệm Lâm nghiệp Bàu Bàng, huyện Bến Cát tỉnh Bình Dương” được tiến hành tại các lô thí nghiệm tại Trạm

thực nghiệm Bàu Bàng, thời gian từ tháng 03 đến tháng 07 năm 2010 Các thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCBD)

Giáo viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Minh Cảnh

- Mục tiêu chính của đề tài là:

Tuyển chọn cây mẹ từ các xuất xứ tốt nhất theo tiêu chuẩn cây giống lâm nghiệp

Đánh giá khả năng sinh trưởng giữa các dòng Bạch đàn lai nhân tạo dựa trên các chỉ tiêu định lượng tại Trạm thực nghiệm Lâm nghiệp Bàu Bàng, huyện Bến Cát tỉnh Bình Dương làm cơ sở chọn dòng Bạch đàn phù hợp

Lựa chọn 2 – 3 dòng vô tính sinh trưởng tốt nhất trong số các dòng tuyển chọn để khuyến cáo phát triển và sử dụng cho trồng rừng Bạch đàn tại Trạm thực nghiệm Lâm nghiệp Bàu Bàng, huyện Bến Cát tỉnh Bình Dương nói riêng và vùng Đông Nam Bộ nói chung

- Sử dụng phần mềm Excel 2003 và Statgraphics Plus 3.0 để xử lý số liệu và phân tích phương sai

Kết quả thu được ở đề tài bao gồm:

- Đã tuyển chọn được 7 cây trội Bạch đàn phù hợp các tiêu chuẩn về định

tính và định lượng phục vụ nghiên cứu dẫn dòng, nhân giống, khảo nghiệm

- Về các chỉ tiêu định lượng: Độ vượt trội đường kính (D1,3, cm) và chiều cao (Hvn, m) đều lớn hơn 2 S Hệ số biến động nhỏ (4,1 – 4,4 %)

- Các dòng sinh trưởng tốt, tăng trưởng trung bình các dòng thí nghiệm tại vùng này đạt 2,8 cm/năm về đường kính và 3,2 m/năm về chiều cao

- Tỷ lệ cây sống sau 4 năm trồng đạt tỷ lệ 67 %

- Sinh trưởng đường kính, chiều cao, và thể tích (tuổi 4) dòng Bạch đàn dòng

1 luôn ở vị trí cao nhất; kế đến là dòng 2 và 4 và thấp nhất là dòng 3 và 5

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Trang tựa - i

Lời cảm ơn - ii

Tóm tắt - iii

Mục lục - iv

Danh sách các chữ viết tắt - vi

Danh sách các bảng - vii

Danh sách các hình - viii

1 MỞ ĐẦU - 1

1.1 Lý do nghiên cứu - 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu - 2

1.3 Địa điểm và giới hạn nghiên cứu - 3

2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU - 4

2.1 Các công trình đã nghiên cứu trong nước - 4

2.1.1 Khảo nghiệm loài - 4

2.1.2 Khảo nghiệm xuất xứ - 5

2.1.3 Đánh giá rừng trồng - 8

2.2 Các công trình đã nghiên cứu ở nước ngoài - 9

2.3 Cơ sở khoa học chọn lọc cây trội - 13

2.4 Nhận định về các kết quả nghiên cứu có liên quan - 15

3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU - 17

3.1 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu - 17

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu - 17

3.1.2 Địa điểm nghiên cứu - 17

3.2 Nội dung nghiên cứu - 19

Trang 6

3.3 Phương pháp nghiên cứu - 19

3.3.1 Phương pháp đánh giá và chọn lọc cây trội - 19

3.3.2 Phương pháp khảo nghiệm dòng vô tính - 22

3.3.3 Phương pháp thu thập số liệu - 26

3.3.4 Phương pháp phân tích số liệu - 26

4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN - 28

4.1 Tuyển chọn cây trội - 28

4.2 Đánh giá sinh trưởng đường kính - 31

4.3 Đánh giá sinh trưởng chiều cao - 37

4.4 Đánh giá sinh trưởng thể tích - 44

5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ - 47

5.1 Kết luận - 47

5.2 Kiến nghị - 47

TÀI LIỆU THAM KHẢO - 48

Trang 7

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ANOVA Analysis of variance – Phân tích phương sai

Cv % Hệ số biến động

Dc Độ lớn cành chính phần dưới tán lá, cm

Dpc Đường kính thân chỗ phân cành, cm

D1,3 Đường kính thân cây tại tầm cao 1,3 m, cm

Gpc Góc phân cành

Hvn Chiều cao vút ngọn, m

LSD Least significant difference – Sự khác biệt có ý nghĩa nhỏ nhất

P Xác xuất biểu thị mức tin cậy trong phân tích so sánh

Trang 8

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Trang

Hình 3.1 Hình ảnh các dòng Bạch đàn lai tại khu vực nghiên cứu - 24

Hình 4.1 Biểu đồ sinh trưởng D1,3 dòng Bạch đàn kém nhất, trung bình và tốt nhất

sau 2 tuổi - 34

Hình 4.2 Biểu đồ sinh trưởng D1,3 dòng Bạch đàn kém nhất, tốt nhất sau 3 tuổi 35

Hình 4.3 Biểu đồ sinh trưởng D1,3 dòng Bạch đàn kém nhất, trung bình và tốt nhất

sau 4 tuổi - 37

Hình 4.4 Biểu đồ sinh trưởng Hvn dòng Bạch đàn kém nhất, tốt nhất sau 1 tuổi 39

Hình 4.5 Biểu đồ sinh trưởng Hvn dòng Bạch đàn kém nhất, trung bình và tốt nhất

Trang 9

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Trang

Bảng 3.1 Kết quả phân tích đất - 18

Bảng 4.1 Số liệu đo sinh trưởng cây trội Bạch đàn tại Bàu Bàng - 28

Bảng 4.2 Số liệu cho điểm cây trội Bạch đàn theo các chỉ tiêu - 30

Bảng 4.3 Đặc trưng sinh trưởng đường kính các dòng Bạch đàn tại Trạm thực nghiệm Bàu Bàng - 32

Bảng 4.4 Kết quả ANOVA kiểu RCBD 1 nhân tố sau 1 tuổi – chỉ tiêu D1,3 - 32

Bảng 4.5 Kết quả ANOVA kiểu RCBD 1 nhân tố sau 2 tuổi - chỉ tiêu D1,3 - 33

Bảng 4.6 Kết quả ANOVA kiểu RCBD 1 nhân tố sau 3 tuổi - chỉ tiêu D1,3 - 34

Bảng 4.7 Kết quả ANOVA kiểu RCBD 1 nhân tố sau 4 tuổi - chỉ tiêu D1,3 - 36

Bảng 4.8 Đặc trưng sinh trưởng chiều cao các dòng Bạch đàn tại Trạm thực nghiệm Bàu Bàng - 37

Bảng 4.9 Kết quả ANOVA kiểu RCBD 1 nhân tố sau 1 tuổi - chỉ tiêu Hvn - 38

Bảng 4.10 Kết quả ANOVA kiểu RCBD 1 nhân tố sau 2 tuổi - chỉ tiêu Hvn - 39

Bảng 4.11 Kết quả ANOVA kiểu RCBD 1 nhân tố sau 3 tuổi - chỉ tiêu Hvn - 41

Bảng 4.12 Kết quả ANOVA kiểu RCBD 1 nhân tố sau 4 tuổi - chỉ tiêu Hvn - 42

Bảng 4.13 Kết quả ANOVA kiểu RCBD 1 nhân tố sau 4 tuổi - chỉ tiêu V - 44

Trang 10

% diện tích rừng trồng cả nước, giữ vị trí hàng đầu trong các cây trồng rừng chủ yếu (dẫn theo Nguyễn Ngọc Lung, 1995)

Bạch đàn dẫn giống vào nước ta có rất nhiều loài trong đó phải kể đến Bạch

đàn trắng (E camaldulensis), Bạch đàn đỏ (E robusta), Bạch đàn liễu (E exserta)… Bạch đàn là cây cho gỗ, thân thẳng Mặc dù gỗ Bạch đàn không tốt bằng

những loài gỗ khác như: Gõ, Giỗi, Lim … nhưng gỗ của nó có thể phục vụ cho các công trình xây dựng Bên cạnh đó, Bạch đàn còn là vật liệu làm giấy và góp phần tạo nên môi trường sinh thái trong lành Hiện nay, việc trồng loài cây này được nhiều nơi quan tâm tới

Trong những năm gần đây thì việc trồng thử nghiệm những dòng Bạch đàn lai nhân tạo luôn được đẩy mạnh, đặc biệt phổ biến ở Trạm thực nghiệm Lâm nghiệp Bàu Bàng, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương nhằm tìm ra những dòng Bạch đàn thích ứng với điều kiện tự nhiên, cho năng suất cao, chất lượng đồng đều và có hiệu quả kinh tế cao nhất, đáp ứng được mục tiêu kinh doanh Trong những phép lai

có thể tạo ra những dòng Bạch đàn tốt hơn hay xấu hơn so với những cá thể ban đầu

về các chỉ tiêu như: phẩm chất, D1,3, Hvn, V… Vì vậy để có được những dòng Bạch

Trang 11

Đàn lai tốt nhất nhằm đáp ứng việc kinh doanh có hiệu quả và lâu dài thì việc đánh giá và so sánh sinh trưởng của các dòng Bạch đàn lai nhân tạo là vấn đề cần thiết và mang nhiều ý nghĩa thực tiễn

Bạch đàn cũng là một trong những loài nằm trong danh sách cơ cấu loài cây dùng để trồng rừng và phát triển lâm nghiệp cho các vùng lâm nghiệp trong toàn quốc với mục đích phủ xanh đất trống đồi núi trọc, cung cấp gỗ nguyên liệu cho công nghiệp giấy sợi là chủ yếu (Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam, 1994) Trước đây, nước ta cũng đã có nhiều nghiên cứu về khảo nghiệm loài, xuất xứ Song, do điều kiện khí hậu thổ nhưỡng của từng vùng có sự khác nhau nhất định; Vì vậy, đề tài đã thực hiện khảo nghiệm các dòng Bạch đàn lai nhân tạo trên vùng đất phù sa

cổ với thành phần cơ giới nhẹ nhưng phía dưới là tầng sét nặng tại Trạm thực nghiệm Lâm nghiệp Bàu Bàng, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương nhằm nâng cao sản lượng gỗ nguyên liệu bột giấy cũng như chất lượng rừng trồng Bạch đàn cho vùng này

Gần 10 năm trở lại đây, các nhà nghiên cứu đã tạo ra nhiều dòng Bạch đàn, tuy nhiên chỉ mới thành công được một số dòng và chỉ một số ít dòng được kiểm nghiệm và ứng dụng vào thực tiễn sản xuất Xuất phát từ những vấn đề mang tính thực tiễn đó, được sự đồng ý và phân công của Khoa Lâm nghiệp, Bộ môn Quản lý tài nguyên rừng, trong khuôn khổ của một khóa luận tốt nghiệp cuối khóa, dưới sự

hướng dẫn của thầy Th.S Nguyễn Minh Cảnh, đề tài: “Bước đầu khảo nghiệm và

so sánh sinh trưởng một số dòng Bạch đàn lai nhân tạo tại Trạm thực nghiệm Lâm nghiệp Bàu Bàng, huyện Bến Cát tỉnh Bình Dương” được thực hiện trong

khoảng thời gian từ tháng 03 đến tháng 07 năm 2010 làm cơ sở bước đầu lựa chọn những dòng Bạch đàn lai tốt phục vụ cho công tác trồng rừng ở miền Đông Nam Bộ nói chung và Bình Dương nói riêng

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Tuyển chọn cây mẹ từ các xuất xứ tốt nhất theo tiêu chuẩn cây giống lâm nghiệp

Trang 12

Đánh giá khả năng sinh trưởng giữa các dòng Bạch đàn lai nhân tạo dựa trên các chỉ tiêu định lượng tại Trạm thực nghiệm Lâm nghiệp Bàu Bàng, huyện Bến Cát tỉnh Bình Dương làm cơ sở chọn dòng Bạch đàn phù hợp

Lựa chọn 2 – 3 dòng vô tính sinh trưởng tốt nhất trong số các dòng tuyển chọn để khuyến cáo phát triển và sử dụng cho trồng rừng Bạch đàn tại Trạm thực nghiệm Lâm nghiệp Bàu Bàng, huyện Bến Cát tỉnh Bình Dương nói riêng và vùng Đông Nam Bộ nói chung

1.3 Địa điểm và giới hạn nghiên cứu

Địa điểm nghiên cứu: Đề tài được thực hiện tại Trạm thực nghiệm Lâm

nghiệp Bàu Bàng, huyện Bến Cát tỉnh Bình Dương trên một số dòng Bạch đàn lai nhân tạo

Giới hạn về kết quả của đề tài: Do thời gian hạn chế, đề tài chỉ khảo

nghiệm và đánh giá sinh trưởng của một số dòng Bạch đàn lai nhân tạo (U29E1, U29E2, U29U26, U30E5, GU) trong khi tại khu vực nghiên cứu còn rất nhiều dòng khác cho nên kết quả của đề tài chỉ mang tính tham khảo

Cuối cùng, về số dòng chọn sau khi khảo nghiệm Thông thường việc chọn dòng cho trồng rừng đại trà là dòng tốt nhất của khảo nghiệm Song, dòng tốt nhất chưa hẳn là dòng có các chỉ tiêu so sánh D1,3, Hvn đều cao nhất Nếu chỉ chọn một dòng có thể sẽ gây ra lãng phí cho một số dòng kế cận Vì vậy, đề tài sẽ căn cứ đồng thời vào nhiều chỉ tiêu và sẽ chọn 2 – 3 dòng tốt hơn chứ không nhất thiết chỉ chọn một dòng tốt nhất dựa trên sự khác biệt có hay không có ý nghĩa của các chỉ tiêu so sánh bằng phương pháp thống kê

Trang 13

Chương 2

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Các công trình nghiên cứu trong nước

2.1.1 Khảo nghiệm loài

Chi Bạch đàn rất đa dạng, phân thành nhiều loài khác nhau, bao gồm trên

700 loài phân bố chủ yếu ở Australia, trong đó trên 50 loài đã được khảo nghiệm tại Việt Nam Đây là con số khá lý tưởng cho các nhà lâm nghiệp nghiên cứu về loài này so với nhiều loài nhập nội khác Với biên độ sinh thái rộng của Bạch đàn, các nhà nghiên cứu đã tìm ra mức độ phù hợp nhất định của từng loài trên từng vùng

Tại Việt Nam, cho đến trước những năm 1970, đã có trên 50 loài Bạch đàn được khảo nghiệm và từ đó đến nay đã có hàng chục loài được khảo nghiệm trên diện rộng với khá nhiều xuất xứ làm cơ sở cho chọn loài và xuất xứ sinh trưởng nhanh phục vụ trồng rừng đại trà

Vào những năm 1960, riêng ở miền Nam có 52 loài Bạch đàn đã được khảo nghiệm cho vùng cao Lâm Đồng tại 2 địa điểm là Lang Hanh (độ cao 900 – 1.000

m) và Mang Linh (độ cao 1.500 m), trong đó có nhiều loài cung cấp gỗ lớn như E grandis, E microcorys, E obliqua, E saligna, E viminalis (Nguyễn Hoàng Nghĩa

và ctv, 1993)

Theo Lê Đình Khả (1996), khảo nghiệm cho 9 loài gồm: E urophylla, E cloeziana, E tereticornis, E camaldulensis, E brassiana, E exserta, E grandis, E microcorys, E pellita kết quả cho thấy các loài Bạch đàn thuộc nhóm sinh trưởng nhanh; ba loài E tereticornis, E camaldulensis, E brassiana thích hợp cho các

vùng thấp của các tỉnh Nam Bộ

Trang 14

2.1.2 Khảo nghiệm xuất xứ

Khảo nghiệm xuất xứ được tiến hành với nhiều xuất xứ trên nhiều dạng lập địa khác nhau Ở Việt Nam với địa hình trải dài, biên độ khí hậu và địa hình thay đổi rộng, trong đó diện tích đất lâm nghiệp lẫn sỏi đá nghèo dinh dưỡng rất lớn Chính vì vậy, cần có những xuất xứ phù hợp với từng điều kiện lập địa để phát huy tiềm năng sử dụng đất, phủ xanh đất trống đồi núi trọc

Từ những năm 1980 trở lại đây, đã có gần 200 xuất xứ của nhiều loài Bạch đàn được các dự án và các tổ chức quốc tế (UNDP, FAO, SIDA, CSIRO, ) cung cấp cho khảo nghiệm và trồng rừng tại Việt Nam Sau đây là những kết quả được công bố bởi Nguyễn Hoàng Nghĩa (2000):

- Khảo nghiệm 23 xuất xứ của 9 loài Bạch đàn tại Đại Lải – Phú Thọ, một số

xuất xứ sinh trưởng tốt, song xuất xứ Richmond của loài E micrcotheca sinh trưởng quá kém nên đã bị loại bỏ Các loài khác là E grandis, E pellita và E torelliana

đều chứng tỏ không đạt yêu cầu về sinh trưởng trên lập địa khảo nghiệm, trừ xuất

xứ Atherton của E grandis Xuất xứ Bạch đàn liễu nội đã thể hiện khả năng thích

nghi cao với điều kiện vùng đồi khô cằn, khí hậu khắc nghiệt Tiếp theo là các xuất

xứ: Egon của E urophylla, Garnet của E tereticornis, Wrotham của E camaldulensis và Molloy của E tereticornis Tăng trưởng bình quân đạt 2,1 m/năm

về chiều cao và 1,6 cm/năm về đường kính ngang ngực

- Khảo nghiệm 14 xuất xứ tại Xuân Khanh – Hà Tây của 5 loài Bạch đàn trên đất vùng đồi thấp Kết quả cho thấy 2 xuất xứ đầu là Kennedy và Morehead River,

tiếp đến Petford, Gibb River và Katherine của E camaldulensis Các giống Bạch

đàn nội liên tục đứng ở vị trí cuối bảng ngay từ những năm đầu Mặc dù xuất xứ của

Atherton của E grandis chỉ thường thích hợp ở vùng cao, nhưng trong khảo nghiệm

này chúng khá tốt Tăng trưởng của xuất xứ tốt nhất đạt 2,2 m/năm về chiều cao và

3 cm/năm về đường kính

- Khảo nghiệm xuất xứ tại Thống Nhất – Quảng Ninh trên đất nghèo dinh dưỡng, không bón phân Tăng trưởng bình quân của các xuất xứ đạt mức rất thấp và

Trang 15

không thể đem lại lợi ích như mong đợi Kết quả các lô hạt Petford và Mary river là những xuất xứ dẫn đầu

- Khảo nghiệm 9 xuất xứ của 2 loài Bạch đàn trắng tại Đại Huệ – Nghệ An trên lập địa nghèo dinh dưỡng có phân bón lót Kết quả tăng trưởng đạt 1,6 cm/năm

về đường kính và 1,7 m/năm về chiều cao

- Khảo nghiệm cho 30 xuất xứ của 6 loài Bạch đàn tại Quảng Trị Kết quả cho thấy các xuất xứ có triển vọng của khu vực này là Katherine, Gibb river,

Lembata của E urophylla, 4 xuất xứ Helenvale, Woondum, Paluma và Maitland của E cloeziana Tăng trưởng chiều cao đạt yêu cầu (từ 2,0 m đến 2,4 m/năm), song

tăng trưởng đường kính ngang ngực chưa thoả mãn (chỉ đạt từ 1,4 đến 1,7 cm/năm)

- Khảo nghiệm 10 xuất xứ của 2 loài Bạch đàn trắng, lấy xuất xứ nội địa làm đối chứng tại Trảng Bom – Đồng Nai Kết quả cho thấy xuất xứ Petford có chiều cao xếp thứ 2, song lại chỉ xếp thứ 7 về thể tích và không được đưa vào danh sách 3 xuất xứ trội nhất của khảo nghiệm Các xuất xứ đầu bảng là Morehead river và

Katherine của E camaldulensis, Black mt của E tereticornis Kết quả tăng trưởng

bình quân 3,0 m/năm về chiều cao và 2,5 cm/năm về đường kính

- Khảo nghiệm 12 xuất xứ của E.camaldulensis và một xuất xứ của E tereticornis tại La Ngà – Đồng Nai Kết quả tăng trưởng bình quân của xuất xứ đầu

bảng đạt trên 3 m/năm về chiều cao và 2,5 cm/năm về đường kính Các xuất xứ dẫn đầu là Gibert river, Mt carbine và Petford Còn Bạch đàn nội Nghĩa Bình xếp ở cuối bảng

- Khảo nghiệm 8 xuất xứ của 2 loài Bạch đàn trắng tại Sông Mây – Đồng Nai Kết quả là 3 xuất xứ Kennedy, Katherine và Morehead river có triển vọng cho gây trồng ở vùng này vì tăng trưởng khá (2,6 m/năm cho chiều cao và 1,7 cm/năm cho đường kính) và khả năng kháng bệnh cao hơn Petford

- Khảo nghiệm 18 xuất xứ của 7 loài tại Bàu Bàng – Bình Dương Các xuất

xứ đầu bảng là Morehead river, Mt carbine và Katherine của E camaldulensis; Jackey của E brassiana, Mt lewotobi của E urophylla; còn bạch đàn trắng Nghĩa

Trang 16

Bình sinh trưởng kém nhất Tăng trưởng các xuất xứ đạt 1,6 cm/năm về đường kính; 1,7 m/năm về chiều cao

- Khảo nghiệm xuất xứ tại Tân Tạo – TP Hồ Chí Minh trên đất phèn, sinh

trưởng tốt nhất là Oro bay, Sirinumu sogeri plat của E tereticornis, Kennedy river

và Petford của E camaldulensis Nhìn chung, E brassiana và E alba không bị bệnh và E tereticornis bị bệnh nhẹ

- Khảo nghiệm 15 xuất xứ tại Kiên Giang Các xuất xứ trội là Kennedy river, Kupiano, Petford, Wrotham và lô hạt giống nội địa của Tân Tạo Mức độ tăng trưởng rất khả quan trong 3 năm đầu với 3,1 cm/năm về đường kính và 2,6 m/năm

về chiều cao của xuất xứ Kennedy river

- Khảo nghiệm 23 xuất xứ của 7 loài trong đó có loài cho vùng cao E grandis, E saligna tại Lang Hanh – Lâm Đồng Sau 7 năm các xuất xứ trội gồm 3 xuất xứ của E grandis (Paluma, Mount lewis và lô hạt địa phương Đà Lạt), 1 xuất

xứ của E tereticornis là Mt Garnet và Gibb river của E camaldulensis Tăng

trưởng các xuất xứ ở mức kém (1,7 m/năm cho chiều cao và 1,7 cm/năm cho đường kính)

- Khảo nghiệm hậu thế 155 gia đình của 2 loài Bạch đàn E camaldulensis và

E tereticornis tại Chơn Thành - Bình Phước; trong đó E camaldulensis 141 gia đình, E tereticornis 14 gia đình Kết quả sau 26 tháng cho thấy có sự khác biệt về

sinh trưởng, các xuất xứ bắc bang Australia sinh trưởng kém hơn các xuất xứ bắc bang Queensland, đặc biệt là Kennedy river, Laura river, Kennedy creek Tăng trưởng bình quân đường kính, chiều cao đạt 2,8 cm/năm; 3,2 m/năm

Theo Mai Đình Hồng (1996):

- Khảo nghiệm loài và xuất xứ Bạch đàn nhóm “Red gun” trong 10 loài và

xuất xứ thì cho kết quả: xuất xứ Mt Douglat của E exserta sau 7 tháng tỷ lệ sống

44,8%, đến 19 tháng chỉ còn 32,3%, trong khi các loài và xuất xứ khác đạt 89,5%

- Khảo nghiệm xuất xứ Bạch đàn E grandis cho thấy tỷ lệ sống rất thấp,

trong đó chết do cây con là 25,5%, cây chết do các nguyên nhân khác 27,7%; sau 18 tháng sinh trưởng của các xuất xứ sai khác chưa thực sự có ý nghĩa

Trang 17

Kết quả khảo nghiệm dòng dõi Bạch đàn E urophylla cho thấy một số gia

đình và cá thể có sinh trưởng tốt, tỷ lệ sống thấp chủ yếu do mối gây ra (Huỳnh Đức Nhân, 1996; Nguyễn Thái Ngọc, 1996)

Theo Nguyễn Sỹ Huống (1996), khảo nghiệm dòng vô tính loài Bạch đàn

trắng (E camaldulensis) cho thấy cây hom sinh trưởng và phát triển đồng đều hơn

cây hạt, thể hiện qua độ biến động H, D; tỷ lệ sống đạt 97%

Nhìn chung, với điều kiện khí hậu khắc nghiệt và địa hình đồi núi của nước

ta, một số xuất xứ nội địa tỏ rõ ưu thế về sinh trưởng và sức chống chịu, nhưng cũng những xuất xứ này khảo nghiệm trên dạng lập địa được cho là thuận lợi chúng lại không phát huy được thế mạnh về sinh trưởng so với xuất xứ ngoại nhập Điều này cho thấy khả năng thích nghi với hoàn cảnh của chúng Trong khi đó, những xuất xứ ngoại nhập thể hiện rất rõ về sinh trưởng nhanh so với xuất xứ nội tại những lập địa tốt hoặc với chế độ thâm canh cao

2.1.3 Đánh giá rừng trồng

Theo Hứa Vĩnh Tùng, Phạm Trọng Nhân (2001), nghiên cứu xây dựng mô

hình Bạch đàn E microcorys tại vùng Tây Nguyên cho thấy loài này chỉ đạt yêu cầu

sinh trưởng tại Lang Hanh và Cam Ly – Lâm Đồng Mô hình tại các tỉnh Gia Lai, Đắk Lắk, Kon Tum và Bình Dương đều cho sinh trưởng kém, tỷ lệ sống thấp

Rừng Bạch đàn được trồng phổ biến tại Việt Nam chủ yếu là các rừng trồng sản xuất phục vụ gỗ nguyên liệu bột giấy Chúng đã không được đánh giá bằng những con số thống kê cụ thể Mặt khác, chủ yếu là rừng trồng từ hạt, nguồn gốc giống không rõ ràng dẫn tới mức độ phân ly cá thể lớn, độ đồng đều rừng cây thấp

Tóm lại, Bạch đàn được đưa vào trồng ở Việt Nam từ trước năm 1970, ban đầu với trên 50 loài và hiện nay có khoảng gần 200 xuất xứ được nghiên cứu khảo nghiệm, trồng rừng Các nghiên cứu tập trung về khảo nghiệm loài, xuất xứ, nghiên cứu giống kháng bệnh, nghiên cứu giâm hom Bạch đàn và đã được triển khai tại hầu khắp các vùng trên toàn quốc Tại vùng Đông Nam Bộ đã triển khai một số thí nghiệm và cũng đã có những kết quả nhất định Tuy nhiên, việc nghiên cứu khảo nghiệm dòng Bạch đàn vô tính sao cho phù hợp với điều kiện sinh thái vùng, đem

Trang 18

lại năng suất cao, đáp ứng nhu cầu sử dụng gỗ nguyên liệu bột giấy hiện nay trong khu vực Đông Nam Bộ vẫn là một việc làm cần thiết

2.2 Công trình đã nghiên cứu ở nước ngoài

Bạch đàn đã được phát hiện lần đầu tiên trên thế giới bởi nhà thực vật học Sir Joseph Banks trong một chuyến đi thám hiểm năm 1770 Hiện nay, chúng đã trồng

ở nhiều nơi trên thế giới đặc biệt là ở California, Brazil, Ecuador, Colombia, Ethiopia, Morocco, Portugal, South Africa, Israel, Galicia, và Chile Tại Spain, Bạch đàn trồng làm nguyên liệu giấy thay thế loài cây bản địa Ngoài ra, nó còn phục vụ cho lĩnh vực cơ bản khác như gỗ tròn, nhiên liệu, sàn nhà, hàng rào, cung cấp mật hoa cho ong

Vào đầu những năm 1950, người ta vẫn thường cho rằng Bạch đàn là loài cây không thể nhân giống được bằng hom cành Vào cuối những năm 1954 nhân giống Bạch đàn bằng hom vẫn coi là khó, song từ đó đến nay do tìm các biện pháp thích hợp mà Bạch đàn đã trở thành loài cây nổi tiếng trong việc trồng rừng dòng vô tính vào thực tiễn sản xuất lâm nghiệp

Ngay từ năm 1961, Giordana đã giâm hom Bạch đàn E camaldulensis một

năm tuổi đạt tỷ lệ ra rễ trên 60 % Sau đó không lâu, nhà nghiên cứu người Pháp là Franelet (1963) đã đưa ra một danh sách gồm 58 loài Bạch đàn đã được thử nghiệm giâm hom và thành công ở từng mức độ khác nhau

Từ năm 1978 đơn vị trồng rừng công nghiệp của Cônggô đã triển khai trồng rừng Bạch đàn bằng cây hom trên phạm vi rộng Từ 612 dòng vô tính bạch đàn lai

tự nhiên và cây được tuyển chọn, đã có ít nhất 40 dòng (gần 7 %) được gây trồng trên 25.000 ha Cho tới năm 1987, một số rừng trồng dòng vô tính đã được khai thác

gỗ xuất khẩu sang châu Âu và các rừng trồng bằng cây hom này đã chứng tỏ sức sinh trưởng nổi bật và hứa hẹn tương lai đầy triển vọng Tăng trưởng bình quân năm

ở tuổi 6 của các dòng vô tính được chọn là 35 m3/ha/năm so với 12 m3/ha/năm ở các

lô hạt chưa được tuyển chọn và 25 m3/ha/năm của các xuất xứ được chọn Như vậy tăng thu là từ 40 % lên tới 192% tức là gần 3 lần so với rừng trồng chưa được cải thiện (dẫn nguồn Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2001)

Trang 19

Trồng rừng thành công bằng cây hom Bạch đàn ở Braxin là một điển hình hết sức khích lệ đối với nhiều nước trên thế giới Ngay từ năm 1980, Braxin đã sản

xuất hàng năm 8 triệu cây hom cho bạch đàn E.grandis (Hartney 1980), tới nay con

số này tăng lên rất nhiều Trong chương trình cải thiện cây kinh điển sử dụng các biện pháp nhân giống hữu tính đòi hỏi mất nhiều năm Theo Campinhos và Ikemori (1989) đối với Bạch đàn, một loài cây sinh trưởng nhanh có luân kỳ khai thác ngắn, thời gian cần cho mỗi chương trình chọn giống kể từ khâu khảo nghiệm loài, khảo nghiệm xuất xứ tới chọn cây trội, xây dựng vườn giống … cũng phải mất 25 năm Chính vì vậy, các nhà nghiên cứu Braxin đã phải áp dụng chương trình cải thiện giống tăng tốc bằng cách áp dụng nhân giống sinh dưỡng (giâm hom) và chọn lọc mạnh trên các rừng trồng Bạch đàn, đã cho phép tăng thu rất nhanh sinh trưởng về thể tích và cả các tính trạng gỗ khác nhằm phục vụ tốt nhất cho công nghệ sản xuất bột giấy (dẫn nguồn Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2001)

Ở Nam Phi, từ năm 1983 một đơn vị trồng rừng của công ty Moldi đã triển

khai một chương trình ứng dụng nhân giống hom Bạch đàn E.grandis vào trồng

rừng nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về bột giấy Các kết quả nghiên cứu được sử dụng tuyển chọn các dòng vô tính có năng suất cao để nhân giống hàng loạt Các dòng vô tính trong các khảo nghiệm đều sinh trưởng đồng đều hơn là cây con từ hạt Đối với cây con từ hạt, hệ số biến động về chiều cao là 11,5 %, về đường kính ngang ngực là 14,4 % và thể tích là 31,3 %, trong khi các dòng vô tính đứng đầu bảng có hệ số biến động về chiều cao nhỏ hơn 10 %, về đường kính ngang ngực

là 9 % và thể tích là 20 % (dẫn nguồn Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2001)

Đã có khoảng trên 200 loài Bạch đàn đã được thử nghiệm ở Trung Quốc và tới nay đã có tới khoảng 400.000 ha rừng trồng Bạch đàn ở vùng nhiệt đới và á

nhiệt đới Trung Quốc, trong đó có 3 loài được trồng rộng rãi nhất là E exerta, E citriodora và E globuius, còn 3 loại E camaldunlensis, E tereticornis và E urophylla đứng vị trí thứ 2 (dẫn nguồn Nguyễn Hoàng Nghĩa, 1993)

Các chương trình nghiên cứu về Bạch đàn ở nước ngoài chủ yếu do Trung tâm nghiên cứu nông nghiệp quốc tế Australia (CSIRO) thực hiện như:

Trang 20

- Khảo nghiệm 30 dòng, 3 lần lặp lại, 16 cây/dòng/lặp cho 8 xuất xứ Bạch đàn tại phía tây Thailand (cách Wangsala 30 km) Kết quả cho thấy cây sinh trưởng rất tốt, tán phát triển đều và đặc biệt là không sâu bệnh hại (CSIRO, 1999)

- Nghiên cứu khảo nghiệm loài và xuất xứ Bạch đàn được thiết lập tại Nam

Souang – Laos cho 2 loài Bạch đàn E camaldulensis và E tereticornis Kết quả cho

thấy có sự khác biệt về sinh trưởng, các xuất xứ bang bắc Australia sinh trưởng kém hơn các xuất xứ bắc bang Queensland (CSIRO, 1999)

- Năm 1996, chương trình nghiên cứu bệnh Bạch đàn bắt đầu triển khai ở Thailand, Việt Nam và Australia Kết quả điều tra tại 8 vùng phía tây của Thailand

năm 1997 cho thấy, các rừng trồng đều bị bệnh đốm lá do nấm Cryptosporiopsis eucalypti gây ra, đặc biệt là ở những khu rừng thuần loài nhân giống vô tính từ một

dòng Nghiên cứu còn chỉ ra mức độ bị hại của các dòng Bạch đàn cũng khác nhau theo các dòng vô tính Các triệu chứng bệnh đã tìm thấy là đốm lá, cháy lá, và bệnh

thối rễ Các loại nấm gây ra đốm, cháy lá là Cryptosporiopsis eucalypti, Cercospora spp và Colletotrichum spp, trong đó Cryptosporiopsis eucalypti gây ra cả bệnh về lá

và rễ (Kenneth và ctv, 2003)

Tại vùng Big Tree Reserve, Styx Valley, phía nam Tasmania có 10 cây Bạch

đàn cao nhất, chiều cao tối thiểu 85 m, cây cao nhất lên tới 92 m thuộc loài E regnans; hầu hết các cây này đều vào khoảng 400 tuổi (J.E Hickey và ctv, 2000)

Theo nghiên cứu loài Bạch đàn (Robert L.Santos, 1997) cho thấy loài này giai đoạn còn nhỏ rất cần lượng nước thường xuyên, cụ thể những cây mọc gần bờ sông suối cho sinh trưởng tốt hơn Cũng theo tài liệu công bố thì Bạch đàn có tới trên 700 loài, chủ yếu từ dạng cây bụi đến cây gỗ lớn; vì vậy mục đích sử dụng của chúng cũng rất đa dạng: làm được liệu (tinh dầu), bột giấy, cây bóng mát, cảnh quan, phấn hoa lấy mật, lưu giữ nguồn nước, chống xói mòn, đóng thuyền, làm cầu,

ngoài ra còn làm thức ăn cho loài Aborigines

Kết quả nghiên cứu xuất xứ loài E brassiana 13 năm tuổi tại Planaltina,

Federal District, Brazil (Vicente và ctv, 1995) cho kết xuất xứ 10976 từ Laura, Queensland có chiều cao trung bình lớn nhất 13,6 m, trữ lượng 119 m3/ha và lượng

Trang 21

tăng trưởng hàng năm 9,0 m3/ha/năm, tỷ lệ sống thấp nhất đạt 82% Tại vùng này

sinh trưởng của E brassiana kém hơn so với các loài Bạch đàn khác

Trong vùng khô hạn dọc theo những hẻm núi Bạch đàn sinh trưởng chậm, thân có nhiều u bướu, cong keo, tán rộng nhưng thấp Ngược lại, vùng có tầng đất sâu, độ ẩm tốt cây con phát triển mạnh tạo ra đám rừng thân thẳng, đặc biệt đối với

E camaldunensis là một trong những loài sinh trưởng nhanh nhất có thể đạt tới 12 –

15 m chỉ trong một vài năm

Nhân giống Bạch đàn thường sử dụng qua hai hình thức hữu tính từ hạt và vô tính như giâm hom cành, chiết, nuôi cấy mô Tuy nhiên, tùy theo đặc điểm loài cũng như điều kiện vùng khí hậu mà người ta chọn những phương pháp nhân giống

cụ thể có hiệu quả cao Theo Cunningham et al (1981), Bạch đàn tái sinh rất mạnh với mật độ dày đặc ở những vùng sau lũ ngập Hạt Bạch đàn di chuyển được một phần nhờ gió, một phần ít rơi vào mùa đông, còn phần lớn rơi vào mùa xuân và hè (House, 1997) McEvoy (1992) đã phát hiện sau khi hạt rơi xuống nước sau 17 ngày nảy mầm tốt Chính vì vậy tác giả cho rằng vùng nước sau lũ ngập đã thúc đẩy như

là sự phân tán cây Tỷ lệ hạt sống sót phụ thuộc rất lớn vào điều kiện thời tiết (theo mùa) và chế độ nước ngập

Rừng trồng Bạch đàn tại California đã trồng hàng ngàn hecta từ đầu những năm 1900 với hy vọng cung cấp nguồn gỗ tròn nguyên liệu mới cho xây dựng và sản phẩm nội thất Ngoài ra ở một số nơi còn trồng phục vụ băng cản gió ở các đại

lộ cũnh như các trang trại, làm cây bóng mát, cây trang trí trong thành phố Tại Brazil trồng Bạch đàn năm 1910 phục vụ làm gỗ tròn và củi đốt, chúng thích nghi tốt với điều kiện môi trường Brazil Hiện nay đã có khoảng 5 triệu hecta rừng trồng đáp ứng rất tốt cho công nghiệp giấy sợi, than củi, băng cản gió và giúp giảm áp lực khai thác gỗ tròn trong rừng tự nhiên Tại Ethiopia, Bạch đàn được trồng khoảng năm 1894, 1895 bởi vì nạn phá rừng tự nhiên do nhu cầu gỗ củi, nên người ta đã trồng Bạch đàn với đặc điểm sinh trưởng rất nhanh, kỹ thuật chăm sóc đơn giản, và tái sinh chồi mạnh để đáp ứng lại sự thiếu hụt nhiên liệu

Trang 22

Tóm lại, nguồn gốc chủ yếu của Bạch đàn ở Australia, vì vậy các nghiên cứu

về chúng đã được thực hiện rất thành công Tuy nhiên, khi nhập nội loài Bạch đàn vào các nước khác, trong đó có Việt Nam, do điều kiện môi trường thay đổi, chúng cần có những nghiên cứu, đánh giá phù hợp hơn cho từng vùng

2.3 Cơ sở khoa học chọn lọc cây trội

2.3.1 Biến dị cá thể

Trong lâm nghiệp, việc lựa chọn các tính trạng của cây làm mục tiêu của cải thiện giống cũng như việc lựa chọn phương pháp chọn lọc thích hợp đối với tính trạng cần cải thiện sẽ được tiến hành một cách có hiệu quả khi đã hiểu được bản chất di truyền của tính trạng đó

Biến dị cá thể là sự phân hoá về mặt di truyền giữa các cá thể trong cùng một quần thể và được thể hiện ra kiểu hình Biến dị cá thể có thể do điều kiện sống gây lên thì biến dị này không có ý nghĩa về mặt di truyền Vì vậy, người ta chú ý đến biến dị cá thể sống trong cùng một điều kiện hoàn cảnh mà nó được tạo bởi nhân tố

di truyền và đây chính là cơ sở cho chọn lọc cây trội

Trong các loại biến dị đó, người ta thường chú ý trước tiên đến các biến dị có liên quan đến năng suất của cây trồng như tốc độ sinh trưởng, dạng tán cây, thân cây, khả năng tỉa thưa tự nhiên Những biến dị cá thể, nhất là những biến dị có liên quan đến sản lượng cây trồng là khó phát hiện, những biến dị này gây nên bởi những tính trạng số lượng do sự tác động của gen Vì vậy, phải có lượng quan sát

đủ lớn, nếu tìm ra những biến dị tốt thì sẽ có ý nghĩa kinh tế lớn và đỡ tốn kém hơn con đường tạo ra biến dị

2.3.2 Cơ sở di truyền của các tính trạng chủ yếu trong chọn giống cây rừng

Các yếu tố gây nên biến dị giữa các cá thể, quần thể (kiều hình P) có thể tách làm hai nguồn: Nhân tố di truyền G và điều kiện hoàn cảnh E

P = G +E Các nhân tố này có thể tự biến đổi để gây nên sự khác biệt giữa các cá thể, trong đó sự biến đổi về môi trường có thể là sự biến đổi về độ dày tầng đất, độ ẩm,

độ phì của tầng đất mặt từ cây này đến cây khác trong một khu rừng Các nhân tố di

Trang 23

truyền này lại được thay đổi theo bộ gen được thu nhận từ bố mẹ của chúng thông qua sinh sản hữu tính

Trong công tác chọn giống nói chung, cũng như công tác chọn giống cây rừng nói riêng thì những biến dị cá thể nào được gây nên bởi các yếu tố di truyền (biến dị di truyền) mới thực sự có ý nghĩa, còn các biến dị gây nên bởi các yếu tố hoàn cảnh (thường biến) thì nó chỉ là kết quả phản ứng của cơ thể trước điều kiện sống, nó không được giữ lại ở hậu thế qua sinh sản hữu tính hay vô tính

Trong trồng rừng làm nguyên liệu chế biến mục tiêu chính là lấy gỗ Những tính trạng chi phối các loại sản phẩm nói trên là những tính trạng số lượng (trong trường hợp này biến dị cá thể là biến dị các tính trạng số lượng), chúng chịu sự kiểm soát đa gen với mức độ biểu hiện kiểu hình của tính trạng phụ thuộc chặt chẽ vào sự có mặt của số lượng gen hoạt tính (số lượng gen trội hay số lượng cặp gen trội trong kiểu gen) Những cá thể có biến dị tốt (cây trội) sẽ là những cây mà kiểu gen của nó có chứa số lượng gen trội hoạt tính cao nhất Số lượng cá thể biến dị này luôn luôn chiếm một tỷ lệ nhất định trong quần thể thế hệ lai (thu phấn chéo)

Cây trội là vốn quý trong cải thiện giống cây rừng, cây trội được tuyển chọn với độ vượt trội lớn sẽ là đối tượng cung cấp nguồn hạt giống có phẩm chất di truyền được cải thiện ở mức độ thấp cho sản xuất trên quy mô lớn Cây trội được chọn lọc mới được đánh giá thông qua kiểu hình, mà kiểu hình thể hiện sự tác động của kiểu gen với tuổi cây và điều kiện hoàn cảnh Trong trường hợp rừng đồng tuổi thì một cây được coi là trội có thể do tác động của kiểu gen là chính, trong trường hợp này cây trội dễ dàng di truyền các đặc tính tốt cho đời sau, còn khi cây trội do điều kiện hoàn cảnh tạo nên ví dụ như (cây mọc ở bìa rừng, cây mọc gần đường đi) thì các cây trội này khó có thể di truyền các đặc tính tốt cho đời sau

Sau khi chọn lọc được cây trội thì công việc tiếp theo của một chương trình cải thiện giống là phải đánh giá các đặc tính tốt của nó cho đời sau bằng khảo nghiệm hậu thế (cây mô, cây hom), được gọi là khảo nghiệm dòng vô tính, thông qua khảo nghiệm hậu thế để xác định những cây trội có khả năng di truyền các đặc

Trang 24

tính tốt cho đời sau (cây ưu việt) Những cá thể nào không có khả năng di truyền các đặc tính tốt cho đời sau thì cần phải loại bỏ ngay khỏi chương trình chọn giống

Sau khi đã khảo nghiệm và được đánh giá là những cây trội có khả năng di truyền các đặc tính tốt cho đời sau, thì cây trội sẽ là đối tượng cung cấp nguồn vật liệu sinh dưỡng cho các vườn giống hoặc cho công nghệ mô hom, để tạo ra hàng loạt các bản sao giống nhau trên qui mô công nghiệp phục vụ cho trồng rừng các dòng vô tính cao sản

2.3.3 Ý nghĩa của chọn lọc cây trội

Chọn lọc cây trội là khâu có tính chất quyết định trong một chương trình cải thiện giống cây rừng, những cá thể trội được tuyển chọn và được đánh giá qua quá trình khảo nghiệm, những tính trạng trội là do gennotip gây nên thì đây là một nguồn vật liệu rất đa dạng cho công tác chọn giống, vì vậy muốn tăng năng suất của rừng trồng thì phải tiến hành chọn lọc cây trội

Các cây trội đã được chọn có thể dùng để lấy giống phát triển trực tiếp vào sản xuất hoặc phối hợp với các phương pháp chọn giống như lai giống gây đột biến thì sẽ mang lại hiệu quả cao hơn Khi có dòng cao sản tốt thì công việc tiếp theo là phải lưu trữ, bảo tồn nguồn gen hoặc nhân giống hàng loạt trên qui mô công nghiệp bằng mô hom để phục vụ trồng rừng các dòng vô tính trên quy mô lớn

2.4 Nhận định về các kết quả nghiên cứu có liên quan

- Các nghiên cứu khảo nghiệm loài và xuất xứ ở Việt Nam được tiến hành trên nhiều vùng sinh thái với nhiều dạng lập địa khác nhau Kết quả đã tuyển chọn

ra được một số loài, xuất xứ phù hợp cho từng vùng, cụ thể: vùng Đông Bắc Bộ có

4 xuất xứ của 3 loài, vùng Bắc Trung Bộ có 3 xuất xứ của E urophylla, vùng cao Lâm Đồng có 5 xuất xứ của 3 loài, vùng Tây Nam Bộ có 5 xuất xứ, vùng Đông

Nam Bộ có 9 xuất xứ của 4 loài

- Trong các loài và xuất xứ được chọn, có những loài và xuất xứ cùng ở trên nhiều vùng sinh thái Với những kết quả này, chúng ta có thể thấy rõ vùng nào nên trồng loài nào và xuất xứ nào là phù hợp, để từ đó đưa ra những định hướng cụ thể

Trang 25

hơn khi quyết định nghiên cứu sâu hơn nữa cho từng vùng cũng như để phục vụ

trồng rừng sản xuất

- Mô hình rừng trồng trong thực tế có thể nhiều hơn, nhưng để đánh giá chúng về mặt thống kê học thì có rất ít tài liệu công bố Trong số tài liệu đã công bố này, kết quả mới chỉ đưa ra được cho một số xuất xứ của ba loài trên hai vùng mà thôi

- Riêng nghiên cứu Bạch đàn ở nước ngoài chủ yếu do Trung tâm nghiên cứu nông nghiệp quốc tế Australia thực hiện, và tập trung vào lĩnh vực sâu bệnh là chính

Qua kết quả nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Nghĩa (2000) cho thấy rừng trồng Bạch đàn từ hạt đưa lại độ đồng đều kém, năng suất thấp Nhằm từng bước cải thiện chất lượng rừng này, cần chọn và trồng rừng bằng dòng tốt để đưa năng suất cũng như chất lượng rừng lên cao hơn

Dựa vào kết quả nghiên cứu xuất xứ của Trung tâm khoa học sản xuất Lâm nghiệp Đông Nam Bộ, đề tài đã tiến hành các phương pháp điều tra, đánh giá và so sánh sinh trưởng về một số chỉ tiêu định lượng nhằm chọn ra một số xuất xứ tốt tại Trạm thực nghiệm Lâm nghiệp Bàu Bàng, huyện Bến Cát để chọn ra dòng cụ thể phù hợp cho vùng này Bên cạnh đó, tiêu chuẩn chọn cây trội đối với loài Bạch đàn chưa có mà chỉ dựa vào tiêu chuẩn chung cho cây rừng Vì vậy đề tài cũng đề xuất một số chỉ tiêu cụ thể cho loài này

Trang 26

Chương 3

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành trên 5 dòng Bạch đàn lai nhân tạo, ký hiệu U29E1, U29E2, U29U26, U30E5, GU Các dòng Bạch đàn lai này được trồng bằng cây hom, và trồng từ năm 2006

+ UE: là lai giữa Bạch đàn Eucalyptus urophylla x Eucalyptus exserta

+ GU: là lai giữa Bạch đàn Eucalyptus grandis x Eucalyptus urophylla

3.1.2 Địa điểm nghiên cứu

Trạm thực nghiệm Lâm nghiệp Bàu Bàng (180 ha) thuộc quản lý của Trung tâm Khoa học sản xuất Lâm nghiệp Đông Nam Bộ đặt tại xã Lai Uyên, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương

a Vị trí địa lý:

- Trạm thực nghiệm Lâm nghiệp Bàu Bàng nằm trên trục quốc lộ 13, cách thị

xã Thủ Dầu Một 40 km theo hướng Thủ Dầu Một – Chơn Thành, có vị trí địa lý:

11015 độ vĩ Bắc, 106038 độ kinh Đông, cao 8 – 10 m so với mực nước biển

Chịu ảnh hưởng toàn bộ khí hậu nhiệt đới gió ẩm vùng Đông Nam Bộ: mỗi năm có 2 mùa mưa và khô rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 và mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ bình quân hàng năm là 27oC, lượng mưa trung bình hàng năm là 2000 mm Lượng mưa tập trung vào tháng 7,8,9 trong năm, mùa khô mực nước ngầm xuống thấp từ 7 – 8 m so với mặt đất

Trang 27

Toàn bộ diện tích rừng trồng có địa hình bằng phẳng, đất xám phù sa cổ đã bị thoái hóa và có tầng mặt rất sâu nhưng nghèo chất dinh dưỡng, lớp trên có thành phần cơ giới nhẹ nên dễ bị trôi chảy bạc màu, nhưng phía dưới là tầng sét nặng làm cho đất vừa dễ bị khô lại vừa dễ bị ngập úng, đôi chỗ gặp ống phèn sắt ở tầng đất sét Thực bì chủ yếu là cây cỏ và dây leo

b Dân sinh kinh tế:

Dân cư phần lớn làm nghề nông nghiệp, cạo mủ cao su và một số kinh doanh buôn bán nhỏ Dân trong khu vực chủ yếu chuyển từ các nơi khác đến, đời sống kinh tế tương đối ổn định

c Hệ thống giao thông:

Hệ thống giao thông trong khu vực rất thuận lợi, nằm cạnh đường quốc lộ

13, ngoài ra còn có hệ thống đường trong các lô, do đó rất thuận tiện cho việc đi lại

Trang 28

3.2 Nội dung nghiên cứu

Trên cơ sở mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra, những nội dung nghiên cứu được thực hiện trong khóa luận này bao gồm:

(1) Đánh giá và tuyển chọn cây trội Bạch đàn

- Xác định chỉ tiêu và tiêu chuẩn cho cây trội

- Cách thực hiện và kết quả chọn cây trội ở Bạch đàn

(2) Khảo nghiệm các dòng vô tính tại khu vực nghiên cứu

- So sánh và đánh giá sinh trưởng về đường kính (D1,3) giữa các dòng

- So sánh và đánh giá sinh trưởng về chiều cao (Hvn) giữa các dòng

- So sánh và đánh giá sinh trưởng về thể tích (V) giữa các dòng

(3) Đánh giá dòng trồng rừng phù hợp cho vùng Đông Nam Bộ

- Xác định chỉ tiêu và tiêu chuẩn chọn lọc D1,3, Hvn của các dòng nhằm tìm ra dòng tốt nhất phục vụ trồng rừng

- So sánh và chọn ra 2 – 3 dòng phù hợp nhất cho trồng rừng dòng vô tính

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp đánh giá và chọn lọc cây trội

Tại Việt Nam, hiện nay chưa có tiêu chuẩn chọn cây trội cụ thể cho loài Bạch đàn Vì vậy, ở đề tài này các chỉ tiêu và tiêu chuẩn chọn lọc cây trội được thực hiện dựa theo tiêu chuẩn quy định chung đối với cây rừng của Bộ Lâm nghiệp cũ (nay là Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn ban hành năm 1994)

- Tiêu chuẩn về vượt trội: Cây trội là cây có đường kính (D1,3), chiều cao vút ngọn (Hvn) vượt 20 cây trung bình xung quanh tối thiểu là 2S (2 lần độ lệch tiêu chuẩn) Để đánh giá cây trội một cách chính xác, đề tài này đã dùng chỉ tiêu độ vượt trội theo độ lệch chuẩn để so sánh cây trội so với những cây xung quanh

Độ vượt trội được tính bằng công thức:

Trang 29

Trong đó:

X – Giá trị điều tra (D1,3 , Hvn) của cây trội

X – Giá trị trung bình (D1,3 , Hvn) của ô điều tra

S – Độ lệch chuẩn (D1,3 , Hvn) của ô điều tra

- Tiêu chuẩn về hình thái:

+ Độ thẳng thân cây

+ Mức độ u bướu thân cây

+ Mức độ tròn đều của thân cây

+ Tán cây + Độ lớn cành chính

+ Góc phân cành + Tình hình sâu bệnh

* Các bước chính trong việc chọn lọc cây trội:

- Thám sát sơ bộ: Thám sát sơ bộ bằng cách quan sát và điều tra nhanh khu rừng trồng hiện có, cách 1 hàng cây quan sát 1 hàng

- Chọn lọc cây trội: Tiến hành điều tra, đo đếm 20 cây xung quanh, đánh giá

và xác định cây đáp ứng các chỉ tiêu trên để chọn làm cây trội lấy giống Cây trội chọn được đánh dấu theo số thứ tự bằng ký hiệu riêng

- Cho điểm cây trội theo Quy phạm kỹ thuật xây dựng rừng giống và vườn giống (của Bộ Lâm nghiệp (cũ), 1994):

Trang 30

Tròn đều 3 điểm Hơi lệch 2 điểm

Gpc = 61 – 900 5 – 7 điểm

Gpc = 31 – 600 3 – 4 điểm

Gpc = 0 – 300 0 – 2 điểm + Khỏe mạnh, sâu bệnh

* Đề xuất tiêu chuẩn riêng để xác định cây trội Bạch đàn:

- Về tiêu chuẩn vượt trội: Cây trội là cây có đường kính (D1,3), chiều cao vút ngọn (Hvn) vượt 20 cây trung bình xung quanh tối thiểu là 2S (độ lệch tiêu chuẩn) – giống như quy định chung đối với loài khác

- Về tiêu chuẩn hình thái: Đề tài này đề xuất bỏ bớt một số tiêu chuẩn về hình thái vì tiêu chuẩn này khó xác định chính xác hơn so với chỉ tiêu định lượng, ngoài ra chúng dễ giống nhau ở các cây trong loài Bạch đàn

Trang 31

3.3.2 Phương pháp khảo nghiệm dòng vô tính

- Khảo nghiệm tại Trạm thực nghiệm Lâm nghiệp Bàu Bàng, huyện Bến Cát, Bình Dương trồng năm 2006 bao gồm 5 dòng, ký hiệu là: Dòng 1: U29E1 (gồm 1.1, 1.2, 1.3), Dòng 2: U29E2 (2.1, 2.2, 3.3), Dòng 3: U29U26 (5.1, 5.2, 5.3), Dòng 4: U30E5 (7.1, 7.2, 7.3), Dòng 5: GU (10.1, 10.2, 10.3) Thí nghiệm với 4 lần lặp lại,

30 cây/dòng/lần lặp, cự ly trồng 3 m x 3 m

- Các khảo nghiệm trên đều thiết kế trên phần mềm Alpha+ theo kiểu RCBD (kế thừa số liệu trồng thí nghiệm của Trung tâm khoa học sản xuất Lâm nghiệp Đông Nam Bộ)

- Tiêu chuẩn cây con đem trồng khảo nghiệm là cây hom được tạo trong bầu đất, cây có chiều cao từ 25 – 30 cm, đường kính cổ rễ từ 0,4 – 0,5 cm; kích thước của túi bầu polyetylen 8 cm x 14 cm, cây phát triển đồng đều, lá xanh đậm, rễ đều

- Kích thước hố trồng 40 cm x 40 cm x 40 cm, có sử dụng phân bò để bón lót 0,5 kg/hố trước khi trồng 15 ngày

- Trồng xong, sau 2 tuần trồng dặm lại Sau 1 tháng (tháng 9) làm cỏ theo hàng, vun gốc đường kính 0,8 – 1 m, bón thúc phân 0,5 NPK/gốc Sau 2 tháng (tháng 10) làm cỏ, cắt dây leo lần 2, cày bằng chảo 7 hai đường theo hàng cây úp vào gốc

Đo số liệu vào tháng 2 (sau 6 tháng trồng), chỉ tiêu đo cây là: chiều cao vút ngọn (Hvn), đường kính 1,3 m (D1,3) và tỉ lệ sống

Năm thứ 2: Tháng 6 – 7: chăm sóc lần 1, dẫy cỏ theo hàng, vun gốc rộng 1

m, bón 0,05 kg NPK/gốc, tỉa cành, cắt dây leo Đến tháng 9 – 10 chăm sóc lần 2,

cày chăm sóc và chống cháy bằng chảo 7, theo hai đường úp vào gốc cây

Đo số liệu vào tháng 2: chỉ tiêu đo cây là: chiều cao vút ngọn (Hvn), đường kính 1,3 m (D1,3) và tỉ lệ sống

Năm thứ 3: Tháng 8 – 9 dẫy cỏ theo hàng, vun gốc rộng 1 m, bón 0,05 kg NPK/gốc, cày chăm sóc và chống cháy bằng chảo 7, theo 2 đường úp vào gốc cây

Đo số liệu vào tháng 8: chỉ tiêu đo cây là: chiều cao vút ngọn (Hvn), đường kính 1,3 m (D1,3) và tỉ lệ sống

Trang 32

Năm thứ 4: Tháng 9 dẫy cỏ theo hàng, vun gốc rộng 1 m, cày chăm sóc và chống cháy bằng chảo 7, theo 2 đường úp vào gốc cây

Đo số liệu vào tháng 4: chỉ tiêu đo cây: chiều cao vút ngọn (Hvn), đường kính 1,3m (D1,3) và tỉ lệ sống

- Xác định và lựa chọn chỉ tiêu để đánh giá: Các chỉ tiêu để đánh giá là tỷ lệ cây sống, D1,3, Hvn, ngoài ra khi cây từ tuổi 4 còn tính theo chỉ tiêu tổng hợp của D1,3, Hvn là thể tích thân cây (V) cho dòng Lựa chọn dòng bằng cách phân tích phương sai cho tất cả các thí nghiệm và so sánh xếp hạng

Trang 33

Hình 3.1 Hình ảnh các dòng Bạch đàn lai tại khu vực nghiên cứu

Trang 34

SƠ ĐỒ RỪNG THÍ NGHIỆM BẠCH ĐÀN LAI TẠI BÀU BÀNG – KHU VỰC NGHIÊN CỨU

Ngày đăng: 16/03/2019, 11:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w