1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số đặc trưng tu tập của Hệ phái Khất Sĩ từ khởi đầu cho đến hiện nay (Luận văn thạc sĩ)

95 204 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 1,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số đặc trưng tu tập của Hệ phái Khất Sĩ từ khởi đầu cho đến hiện nayMột số đặc trưng tu tập của Hệ phái Khất Sĩ từ khởi đầu cho đến hiện nayMột số đặc trưng tu tập của Hệ phái Khất Sĩ từ khởi đầu cho đến hiện nayMột số đặc trưng tu tập của Hệ phái Khất Sĩ từ khởi đầu cho đến hiện nayMột số đặc trưng tu tập của Hệ phái Khất Sĩ từ khởi đầu cho đến hiện nayMột số đặc trưng tu tập của Hệ phái Khất Sĩ từ khởi đầu cho đến hiện nayMột số đặc trưng tu tập của Hệ phái Khất Sĩ từ khởi đầu cho đến hiện nayMột số đặc trưng tu tập của Hệ phái Khất Sĩ từ khởi đầu cho đến hiện nayMột số đặc trưng tu tập của Hệ phái Khất Sĩ từ khởi đầu cho đến hiện nayMột số đặc trưng tu tập của Hệ phái Khất Sĩ từ khởi đầu cho đến hiện nayMột số đặc trưng tu tập của Hệ phái Khất Sĩ từ khởi đầu cho đến hiện nayMột số đặc trưng tu tập của Hệ phái Khất Sĩ từ khởi đầu cho đến hiện nay

Trang 1

TRẦN THỊ HIỀN

(Thích nữ Liên Lý)

MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG TU TẬP CỦA HỆ PHÁI KHẤT SĨ

TỪ KHỞI NGUYÊN CHO ĐẾN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÔN GIÁO HỌC

TP Hồ Chí Minh, năm 2018

Trang 2

TRẦN THỊ HIỀN

(Thích nữ Liên Lý)

MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG TU TẬP CỦAHỆ PHÁI KHẤT SĨ

TỪ KHỞI NGUYÊN CHO ĐẾN NAY

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự

hướng dẫn của TS Nguyễn Thành Danh Các đoạn trích dẫn và số liệu trong

luận văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu

biết của tôi Luận văn là trung thực, chưa được ai công bố trong bất cứ công

trình nào khác

TP Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 8 năm 2018

Tác giả luận văn

TRẦN THỊ HIỀN

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn này là thành quả học tập, nghiên cứu của chúng con tại khoa Tôn giáo học - Học viện Khoa học xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam , chi nhánh tại Tp HCM

Lời đầu tiên con xin tri ân Học viện Khoa học xã hội - Khoa Tôn giáo học, nhà trường chi nhánh tại Tp HCM cùng Quý thầy cô phụ trách khoa Tôn giáo tại phía Nam đã hướng dẫn tận tình, truyền trao những kiến thức, kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian con học tại trường

Và con cũng thành tâm đê đầu đảnh lễ HT Thích Đồng Bổn và TT Thích Đồng Văn đã hết lòng hỗ trợ cho con trong thời gian học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Cũng thành tâm đảnh lễ cố Sư Bà và Quý sư cô ở Tịnh Xá Ngọc chơn đã hết lòng hỗ trợ cho con trong suốt thời gian tạm trú tại Tịnh Xá, trong mọi phật sự để con an tâm mà học tập và hoàn thành luận văn

Cuối cùng con xin thành kính tri ân quý Ni sư, sư cô và một số đạo hữu phật

tử gần xa đã hỗ trợ cho con trong việc tìm hiểu nghiên cứu trong thời gian làm đề tài luận văn

Một lần nữa con xin thành kính tri ân

TP Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 8 năm 2018

Học viên

Trần Thị Hiền

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ PHÁI KHẤT SĨ 10 1.1 Khái quát tiểu sử Tổ sư Minh Đăng Quang 10

1.2 Sự hình thành và phát triển của Hệ phái Khất sĩ 16

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM NỔI BẬC TRONG TU TẬP CỦA HỆ PHÁI KHẤT SĨ 25

2.1 Nền tảng của phương pháp tu tập: con đường Trung đạo 25

2.2 Một số nét cơ bản của phương pháp tu tập 28

2.3 Hệ Phái Khất sĩ trong giai đoạn hiện nay 49

Chương 3 MỘT SỐ THÀNH QUẢ CỦAPHƯƠNG PHÁP TU TẬP 55

3.1 Điều phục được thân, khẩu ý 55

3.2 Tinh thần lục hòa: 61

3.3 Sống trong tinh thần bình đẵng, đạo đức, biết sợ nhân quả: 62

KẾT LUẬN 65

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHẦN PHỤ LỤC

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ rất sớm thông qua đường biển từ

Ấn Độ và Trung Quốc sang Ngay từ đầu Tây lịch, truyện cổ tích đã ghi lại Chử Đồng Tử học đạo với một nhà sư Ấn Độ Tương tự, các truyền thuyết về Thạch Quang Phật và Mang Nương Phật Mẫu xuất hiện cùng với sự giảng đạo của Khâu Đà La trong khoảng thời gian 168 – 189 (trung tâm Phật giáo Luy Lâu ở nước ta lúc bấy giờ) đều nói đến quá trình giao lưu, tiếp biến Phật giáo vào nước ta

Đến đời Lý - Trần, đạo Phật tại Việt Nam bước vào giai đoạn cực thịnh,đây là thời kỳ vàng son của Phật giáo để lại dấu ấn trong dân tộc Việt Ở giai đoạn này, Phật giáo được coi là quốc giáo, ảnh hưởng, chi phối đến mọi mặt trong đời sống người dân Việt

Đến thời nhà hậu Lê Phật giáo đi vào giai đoạn suy yếu Tuy nhiên, không vì thế mà Phật giáo mất đi tinh thần “cứu nhân, độ thế” vốn có Bởi vì, mục tiêu của Phật giáo là vì “lòng thương tưởng cho đời”, vì tịnh hóa nhân gian mà Phật giáo xuất hiện Để đạt được cứu cánh đó, Phật giáo luôn thực hiện đặc tính “tùy duyên bất biến” hay tinh thần “tứ khế” (khế lý, khế cơ, khế thời, khế xứ) để hoằng truyền chánh pháp

Khế lý là nói về mặt tư tưởng, nhờ khế lý cho nên Phật giáo có trải qua biến cố thăng trầm của lịch sử và vượt thời gian, không gian Phật giáo vẫn hợp với chơn lý, vẫn luôn phong phú, sâu sắc giữ được bản chất của mình đó

là “Vị giải thoát” Khế cơ là nói về mặt lịch sử, nhờ có khế cơ mà Phật giáo

dễ dung hòa với phong tục tập quán của từng vùng miền của mỗi quốc gia, làng xã để hướng dẫn con người được an lạc về tinh thần, an tâm trong cuộc sống Do vậy, dễ thấy, ở những giai đoạn khác nhau, những tăng sĩ tinh ba của Phật Đà luôn “tùy duyên bất biến”, luôn sử dụng nhu nhuyến pháp phương

Trang 7

tiện để hoằng Pháp, độ sanh Dù khi thịnh, lúc suy, nhưng sự vận động, thích nghi của Phật giáo ở Việt Nam là minh chứng sống động cho nguyên lý ấy

Tại miền Nam Việt Nam,đầu thế kỷ XX ảnh hưởng mạnh mẽ phong trào “chấn hưng Phật giáo” do HT Khánh Hòa khởi xướng làm xuất hiện nhiều phong trào, khuynh hướng hoằng pháp cũng như tăng tài tinh ba xuất hiện đem lại sinh khí mới cho Phật giáo nước nhà Trong đó phải nói đến sự

ra đời của đạo Phật Khất sĩ Việt Nam do Tổ sư Minh Đăng Quang khai sáng

Theo Tổ sư Minh Đăng Quang, chấn hưng Phật giáo phải được đặt trên phương diện thực hành chứ không phải hô hào suông Theo Tổ sư, từng cá nhân Tăng sĩ phải ý thức trách nhiệm của mình trước sự tồn vong của đất nước và đạo pháp, phải làm một cái gì đó để đóng góp vào công cuộc chấn hưng Phật giáo nước nhà, có nghĩa là mỗi tu sĩ phải gương mẫu, nghiêm túc hành trì Giới - Định - Tuệ Tăng sĩ cần lấy Tứ ý Pháp và nếp sống Lục hòa làm nền tảng cho việc tu học Tinh thần này được nhắc tới trong“Chơn lý”:

“hãy nghĩ đến Đạo, đến Phật, đến chúng sanh phải nâng cao giới luật, đó mới là phận sự của Tăng bảo ”

Trong tinh thần chấn hưng Phật giáo nước nhà, Tổ sư đã tư duy quán chiếu, thực hành hàng ngày và vận động hàng tứ chúng cùng thực hành những giáo điều của Đức Phật để lại với ý nguyện “Nối truyền Thích Ca, chánh pháp”

Hơn hết, để đạt được mục tiêu phụng sự đạo pháp, đân tộc Tổ sư mong muốn khôi phục lại nếp sống Tăng đoàn thời xưa Vìvậy, đạo Phật Khất sĩ đã được hình thành (1946 – 1954) do Tổ sư Minh Đăng Quang khai sáng

Đạo Phật Khất sĩ tuân thủ đường lối tu tập hành Tứ ý Pháp, đi con đường Trung đạo của Bát chánh đạo, lấy giới luật làm thầy Tổ sư cho rằng, giới luật đạo Phật còn,thì Đạo Phật còn, ở đâu giới luật được trì giữ và hành trì thì đạo Phật còn sáng tỏ Vì vậy, trong những năm truyền dạy, bản thân Ngài luôn lấy Giới,Định,Tuệ làm kim chỉ namđể tu tập và chỉ dậy hàng đệ tử thực hành để làm tấm gương cho đoàn hậu tấn về sau noi theo

Trang 8

Vậy nên dù Hệ phái ra đời và phát triển trong thời gian ngắn hơn bảy mươi năm, (trong đó thời gian truyền đạo của Tổ sư Minh Đăng Quang chỉmười năm đến ngày Tổ sư vắng bóng) nhưng Hệ phái Khất Sĩ đã gây dựng được một hệ thống đồ sộ các ngôi Tịnh xá ở trong và ngoài nước Điều này lý giải, sự cuốn hút của đạo Phật Khất Sĩ không chỉ ở mục tiêu hình thành mà còn là ở phương tiện hoằng pháp, phương thức tu tập cũng thấu triệt được tinh thần “tứ khế” (khế cơ, khế lý, khế xứ, khế thời) như Đức Phật đã từng truyền dạy

Vì vậy, việc nghiên cứu nét đặc trưng trong tu tập của Hệ phái Khất Sĩ không chỉ giúp khẳng định giá trị của Hệ phái mà còn tiếp tục thực tiễn hóa phương thức tu tập ấy vào trong đời sống xã hội Việc luận văn nghiên cứu đặc trưng tu tập của Hệ phái Khất Sĩ là xuất phát từ bối cảnh này

Mặt khác, cho đến thời điểm hiện nay, chúng tôi chưa thấy công trình nghiên cứu chuyên sâu nào về đặc trưng tu tập của Hệ phái Khất Sĩ

Với những lý do trên, chúng tôi chọn: “Một số đặc trưng tu tập của Hệ phái Khất Sĩ từ khởi đầu cho đến hiện nay” làm đề tài Luận văn Thạc sĩ

ngành Tôn giáo học không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn cả thực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Là một Hệ phái sinh sau ra đời muộn nhưng Hệ phái Khất sĩ đã có những đóng góp cho Phật giáo Việt Nam Trong suốt mười năm thuyết pháp độ sanh, Tổ sư đã tùy căn cơ trình độ của nhu cầu mà dùng phương tiện để hướng dẫn, và những lời dạy của Ngài đã được đúc kết thành Bộ

Chơn Lý Bộ Chơn lý có 69 quyển được xây dựng trên nền tảng Kinh, Luật,

Luận Đây bộ tài liệu chính mà người viết làm tài liệu để nghiên cứu mà người viết tham khảo

Ngoài ra, phần lớn những nghiên cứu về hệ phái là do Tu sĩ (Tăng Ni viết là chính) như:

Trang 9

Thích Hạnh Thành (2007) Tìm hiểu Phật giáo Khất sĩ ở Nam Bộ Việt

Nam Ở đây, tác giả đã nêu lên sự ra đời của Hệ phái Khất sĩ, sinh hoạt, văn

hóa cũng như cách tổ chức, và những đóng góp của Hệ phái Khất sĩ cho Phật giáo Việt Nam Trong công trình này, tác giả đã khái quát được những nội dung cơ bản sau: bối cảnh xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX đến nửa đầu thế kỷ XX; Đạo Phật ở Nam Bộ trước thời Phật giáo Khất Sĩ ra đời;Phật giáo Khất

Sĩ của Đại sư Huệ Nhựt (Khất Sĩ Đại Thừa);Hệ phái Khất Sĩ của Tổ Sư Minh Đăng Quang; Khất Sĩ của Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng do Hòa thượng Thiện Phước sáng lập Trong các Hệ phái này, tác giả chỉ khái quátvề mặt giáo lý, sáng tác, giáo dục đạo đức

Sự hình thành và phát triển của hệ phái Khất sĩcủaThích Giác Trí

(2001) đã nêu lên sự hình thành và phát triển của Hệ phái Khất sĩqua ba giai đoạn từ: (1944- 1954) (1954-1975) (1975-2000) Đây là sự ra đời của Hệ phái Khất sĩ và những hoạt động do Tổ sư Minh Đăng Quang dẫn dắt, và đã có đóng góp cho Phật giáo nước nhà Tác giả cũng nêu lên một số thành tựu của

Hệ phái Khất sĩ như: Hoằng pháp, giáo lý, kiến trúc Đây cũng là những nét riêng biệt của Đạo Phật Khất Sĩ

Tác giả Thích Giác Duyên (2014) trongTìm hiểu về Hệ phái Khất sĩđã

tổng hợp nhiều nguồn tài liệu, một số văn bản hệ phái và các giáo đoàn (Tăng Ni) về lịch sử hình thành và phát triển từ khi Đạo Phật Khất Sĩ ra đời cho đến

khi Tổ sư thành lập giáo đoàn, tư tưởng chủ đạo trong bộ Chơn lý, và một số

nét đặc trưng của hệ phái khất sĩ, cũng như những hoạt đông và sự lớn mạnh của hệ phái khất sĩ từ khi Tổ sư Minh Đăng Quang vắng bóng cho đến nay

Thích Giác Toàn (2014) trongÁnh Minh Quangđã trình bày những bài thi kệ của Tổ sư để lại, cũng như trích một số bài trong Chơn lý nói về

phương pháp hành trì cho người đọc để học để hiểu mà hành theo Cũng như

Trang 10

một số bài thơ ca, kệ để cảm kích về bậc thầy (Tổ sư Minh Đăng Quang) trong lễ tưởng niệm về Đức Tổ sư

Cố Ni Trưởng Huỳnh Liên cũng có một số tác Phẩm mà Sư bà đã chuyển sang thi, kệ bằng Thơ Lục bát, Tứ Cú hay thơ tự do như kinh tụng hàng ngày, Tinh Hoa Bí Yếu, đây là những tác phẩm dành cho hàng tu sĩ và hàng phật tử của Hệ phái Khất sĩ hành trì hàng ngày dễ tụng, dễ đọc, dễ hiểu,

dễ thực hành Trong từng chữ từng câu là những lời dạy, những triết lý sâu xa của cố Ni trưởng

Tác giả Trần Hồng Liên với Khất thực thật và khất thực giả đăng

trong Tạp chí khoa học số 1/1989 đã nêu lên hiện tượng khất thực giả ở Tp HCM là một nguyên nhân làm gián đoạn phương pháp tu này của Hệ phái khất sĩ hiện nay

Năm 2016 trong hội thảo khoa học về Hệ phái Khất sĩ (Hệ Phái Khất

sĩ: Quá trình hình thành phát triển và hội nhập, Nxb Hồng Đức (2016), các

tác giả cũng dành những tham luận khác nhau về Hệ phái này, cụ thể:

Tác giả Nguyễn Quốc Tuấn với công trình Vài nét về lịch sử và đặc

điểm của Hệ phái Khất sĩ Việt Nam, đã nêu lên lịch sử hành thành Hệ phái

gồm 4 giai đoạn (1944-1954) đây là giai đoạn đầu hình thành Đạo Phật Khất

sĩ việt Nam gồm sự hình thành Tăng đoàn, thành lập Giáo hội Khất sĩ tăng già, phương thức sinh hoạt của hệ phái Giai đoạn hai (1954-1964) là giai đoạn đi vào hoạt động, hành trì du tăng lưu hành khắp nơi để đem đạo vào đời, phạm vi hạnh đạo được lan xa Tăng ni phật tử quân số tăng trưởng Giai đoạn ba (1964-1974), giai đoạn này Tăng ni Khất sĩ du phương cần phải có giấy tờ tùy thân, thời kỳ này hầu hét Tăng ni ở tại trú xứ tu học là chính sáng

ra khất thực trì bình sau đó về Tịnh Xá nghĩ ngơi, chiều học Chơn Lý, dành thời gian tĩnh tọa thúc liễm thân tâm Và giai đoạn này đã có quý HT và một

số Tăng Ni tham gia vào công tác của giáo hội Giai đoạn bốn (1975- hiện

Trang 11

nay), Tăng ni trong giai đoạn này đã dừng hẳn du hóa vì rất nhiều điều kiện khách quan bên ngoài Hệ phái Khất sĩ lúc này đã được truyền bá khắp nơi không những ở trong nước mà được lan rộng ra nước ngoài như ở Mỹ, Úc , Canada Không những thế, trong bài tham luận này cũng nêu một số đặc điểm của Hệ phái Khất sĩ trong đó nhấn mạnh việc Tổ sư Minh Đăng Quang

đã dung hòa được hai tư tưởng chính của Phật giáo đó là Nam truyền và Bắc

truyền làm giáo ý chính cho Hệ phái, hình thành nên bộ Chơn Lý và các tăng

sĩ của Hệ phái dùng phương pháp lấy Giới, Định, Tuệ làm nền tảng tu học trên con đường giải thoát

Tương tự, Thượng tọa, TS Thích Đồng Bổn vớiNét thuần Việt ở một hệ

phái Phật giáo Việt nam đã giới thiệu về sự ra đời của Hệ phái Khất sĩ do Tổ sư

Minh Đăng Quang sáng lập, với cơ sở giáo lý dựa trên chữ quốc ngữ - tiếng mẹ

đẻ thuần Việt Với tâm nguyện đem ánh sáng Phật pháp đến gần với người Việt

và người dân lao động, nên Tổ sư đã dùng những ngôn từ thuần Việt hay ngôn ngữ dân dã, ngôn từ bình dân để giảng dạy Vì thế khi Đạo Phật Khất sĩ truyền

bá đến đâu đều được dân chúng ủng hộ và tiếp nhận một cách dễ dàng Cũng như ngôn ngữ viết mà Tổ sư truyền bá là thơ, kệ, văn vần, một thể loại phù hợp với dân Nam bộ lúc bấy giờ làm cho dân chúng hiểu dễ hành theo Về phương pháp tu thì hành trì theo hạnh xưa của Phật đắp y mang bát mỗi sáng đi khất thực, sống đơn giản Về kiến trúc cũng khác hẳn với các tông phái hiện có chỉ thờ đơn giản một vị Phật Thích Ca, công phu thì tụng hoàn toàn tiếng việt Cuối cùng, tác giả đi đến kết luận: Đây là một Hệ phái thuần Việt

Ngoài những công trình kể trên, có một số tác phẩm cùng như những bài tham luận, bài nghiên cứu ít nhiều có viết về Hệ phái Khất Sĩ, nhưng hầu như ít đề cập đến đặc trưng trong phương pháp tu tập của Hệ phái Khất sĩ do

Tổ sư Minh Đăng Quang sáng lập; hoặc có chăng đi nữa cũng chỉ khái quát một vài nét chung chung mà thôi, nhất là những nội dung cơ bản của phương

Trang 12

pháp hay đường lối tu tập của hệ phái Vì đây là con đường đưa đến sự bền vững lớn mạnh của một tôn giáo nói chung

Như trên đã phân tích, tuy là một hệ phái sinh sau ra đời muộn nhưng

Hệ phái Đạo Phật Khất sĩ đã có những đóng góp cho Phật giáo Việt Nam và hành giả hành trì có được sự an lạc nhất định, xây dựng niềm tin vững chắc trong lòng dân, có những phương pháp tu tập rõ ràng và nhất là đây lại là một

hệ phái mang tính thuần Việt Vì vậy, Đạo Phật khất sĩ khi xuất hiện đã được dân chúng tiếp nhận hưởng ứng một cách rộng rãi lan xa

Vì những lý do trên, trong phạm vi luận văn này, chúng tôi sẽ tập trung

bổ khuyết cho những nghiên cứu trước đó về Hệ phái bằng cách phân tích, chỉ

ra đặc trưng tu tậpcủa Hệ phái Khất sĩ và trên cơ sở đó chỉ ra phương pháp tu tập chính là nền tảng căn bản để giúp cho người thực hành theo được trở về vơi bản tánh Phật hiện hữu trong mỗi con người cũng như thanh tịnh thân tâm, xa lánh dần tham, sân, si, đạt được an vui hạnh phúc ngay trong hiện tại

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

*Mục đích nghiên cứu của luận văn

Làm rõ đặc trưng tu tập của hệ phái Khất sĩ do Tổ sư Minh Đăng Quang khởi lập từ thời kỳ đầu cho đến hiện nay

*Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ sự hình thành và phát triển của Hệ phái Khất sĩ

- Làm rõ một số nét đặc trưng cơ bản trong đường lối tu tập của Hệ phái Khất sĩ

- Làm rõ những thành quả của phương pháp tu tập của Hệ phái Khất sĩ

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:

Đặc trưng cơ bản trong đường lối tu tập của Hệ phái Khất sĩ

- Phạm vi nghiên cứu:

Trang 13

Luận văn tập trung vào nội dung đường lối tu tập của Hệ phái Khất sĩ giới hạn khảo sát ở một số Tịnh xá tại TP.HCM và vùng lân cận như:

Tịnh xá Trung Tâm quận Bình Thạnh

Pháp viện Minh Đăng Quang

bố thí cúng dường, hay Giới – Định – Tuệ tu tập chính, cũng như đưa ra phương pháp dễ thực hành, tạo nên cộng đồng lớn, đáp ứng được nhu cầu tâm linh thời bấy giờ và vận dụng vào trong các thời khóa hành trì tu tập của Tăng

Ni, tín đồ tu theo hệ phái

Ngoài ra luận văn còn áp dụng Lý thuyết cấu trúc- chức năng để hiểu được phương thức tu tập có chức năng vai trò quan trọng trong việc hành trì,

để đạt được an lạc, cũng như giúp cho chúng ta thấy được các mối tương quan qua lại trong tu tập và duy trì được những đặc thù của hệ phái Khất sĩ

-Phương pháp nghiên cứu

Với đề tài nghiên cứu theo thực thể tôn giáo, người viết sử dụng các phương pháp sau đây:

- Phương pháp lịch sử và thống kê: Giới thiệu lịch sử hình thành và

Trang 14

phát triển của hệ phái Khất sĩ, cũng như thống kê một số phương pháp tu tập,

những nền tảng cơ bản giáo lý và phương pháp hành trì của hệ phái Khất sĩ

- Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu chương 1 và 2

- Phương pháp khảo sát thực địa:

+ Quan sát tham dự: chúng tôi sẽ tham gia trực tiếp vào những thời

khóa tu tập để nắm bắt ghi chép tư liệu cho luận văn

- Phỏng vấn sâu: chúng tôi sẽ có câu hỏi dược chuẩn bị trước để phỏng

vấn chư Tăng, Ni và một số tín đồ tu theo hệ phái Khất sĩ để dựa vào đó làm

căn cư khách quan cho đề tài của mình mà có sự đánh giá nhận xét Cũng như

phỏng vấn nhóm, chụp hình, ghi âm

- Thu thập và xử lý tài liệu, số liệu, hình ảnh: Người viết sẽ hệ thống

hóa toàn bộ các tư liệu thu thập được để sử dụng trong đề tài của mình

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Luận văn góp phần làm rõ về phương pháp tu tập của hệ phái Khất sĩ

do Tổ sư Minh Đăng Quang khai sáng tại Việt Nam Với mong muốn cho tất

cả người đệ tử Phật ở Việt Nam nói riêng hay phật tử trên toàn cầu nói chung

có phương pháp tu tập đễ hành tùy theo căn cơ trình độ của mình để tu tập

- Luận văn góp phần khẳng định hiệu quả của phương pháp tu tập của

Hệ phái Khất sĩ đối với người hành trì

- Luận văn có thể là nguồn tài liệu tham khảo cho những công trình

nghiên cứu sâu hơn về Hệ phái Khất sĩ

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung

luận văn gồm 3 chương cụ thể:

Chương 1: Sự hình thành và phát triển của hệ phái Khất sĩ

Chương 2: Đặc trưng tu tập của Hệ phái Khất sĩ

Chương 3:Một số thành quả của phương pháp tu tập

Trang 15

Chương 1

SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ PHÁI KHẤT SĨ 1.1 Khái quát tiểu sử Tổ sư Minh Đăng Quang

1.1.1 Giai đoạn trước khi xuất gia

Bất cứ một tổ chức nào hay tôn giáo nào muốn hoạt động tốt, duy trì bền chắc lâu dài cũng đều có một phương pháp, một kế hoạch,một đường lối

tu tập riêng để đưa tôn giáo của mình hoạt động xuyên suốt, phát triển vững mạnh, duy trì phát triển hơn Hệ phái khất sĩ cũng không ngoại lệ

“Đạo Phật Khất sĩ” là một tôn giáo còn non trẻ và thuần Việt được khai sinh ra do Tổ sư Minh Đăng Quangsáng lập ra trong bối cảnh đất nước trong thời kỳ đô hộ kiềm kẹp của thực dân Pháp.Phật giáo trong giai đoạn này chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi thực trạng đạo đức xã hội xuống cấp; việc tu học bê tha trì trệ, đời sống tu sĩ nghiêng về cúng tụng cầu xin, xem xăm bói quẻ, biến các tự viện thành nơi sinh hoạt tín ngưỡng dân gian và có tính sở hữu riêng tư, tu sĩ không sống đời sống độc thân mà sống đời sống gia đình, không lo trau giồi đạo hạnh, nghiêm trì giới luật làm mất niềm tin nơi tín đồ Phật tử

Trước thực trạng như vậy,cùng chung với sự bùng nổ sự chấn hưng Phật giáo của thế giới, vì vậy chư tôn Hòa thượng đã khởi xướng phong trào chấn hưng Phật giáo tại Việt nam, kêu gọi toàn thể Tăng ni đứng lên chấn chỉnh lại đường lối tu tập, tự thân nổ lực kết nối đoàn kết tăng ni hành trì giới luật,tạo dựng niềm tin trong cộng đồng xã hội thời bấy giờ

Trên tinh thần ấy Tổ sư Minh Đăng Quang đã kêu gọi Tăng đồ hãy mạnh dạn cùng chung tay với Ngài để chấn chỉnh lại nền Phật giáo nước nhà Theo Tổ sư Minh Đăng Quang, việc chấn hưng Phật giáo phải được thực hành trong từng cá nhân của tu sĩ Tăng ni không phải là hô hào suông Tự thân của mỗi tu sĩ phải ý thức nỗ lực, phải biết bổn phận trách nhiệm của mình với đạo pháp và dân tộc, phải đứng lên kề vai sát cánh,góp sức cùng chư Tôn Hòa

Trang 16

Thượng chấn hưng Phật giáo nước nhà, mà muốn như vậy thì tự thân của mỗi

tu sĩ phải thực hiện gương mẫu trước, phải hành trì Giới, Định,Tuệ, phải thực hiện nếp sống lục hòa, hành trì Tứ y pháp

Trong Chơn lý bài “Tông giáo” Tổ sư có viết: “ Tăng chúng phải đủ giới luật để quy hợp cư gia, để gắn liền tông giáo, hầu vẹt bóng mê tín, đem cõi đời trở lại ban ngày y như Phật hồi xưa trước kia” “ hãy nghĩ đến Đạo, đến Phật, đến chúng sanh phải nâng cao giới luật, đó mới là phận sự của Tăng bảo thì tạo nấc thang cho người lên, phải chỉ bờ mé cho người đến, phải sắm tàu ghe với người nguy, đó mới là phận sự chánh của Tăng già Thật vậy, chỉ có Tăng chúng mới lập đạo đặng”[21, tr.63]

Đứng trước hoàn cảnh của đất nước và đạo pháp như vậy, Tổ sư quyết tâm thực hành và lập chí nguyện “nối truyền Thích Ca chánh pháp” cũng như khuyến hóa tu sĩ thực hiện những gì mà Đức Phật đã dạy,khôi phục nếp sống Tăng đoàn xưa

Trong bối cảnh đó, “Đạo Phật Khất Sĩ” đã xuất hiện ở Miền nam Việt nam do Tổ sư Minh Đăng Quang khai sáng và hành theo “Y bát chơn truyền” sống đời sống du phương rầy đây mai đó không trụ một chỗ, không bị vướng vào một nơi, đi khắp nơi, lấy mọi nơi làm nhà bất cứ nơi đâu gốc cây, nghĩa địa, hàng sạp ở chợ làm nơi trú thân để hóa độ chúng sanh Ngài cho rằng:

“Đạo Phật là con đường đi đến quả Phật giác chơn Con đường ấy là Khất sĩ

Họ của chư Phật ba đời là Khất sĩ Khất sĩ là lẽ thật của chúng sanh, mục đích của chúng sanh Khất sĩ là đến với giác chơn, toàn học biết sáng tự nhiên mê lầm vọng động” [21, tr.63]

Tổ sưđã chắt lọc tinh hoa kết hợp bởi hai luồng tư tưởng chính là Bắc truyền và Nam Truyềnđể tạo nên “Đạo Phật Khất sĩ Việt Nam” Vì vậy về mặthình thức thì Ngài đắp y, mang bát trì bình khất thực là đặc trưng của Nam truyền, về đường lối hành trì Ngài thọ giới, Ngài thọ giữ 250 giới của Bắc

Trang 17

truyền, còn phương pháp tu tập thì Ngài dung hợp cả hai tư tưởng đúc kết

thành cái của riêng mình Trong bộChơn Lý Ngài giải thích rất nhiều về kinh

điển Đại thừa cũng như kinh điển hệ Nikaya,và trong phương pháp hành thiền Ngài đã kết hợp cả hai tư tưởng tạo nên phương pháp riêng cho hệ phái cho nên“Hệ phái khất sĩ” được thành lập trong thời Phật giáo Việt Nam đã xuống cấp trầm trong về đạo đức làm mất niềm tin nơi dân chúng thời bấy giờ Cho nên với hạnh nguyện đem đạo vào đời ngõ hầu làm lợi ích cho chúng sanh Với tâm nguyện“Nối truyền Thích Ca chánh pháp”.Có thể nói, đây là Hệ phái sanh sau ra đời muộn, nhưng mang tính việt hóa từ hình thức cho đến nghi lễ và tu tậpnên đã được người dân miền Tây Nam Bộ nói riêng và người dân Việt Nam nói chung đón nhận một cách hoan hỷ nồng hậu (cũng bởi người dân cảm nhận đây là một Tôn giáo dành riêng cho người Việt)

Đức Tổ Sư Minh Đăng Quang, tên thật là Nguyễn Thành Đạt, tự Lý Hườn Sanh tại Làng Phú Hậu, Tổng Bình Phú, quận Tam Bình, Tỉnh Vĩnh Long, nơi được gọi là địa linh nhân kiệt Thân phụ của Ngài là cụ ông Nguyễn Tồn Hiếu, thân mẫu là cụ bà Phạm Thị Tỵ (tự Nhàn) Cụ ông và cụ bà đều là người phúc đức, nhân hậu sống theo đạo thánh hiền, thực hành câu: “ nhân- nghĩa- lễ- trí- tín”, được người đời khen tặng là gia đình “ Nho phong tiết thái” Cụ ông và cụ bà có năm người con, Ngài là con út trong gia đình Trước Ngài có bốn anh chị, cụ bà sanh nở bình thường, riêng Ngài cụ bà thọ thánh thai đến mười hai tháng mới khai hoa [22, tr.12]

Ngài chào đời vào ngày Tân Tỵ, lúc 10 giờ tối, ngày 26 tháng 9 năm Qúy Hợi(1923) Đến ngày 25 tháng 07 năm Giáp Tý (1924) thân mẫu Ngài qua đời, hưởng dương 32 tuổi, lúc đó Ngài vừa tròn mười tháng tuổi Ngài được cô (cô út) đem về nuôi 1 tháng, sau đó được bác dâu thứ 8 đem về nuôi một tuần, rồi Ngài được gởi về quê ngoại Bà ngoại Ngài nuôi đến ba tuổi Năm ấy thân phụ Ngài tục quyền là cụ bà Hà Thị Song dưỡng nuôi Từ đó,

Trang 18

Ngài được sống trong vòng tay ấm áp của cha và kế mẫu Cụ ông mất vào ngày mồng 5 tháng giêng năm mậu thân (1968) thọ 75 tuổi

Tuy được sanh trưởng ởlàng quê, nhưng tính cách của Ngài khác thường hơn so với các bạn đồng trang lứa Ngài thể hiện phong cách đi đứng ngồi nằm, ăn mặc v.v đều toát lên vẽ trang nghiêm điềm đạm Tuy Ngài còn nhỏ nhưng thể hiện lòng từ bi rất rõ, như khi được thân phụ cho tiền đi xe ngựa thì Ngài đi bộ, khi hỏi ra mới biết là Ngài luôn nghĩ xót xa cho chú ngựa

và dùng tiền đó giúp đỡ người khác Hay khi ở trường lớp thì Ngài luôn chia

sẽ dụng cụ học tập cho các bạn nghèo trong lớp, hay thường giảng lại bài cho các bạn chưa hiểu Ngoài việc học ở trường, Ngài có trí thông minh khác thường như sau khi về nhà Ngài thường đọc lịch sử các danh nhân và kinh sám, truyện, sự tích Đặc biệt đọc đến đâu Ngài nhớ đến đó, và luận giải, phê phán có phương pháp rõ ràng

Năm 14 tuổi Ngài đỗ bằng Diploma (bằng Cao đẳng) Ngoài giờ học ở trường, Ngài thường phụ giúp việc nhà Ngài luôn thể hiện lòng hiếu kính đối với cha mẹ, hòa đồng với mọi người Ngài theo cha từ nhỏ, đốt hương cúng Phật vào mỗi tối Ngài rất siêng năng nghiên cứu tìm hiểu tường tận sách vở giáo lý Đạo Phật Ngài luôn ghi chép các sử liệu tôn giáo, nhất là Tam giáo Thích, Đạo, Nho Vốn sẵn có tuệ căn, Ngài thường tìm đến các bậc thức giả trưởng thượng thời bấy giờ để tham vấn đạo lý Nhờ vậy, mỗi khi tiếp chuyện với những người thiện duyên, Ngài đều lý giải một cách tinh tường và được mọi người khâm phục

1.1.2.Thời kỳ xuất gia tầm đạo

Vốn sẵn có căn duyên với Phật pháp, Ngài xin phép thân phụ qua chùa Tháp tầm sư học đạo, nhưng thân phụ Ngài quá thương con còn thơ bé nên không cho Qua nhiều đêm suy nghĩ, không thể vì tình cảm riêng tư nhỏ bé

mà bỏ chí nguyện, nên Ngài quyết chí ra đi

Trang 19

Thôi thì thôi, thế thì thôi

Vẹn nguyền xin chịu lỗi nghì với cha

Thiếu niên ngày nọ lìa nhà

Vượt biên giới việt, niên xa dặm ngàn

Tầm sư học đạo chốn Nam Vang thành

Ngài rời Việt Nam, đến Campuchia năm 15 tuổi, thọ giáo với ông Lục

Tà Keo, người mà cha Ngài đã quy y, nên cha Ngài đã gởi gắm Chính nơi vị Thầy đầu tiên này, Ngài đã trải qua thử thách cam go như đào giếng, lấp ao, trông coi vườn rẫy, quản lý công nhân các cơ sở sản xuất lò vôi, buôn bán và được ông tin tưởng và giao hết tài sản cho Ngài quản lý Cũng vì vậy mà Ngài thấu hiểu được duyên đến duyên đi Tính chất tạm bợ giả hợp của vật chất, và Ngài nhận ra rằng hạnh nghiệp tại gia vừa làm vừa tu giúp đời không phù hợp với tâm nguyện xuất trần của mình Nên Ngài xin phép Thầy trở về việt nam

Trở về gặp lúc loạn lạc chiến tranh (Pháp, Nhật thôn tính Việt Nam), Ngài ở với thân phụ một thời gian, Ngài lên Sài Gòn làm nhà hàng của người Nhật, và sau đó được người quen giới thiệu đến làm cho một hãng buôn lớn ở vùng chợ lớn và được chủ hãng buôn gã con gái của ông là Liễu Kim Huê Một thời gian sau Kim Huê sanh một bé gái đặt tên là Kim Liên Vừa tròn một tháng tuổi thì Kim Huê lâm trọng bệnh và qua đời

Bấy giờ Ngài nghĩ việc đem con về ông bà Nội, nhờ chị thứ 3 ở Vĩnh Long nuôi dưỡng dùm Nuôi đến 2 tuổi, ông cụ đem cháu về nuôi được vài tháng thì Kim Liên ngã bệnh rồi ra đi (chết)

Gẫm trong trời đất vô cùng

Nợ duyên âu cũng nghiệp chung muôn loài

Hay là ý thánh Như Lai

Muốn cho ôn lại trọn bài đau thương?

Đau thương là tính vô thường

Trang 20

Vô thường là tính đoạn trường xưa nay

Đây là những bài học đã làm thức tỉnh chí nguyện xuất gia tìm cầu giải thoát trong Ngài Với hạnh nguyện ấy Ngài nhận ra rằng con đường tìm cầu thoát khổ đến bến giác không thể không xuất gia như Chư Phật Tổ xưa Phải

xa lìa gia đình, vật chất giả tạm, thoát khỏi sợi dây tham ái của gia đình thì mới mong có hạnh phúc cho số đông

Ngài quyết chí ra đi (vào năm 1944) Rời khỏi Vĩnh Long vào núi Thất Sơn (Châu Đốc), đi sâu vào trong hang ẩn tu để dễ bề nghiên cứu về phương pháp tu học của hai tông phái Bắc Truyền và Nam Truyền Sau đó, Ngài xuống núi qua đất Hà Tiên định đón thuyền ra Phú Quốc để đi phương xa nhưng bị trễ thuyền, Ngài tìm nơi yên tĩnh để tọa thiền Suốt 7 ngày đêm quán chiếu, vào một buổi chiều, Ngài quan sát những chiếc thuyền đánh cá bập bềnh trên mặt nước với gợn sóng biển dồn dập tụ tán, Ngài đã chứng ngộ lý

vô thường, khổ, vô ngã Nhận biết được sự hợp tan của vạn vật, và thấy được cảnh khổ trầm luân của một kiếp người Ngài tỏ sáng lý pháp “thuyền Bát Nhã” Vào ngày rằm tháng 2 âm lịch 1944, năm đó Ngài tròn 22 tuổi

Sau khi đạt đạo Ngài trở về nhà thăm và từ giả gia đình đến núi Tà Lơnvà thất Sơn để tu học Ở đây Ngài được một nữ cư sĩ mời về Linh Bửu Tự

ở làng Phú Mỹ, tĩnh Mỹ Tho Tại đây Ngài đối trước Tam Bảo tại Linh Bửu

Tự 7 ngày đêm thu nhiếp tam nghiệp, phát đại nguyện thọ nhận y bát giới Sa

Di, rồi cụ túc Tỳ Kheo 250 giới với pháp hiệu Minh Đăng Quang Ngài phát nguyện “Nối truyền Thích Ca Chánh Pháp”, noi gương Phật xưa sống đời phạm hạnh giải thoát [23, tr.14]

Năm 1946 Ngài rời chùa Linh Bửu về trú tại nhà ông Võ Văn Nhu ở làng Phú Mỹ và bắt đầu truyền đạo cho dân chúng nơi ấy Bài pháp đầu tiên là

“Thuyền Bát Nhã” Vào ngày rằm tháng tư ngày nay là Tịnh Xá Mộc Chơn

Năm 1947, Ngài bắt đầu thu nhận đệ tử và thành lập đoàn du tăng khất

Trang 21

sĩ Bước chân hành đạo của Ngài trãi dài từ làng này sang làng nọ, từ tỉnh này sang tỉnh khác với hình ảnh một vị Sư đắp y vàng với chiếc bát đất hằng ngày

đi khất thực xin cơm dân chúng nuôi thân; không nhà cửa, không thân quyến theo sau, không cất giữ tài sản quý giá vàng bạc, không ở cố định một nơi chỉ có tam y nhất bát vân hành khắp nơi

1.2 Sự hình thành và phát triển của Hệ phái Khất sĩ

Đạo Phật Khất sĩ ra đời trong thời kỳ Phật giáo đang có chiều hướng đi xuống, phong trào chấn hưng Phật giáo nổ ra trên khắp thế giới, bắt nguồn từ

Ấn Độ Cư sĩ người Tích Lan về sau xuất gia với Pháp Danh là Da Ma-pa-la [24, tr.753], và được lan truyền qua nhiều nước như Trung Hoa, Miến Điện, Nhật Bản

Tại Việt Nam phong trào chấn hưng Phật giáo được bắt đầu bằng sự vận động của Thiền Sư Khánh Hòa tại chùa Thiên Linh Tỉnh Bến Tre, vào năm 1923 với sự tham gia đông đảo của các danh tăng thời bấy giờ, cùng một

số cư sĩ lỗi lạc Phong trào được sự hưởng ứng lan rộng từ Nam-Trung-Bắc,

và kéo dài từ năm 1920 Theo nhận định của tạp chí Viên Âm cho rằng có bốn nguyên nhân dẫn tới phong trào chấn hưng Phật giáo:

1 Sự sụp đỗ niềm tin đối với Nho giáo, mà thay vào đó là niềm tin Phật giáo để xây dựng nền tảng văn hóa cho dân tọc vừa tiến bộ, vừa không mất gốc

2 Phật giáo đủ khả năng “phân biệt chánh tà” trong quá trình tiếp nhận văn hóa phương Tây và hình thành văn hóa mới

3 Tinh thần Phật giáo thích hợp với tinh thần khoa học và tinh thần tự lực, tự cường dân tộc

4 Nghi lễ Phật giáo đã có gốc rễ lâu đời, nhưng chỉ là phương tiện truyền đạo, cần xiển dương giáo nghĩa Phật giáo, tân tiến, sống động, đáp ứng được nhu cầu của những thế hệ mới [25, tr.764,767]

Trên tinh thần đó, Đức Tổ Sư đã khai đạo và mang đến cho đạo pháp

Trang 22

của dân tộc Việt Nam một luồng gió mới Tuy là đạo mới nhưng đã đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của mọi người thời bấy giờ và là một tôn giáo rất gần gũi, mang đậm chất thuần Việt, qua hình ảnh một nhà sư sống đơn giản, với tấm y vàng, sống đời sống phạm hạnh, sáng trì bình khất thực, trưa độ ngọ ở bất cứ nơi đâu, tối nghỉ dưới lán cây, sạp chợ, giảng pháp thuần bằng tiếng Việt bằng kệ, thơ Bát ngôn tứ cú Lục bát song thất.v.v hay bằng văn xuôi, câu cú dễ hiểu, rành mạch rõ ràng.Không trú lâu một chỗ, không tài sản, ngoài chiếc y và bình bát.Đúng với ý nguyện “nối truyền thích Ca Chánh Pháp” Ngài đã dạy rằng: “giáo pháp Khất Sĩ đến Sài Gòn 1948, ánh sáng của vàng y phất phơ thổi mạnh làm tung cánh cửa các ngôi chùa tôn giáo, kêu gọi Tăng chúng tản cư khắp xứ, kéo nhau quay về kỷ luật” [26, tr.425]

Trong thời gian truyền bá chánh pháp, Ngài đã kết nối tăng đoàn thể hiện sức mạnh của tập thể Theo Ngài, Tăng chúng không thể tách rời thành từng cá nhân một cho dù vị ấy có giỏi đến đâu đi nữa, cũng cần có một sự kết nối đoàn kết Trong kinh Đức Phật cũng có dạy, đã chế định pháp yết ma để tăng sư đồng lòng, nhất trí với nhau trong cuộc họp hay trong công việc đàm luận để kết tập Kinh, Luật, Luận Chính tinh thần Lục hòa này mới làm cho tăng đoàn trở thành thánh chúng thanh tịnh

Sinh thời Hồ Chủ Tịch cũng có câu: “đoàn kết đoàn kết, đại đoàn kết, thành công thành công đại thành công” Cũng chính tinh thần đoàn kết mà dân quân ta mới giành lại độc lập tự do Đạo Phật Khất Sĩ ra đời lấy tôn chỉ đoàn kết nên dễ đi vào lòng người, là chỗ dựa vững chắc cho người dân Nam

Bộ nói riêng và toàn dân Việt Nam nói chung Đạo Phật Khất Sĩ lúc bấy giờ như một ánh đuốc soi đường trong đêm tối, một cách thức để thoát khỏi áp bức kìm kẹp của thực dân Pháp

Đạo Phật Khất Sĩ với tâm nguyện “nối truyền Thích ca Chánh Pháp”, do

Tổ Sư Minh Đăng Quang sáng lập ra thu nhận đệ tử tăng, Ni xuất gia hình thành tăng đoàn hệ phái Khất Sĩ Tăng già Việt Nam

Trang 23

1.2.1.Giai đoạn đầu

Từ 1944 -1954, mười năm là một giai đoạn không ngắn và không quá dài bước chân hành đạo của Tổ Sư và hàng đệ tử trãi qua không ít khó khăn, gian nan.Tuy nhiên, vượt qua mọi gian khó, từ đây Ngài tiếp nhận đồ chúng xuất gia theo học pháp, từ miền Nam rồi lan rộng ra niềm Trung đi khắp đất nước Với chiếc y bình bát khất thực từ làng này sang xóm nọ, chỉ xin đồ ăn chay đạm bạc Có bữa chỉ có cơm trắng, có bữa chỉ có chiếc bánh mì tận dùng cho đúng ngọ Ngài hành trì tứ y pháp

Một bát cơm ngàn nhà

Chân đi muôn dặm xa

Muốn thoát đường sanh tử

Xin độ tháng ngày qua

Trong thời gian ngắn, hàng đệ tử của Ngài đã lên đến hàng trăm vị, Phật

tử quy y thọ giới đã có cả vạn, trên dưới hơn 20 ngôi tịnh xá, được thành lập khắp cả miền Đông và cả miền đồng bằng Tây Nam Bộ Cuộc sống của Tăng Ni

đã dần đang bước vào nề nếp ổn định Đạo Phật Khất Sĩ đi vào lòng dân rất sâu đậm và lan tỏa rất nhanh, bởi những bài giảng của Ngài chủ yếu là chữ quốc ngữ và thi kệ, thơ lục bát, từ ngữ rất dễ hiểu dễ hành, đậm chất triết lý nhân sinh giúp cho mọi người dễ ứng dụng, làm cho cuộc sống ngày càng thăng hoa hơn

Vì vậy mà trong mười năm hiện hữu Ngài đã tạo dựng nên hệ phái Khất

Sĩ thời bấy giờ phát triển vững chắc được chia thành những giai đoạn sau:

1.2.2 Giai đoạn 1: Từ năm 1946-1954

Theo Bộ Chơn lysthif năm 1946 Tổ sư Minh Đăng Quang đã phát nguyện thọ giới Tỳ kheo tai chùa Linh Bửu, làng Phú Mỹ, tỉnh Mỹ Tho, đây

là đạo tràng đầu tiên của Tổ sư, và ở đây Tổ sư hướng dẫn phật tử cùng nhau xây dựng ngôi Tịnh Xá đầu tiên tên là Tịnh xá Mộc Chơn làm nơi cho Tăng tín đồ có nơi tu tập

Trang 24

Đây là giai đoạn do Tổ Sư trực tiếp đẫn, là thời kỳhệ phái Khất sĩ mới thành lập, tăng đoàn dần dần hình thành, Ngài bắt đầu thu nhận đệ tử, có đủ Tăng Ni.Từ đây bước chân hành đạo của Tổ sư bắt đầu vân du khắp mọi miền Ngài đem mối đạo mà Ngaì đã chứng đắc để hướng dẫn mọi người cùng tu tập,thực hiện những lời Phật dạy để trở về con đường thiện lành, tạo dựng một niềm tin vững chắc nơi Phật pháp

Đây là thời kỳ đầu nên còn nhiều khó khăn, Tổ Sư là người khai đạo làm cho đạo Phật Khất Sĩ khơi nguồn từ miền Tây lan dần đến miền Đông và đến miền Trung Các ngôi tịnh xá bắt đầu xuất hiện (64 ngôi Tịnh Xá được thành lập) Tăng Ni từ vài người lên đến vài trăm, hàng cư sĩ tại gia thì nhiều vô số

1.2.3.Giai đoạn 2:Từ năm 1955-1975

Đây là thời kỳ phát triển, số lượng Tăng Ni đông nên bắt đầu có sự phân tách Theo luật nghi Khất Sĩ quy định về phân giáo đoàn: “người xuất gia mới nhập đạo phải theo Thầy ở chung trong giáo hội 2 năm, kế đến tách riêng một mình 2 năm nữa, trên 4 năm được thâu nhận 1 tập sự, trên 6 năm mới thâu nhận một người đệ tử và một người tập sự Được trên 12 năm tách ra

đi lập đạo riêng, dạy số đông [27, tr.52]

Với tinh thần thống nhất của Giáo hội Trung ương nên cuối luật có ghi

“cấm không được thiếu sót sự hành đạo của tăng mỗi chỗ phải do giáo hội chứng minh và các giáo hội nhánh mỗi kỳ 3 tháng phải trình bày về trung ương một lần về sự tu học [28,tr.53]

Trong giai đoạn này đã có phân định rõ ràng tăng Ni trong giáo đoàn xuyên suốt từ miền Tây đến miền Trung Bên Tăng gồm 6 giáo đoàn, bên

Trang 25

3 Giáo đoàn 3 do Thượng Tọa giác An

4 Giáo Đoàn 4 do Thượng Tọa giác Nhiên

5 Giáo đoàn 5 do Thượng Tọa giác Lý

6 Giáo đoàn 6 do Thượng Tọa giác Huệ và Thượng Tọa giác Đức

 GIÁO ĐOÀN NI GỒM CÓ 3:

1 Giáo đoàn Ni của Ni Trưởng Huỳnh Liên

2 Giáo đoàn Ni của Ni Trưởng Ngân Liên

3 Giáo đoàn Ni của Ni Trưởng Trí Liên

Tuy chia ra nhiều giáo đoàn nhưng lấy Tịnh Xá Trung Tâm làm nơi hội họp, tự tứ hay các sự kiện lớn của hệ phái, và lấy Tịnh Xá Ngọc Phương làm

tổ Đình cho chư Ni

Khi cách mạng ngày 01/11/1963 thành công Phật giáo thoát cơn pháp nạn Ngày 04/01/1964, Đại hội thống nhất Phật giáo Việt Nam được tổ chức tại chùa Xá Lợi- Sài Gòn Có thỉnh mời Phật giáo Khất Sĩ Việt Nam Và lúc

đó có Thượng tọa Giác Nhiên, Thượng tọa Giác Tường, Thượng tọa Giác Nhu (là danh xưng mới lúc bấy giờ) đã đứng ra xin phép thành lập “Giáo Hội Tăng Già Khất Sĩ Việt nam”,nhưng cho đến ngày 22/04/1966 mới được Bộ Nội vụ chính phủ Việt Nam Cộng Hòa lúc bấy giờ chấp thuận cho phép thành lập giáo hội với bản điều lệ 32 điều theo nghị định số 405/BNV/KS cấp tại Sài Gòn Từ đây Hệ phái Khất Sĩ có danh xưng là Giáo Hội Tăng Già Khất Sĩ Việt Nam

1.2.4 Giai đoạn 3: Từ năm 1975 – 1980

Đây là giai đoạn Phật giáo Việt Nam thống nhất lại một mối và Phật giáo Khất Sĩ hội nhập vào đạo pháp và dân tộc khi đất nước được hòa bình độc lập Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam đã hưởng ứng đóng góp cho việc đi đến việc thống nhất Phật giáo toàn quốc Trong đó có cố Hòa Thượng Thích Giác Nhu và Hòa Thượng Thích Giác Toàn là những vị có công đưa Đạo Phật Khất

Sĩ Việt Nam được công nhận là một trong 3 hệ phái của Phật giáo đang hoạt

Trang 26

động tại Việt Nam

1.2.5 Giai đoạn 4: Từ năm 1980- đến nay

Thời kỳ này là thời kỳ hưởng ứng xây dựng, phát triển hệ phái mỗi ngày lớn mạnh hơn, và tham gia hòa nhập vào Giáo hội Phật giáo Việt Nam Có một

số vị đã được đặc cách lên hàng chứng minh Trong giai đoạn này chủ yếu sửa sang, tu bổ các Tịnh Xá và đào tạo Tăng tài, mở mang trường lớp, tạo điều kiện khuyến hóa Tăng Ni tham gia cả về thế học và Phật học, và đã có một số Tăng

Ni du học tại Ấn Độ, Srilanka, Miến Điện v.v cho đến nay Đặc biệt là năm

1981 đại hội được tổ chức tại chùa Quán Sứ (Hà Nội), gồm 9 tổ chức:

1 Hội Phật giáo Thống Nhất

2 Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất

3 Giáo hội Phật giáo Cổ Truyền Việt Nam

4 Giáo hội Tăng già Nguyên Thủy Việt Nam

5 Giáo hội Tăng già Khất Sĩ Việt Nam

6 Giáo hội Phật giáo Thiên Thai giáo Quán Tông

7 Hội Phật học Việt Nam

8 Ban liên lạc Phật giáo yêu nước

9 Hội đoàn kết Sư Sãi yêu nước Tây Nam Bộ

Tất cả đã hợp nhất thành một tổ chức mới với tên là Giáo Hội Phật giáo Việt Nam [29, tr.146]

Đoàn đại biểu của Khất Sĩ có Hòa Thượng Thích Giác Nhu làm trưởng đoàn, Hòa Thượng Thích Giác Phúc làm phó đoàn Ni Trưởng Tố Liên làm thư ký cùng một số thành viên khác Cũng từ đây tổ chức Giáo hội Phật giáo Việt Nam có 3 hệ phái chính tồn tại và được sinh hoạt song song đó là Bắc Truyền (Bắc Tông), Nam Truyền (Nam Tông) và Khất Sĩ

Kể từ đó đến nay Hệ phái Khất sĩ được lan truyền rộng khắp, không những ở Việt Nam mà hầu hết trên khắp thế giới đã có đoàn du tăng khất sĩ , thành lập Tịnh xá hay giáo hội tăng già khất sĩ hải ngoại như: Mỹ, Đức, Úc,

Trang 27

Thụy Điển v.v

Trong những năm hành đạo giáo hóa phật tử Tổ Sư thuyết giảng từ những buổi cơm trưa dưới gốc cây, mái hiên về sau là những ngày cúng hội tại các Tịnh Xá ở khắp các miền, Ngài đã kết tập thành những tập bài giảng

nhỏ, Ngài thành lập tổ in ấn, tập hợp các bài nhỏ đóng thành bộChơn Lý gồm

69 cuốn Bộ Chơn Lý này là một la bàn để định hướng cho hành giả tu theo

hệ phái Khất sĩ không thể thiếu được trên bước đường tìm cầu giải thoát

Bộ Chơn Lý được chia thành nhiều phần Cụ thể: 9 quyển đầu nói về giới luật và pháp học của hàng xuất gia, còn lại 60 quyển là 60 đề tài liên quan đến vân đề Phật học, do Ngài nghiên cứu góp nhặt từ trong kinh điển Trong giáo lý căn bản của hai luồng tư tưởng Nam Và Bắc hòa quyện lại như ngũ Uẩn, lục căn, thập Nhị Nhân Duyên, Bát Chánh Đạo, có và không v.v hay tư tưởng kinh pháp Hoa, kinh Di Đà, Phổ Môn, Vô Lượng Thọ, kinh Hoa Nghiêm v.v

Bộ Chơn Lý là kim chỉ nam cho Tăng Ni khất sĩ, như là phương pháp

để hành trì cho người học Phật Khát Sĩ không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày Ngoài ra còn có nghi thức tụng Niệm, cũng như các cuốn Tứ Kệ Tĩnh Tâm hay Ánh Minh Quang cũng chứa đầy tính triết lý sâu xa, thâm thúy Hay

49 bài kệ từng bài một viết thơ, kệ nên dễ đọc, dễ nhớ và dễ hiểu, nhưng đầy sâu xa màu giáo dục, chỉ bảo hướng dẫn người thực hành dễ dàng rõ ràng, như trong bài Thân Ngài có viết:

Thân này chưa biết ra chi

Của kia lại có chắc gì mà ham

Bao nhiêu cho thỏa lòng tham

Càng thâu, càng đắm càng làm mê say [30, tr.17]

Hay

Trăm năm vật đổi người dời

Một câu quý giá muôn đời còn ghi

Trang 28

Mở lời trước phải xét suy

Rằng ta cất tiếng ích chi chăng là

Bằng như lời ấy thốt ra

Như trên đã phân tích, toàn bộ kinh điển của hệ Phái Khất Sĩ được dùng ngôn ngữ thuần Việt, lời văn mộc mạc, giản dị, dễ hiểu, cho nên đây là một yếu tố khiến Đạo Phật Khất Sĩ phát triển lan rộng và trở thành tông phái thứ 3 trong nền Phật giáo Việt Nam hiện nay

Trang 29

Tiểu kết Chương 1

Đạo Phật Khất sĩ được Tổ sư Minh Đăng Quang sáng lập ra trong thời

kỳ mà người dân thời bấy đang bị khủng hoảng về mặt tinh thần, đạo đức đang tụt dốc, niềm tin Tôn giáo bị lung lay, họ không nơi nương tựa để làm nơi che chở dẫn dắt về mặt tinh thần

Sự xuất hiện của Tổ sư qua hình ảnh của một vị tu sĩ, có một nếp sống thanh bần giản dị, gần gủi, qua phương pháp tu tập hành trì của Tổ sư trong đời sống hằng ngày, một tu sĩ có một đời sống độc thân, mỗi sáng đầu trần chân đất tay ôm bình bát từ làng này sang xóm khác, với từng bước chân nhẹ nhàng ung dung thanh thoát, oai nghi đỉnh đạt, Ngài cầu xin sự bố thí cúng dường thực phẩm để nuôi sống cơ thể mà tu tập, sau khi hóa duyên Ngài trụ một nơi bất cứ ở đâu cũng là nhà cả, sau khi độ ngọ xong Ngài thiền nghỉ ngơi; Vào buổi chiều Ngài giảng pháp cho dân chúng Và như thế Ngài lưu chuyển khắp nơi từ miền Tây đến miền Đông và ra miền Trung với hình bóng một Tăng sĩ Tam y nhất bát khắp mọi miền Do niềm khao khát đạo nên khi

Hệ phái đạo Phật Khất sĩ xuất hiện như một chiếc phao cứu người vượt biển Cho đến nay, Hệ phái đã phát triển qua bốn giai đoạn cơ bản (1944 - nay)

Tuy Tổ sư Minh Đăng Quang hành đạo có mười năm nhưng Ngài đã để lại cho hàng để tử một kho báu vùng cùng quý giá không kể là Tăng hay Tục nếu nếu hành trì đúng theo những gì mà Tổ đã hành trì thì không những đem lại an vui cho mình mà con tạo niềm hạnh phúc cho nhiều người chung quanh

Bất cứ một tôn giáo nào khi hình thành muốn được duy trì hay phát triển thì cũng có phương pháp đặc trưng nhằm đạt mục tiêu của tông phái Ở đây Tổ sư đã xây dựng một phương pháp tu tập phục hồi Tăng xưa có nghĩa hành trì những gì đức Phật dạy mà tăng chúng đã bỏ quên Đó là làm một vị Khất sĩ Nhưng ở đây có sự cách tân, Tổ sư đã đúc kết tinh túy từ hai hệ phái chính để tạo nên cho mình một phương pháp riêng

Trang 30

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM NỔI BẬC TRONG TU TẬP CỦA

HỆ PHÁI KHẤT SĨ

2.1 Nền tảng của phương pháp tu tập: con đường Trung đạo

Với ý nguyện thoát ly sanh tử cho mình, mong cầu tìm ra ánh sáng để cứu đời, Tổ sư Minh Đăng Quang lúc nào cũng nghĩ cho người khác hơn cho bản thân, lòng từ bi thương người thương vật của Ngài thể hiện rất rõ trong cuộc sống hằng ngày, từ khi Ngài còn rất nhỏ qua cách cư xử hành động ứng

xử với mọi người, mọi vật

Năm 15 tuổi Ngài đã xin cha cho sang Campuchia tầm sư học đạo, quyết chí xuất gia tìm ra mối đạo,giải thoát cho chính mình và dẫn dắt chúng sanh thoát khỏi sanh tử luân hồi Vì vậy, Tổ sư Minh Đăng Quang ngay từ lúc mới phát tâm xuất gia Ngài đã lấy tinh thần sống chung tu học làm nền tảng trong việc tu tập và hành đạo

Ngài đi khắp nơi tìm cầu các pháp tu từ các danh Tăng, hay các bậc ẩn

sĩ thời bấy giờ để Ngài học hỏi, tìm cầu quán xét cho đến khi tìm ra chơn lý Sau khi chứng ngộ sự vô thường mong manh giả tạm của cuộc đời, sự giả tạm

đó được Tổ Sư chứng đắc trải nghiệm qua sự nhấp nhô của sóng biển tụ tan liên tục tại biển Hà Tiên, những con sóng có đó rồi mất đó Ngài đem sự chứng ngộ tự thân làm tấm gương soi sáng cho mọi người và cùng nhau tận hưởng hương vị giải thoát chứ Ngài không giữ cho riêng mình Ngài như ngọn đuốc soi rọi dẫn đường cho những ai muốn thoát khỏi bể khổ của trần gian, vượt bờ sông mê sang bến giác “Giác ngộ là tỉnh biết, hiểu rõ Tức là thể hội chân lý, khai phát chân trí Có thể biết giác ngộ có tự lực giác và nhờ tha lực mà giác ngộ khác nhau, trình độ giác ngộ từ đó có sâu, có cạn bất đồng” [32], sựgiác ngộ mà Tổ chỉ ra là sự trãi nghiệm trong cuộc đời thấy biết

Trang 31

sự việc xảy ra trong hiện thực, tự mình nhận biết được việc đó thì gọi là tự ngộ và từ đó đem sự nhận biết ấy hướng dẫn lại cho mọi người hiểu được, dẫn dắt cho họ thực hành, và nhận thức được đúng sai, cái gì nên làm, cái gì không nên làm, cái nào thiện, cái nào ác, cái nào nhân, cái nào là quả,để thực hành mà từ đó bớt đau khổ, tìm được niềm vui ngay trong hiện tại thì gọi là giác tha

Tổ sư với tâm nguyện muốn đem đạo vào đời làm lợi ích cho mọi người nên Ngài khai mở khai mở con đường mới đó là “Đạo Phật khất sĩ Việt Nam” Ngài muốn đem ánh sáng chơn lý mà Phật tổ đã hành trì để chiếu rọi vào Phật giáo Việt Nam thời bấy giờ

Ngài muốn thức tỉnh Tăng sĩ trong hiện tại, bằng phương pháp tu tập

mà Ngài đã nghiên cứu, học hỏi, hành trì Ngài đã đúc kết rút tỉa những tinh hoa từ hai tông phái lớn hiện có đó là Bắc truyền và Nam truyền, để tạo thành cho mình một đường lối tu tập riêng,một phương pháp riêng nhưng không xa rời giáo lý Phật Đà hay những gì Đức Phật đã dạy Một con đường tu tập với đúng hạnh nguyện là “Nối truyền Thích Ca Chánh pháp”

Tuy rằng trong thời kỳ của Ngài cũng có rất nhiều Tôn giáo nội sinh xuất hiện, như Phật Giáo Cao Đài Phật Giáo Hòa Hảo Tịnh Độ Cư sĩ Việt Nam họ cũng lấy một phần giáo lý của Đức Phật làm nên tảng để dẫn dắt tín đồ tu nhơn tích đức, lánh ác làm lành hay rốt ráo vẫn tu tiên thờ ông bà là chính vì vậy về cơ bản chưa đáp ứng được nhu cầu nguyện vọng tâm tư của người dân lúc bấy giờ

Đạo Phật Khất Sĩ ra đời có phương pháp và đường lối tu tập rõ ràng, là

“Đạo” mang tính “Việt Hóa” từ cách sinh hoạt trong đời sống thường nhật, cách hành hành trì cho đến pháp phục, hay kiến trúc cũng mang nét riêng

Vì vậy, bước chân hành đạo của Tổ Sư đi đến đâu đều được dân chúng tiếp nhận tu tập theo, hành trì theo đến đó Với tâm nguyện “nối truyền Thích

Trang 32

Ca Chánh Pháp” đức Tổ Sư đã hành trì, nương theo đời sống của Tỳ kheo thời Đức Phật là vị một tu sĩ vô sản, không chất chứa bất cứ món gì gia sản quí giá, chỉ có tam y và bình bát Đức Thế Tôn trong kinh được mô tả lúc mới tầm đạo một mình một bóng lẽ loi trên bước đường tìm đạo ở chốn rừng sâu Đức Phật đã thấu hiểu được rằng cuộc đời vật chất giả tạm rồi cũng tan, vợ đẹp con xinh, cung vàng điện ngọc, uy quyền thế lực vua chúa rồi cũng có một ngày trả lại cho cát bụi, những thứ giả tạm ấy nó sẽ làm chất gây mê giết chết một tâm hồn tăng sĩ Nên Ngài dùng hình ảnh của một Tăng sĩ ôm bát đi muôn nơi để hóa độ muôn người Lấy bốn phương làm nhà, lấy niềm vui của mọi người làm niềm vui cho mình, thấu hiểu niềm đau nổi khổcủa mọi người

để từ đó mà tìm lối giải thoát cho mình và mọi người

Đạo Phật Khất Sĩ đã song hành cùng đất nước trãi qua bao tháng năm thăng trầm của lịch sử, đến nay đã có chỗ đứng vững chắc trong lòng người dân, đã làm điểm tựa tinh thần cho họ, đây là phần không thể thiếu trong cuộc sống, hai phần tinh thần và thể chất không thể tách rời nhau, vì ai có đạo cũng

có nghĩa người đó là nguời có đạo đức, có nhân cách làm người, biết bổn phận làm người của mình

Có được thành quả như vậy âu cũng là do Đức Tổ Sư đã khéo léo vận dụng về giáo lý Phật Đà thông qua khẩu giáo và thân giáo của Ngài, phương pháp tu tập của Ngài, Ngài đã giảng giải, trình bày xuyên suốt tinh thần

Trung đạo trong bộ Chơn Lý, đây là nền tảng tư tưởng chính trong quá trình hành đạo của Hệ phái Khất sĩ và được lan truyền cho đến ngày nay

Thời Đức Phật tại thế, buổi ban sơ trên bước đường tìm cầu học đạo Đức Phật Ngài đã trãi qua năm năm tầm đạo, sáu năm khổ hạnh rừng già, Ngài đã thấy được nguồn ánh sáng của chơn lý, và đạt dược nguồn chơn lý ấy theo phương pháp tu tập của riêng mình đó là con đường “Trung Đạo” Nghĩa

là không quá khổ hạnh, cũng không quá lợi dưỡng cho bản thân Đây là con

Trang 33

đường căn bản dẫn dắt cho người tu theo giáo lý của Phật hành trì tu tập từng nấc thang một trong lộ trình tìm cầu giải thoát Trong đó “Tứ Y Pháp” là pháp đầu tiên không thể thiếu Trên tinh thần nguyên ủy đó, Tổ sư Minh Đăng Quang đã khẳng định: phương pháp tu tập của Hệ phái Khất sĩ chính là con đường ly khai hai cực đoan, xa lìa có và không,thái quá hay bất cập

Trung Đạo là con đường chư Phật và chư Tổ đã đi qua, con đường này lìa

xa hai cực đoan, không tuyệt đối hóa một vấn đề gì cả, không chấp trước có và không hay thái quá và bất cập Trung đạo là siêu việt đối đãi, thể nhập chôn lý tuyệt đối, và đạt đến tùy duyên bất biến Vì vậy Tổ Sư đã dùng sự tùy duyên mà tùy hoàn cảnh để hướng dẫn cho phật tử tu tập theo, Ngài dùng rất nhiều phương tiện để hóa độ làm cho họ dễ hiểu dễ hành dễ đạt kết quả an vui hơn

2.2 Một số nét cơ bản của phương pháp tu tập

2.2.1 Tam y, nhất bát, khất thực, trì bình

Hạnh phúc nào bằng hình ảnh của một người cắt ái ly gia, sống một đời sống thanh bần,an nhàn, thiểu dục tri túc, nhẹ nhàng không vướng bận bởi vật chất giả tạm bên ngoài, có như vậy mới thấu hiểu được cái khổ của chúng sanh để hòa nhập, san sẻ, yêu thương, sớt chia niềm đau nổi khổ của họ từ đó mới có thể hóa độ họ, dẫn dắt họ quay về với ánh sáng Phật đà, làm cho họ thấy được giá trị đích thực của sự sống, và làm cho cuộc sống ngày một thăng hoa hơn

Tam y: có hai nghĩa một làở đời thường nó chỉ là chiếc áo bình thường

để che thân không bị con trung cắn rúc, là một tấm vải bình thường Hai là một chiếc y để trang nghiêm thân tâm dành cho người xuất gia được coi như huệ mạng của mình không được lìa bất cứ trường hợp nào, chiếc y này đại diện cho giới thể, vì khi để giới hạnh mới được thọ trì y pháp Tăng sĩ đắp y vàng tượng trưng hình ảnh Đức Phật xưa, y còn là nơi để chúng sanh tạo phước Bởi hình ảnh của một Chiếc y thời Tổ Sư chỉ dùng bằng vải trắng thô

Trang 34

đem đi nhuộm lại thành màu hoại sắc rồi mới mặc, hoặc là cắt thành từng mảnh nhỏ rồi đem khâu lại mới mặc Ở đây Tổ Sư muốn cho Tăng chúng khi mặc như vậy mới diệt trừ lòng tham muốn cái đẹp của chính mình, bớt buông lung phóng dật khiến tâm khởi lên phân biệt tốt xấu ưa thích, chấp giữ thì sẽ

ác nghiệp gây ra nhiều tội lỗi

Cũng vậy chiếc bát ngoài việc dùng cơm hằng ngày, còn là phương tiện cho chư Tăng hóa duyên cứu độ chúng sanh, chiếc bát đong đầy tình thương, bao dung, hoan hỷ mà đi khắp nơi gieo duyên với mọi người giúp họ

mở lòng mình ra biết chia sẽ, biết giúp đỡ lẫn nhau từ đó sẽ có có an vui hạnh phúc ngay trong hiện tại Cho nên Y và bát là hai vật biểu trưng như hai cánh tay của người tu khất sĩ không thể thiếu Được Đức Phật ví như con chim có đôi cánh để bay khắp nơi

Đối với hệ phái Khất sĩ, pháp môn khất thực là một trong những phương pháp tu học giúp cho hàng tăng sĩ diệt trừ được cái tự cao ngã mạn kiêu căng của chính mình, hay hống hách coi ai không ra gì, luôn ỷ mình được sống trong no đủ không hiểu được sự nghèo khó trong nhân gian nên không bao giờ cho ai cái gì nếu có cho đi nữa cũng vì éo buộc không hoan hỷ, không biết thông cảm Đức Tổ Sư thực hành pháp môn khất thực với ý chỉ dùng thân giáo để giáo hóa hàng đệ tử, cũng như hóa độ dân chúng dẹp đi cái tôi, cái chấp trước qua thân giáo của Ngài, là người tu hạnh Khất sĩ thì cần phải đi hóa duyên để xin ăn, bởi lẽ “Khất sĩ” được định nghĩa là “học trò khó

đi xin ăn để tu học”xin vật thực của chúng sanh để nuôi mạng sống, để duy trì

cơ thể mà giáo hóa lại chúng sanh, làm đẹp đạo tốt đời

Khất thực có nghĩa là Khất là xin, thực là thức ăn Khất thực là xin thực phẩm của mọi người, để nuôi thân mạng và cho lại chúng sanh pháp bảo

Mỗi sáng bình minh lên hình ảnh đoàn du tăng tay bưng bình bát, nhịp nhàng nhẹ gót,từng bước chân thung dung và tự tại, oai nghi đỉnh đạc giống

Trang 35

như một vị sa môn thời Đức Phật

Hơn nữa, đây là phương pháp mà bất cứ ai giàu sang hay nghèo nàn cũng có thể cúng dường, giúp họ biết chia sẽ, biết thông cảm với người khác Vào thời đó Ngài đã chia ra làm hai nhóm Một là trụ một chỗ, vẫn sáng ra khất thực, trưa về độ ngọ, tối lại tụng kinh thời khóa, sau đó đem ý pháp trong

bộ Chơn Lý mà Tổ đã lập, triễn khai giảng dạy Còn nhóm thứ hai thành lập nên đoàn du tăng đem đạo truyền bá khắp mọi nơi, làm cho đạo Phật Khất sĩ lan rộng từ mũi cà Mau đến vùng Quảng Trị nắng cháy, tái hiện lại hình ảnh đoàn du tăng khất sĩ vào thời Đức Phật

Đây cũng là một trong những phương pháp giáo hóa gần gũi người dân,

từ xóm nhỏ, làng này, làng nọ, và cũng là cách giáo dục tăng đồ, tạo sự tương tác giữa tín đồ và tu sĩ bằng mọi phương tiện Đây là phương pháp xây dựng niềm tin vững chắc về lời dạy của Đức Phật qua hình ảnh Tăng già Chính vì

lý do đó mà Đạo Phật Khất Sĩ đi đến đâu thì được dân ở đó tiếp nhận một cách dễ dàng và ngày càng phát triển

2.2.2 Y bát chân truyền

Vì vậy, với hình bóng một tu sĩ với chiếc y bình bát vân du khắp nơi, từng bước chân an lạc thanh thoát vào mỗi buổi sáng, chân đạp đất, đầu đội trời, một y một bát đi khắp nơi, dưới xin cơm của dân Việt để nuôi thân, trên xin Giáo pháp để nuôi tâm, giữ nếp sống thanh bần, tạm mượn mái hiên, lều chợ để độ ngọ, thuyết pháp triển khai cho dân chúng hiểu thêm về giáo lý của Ngài qua ngôn ngữ mẹ đẻ Ngài dùng thơ lục ngôn bát cú hay thể thơ tự do để viết những câu giáo lý dễ đọc, hoặc những bài thơ bốn chữ để cho người già, trẻ thơ cũng có thể đọc hiểu và thực hành

Với phương châm “y bát chơn truyền” du phương hành đạo không nhà không cửa, không trú một chổ, Ngài vận dụng giáo lý Phật Đà vào văn hóa tục lệ dân gian, tạo niềm tin cho người học Phật lúc bấy giờ, tin rằng họ vận

Trang 36

dụng giáo lý Phật Đà một cách thiết thực nhất vào công việc hằng ngày, giúp cho mọi người hiểu ra các pháp vốn là do nhân duyên giả hợp tạo thành, đều phải chịu sự chi phối của vô thường và đều phải chịu nhân quả, để từ đó họ sống trong khổ mà không bị khổ chi phối, từ đó còn có thể giúp nhận diện rõnhững đau khổ mà nhân dân ta đang sống dưới ách đô hộ của chế độ thực dân Pháp thời bấy giờ Vì vậy Ngài đã lấy hình ảnh Tăng xưa mà thực hiện pháp tu cho mình, hình ảnh một vị sa môn sống tự tại thanh thoát trong chiếc y vàng, bình bát vân

du khắp nơi(sau khi về thăm lại quê xưa để từ giả cha già)

“ Y vàng nhẹ bước vân du

Bát nung nặng mối tình thu muôn ngàn.”

Hay:

“ Khất sĩ y bát chơn truyền đạo

Ta bà du hóa độ nhơn sanh”

Vì theo Tổ sư, một tăng sĩ thì không thể thiếu “Y và Bát” vì Y bát là mạng sống của mình Vì “Y là pháp, Bát là đạo” [33, tr.300] Có nghĩa là, đạo pháp đường chơn truyền được Phật truyền lại từ mười phương chư Phật Có Y Bát mới có chơn như, như lời đạy của Đức Phật trong hiện tại, dùng thân giáo

mà hành trì thì sẽ thấy được chơn như Phật tánh của mình

Theo Tổ sư thì “y” là chiếc áo Áo ở đây là Pháp bảo, là như một miếng ruộng lớn, người dùng chiếc Y có hai nghĩa một là che được cái thân giả tạm,

nó như một giáp sắt nhờ có chiếc Y này che chắn cho người tăng sĩ xông pha khắp nơi tà ma ác thú không dám đến gần Hai là như luật pháp để che cho tâm, nhắc nhỡ tâm phải kiềm chế những tham muốn, hay thấy được cái sân vừa sanh khởi thì liền diệt trừ từ đây cái si không có chỗ phát sanh Người thực hành Khất sĩ mà không có chiếc Y thì chưa phải là du Tăng Khất sĩ Còn cái “Bát” là thể của Bát chánh đạo Là tám con đường giúp cho hành giả diệt trừ được tham, sân, si để thành tựu giới, định, tuệ, thoát khỏi sanh tử luân hồi,

Trang 37

thoát khỏi đau khổ ràng buộc cắm dỗ của ngũ trần Đây là tám nghành đưa con người tiến thẳng về Niết bàn Nên đạo Khất sĩ mới có Y, Bát mà thôi

Muốn hết đường sanh tử

Xin hóa độ nghiệp xưa

Y bát là đường lối tu tập của Hệ phái Khất sĩ,mà Tổ sư đã dạy pháp căn bản này để rèn luyện tâm ý Người tu Khất sĩ lấy hạnh trì bình khất thực làm một trong những pháp môn tu tập

Hạnh Khất thực đúng chánh pháp là thể hiện chơn truyền của Phật tổ xưa Pháp này đem lại lợi ích lớn cho mình và người, khi thực hành pháp môn Khất thực đúng chánh pháp, làm cho người tu tập thân tâm thanh tịnh, lục căn vắng lặng, khi đi mắt chẳng nhìn xung quanh,tai không nghe ngóng, mũi chẳng ngửi xằng, miệng không nói quấy, thân chẳng lăng xăng, ý không vọng động Và cốt yếu của pháp môn này là giúp cho mọi người biết trải lòng mình trước những người không hề quen biết, biết cúng dường bố thí mà tâm không

hề so đo tính toán, và tập cho họ gieo những hạt giống lành vào ruộng phước điền dù vật ấy nhỏ nhưng với tâm thành kính thì phước báu vô cùng,biết phát tâm cúng dường Tăng bảo, làm cho họ được lợi lạc an vui hạnh phúc ngay trong hiện tại

Y bát là pháp môn làm lợi lạc cho nhân sinh, đem tinh thần xả bỏ chấp trước, keo kiệt, tham lam mà hóa độ chúng sanh cang cường, làm cho họ hiểu

Trang 38

bản chất thật của các pháp, lấy hạnh từ bi bình đẵng để chan hòa, không phân biệt nghèo giàu, hãy mở lòng ra để thấu hiểu những người xung quanh ta Tấm y còn có năng lực bố ma phá ác ngăn ngừa mọi lỗi lầm có thể xảy ra

“Bởi khất cái với khất sĩ cũng tương tự in nhau, vì kẻ gian manh muốn sắm

áo bát bao nhiêu cũng được, người Khất sĩ phải là thật học phải đủ đức hạnh, phải có chơn tu mới được gọi đúng danh từ Khất sĩ." [34, tr.289]

Bởi thế, Y và Bát là nơi cho mọi người gieo trồng hạt giống bồ đề, tạo thêm phước điền, ngoài ra còn có công dụng cho người thực hành diệt trừ tham sân si, cống cao ngã mạng, biết tích phước, từ những việc nhỏ nhặt, làm hành trang cho chính mình trên con đường tìm cầu giải thoát an lạc

Chính vì vậy mà Đạo Phật Khất Sĩ truyền bá đến đâu cũng được người dân đón nhận, ủng hộ một cách nhanh chóng, có tầm ảnh hưởng đáng kể trong giai đoạn nhập thế, và bén rể ăn sâu vào trong đời sống của người dân

Đặc biệt, điều cần nhấn mạnh ở đây là, Đạo Phật Khất sĩ tuy là một hệ

phái sanh sau,ra đời muộn, nhưng được Tổ sư khai sáng dẫn dắt, Ngài đã kết

hợp được những tinh hoa, cốt lõi của hai nguồn tư tưởng giáo lý truyền thống Bắc Tuyền và Nam Truyền tạo thành một hệ phái mới có nét đặc trưng riêng của Phật giáo Việt nam, gần gũi với dân chúng nên dễ được người dân chấp nhận và tu tập theo

Vậy phương pháp hành trì của Đúc Tổ Sư có gì để cũng cố niềm tin cho Phật tử thời bấy giờ? Làm cho người dân Nam Bộ nói riêng và mọi người dân Việt Nam nói chung lấy đó làm điểm tựa tâm linh trong đời sống hằng ngày

Đặc biệt, trong phương pháp giáo hóa độ sanh Tổ sư còn đề cao việc

chứng nghiệm thân hành(thân giáo) vì trên con đường hoằng pháp thì phải nói

đến việc giảng dạy, thuyết trình giảng giải để mọi người thấu hiểu và nhận thức rõ về con đường đạo Con đường nhận thức ấy người nghe vẫn còn hạn chế trong sư hiểu biết của mình vì vậy Tổ sư đã dùng sự chứng nghiệm của tự

Trang 39

thân và dùng thân giáo để làm gương đánh thức tâm Phật ở nơi mỗi chúng sanh Vì Ngài cho rằng nhận thức hiểu biết của mỗi người không đồng nhau,chỉ bằng hạnh động thì ai ai cũng sẽ dễ hiểu hơn, điều này được Đức Phật dạy trong kinh Pháp Cú:

“Như bông hoa tươi đẹp,

Có sắc nhưng không hương

Cũng vậy, lời khéo nói,

Không làm, không kết quả

Cho nên dù có dùng thiện xảo trong lời nói để thuyết giảng hay hoa mỹ đến đâu đi nữa mà không tạo được niềm tin, để làm cho hột giống bồ đề trổ hoa thì không có ích lợi gì cả; cũng vậy vị giảng sư dùng ngôn từ hoa mỹ nhưng không thực hành được thì không có kết quả gì

Vì vậy, Ngài đã dùng thân giáo mà giáo hóa làm tấm gương sáng cho

đệ tử noi theo để có lợi ích cho mình và mọi người Trong Chơn Lý, Ngài cũng có dạy: “những bậc tu xuất gia, tuy không còn dính dấp với xã hội gia đình, nhân loại, nhưng cũng đem thân mạng đền trả cho đời bằng gương nết hạnh hiền lương; và lời nói, việc làm, ý niệm,đạo lý, đem giúp đỡ cho xã hội, gia đình bình yên, trong sạch sáng láng, nên mới dượcđứng vững lâu dài, không rối loạn” [35, tr.473]

Thật vậy, người xuất gia một khi đã lìa bỏ ngôi nhà nhỏ để đến ngôi nhà lớn tập sống chung tu học thì tu tập ba nghiệp, làm cho ba nghiệp thanh tịnh, trong đó nghiệp thân rất quan trọng, mọi hành động đưa đến nghiệp đều

do hành động của chính mình Thân có thanh tịnh trang nghiêm thì những người xung quanh vẫn được hưởng theo và tu theo

2.2.3 Tứ y pháp

Tổ Minh Đăng Quang đã hành trì và dẫn dắt Tăng Ni hành trì Tứ y pháp, để xây dựng niềm tin cho hàng cư sĩ tại gia qua hình ảnh của một vị

Trang 40

tăng khất sĩ, sống đời sống thanh bần đạm bạc, không chất chứa, không nắm giữ, không quá cầu kỳ, đưa mối đạo làm tôn chỉ không vì bản thân, mà vì sự giải thoát an vui của mọi người, thực hiện ý nguyện “Nối Truyền Thích Ca Chánh Pháp” Bởi Đạo Phật trãi qua thời gian dài của biến cố lịch sử, tứ y pháp đã bị lãng quên trong hàng tăng sĩ Đức Tổ Sư đã tái hiện lại qua thân hành bằng phương pháp khất thực

Từ khi ngộ đạo cho đến ngày vắng bóng, Tổ Sư Minh Đăng Quang chọn pháp môn khất thực làm phương pháp hoạt động chính cho sự tu tập và hành đạo Trong đó, Tứ y pháp là một trong những pháp môn căn bản mà mười phương chư Phật đều hành trì

Tứ y pháp là bốn điều mà trong kinh đã nói đây là bốn điều được Đức Thế Tôn khuyên dạy cho hàng Tỳ kheo đã thọ trì cụ túc giới phải hành trình suốt đời với mục đích làm thanh tịnh hàng ngũ tăng chúng xa lánh hai cực đoan, người tu hành không nên quá khổ hạnh hay quá lợi dưỡng chăm chút cho bản thân quá sung túc thì khó mà tu được Phải biết tri túc vừa đủ, làm bậc thầy mô phạm để cho chúng sanh lấy đó làm gương soi chiếu và hướng theo

Tứ Y Pháp là bốn pháp mà mỗi vị Tỳ Kheo vào thời Đức Phật phải nghiêm trì để có được đời sống phạm hạnh thanh tịnh Và cũng để diệt trừ đi

tự ngã những chấp kiến ngã mạn, kiêu mạn của mình Bốn điều đó là:

Nhà sư khất thực: phải lượm những vãi bỏ mà đâu lại thành áo, nhưng

Ngày đăng: 16/03/2019, 08:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w