1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Mối quan hệ giữa chính sách chi trả cổ tức và dòng tiền bất định tại các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP HCM

72 160 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sĩ Kinh tế với đề tài “Mối quan hệ giữa chính sách chi trả cổ tức và dòng tiền bất định tại các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoá

Trang 1

LÊ TỐ THIÊN HOA

MỐI QUAN HỆ GIỮA CHÍNH SÁCH CHI TRẢ CỔ TỨC VÀ DÒNG TIỀN BẤT ĐỊNH TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN SÀN GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN

TP.HCM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh - Năm 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

LÊ TỐ THIÊN HOA

MỐI QUAN HỆ GIỮA CHÍNH SÁCH CHI TRẢ CỔ TỨC VÀ DÒNG TIỀN BẤT ĐỊNH TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN SÀN GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN

TP.HCM

Chuyên ngành: TÀI CHÍNH –NGÂN HÀNG

Mã số: 8340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS Lê Đạt Chí

TP Hồ Chí Minh, Năm 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sĩ Kinh tế với đề tài “Mối quan hệ giữa chính sách chi trả cổ tức và dòng tiền bất định tại các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP.HCM” là công trình nghiên cứu của tôi cùng với sự hỗ trợ của giảng

viên hướng dẫn TS Lê Đạt Chí và chưa từng được công bố trước đây

Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực Tôi sẽ chịu trách nhiệm về nội dung tôi đã trình bày trong luận văn này

TP Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 10 năm 2018

Người thực hiện

Lê Tố Thiên Hoa

Trang 4

MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

TÓM TẮT 7

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3

1.5 Phương pháp nghiên cứu 3

1.6 Đóng góp của đề tài 4

1.7 Kết cấu đề tài 4

CHƯƠNG 2 KHUNG LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 5 2.1 Khung lý thuyết về dòng tiền bất định và chính sách cổ tức 5

2.1.1 Dòng tiền bất định 5

2.1.2 Chính sách cổ tức không tác động đến giá trị công ty 6

2.1.2 Chính sách cổ tức tác động đến giá trị công ty 7

2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm về tác động các yếu tố tài chính đến chính sách cổ tức của công ty 11

2.2.1 Các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của dòng tiền bất định đến chính sách cổ tức của công ty 11

Trang 5

2.2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của yếu tố tài chính khác đến chính sách

cổ tức của công ty 13

2.3 Tổng hợp nghiên cứu thực nghiệm 20

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

3.1 Mô hình nghiên cứu 28

3.2 Kỳ vọng mối quan hệ 29

3.2.1 Dòng tiền bất định 29

3.2.2 Lợi nhuận chưa phân phối 30

3.2.3 Sở hữu nội bộ 31

3.2.4 Cơ hội tăng trưởng 32

3.2.5 Quy mô công ty 32

3.2.6 Lợi nhuận công ty 33

3.2.7 Nhu cầu nắm giữ tiền mặt 35

3.3 Dữ liệu nghiên cứu 36

3.4 Phương pháp thực hiện 38

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39

4.1 Mô tả thống kê và ma trận tương quan 39

4.2 Kết quả kiểm định các vấn đề hồi quy 44

4.3 Kết quả nghiên cứu 45

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN 51

5.1 Kết luận 51

5.2 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 53

5.2.1 Hạn chế 53

5.2.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 54

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Ký hiệu Thuật ngữ Giải thích

FGLS Feasible Generalized Least Aquares Phương pháp ước lượng FGLS HOSE Ho Chi Minh Stock Exchange Sở giao dịch chứng khoán

TP.HCM OLS Ordinary Least Square Phương pháp bình phương nhỏ

nhất

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1Tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm 20

Bảng 3.1 Mô tả biến 35

Bảng 3.2 Số lượng công ty theo ngành nghề kinh doanh 36

Bảng 4.1 Thống kê mô tả các biến 39

Bảng 4.2 Ma trận tương quan giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc 43

Bảng 4.3 Kết quả kiểm định hiện tượng tự tương quan 44

Bảng 4.4 Kết quả ảnh hưởng của độ bất ổn của dòng tiền đến chính sách chi trả cổ tức của các doanh nghiệp trong mẫu nghiên cứu 46

Trang 8

TÓM TẮT

Bài luận văn này nhằm xem xét tác động của dòng tiền bất định đến việc chi trả cổ tức tại thị trường chứng khoán Việt Nam Bằng cách sử dụng mẫu dữ liệu 193 doanh nghiệp niêm yết liên tục trên Sàn giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh (HOSE) trong thời gian từ năm 2009 đến năm 2017, cũng như sử dụng phương pháp hồi quy FGLS để thực hiện việc ước lượng mô hình

Kết quả cho các doanh nghiệp có độ bất ổn dòng tiền càng cao thì các doanh nghiệp có xu hướng càng phụ thuộc nhiều vào các nguồn vốn tài trợ bên ngoài Nhìn chung nguồn tài trợ bên ngoài có chi phí tiếp cận tương đối cao hơn việc sử dụng nguồn vốn bên trong doanh nghiệp Hơn thế nữa, các doanh nghiệp có độ bất ổn dòng tiền càng cao thì càng được đánh giá xếp hạng tín dụng thấp, cho nên để đạt được các nguồn tài trợ bên ngoài thì các doanh nghiệp này dường như phải chấp nhận một phần bù rủi ro Cho nên để có thể trang trải cho các dự án đầu tư có lợi nhuận tiềm tàng thì các công ty có độ bất ổn dòng tiền cao thì sẽ lựa chọn chính sách tiết kiệm tiền mặt bằng cách duy trì chính sách chi trả

cổ tức thấp hơn so với các công ty khác Ngoài ra, lợi nhuận chưa phân phối, sở hữu nội

bộ, cơ hội tăng trưởng, quy mô, lợi nhuận của công ty và nhu cầu giữ lại tiền mặt đều có ảnh hưởng đáng kể đến quyết định chi trả cổ tức của các doanh nghiệp

Từ khóa: chính sách cổ tức, các yếu tố tác động, dòng tiền bất định, thị trường chứng khóan Việt Nam

Trang 9

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1.1 Lý do chọn đề tài

Giá trị của một doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của ba loại quyết định tài chính: quyết định đầu tư, quyết định tài trợ và quyết định chi trả cổ tức Không thể phủ nhận tầm quan trọng của các quyết định này, đặc biệt là quyết định chi trả cổ tức Chính sách cổ tức ấn định mức lợi nhuận của công ty được phân phối như thế nào Lợi nhuận sẽ được giữ lại để tái đầu tư hay chi trả cho cổ đông Mặc dù việc phân chia giữa phát hành cổ phần mới và lợi nhuận giữ lại có xu hướng thay đổi theo thời gian, lợi nhuận giữ lại là nguồn vốn cổ phần quan trọng hơn là phát hành cổ phần mới

Quyết định chi trả cổ tức hay chính sách cổ tức của một công ty phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố tài chính khác nhau và vẫn còn rất nhiều điều gây tranh cãi Baker và cộng

sự (2011) cho rằng chính sách cổ tức ngụ ý là chính sách thanh toán mà một công ty tuân theo trong việc xác định quy mô và chính sách chi trả cổ tức tiền mặt cho các cổ đông Trong các thị trường không hoàn hảo, lý thuyết chính sách cổ tức không quan trọng do Miller và Modigliani đề xuất (1961) không còn là một câu trả lời thỏa đáng

Chính sách cổ tức đã gây sự chú ý của các học giả từ những năm 50 của thế kỷ trước Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về chính sách cổ tức và một trong những câu hỏi quan trọng nhất chưa được trả lời là yếu tố nào quyết định chính sách cổ tức

Tầm quan trọng của dòng tiền bất định trong chính sách chi trả cổ tức đã nhận được rất ít sự chú ý trong các nghiên cứu thực nghiệm, nhưng các nghiên cứu khảo sát như nghiên cứu của Lintner, J., 1956 và nghiên cứu của Brav, A., Graham, J., HarveyC., Michaely, R., 2005 lại cho thấy sự quyết định của dòng tiền bất định trong chính sách chi trả cổ tức

Trang 10

Mặc dù cả lý thuyết và bằng chứng khảo sát đều chỉ ra tầm quan trọng của dòng tiền bất định trong chính sách thanh toán, có một số nghiên cứu thực nghiệm đánh giá tầm quan trọng của dòng tiền bất định Các nghiên cứu trước đây thường không kiểm định dòng tiền bất định như là một yếu tố chính trong việc quyết định chính sách thanh toán,

và các nghiên cứu gần đây không bao gồm dòng tiền bất định dưới dạng biến kiểm soát (xem, ví dụ: Fama và French, 2001; DeAngelo, DeAngelo và Stulz, 2006)

Trong thời gian qua, tại Việt Nam, các công ty cũng đã dần thay đổi nhận thức và quan tâm hơn đến chính sách cổ tức Theo số liệu từ Bloomberg, các công ty Việt Nam trong 5 năm gần đây có tỷ lệ lợi nhuận chi trả cổ tức ở mức khá cao lên đến hơn 60% Vậy liệu ở Việt Nam dòng tiền bất định có phải là yếu tố quan trọng quyết định đến chính sách chi trả cổ tức của các công ty? Thêm vào đó, hiện nay vẫn còn rất ít nghiên cứu về vấn đề này cũng như là việc nghiên cứu mở rộng mối quan hệ giữa dòng tiền bất định và chính sách cổ tức ở Việt Nam Chính vì vậy, tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu “Mối quan

hệ giữa chính sách chi trả cổ tức và dòng tiền bất định tại các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP.HCM (giai đoạn 2009-2017)”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài: nghiên cứu mối quan hệ giữa chính sách chi trả cổ tức và dòng tiền bất định tại các công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2009-2017

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Từ mục tiêu nghiên cứu, bài luận văn này sẽ tập trung giải quyết câu hỏi nghiên cứu sau:

Dòng tiền bất định có phải là yếu tố quan trọng quyết định đến chính sách chi trả cổ tức của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam trong giai đoạn 2009-2017 hay không?

Trang 11

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn bao gồm chính sách cổ tức của công ty và dòng tiền bất định của công ty trên sàn giao dịch chứng khoán TP.HCM, cụ thể là các công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2009-

2017

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

Tác giả thực hiện nghiên cứu với dữ liệu tại Việt Nam: 193 công ty niêm yết liên tục trên Sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh (HOSE) trong thời gian từ năm 2009 đến năm 2017

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Bài nghiên cứu tiến hành kiểm định tác động các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách

cổ tức tại thị trường chứng khoán Việt Nam Tác giả phân tích hồi quy dữ liệu bảng bằng phương pháp như FGLS (Feasible Generalized Least Squares) để giải quyết vấn đề tự tương quan và phương sai thay đổi cho kết quả thu được hiệu quả và có thể dùng để phân tích được để kiểm tra đối chiếu giữa các mô hình Việc sử dụng mô hình ước lượng FGLS

sẽ khắc phục những yếu điểm của mô hình OLS còn tồn đọng Việc tiến hành phân tích hồi quy các mô hình trong bài nghiên cứu và các biến được sử dụng sẽ được mô tả rõ hơn trong chương 3

Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng, sử dụng phần mềm Stata 13 để thực hiện định lượng và phục vụ cho việc kiểm định các yếu tố tác động đến chính sách

cổ tức của công ty tại thị trường Việt Nam Ngoài ra các dữ liệu để chạy mô hình đã được lọc lại và tính toán bằng phần mềm Microsoft Excel 2007

Trang 12

1.6 Đóng góp của đề tài

Về lý luận, đề tài củng cố các luận điểm của các nghiên cứu trước đây về tác động của dòng tiền bất định ảnh hưởng đến chính sách cổ tức của công ty trong thị trường chứng khoán Việt Nam

Về thực tiễn, đề tài cung cấp bằng chứng thực nghiệm về ảnh hưởng dòng tiền bất định ảnh hưởng đến chính sách cổ tức của công ty trong thị trường chứng khoán Việt Nam

1.7 Kết cấu đề tài

Bố cục bài nghiên cứu gồm 5 chương được trình bày như sau:

Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu Trong chương này, tác giả trình bày lý do chọn đề tài, xác định mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và kết cấu của đề tài

Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu trước đây Trong chương này, tác giả trình bày tổng quan các nghiên cứu trước đây về tác động của các yếu tố tài chính quan trọng ảnh hưởng đến chính sách cổ tức của công ty trong thị trường chứng khoán

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu.Trong chương này, tác giả làm rõ mô hình thực nghiệm, hàm hồi quy, danh sách biến, nguồn dữ liệu và phương pháp ước lượng

Chương 4: Nội dung và kết quả nghiên cứu

Chương 5: Kết luận Chương này sẽ tổng kết các kết quả mà đề tài đạt được và rút ra các hạn chế của đề tài, những gợi ý và hướng nghiên cứu tiếp theo

Trang 13

CHƯƠNG 2 KHUNG LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

TRƯỚC ĐÂY 2.1 Khung lý thuyết về dòng tiền bất định và chính sách cổ tức

Trong tài chính doanh nghiệp, chính sách cổ tức là một vấn đề vẫn còn gây tranh cãi Câu hỏi, khi nào và tại sao các công ty trả cổ tức, vẫn còn chưa có hồi kết Nhiều ý kiến cho rằng việc chi trả cổ tức cao sẽ ảnh hưởng xấu đến giá trị doanh nghiệp, số khác thì lại nghĩ ngược lại

Nhìn chung, chính sách cổ tức không chỉ tác động đến giá trị tài sản thực tế của cổ đông trong tương lai và là dấu hiệu về tình hình hoạt động của doanh nghiệp ra bên ngoài thị trường Chính sách cổ tức chịu sự ảnh hưởng của các yếu tố khách quan và chủ quan

2.1.1 Dòng tiền bất định

Dòng tiền bất định thể hiện sự không chắc chắn của dòng tiền trong doanh nghiệp Tính bất định trong dòng tiền càng thấp cho thấy sự biến động trong dòng tiền càng ít.Ngược lại, tính bất định trong dòng tiền càng nhiều, hàm chứa nhiều rủi ro cho doanh nghiệp

Các công ty phải đối mặt với dòng tiền bất định cao có khả năng chi trả cổ tức thấp vì lo ngại thiếu tiền mặt trong tương lai.Tài trợ bên ngoài đặc biệt tốn kém hơn so với tài trợ nội bộ cho các công ty có dòng tiền không ổn định vì có thể bị hạn chế về mặt tài chính.Do đó, các công ty có dòng tiền bất định cao được kỳ vọng sẽ phụ thuộc nhiều vào quỹ nội bộ và chi trả cổ tức thấp.Hơn nữa, các công ty giảm cổ tức có thể bị suy giảm nghiêm trọng về giá trị doanh nghiệp.Vì vậy, các nhà quản lý có xu hướng tránh chi trả cổ tức cao trừ khi họ tự tin về khả năng duy trì mức cổ tức cao Vì những lý do này, người ta

dự đoán rằng tiền chi trả cổ tức có tương quan âm đến mức độ bất ổn dòng tiền.Nghiên cứu khảo sát của Lintner (1956) chỉ ra rằng các nhà quản lý xem sự ổn định thu nhập là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong quyết định chi trả cổ tức Brav, Graham, Harvey và Michaely (2005) báo cáo rằng hơn hai phần ba số CFO của các công ty trả cổ

Trang 14

tức xác định sự ổn định của dòng tiền trong tương lai là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định cổ tức

2.1.2 Chính sách cổ tức không tác động đến giá trị công ty

Năm 1961, Miller và Modigliani (MM) đã nêu lên quan điểm chính sách cổ tức không liên quan đến giá trị công ty Tác giả cho rằng, trong một thị trường hoàn hảo, chính sách cổ tức không ảnh hưởng đến giá trị công ty hay đến tổng thu nhập của các cổ đông, giá trị công ty chỉ phụ thuộc vào quyết định đầu tư

Kết luận của Merton Miller và Franco Modigliani được đưa ra gắn với các giả định của một thị trường hoàn hảo:

Thứ nhất, không có sự khác biệt về thuế giữa cổ tức và lãi vốn Theo giả định này, các nhà đầu tư không bận tâm về việc họ sẽ nhận được thu nhập từ cổ tức hay thu nhập từ lãi vốn

Thứ hai, thông tin bất cân xứng không tồn tại Cả nhà đầu tư ở bên ngoài và các nhà quản lý công ty đều nhận được thông tin như nhau, vì thế các nhà đầu tư hiểu biết tất cả

về dòng tiền tương lai và cà lợi nhuận của công ty

Thứ ba, không có chi phí giao dịch, các nhà đầu tư sẽ không tốn một khoản chi phí nào cho việc mua bán cổ phần Các nhà đầu tư có thể bán lại bất cứ số cổ phần nào mà họ muốn bán để chuyển đổi lãi vốn thành thu nhập thường xuyên

Thứ tư, không tồn tại chi phí phát hành khi công ty thực hiện phát hành cổ phiếu

Thứ năm, chính sách đầu tư và tài trợ cố định Các công ty nếu có thừa vốn cũng không dùng để đầu tư thêm mà chỉ có thể mua lại cổ phần hay chi trả cổ tức Ngược lại, nếu công ty thiếu vốn cũng không vay thêm mà chỉ có thể phát hành thêm cổ phần để huy động vốn cho dự án của công ty

Trang 15

Theo Merton Miller và Franco Modigliani, “trong một thế giới lý tưởng, các nhà quản lý cần phải làm hai việc để làm cho cổ đông càng ngày càng tốt: Chọn một chính sách đầu tư với NPV đạt được tối đa, và phân phối cho nhà đầu tư đầy đủ dòng tiền tự do được tạo ra bởi chính sách đầu tư trong suốt vòng đời của công ty”, đánh giá thấp chính sách cổ tức

2.1.2 Chính sách cổ tức tác động đến giá trị công ty

Lý thuyết chính sách cổ tức không tác động đến giá trị công ty của Merton Miller và Franco Modigliani (1961) dựa trên giả định thị trường hoàn hảo Nhưng trong thực tế, thuế đánh trên cả lãi vốn và cổ tức, bất cân xứng thông tin tồn tại kèm theo đó là chi phí phát hành và chi phí giao dịch Vậy có chăng trong một thị trường bất hoàn hảo như thế, liệu các nhà đầu tư vẫn không quan tâm đến chính sách cổ tức của công ty?

Đã có rất nhiều quan điểm tranh luận về chính sách cổ tức có tác động đến giá trị công ty hay không, và vẫn chưa có hồi kết cho vấn đề này.Một số quan điểm chính của các nhà nghiên cứu ủng hộ quan điểm chính sách cổ tức tác động đến giá trị công ty như sau:

Chính sách cổ tức trong môi trường có thuế

MM với giả định rằng trong một thị trường hoàn hảo, nhà đầu tư sẽ bàng quan trong việc nhận cổ tức hay lãi vốn Trong thực tế, thuế đánh trên cả lãi vốn và cổ tức Brav và cộng sự (2008) cho rằng ảnh hưởng của luật thuế sửa đổi 2003, cắt giảm thuế ảnh hưởng đến việc chi trả cổ tức

Tín hiệu từ chính sách cổ tức

Không giống như giả định không tồn tại bất cân xứng thông tin trong đề xuất M &

M, lập luận rằng nhà quản lý có thông tin chính xác hơn về các quyết định đầu tư cũng như thu nhập và lợi nhuận trong tương lai của công ty so với các nhà đầu tư bên ngoài Vì

Trang 16

vậy, các nhà quản lý có thể quyết định mức chi trả cổ tức để chuyển tải thông tin nội bộ này tới các nhà đầu tư

Trong nghiên cứu của Bhattacharya (1979), Allen và cộng sự (2000), mô hình bất cân xứng thông tin cho thấy rằng thông báo thanh toán cổ tức, khác với kỳ vọng của các nhà đầu tư, chứa đựng thông tin về thu nhập trong tương lai Hơn nữa, giá cổ phiếu sẽ điều chỉnh để phản ánh những thay đổi bất ngờ của cổ tức Benartzi (1997) lại lập luận “lý thuyết cổ tức ngụ ý rằng những thay đổi trong cổ tức có nội dung thông tin về thu nhập trong tương lai của công ty” Tác giả đã nhận thấy rằng tăng quy mô cổ tức dự đoán thu nhập trong tương lai

Chi phí giao dịch

Trên thực tế, mối quan tâm hàng đầu của nhà đầu tư là việc nhận cổ tức bằng tiền mặt hay lãi vốn khi tồn tại chi phí giao dịch Các chi phí giao dịch, chi phí môi giới sẽ làm cho việc bán cổ phần trở nên tốn kém và khó để thay thế bằng việc chi trả cổ tức

Vấn đề dòng tiền tự do và chi phí đại diện

Lý thuyết đại diện là một trong những lý thuyết quan trọng nhất trong chính sách cổ tức Cốt lõi của lý thuyết chi phí đại diện là xung đột lợi ích của các nhà quản lý và cổ đông Mối quan tâm của các nhà đầu tư là để đảm bảo rằng các quỹ của họ không bị nhà quản lý thu hồi hoặc lãng phí cho các dự án không thành công Easterbrook (1984) cho rằng vấn đề chi phí đại diện, việc chi trả cổ tức nhiều hơn làm giảm chi phí đại diện bằng cách giảm nhận thức rủi ro của các nhà đầu tư về xu hướng nhà quản lý sẽ hành động theo

sở thích của họ Al-Najjar và Hussainey (2009) nhận thấy rằng xung đột lợi ích giữa nhà quản lý và các nhà đầu tư có thể được giảm bằng cách trả cổ tức cho các cổ đông

Cổ tức giảm rủi ro cho nhà đầu tư

Trang 17

Lý thuyết cổ tức giảm rủi ro cho nhà đầu tư được phát triển bởi Gordon (1963) và được lập luận rằng do không chắc chắn, các nhà đầu tư thích sự chắc chắn của tiền mặt trong tay hơn là tăng vốn trong tương lai Theo lý thuyết này, các cổ phiếu có tỷ lệ chi trả

cổ tức cao được các nhà đầu tư tìm kiếm và do đó chỉ giá thị trường cao hơn Điều này là

do thực tế, cổ tức có độ chắc chắn hay ít rủi ro hơn, do đó các nhà đầu tư sẽ giảm cổ tức của công ty với tỷ lệ lợi nhuận thấp hơn

Miller và Modigliani (1961) cho rằng khoản chi trả cổ tức cao không nhất thiết làm tăng giá trị của doanh nghiệp và giảm rủi ro của công ty MM và Bhattacharya (1979) gọi đây là lý luận về sự sai lầm của lý thuyết cổ tức giảm rủi ro cho nhà đầu tư Hơn nữa, Bhattacharya (1979) lập luận rằng rủi ro của doanh nghiệp ảnh hưởng đến mức chi trả cổ tức Rủi ro của dòng tiền công ty ảnh hưởng đến các khoản thanh toán cổ tức, nhưng tăng

cổ tức sẽ không làm giảm rủi ro của công ty

Lý thuyết vòng đời

Fama và French (2001) nghiên cứu lý thuyết vòng đời và chỉ ra rằng các công ty có chính sách cổ tức hợp lý hoạt động trong từng giai đoạn của vòng đời kinh doanh Trong phần đầu của chu kỳ kinh doanh, các công ty phải sử dụng nhiều vốn bên ngoài; do đó, được kiểm soát bên ngoài nghiêm ngặt Hơn nữa, các nhà quản lý nắm giữ tỷ lệ sở hữu cao trong giai đoạn này; do đó, lợi ích của cả hai nhà quản lý và nhà đầu tư tương ứng Do

đó, cùng với sự gia tăng quy mô sản xuất, tỷ lệ chi trả cổ tức tăng dần theo từng khoản thời gian trong vòng đời Những yếu tố này sẽ giảm chi phí đại diện

Trong giai đoạn tiếp theo khi doanh nghiệp ổn định, các nhà quản lý sẽ thận trọng hơn trước các dự án mạo hiểm Bên cạnh đó, khả năng truy cập thông tin về toàn bộ công

ty sẽ trở nên chậm hơn do quy mô lớn hơn Trong giai đoạn này, công ty sẽ tối đa hóa giá trị của cổ đông bằng cách phân phối lợi nhuận thông qua các khoản chi trả cổ tức Trong giai đoạn cuối cùng, các công ty cần phải tối đa hóa giá trị của công ty thông qua thanh lý

Trang 18

để trả hết tất cả các cổ đông Tuy nhiên, nếu các nhà quản lý tiếp tục mở rộng quy mô trong giai đoạn này, chính sách trả cổ tức mục tiêu sẽ khác với chính sách cổ tức mà người quản lý thực hiện

Lý thuyết bird-in-hand

Cổ tức là thu nhập thường xuyên, chắc chắn ở hiện tại nên được xem ít rủi ro hơn lãi vốn, là thu nhập được hứa hẹn trong tương lai.Theo Gordon (1961), quyết định cổ tức của doanh nghiệp sẽ làm thay đổi mức độ rủi ro của nhà đầu tư hay sự không chắc chắn của

cổ tức trong tương lai

Gordon cho rằng nhà đầu tư ưa thích chi trả cổ tức cao Gordon khẳng định rằng các

cổ đông không thích rủi ro, sẽ thích chi trả cổ tức hơn do cổ tức làm giảm tính bất trắc của

cổ đông, cho phép chiết khấu lợi nhuận tương lai của công ty với một tỷ lệ thấp hơn, từ đó làm tăng giá trị của công ty Ngược lại, việc không chi trả cổ tức làm tăng tính bất trắc cho cổ đông, tăng lãi suất chiết khấu và giảm giá cổ phần

Lý thuyết Brennan

Theo lý thuyết Brennan (1970) cổ đông thích cổ tức thấp do thực tế là cổ tức bị đánh thuế ở mức cao hơn lợi nhuận vốn (điều này đặc biệt có trụ sở tại Hoa Kỳ năm 1986) Theo lý thuyết này, các cổ đông muốn nhận thu nhập thấp hơn và tăng vốn trên chứng khoán tài chính mà họ sở hữu, hơn là chấp nhận thu nhập cổ tức Trong lý thuyết này là một số hệ thống tài chính thúc đẩy không trả cổ tức và tái đầu tư để kích thích công ty và vẫn ở dạng thu nhập giữ lại

Khi nói đến lý thuyết này, tồn tại một thực tế: thuế trên cổ tức được trả trong năm khi cổ tức được trả, trong khi các khoản thuế trên vốn được trả tại thời điểm bán lại cổ phần Vì vậy, có một lợi thế tiềm năng so với thu nhập giữ lại

Trang 19

2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm về tác động các yếu tố tài chính đến chính sách cổ tức của công ty

2.2.1 Các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của dòng tiền bất định đến chính sách

cổ tức của công ty

Michael Bradley và cộng sự (2003) tìm hiểu vai trò của dòng tiền bất định như một yếu tố quyết định chính sách cổ tức cả về mặt lý thuyết và thực nghiệm Mô hình một giai đoạn đơn giản của tác giả chứng minh rằng, với sự tồn tại của một hình phạt giá cổ phiếu liên quan đến việc cắt giảm cổ tức, các nhà quản lý trả lãi hợp lý các mức cổ tức thấp hơn khi dòng tiền trong tương lai ít chắc chắn hơn Kết quả thực nghiệm sử dụng mẫu REITs

từ năm 1985 đến năm 1992 và xác nhận rằng tỷ lệ thanh toán thấp hơn cho các công ty có biến động dòng tiền dự kiến cao hơn được đo lường bằng đòn bẩy, quy mô và đa dạng hóa Những kết quả này phù hợp với các giải thích dựa trên thông tin về chính sách cổ tức nhưng không phù hợp với lý thuyết chi phí đại diện

J.B Jay và Jungwon Suh (2009) cho thấy tầm quan trọng của yếu tố dòng tiền bất định trong việc chi phối chính sách cổ tức Với dữ liệu gồm các công ty trên toàn thế giới, tác giả trình bày bằng chứng cho thấy dòng tiền bất định là yếu tố quyết định quan trọng của chính sách chi trả cổ tức của công ty Sự không chắc chắn của dòng tiền được bù đắp bởi sự biến động của chứng khoán, có tác động đáng kể đến lượng cổ tức chi trả cũng như xác suất trả cổ tức Tác động của dòng tiền bất định đối với chính sách chi trả cổ tức nói chung là mạnh hơn tác động của các yếu tố quyết định tiềm năng khác của chính sách chi trả cổ tức — chẳng hạn như thu nhập/ vốn góp, vấn đề đại diện và cơ hội đầu tư Tác giả cũng thấy rằng tác động của dòng tiền bất định đối với cổ tức khác với ảnh hưởng của giai đoạn trong vòng đời tài chính của công ty

Saeid Jabbarzadeh và Kangarlouei (2012) nghiên cứu về các yếu tố tài chính tác động đến chính sách cổ tức Việc đo lường hiệu suất tài chính của các công ty là một

Trang 20

trong những chủ đề quan trọng nhất được các nhà đầu tư, chủ nợ, chính phủ và các nhà quản lý xem xét Người quản lý sử dụng phép đo hiệu suất để đánh giá hiệu suất của các

bộ phận Trong nghiên cứu này, mối quan hệ giữa chính sách cổ tức, dòng tiền bất định, thu nhập/vốn góp và cơ hội đầu tư được nghiên cứu tại Sở giao dịch chứng khoán Tehran (TSE) trong giai đoạn 2006-2010 Đầu tiên, các biến của nghiên cứu đã được xác định và sau đó dữ liệu thu được từ phần mềm RahavardNowin Những dữ liệu này được phân tích

để kiểm tra các giả thuyết bằng cách sử dụng phần mềm SPSS thông qua các số liệu thống

kê mô tả và suy luận như phân tích tương quan Các kết quả nghiên cứu sau đây đã đạt được: có mối tương quan âm và có ý nghĩa giữa chính sách cổ tức, dòng tiền bất định và

cơ hội đầu tư và mối tương quan dương và có ý nghĩa giữa chính sách cổ tức và vốn góp

Lu Deng và cộng sự (2013) nghiên cứu mối quan hệ giữa cổ tức và đầu tư cho các công ty niêm yết của Trung Quốc trong điều kiện dòng tiền bất định Nghiên cứu này thực nghiệm kiểm tra mối quan hệ giữa cổ tức và đầu tư với điều kiện của dòng tiền bất định

và cách các công ty giải quyết sự bất ổn dòng tiền Nghiên cứu của tác giả được thực hiện bằng cách sử dụng dữ liệu tài chính của các công ty niêm yết Trung Quốc từ năm 2000 đến 2010, có quyết định tài chính khác với các đối tác của họ ở các thị trường phát triển

do các cơ sở thể chế đặc biệt Đo lường dòng tiền bất định với sự thiếu hụt dòng tiền và biến động dòng tiền, trước tiên tác giả cung cấp bằng chứng mô tả về cách các công ty giải quyết dòng tiền bất định Kết quả cho thấy, khi tồn tại dòng tiền bất định, các công ty Trung Quốc không cắt giảm cổ tức hay cắt giảm đầu tư mà chỉ duy trì mức đầu tư rất cao Các công ty sử dụng tài trợ bên ngoài như công cụ chính để bao gồm dòng tiền bất định

và không sử dụng tiền mặt không hoạt động hoặc điều chỉnh số dư tiền mặt cho mục đích này Công ty Trung Quốc phải trả cổ tức liên tục để tái cấp vốn cổ phần và yêu cầu đầu tư được thúc đẩy bởi chính phủ mong muốn thúc đẩy nền kinh tế và ưu tiên của ngân hàng cho các doanh nghiệp lớn Tài trợ bên ngoài là công cụ duy nhất giải quyết sự dòng tiền bất định Tác giả tiếp tục thấy rằng có một mối quan hệ phi tuyến “hình chữ N” giữa cổ

Trang 21

tức và đầu tư cho các mức độ dòng tiền bất định khác nhau Những kết quả này có thể được giải thích bởi các cơ sở thể chế đặc biệt của Trung Quốc, trong đó các công ty có động cơ mạnh để chi vốn trên cả việc chi trả cổ tức và đầu tư

Roya Darabi (2014) áp dụng khoa học dựa trên các quan sát để tìm ra mối tương quan và mối quan hệ giữa các yếu tố tài chính và chính sách cổ tức Yếu tố quyết định chính sách cổ tức là một trong những thách thức lớn nhất từ lâu là trung tâm của các nhà nghiên cứu tài chính và kế toán Trong nghiên cứu này, bốn tác động, cụ thể là, dòng tiền bất định, thu nhập/vốn góp, vấn đề đại diện và cơ hội đầu tư trong chính sách cổ tức chi trả được đồng thời nghiên cứu trong cổ phiếu của Tehran Mẫu bao gồm 140 công ty TSE

đã được nghiên cứu trong giai đoạn 5 năm trong giai đoạn 2007-2011 Phương pháp của nghiên cứu này được áp dụng khoa học dựa trên các quan sát để tìm ra mối tương quan và mối quan hệ giữa các tham số Các giả thuyết của nghiên cứu này bao gồm bốn thông số trên đã được kiểm định theo bảng và hồi quy tổng hợp Trong nghiên cứu này, các tác động đồng thời của bốn yếu tố bao gồm dòng tiền bất định, thu nhập/vốn góp, vấn đề đại diện và cơ hội đầu tư vào chính sách cổ tức chi trả được nghiên cứu Những phát hiện của nghiên cứu chỉ ra rằng không có bằng chứng về tác động của sự dòng tiền bất định trên chính sách cổ tức chi trả và thu nhập/ vốn góp và ước tính cơ hội đầu tư có tương quan dương và có ý nghĩa đến việc chi trả cổ tức Ngoài ra, bản tóm tắt của hai kiểm định hồi quy hàm ý tác động âm và có ý nghĩa của vấn đề đại diện đối với khoản thanh toán cổ tức

2.2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của yếu tố tài chính khác đến chính

sách cổ tức của công ty

Ahmed và Javid (2012) nghiên cứu các yếu tố tác động chính sách cổ tức của 320 công ty phi tài chính được niêm yết trên sàn chứng khoán Karachi từ 2001-2006 Kết quả cho thấy thu nhập hiện tại trên mỗi cổ phiếu ảnh hưởng đến chính sách cổ tức hơn là cổ tức được thanh toán trong quá khứ Bên cạnh đó, yếu tố đòn bẩy và cơ hội đầu tư có

Trang 22

tương quan âm đến chính sách cổ tức Đa số các công ty đều muốn tái đầu tư và đầu tư vào tài sản hơn là việc chi trả cổ tức cho cổ đông vì như thế sẽ làm gia tăng quy mô công

ty và làm tăng giá trị vốn hóa trên thị trường

Sanjay Deshmukh và cộng sự (2013) phát triển một mô hình tương tác năng động giữa chính sách quá tự tin và chính sách cổ tức của CEO Mô hình này cho thấy rằng một CEO quá tự tin xem xét tài trợ bên ngoài là tốn kém và do đó xây dựng sự sụt giảm tài chính cho các nhu cầu đầu tư trong tương lai bằng cách giảm chi trả cổ tức hiện tại Phù hợp với dự đoán chính, tác giả thấy rằng mức chi trả cổ tức thấp hơn khoảng 1/6 so với các công ty do các CEO quản lý, những người có khả năng quá tự tin Tác giả ghi nhận rằng việc giảm cổ tức liên quan đến CEO quá tự tin là lớn hơn ở các doanh nghiệp có cơ hội tăng trưởng thấp hơn và dòng tiền thấp hơn Tác giả cũng cho thấy mức độ phản ứng tích cực của thị trường đối với thông báo tăng cổ tức cao hơn đối với các công ty có sự không chắc chắn về CEO quá tự tin

Musiaga và cộng sự (2013) nghiên cứu các yếu tố quyết định trong số tiền chi trả cổ tức của các công ty phi tài chính được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Nairobi NSE có 50 công ty phi tài chính được liệt kê theo báo cáo NSE 2012 Kỹ thuật lấy mẫu có mục đích đã được sử dụng và mẫu của 30 công ty phi tài chính trong thời gian 5 năm từ năm 2007 đến năm 2011 đã được chọn Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo tài chính đã được kiểm toán của các công ty từ trang web của Sở Giao dịch Chứng khoán Nairobi và các trang web của các công ty phi tài chính Quy mô và rủi ro kinh doanh được thực hiện dưới dạng các biến kiểm sóat Số liệu thống kê mô tả và hồi quy nhiều lần được

sử dụng Lợi nhuận và rủi ro kinh doanh, cả hai được coi là biến kiểm soát làm tăng độ chính xác của các biến số quan trọng từ 95% đến 99% do đó trong số các yếu tố quyết định chi trả cổ tức chính Dựa trên các câu hỏi nghiên cứu, thu nhập hiện tại, khả năng

Trang 23

sinh lời, cơ hội tăng trưởng, quy mô của doanh nghiệp và rủi ro kinh doanh là yếu tố quyết định chi trả cổ tức cho các công ty phi tài chính trên NSE

Muzammal Ilyas và cộng sự (2014) kiểm tra mối quan hệ giữa dòng tiền tự do và chính sách cổ tức với sự hiện diện của quy mô công ty điều hành Kết quả cho thấy các đại diện của dòng tiền tự do có tương quan dương và có ý nghĩa thống kê cao với chính sách cổ tức Mô hình điều phối thứ hai cho thấy kết quả không đáng kể với mối quan hệ giữa FCF và chính sách chi trả cổ tức Trong sự hồi quy đơn giản của dòng tiền tự do và chính sách cổ tức, kết quả cũng không có mối quan hệ nào trong các biến này Trong nghiên cứu, tác giả đã sử dụng phân tích dữ liệu bảng và để kiểm tra thời gian và hiệu ứng chéo, biến giả đã sử dụng Kết quả có ý nghĩa thống kê cao trong hầu hết các công ty và dòng tiền tự do nhưng chỉ có hai công ty cho thấy kết quả không có ý nghĩa

Tor Brunzell và cộng sự (2014) phân tích kết quả từ một cuộc khảo sát trong số các công ty Bắc Âu niêm yết công khai về chính sách chi trả cổ tức Kết quả cho thấy 72% các công ty Bắc Âu có chính sách cổ tức cụ thể Các công ty lớn hơn và có lợi nhuận cao hơn có nhiều khả năng có chính sách cổ tức được xác định Chính sách cổ tức chủ yếu bị ảnh hưởng bởi các cân nhắc cơ cấu vốn và triển vọng thu nhập trong tương lai Tác giả cũng thấy rằng khả năng một công ty có chính sách cổ tức rõ ràng có tương quan dương đến quyền sở hữu tập trung cũng như sự hiện diện của các chủ sở hữu tư nhân hoặc công nghiệp dài hạn lớn Kết quả hỗ trợ việc sử dụng các chính sách cổ tức được xác định cho vấn đề đại diện hoặc giám sát hơn là dấu hiệu dự đoán

Bogna Kazmierska (2015) kiểm tra các khoản thanh toán cổ tức bằng tiền mặt của các công ty niêm yết của Ba Lan Trong nghiên cứu này, phân tích dữ liệu bảng được áp dụng để nghiên cứu các yếu tố quyết định chính sách cổ tức của các công ty Ba Lan Ngoài ra, còn cố gắng kiểm tra xem các yếu tố tương tự (lợi nhuận, thanh khoản, quy mô, đòn bẩy của công ty) có ảnh hưởng đến quyết định chi trả cổ tức trên thị trường Ba Lan

Trang 24

như trên các nước phát triển hay không Kết quả cho thấy mối quan hệ có ý nghĩa thống

kê và mối tương quan âm giữa tỷ lệ chi trả cổ tức (DPO) và hai yếu tố phân tích: lợi nhuận (ROE) và đòn bẩy (LEV) Kết quả chỉ ra rằng các công ty phi tài chính Ba Lan niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Warsaw theo cùng các yếu tố quyết định chính sách cổ tức như được đề xuất bởi các thị trường phát triển

Julian Benavides (2016) xem xét các chính sách chi trả cổ tức cho các công ty ở sáu quốc gia Mỹ Latinh từ năm 1995 đến năm 2013 Theo dự đoán của mô hình kinh doanh

và thương mại, chi trả cổ tức có tương quan dương đến lợi nhuận và tương quan âm đến

nợ và cơ hội đầu tư trong quá khứ Tác giả cũng nhận thấy rằng tỷ lệ chi trả cổ tức mục tiêu có tương quan dương đến các chỉ số quản trị ở cấp quốc gia Ngoài ra, tốc độ mà các công ty điều chỉnh cổ tức để thay đổi thu nhập thấp hơn ở các nước quản trị cao trong khu vực Do đó, các công ty chi cổ tức nhiều hơn ở các quốc gia có điểm quản trị cao hơn Tác giả không tìm thấy bằng chứng hỗ trợ lý thuyết vòng đời cũng như hiệu ứng không thanh khoản trên mức cổ tức

Imad Jabbouri (2016) xác định các yếu tố chính ảnh hưởng đến chính sách cổ tức trong thị trường mới nổi MENA trong giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2013 Bằng việc phân tích dữ liệu bảng, bài nghiên cứu cho thấy rằng chính sách cổ tức có tương quan dương đến quy mô, lợi nhuận trong năm, tính thanh khoản và tương quan âm với đòn bẩy, tăng trưởng, dòng tiền tự do và trạng thái của nền kinh tế

Fuxiu Jiang (2017) nghiên cứu tác động thông tin của tính thanh khoản cổ phiếu đối với các khoản chi trả cổ tức Sử dụng mẫu của các công ty niêm yết Trung Quốc trong giai đoạn 2000-2014, tác giả nhận thấy mối tương quan dương giữa thanh khoản cổ phiếu

và cổ tức Kết quả này là đủ để sử dụng các biện pháp thay thế thanh khoản, và nắm giữ sau khi kiểm soát vấn đề nội sinh Cuối cùng, tác giả loại trừ một số giải thích thay thế liên quan đến việc quản lý không kiểm soát và giảm bớt vấn đề đại diện

Trang 25

Naimat U.Khan (2017) phân tích tác động của thuế thu nhập vốn (CGT) đối với chính sách cổ tức giữa các công ty được niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Karachi (nay là Sở giao dịch chứng khoán Pakistan hoặc PSX) Lý do chọn thị trường Pakistan là

hệ thống thuế theo phong cách riêng của đất nước về cổ tức và lợi nhuận vốn Ở Pakistan, tăng vốn là không có thuế và thuế thu nhập vốn đã được thu tiền lần đầu tiên kể từ tháng 7 năm 2010 Điều này thúc đẩy nghiên cứu trường hợp đặc biệt của thị trường Pakistan liên quan đến mối quan hệ giữa việc áp dụng thuế trên lợi tức và mô hình cổ tức các khoản thanh toán Với mục đích này, tác giả sử dụng cả mô hình dữ liệu bảng tĩnh và động (phương pháp tổng quát) để phân tích hành vi thanh toán cổ tức cho một mẫu của 284 công ty phi tài chính được liệt kê tại PSX từ những năm 2006–2014 Tác giả sử dụng tỷ lệ

cổ tức trên tổng tài sản dưới dạng biến phụ thuộc và biến giả thuế cùng với các biến kiểm soát khác như thanh khoản, đòn bẩy, lợi nhuận, cổ tức chi trả năm ngoái và quy mô doanh nghiệp, dưới dạng biến giải thích Kết quả của các hồi quy cho thấy rằng thuế trên lợi tức không ảnh hưởng đến các khoản chi trả cổ tức, trong khi lợi nhuận, đòn bẩy và cổ tức năm ngoái là yếu tố quyết định quan trọng nhất của các khoản thanh toán cổ tức trên thị trường Pakistan

Lu Deng (2017) nghiên cứu mối liên hệ giữa chi trả cổ tức và chất lượng thu nhập cho các công ty được liệt kê ở Trung Quốc Kết quả cho thấy rằng các khoản chi trả cổ tức được kết hợp với thu nhập ổn định hơn, chất lượng tích lũy cao hơn và thu nhập thông tin lớn hơn, xác nhận giả thuyết về nội dung thông tin của cổ tức cho các công ty Trung Quốc Các phân tích sâu hơn cho thấy mối quan hệ giữa cổ tức và thu nhập có thể thay đổi với các yếu tố ảnh hưởng đến các khuyến khích trả cổ tức Tác giả thấy rằng tương quan dương của khoản chi trả cổ tức đối với chất lượng thu nhập được giảm cho các công

ty tiến hành tái tài trợ vốn chủ sở hữu.Tác giả cũng tìm thấy bằng chứng rằng quyền sở hữu nhà nước có thể làm giảm vai trò truyền đạt thông tin của cổ tức

Trang 26

Nghiên cứu của Lihong Cao và cộng sự (2017) xem xét liệu đầu tư của tổ chức nước ngoài có ảnh hưởng đến chính sách cổ tức của công ty hay không Sử dụng dữ liệu từ tất

cả các công ty phi tài chính ở Trung Quốc trong giai đoạn 2003-2013, tác giả thấy rằng cổ phần nước ngoài ảnh hưởng đến quyết định cổ tức và ngược lại Hơn nữa, những thay đổi trong chính sách cổ tức theo thời gian có ảnh hưởng tích cực đến những thay đổi tiếp theo trong công ty cổ phần nước ngoài, nhưng ngược lại thì không đúng Nghiên cứu của tác giả chỉ ra rằng các nhà đầu tư tổ chức nước ngoài không thay đổi các khoản thanh toán cổ tức trong tương lai của công ty khi đã lựa chọn đầu tư tại Trung Quốc Nhà đầu tư tự chọn vào các công ty Trung Quốc trả cổ tức cao Bằng chứng cho thấy trong bối cảnh thể chế

mà các nhà đầu tư nước ngoài hạn chế quyền truy cập vào thị trường chứng khoán trong nước và rủi ro bị chi phối bởi các cổ đông hiện hữu, các công ty có thể sử dụng cổ tức để báo hiệu cơ hội đầu tư tốt cho nhà đầu tư nước ngoài

Jung và cộng sự (2017) xem xét mối quan hệ giữa sự bất cân xứng thông tin, chính sách cổ tức và cơ cấu sở hữu đối với các doanh nghiệp niêm yết của Trung Quốc từ năm

2003 đến 2012 Các giải thích khác nhau về các khoản chi trả cổ tức của công ty đã được xem xét trong nghiên cứu của Allen và Michaely (2003) Giả thuyết về tín hiệu cổ tức cho thấy rằng các nhà quản lý, so với các nhà đầu tư bên ngoài, biết thêm thông tin bên trong liên quan đến tăng trưởng của công ty trong tương lai Do đó, các công ty có thể truyền đạt thông tin đến thị trường vốn thông qua các khoản chi trả cổ tức Tuy nhiên, lý thuyết đại diện chứng minh rằng khi hệ thống pháp luật yếu, cổ tức không thể được sử dụng như một công cụ để tránh các vấn đề đại diện Kết quả của nghiên cứu cho thấy ở Trung Quốc, khi sự bất cân xứng thông tin cao hơn, chi trả cổ tức sẽ thấp hơn.Chính sách cổ tức không chuyển tải thông tin cho thị trường vốn.Về hiệu quả kiểm tra của cấu trúc sở hữu, doanh nghiệp nhà nước với thông tin bất đối xứng cao hơn có xu hướng trả cổ tức, thỏa mãn sự kiểm soát cổ đông bằng cổ tức chi trả Liệu các thay đổi trong cấu trúc quyền sở hữu và việc tăng cường quản trị doanh nghiệp bên ngoài có tác động kiểm tra đối với mối quan

Trang 27

hệ giữa sự bất cân xứng thông tin và chính sách cổ tức Các phát hiện cho thấy hiệu quả của cải cách cấu trúc chia cổ phiếu là không đáng kể Tuy nhiên, tác giả tiếp tục tách giai đoạn mẫu thành "trước khi cải cách" và "sau cải cách” Tác giả thấy rằng sau khi cải cách cấu trúc cổ phần, bất cân xứng thông tin thấp hơn, chi trả cổ tức sẽ cao hơn Các kết quả

hỗ trợ giả thuyết được nêu trong nghiên cứu này, và cho thấy rằng cải cách cấu trúc cổ phần làm tăng tính minh bạch của thông tin doanh nghiệp

Bài nghiên cứu của H S Lestari (2018) nhằm mục đích phân tích các yếu tố quyết định ảnh hưởng đến chính sách cổ tức Mẫu được sử dụng trong nghiên cứu này là các công ty sản xuất được niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Indonesia (IDX) và giai đoạn 2011 - 2015 Có các biến độc lập như thu nhập, dòng tiền, dòng tiền tự do, nợ, cơ hội tăng trưởng, cơ hội đầu tư, quy mô doanh nghiệp, cổ đông lớn nhất, rủi ro công ty, cổ tức bị chậm và chính sách cổ tức được sử dụng làm biến phụ thuộc Nghiên cứu khảo sát tổng cộng 32 công ty sản xuất Sau khi phân tích dữ liệu, sử dụng phần mềm chương trình Eviews 9.0 bằng phân tích hồi quy cho thấy thu nhập, dòng tiền, dòng tiền tự do, quy mô doanh nghiệp và cổ tức có độ trễ có ảnh hưởng đáng kể đến chính sách cổ tức, trong khi

nợ, cơ hội tăng trưởng, cơ hội đầu tư, cổ đông lớn nhất, và rủi ro công ty không có ảnh hưởng đáng kể đến chính sách cổ tức Kết quả của nghiên cứu này dự kiến sẽ được thực hiện bởi các nhà quản lý tài chính trong việc cải thiện lợi nhuận doanh nghiệp và thông tin

cơ bản như là lợi tức đầu tư

Anh Ngo và cộng sự (2018) xem xét tác động của cấu trúc sở hữu đối với chính sách

cổ tức, cụ thể là vai trò của việc kiểm soát cổ đông trong việc định hình chính sách cổ tức trong một mẫu các doanh nghiệp trả cổ tức và đồng thời phát hành vốn cổ phần mới Kết quả cho thấy rằng các nhà quản lý trong các doanh nghiệp có chi phối yếu có nhiều khả năng bắt đầu cổ tức tùy chỉnh để đáp ứng nhu cầu của các cổ đông lớn trong khi đồng thời

sử dụng vốn bên ngoài tốn kém để tài trợ cho các dự án đầu tư mới Bài viết này góp phần

Trang 28

vào các nghiên cứu hiện có về các vấn đề đại diện bằng cách giải thích lý do tại sao các công ty tham gia vào chính sách cổ tức tối ưu này: nó cho phép các cổ đông lớn trích các lợi ích cá nhân.

2.3 Tổng hợp nghiên cứu thực nghiệm

Bảng 2.1Tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm

Tác giả Nội dung Kết quả

Các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của dòng tiền bất định đến chính sách cổ tức của công ty

Michael Bradley và cộng sự

(2003)

Nghiên cứu vai trò của dòng tiền bất định như một yếu tố quyết định chính sách cổ tức cả về mặt lý thuyết và thực nghiệm

Kết quả thực nghiệm sử dụng mẫu REITs từ năm

1985 đến năm 1992 và xác nhận rằng tỷ lệ thanh toán thấp hơn cho các công ty có dòng tiền bất định dự kiến cao hơn được đo lường bằng đòn bẩy, quy mô và đa dạng hóa

J.B Jay và Jungwon Suh

(2009)

Phân tích tầm quan trọng của yếu tố dòng tiền bất định trong việc chi phối chính sách cổ tức

Tác động của dòng tiền bất định đối với chính sách chi trả cổ tức nói chung là mạnh hơn tác động của các yếu tố quyết định tiềm năng khác

Trang 29

của chính sách chi trả cổ tức

— chẳng hạn như thu nhập/ vốn góp, vấn đề đại diện và

cơ hội đầu tư

Saeid Jabbarzadeh và

Kangarlouei (2012)

Nghiên cứu về các yếu tố tài chính tác động đến chính sách cổ tức

Các kết quả nghiên cứu sau đây đã đạt được: có mối tương quan âm và có ý nghĩa giữa chính sách cổ tức, dòng tiền bất định và cơ hội đầu tư và mối tương quan dương và có ý nghĩa giữa chính sách cổ tức và vốn góp

LuDeng và cộng sự (2013) Tìm hiểu mối quan hệ giữa

cổ tức và đầu tư cho các công ty niêm yết của Trung Quốc trong điều kiện dòng tiền bất định

Kết quả cho thấy, khi tồn tại dòng tiền bất định, các công

ty Trung Quốc không cắt giảm cổ tức hay cắt giảm đầu tư mà chỉ duy trì mức đầu tư rất cao Tồn tại một mối quan hệ phi tuyến “hình chữ N” giữa cổ tức và đầu

tư cho các mức độ dòng tiền bất định khác nhau

Roya Darabi (2014) Áp dụng khoa học dựa trên

các quan sát để tìm ra mối

Không có bằng chứng về tác động của dòng tiền bất

Trang 30

tương quan và mối quan hệ giữa các yếu tố tài chính và chính sách cổ tức

định trên chính sách cổ tức chi trả và thu nhập/ vốn góp

và ước tính cơ hội đầu tư có tương quan dương và có ý nghĩa đến việc chi trả cổ tức Ngoài ra, bản tóm tắt của hai kiểm định hồi quy hàm ý tác động âm và có ý nghĩa của vấn đề đại diện đối với khoản thanh toán cổ tức

Các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của yếu tố tài chính khác đến chính sách cổ tức của công ty

Ahmed và Javid (2012) Xem xét các yếu tố quyết

định chính sách chi trả cổ tức của 320 công ty phi tài chính được niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Karachi trong giai đoạn 2001-2006

Kết quả cho thấy các công ty phi tài chính được ở Pakistan dựa trên cả thu nhập hiện tại trên mỗi cổ phiếu và cổ tức trong quá khứ để đưa ra các khoản chi trả cổ tức

Sanjay Deshmukh và

cộng sự (2013)

Phát triển một mô hình tương tác năng động giữa chính sách quá tự tin và chính sách cổ tức của CEO

Tác giả ghi nhận rằng việc giảm cổ tức liên quan đến CEO quá tự tin là lớn hơn ở các doanh nghiệp có cơ hội tăng trưởng thấp hơn và dòng tiền

Trang 31

Thu nhập hiện tại, khả năng sinh lời, cơ hội tăng trưởng, quy mô của doanh nghiệp và rủi ro kinh doanh là yếu tố quyết định chi trả cổ tức cho các công ty phi tài chính trên NSE

Muzammal Ilyas và

cộng sự (2014)

Kiểm tra mối quan hệ giữa dòng tiền tự do và chính sách cổ tức với sự hiện diện của quy mô công ty điều hành

Kết quả cho thấy các đại diện của dòng tiền tự do có tương quan dương và có ý nghĩa thống kê cao với chính sách cổ tức Mô hình điều phối thứ hai cho thấy kết quả không đáng

kể với mối quan hệ giữa FCF

và chính sách chi trả cổ tức Tor Brunzell và cộng sự

(2014)

Phân tích kết quả từ một cuộc khảo sát trong số các công ty Bắc Âu niêm yết công khai về chính sách chi trả cổ tức

Tác giả thấy rằng khả năng một công ty có chính sách cổ tức rõ ràng có tương quan dương đến quyền sở hữu tập trung cũng như sự hiện diện của các chủ

sở hữu tư nhân hoặc công nghiệp dài hạn lớn

Bogna Kazmierska Kiểm tra xem các yếu tố Kết quả cho thấy mối quan hệ

Trang 32

(2015) tương tự (lợi nhuận, thanh

khoản, quy mô, đòn bẩy của công ty) có ảnh hưởng đến quyết định chi trả cổ tức trên thị trường Ba Lan như trên các nước phát triển hay không

có ý nghĩa thống kê và mối tương quan âm giữa tỷ lệ chi trả cổ tức (DPO) và hai yếu tố phân tích: lợi nhuận (ROE) và đòn bẩy (LEV)

Julian Benavides (2016) Xem xét các chính sách chi

trả cổ tức cho các công ty ở sáu quốc gia Mỹ Latinh từ năm 1995 đến năm 2013

Tác giả cũng nhận thấy rằng tỷ

lệ chi trả cổ tức mục tiêu có tương quan dương đến các chỉ

số quản trị ở cấp quốc gia Các công ty chi cổ tức nhiều hơn ở các quốc gia có điểm quản trị cao hơn

Imad Jabbouri (2016) Xác định các yếu tố chính

ảnh hưởng đến chính sách cổ tức trong thị trường mới nổi MENA trong giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2013

Bài nghiên cứu cho thấy rằng chính sách cổ tức có tương quan dương đến quy mô, lợi nhuận trong năm, tính thanh khoản và tương quan âm với đòn bẩy, tăng trưởng, dòng tiền

tự do và trạng thái của nền kinh

tế

Fuxiu Jiang (2017) Nghiên cứu tác động thông

tin của tính thanh khoản cổ phiếu đối với các khoản chi trả cổ tức bằng việc sử dụng

Tác giả nhận thấy rằng mối tương quan dương giữa thanh khoản cổ phiếu và tiền chi trả

cổ tức là rõ rệt hơn khi môi

Trang 33

mẫu của các công ty niêm yết Trung Quốc trong giai đoạn 2000-2014

trường thông tin không minh bạch và

Naimat U.Khan (2017) Phân tích tác động của thuế

thu nhập vốn (CGT) đối với chính sách cổ tức giữa các công ty được niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Karachi (nay là Sở giao dịch chứng khoán Pakistan hoặc PSX)

Kết quả của các hồi quy cho thấy rằng thuế trên lợi tức không ảnh hưởng đến các khoản chi trả cổ tức, trong khi lợi nhuận, đòn bẩy và cổ tức năm ngoái là yếu tố quyết định quan trọng nhất của các khoản thanh toán cổ tức trên thị trường Pakistan

Lu Deng (2017) Nghiên cứu mối liên hệ giữa

chi trả cổ tức và chất lượng thu nhập cho các công ty được liệt kê ở Trung Quốc

Kết quả cho thấy rằng các khoản chi trả cổ tức được kết hợp với thu nhập ổn định hơn, chất lượng tích lũy cao hơn và thu nhập thông tin lớn hơn, xác nhận giả thuyết về nội dung thông tin của cổ tức cho các công ty Trung Quốc

Lihong Cao và cộng sự

(2017)

Xem xét liệu đầu tư của tổ chức nước ngoài có ảnh hưởng đến chính sách cổ tức của công ty hay không bằng việc sử dụng dữ liệu từ tất cả

Tác giả thấy rằng cổ phần nước ngoài ảnh hưởng đến quyết định cổ tức và ngược lại

Trang 34

các công ty phi tài chính ở Trung Quốc trong giai đoạn 2003-2013

Jung và cộng sự (2017) Xem xét mối quan hệ giữa

sự bất cân xứng thông tin, chính sách cổ tức và cơ cấu

sở hữu đối với các doanh nghiệp niêm yết của Trung Quốc từ năm 2003 đến 2012

Tác giả thấy rằng các doanh nghiệp có tính bất đối xứng thông tin cao hơn ít có khả năng trả cổ tức Doanh nghiệp

do nhà nước kiểm soát có tính bất cân xứng thông tin cao hơn

sẽ trả cổ tức cao hơn so với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh

H S Lestari (2018) Mục đích phân tích các yếu

tố quyết định ảnh hưởng đến chính sách cổ tức Mẫu được

sử dụng trong nghiên cứu này là các doanh nghiệp sản xuất được niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Indonesia (IDX) và giai đoạn 2011 – 2015

Thu nhập, dòng tiền, dòng tiền

tự do, quy mô doanh nghiệp và

cổ tức có độ trễ có ảnh hưởng đáng kể đến chính sách cổ tức, trong khi nợ, cơ hội tăng trưởng, cơ hội đầu tư, cổ đông lớn nhất, và rủi ro doanh nghiệp không có ảnh hưởng đáng kể đến chính sách cổ tức Anh Ngo và cộng sự

(2018)

Nghiên cứu tác động của cấu trúc sở hữu đối với chính sách cổ tức, cụ thể là vai trò của việc kiểm soát cổ đông trong việc định hình chính

Kết quả cho thấy rằng các nhà quản lý trong các doanh nghiệp

có chi phối yếu có nhiều khả năng bắt đầu cổ tức tùy chỉnh

để đáp ứng nhu cầu của các cổ

Trang 35

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Bài viết “Mối quan hệ giữa chính sách chi trả cổ tức và dòng tiền bất định tại các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP.HCM” dựa trên bài nghiên cứu của J.B Chay

và Jungwom Suh (2009) “Payout policy and cash-flow uncertainty” để tiến hành xem xét mối quan hệ giữa chính sách chi trả cổ tức và dòng tiền bất định của các công ty tại thị trường chứng khoán Việt Nam

sách cổ tức trong một mẫu các doanh nghiệp trả cổ tức

Trang 36

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Mô hình nghiên cứu

Nhằm khám phá mối tương quan giữa độ bất ổn dòng tiền và chính sách chi trả cổ tức của các công ty ở Việt Nam, luận văn tiến hành ước lượng phương trình nghiên cứu sau dựa trên phương pháp tiếp cận mà Chay và Suh (2009) đã sử dụng khi phân tích chủ

đề này Phương trình nghiên cứu được thể hiện như sau:

𝑆𝑅𝑉𝑂𝐿𝑖𝑡 phản ánh độ bất ổn dòng tiền của công ty được đo lường bởi độ lệch chuẩn của tỷ suất sinh lợi hàng tháng của cổ phiếu trong năm

𝑅𝐸𝑇𝐸𝑖𝑡 thể hiện lợi nhuận chưa phân phối của công ty được tính bởi tỷ lệ lợi nhuận chưa phân phối trên tổng tài sản

𝑂𝑊𝑁𝑖𝑡 thể hiện sở hữu nội bộ của công ty và được tính như tỷ số cổ phần được nắm giữ bởi các đối tượng bên trong công ty so với tổng cổ phần của công ty

𝑀𝐵𝑖𝑡 thể hiện cơ hội tăng trưởng của công ty và được tính như tỷ số giá trị thị trường trên giá trị sổ sách của công ty

Ngày đăng: 15/03/2019, 23:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm