Kết quả nghiên cứu mối quan hệ tự nhiên giữa các loài cây rừng khác nhau với loài cây Kháo lá to Machilus grandifolia S.. Kết quả nghiên cứu mối quan hệ tự nhiên giữa các loài cây rừng k
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
- -
NGUYỄN TRUNG ANH
NGHI N C U M I QUAN HỆ T NHI N GI A C C LO I CÂY R NG
VỚI LO I CÂY H O L TO Machilus grandifolia)
V LO I CÂY L T HOA (Chukrasia tabularis A.Juss) TẠI VƯỜN QU C
GIA A Ể TỈNH ẮC ẠN
HÓA LUẬN T T NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Q ả tà
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
- -
NGUYỄN TRUNG ANH
NGHI N C U M I QUAN HỆ T NHI N GI A C C LO I CÂY R NG
VỚI LO I CÂY H O L TO Machilus grandifolia)
V LO I CÂY L T HOA (Chukrasia tabularis A.Juss) TẠI VƯỜN QU C
GIA A Ể TỈNH ẮC ẠN HÓA LUẬN T T NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Q ả tà
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nội dung nghiên cứu trong đề tài này là trung thực và chưa được công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây
Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc
Thái nguyên, tháng 6 năm 2018
X C NHẬN CỦA GVHD NGƯỜI VIẾT CAM ĐOAN Đồng ý cho bảo vệ kết quả
trước hội đồng khoa học!
Ths P ạ Đức C í N ễ T A
X C NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN IỆN
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên
đã sửa chữa sai sót sau khi Hội đồng chấm yêu cầu!
(Ký, họ và tên)
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp có ý nghĩa rất lớn đối với mỗi sinh viên, đó không chỉ
là điều kiện để mỗi sinh viên có thể hoàn thành khóa họcvà tốt nghiệp ra trường mà còn là cơ hội cho mỗi sinh viên ôn lại những kiến thức đã học vào thực tế, để sau khi ra trường trở thành cán bộ có trình độ chuyên môn vững vàng, đáp ứng nhu cầu xã hội Được sự đồng ý của Ban giám hiệu trường và Ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp, trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên,
tôi tiến hành thực hiện đề tài: "N cứ ố q a ệ ữa các oà c
tự ớ oà c áo á to (Machilus grandifolia S K Lee et F
N Wei) và loài cây Lát hoa (Chukrasiatabularis A.Juss) tạ Vườ Q ốc
G a a ể tỉ ắc ạ ”
Trong quá trình thực hiện đề tài này ngoài sự cố gắng lỗ lực hết mình của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ rất nhiệt tình của các thầy cô đã trực tiếp hướng dẫn, cán bộ, người dân địa phương, thầy giáo Ths.Phạm Đức Chính Khoa Lâm Nghiệp Nhân dịp này tôi xin được cám ơn cán bộ UBND
xã Nam Mẫu, huyện Ba Bể, Ban quản lý VQG Ba Bể, và một số hộ dân trên địa bàn nghiên cứu đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong việc thu thập số liệu ngoài thực địa, để tôi thực hiện và hoàn thành đề tài tốt nghiệp
Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo Phạm Đức Chính người đã hướng dẫn để tôi hoàn thành khóa luận tốt ghiệp này
Do kiến thức còn hạn hẹp nên trong quá trình thực hiện đề tài tôi đã gặp không ít những khó khăn, vì vậy mà đề tài không tránh khỏi những thiếu sót nhất định, tôi rất mong nhận được những góp ý phê bình của các thầy giáo, cô giáo, và các bạn sinh viên để đề tài được hoàn thiện hơn
T x c t à cá ơ !
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2018
Sinh viên
N ễ T A
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii
P ầ 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Ý nghĩa nghiên cứu 3
1.3.1 Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn sản xuất 3
P ầ 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHI N C U 4
2.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 4
2.1.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 4
2.1.1.1 Các mối quan hệ hỗ trợ 4
2.1.1.2 Các mối quan hệ đối kháng 5
2.1.2 Những nghiên cứu trên thế giới 6
2.1.3 Những nghiên cứu ở Việt Nam 7
2.2 Tổng quan khu vực nghiên cứu 13
2.2.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu VQG 13
2.2.1.1 Địa hình 13
2.2.1.2 Khí hậu 14
2.2.1.3 Sông ngòi 14
2.2.1.4 Tài nguyên thiên nhiên 15
2.2.2 Điều kiện dân sinh, kinh tế, xã hội khu vực nghiên cứu 16
2.2.2.1 Dân số, dân tộc và lao động 16
Trang 62.2.2.2 Thực trạng kinh tế 17
2.2.2.3 Sản xuất nông lâm nghiệp 18
2.2.2.4 Giao thông 18
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNGVÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 19
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 19
3.3 Nội dung nghiên cứu 19
3.4 Phương pháp nghiên cứu 19
3.4.1 Vật tư và dụng cụ cần thiết cho nghiên cứu 19
3.4.2 Phương pháp kế thừa số liệu 20
3.4.3 Phương pháp thu thập số liệu 20
3.4.3.1 Nội dung phương pháp 20
3.4.3.2 Xác định tên cây định danh loài 21
3.4.4 Xử lý số liệu điều tra 21
3.4.4.1 Xác định tần suất xuất hiện các loài 21
3.4.4.2 Mô phỏng sơ đồ không gian mặt cắt ngang 22
3.4.4.3 Nghiên cứu mối quan hệ giữa các loài 22
3.4.5 Tổng hợp viết báo cáo 23
P ầ 4: ẾT QUẢ NGHI N C U V THẢO LUẬN 24
4.1 Kết quả nghiên cứu một số đặc điểm lâm phần khu vực nghiên cứu có hai loài cây Kháo lá to và loài cây Lát hoa sinh sống 24
4.1.1 Danh sách các loài cây đi kèm với loài Kháo lá to 26
4.1.2 Danh sách các loài cây đi kèm với loài Lát hoa 29
4.2 Kết quả nghiên cứu mối quan hệ tự nhiên giữa các loài cây rừng khác nhau với loài cây Kháo lá to (Machilus grandifolia S K Lee et F N Wei) tại VQG Ba Bể 29
4.2.1 Tần suất xuất hiện các loài cây bạn trong quá trình điều tra 31
Trang 74.2.2 Mối quan hệ giữa loài cây Kháo lá to với các cây bạn rất hay gặp 35
4.3 Kết quả nghiên cứu mối quan hệ tự nhiên giữa các loài cây rừng khác nhau với loài cây Lát hoa (Chukrasia tabularis A.Juss) tại VQG Ba Bể 36
4.3.1 Tần suất xuất hiện các loài cây bạn trong quá trình điều tra 36
4.3.2 Mối quan hệ giữa loài cây Lát hoa với các cây bạn rất hay gặp 39
4.3.3 Sơ đồ lâm học Trắc đồ ngang, trắc đồ dọc có loài cây Kháo lá to và cây Lát hoa 40
4.4 Đề xuất tập đoàn cây trồng rừng hỗn giao trên cơ sở kết quả nghiên cứu mối quan hệ không giangiữa các loài cây Kháo lá to và cây Lát hoa 43
P ầ 5: ẾT LUẬN V IẾN NGHỊ 45
5.1 Kết luận 45
5.2 Kiến nghị 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO 47
Trang 8DANH MỤC C C ẢNG
Bảng 2.1 Tổng hợp tình hình dân số dân tộc và lao động các xã trong vùng 16
Bảng 4.1 Số ô quan sát và số loài cây bạn của các loài cây nghiên cứu 24
Bảng 4.2 Các giá trị bình quân của loài Kháo và nhóm cây bạn 25
Bảng 4.3 Các giá trị bình quân của loài Lát và nhóm cây bạn 25
Bảng 4.4 Danh sách và chỉ số của các loài cây đi kèm với loài Kháo lá to 26
Bảng 4.5 Danh sách và chỉ số của các loài cây đi kèm với loài Lát hoa 29
Bảng 4.6 Mức độ xuất hiện của nhóm loài cây bạn với các loài cây Kháo lá to 31 Bảng 4.7 Nghiên cứu mối quan hệ giữa loài cây Kháo lá to và cây bạn hay gặp 35
Bảng 4.8 Thống kê tần suất mối quan hệ giữa loài Lát hoa với các loài cây bạn 36 Bảng 4.9 Nghiên cứu mối quan hệ giữa loài cây Lát hoa và cây bạn 40 Bảng 4.10 Danh lục các loài cây bạn đề xuất trồng hỗn giao với cây chính 43
Trang 9DANH MỤC C C HÌNH
Hình 4.1 Biểu đồ tần xuất các loài cây bạn với cây Kháo lá to 34
Hình 4.2 Biểu đồ tần xuất các loài cây bạn với cây Lát hoa 39
Hình 4.3 Trắc đồ lâm học lâm phần xuất hiện loài cây Kháo lá to 41
Hình 4.4 Trắc đồ lâm học lâm phần có xuất hiện loài cây Lát hoa 42
Trang 10DANH MỤC C C CH VIẾT TẮT
, 2 Các tham số của phương trình
BTTN Bảo tồn tài nguyên
D1.3 Đường kính thân cây ại vị trí 1.3m HVN Chiều cao vút ngọn
IVI% Chỉ số tổ thành sinh thái tầng cây gỗ
Ni Số lượng các thể loài thứ i
Trang 11sự sống, rừng không những là cơ sở phát triển kinh tế - xã hội mà còn giữ chức năng sinh thái cực kỳ quan trọng, rừng tham gia vào quá trình điều hoà khí hậu, đảm bảo chu chuyển oxy và các nguyên tố cơ bản khác trên hành tinh, duy trì tính ổn định và độ màu mỡ của đất, hạn chế lũ lụt, hạn hán, ngăn chặn xói mòn đất, làm giảm nhẹ sức tàn phá khốc liệt của các thiên tai, bảo tồn nguồn nước và làm giảm mức ô nhiễm không khí Rừng giúp bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường sống trên toàn hành tinh chúng ta bởi vậy bảo vệ rừng và nguồn tài nguyên rừng luôn trở thành một nhiệm vụ quan trọng đối với tất cả các quốc gia trên thế giới nói chung và nước Việt Nam ta nói riêng Rừng còn mang ý nghĩa quan trọng về cảnh quan thiên nhiên và an ninh quốc phòng, bảo vệ hệ sinh thái rừng cũng chính là việc góp phần quan trọng vào việc bảo tồn xã hội loài người [5]
Rừng là môi trường sống của nhiều loài sinh vật khác nhau, chính vì vậy
mà diện tích rừng bị thu hẹp sẽ làm ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống của các loài sinh vật nói chung.Vai trò của rừng rất to lớn, thế nhưng trong những năm vừa qua diện tích rừng tự nhiên của chúng ta ngày càng giảm sút cả về số lượng và chất lượng [5] Vào đầu thế kỷ 21, chúng ta đã nhận thấy tài nguyên sinh học là có giới hạn và đã đang khai thác vượt quá giới hạn này do đó đang làm giảm tính đa dạng sinh học Vì vậy cần phải có sự thay đổi và định hướng mới trong mối quan hệ giữa con người và tài nguyên sinh học mà đời sống của con người phụ thuộc vào.[9]
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến mất rừng là do chiến tranh, khai thác bừa bãi, đốt nương làm rẫy [5], và chính vì vậy nên thảm thực vật đã và đang bị suy thoái rồi bị đảo lộn toàn bộ về cấu trúc quá trình tái sinh diễn thế theo
Trang 12chiều hướng thoái bộ so với ở tình trạng nguyên sinh hoặc trước khi khai thác, nhất là ở các lâm phần không được quản lý tốt
Biết rằng tổ thành loài cây đa dạng và phong phú, song mỗi loài cây lại
có một vùng phân bố nhất định, sự phân bố này có liên quan chặt chẽ đến điều kiện hoàn cảnh của môi trường xung quanh Trong các hệ sinh thái rừng mưa nhiệt đới, ngoài các yếu tố của điều kiện môi trường, sự tồn tại của các loài còn phụ thuộc vào mối quan hệ qua lại giữa các loài, nghĩa là ngoài sự cạnh tranh và điều kiện sống, cùng tồn tại của các loài cây còn chịu ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp bởi các chất tiết ra từ những loài sống cạnh nó gọi là phitonxit thông qua lá, hoa, rễ Chúng cùng tồn tại khi các loài không có ảnh hưởng xấu đến nhau, hoặc kích thích sự sinh trưởng, phát triển của các loài xung quanh, ngược lại chúng sẽ loại trừ nhau khi các loài này có quan hệ xấu, kiềm hãm sự phát triển của các loài bên cạnh.[10]
Bản chất mối quan hệ giữa các loài cây với nhau là rất biện chứng bởi có những cây mang mối quan hệ tương trợ, vì thế nghiên cứu sâu về mối quan hệ qua lại giữa các loài trong rừng tự nhiên là rất cần thiết cho việc điều chỉnh tổ thành loài cây, trong các lâm phần rừng tự nhiên khi cần tác động các giải pháp lâm sinh và quan trọng hơn là làm cơ sở cho việc lựa chọn và phối hợp các loài cây trong trồng rừng hỗn loài
Để có cơ sở khoa học và thực tiễn về mối quan hệ giữa các loài cây một
cách rõ ràng hơn, tôi tiến hành thực hiện đề tài: "N cứ ố q a ệ
ữa các loài cây tự ớ oà c áo á to (Machilus
grandifolia S K Lee et F N Wei) và loài cây Lát hoa (Chukrasia tabularis A.Juss) tại Vườn Quốc Gia Ba Bể tỉnh Bắc Kạn"
Trang 131 2 Mục t cứ
Xác định được một số đặc điểm cấu trúc rừng nơi sinh sống của hai
loài cây nghiên cứu Kháolá to (Machilus grandifolia S K Lee et F N Wei) và cây Lát hoa (Chukrasia tabularis A.Juss) tại vườn Quốc gia Ba
Bể, tỉnh Bắc Kạn
Xác định mối quan hệ tự nhiên giữa các loài cây rừng khác với hai
loài cây nghiên cứu Kháolá to (Machilus grandifolia S K Lee et F N Wei) và cây Lát hoa (Chukrasia tabularis A.Juss) tại vườn Quốc gia Ba
Bể, tỉnh Bắc Kạn
Đề xuất được tập đoàn cây trồng hỗn giao với loài cây cây Kháo lá to
(Machilus grandifolia S K Lee et F N Wei) và cây Lát hoa (Chukrasia tabularis A.Juss) cho vườn Quốc gia Ba Bể nói riêng và vùng sinh thái
tương tự nói chung
1.3 Ý ĩa cứ
1.3.1 Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học
Bổ sung những cơ sở khoa học và thực tiễn về mối quan hệ tự nhiên giữa các loài cây rừng với hai loài cây Kháo lá to và loài cây Lát hoa Đồng thời giúp cho sinh viên tiếp cận phương pháp nghiên cứu khoa học, giải quyết vấn đề thực tiễn của khoa học đặt ra
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn sản xuất
Trên cơ sở các mối quan hệ tự nhiên giữa các loài ta chỉ ra ở trên là cơ
sở khoa học quan trọng để vườn Quốc gia Ba Bể cũng như các vùng sinh
thái lân cận có thể tham khảo để lựa chọn cây trồng
Trang 14P ầ 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHI N C U
2 1 Tổ q a ấ đề cứ
Trong một lâm phần khi các loài có đủ không gian dinh dưỡng nhưng
vì ảnh hưởng bởi phitônxit của các loài cây xung quanh nên có thể diễn ra theo hai chiều hướng: hoặc là cùng tồn tại hoặc là bài xích lẫn nhau, chúng cùng tồn tại khi phitônxit của các loài không có ảnh hưởng xấu đến nhau hoặc kích thích sự sinh trưởng phát triển của các loài xuang quanh, ngược lại chúng sẽ loại trừ nhau khi phitônxit của loài này có ảnh hưởng xấu, kìm hãm sự phát triển của các loài bên cạnh Vì thế nghiên cứu sâu về mối quan
hệ qua lại giữa các loài trong rừng tự nhiên là rất cần thiết cho việc điều chỉnh tổ thành loài cây trong các lâm phần rừng tự nhiên khi cần tác động các giải pháp lâm sinh và quan trọng hơn là làm cơ sở cho việc lựa chọn và phối hợp các loài cây trong trồng rừng hỗn loài
2.1.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
2.1.1.1 Các mối quan hệ hỗ trợ
* Quan hệ hội sinh
Mối quan hệ này được thể hiện dưới nhiều cách, trong đó loài sống hội sinh có lợi, còn loài được hội sinh không có lợi và cũng không bị hại Ví dụ, nhiều loài phong lan lấy thân gỗ khác để bám Ở biển, cá ép luôn tìm đến các loài động vật lớn cá mập, vích… , thậm chí cả tàu thuyền để ép chặt vào, nhờ
đó, cá dễ dàng di chuyển xa, dễ kiếm ăn và hô hấp Các loài động vật nhỏ
sống hội sinh với giun biển (sinh học 12, 2016 ).[22]
*Quan hệ hợp tác
Đây là kiểu quan hệ giữa các loài, trongđóchúng sống dựa vào nhau, nhưng không bắt buộc Ví dụ, ở biển, các loài tôm, cá nhỏ thường bò trên thân
Trang 15cá lạc, cá dưa để ăn các ngoại kí sinh sống ở đây làm thức ăn; sáo thường đậu
trên lưng trâu, bò bắt “chấy, rận” để ăn (sinh học 12, 2016 ).[22]
* Quan hệ cộng sinh
Đây là kiểu quan hệ mà 2 loài chung sống thường xuyên với nhau mang lợi cho nhau Ví dụ, cuộc sống cộng sinh của kiến và cây: kiến sống dựa vào cây để lấy thức ăn và tìm nơi ở, nhờ có kiến mà cây được bảo vệ Trong nhiều trường hợp, sống cộng sinh là cách sống bắt buộc, khi rời khỏi nhau cả 2 đều chết Ví dụ vi sinh vật sống trong dạ dày động vật nhai lại có vai trò tương tự Khuẩn lam sống dưới lớp biểu mô của san hô, hến biển, giun biển… khi quang hợp, tạo ra nguồn thức ăn bổ sung cho các động vật này Nấm và vi khuẩn lam cộng sinh với nhau chặt chẽ đến mức tạo nên 1 dạng
sống đặc biệt, đó là địa y (sinh học 12, 2016 ).[22]
2.1.1.2 Các mối quan hệ đối kháng
* Quan hệ ức chế - cảm nhiễm
Ức chế - cảm nhiễm: là mối quan hệ trong đó 2 loài này sống bình thường nhưng lại gây hại cho nhiều loài khác Ví dụ, trong quá trình phát triển của mình, khuẩn lam thường tiết ra các chất độc, gây hại cho các loài động vật sống xung quanh Một số loài tảo biển khi nở hoa, gây ra “thủy triều đỏ” làm cho hàng loạt động vật không xương sống, cá, chim chết vì nhiễm độc trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua chuỗi thức ăn Trong nhiều trường hợp, người cũng bị ngộ độc vì ăn
hàu, sò, cua, cá trong vùng thủy triều đỏ (sinh học 12, 2016 ).[22]
* Quan hệ cạnh tranh giữa các loài và sự phân li ổ sinh thái
Hai loài có chung nguồn sống thường cạnh tranh với nhau: trong rừng, các cây ưa sáng cạnh tranh nhau về ánh sáng, không gian dinh dưỡng Những loài cùng sử dụng 1 nguồn thức ăn vẫn có thể chung sống hòa bình trong 1 sinh cảnh Trong tiến hóa, các loài gần nhau về nguồn gốc thường hướng tới
sự phân li ổ sinh thái của mình bao gồm cả không gian sống, nguồn thức ăn
Trang 16và cách khai thác nguồn thức ăn đó Ví dụ, loài trùng cỏ Paramecium caudatum và Paramecium bursaria tuy cùng ăn vi sinh vật vẫn có thể chung
sống trong 1 bể nuôi vì chúng đã phân li nơi sống: loài thứ nhất chỉ sống ở tầng mặt, giàu oxy; loài thứ 2 nhờ cộng sinh với tảo nên có thể sống được ở
đáy bể, ít oxy…(sinh học 12, 2016 ) [22]
* Quan hệ con mồi – vật ăn thịt và vật chủ - vật kí sinh
Mối quan hệ con mồi – vật ăn thịt được đề cập chủ yếu ở bài quan hệ dinh dưỡng trong quần xã Trong mối quan hệ này, con mồi có kích thước nhỏ, nhưng số lượng đông, còn vật ăn thịt thường có kích thước lớn, nhưng số lượng ít Con mồi thích nghi với kiểu lẩn tránh và bằng nhiều hình thức chống lại sự săn bắt của vật dữ, còn vật ăn thịt có răng khỏe, chạy nhanh và có nhiều
“mánh khóe” để khai thác con mồi có hiệu quả
Mối quan hệ vật chủ - vật kí sinh là sự biến tướng của quan hệ con mồi vật ăn thịt, chỉ khác là vật kí sinh nhỏ, có số lượng đông, ăn dịch trong cơ thể vật chủ hoặc tranh chất dinh dưỡng với vật chủ, thường không giết chết vật chủ; còn
vật chủ có kích thước rất lớn, nhưng số lượng ít (sinh học 12, 2016 ).[22]
2.1.2 Nh ng nghiên cứu trên th gi i
Nghiên cứu sinh trưởng từ một số thí nghiệm đã cho thấy việc lựa chọn loài cây phối hợp có ý nghĩa quyết định đến sự thành công của trồng rừng hỗn giao trong rừng trồng Những điều tra của Shilling (1925) và Buse (1931) ở Trung Âu đã chỉ ra rằng sản lượng thể tích của các quần thụ Vân sam và Thông Scots vượt sản lượng của chúng trong các quần thụ thuần loài Nguyễn Đức Thế, 2007 [trích Huỳnh Đức Nhân 2001] Jonsson 1962 đã thấy rằng trên các địa điểm trung gian, rừng hỗn giao của Vânsam Abies và Thông Scots (Pinus sylvestris sinh trưởng tốt hơn, cho sản lượng nhiều hơn khi trồng riêng biệt.[19]
Trang 17G N.Baur (1964), đã nghiên cứu các vấn đề cơ sở sinh thái nói chung
và về cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng nói riêng, trong đó đi sâu nghiên cứu cấu trúc rừng, các kiểu xử lý về mặt lâm sinh áp dụng cho rừng
mưa tự nhiên Từ đó tác giả đưa ra các nguyên lý tác động xử lý lâm sinh cải thiện rừng.[14]
P Odum (1971), đã hoàn chỉnh học thuyết về hệ sinh thái trên cơ sở
thuật ngữ về hệ sinh thái ecosystem của A Tanslay 1935 Khái niệm sinh
thái được làm sáng tỏ là cơ sở để nghiên cứu các nhân tố cấu trúc trên quan điểm sinh thái học Công trình nghiên cứu của R Catinot 1965 [17], J Plaudy 1987 [18], đã biểu diễn cấu trúc hình thái rừng bằng các phẫu đồ rừng, nghiên cứu các cấu trúc sinh thái thông qua việc mô tả phân loại theo các khái niệm dạng sống, tầng phiến
Một vài chỉ số cạnh tranh khác nhau thường dùng trong trồng rừng độc canh và rừng hỗn loài được đưa ra qua công trình nghiên cứu của Biging
và Dobbertin (1992), Burton (1993) và Moravie và cộng sự 1999 Các chỉ số cạnh tranh này có thể được đưa ra dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng thường được tính bằng tính đồng nhất và kích cỡ chiều cao hoặc đường kính của một vài cây gần nhất xung quanh cây mục đích Các phương trình hồi quy sau đó có thể được phát triển kết hợp với tăng trưởng của cây mục đích của một loài cụ thể trong rừng trồng theo mức độ cạnh tranh theo kinh
nghiệm Hùynh Đức Nhân, 2001).[16]
2.1.3 Nh ng nghiên cứu ở Vi t Na
Việt Nam là một trong các quốc gia nằm trong vùng nhiệt đới, trồng rừng hỗn giao đã được Chính phủ, ngành Lâm nghiệp và các tổ chức quốc tế quan tâm Trong những năm gần đây cũng đã có nhiều tác giả nghiên cứu về các công trình liên quan đến mối quan hệ giữa các loài cây rừng, nhất là cho rừng tự nhiên, cụ thể như:
Trang 18Phùng Ngọc Lan (1986), đã nghiên cứu thí nghiệm tạo rừng hỗn loài ở
Núi Luốt - Xuân Mai Tác giả đã trồng hỗn loài Thông đuôi ngựa (Pinus massoniana Lamb) với Keo lá tràm (Acacia auriculiformis) và Bạch đàn trắng (Eucalyptus camaldulensis) theo tỷ lệ, mật độ, phương thức, thời điểm khác
nhau Căn cứ vào các chỉ tiêu sinh trưởng, động thái đất, sâu bệnh hại tác giả nhận xét: Sau 2 năm sinh trưởng của Thông hỗn giao tốt hơn so với Thông thuần loài Tỷ lệ hỗn giao chưa có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng của thông trên các công thức thí nghiệm Trong các công thức hỗn giao giun đất phát triển nhiều hơn so với các công thức thuần loài Điều này chứng tỏ đất đã được cải thiện Với thí nghiệm trên sau 2 năm tác giả nhận thấy sinh trưởng chiều cao Thông thuần loài là 2,53m, Thông hỗn loài với Keo theo tỷ lệ 1:1 là 2,8m và tỷ lệ 4:1 là 2,72m Sinh trưởng đường kính Thông hỗn loài với Keo theo tỷ lệ 2:1 cũng nhanh hơn Đối với mô hình hỗn
giao Thông đuôi ngựa (Pinusmassoniana Lamb và Bạch đàn trắng (Eucalyptus camaldulensis), sinh trưởng của Thông chưa rõ Báo cáo tổng kết
đề tài khoa học năm 2001 – 2006 ) Theo Phạm Xuân Hoàn 2000 , mười loài
cây bản địa, bao gồm Gội trắng (Aphanamixisgrandifolia Blume), Re hương (Cinnamomum inners),
Lát hoa (Chukrasia tabularis A.Juss), Lim xanh (Erythrophloumfordii), Lim xẹt (Peltophorum tonkinense A.Chev), Dẻ (Castanopsis sp) và Kim giao (Podocarpus fleurgi Hickel đã được đưa vào trồng dưới tán các lâm phần Keo lá tràm (A auriculiformis) và Keo tai tượng (A mangium Wild ở Vườn
quốc gia Cát Bà Hải Phòng theo phương thức trồng hỗn giao theo hàng Đánh giá kết quả thí nghiệm năm 2000 cho thấy, dưới tán rừng Keo tai tượng
(A mangium Wild các loài cây bản địa sinh trưởng kém hơn dưới tán của Keo lá tràm (A auriculiformis) Tỷ lệ sống của các loài cây bản địa trồng hỗn giao dưới tán Keo tai tượng (A.mangium Wild đạt 79,1%, thậm chí loài Sấu chết hoàn toàn Trong khi đó ở dưới tán Keo lá tràm (A.auriculiformis) tỷ lệ
này là 95,3% Lượng tăng trưởng thường xuyên và tăng trưởng bình quân của cây bản địa dưới tán Keo lá tràm cao hơn.Ví dụ như Gội trắng có tăng trưởng đường kính gốc 0,61cm, tăng trưởng chiều cao vút ngọn đạt 0,45m và tăng
Trang 19trưởng đường kính tán lá đạt 0,08 m và tác giả cho rằng tầng cây cao là một trong những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của các loài cây bản địa tầng dưới.[6]
Nguyễn Bá Chất 1996 , đã nhận thấy việc chọn loài phối hợp với Lát
hoa (Chukrasia tabularis A.Juss đang còn khoảng trống cơ sở lý luận và thực tiễn Thí nghiệm trồng hỗn giao Lát hoa với các loài Trai (Garcinia fagraeoides A.Chew), Nghiến (Burretiodendrontonkinense), Bứa (Garcinia oblongifolia Champ … ở tuổi 5 chưa thấy có ảnh hưởng đến sinh trưởng của
Lát hoa Khi so sánh mười tám loài cây bản địa và nhập nội trong đó có Giổi
xanh (Michelia mediocris Dandy), Lát hoa (Chukrasia tabularis A.Juss) cùng với Bạch đàn (urophylla) trồng thử nghiệm thuần loài tại 5 tỉnh miền núi phía
Bắc ở 18 tháng tuổi Hoàng Văn Sơn 1996 nhận thấy hầu hết các loài đều có
tỷ lệ sống thấp và chúng không thích hợp với việc phát quang thực bì khi trồng Đánh giá kết quả trồng rừng cây bản địa lá rộng ở Trung Trung bộ,Lại Hữu Hoàn 2004 nhận thấy Trám trắng được trồng theo phương thức hỗn giao có tỷ lệ sống cao đạt 80%, tăng trưởng chiều cao 1,25 m/năm và đường kính 1,3 cm/năm Trong dự án nghiên cứu về rừng trồng hỗn giao các loài cây
gỗ giá trị cao hợp tác giữa Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy và Trường đại học Queensland, đã thiết lập hàng loạt các thí nghiệm hỗn giao các loài cây bản địa và cây nhập nội ở cả phía Bắc và Nam Việt Nam Dự án đã tìm ra
tại Đoan Hùng, Phú Thọ hai loài cây Giổi xanh (Michelia mediocris) và Bạch đàn (Eucalyptus urophylla) trồng hỗn giao theo hàng cho năng suất cao gấp
1,5 lần so với trồng thuần loại [2]
Một nghiên cứu có so sánh sinh trưởng giữa rừng trồng hỗn giao và thuần loài của Lê Trọng Cúc 1996 dẫn từ Huỳnh Đức Nhân 2001 , cho thấy
tăng trưởng của rừng hỗn giao 3 năm tuổi giữa (Eucalyptus camaldulensis) với (Acacia auriculiformis) đã không tốt hơn quần thụ thuần loài của chúng ở
miền Bắc Việt Nam, chiều cao của hỗn giao là 11,2 m so với 12,3 m ở rừng thuần loài và đường kính là 8,3 cm so với 9,2 cm.[3]
Hoàng Văn Thắng (2003), nghiên cứu có các chỉ tiêu D1.3 và Hvn lớn hơn các loài cây bạn trừ vạng trứng Điều đó chứng tỏ các loài nghiên cứu
Trang 20đều ở tầng trội của rừng Giá trị của D1.3 và Hvn của cả loài nghiên cứu và cây bạn cho biết chúng đang ở giai đoạn rừng trung niên nên mỗi loài cây đều
đã có một không gian sống tương đối ổn định Vì thế mối quan hệ giữa các loài lúc này ngoài sự cạnh tranh về không gian dinh dưỡng chúng còn chịu ảnh hưởng bởi phitônxit của mỗi loài xung quanh Giá trị bình quân khoảng cách từ loài cây nghiên cứu đến các loài cây bạn xung quanh cho thấy khi nghiên cứu mối quan hệ giữa các loài cây rừng tự nhiên mà các loài cây nghiên cứu được chọn ngẫu nhiên thì thay cho phương pháp ô 6 cây có thể điều tra các ô hình tròn với bán kính là R= 4.3m Vì khi điều tra mối quan hệ theo phương pháp lập ô thì việc xác định diện tích ô rất quan trọng Nếu diện tích ô quá lớn sẽ có nhiều loài cùng xuất hiện cho dù chúng không có quan hệ với nhau, ngược lại khi diện tích ô quá nhỏ lại bỏ qua nhiều loài mặc dù chúng có quan hệ Nghiên cứu xác định mối quan hệ giữa các loài trong rừng
tự nhiên là vấn đề phức tạp Để có những cơ sở khoa học chắc chắn cần phải căn cứ vào đặc điểm sinh vật học và đi sâu nghiên cứu về phitônxit của từng loài Trong khi chưa có điều kiện nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa các loài cây trong rừng tự nhiên bằng phương pháp đó thì việc nghiên cứu mối quan hệ giữa các loài: vạng trứng, sồi phảng, lim xanh và trám trắng với các loài cây khác trong rừng tự nhiên bằng phương pháp tần xuất xuất hiện cho ta một số kết quả ban đầu rất quan trọng làm cơ sở cho việc chọn và phối hợp nhóm loài cây khi xây dựng mô hình trồng rừng hỗn loài Từ kết quả nghiên cứu, có thể rút ra một số kết luận sau: Số loài cây bạn xuất hiện cùng các loài cây nghiên cứu đều rất lớn Thấp nhất là 34 loài của 21 ô trám trắng) và cao nhất là 44 loài của 39 ô vạng trứng ; Vạng trứng và giẻ là hai loài thường gặp nhiều nhất với vạng trứng Nhóm loài xuất hiện nhiều nhất cùng sồi phảng là sồi phảng, táu và trâm Xuất hiện nhiều nhất với lim xanh gồm ràng ràng, giẻ
và lim xanh Các loài giẻ, ràng ràng và lim xanh là nhóm loài xuất hiện cùng
Trang 21trám trắng với tần suất lớn nhất; Cả 3 loài: vạng trứng, sồi phảng và lim xanh đều xuất hiện cùng với chính nó với tần xuất cao, nghĩa là chúng đều có tính quần thể rất rõ rệt Riêng trám trắng thì đặc tính này thể hiện kém hơn Trên đây chỉ là những kết quả ban đầu Đối với rừng tự nhiên thứ sinh đã phục hồi thì các mối quan hệ trên là tương đối ổn định, còn đối với rừng tự nhiên thứ sinh đang trong giai đoạn phục hồi thì số loài cây bạn và mức độ xuất hiện của chúng có thể sẽ thay đổi tuỳ theo các giai đoạn phát triển của rừng Vì thế, cần nghiên cứu thêm để có kết quả sát thực hơn.[10]
Nguyễn Văn Thêm 2004 có những nghiên cứu về quan hệ giữa các loài Chò Xót Thành ngạnh, Hà nu, Trắc.[11]
Hà Thị Mừng (2005) Nghiên cứu về đặc điểm quần thể: Giáng hương
(Pterocarpus macrocarpus Kurz) ở rừng khộp với các loài ưu thế là Giáng hương, Căm xe, Cẩm liên, Cà chít, Chiêu liêu, Lành ngạnh và rừng bán thường xanh với các loài ưu thế là Giáng hương, Bằng lăng, Căm xe, lành ngạnh, Bình linh, Trâm, Kơ nia, Giáng hương có quan hệ ngẫu nhiên với các loài ưu thế nói trên.[7]
Ngô Văn Nhương (2014 , Một số đặc điểm lâm học của cây Mun
(Diospyros mun A.Chev ex Lecomte) ở Vườn Quốc Gia Cúc Phương Qua
nghiên cứu về đặc điểm cây Mun tác giả cũng đã kết luận được cây Mun thường mọc cùng với 5 loài ưu thế sinh thái là Chà vải, Vải vàng, Rì rì, Chành chạ và Trai thảo.[8]
Nguyễn Văn Hợp 2014 , Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh
thái học loài Thông xuân nha (Pinus cernua L K Phan ex Aver K S
Nguyên & T H Nguyên tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha, tỉnh Sơn
La Kết quả điều tra cho thấy, loài Thông xuân nha có khu phân bố hẹp, mọc tập trung trong rừng tự nhiên lá rộng thường xanh với một số loài thuộc họ
Chè (Theaceae), Long não (Lauraceae), Dẻ (Fagaceae), Lau, Sặt, đặc điểm
này giống với loài Thông đà lạt nhưng loài Thông pà cò thường phân bố với các loài cây lá kim…[4]
Trang 22Phạm Văn Bốn 2015 , Mối quan hệ của thanh thất (Ailanthus triphysa
Alston với các loài trong rừng ở 3 vùng sinh thái trọng điểm tự nhiên Mối quan hệ giữa các loài cây trong tự nhiên là cơ sở để nghiên cứu kỹ thuật trồng rừng, đặc biệt là trồng rừng hỗn loài Nghiên cứu mối quan hệ giữa các loài là công việc khó khăn, phức tạp, với nhiều phương pháp khác nhau đã được áp dụng Sử dụng phương pháp điều tra ô 6 cây và chỉ số tần suất xuất hiện, để nghiên cứu mối quan hệ giữa Thanh thất với các loài cây bạn, ở 3 địa điểm là Vĩnh Phúc, Quảng Nam và Đồng Nai, kết quả thu được như sau: Số loài cây xuất hiện cùng với Thanh thất, nhiều nhất là ở Đồng Nai, với 62 loài, Quảng Nam là 48 loài và ở Vĩnh Phúc 47 loài; Nhóm loài rất hay gặp cùng với Thanh thất ở Vĩnh Phúc có 3 loài, ở Quảng Nam và Đồng Nai đều có 2 loài; Nhóm loài hay bắt gặp cao nhất là ở Quảng Nam với 11 loài, 2 địa điểm còn lại đều có 6 loài; Ở Vĩnh Phúc và Quảng Nam, Thanh thất đều xuất hiện cùng với nó ở nhóm rất hay bắt gặp, trong khi ở Đồng Nai Thanh thất hoàn toàn không thấy xuất hiện cùng với nó; Ở cả 3 địa điểm nghiên cứu Thanh thất đều xuất hiện ở tầng trên của tán rừng, chỉ số trung bình D1.3 và Hvn đều vượt trội so với các loài cây bạn.[1]
2.1.4 K t uận
Trong thiên nhiên mối quan hệ giữa các loài là một vấn đề cũng rất đa dạng và phức tạp Có những loài suốt quá trình sống luôn luôn có quan hệ mật thiết với nhau như các loài ký sinh thực vật và động vật Có những loài mà quan hệ giữa chúng theo hướng ngược lại Sự tồn tại của loài này là nguyên nhân cơ bản cho sự suy vong của loài khác hoặc chúng sẽ di chuyển chỗ ở sang chỗ khác Nguyên nhân sâu xa của mối quan hệ trên là sự tìm kiếm hoặc lợi dụng chuỗi thức ăn có trong thiên nhiên hoặc giữa chúng với nhau Ngoài
ra còn có sự lợi dụng để che chở cho nhau trước kẻ thù Mối quan hệ ở dạng người ta gọi là quan hệ dương Còn quan hệ ở dạng người ta gọi là quan hệ
âm Ngoài ra còn mối quan hệ trung tính tức là sự tồn tại giữa những loài nào
đó luôn luôn không chịu ảnh hưởng lẫn nhau.[13]
Việc nghiên cứu quan hệ giữa các loài có một ý nghĩa rất quan trọng trong bảo tồn đa dạng sinh học Trong động vật nếu muốn bảo tồn các loài hổ chẳng
Trang 23hạn thì không thể không bảo tồn các loài làm thức ăn cho hổ Trong nghiên cứu lâm sinh học người ta thường chú ý mối quan hệ giữa các loài trong thiết
kế trồng rừng hỗn loài, thiết kế khu khoanh nuôi và bảo vệ
2 2 Tổ q a k ực cứ
Ba Bể là huyện niền núi của tỉnh Bắc Kạn, cách tỉnh lỵ 60 km về phía Bắc, có diện tích tự nhiên là 67,412 ha Phía Đông giáp huyện Ngân Sơn Phía Tây giáp tỉnh Tuyên Quang Phía Nam giáp huyện Chợ Đồn và huyện Bạch Thông Phía Bắc Giáp huyện Pắc Nặm và tỉnh Cao Bằng
Huyện có 16 đơn vị hành chính, gồm 15 xã và 01 thị trấn với 200 thôn bản Dân số toàn huyện có gần 47 nghìn người, trong đó có khoảng 95% là người dân tộc thiểu số Thành phần dân tộc chính là: Tày, Kinh, Dao, Mông, Nùng, Hoa và một số dân tộc khác.[20]
2.2.1 iều ki n tự nhiên khu vực nghiên cứu VQG
2.2.1.1 Địa hình
Ba Bể chủ yếu là đất lâm nghiệp chiếm trên 80%, đất nông nghiệp chiếm 10% Huyện có địa hình phức tạp, bị chia cắt bởi sông, suối, núi nên giao thông đi lại còn gặp nhiều khó khăn, nhất là ở các thôn bản vùng cao Ở đây chủ yếu là núi cao xen lẫn những khối núi đá vôi hiểm trở, phân lớp dầy, trong quá trình cacxtơ tạo thành những hình dạng kỳ thú, đặc trưng là dãy núi Phja Bjooc có độ cao 1,578m, là mái nhà của 03 huyện: Ba Bể, Chợ Đồn, Bạch Thông.Cùng với đó, trên địa bàn huyện có 2 con sông Năng và Chợ Lùng chảy qua Sông Năng bắt nguồn từ dãy núi cao Phja Giạ thuộc huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng chảy vào địa phận huyện Ba Bể từ xã Bành Trạch theo hướng Đông - Tây; sông Chợ Lùng bắt nguồn từ phía Nam huyện Ba Bể theo hường Đông Nam - Tây Bắc sau đó đổ vào hồ Ba Bể rồi thông ra sông Năng; cách cung sông Gâm chạy dài theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, xuyên suốt địa giới của huyện với nhiều ngọn núi cao trùng điệp đã tạo nên địa hình
Trang 24hiểm trở rất đặc trưng của huyện Ba Bể.Ngoài ra, trên địa bàn Ba Bể có nhiều tuyến giao thông chạy qua như: Quốc lộ 279, tỉnh lộ 201, 254… Hiện nay, 15/16 xã ở Ba Bể có đường ô tô về đến trung tâm xã.[20]
2.2.1.2 Khí hậu
Nhiệt độ trung bình năm từ 21o
C - 23oC, vào mùa đông thường xuất hiện sương muối, ở khu vực khe núi đôi khi có băng giá Là vùng khuất gió mùa đông bắc, nhưng lại đón gió mùa Tây Nam nên mưa nhiều, lượng mưa trung bình hơn 1,600 mm và có thảm thực vật phong phú
Nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, ở độ cao từ 500 - 1000m so với mặt biển, Ba Bể có đủ nhiệt độ, nắng, mưa thích hợp cho sự phát triển của động vật, thực vật Vùng hồ Ba Bể và sườn núi phía Bắc gần như mát mẻ quanh năm Tuy nhiên đôi khi thời tiết cũng rất khắc nghiệt Mùa đông ở Ba
Bể thường có sương muối, băng giá hoặc có những đợt mưa phùn, gió bấc kéo dài không có lợi cho sự sinh trưởng của động, thực vật, ảnh hưởng tới hoạt động, sức khoẻ con người Mùa mưa nhiều xã ven sông Năng thường bị ngập lụt.[20]
2.2.1.3 Sông ngòi
VQG Ba Bể có nguồn tài nguyên nước khá dồi dào, với ảnh hưởng của
3 dòng chảy thường xuyên vào hồBa bể là sông chợ Leng ở phía Tây Nam, suối Pó Lù, Tả Han từ phía Tây, chảy ngầm trong núi đá vôi, đổ ra cửa động
Nả Phòng và chảy vào hồ Ba Bể Nước hồ chảy ra sông năng, con sông có nguồn gốc từ dãy Phía Bắc, chảy qua động Puông, thác Đầu Đẳng và đổ vào sông Gâm ở Na Hang, Tuyên Quang) Hồ Ba Bể là hồ nước ngọt tự nhiên códiện tích 500ha, tốc độ dòng chảy là 0,5m/s nước hồ trong xanh quanh năm Hồ có chức năng phân lũ cho sông Năng, sông Gâm Về mùa lũ, mực nước có thể dao đọng lên xuống từ 2,5-3m so với mức bình thường, hồ có
Trang 25độ sâu trung bình từ 20-25m, nơi sâu nhất là 35m, nơi nông nhất từ 5-10m
Đáy hồ không bằng phẳng mà có nhiều núi ngầm hang động.[20]
2.2.1.4 Tài nguyên thiên nhiên
Ở Ba Bể tập trung nhiều loại khoáng sản như: Vàng gốc nguyên sinh
và vàng sa khoáng, khoáng sắt và sắt - mangan, đá vôi biến chất thành đá hoa như xung quanh hồ Ba Bể, sắt, mangan ở Bản Nùng Ngoài ra còn có đá quý
ở Bản Đuống, Bản Vàng…
Đất Ba bể có thể trồng nhiều loại cây thương phẩm có giá trị kinh tế cao như: hồng không hạt, hoa lily, ngô, đậu tương, trúc Hiện tại, Ba Bể đã phát triển được hơn 1,000 ha mơ, mận, dứa Đất đai ở Ba Bể cũng thích hợp cho việc chăn nuôi đại gia súc như: trâu, bò, dê
Núi đá xen lẫn núi đất chiếm phần lớn diện tích đất đai tự nhiên Rừng
có nhiều gỗ quý đinh, lim, nghiến, táu… cùng nhiều cây dược liệu và nhiều loại chim muông, thú rừng như phượng hoàng, công, trĩ, hươu, nai, sơn dương, khỉ, lợn rừng, kỳ đà…
Do kiến tạo địa chất, sự bồi đắp của các con sông, suối đã tạo cho Ba Bể những bồn địa, những thung lũng lòng máng, lòng chảo, đất đai khá màu mỡ thích hợp với việc trồng lúa, ngô, các loại rau, đậu, cây công nghiệp mía, bông và cây ăn quả cam, quýt, chuối, hồng)
Đặc biệt, Vườn Quốc gia Ba Bể là một di sản thiên nhiên quý giá với hệ thống rừng nguyên sinh trên núi đá vôi có tới 417 loài thực vật và 299 loài động vật có xương sống Nhiều loài động vật quý vẫn còn lưu giữ được như phượng hoàng đất, gà lôi, vọc mũi hếch… Trong hồ vẫn còn 49 loài cá nước ngọt, trong đó có một số loài cá quý hiếm như cá chép kính, cá rầm xanh, cá chiên…
Cùng với đó, hồ Ba Bể rộng gần 500ha gắn liền với dòng sông Năngvà hệ thống hang động, thác nước thiên nhiên kỹ vĩ trở thành khu danh lam thắng cảnh nổi tiếng ở khu vực miền núi phía Bắc
Hiện nay, Ba Bể đang quy hoạch xây dựng vùng Ba Bể - Chợ Đồn - Na Hang tỉnh Tuyên Quang , vùng lòng hồ Ba Bể và phụ cận theo mô
Trang 26hình phát triển kinh tế đô thị kết hợp với bảo vệ cảnh quan môi trường sinh thái Vườn có tọa độ là 105°36′55″ kinh đông, 22°24′19″ vĩ bắc Nó nằm trên địa bàn 5 xã Nam Mẫu, Khang Ninh, Cao Thương, Quảng Khê, Cao Trĩ thuộc huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn Vườn quốc gia này cách thành phố Bắc Kạn 50 km và Hà Nội 250 km về phía bắc, thuộc địa bàn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.Vườn quốc gia Ba Bể là một điểm du lịch sinh thái lý tưởng với phong cảnh kỳ thú và sự đa dạng sinh học Năm 2004, Ba Bể đã được công nhận là một di sản thiên nhiên của ASEAN Trước đó, đây từng là Khu danh lam thắng cảnh và Di tích lịch sử, là khu rừng cấm hồ Ba Bể.[20]
2.2.2 iều ki n d n sinh kinh t x h i khu vực nghiên cứu
2.2.2.1 Dân số, dân tộc và lao động
Tình hình dân số dân tộc và lao động được tổng hợp ở bảng sau:
Trang 27Thành phần dân tộc của các xã vườn quốc gia Ba Bể bao gồm người Kinh, Tày, Nùng, Dao, H mông Trong đó đông nhất là người Tày 15,202 người, tiếp đến là người Dao 5675 người Hmông 2433, Kinh 701 người, Nùng 238 người Diện tích đất lâm nghiệp chiếm 88,3% diện tích đất tự nhiên, trong khi đó chỉ có 2% lao động sản xuất lâm nghiệp Đây là sự mất mát cân đối nghiêm trọng giữa tiềm năng lao động và đất lâm nghiệp Tập quán du canh du cư làm rãy của đồng bào Hmông, Dao là một trong những nguyên nhân làm suy giảm tài nguyên rừng Dân số có 24,249 người chiếm 35,56% dân số toàn huyện, với tỷ lệ tăng dân số cao 2,4% mật độ dân số 61,9 người/km2
trình độ học vấn dân cư trong vùng thấp Tỷ lệ mù chữ và tái mù chữ chiếm 30% Dân số trong độ tuổi lao động chiếm 50,1% trong đó lao động nông lâm nghiệp chiếm hơn 95%, còn lại là các nghành khác Trình độ học vấn thấp
có khoảng 80% lao động có học vấn dưới lớp 5.[23]
Nhìn chung nhân dân cần cù lao động, nhưng trình độ lao động trong vùng thấp, tập quán canh tác đơn giản và đang thiếu việc làm Do vậy lực lượng lao động chưa được sử dụng một cách thích đáng, nếu có quy hoạch sử dụng đất đai hợp lý, lâu bền sẽ thu hút được lao động tích cực vào sản xuất nông nghiệp, bảo vệ trồng rừng và phát triển rừng một cách thích đáng trong giai đoạn mới
để nuôi gia đình mình Nguồn thu của nhân dân không có gì ngoài sản xuất nông lâm nghiệp Cân đối về ngân sách thu chi của xã thâm hụt nặng nề, tổng ngân sách trên địa bàn huyện chỉ đảm bảo chi phí 10% năm, hàng năm phải nhận trợ
Trang 28cấp từ tỉnh 90% Do vậy sự phát triển kinh tế của vùng có điểm xuất phát là thấp
Sự đầu tư của Nhà nước là rất cần thiết và quan trọng.[22]
2.2.2.3 Sản xuất nông lâm nghiệp
Hiện nay các xã nằm trong quy hoạch của VQG chủ yếu sống bằng nông nghiệp, làm ruộng kết hợp với làm nương rãy Tuy nhiên cơ cấu kinh tế nông nghiệp, hộ gia đình chưa thoát khỏi độc canh Một số thế mạnh chưa được khai thác và phát huy
Trong chăn nuôi số lượng đàn vật nuôi vẫn còn thấp so với tiềm năng đồng cỏ có trong vùng diện tích chăn thả chiếm 178 ha Tỷ trọng chăn nuôi chiếm 17,7% trong nông nghiệp, bình quân mỗi hộ nuôi 1,5 con trâu: 0,44 con bò và 2,2 con lợn
Tổng diện tích đất có khả năng lâm nghiệp của vùng là 38817,4 ha tuy nhiên người dân vẫn chủ yếu khai thác tài nguyên rừng mà chưa quan tâm tới trồng và bảo vệ rừng Diện tích lâm nghiệp chiếm 91,4% diện tích tự nhiên Diện tích đất trống đồi núi trọc chiếm 49,2% Diện tích rừng tự nhiên, rừng trồng chiếm 42,2% Đây là diện tích cần được bảo vệ nghiêm ngặt bởi nếu bị khai thác sẽ có rất ít khả năng phục hồi được, ảnh hưởng nghiêm trọng môi trường sinh thái toàn vùng.[22]
2.2.2.4 Giao thông
Ba Bể cách Hà Nội 240km, cách Phủ thông quốc lộ 2 60km và thị trấn Chợ Rã 18km Trong vườn quốc gia việc đi lại chủ yếu bằng thuyền máy, thuyền độc mộc và đi bộ trên những con đường mòn xuyên qua các xã Từ Chợ Rã đi Chợ Đồn một đoạn đường phải đi qua vườn quốc gia Ba Bể Đây là một khó khăn trong công tác bảo vệ vườn cần phải có phương pháp khắc phục
Ngoài ra còn có các đường mòn, xe máy đi được mới làm:
Đường Pắc Ngòi đi qua Quảng Khê, Hoàng Trĩ và Đồng Phúc
Đường mòn theo sông Năng ở phía Bắc từ Chợ Rã đi cao Trĩ, Cao Thượng qua Tà Kèn sang Tuyên Quang
Việc đi lại bằng thuyền gắn máy, nhất là mấy dầu Diesel ngày càng tăng thêm
ô nhiễm vùng lòng hồ và mất đi vẻ đẹp tự nhiên.[22]
Trang 29hạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ nghiên cứu mối quan hệ tự nhiên
khoảng cách và tần suất giữa các loài cây với một số loài cây chính dùng
làm cây trồng rừng chính Kháo lá to (Machilus grandifolia S K Lee et F N Wei) và Lát hoa (Chukrasia tabularis A.Juss)
3 2 Địa đ ể à t ờ a cứ
Địa điểm: xã Nam Mẫu, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 08/2017 đến tháng 12/2017
3 3 Nộ d cứ
Nội dung 1: Nghiên cứu một số đặc điểm lâm phần khu vực nghiên
cứu có hai loài Kháo lá to và Lát hoa sinh sống
Nội dung 2: Nghiên cứu mối quan hệ tự nhiên giữa các loài cây rừng
khác nhau với loài cây Kháo lá to tại VQG Ba Bể
Nội dung 3: Nghiên cứu mối quan hệ tự nhiên giữa loài cây rừng
khác nhau với loài cây Lát hoa tại VQG Ba Bể
Nội dung 4: Đề xuất tập đoàn cây trồng hỗn giao trên cơ sở mối quan
hệ tự nhiên giữa các loài cây Kháo lá to và cây Lát hoa
3 4 P ƣơ á cứ
3.4.1 Vật tư và dụng cụ cần thi t cho nghiên cứu
Bao gồm: Địa bàn ba chân, thước dây, dao, sơn, GPS, bảng biểu thu thập số liệu, máy đo cao, thước đo chu vi C1.3 và các văn phòng phẩm thiết yếu phục vụ cho điều tra rừng
Trang 303.4.2 Phương pháp k thừa số i u
Tham khảo các tài liệu có liên quan đến tái sinh, phục hồi rừng tự nhiên tại Thư viện trường Đại học Nông Lâm và tại Trung tâm học liệuĐại học Thái Nguyên Kế thừa số liệu về hiện trạng rừng qua UBND xã Nam Mẫu và VQG Ba Bể
3.4.3 Phương pháp thu thập số i u
3.4.3.1 Nội dung phương pháp
Lập tuyến điều tra: Dựa trên cơ sở bản đồ địa hình của khu vực, phải
xác định các sinh cảnh chính cần giám sát, đánh giá và thu mẫu Trên cơ sở nguồn lực, kinh phí và mục tiêu, chúng ta xác định khu vực và lập tuyến điều tra, số tuyến điều tra và số lần lặp lại Cụ thể đề tài thành lập 3 tuyến đi mỗi tuyến xác định 10 điểm nghiên cứu cho loài Kháo lá to và 10 điểm cho Lát hoa mỗi điểm sử dụng ô phương pháp 6 cây Trên tuyến đi quan sát nếu xuất hiện loài cây chính cần nghiên cứu ta sẽ sử dụng phương pháp 6 cây để điều tra lưu ý: trên tuyến đi thẳng không có thì phải rẽ sang hướng khác để tìm cây đó để xác định
Cự li các tuyến: Khoảng gần xa của các tuyến phụ thuộc vào địa hình
cụ thể nghiên cứu Khoảng cách giữa các tuyến có thể chọn từ 100 -1000m
Hướng đi của tuyến: Trong điều tra, hướng tuyến phải đảm bảo bám
theo dông mạnh núi , đi qua các trạng thái khác nhau và phải đánh dấu trên bản đồ kết hợp GPS định vị
Xác định được nhóm loài nào hay gặp với Kháo lá to và Lát hoa trong rừng tự nhiên đặc dụng - Vườn quốc gia Ba Bể Để nghiên cứu mối quan hệ giữa các loài cây có thể sử dụng các phương pháp khác nhau như: thông qua
hệ số tương quan r hoặc dùng phương pháp tần xuất xuất hiện Ở đây vì loài cây cần nghiên cứu đã được xác định trước vì thế chúng tôi sử dụng phương pháp ô 6 cây Cụ thể lấy cây cần nghiên cứu làm tâm ô sau đó xác định: