BẾ VĂN ĐỀNGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA HỖN HỢP RUỘT BẦU ĐẾN SINH TRƯỞNG CÂY ĐINH THỐI FERNANDOA BRILLETII TẠI TẠI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN THỦY SẢN VÙNG ĐÔNG BẮC TRƯỜNG ĐHN
Trang 1BẾ VĂN ĐỀ
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA HỖN HỢP RUỘT BẦU ĐẾN
SINH TRƯỞNG CÂY ĐINH THỐI (FERNANDOA BRILLETII)
TẠI TẠI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN THỦY SẢN VÙNG ĐÔNG BẮC TRƯỜNG ĐHNL THÁI NGUYÊN LÀM CƠ SỞ CHO VIỆC BẢO TỒN VÀ PHÁTTRIỀN LOÀI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : QLTNR Khoa : Lâm nghiệp Khóa học : 2014 - 2018
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 2BẾ VĂN ĐỀ
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA HỖN HỢP RUỘT BẦU ĐẾN
SINH TRƯỞNG CÂY ĐINH THỐI (FERNANDOA BRILLETII)
TẠI TẠI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN THỦY SẢN VÙNG ĐÔNG BẮC TRƯỜNG ĐHNL THÁI NGUYÊN LÀM CƠ SỞ CHO VIỆC BẢO TỒN VÀ PHÁTTRIỀN LOÀI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Hệ đào tạo : Chính quy Lớp : K46- QLTNR-N01 Chuyên ngành : QLTNR
Khoa : Lâm nghiệp Giảng viên hướng dẫn: TS Vũ Văn Thông
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các số liệu và kết quả công bố trong luận văn hoàntoàn trung thực và chưa được sử dụng bảo vệ một học vị nào Các thông tintrích dẫn trong luận văn được ghi rõ nguồn gốc
Ngày 28 tháng 5 năm 2018
Tác giả luận văn
Bế Văn Đề
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là cơ hội cho sinh viên vận dụng lý thuyết và tiếpxúc với thực tiễn, nâng cao chuyên môn nghiệp vụ, xây dựng phong cách làmviệc khoa học và phát huy được tính sáng tạo của bản thân để tích lũy đượckinh nghiệm cần thiết cho sau này
Được sự nhất trí của ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp, giáo viênhướng dẫn và nguyện vọng của bản thân, tôi đã tiến hành thực tập tốt nghiệp
với đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến sinh trưởng của cây Đinh thối (FERNANDOA BRILLETII) tại Trung tâm nghiên cứu phát triển thủy sản vườn Đông abwcs trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”
Để hoàn thành được khóa luận, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tìnhcủa Ban chủ nhiệm khoa , các thầy cô giáo, gia đình, bạn bè, đặc biệt là thầygiáo hướng dẫn: TS Vũ Văn Thông đã chỉ bảo tôi trong suốt quá trình làm
đề tài Nhân dịp này, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn tới tất cả sự giúp đỡ quýbáu đó
Vì năng lực của bản thân và thời gian có hạn, bước đầu làm quen vớithực tế và phương pháp nghiên cứu nên bản khóa luận này không tránh khỏinhững thiếu sót Chính vì vậy rất mong nhận được ý kiến đóng góp của cácthầy giáo, cô giáo và các bạn để bản khóa luận tốt nghiệp của tôi được đầy
đủ hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 28 tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Bế Văn Đề
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 4 1 Ảnh hưởng của các CTTN đến số lượng và tỷ lệ
cây Đinh thối 20 Bảng 4 2 Kết quả sinh trưởng vn cây Đinh thối ở các CTTN 22 Bảng 4.3 Kết quả sinh trưởng 00 của cây Đinh thối giai đoạn
vườn ươm ở các CTTN 27 Bảng 4.4 Kết quả sinh trưởng số lá của cây Đinh thối giai đoạn
vườn ươm ở các CTTN 31 Bảng 4.5 Dự tính tỷ lệ xuất vườn cây con Đinh thối ở các CTTN (%) 34
Trang 6của cây Đinh thối (%) 35 Biểu đồ 4.5 Biểu đồ biểu diễn tỷ lệ % cây con Đinh thối xuất vườn (%) 35
Trang 7MỤC LỤC
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu Đinh thối 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập 2
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất 2
Phần 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
2.1 Cơ sở khoa học 4
2.2 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước 7
2.2.1 Nghiên cứu trên thế giới 7
2.2.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam 10
2.3 Tổng quan về loài cây Đinh thối 14
2.4 Tổng quan khu vực nghiên cứu 15
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 16
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu: 16
3.1.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 16
3.2 Nội dung nghiên cứu 16
3.3 Phương pháp nghiên cứu 16
3.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 16
PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 20
4.1 Ảnh hưởng của các CTTN đến số lượng và tỷ lệ cây Đinh thối 20
4.2 Ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến vn , 00 , động thái ra lá của cây Đinh thối dưới ảnh hưởng của các CTTN trong giai đoạn vườn ươm 22
Trang 84.2.1 Ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến vn của cây Đinh thối dưới
ảnh hưởng các CTTN trong giai đoạn vườn ươm 22
4.2.2 Ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến đường kính cổ rễ của cây Đinh thối dưới ảnh hưởng các CTTN trong giai đoạn vườn ươm 26
4.2.3 Ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến động thái ra lá của cây Đinh thối dưới ảnh hưởng các CTTN trong giai đoạn vườn ươm 30
4.2.4 Ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến chất lượng lá của cây Đinh thối dưới ảnh hưởng các CTTN trong giai đoạn vườn ươm 34
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 37
5.1 Kết luận 37
5.2 Kiến nghị 38
TÀI LIỆU THAM KHẢO 39
Trang 10và tàng trữ các nguồn gen quý hiếm, bảo vệ và ngăn chặn gió bão, chống xóimòn đất, đảm bảo cho sự sống, bảo vệ sức khỏe của con người…Tuy nhiênvới sự phát triển nhanh chóng của kinh tế xã hội cùng sự quản lý tài nguyênsinh học còn yếu kém đã làm cho đa dạng sinh học bị suy thoái ngày càngnghiêm trọng.
Sự suy thoái về đa dạng sinh học là rất đáng lo ngại, nhiều loài độngthực vật bị đe dọa và có nguy cơ bị tuyệt chủng mà nguyên nhân chính là docon người sử dụng bất hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên Trong đó nguồntài nguyên rừng đang bị khai thác bất hợp lý dẫn đến suy giảm về diện tíchrừng và thành phần loài, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và đa dạngsinh học
Khi xã hội ngày càng phát triển, sự gia tăng dân số càng không thể thaythế được trong việc duy trì cân bằng sinh thái, bảo vệ môi trường, rừng ngàycàng bị thu hẹp về diện tích, giảm sút về chất lượng Nguyên nhân chủ yếucủa mất rừng là sự can thiệp thiếu hiểu biết của con người Với đời sống khókhăn, nghèo đói thì con người đã tác động vào rừng một cách quá khả năngphục hồi của nó Ngoài ra, cũng có những nguyên nhân liên quan tới tínhkhông hợp lý của các biện pháp kỹ thuật lâm sinh, hoặc những biện pháp vềkinh tế xã hội thiếu khoa học đã làm gia tăng những tác động tiêu cực đếnrừng
Thái Nguyên là khu vực có diện tích rừng tự nhiên phân bố rộng và trảidài toàn huyện với hệ thông thực vật rừng phong phú và đa dạng, với nhiều
Trang 11loài cây gỗ như lim, sến, re hương, đinh thối, dẻ gai, sồi vàng, sồi gai Trong
số đó Đinh thối là cây gỗ quý, có giá trị kinh tế cao, cần được ưu tiên bảo tồn
và phát triển hàng đầu trong khu vực
Đinh thối (Fernandoa brilletii) họ chùm ớt (Đinh), bộ Hoa môi(Lamiales) Loài Đinh thối có kích thước thuộc loại cây gỗ lớn, có vân thớđẹp Vì có giá trị kinh tế cao nên cây Đinh thối đã bị khai thác kiệt, với sốlượng còn lại trong tự nhiên rất ít Do đó, vấn đề khôi phục về cả chất lượng
và số lượng của loài này đang là việc làm cần thiết, nhất là việc đáp ứngnguồn giống cây con cho trồng rừng vì vậy tôi tiến hành thực hiện Khóa luận
tốt nghiệp nhằm: “Nghiên cứu ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu để sinh trưởng cây Đinh thối (Fernandoa brilletii) tại Tại Trung tâm Đào tạo, nghiên cứu và phát triển thủy sản vùng Đông Bắc trường ĐHNL Thái Nguyên làm cơ sở cho việc bảo tồn và phát triển loài”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu Đinh thối
Xác định được công thức hỗn hợp bầu ảnh hưởng tốt nhất tới sinhtrưởng của cây con Đinh thối về đường kính cổ rễ (D00) chiều cao vút ngọn(Hvn), trong giai đoạn vườn ươm
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập
Củng cố lý thuyết đã học, rèn luyện kỹ năng thực hành và nâng cao kỹnăng nghề nghiệp, kỹ thuật sản xuất giống cây rừng, nhằm bảo tồn nguồn gencác loài cây rừng quý, hiếm
Các kết quả nghiên cứu là cơ sở nghiên cứu khoa học cho các nghiêncứu tiếp theo về kỹ thuật gieo ươm cây Đinh thối
Đây là những kiến thức rất cần thiết cho quá trình nghiên cứu học tập vàlàm việc sau này
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
Kết quả của việc nghiên cứu này sẽ góp phần quan trọng vào việc pháttriển sản xuất cây gỗ Đinh thối, đưa loài cây này vào trồng rừng tập trung và
Trang 12bảo tồn, đa dạng hoá loài cây, nhằm phát triển rừng trồng phòng hộ và sảnxuất tại các huyện vùng cao nơi có điều kiện lập địa phù hợp nhằm bảo tồn vàphát triển, nâng cao giá trị rừng trồng.
Việc nhân giống thành công sẽ tạo điều kiện cho sản xuất cây con giốngvới mục đích bảo tồn và thương mại phục vụ nhu cầu trồng rừng trong nước
Từ kết quả nghiên cứu áp dụng vào sản xuất để tạo hỗn hợp ruột bầukhi gieo ươm cây Đinh thối đạt được hiệu quả không những về chất lượng câygiống mà trên cơ sở mang lại giá trị kinh tế cho người trồng rừng
Trang 13Phần 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở khoa học
Trong số các biện pháp kỹ thuật trồng trọt liên hoàn (làm đất, giống,mật độ gieo trồng, BVTV ), bón phân luôn là biện pháp kỹ thuật có ảnhhưởng lớn nhất, quyết định nhất đối với quá trình sinh trưởng và phát triểncủa thực vật nói chung và cây Đinh thối nói riêng Nó không những có tácdụng làm cho cây sinh trưởng nhanh mà còn là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến
sự hình thành và phát triển của cơ thể thực vật
Trong giai đoạn vườn ươm, các nhân tố sinh thái chủ đạo như: thànhphần ruột bầu, kích thước bầu, ánh sáng, nước…có ảnh hưởng rất lớn đến đờisống cây con, quyết định đến khả năng sinh trưởng của cây con tốt hay xấu
Phân bón là thức ăn của cây trồng, nó có thể là một sản phẩm thiênnhiên hoặc sản phẩm được chế tạo trong công nghiệp Tuy nhiên sự tác độngcủa chúng đến sinh trưởng cây trồng là như nhau
Đất có vai trò quan trọng trong sản xuất nông lâm nghiệp, dù ở trongvườn ươm hay trong sản xuất đất đều đóng một vai trò nhất định đối với sinhtrưởng của cây trồng như: Trong sản xuất nông lâm nghiệp đất là giá thể, làmôi trường số trực tiếp của bộ rễ của cây trồng và là nơi lưu trữ, cung cấp cácchất dinh dưỡng cho cây trồng Trong gieo ươm thì đất là nơi cung cấp chủyếu chất dinh dưỡng cho cây con trong giai đoạn nuôi dưỡng ở vườn ươm
Việc lựa chọn loại đất sử dụng làm giá thể trong vườn ươm là rất quantrọng, nó tác động lớn đến việc nảy mầm của cây trồng trong nhân giống hữutính Đất vườn ươm phải chọn thành phần cơ giới cát pha có kết cấu tơi xốp,thoáng khí, khả năng thấm nước và giữ nước tốt, loại đất này thuận lợi cho hạtgiống nãy mầm, sinh trưởng của cây con dễ làm đất và chăm sóc cây con hơn
… Tuy nhiên chọn đất xây dựng vườn ươm cũng cần căn cứ vào đặc tinh sinhvật học loài cây
Trang 14Chọn đất vườn ươm cần có độ phì cao, đất có độ phì tốt là đất có hàmlượng cao các chất dinh dưỡng khoáng cho cây như: N, P, K, Mg, Ca và cácchất vi lượng khác đồng thời tỷ lệ các chất phải cân đối và thích hợp Khi tiếnhành gieo ươm trên đất tốt cây con sinh trưởng càng nhanh, khỏe mập, các bộphận rễ, thân, cành lá, phát triển cân đối Mặt khác khi cây con đem trồngrừng có sức đề kháng cao với hoàn cảnh khắc nghiệt nơi trồng sẽ giảm đượccông chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh hại.
Việt Nam là đất nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mưanhiều nên hầu hết các vườn ươm đều có nhiều sâu bênh hại, làm ảnh hưởngđến sản lượng và chất lượng cây con tăng giá thành sản xuất cây con, thậmchí có nơi còn dẫn tới thất bại hoàn toàn Cho nên trước khi xây dựng vườnươm cần điều tra mức độ nhiễm sâu bệnh hại của đất để có biện pháp xử lýđất trước khi gieo ươm hoặc không xây dựng vườn ươm ở những nơi bịnhiễm sâu bệnh nặng
Để cây con phát triển tốt trong giai đoạn vườn ườm nhân tố rất quantrọng tới sinh trưởng của cây đó là hỗn hợp ruột bầu Là môi trường trực tiếpnuôi cây, thành phần ruột bầu gồm đất và phân bón Đất làm ruột bầu thường
sử dụng loại đất có thành phần cơ giới nhẹ hoặc trung bình, phân bón là phânhữu cơ đã ủ hoai (phân chuồng, phân xanh) phân vi sinh và phân vô cơ Tùytheo tính chất đất, đặc tính chất đất, đặc tính sinh thái học của cây con mà tỷ
lệ pha trộn hỗn hợp ruột bầu cho phù hợp
Theo nghiên cứu của Bùi Việt Hải (2015) [11], kích thước bầu khácnhau đã có tác động đến sinh trưởng, đường kính và chiều cao cây Trai Nam
Bộ cũng khác nhau trong các nghiệm thức Cụ thể, tại kích thước bầu 15 x 25
cm cây sinh trưởng tốt và ổn định về đường kính và chiều cao Bên cạnh đónghiên cứu còn cho thấy phân bón NPK có tác dụng làm tăng các chỉ số vềchiều cao, đường kính của Trai Nam Bộ trong vườn ươm, riêng chỉ tiêu số látrên cây không chịu ảnh hưởng của các tỷ lệ phân bón
Trang 15Nguyễn Yến Trang (2017) [12] đã tiến hành nghiên cứu khả năng nhângiống bằng hạt của cây Viết trong vườn ươm cho kết quả: Thành phần ruộtbầu có ảnh hưởng rõ rệt tới tỷ lệ sống và tăng trưởng chiều cao của cây controng vườn ươm, trong đó thành phần ruột bầu gồm 80% đất 20% phân visinh cho kết quả tốt nhất với tỷ lệ sống đạt 92% và tăng trưởng chiều caotrung bình sau 9 tháng đạt 18,82 cm.
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Sở (2004) [9], thành phần hỗnhợp ruột bầu là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng rất lớn đến sinhtrưởng cây con trong vườn ươm Hỗn hợp ruột bầu tốt phải đảm bảo nhữngđiều kiện lý tính và hóa tính giúp cây sinh trưởng khoẻ mạnh và nhanh Mộthỗn hợp ruột bầu nhẹ, thoáng khí, khả năng giữ nước cao nhưng nghèo chấtkhoáng cũng không giúp cây phát triển tốt Ngược lại, một hỗn hợp ruột bầuchứa nhiều chất khoáng, nhưng cấu trúc đất nặng, khó thấm nước và thoátnước cũng ảnh hưởng xấu đến cây con Thành phần hỗn hợp ruột bầu baogồm đất, phân bón (hữu cơ, vô cơ) và chất phụ gia để đảm bảo điều kiện lýhóa tính của ruột bầu Đất được chọn làm ruột bầu là đất tốt, có khả năng giữ
ẩm và thoát nước tốt, thành phần cơ giới từ cát pha đến thịt nhẹ, pH trungtính, không mang mầm mống sâu bệnh hại
Nguyễn Xuân Quát (1985) [8], cũng đã chỉ ra rằng để giúp cây con sinhtrưởng và phát triển tốt, vấn đề bổ sung thêm chất khoáng và cải thiện tínhchất của ruột bầu bằng cách bón phân là rất cần thiết Trong giai đoạn vườnươm, những yếu tố được đặc biệt quan tâm là đạm, lân, kali và các chất phụgia Lân (P) là yếu tố quan trọng trong quá trình trao đổi năng lượng Lân cótác dụng làm tăng tính chịu lạnh cho cây trồng, thúc đẩy sự phát triển của hệ
rễ Lân cần thiết cho sự phân chia tế bào, mô phân sinh, kích thích sự pháttriển của rễ, ra hoa, sự phát triển của hạt và quả Cây được cung cấp đầy đủlân sẽ tăng khả năng chống chịu với điều kiện bất lợi như lạnh, nóng, đất chua
và kiềm Nếu thiếu lân, kích thước cây nhỏ hơn bình thường, lá cây phồng
Trang 16cứng, lá màu xanh đậm, sau chuyển dần sang vàng; thân cây mềm, thấp; năngxuất chất khô giảm Ngoài ra, thiếu lân sẽ hạn chế hiệu quả sử dụng đạm Mộtvài loại lá kim khi thiếu lân lá sẽ đổi màu xanh thẫm, tím, tím nâu hay đỏ Ởnhững loài cây lá rộng, thiếu lân sẽ dẫn đến lá có màu xanh đậm, xen kẽ vớicác vết nâu, cây tăng trưởng chậm.
2.2 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Nghiên cứu trên thế giới
Từ cuối thế kỷ 20 kỹ nghệ phân hóa học ra đời và nhiều nhà khoa học
đã chỉ ra rằng phân bón giúp cho cây sinh trưởng phát triển nhanh hơn, năngsuất và sản lượng cây trồng trên thế giới đã thay đổi theo tỷ lệ thuận với sốlượng phân hoá học đã được sử dụng (NPK, trung, vi lượng ), phân bón còngiúp cây chống chịu được với hạn hán, sâu bệnh Phân bón sinh học trở thànhphân bón phổ biến và không thể thiếu trong sản xuất nông nghiệp
Vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX thuyết mùn do Thaer (1873) đềxuất cho từng cây hấp thụ mùn để sống Đến thế kỷ XIX nhà hóa học ngườiđức Liibig (1840) đã xây dựng thuyết chất khoáng Liibig cho rằng độ màu mỡcủa đất là do muối khoáng trong đất Ông nhấn mạnh rằng việc bón phân hóahọc cho cây sẽ làm tăng năng xuất cây trồng Năm 1963 Kinur và Chiberkhẳng định việc bón phân cho đất theo từng thời kỳ khác nhau là khác nhau.Cùng năm đó Turbittki đã đưa ra quan điểm: Phân bón là nguồn dinh dưỡng
bổ xung cho cây sinh trưởng và phát triển tốt, đối với từng loài cây, từng tuổicây cần có nhiều nghiên cứu cụ thể tránh lãng phí phân bón không cần thiết.Việc bón phân thừa hay thiếu đều dẫn tới biểu hiện của cây sinh trưởng chậm
và chất lượng kém
Nhà thực vật học người Hà lan - Van Helmont(1629) ông đã trồng câyLiễu nặng 2.25kg vào thùng chứa 80kg đất Môt năm sau cây Liễu nặng 66kgtrong khi đất chỉ hao 66g Tác giả kết luận cây chỉ cần nước để sống
Phân bón được phát hiện sớm từ giữa thế kỹ XVII(1676) lúc mà ông E.Mariotte (người pháp) đã tìm thấylá cây có thể hấp thụ nước từ bên ngoài
Trang 17Nhưng phải đến thế kỷ XIX vào thập niên 70-80, các nhà khoa học nhiềunước trên thế giới mới công nhận phân bón giúp cho cây sinh trưởng pháttriển nhanh hơn, phân bón còn giúp cây chống chịu được với hạn hán, sâubệnh Phân bón sinh học trở thành phân bón phổ biến và không thể thiếu trongsản xuất nông nghiệp Hàng năm trên thế giới tiêu thụ khoảng 130 triệu tấnphân bón.
Theo nghiên cứu của Năm 1974 polster, Fidler và lir đã kết luận Sinhtrưởng của cây thân gỗ phụ thuộc vào sự hút các nhân tố khoáng trong đấttrong suốt quá trình sinh trưởng Nhu cầu dinh dưỡng của mỗi cây thân gỗ ởmỗi thời kỳ khác nhau là khác nhau
Chất lượng cây con có quan hệ logic với tình trạng chất khoáng Nito
và photpho cung cấp nguyên liệu cho sự sinh trưỡng và phát triển của câycon Tình trạng dinh dưỡng của cây con còn thể hiện rõ qua màu sắc lá TheoThomas D Landis (1985) [18]
Cho thấy việc nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đối với cây trồng là
vô cùng quan trọng đối với sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng
Nhà thực vật học Hà Lan - Van Helmont (1629) ông đã trồng cây Liễunặng 2.25kg vào thùng chứa 80kg đất Một năm sau cây liễu nặng 66kg trongkhi đất chỉ giảm 66g Ông đã kết luận cây chỉ cần nước để sống
Vào cuối thế kỷ XVIII đầi thế kỷ XIX thuyết mùn do thaer (1873) đềxuất cho từng cây hấp thụ mùn để sống Đến thế kỷ XIX nhà hóa học ngườiĐức Liibig (1840) đã sây dựng thuyết chất khoáng Liibig cho rằng độ mầu
mỡ của đất là do muối khoáng trong đất Ông nhấn mạnh rằng việc bón phânhóa học cho cây sẽ làm tăng năng suất cây trồng Năm 1963 Kinur và Chiberkhẳng định việc bón phân cho đất theo từng thời kỳ khác nhau là khác nhau.Cùng năm đó Turbittki đã đưa ra quan điểm: phân bón là nguồn dinh dưỡng
bổ sung cho cây sinh trưởng và phát triển tốt, đối với từng loài cây, từng tuốicây cần có nhiều nghiên cứu cụ thể tránh lãng phí phân bón không cần thiết.Việc bón phân thừa hay thiếu đều dẫn tới biểu hiện cây sinh trưởng chậm vàchất lượng kém
Trang 18Năm 1974 polster, Fidler và lir đã nghiên cứu và đưa ra kết luận rằngsinh trưởng của cây than gỗ phụ thuộc vào sự hút các nhân tố khoáng từ trongđất trong suốt quá trình sinh trưởng Nhu cầu dinh dưỡng của mỗi cây thân gỗ
ở mỗi thời kỳ khác nhau là khác nhau
Theo Thomas (1985)[18], chất lượng cây con có mối quan hệ logic vớitình trạng chất khoáng Nitơ và phốt pho cung cấp nguyên liệu cho sự sinhtrưởng và phát triển của cây con Tình trạng dinh dưỡng của cây con thể hiện
rõ qua màu sắc của lá Phân tích thành phần hóa học của mô là một cách duynhất để đo lường mức độ thiếu hụt dinh dưỡng của cây con
Theo kết quả nghiên cứu về sinh thái của hạt giống và sinh trưởng của cây
gỗ non, Ekta và Singh (2000) [17] đã nhận thấy rằng, cường độ ánh sáng, hỗnhợp ruột bầu có ảnh hưởng rõ rệt tới sự nảy mầm, sự sống sót và quá trình sinhtrưởng của cây con Có thể ví phân bón là “ thức ăn” của cây trồng Việc bónphân thích hợp sẽ góp phần tăng năng suất cây trồng, chất lượng sản phẩm vàhiệu suất kinh tế, ít hoặc không tác động xấu đến kết cấu đất canh tác và môitrường
Ngày nay cùng với việc phát hiện, tìm ra các loài sâu hại thì việc sửdụng thuốc bảo vệ thực vật và các biện pháp phòng trừ khác đặc biệt là biệnpháp sinh học ngày càng được chú ý, quan tâm nhiều hơn để hạn chế, tiêu diệtcác loài sâu hại Như ở Bắc Mỹ để tiêu diệt các loại sâu ăn Sồi dẻ (Porthetriadisporr L) người ta đã dùng chất Gipton lầy từ bướm cái làm bẫy, nó có tácdụng hấp dẫn con đực ở xa khoảng 2-3km Người ta còn dùng côn trùng cóích là các tổ kiến vống đưa vào rừng trồng và rừng tự nhiên để hạn chế sựphát dịch của sâu hại (Trần Công Loanh và cs, 2001) [6]
Trong những năm gần đây, nhiều nước trên thế giới như: Mỹ, Anh,Nhật, Trung Quốc… đã sử dụng nhiều chế phẩm phân bón qua lá có tác dụnglàm tăng năng suất cho nông sản, không làm ô nhiễm môi trường như: Atonik,Yogen… (Nhật Bản), Bloom, Blus, Solu, Spray-NGrow… (Hoa Kỳ), Diệp lục
tố, đặc phong… (Trung Quốc) Nhiều chế phẩm đã được nghiện cứu và chophép sử dụng trong sản suất nông nghiệp ở Việt Nam
Trang 192.2.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam
Từ lâu nông dân ta đã có câu "người đẹp nhờ lụa, lúa tốt nhờ phân".Phân bón đã là một trong những nhân tố chính làm tăng năng suất cây trồng
để nuôi sống nhân loại trên thế giới Tuy nhiên, nhiều nước không có côngnghệ sản xuất phân bón mà tiền tệ lại có hạn nên việc sử dụng phân khoáng ởcác nước có sự chênh lệch khá lớn Sự chênh lệch này không phải do tính chấtđất đai khác nhau quyết định mà chủ yếu là do điều kiện tài chánh cũng nhưtrình độ hiểu biết về khoa học dinh dưỡng cho cây trồng quyết định
Có nhiều công trình nghiên cứu để tìm ra các biện pháp kỹ thuật nhằmtăng năng suất cây trồng cho nền nông nghiệp với mong muốn không ngừngnâng cao đáp ứng nhu cầu của cuộc sống hiện nay
Từ năm 1980 - 1985, Nguyễn Minh Đường và nhiều tác giả khác cũng
có những nghiên cứu chi tiết về gieo ươm và trồng rừng sao dầu ở rừng ởmiền Đông Nam Bộ
Khi nghiên cứu gieo ươm Thông nhựa (Pinus merkusii), Nguyễn XuânQuát (1985) [8] cũng đã tập trung xem xét ảnh hưởng của thành phần hỗn hợpruột bầu Những nghiên cứu như thế cũng đã được Hoàng Công Đãng (2000)[4] thực hiện với loài Bần chua ở giai đoạn vườn ươm
Để thăm dò phản ứng của cây con với phân bón, Nguyễn Xuân Quát(1985) [8] và Hoàng Công Đãng (2000) [4] đã bón lót super lân, clorua kali,sulphat amôn với tỷ lệ từ 0%-6% so với trọng lượng ruột bầu Đối với phânhữu cơ, các tác giả thường sử dụng phân chuồng hoai (phân trâu, phân bò vàphân heo) với liều lượng từ 0%-25% so với trọng lượng bầu Một số nghiêncứu cũng hướng vào xem xét phản ứng của cây gỗ non với nước Tuy vậy,đây là một vấn đề khó bởi vì hiện nay còn thiếu những điều kiện nghiên cứucần thiết (Nguyễn Xuân Quát, 1985) [8]
Một vấn đề thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu là thành phầnhỗn hợp ruột bầu Theo Nguyễn Văn Sở (2004) [9], sự phát triển của cây con
Trang 20phụ thuộc không chỉ vào tính chất di truyền của cây, mà còn vào môi trườngsinh trưởng của nó (tính chất lý hóa tính của ruột bầu) Tuy nhiên không phảitất cả các loài cây đều cần một loại hỗn hợp như nhau mà chúng thay đổi tùythuộc vào đặc tính sinh thái học của mỗi loài cây.
Nguyễn Thị Mừng (1997) [6], thành phần ruột bầu được cấu tạo từ 79%đất + 18% phân chuồng + 0,5% N + 2% P + 0,5% K hoặc 80% đất + 15%phân 14 chuồng + 1% N + 3% P + 1% K sẽ đảm bảo cho cây Cẩm lai(Dalbergiabariaensis Pierre) sinh trưởng tốt trong giai đoạn vườn ươm
Khi nghiên cứu gieo ươm Dầu song nàng (Dipterrocarpus dyerii),Nguyễn Tuấn Bình (2000) [2] cũng nhận thấy hỗn hợp ruột bầu có ảnh hưởngrất nhiều đến sinh trưởng của cây con Theo tác giả, đất feralit đỏ vàng trênphiến thạch sét vàđất xám trên granit có tác dụng nâng cao sức sinh trưởngcủa cây con Dầu song nàng Hàm lượng phân super phốt phát (Long Thành)thích hợp cho sinh trưởng của Dầu song nàng là 2%-3%, còn phân NPK là 3%
so với trọng lượng bầu
Nguyễn Văn Thêm và Phạm Thanh Hải (2004) [10], bón lót cho loàiChiêu liêu nước (Terminalia calamansanai) trong giai đoạn 6 tháng tuổi ởvườn ươm là việc làm cần thiết Nếu bón lót phân tổng hợp NPK (16:16:8)cho Chiêu liêu nước, thì hàm lượng thích hợp là 1% so với trọng lượng ruộtbầu Tương tự, phân super photphat là 1%, còn phân hữu cơ hoai là 15%-20%
so với trọng lượng ruột bầu
Nguyễn Thị Cẩm Nhung (2006) [7], khi gieo ươm cây Huỷnh liên(Tecoma stans(L.) H.B.K), hỗn hợp ruột bầu thích hợp bao gồm đất, phânchuồng hoai, xơ dừa, tro, trấu theo tỷ lệ 90:5:2: 2,1 và 0,3% kali clorua,0,5%super lân và 0,1% vôi
Cuốn sách “Giống cây rừng”, “Lâm sinh 1”, “Lâm sinh 2”, “Hướng dẫn
kĩ thuật trồng cây nông lâm nghiệp cho đồng bào Miền núi”, “Tổ chức gieoươm cây bản địa phục vụ mục tiêu phục hồi rừng”…Và hàng loạt các bài luận
Trang 21văn, luân án, đề tài, chuyên đề nghiên cứu về nhân giống về gieo ươm Nhữngcuốn sách này có nói về các khâu chính và các kĩ thuật cần thiết trong côngtác gieo ươm từ khâu xây dựng vườn ươm, khảo nghiệm giống, bảo quản hạtgiống và hàng loạt các nghiên cứu về cách thức xử lý ở mỗi loại hạt giốngkhác nhau Nghiên cứu tỷ lệ nảy mầm của mỗi loại hạt, công thức phân phùhợp…Mỗi loài cây đều có đặc tính sinh thái khác nhau, nên trong sản xuấttrồng cây, cũng như gieo ươm cần đòi hỏi đất đai, hỗn hợp ruột bầu khôngnhư nhau.
Qua kết quả nghiên cứu cho thấy hỗn hợp ruột bầu khi gieo ươm củamột số loài cây như sau: Thành phần ruột bầu gieo ươm cây Quế: 80% đấttầng A +20% phân chuồng hoai Thành phần ruột gieo ươm Thông: gồm 80%đất tầng A + 20% phân chuồng hoai, những nơi gần rừng Thông nên lấy đất ởrừng Thông và thêm1% supe lân Thành phần ruột bầu gieo ươm Hồi: 80%đất tầng A (đất thịt) + 20%phân chuồng hoai Thành phần ruột bầu gieo ươmTrám Trắng: 90% đất tầng A + 9% phân chuồng hoai và 1% supe lân (tínhtheo trọng lượng bầu) Hỗn hợp ruột bầu để gieo ươm cây Bằng Lăng là: 94%đất + 5% phânchuồng 1% supe lân Hỗn hợp ruột bầu gieo ươm cây Mỡ là:85% đất +10% phân chuồng +4% đất hun + 1% supe lân
Như vậy, các nghiên cứu ở trên đều nhằm mục đích tìm ra phươngpháp gieo ươm thích hợp nhất cho mỗi loại cây đạt hiệu quả tốt cả về chấtlượng, số lượng và thu được lợi nhuận cao lại nhanh nhất Ngoài ra còn đápứng cho nhu cầu nghiên cứu, thử nghiệm cho công tác nghiên cứu áp dụngkhoa học tiên tiến
Đi đầu trong lĩnh vực này có thể kể đến Nguyễn Xuân Quát (1985) [8],Trần Gia Biển (1985), … các tác giả đều đi đến kết luận chung cho rằng mỗiloại cây trồng đều có yêu cầu về loại phân, nồng độ, phương thức bón, tỷ lệ
hỗn hợp hoàn toàn khác nhau Khi nghiên cứu gieo ươm thông nhựa (Pinus
merkusii), tác giả cũng đã tập trung xem xét ảnh hưởng của thành phần hỗn
Trang 22hợp ruột bầu [8] Những nghiên cứu như thế cũng đã được Hoàng Công Đãng(2000)[4] thực hiện với loài Bần chua ở giai đoạn vườn ươm
Nguyễn Thị Mừng (1997)[6], thành phần ruột bầu được cấu tạo từ 79%đất + 18% phân chuồng + 0,5% N + 2% P + 0,5% K hoặc 80% đất + 15%phân chuồng + 1% N + 3% P + 1% K sẽ đảm bảo cho cây Cẩm lai (Dalbergiabariaensis Pierre) sinh trưởng tốt trong giai đoạn vườn ươm
Khi nghiên cứu gieo ươm Dầu song nàng (Dipterrocarpus dyerii),Nguyễn Tuấn Bình (2002)[2] cũng nhận thấy hỗn hợp ruột bầu có ảnh hưởngrất nhiều đến sinh trưởng của cây con Theo tác giả, đất feralit đỏ vàng trênphiến thạch sét và đất xám trên granit có tác dụng nâng cao sức sinh trưởngcủa cây con Dầu song nàng Hàm lượng phân super phốt phát (Long Thành)thích hợp cho sinh trưởng của Dầu song nàng là 2% – 3%, còn phân NPK là3% so với trọng lượng bầu
Theo Nguyễn Văn Thêm và Phạm Thanh Hải (2004)[10], bón lót choChiêu liêu nước (Terminalia calamansanai) trong giai đoạn 6 tháng tuổi ởvườn ươm là việc làm cần thiết Nếu bón lót phân tổng hợp NPK (16:16:8)cho Chiêu liêu nước, thì hàm lượng thích hợp là 1% so với trọng lượng ruộtbầu Tương tự, phân super photphat là 1%, còn phân hữu cơ hoai là 15% –20% so với trọng lượng ruột bầu
Theo Nguyễn Thị Cẩm Nhung (2006)[7], khi gieo ươm cây Huỷnh liên(Tecoma stans (L.) H.B.K), hỗn hợp ruột bầu thích hợp bao gồm đất, phânchuồng hoai, xơ dừa, tro, trấu theo tỷ lệ 90:5:2: 2,1 và 0,3% kali clorua, 0,5%super lân và 0,1% vôi
Cây cối tiếp nhận được 95% phân bón và được đánh giá là 1 tấn phânbón lá có hiệu suất bằng 20 tấn phân bón vào đất Do trên mỗi lá có hàng triệukhí khổng có khả năng hấp thụ ánh sáng, không khí, nước và chất khoáng.Phân được xâm nhập trực tiếp, di chuyển nhanh chóng trong cây nên đáp ứngđược yêu cầu cần thiết nhu cầu dinh dưỡng của cây trong thời gian ngắn, giúpcây sinh trưởng tốt cho năng suất và chất lượng cao [13]
Trang 232.3 Tổng quan về loài cây Đinh thối
Tên khoa học: Fernandoa brilletii (Dop) Steenis, tên đồng nghĩa
Hexaneurocarpon brilletii Dop Thuộc trong chi Đinh Fernandoa (tên đồng
nghĩa Ferdinandia, Ferdinandoa, Fernandia, Haplophragma), họ Chùm ớt
(Đinh), bộ Hoa môi (L a m i a l es ) Cây được Steenis mô tả khoa học năm 1976 Loài Đinh thối có kích thước thuộc loại cây gỗ lớn, cao 25- 30m,thân cây thẳng, gốc có bạnh nhỏ, cành rậm, vỏ thân màu xám trắng kay xámtro, nhạt, rạn nứt dọc hay bong mảng Đinh thối loài c â y th ư ờ n g x a n h
Phân bố: Ở rải rác phía Bắc Việt Nam, xuất hiện trong các các cánh rừngthường xanh mưa mùa nhiệt đới thuộc các tỉnh Hoà Bình, Thái Nguyên,Tuyên Quang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bác Kạn,
- Đặc điểm nhận biết
Cây gỗ lớn, cao 25- 30m, đường kính có thể tới 50-100cm Vỏ mầu xámtro bong mảng, có nhiều lớp mỏng lớp trong nâu vàng Phân cành thấp Cànhnon hơi vuông cạnh phủ lông nâu vàng
Lá kép lông chim 1 lần lẻ mọc đối, dài 40- 45cm Lá chét hình trái xoanhay trứng trái xoan, đầu có mũi nhọn, đuôi gần tròn, dài 10- 13cm, rộng 5-6cm, mặt dưới có lông mịn và tuyến nhỏ ở gốc, gân bên nổi rõ ở mặt dưới,gân nhỏ gần song song Cuống lá chét ngắn
Hoa tự xim viên chuỳ ở đầu cành Hoa to, thưa, lưỡng tính, không đều.Đài hình chuông, tràng hợp gốc, màu trắng hay trắng vàng tạo thành 2 môi.Nhị 5 có 2 nhị dài Bầu 2 ô
Quả nang hình trụ dài khoảng 40cm, rộng 4cm, đầu quả nhọn Vỏ quảhoá gỗ khi chín tách ô Hạt dẹt nhẵn bóng, có cánh màu trắng, xếp thành 2hàng trong mỗi ô
Đặc tính sinh học và sinh thái học
Cây mọc chậm, mùa hoa tháng 9 –11 Mọc rải rác trong rừng kín lá rộngthường xanh ở các tỉnh miền Bắc
3 Phân bố địa lý
Phân bố: Hoà Bình, Ninh Bình và một số tỉnh ở phía Bắc Việt Nam
Trang 244 Giá trị
Gỗ màu vàng, mùi hắc, dễ làm có thể đóng đồ dùng và đồ thủ công mỹ nghệ
5 Khả năng kinh doanh, bảo tồn
Là cây trước đây phổ biến, nay khai thác kiệt quệ nen còn lại số lượngrất ít, chủ yếu còn lại những cây nhỏ và mới tái sinh
Theo tài liệu: Những loài gỗ quý ở Việt Nam (Công ty cổ phần kiến trúc
và đâu tư xây dựng (2016), đã nêu những loại (gồm 12 loài) gỗ quý hiếm củaViệt Nam, đã xếp gỗ cây Đinh thối: Đứng đầu bảng trong nhóm gỗ quý vànằm trong nhóm "Tứ Thiết” Là loại gỗ sinh trưởng chậm, gỗ nặng, chắc, bềmặt đanh mịn, gỗ Đinh "thối" già mặt vân chun rất đẹp, thuộc loại đẹp nhất ,
giá vô cùng đắt và gần như không còn, mua bán chỉ qua quen biết giới thiệu
nhau
Theo Nguyễn Tiến Bân và Cs (2005), Danh lục các loài thực vật ViệtNam tập III [1] ở Việt Nam đã phát hiện 5 loài cây trong chi Đinh(Fernandoa):
-Fernandoa adenophylla (Wall ex G.Don) Steenis, 1976 - Đinh lá tuyến,ngọt nai
-Fernandoa bracteata (P.Dop) Steenis, 1976 - Đinh lá hoa, đinh vàng-Fernandoa brilletii (P.Dop) Steenis, 1976 - Đinh thối
-Fernandoa collignonii (P.Dop) Steenis, 1976 - Đinh, đinh vàng, đinhcollignon
-Fernandoa serrata (P.Dop) Steenis, 1976 - Đinh vàng, kẹn, sò đo
Đinh thối là loài cây mới thấy phân bố ở Hoà Bình, dạng sống sinh thái
là cây gỗ lớn, sống trong rừng mưa nhiệt đới ẩm Về công dụng: dùng đóng
đồ gia dụng, thủ công mỹ nghệ và sử dụng trong xây dựng
2.4 Đặc điểm hình thái cây Đinh thối
2.4.1 Đặc điểm hình thái thân cây
Cấu trúc hình thái thân cây phản ánh các hình thức lắp ghép các trụcthân trên cơ thể thực vật (các trục thân này được hình thành từ các loạichồi) Thân loài cây Đinh thối thuộc dạng thân đơn trục - chồi ngọn trên
Trang 25thân phát triển mạnh theo một hướng, các chồi nách không hoặc kém pháttriển (Hình 4.1).
Kết quả nghiên cứu cho thấy, Đinh thối là cây gỗ lớn, cao 18-25m,đường kính từ 40 - 50cm, thậm chí có thể đạt tới hơn 1m, thân thẳng, hìnhtrụ, đoạn thân dưới cành cao, tán thưa hình trứng hoặc hình cầu, vỏ ngoàixanh trắng hoặc nâu nhạt, khi non trơn nhẵn, khi thành thục vỏ nứt dọc nông,thịt vỏ vàng hoặc hơi hồng, Gỗ Đinh thối khi sẻ có màu vàng nhạt mặt gỗ
vè nhỏ
Đinh thối phân cành ở 3/4 chiều cao thân cây, góc phân cành lớn 60
-70o, cành lớn thường bị cong vặn và có phần xà xuống
2.4.2 Đặc điểm hình thái lá cây
Lá cây Đinh thối là loại lá đơn nguyên, phiến lá dày, hơi nhọn, lá dài10-15 cm, rộng 3-4,5 cm, mặt sau có 5-8 đôi gân thứ cấp nổi rõ và phân bố
so le nhau qua gân chính, mặt trước các gân không nổi rõ, lá non có màuxanh Kết quả được minh họa ở hình 4.2
2.5 Tổng quan khu vực nghiên cứu
* Vị trí địa lý: Đề tài được tiến hành tại vườn trung Trung tâm Đào tạo,
nghiên cứu và phát triển thủy sản vùng Đông Bắc trường ĐHNL Thái Nguyên.Vườn ươm nằm ở khu vực chân đồi, hầu hết đất ở đây là loại đất feralitphát triển trên đá sa thạch Do vườn ươm mới chuyển về đây nên đất lấy đểhoạt động đóng bầu gieo cây là đất mặt ở đồi tương đối tốt
Trang 26Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu:
Là cây Đinh thối - Fernandoa brilletii (Dop) Steenis, Thuộc trong chi Đinh- Fernandoa, họ Chùm ớt (Đinh) - Bignoliaceae, bộ Hoa môi (L a m i a l e s )
- Phạm vi nghiên cứu: Ảnh hưởng của các công thức hỗn hợp ruột bầuđến sinh trưởng của cây Đinh thối trong giai đoạn vườn ươm
3.1.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
- Địa điểm nghiên cứu: Vườn ươm khoa Lâm nghiệp trường đại họcNông lâm Thái nguyên
- Thời gian tiến hành: Từ 20/12/2017 đến ngày 30/5/2018
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Xác định tỉ lệ % cây sống ở công thức hỗn hợp ruột bầu
- Ảnh hưởng của các công thức phân đến sinh trưởng đường kính
- Ảnh hưởng của các công thức phân đến sinh trưởng chiều cao
3.3 Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp nghiên cứu kế thừa có chọn lọc các tài liệu, sốliệu, kết quả đã nghiên cứu trước
- Sử dụng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
- Sử dụng phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu điều tra: từ những
số liệu thu thập qua các mẫu biểu điều tra ngoại nghiệp tiến hành tổng hợp vàphân tích thí nghiệm bằng các phương pháp thống kê toán học trong lâmnghiệp
3.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
Bước 1: Chuẩn bị các dụng cụ, vật tư, phân bón phục vụ nghiên cứu đề tài
- Hạt giống, túi bầu, đất tầng B, sàng đất; Phân chuồng hoai, phân vi sinh
Trang 27- Thước đo cao, thước kẹp (Pan me), thước dây, Bảng biểu giấy, bút
Bước 2: Bố trí thí nghiệm
- Phương pháp bố trí thí nghiệm: Để nghiên cứu mức độ ảnh của hỗnhợp ruột bầu đến sinh trưởng của cây con, đề tài thử nghiệm 5công thức thínghiệm, từ đó chọn công thức trội nhất, cụ thể như sau:
Thí nghiệm 1: Đất tầng B + Phân chuồng hoai + phân vi sinh, với tỷ lệ:
+ CT1: 96% đất tầng B + 4% phân chuồng hoai
+ CT2: 93% đất tầng B + 6% phân chuồng hoai + 1% phân vi sinh
+ CT3: 90% đất tầng B + 8% phân chuồng hoai + 2% phân vi sinh
+ CT4: 87% đất tầng B + 10% phân chuồng hoai + 3% phân vi sinh
+ CT5: 100% Đất tầng B
Bước 3: Thực hiện gieo ươm và chăm sóc thí nghiệm
Những biện pháp chăm sóc (làm cỏ, tưới nước, phòng trừ sâu bệnh…)cây con được thực hiện giống nhau trên tất cả các lô thí nghiệm
Các bước được tiến hành như sau:
+ Tạo luống đặt bầu: Luống rộng 1m, dài 12m, mặt luống được rẫy sạch
cỏ dại, san phẳng, nền đặt bầu là nền đất cố định
+ Tạo bầu: Đất tạo bầu được sàng để loại bỏ hết rễ cây, sỏi đá, tạp chấtrồi chộn đều với phân supe lân và phân chuồng hoai theo các công thức trên
Vỏ bầu bằng Polyetylen kích thước 9 cm x12 cm có đáy đục lỗ 2 bên
+ Gieo hạt: Hạt giống dùng trong thí nghiệm là những hạt có kích thước
từ trung bình trở lên (chiều dài > 1,5cm, đường kính >1cm) Sau khi xử lý cho
Trang 28hạt nảy mầm, đem cấy vào bầu với kích thước 9 cm x122 cm Trước khi cấycây vào bầu phải tưới nước cho đủ ẩm, dùng que bằng đầu đũa vót nhọn mộtbầu để tạo lỗ giữa bầu rồi cấy cây vào, bầu được đặt nổi trên luống, xếp xítnhau Các nghiệm thức đều được che bóng 50% 2 tháng đầu sau giảm 25%
Chăm sóc cây con:
-Tưới nước: tưới đủ ẩm cho cây vào sáng sớm và chiều tối Số lần tướitùy thuộc vào thời tiết và độ ẩm đất trong bầu ( ngày khô nắng 2-3 lần)
- Cấy dặm: Nếu cây nào chết cấy ngay, đảm bảo mỗi bầu 1 cây sinhtrưởng và phát triển tốt
- Nhổ cỏ phá váng: Trước khi nhổ cỏ phá váng nên tưới bầu cây cho đủ
ẩm trước khoảng 1giờ cho bầu ngấm đủ độ ẩm Nhổ hết cỏ trong bầu vàquanh luống, phá váng bằng que nhỏ, xới xa gốc, tranh làm cây bị tổn thương.Sâu bệnh hại: Trong quá trình chăm sóc phun thuốc phòng bệnh cho câytheo định kỳ 15 ngày lần Sử dụng thuốc Thuốc chống nấm (Ridomil gold 68
WG dạng bột) liều lượng 25 gam/20 lít nước
Bước 4: Theo dõi thí nghiệm và thu thập số liệu
Thời gian đo đếm các chỉ tiêu thí nghiệm được tiến hành vào cuối đợtthí nghiệm trong mối ô tiêu chuẩn theo dõi 30 cây được đánh số từ cây số 1đến cây thứ 30 (dùng nan tre nhỏ dánh số cắm ở vị chí đã chọn)
Cách đo: đo theo phương pháp đường chéo góc, lấy 5 điểm đại diệncho mỗi ô tiêu chuẩn, 4 điểm ở 4 góc và điểm ở giữa mối điểm lấy 5 cây
- Đo đường kính cổ rễ (D00): dùng thước đo đường kính (Pan me) ở vịtrí cổ rễ
- Đo chiều cao (Hvn) sử dụng thước đo chiều cao với độ chính sác củathước là ± 0,1cm, đặt thước sát miệng đến hết ngọn cây
- Số lá: đếm số lá theo thứ tự của các cây đo chiều cao, đường kính cổ
rễ của các công thức
Kết quả thí nghiệm được xử lý bằng phần mềm irristat 4.0
Trang 291 Click window data editor File new (điền các thống số thí nghiệmcần xử lý) file save
2 Analysis Anova… Balanced Analysis
3 Trong mục file name tìm file số liệu đã lưu xóa đuôi sys ok
4 Trong hộp thoại information yes
5 Trong hộp thoại open thay file name đuôi sys open
6 Trong hộp thoại iristat: balanced analysis of variance add biến cần xử
lý vào ô analysis variantes, trong ô factor add CT, NL, trong ô ANOVAModel specification add CT, NL OK
Trang 30PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ
4.1 Ảnh hưởng của các CTTN đến số lượng và tỷ lệ cây Đinh thối
Kết quả về số lượng cây và tỷ lệ (%) cây sống của cây Đinh thối trong giai đoạn vườn ươm được thể hiện ở bảng 4.1:
Bảng 4 1 Ảnh hưởng của các CTTN đến số lượng
và tỷ lệ cây Đinh thối
Trang 31Từ bảng 4.1 ta thấy số lượng cây của ở các công thức hỗn hợp ruột bầu
có sự thay đổi qua các tháng tuổi so với số cây được cấy ban đầu (90 cây)
Hỗn hợp ruột baaug của công thức đối chứng (100% đất tầng B) giaiđoạn sau 70 ngày trồng CT5 giảm nhiều nhất: còn 85 cây chiếm 94%, cấccông thức còn lại đều đạt 100% cây s
Nguyên nhân sự suy giảm về số lượng cây sống là do sự nảy mầmkhông đồng đều trong cùng một CTTN và giữa các CTTN với nhau Ngoài ra
sự sinh trưởng không đều trong quá trình phát triển của cây giữa các CTTN
và ảnh hưởng của các điều kiện ngoại cảnh như ánh sáng, nắng cũng ảnhhưởng đến tỷ lệ sống của cây Đinh Thối
Trang 324.2 Ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến vn , 00 , động thái ra lá của cây Đinh thối dưới ảnh hưởng của các CTTN trong giai đoạn vườn ươm
4.2.1 Ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến vn của cây Đinh thối dưới ảnh hưởng các CTTN trong giai đoạn vườn ươm
Chiều cao vút ngọn cây Đinh thối là đặc điểm hình thái liên quan đến khả năng sinh trưởng của cây, vì vậy đây là chỉ tiêu luôn được quan tâm trongchọn tạo cây trồng mang ra sản xuất
Chiều cao cây phụ thuộc vào chất dinh dưỡng và mùa vụ trong đólượng chất dinh dưỡng mà cây hút được là quan trọng nhất, thành phần của cácloại giá thể khác nhau thì lượng chất dinh dưỡng và độ tơi xốp, thông thoángcũng khác nhau làm cho khả năng hút chất dinh dưỡng cũng khác nhau
Bảng 4 2 Kết quả sinh trưởng vn cây Đinh thối ở các CTTN