DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 3.1: Phân loại sinh viênBiểu đồ 3.2: Kết quả trung bình các môn học bằng tài liệu bằng tiếng Anh Biểu đồ 3.3: Mức độ tự tin học các môn khác tương tự bằng tài li
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-0o0 -BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP CƠ SỞ
NHU CẦU HỌC BẰNG TÀI LIỆU TIẾNG ANH
CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC
KINH TẾ – ĐẠI HỌC HUẾ
Mã số: SV2017-02-28
Chủ nhiệm đề tài: Trần Thị Mai
Lớp: K48B Quản Trị Kinh Doanh
Huế, 12/2017
Đại học kinh tế Huế
Trang 2ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-0o0 -BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP CƠ SỞ
NHU CẦU HỌC BẰNG TÀI LIỆU TIẾNG ANH
CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC
KINH TẾ – ĐẠI HỌC HUẾ
Trang 3DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1 Trần Thị Mai (K48B – Quản Trị Kinh Doanh)
2 Trần Thị Minh Trang (K48A – Kinh Doanh Thương Mại)
3 Trần Thị Thanh Hoài (K48C – Quản Trị Kinh Doanh)
4 Trương Minh Tuyn (K47B – Kinh Doanh Thương Mại)
Đại học kinh tế Huế
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG i
DANH MỤC BIỂU ĐỒ ii
DANH MỤC SƠ ĐỒ ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iii
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
3.2 Phạm vi nghiên cứu 2
4 Tóm tắt tiến trình thực hiện đề tài 2
PHẦN 2 NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề nhu cầu, nhu cầu học tập 4
1.1.1 Những nghiên cứu của các tác giả nước ngoài 4
1.1.1.1 Nghiên cứu về nhu cầu 4
1.1.1.2 Những nghiên cứu về nhu cầu học tập 7
1.1.2 Những nghiên cứu của các tác giả trong nước 8
1.1.2.1 Nghiên cứu về nhu cầu 8
1.1.1.2 Nghiên cứu về nhu cầu học tập 8
1.2 Một số vấn đề về nhu cầu 9
1.2.1 Khái niệm nhu cầu 9
1.2.2 Đặc điểm nhu cầu 10
1.2.3 Phân loại nhu cầu 11
1.2 Nhu cầu học tập 12
1.2.1 Khái niệm nhu cầu học tập 12
1.2.2 Đặc điểm nhu cầu học tập 12
1.2.3 Mối quan hệ giữa nhu cầu học tập và nhu cầu nhận thức 13
1.3 Sinh viên, hoạt động học tập của sinh viên 14
1.3.1 Sinh viên 14
1.3.2 Hoạt động học tập 15
1.4 Tài liệu tiếng Anh 15
1.5 Áp dụng việc dạy tài liệu tiếng Anh trong chương trình giảng dạy bậc đại học trên Thế giới 16
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 Giới thiệu chung về trường đại học Kinh Tế 18
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 18
2.1.2 Sứ mệnh – Tầm nhìn – Giá trị cốt lõi 18
2.1.3 Cơ cấu tổ chức 19
2.2 Thực trạng giảng dạy bằng tài liệu tiếng Anh tại trường Đại học Kinh tế Huế20 2.3 Phương pháp nghiên cứu 21
2.3.1 Các phương pháp nghiên cứu chính 21
2.3.2 Mô hình nghiên cứu 22
2.3.3 Phương pháp chọn mẫu 25
Đại học kinh tế Huế
Trang 5CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28
3.1 Mô tả mẫu 28
3.2 Đánh giá thang đo bằng hệ số tin cậy 33
3.3 Phân tích nhân tố khám phá EFA 40
3.3.1 Phân tích nhân tố đối với biến độc lập 40
3.3.2 Phân tích nhân tố đối với biến phụ thuộc 43
3.4 Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến nhu cầu học bằng tài liệu tiếng Anh của sinh viên trường Đại học Kinh Tế - Đại học Huế 45
3.4.1 Mô hình hồi quy tổng quát 45
3.4.2 Kiểm định hệ số tương quan 46
3.4.3 Xây dựng mô hình hồi quy tuyến tính 47
a Đánh giá mô hình hồi quy tuyến tính….……… 47
b Kiểm định phân phối chuẩn……… .49
c Phân tích mô hình hồi quy tuyến tính………… .50
d Kiểm định đa cộng tuyến……… 51
CHƯƠNG 4 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HỌC BẰNG TÀI LIỆU TIẾNG ANH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC HUẾ 52
4.1 Cơ sở đề xuất các biện pháp 52
4.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả việc học bằng tài liệu tiếng Anh tại trường Đại học Kinh Tế Huế 52
4.2.1 Đối với bản thân mỗi sinh viên 52
4.2.2 Đối với giảng viên 53
4.2.3 Đối với tài liệu tiếng Anh 54
PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 55
3.1 Kết luận.……… 54
3.2 Kiến nghị ……… …54
PHỤ LỤC ………55
Đại học kinh tế Huế
Trang 6DANH MỤC BẢNG Bảng 2.1: Chọn mẫu phân tầng theo ngành học
Bảng 2.2: Chọn mẫu phân tầng theo khóa.
Bảng 3.1: Kiểm định mối liên hệ giữa Kết quả học tập của sinh viên gần đây và biến
Kết quả trung bình ở các môn học bằng tài liệu tiếng Anh đã đạt được của sinh viên
Bảng 3.2: Kiểm định mối liên hệ giữa biến Kết quả trung bình của sinh viên ở các
môn học bằng tài liệu tiếng Anh và biến Mức độ tự tin để học các môn khác tương tự
Bảng 3.3: Kiểm định mối liên hệ giữa biến Kết quả trung bình của sinh viên ở các
môn học bằng tài liệu tiếng Anh với biến Trình độ tiếng anh của sinh viên ở mức nào
Bảng 3.4 Đánh giá độ tin cậy của thang đo trước khi tiến hành kiểm định.
Bảng 3.5 Kiểm định điều kiện phân tích EFA cho biến độc lập.
Bảng 3.6 Ma trận xoay nhân tố.
Bảng 3.7 Nhân tố mới tác động đến nhu cầu học bằng tài liệu tiếng Anh.
Bảng 3.8 Kiểm định điều kiện phân tích EFA cho 11 biến phụ thuộc trong “nhu cầu
chung”
Bảng 3.9 Ma trận tương quan giữa các biến.
Bảng 3.10 Mô hình hồi quy tóm tắt.
Bảng 3.11 Kết quả phân tích ANOVA.
Bảng 3.12 Bảng kiểm định phân phối chuẩn của số liệu.
Bảng 3.13 Bảng kết quả phân tích hồi quy đa biến.
Bảng 3.14 Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến.
Đại học kinh tế Huế
Trang 7DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 3.1: Phân loại sinh viên
Biểu đồ 3.2: Kết quả trung bình các môn học bằng tài liệu bằng tiếng Anh Biểu đồ 3.3: Mức độ tự tin học các môn khác tương tự bằng tài liệu tiếng Anh Biểu đồ 3.4: Kết quả học tập học kỳ gần đây của sinh viên
Biểu đồ 3.5: Chứng chỉ tiếng Anh của sinh viên đã đạt được Biểu đồ 3.6: Kiểm định phân phối chuẩn của dữ liệu
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức trường Đại học Kinh Tế – Đại học Huế
Sơ đồ 2.2:Mô hình nghiên cứu nhu cầu
Đại học kinh tế Huế
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Đào tạo tiếng Anh như một ngoại ngữ
Tiếng Anh chuyên ngành
Đại học kinh tế Huế
Trang 9ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP CƠ SỞ
1 Thông tin chung 1.1 Tên đề tài: Nhu cầu học bằng tài liệu tiếng Anh của sinh viên trường Đại học
Kinh Tế - Đại học Huế
1.2 Mã số đề tài: SV2017-02-28 1.3 Chủ nhiệm đề tài: Trần Thị Mai 1.4 Cơ quan chủ trì: Trường Đại học Kinh tế - Đại học Huế 1.5 Thời gian thực hiện: 1/2017 – 12/2017
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung
Đánh giá nhu cầu học bằng tài liệu tiếng Anh của sinh viên trường Đại họcKinh Tế- Đại học Huế từ đó dựa vào tình hình thực tiễn điều tra và phân tích được đểxét xem có nên áp dụng phương pháp giảng dạy bằng tài liệu tiếng Anh cho sinh viêntại trường Đại học Kinh Tế - Đại học Huế hay không
Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về nhu cầu học bằng tài liệu tiếng Anh
- Xác định nhu cầu, phương pháp, cách tiếp cận của sinh viên về việc học bằng tàiliệu tiếng Anh
- Đánh giá được thực trạng, mức độ hiểu biết, khả năng học các môn chuyên ngànhbằng tài liệu tiếng Anh của sinh viên trường Đại học Kinh Tế Huế
- Định hướng phương pháp, cách tiếp cận, nghiên cứu tài liệu tiếng Anh hiệu quả
3 Tính mới và sáng tạo
Khám phá được các yếu tố ảnh hưởng đến Nhu cầu học bằng tài liệu tiếng Anhcủa sinh viên Bên cạnh các yếu tố về “ý hướng”, “ý muốn”, “ý định” thuộc cái vốn cócủa con người mà nhu cầu học tập ở đây còn ảnh hưởng bởi các yếu tố từ môi trườngbên ngoài, bao gồm yếu tố thuộc về Giảng viên, yếu tố thuộc về kiến thức trong tàiliệu tiếng Anh đó có
4 Các kết quả nghiên cứu thu được
- Các yếu tố ảnh hưởng đến Nhu cầu học bằng tài liệu tiếng Anh của sinh viêntrường Đại học Kinh Tế - Đại học Huế Thông qua phỏng vấn chuyên gia bằng
Đại học kinh tế Huế
Trang 10bảng hỏi định tính và khảo sát nhu cầu cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến nhucầu học bằng tài liệu tiếng Anh của sinh viên trường Đại học Kinh Tế - Đại họcHuế bằng bảng hỏi.(Các yếu tố có thể làm tăng nhu cầu cũng như có thể làm suygiảm nhu cầu ở sinh viên).
- Giải pháp để đáp ứng nhu cầu học bằng tài liệu tiếng Anh ở mức cao của sinhviên, bao gồm các giải pháp đến Bản thân sinh viên, Giảng viên, Kiến thức trongtài liệu tiếng Anh được áp dụng
Trang 11PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Chúng ta đang sống trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế Vậy nênviệc mở rộng kiến thức, bắt kịp thời đại là một trong những yêu cầu bức thiết và vôcùng quan trọng Để đạt được những điều này, nguồn nhân lực được xem như là mộtnhân tố quyết định Nguồn nhân lực này đòi hỏi phải được trang bị những kiến thức,
kỹ năng toàn diện đặc biệt là trình độ ngoại ngữ - chiếc chìa khóa quan trọng của thờiđại
Trong giao tiếp, giáo dục, ứng dụng khoa học kỹ thuật hay cả trong nghệ thuật,nhiều người trên thế giới đã chọn học tiếng Anh để làm phương tiện mở cánh cổng trithức Các nhà khoa học, ngôn ngữ học và cả những người thực hành giảng dạy đềumong muốn nghiên cứu tìm ra cách tiếp cận ngôn ngữ này với những quan điểm hiệnđại, để vừa hiểu được bản chất vấn đề vừa khai thác những phương pháp tích cựcnhằm nâng cao chất lượng đào tạo Trong xu hướng chung về đào tạo tiếng Anh nhưmột ngoại ngữ (Teaching English as a Foreign Language - TEFL), đã có nhiều nghiêncứu đề cập việc dạy và học tiếng Anh chuyên ngành (English for Specific Purposes -ESP) cùng những thách thức về chương trình, tài liệu, phương pháp giảng dạy vàphương pháp học tập loại hình tiếng Anh có tính chuyên biệt này Xét về lý thuyết,việc đào tạo phải đạt được mục tiêu quy mô lớn về số lượng và đạt chuẩn về chấtlượng, nhằm đáp ứng nhu cầu của một đối tượng đào tạo đông đảo trong xã hội, vànhằm tạo ra những sản phẩm đào tạo có chất lượng thật sự - có nghĩa là người học sẽvận dụng tốt những kiến thức có được từ việc nghiên cứu tài liệu bằng tiếng anh trongcông việc của họ sau khi tốt nghiệp Tuy nhiên, thực tế đào tạo kiến thức cho sinh viênbằng tài liệu tiếng Anh trong thời gian qua bộc lộ những khó khăn và hạn chế về nhiềumặt; dẫn đến việc nhiều cơ sở đào tạo không đạt được những mục tiêu mong muốn khiđầu tư cho công tác này
Để đạt được cả mục tiêu giao tiếp lẫn sử dụng trong công việc về sau thì việc sửdụng tài liệu tiếng Anh cho việc học là một hướng đi đang được lựa chọn tại nhiềutrường Đại Học Tuy nhiên, sinh viên sử dụng tài liệu tiếng Anh để học các mônchuyên ngành là một thách thức không nhỏ đối với họ bởi có sự khác biệt giữa nănglực và trình độ tiếng Anh của từng người Và còn phụ thuộc vào phương pháp giảngdạy, truyền đạt của thầy (cô) đến sinh viên Mặt khác trong quá trình học sinh viênphải lao động gấp đôi, một mặt vừa tiếp thu kiến thức chuyên môn mà nhiều phần cònkhó hiểu ngay cả khi được giảng bằng tiếng Việt, một mặt vừa phải hiểu và học nộidung đó bằng tiếng Anh Nếu không có phương pháp và tiếp cận phù hợp thì cả mụctiêu nâng cao năng lực ngoại ngữ cũng như hiểu được các kiến thức chuyên ngành sẽkhông đạt được Đối với trường Đại học Kinh Tế - Đại học Huế, việc tìm hiểu, làm rõ
Đại học kinh tế Huế
Trang 12nội dung nhu cầu học tập bằng tài liệu tiếng Anh của sinh viên, phân tích thực trạng,những yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu này nhằm kích thích tinh thần học tập của cácsinh viên trong giai đoạn hiện nay có ý nghĩa quan trọng và mang tính thời sự.
Chính vì những lý do đó việc tiến hành nghiên cứu đề tài “Nhu cầu học bằng tài liệu tiếng Anh của sinh viên trường Đại học Kinh Tế - Đại học Huế” là hết sức cấp
Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về nhu cầu học bằng tài liệu tiếng Anh
- Xác định nhu cầu, phương pháp, cách tiếp cận của sinh viên về việc học bằng tàiliệu tiếng Anh
- Đánh giá được thực trạng các môn chuyên ngành bằng tài liệu tiếng Anh của sinhviên trường Đại học Kinh Tế Huế
- Định hướng phương pháp, cách tiếp cận, nghiên cứu tài liệu tiếng Anh hiệu quả
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nhu cầu học bằng tài liệu tiếng Anh của sinh viên trường Đạihọc Kinh Tế - Đại học Huế
- Đối tượng khảo sát: Sinh viên đã học, sinh viên chưa học bằng tài liệu tiếng Anh tạitrường Đại học Kinh tế Huế
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Trường Đại học Kinh tế Huế
- Thời gian: Từ 1/2017 - 12/2017
4 Tóm tắt tiến trình thực hiện đề tài
Đại học kinh tế Huế
Trang 13STT Các nội dung, công việc
thực hiện chủ yếu
(bắt đầu-kết thúc)
1 Xây dựng cơ sở lý luận Cơ sở lý luận để viết đề tài
01/2017 –02/2017
2
Nghiên cứu định tính:
Phỏng vấn chuyên gia(giảng viên và sinh viên)
Xác định các yếu tố ảnhhưởng đến Nhu cầu họcbằng tài liệu tiếng Anh củasinh viên
03 –04/2017
3 Khảo sát sinh viên bằng
bảng hỏi và Xử lý số liệu
- Xác định mức nhu cầu họcbằng tài liệu tiếng Anh củasinh viên
- Xác định các yếu tố ảnhhưởng đến nhu cầu họcbằng tài liệu tiếng Anh củasinh viên
5/2017 –9/2017
4 Đề xuất các giải pháp
- Giải pháp để đáp ứng nhucầu học bằng tài liệu tiếngAnh ở mức cao của sinhviên, bao gồm các giảipháp đến Bản thân sinhviên, Giảng viên, Kiếnthức trong tài liệu tiếngAnh được áp dụng
10/2017 –11/2017
Trang 14PHẦN 2 NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề nhu cầu, nhu cầu học tập
Đề tài tập trung nghiên cứu nhu cầu học tập của sinh viên trong giai đoạn hộinhập kinh tế quốc tế hiện nay với tư cách là động lực thúc đẩy sinh viên học tập, nângcao nhận thức, góp phần tạo ra của cải vật chất cho chính sinh viên và cho sự phồnvinh của toàn xã hội nên cần thiết phải điểm qua các nghiên cứu đã được tiến hànhtrong và ngoài nước về vấn đề nhu cầu cũng như nhu cầu học tập
1.1.1 Những nghiên cứu của các tác giả nước ngoài 1.1.1.1 Nghiên cứu về nhu cầu
- Nghiên cứu của các nhà tâm lý học phương Tây
Nhu cầu với tư cách là một hiện tượng tâm lý chi phối một cách mạnh mẽ đờisống tâm lý cũng như hành vi của con người được nhiều ngành khoa học nghiên cứu
và ứng dụng vào các lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống như quản lý, kinh doanh,giáo dục Trong tâm lý học phương Tây, vấn đề nhu cầu được khá nhiều công trìnhnghiên cứu đề cập tới, trong đó có thể kể đến một số lý thuyết tiêu biểu sau:
+ Lý thuyết phân cấp nhu cầu:
A.Maslow (1908- 1966), một nhà tâm lý theo trường phái tâm lý học nhân văn
là tác giả của thuyết này Khác với S.Freud đề cao cái vô thức đặc biệt là bản năng tìnhdục của con người, A.Maslow cố gắng lý giải và chứng minh rằng tính xã hội nằmngay trong chính bản tính của con người Ông phân nhu cầu của con người thành 5 loạitheo thang bậc từ thấp đến cao: 1 nhu cầu sinh lý, 2 nhu cầu an toàn, 3 nhu cầu về sựliên kết và chấp nhận, 4 nhu cầu được tôn trọng, 5 nhu cầu hiện thực hóa cái tôi Hệthống nhu cầu của con người được xác định theo sơ đồ hình tháp, trong đó các nhu cầu
cơ bản và ở cấp thấp nằm ở dưới đáy còn các nhu cầu ở cấp cao hơn nằm ở trên đỉnhthang Quá trình hình thành các nhu cầu tuân theo nguyên tắc: trước khi các nhu cầubậc cao phát huy vai trò động lực thì bản thân các nhu cầu bậc thấp (sinh học) ở conngười cần phải được thỏa mãn và chỉ khi chúng được thỏa mãn, tính cấp bách củachúng giảm đi thì những động cơ bổ sung của hoạt động là các nhu cầu ở trình độ tiếptheo mới xuất hiện
Đánh giá về lý thuyết của Maslow nhà tâm lý học người Nga B.Ph Lomov
trong cuốn Những vấn đề lý luận và phương pháp luận tâm lý học cho rằng "Tháp
Maslow" bao gồm cả những nhu cầu có nguồn gốc sinh học và xã hội, thế nhưng "đặcđiểm của các mức độ nêu trên hết sức vô định hình Điều đó nảy sinh do Maslow đưa
ra nhu cầu của một cá nhân trừu tượng, tách nó ra khỏi hệ thống quan hệ xã hội, đặtnhu cầu cá nhân nằm ngoài mối liên hệ với xã hội" Và cũng theo Lomov thì lý thuyết
Đại học kinh tế Huế
Trang 15này chưa lí giải được "trong những điều kiện xã hội nào nhu cầu đó được thỏa mãn vànhững nguyên nhân chuyển tiếp nào từ mức độ này sang mức độ khác ông khôngkhắc phục sự đối kháng giữa cá nhân và xã hội được phổ biến trong tâm lý học phươngTây" lúc đó.
Mặc dù còn có hạn chế song cần phải thừa nhận lý thuyết của Maslow là mộttrong những lý thuyết về nhu cầu được nhắc đến nhiều nhất trong các sách giáo khoa
và tài liệu tham khảo tâm lý học đồng thời được sử dụng khá rộng rãi trong đời sống
xã hội đặc biệt là trong lĩnh vực quản lý, sản xuất, tham vấn Các doanh nghiệp rấtquan tâm ứng dụng lý thuyết này trong thực tiễn thể hiện ở việc chăm lo đáp ứng tốthơn nhu cầu của người lao động (cả vật chất và tinh thần), cải thiện mối quan hệ giữacon người với con người nhằm thúc đẩy năng suất, tiết kiệm chi phí sản xuất nâng caolợi nhuận cho đơn vị mình
Từ góc độ tiếp cận của thuyết phân cấp nhu cầu Maslow có thể thấy nhu cầuhọc tập của gia đình nằm trên một phổ khá rộng, từ bậc thang nhu cầu an toàn ở gầncuối tháp cho tới các bậc thang phía trên như nhu cầu về sự liên kết và chấp nhận, nhucầu về sự tôn trọng, nhu cầu hiện thực hóa cái tôi
Giáo sư tâm lý học người Mỹ Clayton Alderfer (1969) sau một loạt các nghiên
cứu đã xây dựng nên thuyết ERG Thuyết này cho rằng hành động của con người bắt nguồn từ nhu cầu song cùng một lúc họ có thể theo đuổi cả ba nhu cầu cơ bản: nhu cầu
tồn tại, nhu cầu quan hệ và nhu cầu phát triển, chứ không nhất thiết phải theo trật tự từ
thấp đến cao như trong lý thuyết phân cấp nhu cầu của Maslow
Nhu cầu tồn tại (E: Existence needs):bao gồm những đòi hỏi vật chất tối cần
thiết cho sự tồn tại của con người, nhóm nhu cầu này có nội dung giống nhu cầu sinh
lý và an toàn của tác giả Maslow
Nhu cầu quan hệ (R: Relatedness needs): là những đòi hỏi về những quan hệ và
tương tác qua lại giữa các cá nhân, nhu cầu quan hệ bao gồm nhu cầu xã hội và mộtphần nhu cầu được tôn trọng
Nhu cầu phát triển (G: Growth needs): là đòi hỏi bên trong mỗi con người cho
sự phát triển mỗi cá nhân, nó bao gồm nhu cầu tự thể hiện và một phần nhu cầu tựtrọng (tự trọng và tôn trọng người khác)
Những lý thuyết về nhu cầu của các học giả phương Tây đều thừa nhận tínhchất xã hội của nhu cầu, coi trọng nhu cầu tinh thần của con người Tuy nhiên, họ chưachỉ ra được cơ chế hình thành cũng như nguyên tắc của việc hình thành và phát triểnnhu cầu
- Nghiên cứu của các nhà tâm lý học Xô Viết
Nghiên cứu nhu cầu trong nghiên cứu tâm lý con người, dòng phái tâm lý họcnày lấy triết học mác xít, chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm phương
Đại học kinh tế Huế
Trang 16pháp luận trong nghiên cứu tâm lý con người Vấn đề nhu cầu được các nhà tâm lý họcHoạt động quan tâm xem xét theo các hướng sau:
D.N.Uznatze - tác giả của thuyết tâm thế - là người đã khám phá ra sự liên quangiữa nhu cầu với hành vi của con người, tương ứng với mỗi kiểu hành vi là một loạinhu cầu cơ bản Sự tích cực của con người do nhu cầu tạo ra; nhu cầu xác định xuhướng và tính chất của hành vi, giữa nhu cầu và hành vi có mối quan hệ mật thiết nênUznatze đã dựa vào nhu cầu để phân loại các hành vi của con người thành những hành
vi có nguồn gốc bên ngoài và những hành vi có nguồn gốc bên trong Cũng theoUznatze thì đồng thời với những nhu cầu mang tính bản năng sinh vật như đói, rét, tìnhdục (còn gọi là những nhu cầu bậc thấp), ở con người còn có những nhu cầu bậc cao,
đó là những nhu cầu trí tuệ, đạo đức và thẩm mỹ Vấn đề là ở chỗ đối với mỗi ngườithì nhu cầu này hay nhu cầu khác mang tính ưu thế và áp đảo
Đặc biệt hơn, xuất phát từ quan điểm của C.Mác coi bản chất của con người làtổng hòa các mối quan hệ xã hội, nhà tâm lý học X.L.Rubinxtêin lại cho rằng nhu cầucủa con người thể hiện sự liên kết, nhu cầu có thể bị tác động bởi hoàn cảnh bên ngoài,tức là những yếu tố của môi trường xung quanh có thể làm thay đổi nhu cầu, có thểtheo xu hướng làm tăng nhu cầu và cũng có thể làm hạn chế nhu cầu Nhu cầu là sựđòi hỏi về "cái gì đó" nằm ngoài chủ thể "Cái gì đó" chính là đối tượng của nhu cầu,
có khả năng đem lại sự thỏa mãn nhu cầu thông qua hoạt động của chủ thể TheoRubinxtêin, quá trình hình thành và phát triển một nhu cầu cụ thể luôn có sự tham giacủa ý thức ở những mức độ khác nhau và trải qua một số giai đoạn như sau:
Ý hướng
Là bước khởi đầu của nhu cầu Ở mức độ này, nhu cầu chưa được phản ánh đầy
đủ, rõ ràng vào ý thức mà chủ thể mới chỉ ý thức được trạng thái thiếu hụt của bản thân
về một cái gì đó nhưng chưa ý thức đầy đủ về đối tượng và khả năng thỏa mãn nhucầu Điều này thúc đẩy chủ thể tích cực tìm kiếm đối tượng và phương thức thỏa mãn
để giải quyết nó Khi chủ thể tự trả lời được câu hỏi "thiếu hụt về cái gì" thì lúc đó nhucầu đã chuyển sang mức độ cao hơn, đó là ý muốn
Ý định
Đại học kinh tế Huế
Trang 17Đến giai đoạn này, chủ thể ý thức đầy đủ cả về đối tượng lẫn cách thức, điều kiệnnhằm thỏa mãn nhu cầu, xác định rõ khuynh hướng của nhu cầu và sẵn sàng hoạtđộng Nhu cầu đã có hướng và đã được “động cơ hóa”, xuất hiện tâm thế sẵn sàng hoạtđộng để thỏa mãn nhu cầu Nhu cầu trở thành sức mạnh nội tại thúc đẩy mạnh mẽ chủthể hoạt động nhằm thỏa mãn nó Đồng thời, lúc này chủ thể có khả năng hình dung vềkết quả của hoạt động.
Qua đó, Rubinxtêin cho rằng để tồn tại và phát triển con người luôn phải hoạt độngnhằm đáp ứng những nhu cầu nhất định Một lần nữa khẳng định, nhu cầu tất yếu phảikéo theo hành động Nhu cầu của con người vừa mang tính tích cực vừa mang tính thụđộng Tính tích cực của nhu cầu thể hiện: nhu cầu thúc đẩy chủ thể tích cực hoạt độngtìm kiếm các cách thức, phương tiện, đối tượng để thỏa mãn nó Tính thụ động thểhiện ở chỗ khả năng thỏa mãn nhu cầu lệ thuộc vào chính thế giới đối tượng tồn tạitrong hiện thực khách quan Tính tích cực của nhu cầu thể hiện cao hay thấp là phụthuộc vào các mức độ của nhu cầu (ý hướng, ý muốn, ý định)
Tóm lại, qua việc phân tích quan điểm của các nhà tâm lý học mác xít về nhu
cầu có thể thấy một số điểm nổi bật sau:
Nhu cầu của con người bao giờ cũng có đối tượng Khi nhu cầu gặp gỡ đốitượng có khả năng thỏa mãn thì lúc đó nhu cầu trở thành động cơ thúc đẩy cá nhânhoạt động để chiếm lĩnh đối tượng Nhu cầu chính là nguồn gốc của tính tích cực hoạtđộng của con người Nghiên cứu nhu cầu phải gắn với hoạt động cụ thể Nhu cầu đượcnảy sinh và phát triển trong quá trình con người hoạt động và tương tác với môitrường
Bất kì nhu cầu nào cũng có một nội dung cụ thể tùy theo nó được thỏa mãntrong những điều kiện nào và theo phương thức nào Hay khác đi, nội dung và tínhchất của nhu cầu phụ thuộc chặt chẽ vào điều kiện và và phương thức thỏa mãn nó
1.1.1.2 Những nghiên cứu về nhu cầu học tập
Nhà giáo dục học K.D.Usinxki khẳng định nhu cầu học tập là cơ sở duy nhất vàvững chắc cho mọi sự học tập có hiệu quả Ông cho rằng muốn hình thành và pháttriển nhu cầu học tập phải tác động vào tự ý thức của người học làm thay đổi từ nhậnthức, thái độ đến xây dựng thói quen tích cực
J.A.Comenxki cho rằng cần phải lôi cuốn, kích thích người học vào chính bảnthân Ông rất coi trọng vai trò của nhu cầu học tập của người học đối với hiệu quả dạyhọc nói chung và học tập nói riêng Theo ông để hình thành phát triển nhu cầu học tập
ở người học thì việc dạy học cũng như người giáo viên phải làm thế nào để hấp dẫnngười học, từ đó lôi cuốn, thúc đẩy họ tích cực, chủ động với vai trò là chủ thể củahoạt động học tập
Đại học kinh tế Huế
Trang 18L.I.Bozovich cho rằng nhu cầu học tập được hình thành và phát triển rất sớm ởtrẻ Ngay từ khi còn nhỏ, con người đã bị hấp dẫn bởi hiện thực khách quan, bởi nhữngđiều mới mẻ và lạ lẫm so với kinh nghiệm của trẻ Trẻ luôn có ham muốn khám phá,hiểu biết thế giới xung quanh Nhu cầu học tập của trẻ được phát triển từ thấp đến cao.
Ở mức độ cao, nhu cầu là động lực thúc đẩy trẻ học tập chiếm lĩnh tri thức và thỏa mãn
nó Bozovich là người có công xây dựng nền móng trong nghiên cứu nhu cầu học tập
Nghiên cứu về nhu cầu học tập của các tác giả kể trên chủ yếu tập trung vàonhu cầu học tập, khám phá những tri thức mới trong nhà trường
1.1.2 Những nghiên cứu của các tác giả trong nước
1.1.2.1 Nghiên cứu về nhu cầu
Ở Việt Nam hiện có khá nhiều các nghiên cứu về vấn đề nhu cầu, cả về mặt lýluận cũng như thực tiễn Có thể điểm qua một số công trình nghiên cứu sau:
Về mặt lý luận, trong các tài liệu tâm lý học đại cương, nhiều tác giả đã bànluận về nhu cầu ở một số khía cạnh: khái niệm, phân loại, vai trò của nhu cầu (PhạmMinh Hạc, Lê Khanh, Trần Trọng Thủy, Nguyễn Quang Uẩn, Trần Quốc Thành, ).Các tác giả chủ yếu dựa trên quan điểm của tâm lý học hoạt động khi xem xét nhu cầuvới tư cách là thành tố nằm trong tiểu cấu trúc xu hướng của nhân cách, là nguồn gốccủa tính tích cực hoạt động của con người
Về mặt thực tiễn, có thể kể đến các nghiên cứu của tác giả Lã Thị Thu Thủy(2006) với "Nhu cầu thành đạt nghề nghiệp của trí thức trẻ", Hà Thị Bình Hòa với
"Nhu cầu thông tin của khách thể tuyên truyền", Lê Thanh Hương (2001) với "Động
cơ thành đạt trong nghiên cứu khoa học của cán bộ nghiên cứu thuộc Trung tâm Khoahọc xã hội và nhân văn Quốc gia"
1.1.1.2 Nghiên cứu về nhu cầu học tập
Một số nghiên cứu về nhu cầu học tập có liên quan đến đề tài như sau:
Nghiên cứu nhu cầu thành đạt và mối quan hệ của nó với tính tích cực nhậnthức của sinh viên hai trường Đại học Sư phạm và Đại học Bách Khoa thành phố HồChí Minh, tác giả Võ Thị Ngọc Châu (1999) trong luận văn của mình đã chỉ ra ảnhhưởng của nhu cầu thành đạt đến tính tích cực nhận thức của sinh viên và đưa ra một
số biện pháp giáo dục nhu cầu thành đạt và tính tích cực nhận thức cho sinh viên
Tác giả Nguyễn Văn Luỹ khi nghiên cứu trên khách thể là 62 em học sinh tiểuhọc học kém và 170 em có học lực từ trung bình trở lên tại địa bàn thành phố Đà Nẵngcũng xác định một số đặc điểm nhu cầu nhận thức của học sinh học kém bậc tiểu họcđồng thời đề xuất biện pháp tác động sư phạm để nâng cao mức độ phát triển nhu cầunhận thức ở các em qua đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học
Đại học kinh tế Huế
Trang 19Trong luận án "Nhu cầu học tập của sinh viên sư phạm", tác giả Hoàng Thị Thu
Hà (2002) đã nghiên cứu làm rõ mức độ nhu cầu học tập của sinh viên Đại học sưphạm thành phố Hồ Chí Minh ở ba mức độ: ý hướng, ý muốn, ý định, trên cơ sở đó đềxuất một số biện pháp tác động sư phạm nâng cao mức độ nhu cầu học tập cho ngườihọc
Ngoài ra có luận án của tác giả Trần Thị Thìn (2004) nghiên cứu thực trạngđộng cơ học tập của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Nghệ An và đề ra một sốphương hướng giáo dục động cơ học tập cho sinh viên sư phạm, kiểm định hai tácđộng với mục đích tăng cường động cơ học tập, đặc biệt là động cơ liên quan trực tiếpđến hoạt động học tập, học nghề của sinh viên GS.TS Nguyễn Ngọc Phú và các tácgiả của cuốn Tâm lý học Sư phạm Quân sự đã đề cập đến động cơ học tập của các sĩquan quân đội bắt đầu từ khởi nguồn xây dựng các nhu cầu học tập đúng đắn của các:nhu cầu mong muốn tiến bộ, trưởng thành; nhu cầu mong muốn phát triển, hoàn thiệnnhân cách; học viên nhu cầu nhu cầu sống, chiến đấu, phục vụ cho sự nghiệp quân đội,xây dựng và bảo vệ tổ quốc; nhu cầu hoàn thiện tri thức, mong muốn nắm vững tiếntới làm chủ tri thức khoa học; nhu cầu nắm vững và làm chủ nghề nghiệp quân sự màmình sẽ theo đuổi
Tóm lại,
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu cả trong và ngoài nước về nhu cầu, nhucầu học tập song chủ yếu gắn với một lĩnh vực đã quá quen biết trong tâm lý học ViệtNam, đó là chuyên ngành tâm lý học Sư phạm
Nhu cầu học tập của cá nhân nói chung và sinh viên nói riêng hiện nay đượcnhiều tác giả coi là một trong những động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội, giúpViệt Nam hội nhập sâu rộng hơn với thế giới Tuy nhiên, những nghiên cứu riêng vềvấn đề này với tư cách là một công trình nghiên cứu chuyên sâu còn rất ít ỏi
1.2 Một số vấn đề về nhu cầu 1.2.1 Khái niệm nhu cầu
Nhu cầu được xem là một thành tố cơ bản thuộc nhóm xu hướng, nằm trong cấutrúc nhân cách của cá nhân Trong tâm lý học có nhiều quan niệm khác nhau về kháiniệm nhu cầu
Từ điển Tâm lý học do tác giả Nguyễn Khắc Viện chủ biên định nghĩa nhu cầu
là: "Điều cần thiết để tồn tại và phát triển Được thỏa mãn thì dễ chịu, thiếu hụt thì
Trang 20Trong tài liệu Tâm lý học quân sự, GS.TS Nguyễn Ngọc Phú đưa ra định
nghĩa: "Nhu cầu là những đòi hỏi tất yếu, khách quan, biểu hiện sự cần thiết về một
cái gì đó cần phải được thỏa mãn của con người trong cuộc sống và hoạt động".
Tác giả A.G.Côvaliôp đã đề cập đến vấn đề nhu cầu với tư cách là nguồn gốctính tích cực hoạt động của con người Theo ông, nhu cầu và sự thỏa mãn các nhu cầucủa con người là động cơ thúc đẩy hoạt động, điều chỉnh hành vi của từng cá nhân và
của cả tập thể nói chung Từ góc độ tâm lý học xã hội, Côvaliôp quan niệm "Nhu cầu
là sự đòi hỏi của nhóm xã hội muốn có những điều kiện sống và phát triển nhất định Nhu cầu quy định xu hướng lựa chọn các ý nghĩ, các rung cảm và ý chí của quần chúng, nó qui định hoạt động xã hội của giai cấp hoặc của tập thể" Ông cũng nhấn
mạnh nhu cầu của con người là đa dạng, nó mang tính lịch sử và gắn liền với nền sảnxuất xã hội, với sự phân phối các giá trị vật chất và tinh thần trong xã hội Nhu cầu củacon người vô cùng phong phú và đa dạng Sự phát triển của con người, loài người làquá trình đáp ứng những nhu cầu, đồng thời cũng là quá trình nảy sinh những nhu cầungày càng mới Tuy nhiên, nhu cầu chỉ được coi là tích cực khi việc đáp ứng chúnggiúp cho con người phát triển về nhân cách
Trên cơ sở phân tích và tiếp thu quan điểm của các nhà nghiên cứu về nhu cầu,chúng tôi tán thành định nghĩa của tác giả Côvaliôp khi xem xét nhu cầu với tư cách làmột hiện tượng tâm lý xã hội Đây là quan niệm khá hợp lý, đầy đủ về nhu cầu của conngười và chúng tôi dựa trên quan điểm này khi xem xét nhu cầu học bằng tài liệu tiếngAnh của sinh viên trường Đại học Kinh Tế Huế
1.2.2 Đặc điểm nhu cầu
Tính đối tượng: Theo X.L.Rubinxtein thì nhu cầu bao giờ cũng có đối tượng.Đối tượng của nhu cầu nằm ngoài chủ thể, tồn tại một cách khách quan đồng thời chứađựng khả năng thoả mãn nhu cầu xong đối tượng đáp ứng nhu cầu chỉ bộc lộ ra khichủ thể tiến hành hoạt động, nhờ vậy mà nhu cầu có được tính đối tượng và chính bảnthân vật thể được nhận biết nghĩa là được chủ thể hình dung, tư duy lại trở thành động
cơ có chức năng thúc đẩy, hướng dẫn hoạt động
Tính chu kì: Khi một nhu cầu nào đó được thỏa mãn không có nghĩa là nó sẽchấm dứt hẳn nếu con người vẫn sống, phát triển trong những điều kiện và phươngthức sinh hoạt như cũ Những nhu cầu về ăn mặc, học tập, giao tiếp với người khácthường xuyên tái diễn với tính chất chu kì trong cuộc sống tuy nhiên mỗi lần tái hiện lànhu cầu lại được củng cố và phong phú thêm
Về phương thức thỏa mãn nhu cầu ở con người thì nhu cầu được thoả mãnthông qua hoạt động và chỉ có thông qua hoạt động có đối tượng thì nhu cầu mới được
cụ thể hoá về mặt tâm lí và mới được thoả mãn Do đó, nhu cầu luôn có mối quan hệmật thiết với động cơ Mỗi loại nhu cầu cụ thể được thoả mãn trong quá trình tiến hànhhoạt động tương ứng Từ nhu cầu đến thỏa mãn nhu cầu thường thông qua nhiều khâu
Đại học kinh tế Huế
Trang 21trung gian và có sự chuyển hóa phức tạp Trong quá trình sống, con người đã chế tạo
ra các công cụ lao động để tác động vào thiên nhiên, cải tạo thiên nhiên và bắt nó phảithỏa mãn nhu cầu của chính mình Hơn nữa, xã hội càng phát triển thì các nhu cầu củacon người ngày càng phong phú và đa dạng, được mở rộng và không ngừng tăng lên
về mặt số lượng và chất lượng Nhu cầu của con người và mức độ thỏa mãn chúng phụthuộc rất nhiều vào nền sản xuất của xã hội và rất nhiều yếu tố khác như: thói quen,phong tục, tập quán cũng như trạng thái riêng của từng chủ thể
Nhu cầu và hoạt động có mối quan hệ mật thiết với nhau Nhu cầu là điều kiệnbên trong của hoạt động và luôn gắn liền với hoạt động có đối tượng của chủ thể.Cùng với sự phát triển của khoa học- kĩ thuật và công nghệ, nhu cầu về vật chất củacon người mỗi ngày một cao hơn nhưng không phải là vô hạn còn nhu cầu về văn hóatinh thần lại tăng lên, không có giới hạn Không những thế, con người có khả năngnhận thức được đầy đủ nhu cầu của mình (nội dung, đối tượng, phương thức thỏa mãnnó) Trước khi thực hiện hành động nào đó nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình, conngười thường đối chiếu nó với các chuẩn mực (đạo đức, pháp luật ), từ đó tự điềukhiển, điều chỉnh hành động của mình cho phù hợp với yêu cầu của xã hội
1.2.3 Phân loại nhu cầu
Nhu cầu của con người rất phong phú, đa dạng Các nhà tâm lý học đã căn cứvào các tiêu chí khác nhau để phân loại nhu cầu của con người
Căn cứ vào điều kiện tồn tại của đối tượng nhu cầu chia thành nhu cầu vật chất
và nhu cầu tinh thần Nhu cầu vật chất có liên quan trực tiếp đến sự tồn tại của cơ thể
con người (nhu cầu về thức ăn, nhà ở, quần áo để chống rét ) Chính nó thúc đẩy hoạtđộng lao động và sáng tạo của con người, làm ra của cải vật chất, tạo cơ sở của toàn bộlịch sử tồn tại của loài người Nhu cầu tinh thần có liên quan trực tiếp tới những đòihỏi về cái đẹp (cách cư xử giữa người và người sao cho hợp đạo lý), có nguồn gốcsâu xa từ trong nền văn minh Chẳng hạn, nhu cầu về nghệ thuật (âm nhạc, hội họa,kiến trúc )
Căn cứ vào chủ thể của nhu cầu, phân chia thành nhu cầu cá nhân và nhu cầu
xã hội Nhu cầu cá nhân là nhu cầu của một cá nhân riêng lẻ còn nhu cầu xã hội là nhu
cầu của một nhóm người như một chỉnh thể thống nhất Nhu cầu của cá nhân gắn chặtvới cá tính của mỗi người
Căn cứ vào các mức độ của nhu cầu phân thành nhu cầu bậc thấp (nhu cầu vật
chất) và nhu cầu bậc cao (nhu cầu tinh thần) Điển hình cho cách phân loại này là nhà
tâm lý học nhân văn người Mỹ A.Maslow Khi phân chia các mức độ của nhu cầu, ông
đã xem xét nhu cầu của con người theo hình thái phân cấp và sắp xếp chúng theo thứ
tự tăng dần từ thấp đến cao là: nhu cầu sinh học, nhu cầu an toàn, nhu cầu về sự liênkết và chấp nhận, nhu cầu về sự tôn trọng và nhu cầu hiện thực hóa bản thân
Đại học kinh tế Huế
Trang 22Một quan điểm khác của tác giả I.A.Gidarian lại phân chia nhu cầu của conngười, một mặt, thành những nhu cầu thực tế, nhu cầu hợp lý, nhu cầu, tự nhiên; mặtkhác, là nhu cầu hư ảo, nhu cầu giả tạo, nhu cầu sai lệch được hình thành do giáo dụcsai lệch, do thói quen xấu
Trên thực tế, khó có thể tách biệt một cách rạch ròi các nhu cầu vì đối với conngười, dù là nhu cầu vật chất hay nhu cầu tinh thần thì chúng đều có bản chất xã hội vàchịu sự qui định của những điều kiện xã hội- lịch sử nhất định Cùng với sự phát triểncủa lịch sử, nhu cầu của con người ngày càng đa dạng và phát triển không ngừng
1.2 Nhu cầu học tập 1.2.1 Khái niệm nhu cầu học tập
Nhu cầu học tập là đòi hỏi tất yếu cần được bồi dưỡng, trau dồi các tri thức, kĩ năng, kĩ xảo cần thiết để con người có thể tồn tại và phát triển trong xã hội.
Nhu cầu học tập phản ánh sự thiếu hụt của cá nhân về kiến thức, kĩ năng mới vàphương thức chiếm lĩnh nó vào trong ý thức của chủ thể học tập Con người sẽ khôngngừng học tập nếu bản thân họ thực sự có nhu cầu học tập Nhu cầu học tập là thànhphần cơ bản của động cơ học tập, thúc đẩy tính tích cực và có ảnh hưởng quyết địnhđến họat động học tập nâng cao trình độ của con người, giúp họ thích nghi với sự pháttriển nhanh chóng của xã hội
Nhu cầu học tập thực chất là nhu cầu về kiến thức, về sự mở mang vốn hiểu biếtcủa con người, có liên quan đến sự tồn tại và phát triển của họ trong xã hội và cho cả
sự phát triển của xã hội Trên cơ sở nhu cầu học tập sẽ làm nảy sinh nhu cầu nhậnthức, nhu cầu về sự thành đạt, tự khẳng định bản thân trong cuộc sống và công việc.Nhờ có nhu cầu học tập thúc đẩy mà con người luôn hăng say hoạt động, đấu tranhvượt qua mọi khó khăn để giải quyết các nhiệm vụ, các vấn đề của cuộc sống
Nhu cầu học tập được hình thành trên cơ sở con người nhận thức được vai trò,mục đích, ý nghĩa của sự học đối với bản thân Nhu cầu học tập có liên quan đếnnhững giai đoạn phát triển khác nhau của nhân cách Vì vậy, để hình thành và pháttriển nhu cầu học tập của con người cần phải làm cho nó chuyển từ trạng thái tiềm ẩnsang trạng thái hoạt động
1.2.2 Đặc điểm nhu cầu học tập
Nhu cầu học tập là trạng thái thiếu hụt của con người đối với các tri thức, kinhnghiệm trong cuộc sống Nhu cầu học tập được hình thành trên cơ sở những yêu cầu,đòi hỏi của thực tiễn đời sống và được bộc lộ thông qua tính sẵn sàng tham gia hoạtđộng nhận thức, qua sự tích cực tìm tòi kiến thức Nhu cầu học tập là động lực thúcđẩy con người hiện thực hóa mối quan hệ với thế giới xung quanh trên phương diện làmột thành viên của loài người Nhu cầu học tập của con người được xem xét trên cơ sở
Đại học kinh tế Huế
Trang 23một số đặc điểm cơ bản là tính đối tượng, tính chu kì và phương thức thỏa mãn nhucầu.
Đối tượng của nhu cầu học tập: tâm lý học hoạt động khẳng định nhu cầu baogiờ cũng mang tính đối tượng Là một nhu cầu tinh thần của con người, đối tượng củanhu cầu học tập chính là "cái gì đó" ngoài cá nhân, nằm trong nền văn hóa xã hội, cókhả năng thỏa mãn nhu cầu đó và khi được phản ánh trong đầu óc con người thì nó trởthành động cơ thúc đẩy họ tích cực hoạt động vươn tới chiếm lĩnh kinh nghiệm xã hội-lịch sử của loài người Hay nói cách khác nhu cầu học tập được hiện thực hóa ra bênngoài thông qua động cơ học tập Nhu cầu học tập có mối quan hệ chặt chẽ với nhucầu nhận thức, với động cơ học tập của con người và như A.N.Leonchiev đã khẳng
định: "sự phân tích các nhu cầu về mặt tâm lý học không thể nào tránh khỏi không
chuyển thành sự phân tích các động cơ".
Nhu cầu học tập không tồn tại một cách tự thân vì chúng không phải là thực thể
mà là hiện tượng tâm lý đặc trưng của con người, chúng phải hiện thân vào một thựcthể khác là đối tượng của hoạt động học tập Do đó khi phân tích nhu cầu học tậpkhông thể tách nó khỏi bản thân hoạt động học tập cũng như đối tượng của hoạt độnghọc tập Nhu cầu học tập là một trong những nhu cầu xã hội đặc trưng của con người,được nảy sinh trên cơ sở chủ thể ý thức đầy đủ những đòi hỏi khách quan của xã hộiđối với sự tồn tại và phát triển bản thân với tư cách là một nhân cách trưởng thành
Tính chu kì: Nhu cầu học tập của con người có tính ổn định được thể hiện bằngchu kì xuất hiện của nó Chu kì xuất hiện càng liên tục, với mật độ càng dày thì độ ổnđịnh càng cao Nhu cầu của con người được thỏa mãn và củng cố thông qua hoạt động,nhu cầu học tập cũng vậy, nó được thỏa mãn thông qua hoạt động học tập Nhu cầuhọc tập của con người có tính "không no" tức là sau khi được thỏa mãn thì nó lại tiếptục xuất hiện nhưng ở những lần xuất hiện sau lại ở mức độ cao hơn Sở dĩ như vậy là
do xã hội càng phát triển thì khối lượng tri thức và kinh nghiệm càng đa dạng và phongphú, chính điều này tạo ra sự thiếu hụt trong vốn kinh nghiệm cá nhân, đòi hỏi họ phảitích cực hoạt động để bù đắp lại Nhu cầu học tập được nảy sinh, hình thành và pháttriển thông qua hoạt động và đến lượt mình lại trở thành động cơ thúc đẩy con ngườihoạt động chiếm lĩnh các kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo mới
Phương thức thỏa mãn nhu cầu học tập: nhu cầu học tập cũng như bất kì nhucầu khác của con người, phải được thoả mãn thông qua hoạt động Hoạt động nhằmthoả mãn nhu cầu học tập được biểu hiện bằng những phương tiện và hình thức khácnhau như: học tập trong nhà trường, vui chơi, tự học, giải trí, lao động
1.2.3 Mối quan hệ giữa nhu cầu học tập và nhu cầu nhận thức
Trong luận án nghiên cứu nhu cầu nhận thức của học sinh học kém bậc tiểu
học, tác giả Nguyễn Văn Lũy nhận định "nhu cầu nhận thức được hiểu là trạng thái
thiếu hụt một cái gì đó trong lĩnh vực nhận thức Nhu cầu nhận thức được phản ánh
Đại học kinh tế Huế
Trang 24vào ý thức dưới dạng cảm giác thiếu thốn thông tin Đối tượng của nhu cầu nhận thức
là những kinh nghiệm, kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo mới chưa từng có trong hệ thống kinh nghiệm của cá nhân"
Nhu cầu học tập và nhu cầu nhận thức đều là những nhu cầu tinh thần của conngười Và theo tác giả, bản thân khái niệm hoạt động nhận thức có nội hàm rộng hơn
so với khái niệm hoạt động học tập Hoạt động nhận thức là quá trình con người nhậnbiết và hiểu biết thế giới khách quan còn hoạt động học tập, theo nghĩa rộng nhất, là
học và luyện tập để hiểu biết, để có kĩ năng Từ góc độ tâm lý học thì "hoạt động học
là hoạt động đặc thù của con người, được điều khiển bởi mục đích tự giác là lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mới, những hình thức hành vi và những dạng hoạt động nhất định, những giá trị" Hoạt động học tập trong tâm lý học sư phạm thường
gắn với giáo dục nhà trường và được hình thành nhờ phương pháp nhà trường Hoạtđộng học tập được coi là một dạng của hoạt động nhận thức của con người
Khi cá nhân tham gia hoạt động học tập thì nhu cầu nhận thức sẽ phát triển lênthành nhu cầu học tập Khi đối tượng của hoạt động học (tri thức và phương thức lĩnhhội tri thức) được cá nhân cảm nhận ý nghĩa của nó đối với mình và trở thành động cơthúc đẩy họ tích cực học tập thì có thể nói đối tượng thỏa mãn nhu cầu nhận thức đồngthời cũng là đối tượng của nhu cầu học tập, nhu cầu nhận thức lúc này trở thành nhucầu học tập Đó là khi xem xét nhu cầu nhận thức của cá nhân trong phạm vi hoạt độnghọc tập ở nhà trường còn nếu nhìn nhận ở bình diện chung thì nhu cầu nhận thức cónội dung đối tượng phong phú hơn so với nhu cầu học tập do phạm vi đối tượng củahoạt động nhận thức rộng hơn so với hoạt động học tập
1.3 Sinh viên, hoạt động học tập của sinh viên 1.3.1 Sinh viên
Khái niệmSinh viên (SV): Thuật ngữ “sinh viên” có nguồn gốc từ tiếng La tin “Students” nghĩa là người làm việc học tập nhiệt tình, tìm kiếm và khai thác kiến thức.Trông tiếng Việt thuật ngữ “sinh viên” dùng để chỉ những người đang học ở bậc đạihọc Vì vậy khái niện sinh viên được hiểu như sau: Sinh viên là những người đãtrưởng thành về thể chất, xã hội tâm lý và vượt qua một kỳ thi tuyển với yêu cầu cao,mag tính chất quốc gia, ngành nghề rõ ràng
- Đặc điểm học tập của sinh viên+ Hoạt động: Là một tổ hợp tác động vào đối tượng nhằm đạt mục đích thõa mãn mộtnhu cầu nhất định và chính kết quả hoạt động là sự cụ thể hóa nhu cầu của chủ thể.+ Đặc điểm hoạt động của SV: 1/ Chuẩn bị và đặc trưng về nghề nghiệp tương lai
2/ Có kế hoạch Thời hạn3/ Đòi hỏi sự nổ lực đọc lập trí tuệ cao
Đại học kinh tế Huế
Trang 251.3.2 Hoạt động học tập
Sự học tập là trường hợp riêng của nhận thức, là sự lĩnh hội hệ thống tri thức,
kỹ năng, kỹ xảo mới thông qua sự huấn luyện, giảng dạy chính quy và hoạt động thựctiễn hàng ngày của con người Học tập luôn là quá trình nhận thức tích cực Bản chấtcủa quá trình học tập là nắm vững tri thức, kĩ năng, kĩ xảo
Tuy nhiên, cũng cần phân biệt giữa học ngẫu nhiên với hoạt động học
Việc nắm vững tri thức, kinh nghiệm, cách hình thành kĩ năng, kĩ xảo cũng nhưcác phương thức hành vi khác thông qua việc thực hiện các hoạt động trong cuộc sốnghàng ngày gọi là học ngẫu nhiên Còn hoạt động học tập là hoạt động đặc thù của conngười, được điều khiển bởi mục đích tự giác, là lĩnh hội những tri thức, kĩ năng, kĩ xảomới, những phương thức hành vi mới Có thể nói, hoạt động học tập là một sự nhậnthức đã được làm cho dễ dàng đi và được thực hiện dưới sự chỉ đạo của giáo viên
Hoạt động học tập: Là hoạt động đặc trưng của con người, được điều khiển bởimục đích tự giác nhằm lĩnh hội hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo mới, hình thành vàphát triển nhân cách
Hoạt động học tập của Sinh viên: Là một hoạt động nhận thức cơ bản của SV,được thực hiện dưới sự hướng đãn của giảng viên Nhằm nắm vững hệ thống kiếnthức, Kỹ năng về một loại nghề nghiệp nào đó, làm cơ sở cho hoạt động nghề nghiệptương lai bao gồm cả hoạt động trên lớp và ngoài lớp, đáp ứng yêu cầu chuyên môn vànghiệp vụ trình độ cao Ngoài những đặc điểm chung, hoạt động học tập của sinh viên
có những đặc điểm: Tính chuyên nghiệp, đọc lập cao, sáng tạo, thực tiễn
1.4 Tài liệu tiếng Anh
Tài liệu
Tài liệu là vật mang tin được hình thành trong quá trình hoạt động của cơ quan,
tổ chức, cá nhân (Điều 2, Luật lưu trữ 2011)
Tài liệu là phương tiện bảo đảm thông tin cho quản lý và sản xuất Theo nghĩarộng, tài liệu cần thiết cho mọi lĩnh vực hoạt động xã hội loài người, giúp loài ngườighi nhớ những tri thức và kinh nghiệm trong quá trình sống, làm việc và đấu tranh bảo
vệ quyền lợi của mình Tài liệu hình thành khi các ký tự, chữ viết xuất hiện (theo thưviện quốc gia Việt Nam)
Tài liệu bao gồm văn bản, dự án, bản vẽ thiết kế, bản đồ, công trình nghiên cứu,
sổ sách, biểu thống kê; âm bản, dương bản phim, ảnh, vi phim; băng, đĩa ghi âm, ghihình; tài liệu điện tử; bản thảo tác phẩm văn học, nghệ thuật; sổ công tác, nhật ký, hồi
ký, bút tích, tài liệu viết tay; tranh vẽ hoặc in; ấn phẩm và các vật mang tin khác
Đại học kinh tế Huế
Trang 26Tài liệu tiếng Anh
Là tài liệu mà ngôn ngữ được sử dụng bằng tiếng Anh Nó bao gồm các hìnhthức như tài liệu nói chung nhưng để hiểu và sử dụng được nó thì yêu cầu nguườinghiên cứu tài liệu cần phải có sự hiểu biết về ngôn ngữ tiếng Anh nhất định
1.5 Áp dụng việc dạy tài liệu tiếng Anh trong chương trình giảng dạy bậc Đại học trên Thế giới
Sự ảnh hưởng khác của tiếng Anh là sự phát triển song song ngữ cảnh, nghĩa là,trong bối cảnh giáo dục, trong đó sự áp dụng của ngôn ngữ giảng dạy là ngôn ngữ địaphương, nhưng một số tài liệu bằng tiếng Anh cũng được sử dụng như vậy Ở nhiềunước (bao gồm Việt Nam, nơi nghiên cứu của chúng tôi được tiến hành), tài liệu bằngtiếng Anh, thậm chí trong các khóa học, trong các môn học mà chính trong chươngtrình giảng dạy ở bậc Đại học, ngoài việc giảng dạy bằng ngôn ngữ địa phương Mặc
dù việc sử dụng tài liệu bằng ngôn ngữ tiếng Anh có vẻ phổ biến ở các cấp cao hơn,hay nói chính xác hơn là trong các chương trình chuyên về ngôn ngữ này, trong cáclĩnh vực khoa học và kỹ thuật và ở các quốc gia nơi mà ngôn ngữ địa phương với tỉ lệnói bằng số nhỏ hơn, nó đã được chứng minh trên Thế giới và trong chương trình học
tập (Airey, 2009, Gunnarsson,2001; Kaewpet, năm 2009; Murray & Dingwall, 2001;
Ward, 2001, 2009)
Tiếng Anh như một trọng điểm trong thời gian học đại học (Graddol, 2006) Sự có mặtngày càng nhiều của tiếng Anh trong vòng tròn đang mở rộng (Kachru, 1985) đượccảm nhận qua hai con được cảm nhận qua hai cách Thứ nhất, nhiều khóa học đượcdạy bằng Tiếng anh chứ không phải là tiếng địa phương (Ammon, 2001; Wa¨chter &Maiworm, 2008).Trong kết quả nghiên cứu của Hans Malmstroem (2011), ông đưa rakết luận rằng hơn 1000 sinh viên ở ba trường đại học ở Thụy Điển về thái độ của họđối với việc đưa giáo trìnều khóa học bằng tiếng Anh thay vì tiếng mẹ đẻ thì 44% trảlời là họ không chọn, 13% là chọn cả hai loại Ngoài ra, ông cũng chỉ ra rằng tài liệubằng tiếng Thụy Điển dễ đọc và hiểu hơn so với tiếng Anh Tuy nhiên, sách giáo khoatiếng Anh thường được xem là tốt về minh hoạ, hình vẽ…vv , và hấp dẫn trực quan.Điều này cho thấy một trong những lý do giáo viên áp dụng sách tài liệu Anh, bởi vìchúng được kiểm định nhiều hơn, cũng được công nhận bởi các sinh viên
Khi bàn luận về cách học bằng tài liệu tiếng Anh, các sinh viên khi được hỏi mộtcuốn tài liệuhay một tập tài liệu được viết bằng tiếng Anh về ảnh hưởng đến số lần họdành thời gian đọc nó Những nhận xét cũng như những lời báo cáo trước đó chỉ rarằng những người trả lời cảm thấy đọc bằng tiếng Anh thì đòi hỏi nhiều thời gian hơn
so với sách giáo khoa trong ngôn ngữ bản địa của họ Trong đó khoảng một nửa sốngười trả lời (55%) 13% nói rằng khi có sách tài liệu bằng tiếng Anh, họ dành ít thờigian hơn để đọc nó Tuy nhiên, 25% nói rằng sách tài liệu giũa hai loại ngôn ngữ nàykhông có gì khác biệt với khoảng thời gian họ dành đọc nó Với những phát hiện mà
Đại học kinh tế Huế
Trang 27ngay cả những người dùng tiếng Anh tiên tiến đã đọc chậm hơn bằng tiếng Anh so vớingười nói tiếng Anh (McMillion & Shaw,2009);
Đại học kinh tế Huế
Trang 28CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Giới thiệu chung về trường đại học Kinh Tế
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế là một trong 8 trường đại học thành viênthuộc Đại học Huế (tên giao dịch tiếng Anh: University of Economics – HueUniversity) được thành lập theo Quyết định số 126/QĐ-TTg ngày 27/9/2002 của Thủtướng Chính Phủ trên cơ sở Khoa Kinh tế, Đại học Huế Trường đã trải qua nhiều giaiđoạn chuyển đổi lịch sử và có khởi nguyên từ Khoa Kinh tế nông nghiệp, Đại họcNông nghiệp II Hà Bắc từ năm 1969
Những mốc lịch sử quan trọng:
- 1969-1983: Khoa Kinh tế nông nghiệp, Đại học Nông nghiệp II Hà Bắc
- 1984-1995: Khoa Kinh tế, Đại học Nông nghiệp II Huế
- 1995-2002: Khoa Kinh tế, Đại học Huế
- 9/2002: Trường Đại học Kinh tế trực thuộc Đại học Huế
Trong hơn 45 năm xây dựng và phát triển, Trường Đại học Kinh tế không ngừngnâng cao chất lượng về đào tạo, nghiên cứu khoa học và các dịch vụ khác nhằm hướngtới mục tiêu trở thành trở thành một cơ sở đào tạo đa ngành, một trung tâm nghiên cứu
và chuyển giao khoa học công nghệ về lĩnh vực kinh tế và quản lý đạt chuẩn quốc gia.Đến nay Trường Đại học Kinh tế đã được Bộ Giáo dục cho phép đào tạo ở bậc đại học
13 ngành với 17 chương trình đào tạo, trong đó có 3 chương trình liên kết với nướcngoài Đào tạo sau đại học, hiện được Bộ GD&ĐT giao nhiệm vụ đào tạo 5 chuyênngành thạc sĩ và 03 chuyên ngành tiến sĩ Song song với việc mở rộng qui mô đào tạo,Trường đặc biệt chú trọng nâng cao chất lượng đào tạo và đã có nhiều biện pháp nhằmđảm bảo các điều kiện về đội ngũ CBGD, cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy, tăngcường công tác quản lý, cải tiến nội dung, chương trình, phương pháp dạy và học
2.1.2 Sứ mệnh – Tầm nhìn – Giá trị cốt lõi
Sứ mệnh:
Sứ mệnh của Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế là đào tạo nguồn nhân lựcchất lượng, trình độ cao; thực hiện nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, cungứng dịch vụ về lĩnh vực kinh tế và quản lý phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hộikhu vực miền Trung, Tây Nguyên và cả nước
Tầm nhìn đến năm 2020:
Đến năm 2020, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế trở thành một cơ sở đàotạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và cung ứng dịch vụ về lĩnh vựckinh tế và quản lý có chất lượng, uy tín, xếp vào top 10 trong các cơ sở đào tạo kinh tế
Đại học kinh tế Huế
Trang 29và quản lý ở Việt Nam, tiến tới xây dựng Trường trở thành trường đại học theo địnhhướng nghiên cứu.
Giá trị cốt lõi:
Tạo môi trường thuận lợi để mọi người phát huy sáng tạo, phát triển tài năng;Mang lại cho người học môi trường học tập, nghiên cứu tiên tiến để nâng cao kiếnthức, phát triển kỹ năng, sáng kiến lập nghiệp, cạnh tranh được về việc làm và cơ hộihọc tập trong môi trường quốc tế; Coi trọng chất lượng, hiệu quả, phát triển bền vững;Đáp ứng nhu cầu xã hội về đào tạo nguồn nhân lực, trình độ cao
2.1.3 Cơ cấu tổ chức
ĐẢNG ỦY
VIỆN, TRUNG TÂM Viện Kinh tế môi trường Việt Nam Trung tâm Đào tạo và tư vấn Kế toán Tài chính
Trung tâm thông tin –
thư viện Trung tâm dịch thuật
HỘI ĐỒNG TRƯỜNG
BAN GIÁM HIỆU
KHOA CHUYÊN MÔN Khoa kinh tế và phát
triển Khoa quản trị kinh doanh Khoa kế toán–kiểm
toán Khoa tài chính–ngân
hàng Khoa hệ thống thông tin
kinh tế Khoa kinh tế chính trị
CÁC TỔ CHỨC ĐOÀN
THỂ
PHÒNG CHỨC NĂNG Phòng Tổ chức hành chính Phòng đào tạo đại học Phòng đào tạo sau đại học Phòng công tác sinh viên Phòng kế hoạch tài chính Phòng cơ sở vật chất Phòng khoa học công nghệ
và hợ tác quốc tế Phòng khảo thí, đảm bảo chất lượng giáo dục
CÁC HỘI ĐỒNG TƯ
VẤN
Đại học kinh tế Huế
Trang 30Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức trường Đại học Kinh Tế – Đại học Huế
(Nguồn: Trường Đại học Kinh Tế – Đại học Huế)
2.2 Thực trạng giảng dạy bằng tài liệu tiếng Anh tại trường Đại học Kinh tế Huế
Quá trình hội nhập sâu và phát triển, đòi hỏi một nguồn nhân lực chất lượngcao, trong điều kiện hiện nay đã đặt ra những yêu cầu và thách thức lớn đối với các cơ
sở đào tạo Vì vậy, nâng cao chất lượng đào tạo là một yêu cầu cấp thiết đối với cáctrường đại học nói chung và Trường Đại học Kinh tế - Đại học Huế nói riêng Đóchính là một trong những mục tiêu và nội dung quan trọng trong chiến lược phát triểnhiện tại và lâu dài của Trường, thực hiện tốt yêu cầu đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội,
nhu cầu của doanh nghiệp Chất lượng đào tạo của Trường Đại học Kinh tế - Đại học
Huế qua nghiên cứu còn bộc lộ nhiều hạn chế, tồn tại; đòi hỏi phải có những giải pháptrước mắt và lâu dài nhằm đổi mới toàn diện nâng cao chất lượng đào tạo
Trong những năm qua, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Huế đã từng bước ổn
định và phát triển, tạo dựng được uy tín trong khu vực miền Trung và Tây Nguyên.Qui mô tuyển sinh, đào tạo tăng lên một cách hợp lý trong mối quan hệ với các yếu tốnguồn lực và nhu cầu xã hội Chất lượng đào tạo từng bước được nâng cao, sản phẩmđào tạo được các doanh nghiệp đánh giá khá tốt Hiện nay, Trường Đại học Kinh tế đãđược Bộ Giáo dục cho phép đào tạo ở bậc đại học 13 ngành với 17 chương trình đàotạo, trong đó có 3 chương trình liên kết với nước ngoài:
Chương trình tiên tiến: Trường Đại học Kinh tế – Đại học Huế liên kết với Đại
học Sydney – Australia (xếp hạng thứ 60 trên tòan cầu năm 2017 theo tạp chí TimesHigher Education của Liên hiệp Anh) để thực hiện chương trình tiên tiến (CTTT) đàotạo Cử nhân song ngành Kinh tế Nông nghiệp – Tài Chính bằng tiếng Anh Được xâydựng theo chương trình đào tạo của Đại học Sydney, Australia Gồm hai chuyên ngànhKinh tế nông nghiệp và Tài chính Được giảng dạy bởi các giảng viên có kinh nghiệmcủa Đại học Kinh tế Huế, Đại học Sydney và ngôn ngữ giảng dạy và học tập bằngTiếng Anh
Chương trình liên kết đào tạo quốc tế TALLAGHT – IRELAND: Nhằm nâng cao
chất lượng giáo dục, Trường Đại học Kinh tế đã hợp tác với Viện Công NghệTallaght mở ra Chương trình liên kết đào tạo quốc tế Tallaght - Ireland ngành Quản trịKinh doanh Chương trình được giảng dạy bởi các Giáo sư Ireland và giảng viên giàukinh nghiệm quốc tế của Trường Đại học Kinh tế Chương trình được giảng dạy bằngtiếng Anh, được thiết kế theo tiêu chuẩn Châu Âu và giảng dạy bởi giảng viên giàukinh nghiệm của Viện Công nghệ Tallaght và giảng viên tốt nghiệp tiến sỹ, thạc sỹ ởnước ngoài Do đó, sinh viên tốt nghiệp chương trình này sẽ sỡ hữu năng lực tiếngAnh xuất sắc Đây là một lợi thế quan trọng để sinh viên sau khi tốt nghiệp có thể tìmkiếm việc làm trong các tập đoàn toàn cầu hoặc học lên bậc Thạc sỹ quốc tế
Đại học kinh tế Huế
Trang 31Chương trình Rennes: Phối hợp với chương trình đào tạo của Pháp và Việt
Nam trong đó, sinh viên có cơ hội học tập 32 trên 40 môn học theo chương trình đàotạo bậc đại học ngành Tài chính – Ngân hàng của Đại học Rennes 1, Pháp Đội ngũgiáo viên được chọn lọc, uy tín, nhiều kinh nghiệm đến từ Đại học Rennes 1, Pháp,
Đại học Huế và các trường Đại học lớn của Việt Nam Tài liệu học tập: được Chương
trình cung cấp đầy đủ bằng tiếng Việt và tiếng Pháp
Ngoài các chương trình liên kết, ở các môn học chuyên ngành một số giảngviên sử dụng tài liệu tiếng Anh (giáo trình, slides, case studies, videos, bài đọc thêm )phục vụ cho việc giảng dạy và truyền tải kiến thức đến sinh viên, giúp cho sinh viênchương trình bình thường tiếp cận với phương pháp, tài liệu học mới Và xem thử kiếnthức sinh viên thu được từ cách thức giảng dạy bằng tài liệu tiếng Anh ở mức độ nào
để từ đó đưa ra phương pháp giảng dạy với tài liệu tiếng Anh phù hợp hơn
2.3 Phương pháp nghiên cứu 2.3.1 Các phương pháp nghiên cứu chính
+ Nghiên cứu định tính: Phỏng vấn chuyên gia (phỏng vấn giảng viên và sinh viên).Với mục đích tìm ra những yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu học bằng tài liệu tiếng Anhcủa sinh viên trường Đại học Kinh Tế Huế
Với bảng câu hỏi định tính được chuẩn bị trước với 13 câu hỏi, phỏng vấn vàghi chép đầy đủ về các câu trả lời của giảng viên và sinh viên Sau đó, tiến hành phântích và tổng hợp các câu trả lời để tìm ra các nhân tố thật sự ảnh hưởng đến nhu cầuhọc tập bằng tài liệu tiếng Anh của sinh viên
Tiếp cận+ Nghiên cứu định lượng:
Nghiên cứu với mục đích tìm ra những nhân tố và mức độ ảnh hưởng của chúngđến nhu cầu học bằng tài liệu tiếng Anh của sinh viên trường Đại học Kinh Tế - Đạihọc Huế
Xây dựng phiếu hỏi:Trước khi xây dựng phiếu hỏi chính thức nhóm nghiên cứu
đã định ra những phần cần soạn thảo, bao gồm việc chỉ ra tài liệu tiếng Anh sẽ baogồm những hình thức nào? Những yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu học bằng tài liệutiếng Anh của sinh viên Trên cơ sở đó đưa ra bốn câu hỏi mở trong bảng tham khảo
ý kiến (bảng hỏi định tính, tham khảo phần phụ lục) và xây dựng nên bảng hỏi địnhlượng dựa trên ý kiến của nhóm và kết quả thu được từ các bước trên
Sau khi hoàn thành phiếu hỏi, tiến hành điều tra thử 30 sinh viên và tiến hànhphân tích dựa trên kết quả điều tra thử đó để hoàn thiện bảng hỏi
Sử dụng phần mềm SPSS để phân tích, xử lý dữ liệu, bao gồm Sử dụng phầnmền SPSS để kiểm định thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tíchEFA, phân tích tương quan hồi quy và phân tích phương sai (Oneway Anova)
Đại học kinh tế Huế
Trang 322.3.2 Mô hình nghiên cứu
Thứ nhất, bản thân sinh viên
Trong vấn đề học tập, bản thân sinh viên luôn đóng vai trò quyết định nhất Mộttài liệu hay, những giảng viên có kiến thức sâu rộng và kinh nghiệm giảng dạy bậcnhất nhưng nếu chính bản thân sinh viên không nỗ lực tìm tòi, học hỏi thì cũng chẳngmang lại được kết quả gì Người học nếu không tìm được sự hứng thú trong việc họctheo cách riêng của họ thì rất khó để họ có thể hoà nhập vào bài học, say sưa tìm hiểunhững thắc mắc của bản thân cũng như những vấn đề thực tế ngoài xã hội
Việc học sẽ đạt hiệu quả cao nhất nếu nó được tiến hành trên cơ sở người họcphải biết hệ thống hoá những thông tin và kinh nghiệm mà người học đã tích luỹ được.Hơn nữa, việc kết hợp kiến thức cũ và kiến thức cần học được là yếu tố không thểthiếu Để làm được điều này, đòi hỏi sự linh động trong suy nghĩ của từng người.Người học thành công là người học có thể diễn đạt tri thức đã học một cách có ý nghĩa
và chặt chẽ, có thể khiến người nghe hiểu ra vấn đề một cách dễ dàng và không sailệch Là ngườicó thể tạo ra hoặc sử dụng những phương pháp khác nhau để đạt đếnmục tiêu học tập một cách tốt nhất
Với người học, ngoài phương pháp học, giảng viên, tài liệu cần có, nỗ lực cánhân, thì khoảng thời gian mỗi ngày có thể dành riêng cho việc học là một điều cầnphải cân nhắc Người học luôn phải chịu ảnh hưởng của các yếu tố khác như: hoàncảnh bản thân, những thiết bị công nghệ mà họ có thể tiếp cận… Điều này góp phầntạo ra sự khác nhau trong chất lượng học tập
Học được những gì và bao nhiêu phụ thuộc vào động cơ của người học Động
cơ này phụ thuộc vào trạng thái tình cảm, sở thích, mục đích học tập và thói quen tưduy của người học.Khả năng sáng tạo, thói quen suy nghĩ, óc tò mò có vai trò quantrọng đối với động cơ học tập Động cơ nội tại có thể được phát huy bởi những côngviệc đòi hỏi trí tuệ, phù hợp với sở thích, cho phép sự chọn lựa cũng như chủ động củangười học.Mỗi người học có phương pháp và khả năng học tập riêng, phụ thuộc vàokinh nghiệm của mỗi người
Nhận thức của người học về việc học bằng tài liệu tiếng Anh cũng có ảnhhưởng rất lớn đến việc học tâp Người học phải hiểu rõ tác dụng cũng như lợi ích củaviệc học bằng tài liệu tiếng Anh khác với việc học bằng tài liệu tiếng Việt như thế nào,
từ đó có thể định hướng một cách rõ ràng hơn trong cách học và cách tiếp thu kiếnthức
Thứ hai, giảng viên
Việc áp dụng và đổi mới phương pháp giảng dạy có hiệu quả, Giáo viên là yếu
tố quyết định hàng đầu trong việc thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy Đặc biệtvới sự thay đổi trong lối giảng dạy theo tài liệu nước ngoài, mà cụ thể là tài liệu tiếngAnh chứ không phải như dạy bằng tiếng mẹ để của người Việt xưa nay vẫn áp dụng
Đại học kinh tế Huế
Trang 33Trong các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu học bằng tài liệu Tiếng Anh của sinhviên, thì Giảng viên đóng vai trò quan trọng, khi nhắc đến những người thầy thì họphải đáp ứng các yêu cầu trên ba phương diện.
Thứ nhất, phải giỏi về kiến thức chuyên ngành, người thầy phải thực sự có kiếnthức chuyên sâu về chuyên nghành mình nghiên cứu và giảng dạy Đây là điều kiệntiên quyết để khẳng định năng lực giảng dạy chuyên môn của giảng viên, sự truyền thụkiến thức cũng như đánh giá sinh viên đều bắt nguồn từ kiến thức chuyên môn củangười thầy.Mặt khác, đây là cơ sở đầu tiên để sinh viên đặt niềm tin vào người thầycủa mình
Thứ hai, Giảng viên phải có khối kiến thức nhất định về chương trình đào tạo.Chúng ta đều biết rằng mỗi giảng viên đều có thể là chuyên gia trong một lĩnh vựcchuyên môn nhất định, họ có kiến thức sâu về một chuyên ngành mà họ đảm nhậngiảng dạy.Tuy nhiên, để bảo đảm sự gắn kết giữa các môn học, sự liên thông giữa cácngành học, giảng viên phải tự trang bị những kiến thức về chương trình đào tạo đãđược phê duyệt Người giảng viên có kiến thức tổng thể về chương trình đào tạo sẽnhận thức rõ được vị trí, vai trò và sự tương tác giữa môn học mình đang đảm nhận,chuyên ngành mình đang giảng dạy với các môn học và chuyên ngành khác Điều nàylàm cho các kiến thức chuyên môn trong một chuyên ngành hẹp khi truyền đạt chosinh viên sẽ trở lên sinh động, thực tiễn và có tính ứng dụng cao, đồng thời làm chosinh viên nhận thức được ý nghĩa của việc nghiên cứu môn học đối với chuyên nghành
mà họ đang theo học Nếu giảng viên không nhận thức được vấn đề này, các kiến thứcchuyên môn mà họ truyền đạt sẽ trở lên đơn điệu, tẻ nhạt và mang nặng tính giáo điều,
lý luận, sinh viên nảy sinh tư tưởng học đối phó
Thứ ba, Giảng viên phải có trình độ hiểu biết về ngoại ngữ tiếng Anh, đây làyếu tố quan trọng bậc nhất nếu Bởi vì họ phải là người đọc được những người đọc cácsách, các tài liệu nước ngoài bằng tiếng Anh thì sau đó chính những người thầy này lại
là người trực tiếp giảng dạy và trực tiếp hướng sinh viên cần tham khảo những cuốnsách, những cuốn tài liệu nào
Thứ ba, trình độ tiếng Anh
Tài liệu được viết bằng ngôn ngữ Anh đòi hỏi bản thân người học phải có đượcvốn tiếng Anh để hiểu Ngày nay, không thể phủ nhận sự phát triển của công nghệgiúp cho việc dịch các văn bản dễ dàng hơn Nhưng nó không thể chính xác và tiện lợi
ở mọi lúc Hơn thế, trong nghiên cứu của Ths Nguyễn Thị Kim Dung Khoa thông tin– Thư viện, đại học khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội chỉ ra rằng:Trong 290 sinhviên của có 92% sinh sử dụng tài liệu tiếng Việt, 8% sử dụng tiếng Anh Trong đónguyên nhân không sử dụng tài liệu nước ngoài vì :70% sinh viên trả lời: Không khaithác vì trình độ ngoại ngữ của sinh viên không đủ để đọc, dịch và hiểu được tài liệu
Đại học kinh tế Huế
Trang 34nước ngoài Từ đó có thể thấy, việc ảnh hưởng của trình độ tiếng Anh có ảnh hưởngđến việc sử dụng tài liệu tiếng Anh.
Thứ tư, kiến thức trong tài liệu
Mỗi tài liêu đều có vai trò nhất định, vì nó chứa đựng những kiến thức cốt lõicủa môn học
Khối lượng tài liệu ngoài tài liệu mà sinh viên phải đọc là rất lớn Để qua được
kỳ thi, cần có tài liệu, nhưng để có đủ kiến thức và năng lực dùng được trong thực tếnghề nghiệp sau khi ra trường, thì tài liệu hoàn toàn không đủ Tài liệu chỉ cung cấpcái nền kiến thức cơ bản, trên đó mỗi sinh viên phải tự xây nên tòa nhà của chính họ.Đặc biệt hơn, càng được tiếp cận với nhiều tài liệu tiến tiến trên thế giới thì càng xâydựng thêm kiến thức thực tiễn hơn
Sự cụ thể hóa yêu cầu về nội dung kiến thức, kỹ năng và thái độ quy định trongchương trình đào tạo đối với mỗi môn học, ngành học, trình độ? Liệu mức độ khó hiểuhay quá học thuật trong những tài liệu ảnh hưởng đến tốc độ đọc và hiểu của sinhviên?
Thứ năm, gia đình, xã hội, nhà trường
Với chương trình học của một số môn học hiện nay, nhà trường có nên cải tiếnbằng cách cho SV học thêm tài liệu bằng tiếng Anh để nâng cao kiến thức trình độ của
SV không?
Những kiến thức lý thuyết mà giáo viên giảng dạy trên lớp đa phần được tổnghợp từ các tài liệu nước ngoài bằng tiếng Anh Vậy thì, chúng ta nên học bằng tài liệutiếng Anh để nâng cao khả năng tiếng Anh và học được kiến thức gốc, từ đó tăng khảnăng cọ xát với các SV trường khác khi ra trường tìm kiếm việc làm không
Việc trang bị những kiến thức tiên tiến trên thế giới nó có rất nhiều lợi ích, đặcbiệt là đáp ứng yêu cầu của xã hội về tính chất của công việc
Thứ sáu, Kết quả học tập
Kết quả học tập là một thành quả phần nào nói lên được sự cố gắng và khả năngcủa sinh viên Với kết quả học tập sẽ phản ảnh sự tự tin của sinh viên trong các lĩnhvực hoặc phản ánh sự tự ti nếu đó không phải là thế mạnh hoặc sẽ thúc đẩy sv có ýthức làm tốt hơn Trong luận văn thạc sỹ tâm lý học của Ngô Thị Đẹp về những yếu tốtác động đến tự đánh giá của sinh viên tại thành phố hồ chí minh Tác giả chỉ ranguyên nhân tác động năng lực của bản thân Có thể nói, kết quả học tập là một phần
để sinh viên tự đánh giá, giúp họ tự tin hơn để bộc phát nhu cầu nhanh hơn, hay tựkhẳng định bản thân có khả năng để theo học chương trình giảng dạy bằng tiếng Anh
ở trường đại học…
Như vậy, mô hình được đưa ra như sau:
Đại học kinh tế Huế
Trang 35Sơ đồ 2.2 Mô hình nghiên cứu nhu cầu
Bước thứ nhất, tổng toàn bộ sinh viên của trường Đại học Kinh Tế Huế là 5816sinh viên, sau đó chia thành các ngành và nhóm ngành khác nhau (12 ngành), sau đódựa vào số lượng sinh viên từng khóa để chia tỷ lệ và quyết định số lượng sinh viêntrong từng khóa
Bước thứ hai, trong từng ngành, dùng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơngiản để chọn ra các sinh viên được khảo sát
Hai bước trên được thể hiện qua hai bảng sau:
Nhu cầu học bằng tài liệu tiếng Anh.
Bản thânsinh viênKiến thức
trong tàiliệu
Giảng viênTrình độ
tiếng Anh
Kết quả học tập
Gia đình, xã hội,nhà trường
Đại học kinh tế Huế
Trang 36Bảng 2.1 Chọn mẫu phân tầng theo ngành học
NGÀNH
Số lượng sinh viên
Tỷ lệ ngành trong tổng số sinh viên (%)
Số lượng sinh viên điều tra
Chương trình tiên tiến và chương
Trang 37Tài chính – Ngân hàng 5 5 5 4
Đại học kinh tế Huế
Trang 38CHƯƠNG3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Mô tả mẫu
Nhìn vào biểu đồ bên dưới, có thể thấy số lượng sinh viên đã từng học qua tốithiểu một học phần bằng tài liệu tiếng Anh là 84 sinh viên, còn lại 146 sinh viên chưahọc qua tài liệu tiếng Anh Qua đó cho thấy rằng số lượng sinh viên đã được học vàchưa được học tài liệu tiếng Anh có sự chênh lệch khá lớn, trong đó số lượng sinh viênchưa được học bằng tài liệu tiếng Anh chiếm đa phần, lên đến 146 sinh viên, gấp 1.7lần so với sinh viên chưa học Như vậy, sự tiếp xúc với tài liệu chuyên ngành bằngtiếng Anh vẫn chưa được phổ biến tại trường Đại học Kinh Tế Huế
Biểu đồ 3.1 Phân loại sinh viên
(Nguồn: Xử lý số liệu spss)
Nhìn vào Biểu đồ 3.2, trong 84 sinh viên đã từng học ít nhất một học phần bằng tàiliệu tiếng Anh, cho kết quả kết thúc học phần xếp loại Khá chiếm tỷ trọng lớn nhất,chiếm 46.4% Trong khi đó, kết quả xếp loại trung bình đứng thứ hai, chiếm 32.1%.Loại Yếu chiếm 9.5%, loại Giỏi chiếm 9.5%, loại Xuất Sắc chỉ chiếm 2.4%.Kết quảnày nói lên rằng, kết quả này phản ánh đúng với thực tế hiện tại Kết quả xếp loạiTrung Bình và Yếu chiếm tỉ lệ đáng kể (lên đến 41.6%), qua điều tra và hỏi nguyênnhân các sinh viên được phỏng vấn, họ trả lời nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhânđược nhiều sinh viên đề cập đến đó chính là tài liệu bằng tiếng Anh khá khó hiểu, mộtphần là chúng được viết bằng tiếng Anh, một phần lớn là do nhác học của chính họ
146
84
0 20 40 60 80 100 120 140 160
Phân loại sinh viên
Đại học kinh tế Huế
Trang 39Biểu đồ 3.2 Kết quả trung bình các môn học bằng tài liệu bằng tiếng Anh
(Nguồn: Xử lý số liệu spss)
Biểu đồ 3.3 bên dưới, trong 84 sinh viên đã học bằng tài liệu tiếng Anh, thì khiđược hỏi có tự tin để học tiếp các môn khác tương tự bằng tài liệu tiếng Anh thì 59%trả lời Có Còn lại 41% trả lời Không Tỉ lệ này gần chênh lệch không lớn, nguyênnhân thực trạng này là do tỉ lệ sinh viên có kết quả kết thức học phần xếp loại TrungBình và loại Yếu chiếm tỉ lệ đáng kể Như vậy có thể thấy kết quả học tập ảnh hưởngkhá lớn đến sự tự tin chọn tài liệu tiếng Anh để học tiếp theo, kết quả đó có thể thể làđộng lực và cũng có thể là kìm hãm việc học tiếp các học phần bằng tài liệu tiếng Anhkhác
Biểu đồ 3.3 Mức độ tự tin học các môn khác tương tự bằng tài liệu tiếng Anh
(Nguồn: Xử lý số liệu spss)
0,0 5,0 10,0 15,0 20,0 25,0 30,0 35,0 40,0 45,0 50,0
Xuất sắc 2,4
Kết quả trung bình các môn học học bằng
tài liệu tiếng Anh
Biểu đồ 3.3 Mức độ tự tin học các môn khác tương tự bằng tài liệu tiếng Anh
Kết quả trung bình các môn học học bằng
tài liệu tiếng Anh
Biểu đồ 3.2 Kết quả trung bình các môn học bằng tài liệu bằng tiếng Anh
(Nguồn: Xử lý số liệu spss)
Biểu đồ 3.3 bên dưới, trong 84 sinh viên đã học bằng tài liệu tiếng Anh, thì khiđược hỏi có tự tin để học tiếp các môn khác tương tự bằng tài liệu tiếng Anh thì 59%trả lời Có Còn lại 41% trả lời Không Tỉ lệ này gần chênh lệch không lớn, nguyênnhân thực trạng này là do tỉ lệ sinh viên có kết quả kết thức học phần xếp loại TrungBình và loại Yếu chiếm tỉ lệ đáng kể Như vậy có thể thấy kết quả học tập ảnh hưởngkhá lớn đến sự tự tin chọn tài liệu tiếng Anh để học tiếp theo, kết quả đó có thể thể làđộng lực và cũng có thể là kìm hãm việc học tiếp các học phần bằng tài liệu tiếng Anhkhác
Biểu đồ 3.3 Mức độ tự tin học các môn khác tương tự bằng tài liệu tiếng Anh
(Nguồn: Xử lý số liệu spss)
Yếu 9.5
Kết quả trung bình các môn học học bằng
tài liệu tiếng Anh
Tự tin để học các môn khác tương tự bằng
TLTA
Có Không
Đại học kinh tế Huế
Trang 40Biểu đồ 3.4 phản ánh kết quả học tập của học kỳ gần nhất của 167 sinh viên đượcđiều tra tính từ khóa 50 trở về trước(vì230 sinh viên được điều tra, có 63 sinh viênthuộc khóa K51 nên vẫn chưa có kết quả học tập của học kỳ gần đây) Nhìn vào biểu
đồ, có thể thấy số lượng sinh viên có kết quả học tập học kỳ gần đây từ 2.5 đến 3.19(xếp loại Khá) chiếm gần một nửa, chiếm 40.7% Xếp loại Xuất Sắc và loại Giỏi xấp
xỉ ngang nhau, trên dưới 25% Còn lại 8.4% xếp loại trung bình và yếu.Tỷ lệ sinh viên
có kết quả Khá gần như bằng nhau giữa kết quả học tập học kỳ gần nhất và kết quả kếtthúc học phần được học bằng tài liệu tiếng Anh của sinh viên Ngược lại, tỷ lệ sinhviên trung bình và yếu chiếm khá thấp, qua đó cho thấy nhận thức của sinh viên về vaitrò của việc học tập, hiểu vai trò quan trọng của kiến thức nền tảng trên giảng đườngĐại học.Đây cũng là một tín hiệu đáng mừng đối với trường Đại học Kinh tế Huế vềchất lượng đầu ra khi mà sinh viên được trang bị kiến thức đầy đủ trước khi làm việccho các doanh nghiệp bên ngoài
Biểu đồ 3.4 Kết quả học tập học kỳ gần đây của sinh viên
8,4 25,1
40,7 25,7
Kết quả học tập học kỳ gần đây
3.6 > 4.0 3.2 > 3.59 2.5 > 3.19
<2.5
Đại học kinh tế Huế