Trong dạy học toán, biểu diễn bội được sử dụng để mô tả các khái niệm, các mối quan hệ toán học, các tính chất toán học góp phần hình thành mối liên hệ giữa hình học - đại số, trong đó c
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Danh Nam
THÁI NGUYÊN, 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa được công bố trong bất kì công trình nào khác
Thái nguyên, tháng 8 năm 2014
Xác nhận của GV hướng dẫn luận văn Tác giả luận văn
TS Nguyễn Danh Nam Mã Thị Hiềm
Xác nhận của Trưởng khoa chuyên môn
Trang 4Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các GV tổ Toán, HS khối 10,
11 trường THPT Quảng Khê - Bắc Kạn đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình học tập
Dù đã rất cố gắng xong Luận văn cũng không tránh khỏi những khiếm khuyết, tác giả mong nhận được sự góp ý của các thầy, cô giáo và các bạn
Trang 5MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
Lời cam đoan……… 3
Lời cảm ơn……… 4
Mục lục……… 5
Danh mục các kí hiệu, chữ viết tắt……… 7
Danh mục các bảng……… 8
Danh mục các hình……… 10
MỞ ĐẦU……… 11
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN………12
1.1 Lí thuyết đa thông minh……… 15
1.1.1 Tổng quan về lí thuyết đa thông minh……….17
1.1.2 Ứng dụng lí thuyết đa thông minh trong dạy học………24
1.2 Biểu diễn bội……… 28
1.2.1 Biểu diễn……… 28
1.2.2 Biểu diễn bội……… 31
1.2.3 Năng lực biểu diễn bội……….37
1.3 Thực trạng của việc khai thác biểu diễn bội trong dạy học toán ở trường phổ thông………42
1.3.1 Điều tra, quan sát……….42
1.3.2 Phỏng vấn……… 43
1.3.3 Phân tích kết quả……… 46
1.4 Ứng dụng công nghệ thông tin thiết kế biểu diễn bội trong dạy học toán……….47
1.5 Kết luận chương 1……… 50
Chương 2: KHAI THÁC BIỂU DIỄN BỘI TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ HÀM SỐ Ở TRƯỜNG THPT……… 51
Trang 62.1 Tầm quan trọng của khái niệm hàm số ở trường phổ thông……… 51
2.1.1 Vai trò, vị trí của khái niệm hàm số ở trường phổ thông……….51
2.1.2 Chủ đề hàm số ở trường phổ thông……….52
2.1.3 Một số chú ý khi dạy học chủ đề hàm số……… 60
2.2 Nguyên tắc biểu diễn bội trong dạy học môn toán……….62
2.3 Khai thác biểu diễn bội trong dạy học môn toán………67
2.3.1 Dạy học khái niệm hàm số……… 67
2.3.2 Dạy học khái niệm giới hạn hàm số……….74
2.3.3 Dạy học khái niệm đạo hàm của hàm số……….86
2.3.5 Biểu diễn bội hỗ trợ quá trình giải quyết vấn đề……… 91
2.4 Kết luận chương 2……… 96
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 98
3.1 Mục đích thực nghiệm………98
3.2 Nội dung thực nghiệm………98
3.3 Tổ chức thực nghiệm……… 99
3.3.1 Đối tượng thực nghiệm………99
3.3.2 Tiến trình thực nghiệm………99
3.4 Phân tích kết quả thực nghiệm……….103
3.4.1 Phân tích về mặt định tính……….103
3.4.2 Phân tích về mặt định lượng……… 105
3.5 Kết luận chương 3……….109
KẾT LUẬN……….111
TÀI LIỆU THAM KHẢO……….112
PHỤ LỤC………116
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Viết tắt Viết đầy đủ
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 1.1: Các giai đoạn phát triển của biểu diễn……… 19
Bảng 1.2: Các dạng biểu diễn tính đơn điệu của hàm số 2 2 2 1 3 1 3 2 x x x y trên khoảng (-1; 2)……….22
Bảng 1.3: Kiểm tra chất lượng đầu vào……… … 32
Bảng 1.4: Bảng tỉ lệ phần trăm về năng lực biểu diễn bội của HS lớp TN 11A1……… 33
Bảng 2.1: Các dạng biểu diễn của hàm số x y 2 ……… 54
Bảng 2.2: Bảng phân bố điểm bài kiểm tra số 1 của lớp 11A3……….54
Bảng 2.3: Các dạng biểu diễn của tập số liệu trong bảng 2.2………… 55
Bảng 2.4: Các cách minh họa tính chất “Hàm số y x3 x là hàm số lẻ… 55
Bảng 2.5:………59
Bảng 2.6:………60
Bảng 2.7: Các dạng biểu diễn của hàm số 2 2 3 x y ………61
Bảng 2.8: Bảng giá trị các số hạng của dãy số u n……….65
Bảng 2.9: Bảng giá trị các số hạng của dãy số v n……….66
Bảng 2.10:………67
Bảng 2.11:………67
Bảng 2.12:………67
Bảng 2.13:………68
Bảng 2.14: Các dạng biểu diễn giới hạn dãy số n n u n 2 1……… 70
Bảng 2.15: Các cách mô tả giới hạn hàm số 1 1 ) ( x x x f ………73
Bảng 2.16:……… 74
Bảng 2.17:……… 76
Trang 9Bảng 2.18: Các dạng biểu diễn đạo hàm của hàm số f(x) x2 x tại 1
0
x ……… 79
Bảng 2.19:……… 90
Bảng 3.1: Kết quả đầu ra của hai lớp TN 11A1 và ĐC 11A3……… 95
Bảng 3.2: Kết quả đầu ra của hai lớp TN 10A3 và ĐC 10A5……… 96
Bảng 3.3: Tỉ lệ phần trăm về điểm số của các bài kiểm tra……… 97
Bảng 3.4: Tỉ lệ phần trăm về năng lực biểu diễn bội của HS………97
Bảng 3.5: Tỉ lệ phần trăm về năng lực biểu diễn bội của HS lớp TN trước và sau TN………98
Biểu đồ 3.1:………98
Biểu đồ 3.2:………99
Biểu đồ 3.3:………99
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 1.1: Các chức năng cơ bản của hai bán cầu đại não……….18
Hình 1.2: Parabol biểu diễn quỹ đạo rơi của nước từ các đài phun nước… 33
Hình 1.3: Ý tưởng tính tổng dựa vào hình vẽ trực quan………35
Hình 1.4: Giao diện các cửa sổ làm việc của phần mềm Geogebra (1)…….36
Hình 1.5: Giao diện các cửa sổ làm việc của phần mềm Geogebra (2)…….38
Hình 2.1: Ý nghĩa hình học của đạo hàm……… 63
Hình 2.2: Mô tả định lí dấu của tam thức bậc hai……… 56
Hình 2.3:………58
Hình 2.4: ……… 59
Hình 2.5: Đồ thị hàm số y x……….60
Hình 2.6: Xác định hàm số chứa dãy điểm cho trước………62
Hình 2.7:………63
Hình 2.8: Hình ảnh dãy số có giới hạn là 0……… 65
Hình 2.9: Hình ảnh dãy số v n………67
Hình 2.10: Hình ảnh giới hạn hàm số………71
Hình 2.11: Hình ảnh giới hạn dãy số ( 12) n u n n ………75
Hình 2.12: Ý nghĩa hình học của đạo hàm………77
Hình 2.13: Bài toán xây dựng cây cầu nối hai thành phố……… 91
Trang 11
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong chương trình môn Toán ở trường phổ thông khái niệm hàm số
là một khái niệm quan trọng giữ vị trí trung tâm Theo Khin Chin “không có khái niệm nào có thể phản ánh được những hiện tượng của thực tế khách quan một cách trực tiếp và cụ thể như khái niệm tương quan hàm, không một khái niệm nào có thể bộc lộ được ở trong nó những nét biện chứng của tư duy toán học hiện đại như khái niệm tương quan hàm”
Với khái niệm hàm người ta nghiên cứu các sự vật hiện tượng trong trạng thái biến đổi sinh động của nó chứ không phải trong trạng thái tĩnh tại, trong sự phụ thuộc lẫn nhau chứ không phải tách rời nhau Trong quá trình vận dụng kiến thức hàm số giải bài tập HS có thể rèn luyện tư duy thuật giải,
tư duy biện chứng Tuy nhiên, kiến thức về hàm số tương đối phức tạp và trừu tượng với HS, vì vậy trong quá trình dạy học về hàm số thì việc làm thế nào để HS hiểu được các khái niệm là việc làm cần thiết
Sử dụng các loại biểu diễn khác nhau như bảng biểu, đồ thị, kí hiệu, công thức, ngôn ngữ,… để làm rõ các mối quan hệ toán học và các tính chất toán học sẽ giúp cho HS hiểu rõ bản chất của các mối quan hệ và các khái niệm toán học, đặc biệt là khái niệm hàm số Trong những năm qua các nhà nghiên cứu đã thừa nhận vai trò và tầm quan trọng của biểu diễn bội trong toán học (Kaput 1989, Brener, 1997 Prizo 1999) Dufour-Janvier, Berdnaz
và Belanger (1987) cho rằng biểu diễn bội cần phải được sử dụng trong giảng dạy toán học vì nó mô tả rõ các thuộc tính của khái niệm và giúp HS giảm bớt khó khăn trong quá trình giải quyết vấn đề Do vậy, sử dụng các cách biểu diễn khác nhau cho cùng một khái niệm, biết “phiên dịch” và chuyển đổi linh hoạt giữa các dạng biểu diễn khác nhau sẽ giúp HS phát triển tối đa khả năng tiếp cận một khái niệm toán học
Trang 12Với sự trợ giúp của máy tính điện tử, HS có thể tự đưa ra các phán đoán, mô hình hoá các tình huống thực tiễn và tiếp cận với các bài toán có mức độ tổng quát hoá và trừu tượng hoá cao Biểu diễn bội chính là khái niệm đóng vai trò quan trọng trong các quá trình này Trong dạy học toán, biểu diễn bội được sử dụng để mô tả các khái niệm, các mối quan hệ toán học, các tính chất toán học góp phần hình thành mối liên hệ giữa hình học - đại số, trong đó có việc hình thành khái niệm tương quan hàm Do đó, vận dụng biểu diễn bội trong dạy học khái niệm Hàm số và các khái niệm liên quan sẽ giúp HS rèn luyện các thao tác tư duy linh hoạt cũng như hiểu sâu hơn bản chất các khái niệm đó
Từ những lý do trên chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài “Khai thác biểu
diễn bội trong dạy học chủ đề hàm số ở trường trung học phổ thông”
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là khai thác một số ứng dụng của biểu diễn bội trong dạy học chủ đề Hàm số, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học chủ đề Hàm số ở trường THPT
3 Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học chủ đề hàm số ở trường THPT 3.2 Đối tượng nghiên cứu: Khái niệm hàm số và các khái niệm liên quan
đến hàm số
3.3 Phạm vi nghiên cứu: Lớp 10, 11 ở trường THPT
4 Giả thuyết khoa học
Dựa trên các kết quả nghiên cứu về lý thuyết đa thông minh, mỗi học sinh thường tiếp cận một vấn đề theo các cách khác nhau và mỗi dạng biểu
diễn trong toán học thường có các ưu điểm riêng của nó Trên cơ sở đó, nếu khai thác một cách hợp lý biểu diễn bội trong dạy học chủ đề hàm số thì sẽ
giúp hiểu rõ bản chất của khái niệm hàm số và một số khái niệm liên quan
Trang 13đến hàm số, góp phần rèn luyện cho HS các thao tác tư duy linh hoạt trong giải quyết các vấn đề toán học.
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu các lý luận về biểu diễn bội trong dạy học chủ đề hàm số ở trường THPT
5.2 Nghiên cứu các cách biểu diễn khái niệm hàm số và các khái niệm liên quan trong chương trình toán THPT bằng cách sử dụng các phần mềm toán học động
5.3 Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng giả thuyết khoa học và đánh giá tính khả thi, hiệu quả của việc khai thác biểu diễn bội trong dạy học chủ đề hàm số ở trường THPT
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận: Tìm hiểu, nghiên cứu tài liệu về các
vấn đề liên quan đến đề tài của luận văn
6.2 Phương pháp điều tra - quan sát: Quan sát, thăm dò thực trạng của việc
dạy học khái niệm hàm số ở trường THPT qua các hình thức: dạy thử nghiệm, sử dụng phiếu điều tra, dự giờ
6.3 Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn trực tiếp GV và HS
6.4 Thực nghiệm sư phạm: Tổ chức dạy thực nghiệm tại một số trường
THPT để xem xét tính khả thi và hiệu quả của nội dung nghiên cứu được đề xuất
7 Đóng góp của luận văn
7.1 Những đóng góp về mặt lý luận: Hệ thống lý thuyết về vai trò của biểu
diễn bội và một số định hướng khai thác biểu diễn bội trong dạy học môn toán ở trường trung học phổ thông
7.2 Những đóng góp về mặt thực tiễn:
- Nâng cao hiệu quả dạy học khái niệm hàm số ở trường THPT
Trang 14- Kết quả của luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho
GV Toán THPT khi vận dụng biểu diễn bội trong dạy học các khái niệm toán học
- Làm cơ sở để phát triển những nghiên cứu sâu, rộng hơn về những vấn đề có liên quan trong luận văn
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Khai thác biểu diễn bội trong dạy học chủ đề hàm số ở
trường THPT
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Lý thuyết đa thông minh
Vào đầu thế kỉ XX, nhà tâm lý học Alfred Binet đã phát triển một phương pháp cho phép đo lường trí thông minh của các em học sinh rồi xếp chúng thành 3 hạng: chậm hiểu, trung bình và sáng trí Ông cho rằng khả năng giải đáp các bài toán của các em HS chính là dấu hiệu cho biết về trí thông minh và khả năng đó sẽ gia tăng theo tuổi trưởng thành vì thế Binet đã làm ra một thứ thước đo trí thông minh [15]
Năm 1905, Alfred Binet và Théodore Simon đã phổ biến một thang đo trí thông minh cho các em tuổi từ 3-13 Các điểm số được tính trong thang điểm Binet và trong các bài trắc nghiệm tương tự đều dùng tới tuổi trí tuệ Một em nhỏ có tuổi trí tuệ là 7 nếu em nhỏ đó có khả năng giải được các bài toán mà phần lớn các em nhỏ 7 tuổi đều giải được mặc dù tuổi đời của em đó
có thể là 5 hoặc 9 [15]
Năm 1914, nhà tâm lý học người Đức Willam Stern cho biết rằng nhờ
so sánh tuổi trí tuệ và tuổi thực người ta biết được sự phát triển của trẻ em Stern cho rằng dùng tuổi trí tuệ chia cho tuổi thực là cách để đo lường tốc độ học tập (để tránh số lẻ người ta nhân kết quả với 100) Ông gọi đó “chỉ số tuổi trí tuệ”
Năm 1916 nhà tâm lý học người Mĩ thuộc trường Đại học Stanford là ông Lewis Terman (1877-1956) đã sửa đổi các bài trắc nghiệm của Alfred Binet thành bài trắc nghiệm Stanford-Binet và đưa ra ý niệm về “chỉ số thông minh” IQ
Năm 1949 nhà tâm lý học David Wechsler cho phổ biến “thước đo thông minh Wechsler” dùng cho các thiếu niên từ 5 đến 15 tuổi, thước đo trí thông minh dành cho người trưởng thành (1955) dùng để trắc nghiệm mọi
Trang 16người từ 16 đến 64 tuổi, phần tiêu chuẩn đặc biệt dành cho người cao tuổi từ
60 đến 75 tuổi
Để xác định tuổi trí tuệ, các nhà giáo dục và tâm lý học đã dùng tới các bài trắc nghiệm để đo lường khả năng trí tuệ của các em HS Các câu hỏi được sắp xếp từ dễ đến khó và liên quan đến trí nhớ, cách lý luận, các định nghĩa, khả năng tính các con số và khả năng nhớ lại các dữ kiện Theo cách tính theo IQ điểm trung bình là 100 theo các bậc, ví dụ từ 132 trở lên là cực
kì thông minh, 121-131 là rất thông minh, 89-110 là thông minh trung bình, 79-88 là kém thông minh, dưới 67 là đần độn
Tuy nhiên bản thân các bài trắc nghiệm đo trí thông minh khó đánh giá một cách công bằng các khả năng của mọi người Ví dụ: nếu các bài trắc nghiệm bằng tiếng Anh thì những người bản xứ sẽ thuận lợi hơn Một người
đi du lịch nhiều sẽ có điểm trắc nghiệm cao hơn những người khác trong lĩnh vực này
Các bài trắc nghiệm về trí thông minh chỉ giới hạn phạm vi đo lường
và các khả năng lý luận toán học và ngôn ngữ mà hầu như bỏ quên những năng khiếu khác như sự khéo tay, năng khiếu thể thao, khả năng giao tiếp,
âm nhạc, nghệ thuật… Mặt khác trắc nghiệm IQ đã không xét tới tài năng và khuynh hướng thường không được xếp hạng như tài thuyết phục, tài thương lượng
Năm 1988, GS.Howard Gardner và cộng sự đã đặt ra lý thuyết về “đa thông minh”, ban đầu trí thông minh được chia ra 7 loại Và gần đây ông đã thêm vào loại thông minh thứ tám và đặt ra giả thuyết về sự tồn tại của loại thông minh thứ 9 Theo đó một em HS bình thường đều thông minh ở một mức độ nào đó tại một hay nhiều miền sau: lý luận toán học, ngôn ngữ, âm nhạc, không gian, vận động thân thể, giao tiếp xã hội, nội tâm và thiên nhiên [9]
Trang 171.1.1 Tổng quan về lý thuyết đa thông minh
1.1.1.1 Cơ sở của lý thuyết đa thông minh
1, Mỗi trí thông minh đều sẽ tổn thương và biến mất khi có các tác động xâm phạm và gây hại đến những vùng đặc trưng riêng biệt của nó trong bộ não người
Lý thuyết đa trí thông minh tiên đoán rằng trong thực tế trí thông minh
có thể bị cô lập khi bộ não bị tổn thương Gardner đã đưa ra ý kiến là: Nhằm mục đích được công nhận và có thể tồn tại, bất kì một lý thuyết nào về trí thông minh đều phải dựa trên cơ sở sinh học, nghĩa là được bắt nguồn từ cấu trúc vật chất của não bộ Với vai trò là một nhà tâm lý học thần kinh ở Ban quản lý cựu chiến binh Boston, Gardner đã làm việc với những bệnh nhân bị tổn thương não, một phần nào đó trong 8 loại trí thông minh của họ bị ảnh hưởng, ví dụ như: một người có thương tích ở thuỳ trước trán trong bán cầu não trái thì không thể nói và viết bình thường nhưng vẫn có thể hát, vẽ và nhảy múa một cách bình thường không một chút khó khăn nào Trong trường hợp này thì trí thông minh về ngôn ngữ của anh ta đã bị suy giảm, hư hại một phần Mặt khác, những người bị thương ở thuỳ thái dương bên phải có thể khó khăn khi thực hiện những công việc mang tính chất âm nhạc, nhưng anh
ta có thể nói, đọc, viết một cách dễ dàng Những bệnh nhân bị thương ở thuỳ chẩm của bán cầu não bên phải có thể bị suy giảm đáng kể những khả năng nhận biết gương mặt, khả năng quan sát hoặc nhận biết những chi tiết trực quan [9]
Lý thuyết về trí thông minh còn đang tranh luận xem tồn tại hay không
8 hệ thống của não bộ hoạt động một cách độc lập, trí thông minh ngôn ngữ được xem như một chức năng chính của bán cầu não trái ở đa số mọi người, trong khi trí thông minh về âm nhạc, không gian và các năng lực tương tác
có xu hướng tập trung tại bán cầu não phải nhiều hơn, trí thông minh về vận động thân thể gồm có vỏ não vận động, những hành thần kinh cơ sở và bộ
Trang 18phận trước não Thuỳ trước trán là đặc biệt quan trọng đối với trí thông minh của con người.
Bán cầu não trái Bán cầu não phải
(Tư duy lý tính) (Tư duy cảm tính)
Lôgíc, quá trình Biểu tượng, hình ảnh Các con số, chuỗi, tính toán Nhịp điệu, âm nhạc Ngôn ngữ, từ , lập luận Mô hình, sự tưởng tượng
Hình 1.1: Các chức năng cơ bản của hai bán cầu đại não
Bộ não là một tổ hợp phức tạp lạ thường nên không thể phân chia ra một cách rõ ràng thành 8 khu vực có ranh giới như bản đồ Tuy nhiên lý thuyết đa trí thông minh đã tổng hợp những kết quả đã được khám phá trong hơn 20 năm qua trong lĩnh vực tâm lý học thần kinh theo một cách riêng đáng chú ý
2, Có cách tư duy của các nhà bác học, những người phi thường và các cá nhân có năng lực hiếm có
Thứ hai trong số tám cơ sở có sức thuyết phục đó là khám phá ra các
cá nhân, những người có những khả năng được biểu lộ ở mức độ cao Trong trường hợp là những người phi thường chúng ta bắt gặp những cá nhân sớm phát triển tột bậc ở một khả năng nào đó, còn trong trường hợp là những nhà bác học (hoặc những cá nhân đặc biệt, bao gồm cả những đứa trẻ mắc chứng
tự kỉ) chúng ta thường thấy tồn tại duy nhất một khả năng đặc biệt của con người Lối tư duy của người dân cho phép chúng ta quan sát sự thông minh
Bán cầu não
Trái Phải
Trang 19của con người trong mối quan hệ - sự cách ly Trong phạm vi những người phi thường hoặc những nhà bác học ta có thể liên kết các nhân tố nguồn gốc với các vùng cụ thể của hệ thần kinh [9]
3, Có thể nhận ra cốt lõi của quá trình hoạt động hoặc tổng thể quá trình hoạt động
Gardner cho rằng giống như mỗi chương trình máy tính cần đến một loạt các thao tác có trình tự nhất định (Ví dụ: DOS), mỗi loại trí thông minh cũng có một tập hợp các hoạt động cốt lõi hợp với bản chất của nó Ví dụ: trong trí thông minh về âm nhạc các biểu hiện bao gồm sự nhạy cảm với chất lượng âm thanh hoặc khả năng phân biệt giữa các loại tiết tấu khác nhau Hoặc trong trí thông minh về vận động thân thể bao gồm khả năng bắt chước
sự vận động thân thể của người khác… Gardner nghiên cứu và cho rằng các hoạt động cốt lõi có thể được nhận dạng một cách rõ ràng như mô phỏng trên máy tính [9]
4, Mỗi trí thông minh đều có một lịch sử phát triển của riêng nó
Trí thông minh thường có một lịch sử phát triển đồng nhất với nó và
nó không phát triển trong sự cách ly và nó trở nên cần thiết cho các chức năng đặc biệt hoặc các tình huống mà ở đó trí thông minh chiếm giữ vị trí trung tâm Hơn nữa, nó chứng tỏ có thể nhận ra các mức độ thành thạo khác nhau trong sự phát triển của một loại trí thông minh, từ những lĩnh vực mà người chưa có kinh nghiệm đều có thể vượt qua được đến những mức độ cao nhất, điều mà chỉ thấy được ở những cá nhân tài năng hoặc những người được đào tạo đặc biệt Sẽ tốt hơn nếu phân biệt rõ ràng các giai đoạn then chốt của lịch sử phát triển Sự liên kết lịch sử phát triển của trí thông minh và
sự phân tích tính nhạy cảm để điều chỉnh và sự rèn luyện có ý nghĩa quan trọng nhất trong việc giáo dục ra những con người tài năng [9]
Trang 205, Mỗi loại trí thông minh đều có những nền tảng giá trị văn hoá riêng của nó
Gardner kết luận rằng mỗi loại trong số tám năng lực tư duy đều có nguồn gốc sâu xa trong sự phát triển của loài người, thậm chí sớm hơn, trong
sự tiến hoá của các loài khác
Ví dụ: Trí thông minh về không gian có thể được nghiên cứu thông qua các bức hoạ về hang động của Lascaux Trí thông minh về âm nhạc có thể tìm ra nguồn gốc thông qua các dụng cụ âm nhạc nhờ khảo cổ Lý thuyết
đa thông minh cũng có bối cảnh lịch sử của nó Chắc chắn trong thời gian tới các loại trí thông minh sẽ trở nên quan trọng hơn bây giờ
Ví dụ: Trí thông minh về tự nhiên và vận động thân thể đã giữ một vị trí quan trọng trong thời kì nguyên thuỷ, khi mà phần lớn người dân sống ở nơi thôn dã và sống chủ yếu bằng săn bắn và hái lượm Hoặc sẽ có nhiều và nhiều người hơn nữa nhận được các thông tin mà họ cần từ phim ảnh, tivi, DVD và từ trực tuyến, khi đó vai trò của trí thông minh về không gian sẽ ngày càng tăng Hoặc hiện tại chúng ta đang rất cần sự phát triển của các cá nhân, những người có năng lực, kinh nghiệm về thiên nhiên để bảo vệ môi trường sinh thái đang bị đe doạ [9]
6, Được kiểm chứng bởi các cuộc thử nghiệm về tâm lý
Gardner đề xuất rằng bằng cách quan sát tỉ mỉ các cuộc nghiên cứu về tâm lý chúng ta có thể chứng minh được rằng các loại trí thông minh hoạt động một cách độc lập
Ví dụ: trong các cuộc nghiên cứu về sự thành thạo một kĩ năng cụ thể nào đó, chẳng hạn kĩ năng đọc, và thực hiện “phiên dịch” kĩ năng đó sang một lĩnh vực khác, chẳng hạn toán học chúng ta thấy được sự thiếu khả năng trong việc phiên dịch từ các kĩ năng về ngôn ngữ sang lĩnh vực lôgic toán học hoặc trong các cuộc nghiên cứu về nhận thức như trí nhớ, năng lực nhận thứ hay sự ghi nhớ chúng ta thấy rằng các cá nhân sở hữu các kĩ năng có tính
Trang 21chọn lọc Ví dụ như ở một số cá nhân có sự nhận thức rất tốt về âm thanh có giai điệu, nhưng lại không có khả năng đó đối với các âm thanh bằng lời nói, hoặc có những cá nhân có trí nhớ rất tốt đối với ngôn ngữ nhưng lại không nhớ được các hình ảnh [9]
Mỗi loại năng khiếu riêng biệt đó là các loại trí thông minh cụ thể, theo đó mỗi người có thể có kĩ năng ở các mức độ khác nhau trong tám loại trí thông minh
7, Được kiểm chứng bởi các kết quả điều tra của khoa đo nghiệm thần kinh
Tiêu chuẩn để đánh giá khả năng của con người được trình bày trong các bài kiểm tra mà phần lớn các lý thuyết về trí thông minh sử dụng Mặc
dù Gardner không tán thành việc tiêu chuẩn hoá các bài kiểm tra và sự thật là
có rất nhiều người ủng hộ việc thay thế các bài kiểm tra chính thức, ông đề xuất rằng chúng ta có thể căn cứ vào tiêu chuẩn các bài kiểm tra đó hỗ trợ cho lý thuyết đa thông minh
Ví dụ: Theo “mức độ trí thông minh cho trẻ em” của Wechsler bao gồm các bài kiểm tra chính thức trong đó cần có trí thông minh về ngôn ngữ (thông tin, từ vựng), thông minh về lôgic toán học (số học), thông minh về không gian (bố cục của một bức tranh), và thông minh về vận động thân thể (Đại hội theo chủ đề) [9]
8, Mỗi trí thông minh có khả năng được biểu tượng hoá
Theo Gardner, một bằng chứng tốt nhất của hoạt động trí tuệ đó là khả năng sử dụng kí hiệu Gardner cho rằng khả năng biểu đạt bằng biểu tượng là yếu tố quan trọng nhất của con người, phân biệt hoàn toàn với các loài khác Ông lưu ý rằng mỗi loại trong tám loại trí thông minh trong lý thuyết của ông đều có tiêu chuẩn về khả năng diễn đạt bằng biểu tượng Sự thật là mỗi loại trí thông minh đều có hệ thống kí hiệu riêng Ví dụ trong trí thông minh về ngôn ngữ đó là một số cách nói và viết bằng nhiều ngôn ngữ chẳng hạn tiếng
Trang 22Anh, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha… Hoặc như đối với trí thông minh về không gian thì đó là các ngôn ngữ đồ hoạ được sử dụng bởi các kĩ sư, các nhà thiết kế, giống như một phần chữ tượng hình trong tiếng Trung [9]
1.1.1.2 Lý thuyết đa thông minh
Theo Gardner, có tám loại trí thông minh [9]:
1, Thông minh về ngôn ngữ: Bao gồm khả năng nói và viết, khả năng
học ngôn ngữ và sử dụng ngôn ngữ để đạt được mục tiêu Trí thông minh này bao gồm cả khả năng sử dụng ngôn ngữ hiệu quả để thể hiện bản thân bằng hùng biện hoặc qua thi ca; hoặc có thể dùng ngôn ngữ để nhớ thông tin Các nhà văn, nhà thơ, luật sư và diễn giả là những người mà theo Howard Gardner có trí thông minh ngôn ngữ tốt
2, Trí thông minh lôgic Toán học: Bao gồm khả năng phân tích các
vấn đề một cách lôgic, thực hiện các hoạt động liên quan đến Toán học tốt, xem xét các vấn đề rất khoa học Theo Howard Gardner thì những người có trí thông minh này có khả năng phát hiện, suy diễn các trình tự, lý do và tư duy logic tốt, cách tư duy theo dạng nguyên nhân - kết quả Trí thông minh này có mối liên quan chặt chẽ với những ý tưởng khoa học và Toán học, khả năng sáng tạo các giả thuyết, tìm ra các mô hình số học và quy tắc dựa trên các khái niệm, đồng thời ưa thích các quan điểm dựa trên lý trí trong cuộc sống nói chung
3, Trí thông minh về không gian: Liên quan đến suy nghĩ bằng hình
ảnh, hình tượng và khả năng cảm nhận, chuyển đổi và tái tạo lại những góc
độ khác nhau của thế giới không gian trực quan Những người sở hữu loại trí thông minh về không gian ở mức độ cao thường có độ nhạy cảm sắc bén với những chi tiết cụ thể trực quan và có thể hình dung được một cách sống động, vẽ ra hay phác hoạ những ý tưởng của họ dưới dạng hình ảnh, đồ hoạ, cũng như họ có khả năng tự định hướng bản thân trong không gian 3 chiều một cách dễ dàng
Trang 234, Trí thông minh về vận động thân thể: Khả năng sử dụng cơ thể hoặc
một phần cơ thể con người để giải quyết các vấn đề, bao gồm cả khả năng của trí não điều khiển các hoạt động đó Howard Gardner thấy rằng có sự liên hệ của hoạt động trí óc với hoạt động thể chất Các vận động viên thể thao Những người làm nghề thủ công, những thợ cơ khí, bác sĩ phẫu thuật là những người sở hữu khả năng này của tư duy Những người thuộc loại tài năng này rất thành công trong nghề thêu may, nghề thợ mộc hay nghề tạo mẫu hoặc họ có thể ham thích và theo đuổi những hoạt động của cơ thể như
đi bộ đường dài, khiêu vũ, chạy bộ, cắm trại, bơi lội hoặc đua thuyền Họ là những người thực hành, nhạy cảm, thường xuyên muốn vận động cơ thể của
họ và có “phản ứng bản năng” với các tình huống, sự vật
5, Trí thông minh về âm nhạc: Bao gồm các kĩ năng biểu diễn, sáng
tác và cảm nhận âm nhạc Thông minh âm nhạc thúc đẩy khả năng nhận biết
và sáng tác âm điệu, cao độ và nhịp điệu Theo Howard Gardner thông minh
âm nhạc song song với thông minh về ngôn ngữ Ngoài ra trí thông minh về
âm nhạc còn có trong tiềm thức của bất cứ cá nhân nào miễn là người đó có khả năng nghe tốt, có thể hát theo giai điệu, biết dành thời gian cho âm nhạc
và nghe được nhiều tiết mục âm nhạc khác nhau với sự chính xác và sáng suốt của các giác quan
6, Thông minh về giao tiếp: Đây là năng lực hiểu và làm việc được với
những người khác Đặc biệt là điều này yêu cầu có khả năng cảm nhận và dễ chia sẻ với tâm trạng, tính cách, ý định và mong muốn của những người khác Một cá nhân có trí thông minh về giao tiếp có thể rất giàu lòng trắc ẩn
và đầy tinh thần trách nhiệm đối với xã hội, hoặc là người có sức lôi cuốn mội người và tập thể, họ còn có khả năng thấu hiểu những người khác và từ
đó nhìn ra viễn cảnh của thế giới bên ngoài bằng chính cặp mắt của những người đó Trong thực tế họ rất tuyệt vời với vai trò của người môi giới, người hoà giải hoặc là thầy giáo, tư vấn tâm lý
Trang 247, Thông minh về nội tâm: Một người mạnh mẽ về loại trí tuệ này có
thể dễ dàng tiếp cận và nhìn rõ được cảm xúc của chính bản thân mình, phân biệt được giữa nhiều loại trạng thái tình cảm bên trong và sử dụng chính những hiểu biết về bản thân để làm phong phú thêm và vạch ra con đường cho cuộc đời mình Họ có thể là người rất hay tự xem xét nội tâm và ham thích được trầm tư suy nghĩ, được ở trong trạng thái tĩnh lặng hay trong các trạng thái tìm hiểu tinh thần một cách sâu sắc Mặt khác họ có thể là người
có tính độc lập mạnh mẽ, tính thẳng thắn cao độ và cực kì tự giác, có kỉ luật Trong bất cứ trường hợp nào họ thuộc dạng tự lập và thích làm việc một mình hơn là làm việc với người khác
8, Trí thông minh về tự nhiên: Giúp cho con người nhận thức, phân
loại và rút ra được những đặc điểm của môi trường Những người có trí thông minh về tự nhiên luôn hoà hợp với thiên nhiên và thích thú với sự nuôi trồng, khám phá thiên nhiên, tìm hiểu về các sinh vật Những người này thích cắm trại, làm vườn, leo núi, khám phá thế giới và không hứng thú với những đề tài không gần môi trường
1.1.2 Ứng dụng lý thuyết đa thông minh trong dạy học
Có hai con đường chính để dạy và học ứng dụng lý thuyết đa thông minh:
- Dạy và học để thông minh: Giáo viên chủ động cá nhân hoá việc học
và đánh giá các mặt mạnh của người học
- Dạy và học thông qua các loại trí thông minh: Người học độc lập lựa chọn các hoạt động học tập phù hợp với mục tiêu chương trình dạy học
Dạy và học để thông minh
Con đường “xây dựng dựa trên các
- Hỗ trợ phát triển văn hoá
- Dạy và học dựa trên các mặt mạnh
- Tạo ra nhiều cơ hội để phát triển tài năng
Trang 25của HS - Tạo ra các hoạt động đánh giá và
khuyến khích các tài năng của HS
Dạy và học thông qua các loại trí thông minh
Con đường “hiểu biết” Con đường “các vấn đề thực tế”
- Lựa chọn nhiều phương pháp giảng
dạy để nâng cao sự hiểu biết của HS
- Tạo ra nhiều hoạt động để đánh giá
sự hiểu biết của HS
- Sử dụng các vấn đề của thế giới hiện thực và vai trò của các chuyên gia
- Tạo ra những hoạt động thực tế đánh giá việc học tập của HS
Các loại trí thông minh sẽ có ảnh hưởng đến các chiến lược dạy học, cần khai thác các chiến lược sao cho phù hợp với HS Dưới đây tôi xin đưa
ra một vài ý kiến để dạy học ứng dụng lý thuyết đa thông minh theo một số phương diện
Ngôn ngữ
- Giảng giải trong dùng từ và trong bài giảng
- Tạo ra nhiều tình huống để đọc, viết, nói nghe, thuyết phục, thông báo, tranh luận
- Thực hiện liên kết giữa các khái niệm
- Mô tả các bước trong một bài học
- Chia sẻ năng khiếu và sở thích với người học
Âm nhạc - Sử dụng âm thanh, giọng nói, âm nhạc trong
giảng dạy
Trang 26- Tạo ra nhiều cơ hội để sáng tác và thưởng thức
âm nhạc và các giai điệu
- Liên hệ giưa âm nhạc và các lĩnh vực khác
- Chia sẻ năng khiếu và sở thích với người học (ví dụ như hát, đàn …)
Không gian
- Tạo ra cho người học nhiều cơ hội để xem tranh ảnh, biểu đồ, video…
- Sử dụng bản đồ tư duy
- Sử dụng ngôn ngữ thuộc về thị giác ví dụ như:
“Tôi thấy những gì bạn muốn” hoặc “nó trông
có vẻ ổn với tôi”
- Chia sẻ năng khiếu và sở thích của bạn với người học (ví dụ như vẽ tranh, chụp ảnh…)
Giao tiếp xã hội
- Khuyến khích việc cộng tác làm việc theo nhóm và thảo luận
- Tạo cho người học cơ hội làm việc độc lập
- Phản ánh, kiểm tra và phát triển việc giảng dạy
- Thiết lập các kế hoạch thường xuyên, báo cáo tiến độ và thời gian
- Chia sẻ một vài suy nghĩ với người học
Trang 27Một trong những phương pháp dạy học ứng dụng lí thuyết đa thông minh rõ rệt nhất là dạy học theo góc
Dạy học theo góc là một hình thức tổ chức hoạt động học tập theo đó người học thực hiện các nhiệm vụ khác nhau tại các vị trí cụ thể trong không gian lớp học Dạy học theo góc có những điểm tương đồng với dạy học theo nhóm, theo cặp và một số phương pháp, kĩ thuật, thủ thuật dạy học khác Ưu điểm của học theo góc trong dạy học nói chung và trong môn toán nói riêng
là người dạy có thể giao nhiều nhiệm vụ với các mức độ và năng lực khác nhau theo từng nội dung học tập, mỗi cá nhân tự hoàn thành nhiệm vụ với sự tương tác của người dạy và thành viên trong nhóm Mỗi góc phải chuẩn bị đầy đủ các phương tiện đáp ứng nội dung học tập và nhiệm vụ các góc cùng hướng tới mục tiêu bài học Dạy học theo góc có thể áp dụng ở hầu hết các dạng bài học và các bài tập tích hợp kiến thức nhiều môn học
- Trình bày các thông tin theo hệ thông cấp bậc
và nguyên tắc phân loại
- Chia sẻ năng khiếu và sở thích về tự nhiên với người học (ví dụ như làm vườn, đi bộ…)
Trang 28Ví dụ 1.1 Dạy học bài “Giới hạn dãy số”
(Lớp 11- chương trình chuẩn)
Thực hiện ví dụ mở đầu hình thành khái niệm giới hạn
Góc 1: Lập bảng giá trị tương ứng của dãy số
n
u n 1 Góc 2: Tính một số giá trị cụ thể của u n và biểu diễn trên trục số
Góc 3: Vẽ đồ thị hàm số
n n
mô hình nhận thức mà một người có được trong trí óc của họ
Tác giả Asli (1998, [10]) đã đề xuất vai trò của các biểu diễn toán trong dạy học như sau:
- Các biểu diễn là một phần không tách rời của toán học;
- Các biểu diễn là những cụ thể hoá khác nhau của một khái niệm nào đó;
- Các biểu diễn được sử dụng để giảm bớt độ khó của vấn đề;
- Các biểu diễn nhằm làm cho toán học hấp dẫn và thú vị hơn
Trang 29Biểu diễn như là một công cụ của tư duy (Hahkioniemi, 2006, [12]) Chúng ta biểu diễn một vấn đề hoặc khái niệm toán và dùng biểu diễn đó để
tư duy Hơn nữa, biểu diễn còn được xem như một phương pháp ghi nhớ và
để thông tin Chẳng hạn ta dùng đồ thị để đưa đến khái niệm tiếp tuyến của đường cong tại một điểm như là giới hạn của các cát tuyến đi qua điểm đó
Đồ thị sẽ giúp ta đưa đến biểu thức lấy giới hạn và từ đó đưa ra định nghĩa khái niệm tiếp tuyến
Bruner (2007, [11]) chỉ ra rằng có thể chia biểu diễn thành ba phạm trù theo các giai đoạn phát triển của biểu diễn là Biểu diễn thực tế Biểu diễn biểu tượng Biểu diễn kí hiệu Phân loại, mô tả của các biểu diễn được trình bày ở bảng sau, trong đó các biểu diễn được xếp từ dưới lên trên theo thứ tự từ cụ thể đến trừu tượng hơn
Bảng 1.1: Các giai đoạn phát triển của biểu diễn
Biểu biễn kí hiệu
Biểu diễn kí hiệu Sử dụng số, chữ cái và các
đồ, đồ thị, bảng biểu trên mặt phẳng hai chiều hoặc giả lập 3 chiều trên máy tính
Biểu diễn thực tế Biểu diễn thực thao
tác được
Thực hiện các thao tác lên các mô hình ba chiều thực hoặc mô hình cho phép
Trang 30thao tác
Biểu diễn thực Dựa trên các trạng thái
thực của đối tượng
Để HS có thể nhận thức được một khái niệm, cần kết hợp những biểu diễn khác nhau nhằm thể hiện được các khía cạnh của khái niệm đó Chúng tôi quan tâm nhiều đến biểu diễn trực quan và biểu diễn trực quan động thể hiện trên máy tính nhờ các phần mềm toán học động
* Biểu diễn trực quan:
Theo Arcavi (2003, [13]), trực quan hoá là khả năng, quá trình và sản phẩm của sự sáng tạo, giải thích, sử dụng và phản ánh dựa trên các hình vẽ, hình ảnh, sơ đồ trong đầu chúng ta, trên giấy hay trên các công cụ khoa học công nghệ với mục đích mô tả và giao tiếp thông tin, tư duy và phát triển các
ý tưởng chưa biết trước đó để đi đến việc hiểu Vai trò của biểu diễn trực quan được nhấn mạnh với các ví dụ về thống kê, số học, hình học, đại số và giải tích
* Biểu diễn trực quan động:
Finzer & Jackiw (1998, [14]) trong nghiên cứu của mình đã đề cập đến thao tác động trên các phần mềm hình học động và vai trò của nó trong
hỗ trợ HS học toán Phần mềm hình học động có thể hỗ trợ hiệu quả cho việc học toán thông qua thực nghiệm bằng các thao tác động, trong đó người học khám phá, thực nghiệm và hình thành các kiến thức toán học thông qua các tương tác
1.2.2 Biểu diễn bội
1.2.2.1 Vai trò của biểu diễn bội
Biểu diễn bội là những biểu hiện bên ngoài của các ý tưởng và khái
niệm toán học nhằm cung cấp cùng một thông tin ở những dạng khác nhau Việc sử dụng biểu diễn bội có hoặc không có CNTT là một trong những chủ
Trang 31đề chính của giáo dục toán trong những năm gần đây Trong dạy học toán biểu diễn bội được sử dụng để mô tả các khái niệm, các mối quan hệ toán học, giúp HS hình thành mối quan hệ giữa hình học và đại số, đồng thời rèn luyện tư duy linh hoạt cho HS
* Mô tả các khái niệm và các mối quan hệ toán học:
Các nghiên cứu thực nghiệm đều khẳng định rằng quá trình thông hiểu các khái niệm và quan hệ toán học phụ thuộc vào khả năng biểu diễn các khái niệm và quan hệ đó dưới nhiều dạng khác nhau như đồ thị, phương trình, bảng, biểu đồ, kí hiệu, ngôn ngữ viết, ngôn ngữ nói… (Sfard, 1992; Yerushalmy, 1997; Goldin, 1998; Reading, 1999) Piez và Voxman (1997) cho rằng HS sẽ hiểu sâu hơn các khái niệm toán học nếu các em được tiếp cận thông qua các phương pháp đại số, phương pháp giải tích hay sử dụng đồ thị minh hoạ Vì thế các dạng biểu diễn khác nhau sẽ giúp HS hiểu rõ được bản chất vấn đề, đồng thời rèn luyện cho các em cách nhìn linh hoạt trong các tình huống và phát hiện ra các mối quan hệ được trình bày theo các quan điểm khác nhau (NCTM, 1989)
Ví dụ 1.3 Hãy biểu diễn tính đơn điệu của hàm 1 3 1 2
2 2
trên khoảng 1; 2 dưới nhiều dạng khác nhau và nêu mối quan hệ giữa
chúng Kết quả dưới đây cho thấy các dạng biểu diễn khác nhau của tính đơn
điệu của hàm số trên
Trang 32Bảng 1.2: Các dạng biểu diễn tính đơn điệu của hàm
2 2
y x x x trên khoảng 1; 2 như dạng ngôn ngữ, dạng kí hiệu, dạng đồ thị Từ đó giúp HS thấy được ý nghĩa của từng dạng biểu diễn trong việc đề xuất các phương pháp giải các dạng bài toán khác nhau (phương pháp đồ thị hoặc phương pháp đại số)
* Hình thành mối liên hệ giữa hình học và đại số:
Hiểu được mối liên hệ giữa hình học và đại số giúp HS dễ dàng chuyển từ tiếp cận các đối tượng hình học bằng phương pháp tổng hợp sang phương pháp toạ độ Phương pháp này là công cụ để nghiên cứu hình học theo quan điểm hiện đại và cũng góp phần bồi dưỡng cho HS khả năng suy luận, khái quát và tư duy trừu tượng Trong biểu diễn bội liên kết và tích hợp, mỗi dạng biểu diễn đều nhấn mạnh đến các khía cạnh khác nhau của cùng một khái niệm hay đối tượng toán học Kĩ năng phiên dịch và chuyển đổi giữa các dạng bảng biểu, phương trình và đồ thị của hàm số tạo điều kiện cho HS hiểu được mối liên hệ tương ứng giữa số học, đại số và hình học
Trang 33(Davis, 1987) Hơn nữa GV có thể sử dụng biểu diễn thực tế tích hợp với biểu diễn dạng bảng, dạng đồ thị và dạng đại số của hàm số để tổ chức các hoạt động mô hình hoá các hiện tượng thực tiễn trong dạy học toán ở trường phổ thông (NCTM, 2000)
Các nghiên cứu của Bidwell & Clason cho thấy sử dụng biểu diễn bội giúp HS giải các bài toán hình học và đại số tốt hơn Các khái niệm và quan
hệ toán học được mô tả dưới nhiều dạng khác nhau sẽ giúp HS nắm được bản chất trừu tượng của toán học, tối ưu hoá việc học tập môn toán Hơn nữa quá trình phiên dịch trôi chảy giữa các dạng biểu diễn của khái niệm toán học với nhau sẽ phát triển sự thông hiểu các ý tưởng toán học
Ví dụ 1.4 Hãy xác định phương trình biểu diễn quỹ đạo rơi của nước
từ các vòi phun nước
Hình 1.2: Parabol biểu diễn quỹ đạo rơi của nước từ các đài phun nước
Hoạt động: GV yêu cầu HS các nhóm HS tạo các thanh trượt biểu diễn
hệ số a, h, k của đường Parabol có dạng 2
y a x h k Kéo thanh trượt để thay đổi các hệ số trên sao cho quỹ đạo rơi của nước trùng với đường
Trang 34parabol Nhóm HS cần hiểu được các phép biến đổi đồ thị (phép tịnh tiến
theo trục hoành khi thay đổi hệ số h, phép tịnh tiến theo trục tung khi thay đổi hệ số k, co giãn parabol khi thay đổi hệ số a) để xác định đường parabol
chứa đường biểu diễn quỹ đạo rơi của nước Qua đó, GV giúp HS thấy được quỹ đạo chuyển động của nước từ các vòi phun nước chính là đường parabol
* Rèn luyện các thao tác tư duy linh hoạt:
Dreyfus và Eisenberg (1996) cho rằng sự linh hoạt trong phiên dịch và chuyển đổi giữa các dạng biểu diễn bội khác nhau là dấu hiệu của sự thành thạo trong tư duy toán học, kỹ năng giải quyết vấn đề và thông hiểu các khái niệm toán học Sự linh hoạt trong việc lựa chọn phương pháp giải quyết vấn
đề còn được thể hiện ở năng lực sáng tạo trong sử dụng ngôn ngữ, kí hiệu, minh hoạ trực quan khi giải toán
Ví dụ 1.5 Hãy phác thảo hình ảnh minh hoạ cho kết quả tính toán các
Trang 35Hình 1.3: Ý tưởng tính tổng dựa vào hình vẽ trực quan
1.2.2.2 Biểu diễn bội động
Biểu diễn bội động là biểu diễn bội được thể hiện trên máy tính thông qua phần mềm toán học động, trong đó người dùng có thể thực hiện các thao tác động như kéo rê, thay đổi giá trị tham số, thay đổi hình dạng, kích thước… của các biểu diễn Kordaki (2006, [17]) trong nghiên cứu của mình
đã chỉ ra môi trường học tập có sự hỗ trợ của máy tính cung cấp nhiều công
cụ khác nhau để xây dựng phương án giải trong hệ thống biểu diễn bội và môi trường này có thể hỗ trợ cho HS những cách hiểu toán của riêng mình tốt hơn môi trường truyền thống chỉ có giấy và bút Biểu diễn bội động cung cấp một môi trường hiệu quả cho HS nhận biết và hiểu những khái niệm toán được học Biểu diễn bội động dưới đây bao gồm biểu diễn số động, đồ thị động Kéo rê thanh trượt tham số, biểu thức của hàm số sẽ thay đổi tương ứng kéo theo sự thay đổi hình dạng của đồ thị
Ví dụ 1.6 Minh hoạ xấp xỉ tổng tích phân trên và tổng tích phân dưới
f x x x x bị giới hạn bởi các đường thẳng đi qua
A, B và vuông góc với trục hoành
Trang 36Hình 1.4: Mô hình toán học động
Hoạt động: GV sử dụng phần mềm toán học động minh hoạ xấp xỉ
tổng tích phân trên và tổng tích phân dưới của hàm số đã cho để HS thấy được ý nghĩa của sự phân hoạch trong việc tính diện tích hình thang cong, từ
đó dẫn đến khái niệm tích phân theo các bước sau:
Bước 1: Nhập vào đa thức bậc ba 3 2
nhau và tiến tới giá trị của tích phân khi sự phân hoạch là vô cùng lớn
1.2.3 Năng lực biểu diễn bội
(1) Năng lực 1: Năng lực nhận dạng biểu diễn: Là khả năng nhận ra các
dạng biểu diễn khác nhau của cùng một khái niệm, một tính chất hay một
mối quan hệ toán học
Trang 37Ví dụ 1.7 Cho bảng phân bố tần số sau:
Bảng 1.3: Bảng phân bố khối lượng của 30 con thằn lằn
Khối lượng (gam) 140 150 160 170 180 190
A B
0 5
10 140
150
160
170 180
190
0 2 4 6 8 10
140 150 160 170 180 190
C D
Thông qua ví dụ này GV cho HS thấy được các dạng biểu đồ có thể
mô tả tập số liệu trong bảng trên, rèn luyện cho HS khả năng đọc các số liệu cho trên các biểu đồ, từ đó giúp HS lựa chọn được dạng biểu diễn (biểu đồ) phù hợp với từng bảng số liệu
(2) Năng lực 2: Năng lực biểu diễn đơn: Là khả năng sử dụng một
dạng biểu diễn để biểu diễn một khái niệm, một tính chất hay một mối quan
hệ toán học
Ví dụ 1.8 Vẽ đồ thị hàm số y 2 x
Trang 38Hình 1.5: Đồ thị hàm số y 2 x
Thông qua hoạt động này GV nhấn mạnh dạng biểu diễn bằng đồ thị của hàm số đã cho, rèn luyện cho HS kĩ năng vẽ đồ thị của hàm số, kĩ năng đọc đồ thị, qua đó giúp HS linh hoạt hơn trong việc giải quyết các vấn đề toán học bằng phương pháp đồ thị
(3) Năng lực 3: Năng lực biểu diễn bội tích hợp: Là khả năng sử dụng
nhiều dạng biểu diễn khác nhau để làm rõ các khía cạnh của một vấn đề
Ví dụ 1.9 Phát biểu định lí “Dấu của tam thức bậc hai”dưới nhiều
dạng khác nhau
Dưới đây là các cách phát biểu định lí trên:
Dạng ngôn ngữ: Cho f(x) ax2 bx c a 0 , b2 4ac
Nếu 0 thì f (x) luôn cùng dấu với hệ số a với mọi x R
Nếu 0 thì f (x) luôn cùng dấu với hệ số a với mọi
a
b x
2 Nếu 0 thì f (x) luôn cùng dấu với hệ số a khi x x1 hoặc x x2,
trái dấu với hệ số a khi x1 x x2, trong đó x1,x2, (x1 x2) là hai nghiệm của )
2
Trang 390 af (x) 0, x ( ;x1) (x2; ) và af (x) 0 x (x1;x2)trong đó x1,x2, (x1 x2) là hai nghiệm của f (x)
Với việc phát biểu định lí “Dấu của tam thức bậc hai” dưới nhiều
dạng khác nhau, GV giúp HS thấy rõ được các mặt của định lí này như mặt ngôn ngữ, mặt kí hiệu và mặt trực quan, đồng thời thấy được mối quan hệ giữa các dạng biểu diễn Qua đó giúp HS linh hoạt trong việc đề xuất các phương pháp (phương pháp đại số, phương pháp đồ thị…) giải quyết các vấn
đề toán học
(4) Năng lực 4: Năng lực phiên dịch và chuyển đổi các dạng biểu
diễn: Là khả năng chuyển đổi giữa các dạng biểu diễn khác nhau của cùng
một khái niệm hay một mối quan hệ toán học
Ví dụ 1.10 Hoàn thành các cột tương ứng trong bảng sau
) ( ) ( x f x f
Trang 40Bảng dưới cho thấy khả năng chuyển đổi giữa các dạng biểu diễn của tính chất trên:
(5) Năng lực 5: Năng lực giải quyết vấn đề: Là khả năng khai thác
biểu diễn bội để giải quyết các vấn đề toán học được giao
Ví dụ 1.11 Với giá trị nào của m thì đường thẳng y = m cắt đồ thị
hàm số y x4 2x2 3 tại bốn điểm phân biệt
2
2
m t
Để (1) có 4 nghiệm phân biệt thì (2) phải có hai nghiệm dương phân biệt: