LỜI CẢM ƠN Luận văn Thạc sĩ kỹ thuật “Nghiên cứu phát triển mô hình sản xuất rau an toàn bằng phương pháp tưới phun mưa tại xã Minh Châu, huyện Ba Vì, Hà Nội” hoàn thành ngoài sự nỗ lự
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Luận văn Thạc sĩ kỹ thuật “Nghiên cứu phát triển mô hình sản xuất
rau an toàn bằng phương pháp tưới phun mưa tại xã Minh Châu, huyện
Ba Vì, Hà Nội” hoàn thành ngoài sự nỗ lực của bản thân học viên còn có sự
chỉ bảo, giúp đỡ tận tình của PGS.TS Nguyễn Trọng Hà, các thầy cô giáo khoa Kỹ thuật tài nguyên nước - trường Đại học Thủy lợi
Học viên xin chân thành cảm ơn đến Trường đại học Thủy lợi, các thầy
cô giáo trong và ngoài trường, các bạn bè và đồng nghiệp, Trung tâm Khí tượng thủy văn Quốc gia, Viện Kỹ thuật tài nguyên nước - Trường Đại học Thủy lợi
Học viên xin bày tỏ lòng cảm chân thành đến các cơ quan, đơn vị và đặc biệt là thầy giáo hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Trọng Hà đã tạo điều kiện giúp
đỡ, hướng dẫn và cung cấp những thông tin cần thiết cho bản luận văn này
Hà N ội, tháng 8 năm 2013
HỌC VIÊN
Đỗ Ngọc Phương Thảo
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Luận văn “Nghiên cứu phát triển mô hình sản xuất rau an toàn bằng
phương pháp tưới phun mưa tại xã Minh Châu, huyện Ba Vì, Hà Nội” là
công trình nghiên cứu độc lập, không có sự sao chép Các số liệu, kết quả được nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Trang 3CÁC TỪ VIẾT TẮT
RAT : Rau an toàn
VietGAP : Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho rau, quả tươi
an toàn tại Việt Nam
IPM : Chương trình quản lý dịch hại tổng hợp (IPM)
BVTV : Bảo vệ thực vật
UBND : Ủy ban nhân dân
HTX : Hợp tác xã
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Rau xanh là thực phẩm không thể thiếu trong mỗi bữa ăn của người dân Việt Nam Ngày nay, khi vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm đang ở mức báo động thì thực phẩm sạch chính là mục tiêu mà mọi người dân luôn muốn hướng tới Với mức độ tiêu thụ rau xanh của Hà Nội và các tỉnh lân cận ngày một tăng như hiện nay thì rau an toàn (RAT) là một giải pháp vô cùng cấp thiết cho mỗi người dân
Hà Nội với dân số 6,45 triệu người và khoảng 3 triệu người lưu trú, nhu cầu rau xanh cần tới hàng triệu tấn mỗi năm Hiện nay, diện tích rau của Hà Nội là trên 11.650ha phân bố ở 22 quận, huyện Trong đó, diện tích chuyên rau đạt trên 5.000ha, hệ số quay vòng bình quân 3,5 vụ/1năm, diện tích rau không chuyên là 6.600ha hệ số quay vòng bình quân 1,5 vụ/năm Diện tích rau theo quy trình rau an toàn có cán bộ kỹ thuật Chi cục BVTV Hà Nội chỉ đạo giám sát là 2.105ha (18%), sản lượng rau của thành phố năm 2008 là 492.342 tấn/năm đáp ứng được 60% nhu cầu (trong đó rau sản xuất theo quy trình RAT đạt trên 131.000 tấn đáp ứng được 14%) còn lại 40% lượng rau được nhập từ các tỉnh Vì vậy, việc mở rộng diện tích trồng rau an toàn là một như cầu thực tiễn và là hướng đi đúng đắn của thành phố
Minh Châu là xã "đảo" duy nhất của Hà Nội nằm trên bãi bồi sông Hồng, thuộc huyện Ba Vì Hiện tại, rau xanh đang là một trong những loại cây trồng quan trọng của người dân xã "đảo" này, với diện tích 35 ha chuyên trồng rau và 42 ha rau trồng xen cà chua và cà ghém đã giúp Minh Châu trở thành một xã có kinh nghiệm trong nghề trồng rau của huyện Hầu hết diện tích rau xanh của xã đang phát triển theo mô hình kinh tế hộ Việc phát triển theo mô hình này tuy có thuận lợi trong việc quản lý của từng gia đình, song
về lâu dài khó tạo ra bước đột phá cho nông nghiệp địa phương Do đó, việc
Trang 10áp dụng kỹ thuật tưới và mô hình quản lý thích hợp nhằm phát triển sản xuất rau an toàn sẽ phần nào đáp ứng được nhu cầu rau sạch hiện nay, đồng thời góp phần nâng cao năng suất, hiệu quả sử dụng đất canh tác nông nghiệp, tạo công ăn việc làm và nâng cao thu nhập của nhân dân trong vùng
2 Mục đích của đề tài
Áp dụng kỹ thuật tưới phun mưa và mô hình quản lý hợp tác xã cho vùng trồng rau an toàn của xã Minh Châu, huyện Ba Vì nhằm tăng hiệu quả lao động trong sản xuất nông nghiệp, cải thiện môi trường sinh thái, đáp ứng nhu cầu về thực phẩm sạch nói chung và về rau an toàn nói riêng của huyện nói riêng và của thành phố Hà Nội nói chung
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Vùng nghiên cứu ứng dụng công nghệ tưới phun mưa và mô hình quản
lý hợp tác xã cho vùng trồng rau an toàn thuộc xã Minh Châu, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Điều tra, khảo sát điều kiện tự nhiên, các chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật, xã hội
và môi trường có liên quan đến yêu cầu phát triển vùng chuyên canh rau an toàn của xã Minh Châu
Ứng dụng kỹ thuật tưới tiên tiến bằng tưới phun mưa cho vùng sản xuất rau an toàn của xã Minh Châu
Đề xuất mô hình chuyên canh rau an toàn và phương thức quản lý hợp tác xã cho vùng trồng rau, nhằm phát triển liên minh sản xuất và tiêu thụ rau
an toàn cho thành phố Hà Nội
Trang 11con sông chụm lại thành sông Cái hay còn gọi là sông Hồng, đuôi của nó chạy dài giáp bãi Phù Sa - Sơn Tây Vào mùa mưa, từ tháng 5 - 7 Âm lịch, khi nước sông dâng cao, xã Minh Châu trở thành một hòn đảo đúng nghĩa và được ví như một viên ngọc xanh ngút ngát hoa màu, cây trái
Minh Châu nằm ở tọa độ địa lý: 21013’08’’ N và 105027’14’’ E, các mặt tiếp giáp của xã:
- Phía Bắc và Đông Bắc giáp huyện Vĩnh Tường - Vĩnh Phúc
- Phía Nam giáp xã: Đông Quang và Cam Thượng
- Phía Tây giáp xã Chu Minh
Trang 12Hình 1.1: Minh Châu - “Ốc đảo” giữa sông Hồng
1.1.2 Đặc điểm địa hình
Nhìn chung, địa hình khu vực có thủy thế thấp dần từ Bắc xuống Nam,
từ hai phía Đông và Tây thấp về giữa, cao độ trung bình là từ +11,0 đến +13,0 Đất phù sa màu mỡ, người dân xã Minh Châu biết tận dụng lợi thế này
để phát triển nông nghiệp, trồng hoa màu Tuy nhiên, cuộc sống người dân Minh Châu còn khó khăn do địa hình ngăn sông cách đò Năm nào Minh Châu cũng mất 2-3 tháng không trồng trọt được vì nước ngập ruộng, đi lại khó khăn và bị cô lập hẳn với bên ngoài chừng ba, bốn tháng do nước lũ của sông dâng cao
Trang 13Hình 1.2: Địa hình ngăn sông cách đò là khó khăn lớn nhất của Minh Châu
1.1.3 Đặc điểm khí hậu, khí tượng
Minh Châu nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng nên cũng chịu ảnh huởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa Mỗi năm có 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9, thời tiết nóng Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, thời tiết giá lạnh do chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc
- Về nhiệt độ: Nhiệt độ không khí thay đổi theo mùa Nhiệt độ trung bình lớn nhất của khu vực tập trung vào tháng 7 và tháng 8 Nhiệt độ trung bình thấp nhất tập trung vào tháng 1 và tháng 2 với biên độ dao động:
Nhiệt độ cao nhất : 41º C
Nhiệt độ trung bình : 23,3º C
Nhiệt độ thấp nhất : 5,5º C
Trang 14- Độ ẩm: Độ ẩm tương đối trung bình các tháng trong năm đều vượt quá 70%, độ ẩm biến đổi ít giữa các tháng
Độ ẩm không khí lớn nhất : 87%
Độ ẩm không khí trung bình : 84%
Độ ẩm không khí nhỏ nhất : 71%
- Bốc hơi: Lượng bốc hơi trung bình tháng lớn nhất của khu vực là tháng
10 đạt 94,5 mm chiếm 11,2% tổng lượng bốc hơi cả năm Lượng bốc hơi trung bình nhỏ nhất là vào tháng 4 đạt 52,9 mm chiếm 6,26% tổng lượng bốc hơi cả năm
Qua phân tích tài liệu bốc hơi cho thấy mô hình bốc hơi ở khu vực chênh lệch nhau không nhiều, tháng có lượng bốc hơi lớn nhất và tháng có lượng bốc hơi nhỏ nhất trung bình nhiều năm chênh lệch nhau 1,79 lần và được thống kê như sau :
Lượng bốc hơi bình quân năm : 743,9 mm
Lượng bốc hơi tháng cao nhất : 84,5 mm
I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII
Trang 15Lượng bốc hơi mặt nước bình quân là 1300m lượng bốc hơi lớn nhất 1361mm và nhỏ nhất là 1170mm Theo số liệu đo bằng ống piches thì lượng bốc hơi cao nhất vào tháng 6, tháng 7 (105mm), thấp nhất vào tháng 1, tháng
2 (55-57 mm), bốc hơi bình quân tháng từ 70-75mm Vào các tháng mùa nóng lượng bốc hơi sẽ mạnh hơn các tháng mùa lạnh
- Lượng mưa: Do khu vực xung quanh đều là sông nên lượng mưa hàng năm là tương đối lớn Lượng mưa trung bình nhiều năm dao động từ 1300mm đến 1500 mm và được phân bố theo mùa Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9 với lượng mưa chiếm 60% tổng lượng mưa cả năm Thời kỳ tập trung mưa là cuối tháng 7, có năm lượng mưa trong tháng 7 chiếm 40% tổng lượng mưa cả năm Vào mùa khô mưa ít, mực nước trên sông thấp gây khó khăn về nguồn nước tưới cho cây trồng
- Gió: Tốc độ gió trung bình từ 1,0 – 1,5 m/s Mùa đông gió tập trung 2 hướng Đông Bắc trôi nửa mùa và Đông Nam trôi từ tháng 2 trở đi, mùa hè gió chủ yếu là Tây Nam sau đó chuyển sang hướng Đông Nam Đông Nam, tốc độ gió trung bình trên 3 m/s
- Đất phù sa ven sông Hồng và bãi sông Hồng, loại đất này được bồi đắp hàng năm nên rất màu mỡ
- Đất phù sa cổ không được bồi, đây là diện tích đất đồng bằng phía trong đê sông Hồng
2 Địa chất
Trang 16Điều kiện địa chất khu vực rất thuận lợi cho việc xây dựng hệ thống công trình, nhất là kiên cố hoá kênh mương do địa chất chủ yếu có cấu tạo thành những lớp như sau:
- Thường lớp trên cùng là tầng đất phong hoá hỗn hợp với đất sét và đất thịt có chiều dày từ 1 ÷ 5 m có lẫn các loại cuội, dăm, sỏi với kích cỡ nhỏ
- Lớp tiếp theo là lớp đất sét và đất trung bình màu vàng xám kết cấu chặt trạng thái từ dẻo cứng tới dẻo mềm với bề dày khoảng gần 1 m
- Lớp thứ ba là hỗn hợp cát, cuội sỏi tròn cạnh chiếm từ 25 ÷ 30% là đất sét có kết cấu rời rạc và thấm nước mạnh, chiều dày của lớp này khoảng 6 m
- Lớp cuối cùng là lớp đất sét nhẹ, mềm yếu, chảy nhão
1.1.5 Đặc điểm thủy văn
Theo tài liệu đo đạc thủy văn nhiều năm, nhìn chung tình hình thủy văn của hệ thống sông Hồng như sau:
- Lưu lượng về mùa lũ tương đối phong phú, hoàn toàn thỏa mãn nhu cầu dùng nước của khu vực
- Vào mùa kiệt, mực nước trong sông xuống thấp, dao động từ +5,0 đến +6,0, lượng nước vẫn dồi dào cho mọi nhu cầu sử dụng nước của xã
- Chất lượng nước sông tương đối tốt có thể dùng để tưới cho các loại cây trồng trong khu vực
1.2 Hiện trạng kinh tế - xã hội và định hướng phát triển
1.2.1 Dân số
Xã Minh Châu chỉ gồm 2 thôn, tổng dân số của xã tính đến năm 2008 là
6.735 người, với mật độ dân số khoảng 1.196 người/kmP
2
P
Vài năm nay tỉ suất sinh thô và sinh con thứ 3 của người dân tăng lên đáng kể Với diện tích và dân số tương đối nhỏ, cùng với điều kiện sinh hoạt khó khăn nên nhiều người
trong độ tuổi lao động là bố mẹ của các em ở xã đảo này phải đi làm thuê ở
xa, buộc phải nhờ người thân trông nom giúp Theo kết quả điều tra hộ nghèo
Trang 17năm 2007, xã Minh Châu hiện vẫn còn 351/1134 hộ nghèo chiếm 31% So với con số trung bình của toàn huyện là 15,4% thì hiện Minh Châu là một trong những xã có tỉ lệ nghèo cao nhất của huyện Ba Vì Do vậy, sự quan tâm đầu tư của các cấp để tạo công ăn việc làm, nâng cao mức thu nhập cho người dân, cải thiện chất lượng cuộc sống của nhân dân trong xã là hết sức cần thiết
1.2.2 Tình hình phát triển kinh tế xã hội
Hội nhập với quá trình phát triển kinh tế của thành phố, huyện trong thời
kỳ đổi mới, kinh tế của xã đã có sự gia tăng đáng kể, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu cây trồng
Năm 2000, nhân dân trong xã đã có nguồn điện thắp sáng Cuộc sống của người dân Minh Châu hiện nay vẫn gạo chợ, nước sông ăn đến đâu, mua đến đấy Người dân thường xuyên phải sống chung với lũ, thế nhưng Minh Châu lại không nằm trong vùng được hưởng sự đầu tư chống lũ Xã Minh Châu hiện vẫn là một trong những xã khó khăn nhất của thành phố Hà Nội
Hệ thống thủy lợi chưa phát triển, mùa màng tưới tiêu đều nhờ vào tự nhiên Các chương trình xã hội như giáo dục, y tế theo chính sách ưu tiên của vùng
lũ, cũng chưa được phê duyệt, nên mưa xuống, cả bãi ngập úng mà bệnh xá chỉ là nhà cấp 4, trang thiết bị đầu tư cho khám chữa bệnh còn thiếu
Trang 18- Cây đậu đen trồng xen là 70 ha, năng suất bình quân đạt 9,7 tạ/ha = 67,9 tấn,
- Cây rau các loại là 31 ha, đạt 2 tỷ đồng
- Cà chua là 30 ha, đạt 1440 triệu đồng
- Cây ớt là 30 ha, đạt 1040 triệu đồng
Trang 19b Chăn nuôi
Theo số liệu thống kê tính đến 1/10/2009, tổng đàn bò của xã là 2424 con, trong đó bò cái sinh sản có 1450 con Tổng đàn lợn là 3823 con, trong đó đàn lợn lái sinh sản có 419 con, đàn gia cầm có 18914 con
Chất lượng con giống ngày càng được nhân dân quan tâm Công tác tổ chức tiêm phòng dịch đã vận động nhân dân làm tốt công tác vệ sinh môi
trường, chuồng trại chăn nuôi, phun thuốc khử trùng tiêu độc bằng hoá chất sinh học và vôi bột để phòng, dập nguy cơ bùng phát dịch trong toàn xã Tổ chức tiêm phòng bệnh tụ huyết trùng cho đàn bò 2 đợt được 1694/2424 con Tiêm phòng bệnh dại cho đàn chó được 776 con Tuyên truyền ứng dụng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo, thụ tinh giống bò thịt cao sản cho 120 con và đã có 30 con bê sinh ra, phát triển tốt
37T
2 Hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp
Từ năm 2009, hợp tác xã nông nghiệp đã phối hợp với các đoàn thể mở hội nghị tập huấn về khoa học kỹ thuật 5 lần, có 470 lượt người tham gia;
phối hợp với trạm bảo vệ thực vật Ba Vì mở lớp tập huấn kỹ thuật trồng rau
an toàn với 30 học viên tham gia Sửa chữa thường xuyên lưới điện đảm bảo
an toàn ổn định điện năng Lập kế hoạch di chuyển cột diện đảm bảo an toàn giao thông và thay thế 200m dây bọc trạm 3, tổ chức kiểm định toàn thể công
tơ của hộ sử dụng điện trong toàn xã
Trang 20Xây nối 5 tuyến cống trên trục đường Tây Ninh, chuyển hàng ngàn khối đất đào mương tiêu xóm huyện cạp đường mở rộng trên tuyến trục Tây Ninh
Cả xã chỉ có một con đường duy nhất để giao lưu với bên ngoài là qua bến đò ngang trên sông Hồng Giao thông bất lợi đã kìm hãm rất nhiều sự phát triển của xã Minh Châu cả về kinh tế và xã hội Với điều kiện địa hình bất lợi, nhân dân xã Minh Châu đang có yêu cầu xây dựng một cây cầu bắc qua sông để việc đi lại thuận tiện, công việc làm ăn buôn bán dễ dàng hơn để
nền kinh tế dần được phát triển
b Thủy lợi
Công trình thủy lợi của xã chủ yếu là mương đất và cống tiêu thoát úng
Hệ thống phục vụ tưới, tiêu cho sản xuất nông nghiệp chưa hoàn chỉnh, còn thiếu khá nhiều, sản xuất nông nghiệp vẫn phụ thuộc vào thiên nhiên, chi phí trong tưới tiêu vẫn chủ yếu là bằng sức lao động
37T
4 Công tác xây dựng cơ bản
Toàn xã đã hoàn thiện được nhiều nhà văn hóa của các thôn Trường tiểu học đã được đưa vào sử dụng Hoàn thiện các công trình phụ trợ của trụ sở UBND xã Các công trình xây dựng đều thành lập ban giám sát để đảm bảo tiến độ thời gian và chất lượng công trình
37T
5 Giáo dục - Văn hóa xã hội
Hiện tại, toàn xã có một trường mầm non, một trường tiểu học và trung học cơ sở Nhìn chung hệ thống các phòng chức năng còn thiếu thốn nhiều Công tác truyền thanh được thực hiện khá tốt, kịp thời tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước, tuyên truyền kịp thời để khắc phục được các sự cố xảy ra
Phong trào văn hóa, văn nghệ cũng được quan tâm Xã đã đón các đoàn nghệ thuật thành phố về biểu diễn hai tối miễn phí
Trang 21Công tác xây dựng gia đình văn hóa đã xét duyệt 878 hộ gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa
1.2.3 Định hướng phát triển kinh tế xã hội
Mặc dù đã có nhiều đổi mới trong đời sống xã hội của người dân, song
xã Minh Châu vẫn là một xã nghèo của huyện Ba Vì Để đảm bảo phát triển kinh tế, dựa vào tiềm năng vốn có của xã cần tập trung phát triển ngành nông nghiệp theo hướng đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng, từng bước chuyển sang sản xuất hàng hóa gắn với thị trường tiêu thụ
Đảm bảo gieo trồng hết diện tích, khẩn trương xác minh đất tân bồi để giao sản xuất kịp thời vụ Tập trung chăm sóc các loại cây rau, ớt, cà chua, cà ghém, xen canh gối vụ các loại đậu Chuẩn bị giống có năng suất cao kịp thời phục vụ gieo trồng Thường xuyên theo dõi diễn biến của thời tiết trên các phương tiện thông tin đại chúng để điều chỉnh hợp lý lịch gieo trồng đúng thời vụ, đạt năng suất cao Tổ chức diệt chuột trước khi gieo trồng cây màu Tuyên truyền, vận động, tổ chức thực hiện tiêm phòng gia súc, gia cầm, không để dịch bệnh xảy ra
Chỉ đạo các khu dân cư nạo vét mương tiêu thoát úng trước mùa mưa bão, đảm bảo cho sản xuất vụ đông Vận động nhân dân đóng góp xây dựng rãnh thoát nước Đề nghị UBND huyện Ba Vì, các ngành chức năng tạo điều kiện đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng của toàn xã
1.3 Tình hình sản xuất rau của xã Minh Châu
Sản xuất rau màu là công việc mà nhân dân xã Minh Châu đã làm từ nhiều năm nay Do đó, các vùng trồng rau đều được quy hoạch thuận tiện cho việc chăm sóc, vận chuyển Về chủng loại rau ở xã Minh Châu gồm có: Cải bắp, su hào, củ cải, cây ớt, cà chua, cà ghém, rau bí và các loại rau khác
Hiệu quả kinh tế của sản xuất rau đang được người dân của xã quan tâm
và có kế hoạch chuyên canh trồng rau Sản xuất rau của khu vực đã được quy
Trang 22hoạch phát triển thành vùng rau chuyên canh của huyện và nằm trong quy hoạch phát triển sản xuất RAT của thành phố Hà Nội
Phương thức sản xuất rau của thị trấn được tiến hành theo truyền thống, sản phẩm được tiêu thụ ở các thị trường tự do như chợ Phủ, chợ Đông Viên, chợ Sơn Tây, Hà Nội, Vĩnh Phú…
Sản xuất rau của thị trấn do xã viên chủ động về giống, phân bón, hóa chất và thuốc bảo vệ thực vật…nên phương thức sản xuất luôn bị động theo thời vụ, chi phối của thị trường tiêu thụ và khả năng của từng hộ xã viên Trình độ thâm canh vùng rau của các xã viên không đồng đều, các loại rau cao cấp có giá trị kinh tế cao vẫn chưa được đưa vào sản xuất
Thực tiễn sản xuất rau được thực hiện 4 vụ trong một năm với tổng sản lượng 13,6 tấn/sào/năm ( 376 tấn/ha/năm) Bình quân thu nhập một năm trên
1 ha trồng rau là 174 triệu đồng, thu lãi khoảng 106 triệu đồng/ha
Công tác quản lý, chỉ đạo sản xuất rau của Đảng ủy, UBND xã mới triển khai ở mức độ tuyên truyền nhận thức về sản xuất rau an toàn, cán bộ phòng
NN & PTNT và trạm khuyến nông huyện đã mở được một số lớp hướng dẫn cho bà con về kỹ thuật sản suất rau và sử dụng phân bón, hoá chất Tuy nhiên, công tác quản lý về thời vụ, giống rau, bón phân, tưới nước, sơ chế và tiêu thụ, trình diễn các các kỹ thuật và mô hình sản xuất rau tiên tiến hầu như chưa
có
Nhìn chung, người sản xuất rau vẫn phải tự cung tự cấp và tự tiêu thụ Vì thế, việc sản xuất và tiêu thụ rau xanh của thị trấn còn gặp nhiều khó khăn, người sản xuất thiếu thông tin về thị trường, hiểu biết về hiệu quả lâu dài của việc sản xuất rau an toàn, thu nhập thực tế không cao đúng với giá trị thực của mặt hàng rau xanh trên thị trường của thành phố Nhiều khó khăn về quản lý
và chỉ đạo sản xuất vượt khỏi khả năng của thị trấn và huyện
Trang 23CHƯƠNG 2
YÊU CẦU ĐỐI VỚI VÙNG SẢN XUẤT RAU AN TOÀN
2.1 Yê u cầu kỹ thuật về quy trình sản xuất rau an toàn
Theo Quyết định số 99/2008/QĐ-BNN ngày 15/10/2008 của Bộ Nông nghiệp & PTNT ban hành quy định quản lý sản xuất, kinh doanh rau, quả và chè an toàn: Rau, quả an toàn là sản phẩm rau, quả tươi được sản xuất, sơ chế phù hợp với các quy định về đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm có trong VietGAP (Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho rau, quả tươi an toàn tại Việt Nam) hoặc các tiêu chuẩn GAP khác tương đương VietGAP và mẫu điển hình đạt chỉ tiêu an toàn thực phẩm
2.1.1 Đất trồng và giá thể
Vùng đất trồng rau an toàn phải trong quy hoạch được Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố phê duyệt Không bị ảnh hưởng trực tiếp các chất thải công nghiệp, chất thải sinh hoạt từ các khu dân cư, bệnh viện, các lò giết mổ gia súc tập trung, nghĩa trang, đường giao thông lớn
Hàm lượng một số kim loại nặng trong đất, giá thể trước khi sản xuất và trong quá trình sản xuất (kiểm tra khi thấy có nguy cơ gây ô nhiễm) không vượt quá ngưỡng cho phép nêu tại bảng 2.1
Bảng 2.1: Mức giới hạn tối đa cho phép của một số kim loại nặng trong đất
(Ban hành kèm theo Quyết định số 99/2008/QĐ-BNN ngày 15/10/2008
của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)
TT Nguyên tố Mức giới hạn tối đa cho phép
Trang 24TT Nguyên tố Mức giới hạn tối đa cho phép
Hàm lượng một số hoá chất và kim loại nặng trong nước tưới trước khi sản xuất và trong quá trình sản xuất (kiểm tra khi thấy có nguy cơ gây ô nhiễm) không vượt quá ngưỡng cho phép nêu tại bảng 2.2
Bảng 2.2 : Mức giới hạn tối đa cho phép của 1 số KL nặng trong nước tưới
(Ban hành kèm theo Quyết định số 99/2008/QĐ-BNN ngày 15/10/2008
của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)
TT Nguyên tố Mức giới hạn tối đa cho phép
* Có thể sử dụng phương pháp thử khác có độ chính xác tương đương
Nước sử dụng trong sản xuất rau mầm phải đạt tiêu chuẩn nước sinh hoạt cho người
2.1.3 Giống
Chọn giống có chất lượng tốt và sức chống chịu sâu bệnh cao, ít bị nhiễm sâu bệnh và trồng cây con khoẻ mạnh, không có mầm bệnh Phải biết
Trang 25rõ lý lịch nơi sản xuất hạt giống Hạt giống nhập nội phải qua kiểm dịch thực vật Nên xử lý sâu bệnh trên cây con giống trước khi gieo trồng
2.1.4 Phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật
Bón phân theo đúng quy trình hướng dẫn đối với từng chủng loại cây và từng giống khác nhau Ưu tiên bón đủ lượng phân hữu cơ, đảm bảo bón cân đối nhóm phân đa lượng N, P, K Đảm bảo nghiêm ngặt thời gian cách ly với lần bón cuối cùng, nhất là đối với phân đạm
Bảng 2.3: Mức giới hạn tối đa cho phép của một số vi sinh vật và hoá chất
gây hại trong sản phẩm rau, quả, chè
(Ban hành kèm theo Quyết định số 99/2008/QĐ-BNN ngày 15/10/2008
của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)
7 Đậu ăn quả, Măng tây, Ớt ngọt 200
II Vi sinh vật gây hại
(quy định cho rau, quả) CFU/g **
Trang 26TT Chỉ tiêu Mức giới hạn tối đa
cho phép Phương pháp thử*
TCVN 6848:2007
III Hàm lượng kim loại nặng
(quy định cho rau, quả, chè) mg/kg
- Rau ăn lá, rau thơm, nấm 0,1
- Rau ăn thân, rau ăn củ, khoai tây 0,2
IV Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật
(quy định cho rau, quả, chè)
Bộ Y tế
Theo TCVN hoặc ISO, CODEX tương ứng
2
Những hóa chất không có trong
Quyết định 46/2007/QĐ-BYT ngày
Trang 27** Tính trên 25 g đối với Salmonella
2.1.5 Chăm sóc, thu hoạch, bảo quản, sơ chế
37T
1 Chăm sóc
Trồng cây với mật độ thích hợp theo qui trình để tạo độ thông thoáng cần thiết cho ruộng rau, hạn chế sâu bệnh phát sinh, nếu có điều kiện thì trồng xen (ví dụ bắp cải xen cà chua) sẽ có tác dụng hạn chế mật độ sâu hại
Trong các đợt bón thúc, làm cỏ cần kết hợp bắt sâu, vơ tỉa lá già, lá bệnh tạo cho ruộng rau thông thoáng, hạn chế sâu bệnh
Áp dụng các biện pháp phòng trừ sâu bệnh hợp lý tùy theo thời vụ, giai
đoạn sinh trưởng của rau và tình hình sâu bệnh phát sinh
37T
2 Thu hoạch
Thu hoạch là khâu quan trọng không chỉ đảm bảo chất lượng, mẫu mã rau mà còn liên quan tới an toàn vệ sinh thực phẩm, nhất là để tránh nhiễm vi sinh vật tồn dư trên bề mặt rau
Việc thu hoạch phải được đảm bảo về những tiêu chuẩn kỹ thuật như đủ thời gian cách ly, có đủ độ chín sinh lý,
Độ chín sinh lý: Là thời gian rau đạt tối đa cả về khối lượng lẫn chất lượng Nếu thu hoạch muộn thì rau sẽ bị già có xơ, dinh dưỡng giảm, giá thành hạ Nếu thu hoạch quá sớm thì năng suất giảm, người sản xuất bị thiệt
3 Bảo quản
Trang 28Trước khi thu hoạch 1 ngày nên tưới rửa rau trên ruộng Sau khi thu hoạch, nên xử lý sơ bộ rau trước khi vận chuyển đến nơi sơ chế:
- Rau ăn lá: cắt rễ, cắt bỏ lá già, lá bệnh, rửa đất bụi còn bám trên rau, tiến hành phân loại
- Rau ăn quả, ăn củ: loại bỏ quả già, quả bệnh, phân loại
Vận chuyển rau về nơi tập kết sơ chế phải được thực hiện trong thời gian ngắn nhất, nên sử dụng các dụng cụ vận chuyển (thùng, hộp carton,…) được lót bao mềm Khi xếp rau cần xếp rau thành từng lớp, xếp chặt để tránh rau tổn thương Phân loại rau dựa trên một số chỉ tiêu như độ đồng đều về kích thước, màu sắc, độ non già,…
Chú ý: Không dùng hoá chất độc hại để ngâm tẩm, bảo quản rau, quả trong quá trình thu hoạch và sơ chế
4 37TSơ chế
Sơ chế RAT cần đáp ứng được các điều kiện sau đây:
- Nhân lực phải đáp ứng các điều kiện và được kiểm tra sức khỏe định
kỳ, đảm bảo không mắc các bệnh truyền nhiễm theo quy định hiện hành của
Bộ Y tế
- Có địa điểm, nhà xưởng, dụng cụ sơ chế, bao gói sản phẩm, phương tiện vận chuyển đảm bảo các điều kiện về vệ sinh an toàn thực phẩm theo VietGAP
- Nước dùng rửa rau, quả phải đạt tiêu chuẩn theo Quyết định số 1329/2002/QĐ-BYT ngày 18 tháng 4 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Y tế về
việc ban hành tiêu chuẩn vệ sinh nước ăn uống
- Nhà sản xuất phải cam kết đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và có hồ
sơ ghi chép toàn bộ quá trình sơ chế theo VietGAP
Trang 292.2 Lựa chọn kỹ thuật tưới thích hợp cho vùng sản xuất RAT
Dựa theo phương thức dẫn nước và phân phối nước, có thể chia ra các phương pháp tưới sau:
2.2.1 Tưới mặt
Tưới mặt được xem là một trong các phương pháp tưới cổ điển đã được
áp dụng từ lâu đời Tưới mặt là biện pháp kỹ thuật dùng các đường dẫn tự nhiên (sông, rạch) hay nhân tạo (kênh, mương, rãnh) để đưa nước vào ruộng
và ngấm vào đất cung cấp cho cây trồng Tưới mặt đất có thể chia thành 3 phương thức tưới là tưới ngập, tưới dải và tưới rãnh
37T
1 Tưới ngập
Tưới ngập là phương thức cung cấp nước cho một vùng đất có bờ bao chung quanh nhằm duy trì một lớp nước trên mặt đất trong một thời gian nhất định (trong thời kỳ sinh trưởng nào đó của cây trồng) Tưới ngập nếu thực hiện tốt có thể hạn chế cỏ dại trong ruộng, làm giảm nồng độ các độc tố trong đất và góp phần điều hòa vi khí hậu khu vực Hạn chế của kỹ thuật tưới này là chỉ được áp dụng cho những cây trồng có khả năng sinh trưởng trong môi trường ngập nước, để nước tưới đồng đều trên ruộng hình thức này yêu cầu tốn nhiều nhân lực cho công tác mặt ruộng Ngoài ra, hệ thống tưới phải được xây dựng đồng bộ, nguồn nước tưới dồi dào, và tưới ngập có diện tích chiếm đất cao để xây đường bờ, mương, máng dẫn nước
Trang 30cho máy móc canh tác trên đồng ruộng Hệ thống tưới chỉ áp dụng cho một số loại cây trồng và thường kết hợp với yêu cầu kỹ thuật làm đất và cây trồng Khu tưới đòi hỏi phải có hệ thống tiêu hoàn chỉnh
37T
3 Tưới rãnh
Tưới rãnh thường áp dụng cho các cây trồng cạn hoặc cây ăn trái Rãnh
là các đường trũng hẹp, đào xen kẽ với các luống và chạy song song với nhau Nước được đưa vào các rãnh thấm dần hai bên cho cây trồng Ưu điểm của phương pháp này là tiết kiệm nước hơn tưới ngập và tưới dải, giảm được lượng tổn thất do bốc hơi nên hiệu quả tưới cao hơn Phương pháp này có thể
áp dụng cho nhiều loại đất khác nhau, không gây xói mòn đất và không làm chèn chặt đất Nước đi vào cây qua hệ thống rễ, không làm ướt lá nên có thể tránh được một số bênh cho cây Tuy nhiên phương thức tưới này tiêu tốn nhân lực để chuẩn bị đất làm rãnh, người quản lý phải biết kiểm soát mực nước vừa phải
Hạn chế của phương pháp này là phức tạp trong quản ký vận hành, bảo dưỡng rất phức tạp Vốn đầu tư ban đầu khá cao, không có khả năng cải tạo vi khí hậu, không thích hợp với vùng đất nhẹ và đất mặn, chua Các rễ cây có thể gây tắc các ống thoát nước trên ống tưới
Trang 31Tưới ngầm có thể áp dụng trong các trường hợp nguồn nước quý hiếm, khó khai thác, điều kiện khí hậu khô hạn, lại có gió lớn, đất cần có khả năng mao dẫn tốt, đất thịt, thịt pha cát, áp dụng cho quy mô khu tưới nhỏ
2.2.3 Tưới nhỏ giọt
Tưới nhỏ giọt là hình thức tưới qua đường ống đặt sát mặt đất, có gắn các vòi nhỏ giọt Nước được nhỏ ra từng giọt đều đặn với lưu lượng có kiểm soát (vài lít/giờ) để cung cáp cho bộ rễ cây trồng
Tưới nhỏ giọt có ưu điểm chính là tiết kiệm nước (ít hơn các phương pháp khác khoảng 30% lượng nước tưới), hiệu suất tưới có thể trên 90% Diện tích sử dụng để lắp đặt hệ thống rất nhỏ so với diện tích tưới Đảm bảo phân bố độ ẩm đều trong tầng đất canh tác, không ảnh hưởng đến cấu tạo, phá
vỡ kết cấu đất, không tạo váng nước đọng trên mặt đất Tiết kiệm nước tối đa, giảm tối thiểu tổn thất do bốc hơi, thấm Có thể kết hợp với các khâu canh tác khác như phun thuốc trừ sâu, bón phân hóa học, ngoài ra góp phần ngăn ngừa
cỏ dại, sâu bệnh, trách tác động trực tiếp của hóa chất lên thân, lá, quả của cây trồng
Ngoài những ưu điểm trên, hình thức này có nhược điểm là: Dễ bị tắc tại các vòi tạo giọt, đòi hỏi nước phải qua xử lý và thiết bị cần bảo dưỡng thường xuyên tránh làm gián đoạn khi tưới Không có khả năng tưới làm mát cây, cải tạo vi khí hậu Vốn đầu tư ban đầu lớn, đòi hỏi người vận hành phải có kỹ thuật Nhiều nơi khó áp dụng phương pháp này do bị chuột và một số loài gặm nhấm khác phá hoại
2.2.4 Tưới phun mưa
Tưới phun mưa là hình thức đưa nước tưới lên cao khỏi mặt đất và để nước rơi tự do xuống kiểu mưa rơi Hình thức này có thể áp dụng cho hầu hết các loại đất khác nhau hoặc các địa hình từ bằng phẳng đến thay đổi phức tạp
Trang 32nơi mà các hình thức tưới mặt đất khác khó áp dụng hoặc áp dụng không hiệu quả
Tưới phun mưa có ưu điểm chính là tiết kiệm được nhiều lượng nước tưới (40% - 50% lượng nước so với tưới ngập thông thường), các tổn thất do thấm sâu và chảy tràn được giảm thiểu đáng kể Do vậy hiệu quả sử dụng nước tưới là cao Phương pháp tưới này có thể áp dụng cho mọi địa hình cao thấp khác nhau, không cần phải làm phẳng mặt ruộng Tưới phun còn giảm thiểu chi phí xây dựng kênh mương nội đồng, do vậy có thể gia tăng diện tích canh tác Cách tưới này có thể kết hợp với việc bón phân và phòng trừ sâu bệnh bằng cách hòa tan các chất này vào nước Tưới phun mưa còn tạo cảnh quan đẹp, góp phần gia tăng độ ẩm và giảm nhiệt độ không khí khu vực
Nhược điểm của kỹ thuật tưới này là chi phí lắp đặt thiết bị tưới ban đầu lớn Người vận hành hệ thống phải có kỹ thuật điều khiển hoạt động Hệ thống phải thường xuyên được theo dõi, điều chỉnh tốc độ phun hoặc di chuyển theo hướng gió Nước cấp cho tưới phun phải qua xử lý để tránh tắc nghẽn
Tưới phun mưa đang có xu hướng được áp dụng rộng rãi cho các địa hình phức tạp, đất có tính thấm nhỏ đến vừa, đặc biệt là rất thích hợp với các loại cây trồng cạn có giá trị như vườn ươm, cây trong nhà kính, các loại hoa, cây ăn quả, một số cây công nghiệp, hình thức tưới này được lựa chọn để áp dụng trong kỹ thuật canh tác RAT
Trang 33CHƯƠNG 3
BỐ TRÍ THIẾT KẾ HỆ THỐNG TƯỚI CHO VÙNG RAT
3.1 Nguồn nước tưới
Nguồn nước chủ yếu cung cấp cho cây trồng tại xã Minh Châu phần lớn
là nước mưa Do đó, để đảm bảo tưới ổn định và lâu dài, nguồn nước được lựa chọn để tưới là nước ngầm Hiện nay, tại Minh Châu tổng số giếng đào, lỗ khoan của dân đang khai thác là 20 điểm Trong đó, số giếng đào là 5 giếng,
số giếng khoan là 15 giếng, khai thác lớn dạng công nghiệp không có giếng nào Nguồn nước đang sử dụng cho ăn uống, sinh hoạt và sản xuất chủ yếu là nước dưới đất
Qua kết quả khảo sát sơ bộ, chất lượng nước dưới đất trong khu vực xã Minh Châu không tàng trữ các hàm lượng kim loại nặng gây ảnh hưởng tới sức khỏe con người Việc xây dựng giếng khai thác cấp nước tưới cho khu sản xuất RAT là hoàn toàn khả thi Đảm bảo khai thác bền vững và lâu dài
3.2 Bố trí cơ sở hạ tầng vùng sản xuất RAT
Nhiệm vụ của khu vực chuyên canh RAT là xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật cơ bản cho khu chuyên canh 40 ha để sản xuất rau Bên cạnh yêu cầu cung cấp nước tưới đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng theo quy định về sản xuất RAT, cần chú trọng nhiệm vụ tiêu nước thuận lợi để không làm ảnh hưởng đến chất lượng rau và các hộ dân xung quanh khu vực, bố trí khu nhà lưới để
sản xuất giống, sản xuất thử nghiệm và quảng bá các giống rau cao cấp trước khi nhân rộng, khu sơ chế sản phẩm và bảo quản RAT, khu thu gom và xử lý môi trường
Tổng diện tích đất vùng sản xuất RAT gồm 44 ha Trong đó:
- Khu nhà lưới làm nơi sản xuất mẫu và quảng bá sản phẩm là 2 ha
- Khu chuyên canh trồng RAT là 40 ha
Trang 34- Diện tích dành cho xây dựng cơ sở hạ tầng là 2 ha bao gồm các hệ thống: giếng khoan, trạm bơm, kênh tiêu, đường giao thông…
- Các hạng mục công trình chủ yếu gồm:
+ Cụm công trình đầu mối: Giếng khoan, tháp trộn oxy, bể chứa + Đường giao thông nội đồng
+ Hệ thống tiêu thoát nước
+ Hệ thống đường dây điện hạ thế 0,4KV phục vụ máy bơm và chiếu sáng + Hệ thống mạng lưới đường ống phân phối và ống tưới
+ Nhà lưới
+ Nhà sơ chế và bảo quản
+ Hệ thống thu gom và xử lý môi trường
Toàn bộ diện tích sản xuất RAT rộng khoảng 44 ha và được chia thành 3 khu ruộng tách biệt nhau Căn cứ vào cơ sở hạ tầng và điều kiện sản xuất, mỗi khu ruộng lại được chia thành nhiều lô nhỏ Sơ đồ bố trí mặt bằng khu chuyên canh RAT được trình bày ở hình 3.1, 3.2, 3.3
Trang 36Đường đất
Đường
Bê Tông
Đường đất
Đường đất
Đường đất
ường đất
Lô Tưới 4
Lô Tưới 5
Đ
ường đất
Đ
ường đất
Hỡnh 3.2: Sơ đồ bố trớ mặt bằng khu tưới thứ hai
Trang 37Đường
bê tông
Đường bê tông Ao
M
ươn g
M
ươn g Mương
Đ
ường
bê tô ng
M
ươn g
Lô Tưới 6
Lô Tưới 7
Lô Tưới 8
Hỡnh 3.3: Sơ đồ bố trớ mặt bằng khu tưới thứ ba
Trang 38Để có rau thu hoạch liên tục cần bố trí cơ cấu mùa vụ thích hợp, từng bước đưa các giống mới vào để rải vụ, xen canh, gối vụ thậm chí có thể trồng trái vụ nhằm tăng sản lượng rau Tuy nhiên, việc luân canh phải chú ý tới các cây khác họ, khác chủng loại sâu bệnh
Chủng loại RAT ở xã Minh Châu trong giai đoạn trước mắt vẫn tập trung vào các loại rau truyền thống với các giống có năng suất cao, phù hợp với tập quán canh tác của người dân, có thị trường tiêu thụ rộng Nhóm rau ăn
lá vẫn chiếm vai trò chủ đạo, gồm các loại rau chính: cải bắp, cải thảo, cải xanh ; nhóm rau ăn quả: mướp đắng, đậu các loại , nhóm rau quả chất lượng cao: cải bó xôi, súp lơ
3.3 Tính toán nhu cầu nước
3.3.1 Mức tưới cho rau
Vùng sản xuất chuyên canh các loại rau nên có nhu cầu nước gần tương
tự như nhau Từ đó, ta có thể tính đại diện chế độ tưới cho cây rau bắp cải ở
vụ Đông Xuân Vì cây bắp cải là cây rau lấy thân và lá nên có nhu cầu nước tương đối lớn, khi đó hệ thống đáp ứng được nhu cầu nước cho cây bắp cải thì
sẽ đáp ứng được nhu cầu nước của các cây rau khác Đồng thời, trong năm thì
vụ Đông Xuân có nhu cầu nước lớn hơn cả vì thời kỳ này mưa ít, khí hậu khô hanh
Cở sở để tính toán chế độ tưới cho cây rau là dựa trên phương trình cân bằng nước mặt ruộng, có dạng:
Trang 39) 2 3 (
4 , 86
WR 0i R : lượng nước sẵn có trong đất đầu thời đoạn tính toán
∑PR 0i R: lượng nước mà cây trồng sử dụng được trong thời đoạn tính toán
∆WR i R: lượng nước mà cây trồng sử dụng thêm trong thời đoạn tính toán Khi tính toán hệ số tưới ta coi như toàn bộ diện tích khu vực chỉ gieo trồng một giống cây bắp cải và tính toán cho hai vụ gieo trồng khó khăn về nước nhất là vụ Đông và vụ Xuân Từ đó ta chọn hệ số tưới có trị số lớn nhất làm hê số tưới thiết kế Ta có công thức xác định hệ số tưới :
Trong đó:
α : Hệ số diện tích cây trồng (ở đây lấy α = 1)
q : hệ số tưới của cây trồng (l/s-ha)
m: mức tưới của cây trồng (mP
3
P
/ha)
t : thời gian tưới của cây trồng (ngày)
Ứng dụng phần mềm Cropwat 8.0 để tính toán mức tưới cho cây bắp cải Các
số liệu đầu vào gồm có: số liệu về khí tượng, mưa, cây trồng, đất canh tác
1 Số liệu khí tượng:
Tài liệu khí tượng lấy tại trạm Sơn Tây, liệt tài liệu lấy trong 25 năm từ năm 1986 đến năm 2010 do Trung tâm Tư liệu khí tượng thủy văn cung cấp, bao gồm các tài liệu: nhiệt độ không khí trung bình ngày của các tháng, độ ẩm không khí tương đối trung bình, số giờ nắng, tốc độ gió
2 Số liệu mưa:
Tài liệu mưa lấy ở trạm trạm Sơn Tây, liệt tài liệu lấy trong 25 năm từ năm 1986 đến năm 2010 do Trung tâm Tư liệu khí tượng thủy văn cung cấp nên có độ tin cậy cao Trên cơ sở liệt tài liệu này tính toán thủy văn để xác định mô hình mưa tưới thiết kế
Trang 40Căn cứ TCXDVN 285 – 2002 ứng với nhiệm vụ tưới ruộng trồng rau thì tần suất thiết kế là PR TK R = 85%
Căn cứ vào đặc điểm khí hậu, và thời vụ của các loại rau thì thời đoạn
tính toán như sau:
- Vụ Đông Xuân từ tháng 12 đến tháng giữa tháng 3
- Vụ Hè Thu từ giữa tháng 3 đến tháng 8
Ứng dụng phần mềm tính toán thủy văn “TSTV – 2002” của tác giả Đặng Duy Hiển – Cục quản lý tài nguyên nước và công trình Thủy lợi để tính toán, xác định lượng mưa thiết kế của từng vụ
Áp dụng phương pháp năm điển hình để thu phóng mô hình mưa vụ của năm điển hình về mô hình mưa vụ thiết kế
Tính toán tần suất kinh nghiệm và tần suất lý luận ứng với từng thời vụ
Từ đó vẽ đường tần suất lý luận tương ứng với các thời vụ canh tác
Sau khi xác định được các thông số thống kê X, CRVR, CRSR,R Rchọn năm điển hình ứng với từng thời vụ Tiến hành thu phóng và xác định được mô hình mưa thiết kế của từng thời vụ
Chọn vụ Đông Xuân để tính toán nhu cầu nước của cây bắp cải vì trong năm thì vụ Đông Xuân có nhu cầu nước lớn hơn cả do thời kỳ này mưa ít, khí hậu khô hanh
3 Số liệu cây trồng:
Hệ số cây trồng (KR c R) và hệ số nhạy cảm nước (KR y R) của cây rau: do chưa
có số liệu nghiên cứu ở nước ta nên trong luận văn tham khảo kết quả nghiên cứu của FAO ở vùng Đông Nam châu Á
4 Số liệu đất canh tác: