Chính sách đào tạo nguồn nhân lực có chuyên môn về môi trường chưa được quan tâm nhiều, do tổ chức của UBND phường xã không có biên chế riêng cho công tác này mà do cán bộ địa chính kiêm
Trang 1NGUYỄN THỊ XUÂN THỦY
NGHIÊN CỨU CƠ CHẾ HỖ TRỢ CÁC HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT
Ở NÔNG THÔN: ÁP DỤNG CHO XÃ GIAO AN - HUYỆN GIAO THỦY - TỈNH NAM ĐỊNH
Chuyên ngành : Kinh tế tài nguyên thiên nhiên và môi trường
Trang 2Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung
thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 12 tháng 03 năm 2012
TÁC GIẢ
Nguy ễn Thị Xuân Thuỷ
Trang 3ời gian nghiên cứu, đến nay luận văn thạc sĩ kinh tế môi trường “ Nghiên
Thanh Hương (Viện Nước, Tưới tiêu và Môi trường - Viện Khoa học Thủy lợi Việt
và Môi trường đã tận tình giảng dạy, truyền đạt những kiến thức chuyên môn quý
Hà Nội, tháng 3 năm 2012
TÁC GIẢ
Nguy ễn Thị Xuân Thủy
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của Đề tài: 1
2 Mục tiêu của Đề tài: 2
3 Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 2
3 1 Đối tượng nghiên cứu 2
3 2 Cách tiếp cận: 2
3.3 Phương pháp nghiên cứu: 2
3.4 Phạm vi nghiên cứu: 3
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
4.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài 3
4.2 Ý nghĩa thực tiền của đề tài 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT NÔNG THÔN VÀ CƠ CHẾ HỖ TRỢ HOẠT ĐỘNGQUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN 4
1.1 THÀNH PHẦN VÀ KHỐI LƯỢNG CHẤT THẢI RẮN SHNT 4
1.1.1 Thành phần chất thải rắn 4
1.1.2 Khối lượng 4
1.2 HÌNH THỨC TỔ CHỨC QUẢN LÝ VÀ NĂNG LỰC QUẢN LÝ 4
1.3 TỔ CHỨC DỊCH VỤ CHO CÔNG TÁC QUẢN LÝ 10
1.4 CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH VỀ QUẢN LÝ VÀ HỖ TRỢ 12
1.4.1 Tổng quan cơ chế chính sách về quản lý chất thải rắn SH ở nước ngoài 12 1.4.2 Tổng quan các chính sách quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở Việt Nam 14 1.5 CÔNG NGHỆ VÀ KỸ THUẬT PHỤC VỤ CÔNG TÁC QUẢN LÝ 17
1.5.1 Công nghệ và kỹ thuật xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên thế giới 17
1.5.2 Công nghệ và kỹ thuật xử lý chất thải rắn sinh hoạt ở Việt Nam 20
1.6 SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG QUẢN LÝ 24
1.6.1 Sự tham gia của cộng đồng trong quản lý CTRSH ở nước ngoài 24
Trang 51.7 ĐÁNH GIÁ CÁC KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VÀ NGUYÊN NHÂN CỦA
NHỮNG TỒN TẠI TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH
HOẠT Ở NÔNG THÔN 27
1.7.1 Đánh giá những kết quả đã đạt được của công tác quản lý 27
1.7.2 Đánh giá những tồn tại và nguyên nhân những vấn đề chưa làm được 28 1.8 BÀI HỌC CỦA CÁC NƯỚC VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT Ở NÔNG THÔN 29
1.8.1 Ưu nhược điểm, tác động của các chính sách đến công tác quản lý 29
1.8.2.Rút ra những bài học kinh nghiệm đối với công tác QLCTRNT VN 31
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 32
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN 33
SINH HOẠT Ở XÃ GIAO AN – HUYỆN GIAO THỦY – TỈNH NAM ĐỊNH 33
2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ VÀ XÃ HỘI Ở KHU VỰC NC 33
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 33
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 33
2.2 HÌNH THỨC TỔ CHỨC QUẢN LÝ VÀ NĂNG LỰC QLCTRSH Ở XÃ GIAO AN 37
2.3 TỔ CHỨC DỊCH VỤ CHO CÔNG TÁC QUẢN LÝ CTRSH NT 37
2.3.1 Cơ cấu tổ chức 37
2.3.2 Các chế độ của người thu gom rác 38
2.3.3 Cơ sở vật chất phục vụ thu gom rác thải 39
2.3.4 Trang thiết bị 39
2.3.5 Kết quả hoạt động của tổ chức dịch vụ 40
2.4 SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG QUẢN LÝ CTRSHNT 41
2.5 GIẢI PHÁP CÔNG NGHỆ, KỸ THUẬT ÁP DỤNG ĐỂ QL CTRSHNT 42
2.5.1 Thu gom và quản lý chất thải rắn sinh hoạt xã Giao An 42
2.5.2 Công nghệ và kỹ thuật xử lý chất thải rắn sinh hoạt xã Giao An 43
2.5.2.1 Mặt bằng bãi chôn lấp rác 44
Trang 6Ử LÝ RÁC THẢI SHTRÊN ĐỊA BÀN 48
2.7.1 Khối lượng rác thải sinh hoạt 48
2.8 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC, NHỮNG KHÓ KHĂN VÀ TỒN TẠI CỦA CÔNG TÁC QL CTR SH Ở XÃ GIAO AN 52
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 54
CHƯƠNG 3: NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT CƠ CHẾ HỖ TRỢ QUẢN LÝ 55
CHẤT THẢI SINH HOẠT Ở XÃ GIAO AN 55
3.1 CƠ SỞ PHÁP LÝ, CĂN CỨ HỖ TRỢ CHO VẤN ĐỀ QLCTRSH 55
3.1.1 Cơ sở pháp lý 55
3.1.2 Căn cứ hỗ trợ 59
3.2 HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN TỔ CHỨC DỊCH VỤ TRONG 63
3.2.1 Tổ chức phân loại rác thải sinh hoạt 63
3.2.2 Phương án thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt 64
3.2.3 Đào tạo nhân lực, nâng cao năng lực QL cho cán bộ của địa phương 68
3.3 HỖ TRỢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT 69
3.3.1 Hỗ trợ xây dựng quy chế quản lý chất thải 69
3.3.2 Hỗ trợ xây dựng hương ước, quy ước về BVMT 70
3.3.3 Quy định mức thu phí rác thải 70
3.3.4 Hỗ trợ xây dựng qui định về chế tài xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý chất thải sinh hoạt 71
3.4 CÔNG NGHỆ VÀ KỸ THUẬT CHO CÔNG TÁC QLCTRSHNT 74
3.4.1 Dùng chế phẩm vi sinh khử mùi và xử lý rác hữu cơ 74
3.4.2 Xây dựng hệ thống ủ rác hữu cơ 74
3.4.3 Biện pháp khắc phục việc vận hành bãi chôn lấp 78
3.4.4 Giải pháp xử lý nước rác dò rỉ 79
3.4.5 Xây dựng quy trình vận hành bãi chôn lấp 85
3.5 NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG CƠ CHẾ HỖ TRỢ TÀI CHÍNH CHO QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT NÔNG THÔN 89
Trang 73.5.2 Đầu tư trang thiết bị thu gom rác thải 89
3.5.3 Sử dụng chế phẩm vi sinh 89
3.6 TRUYỀN THÔNG NÂNG CAO NHẬN THỨC CỘNG ĐỒNG 91
3.7 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA CÁC ĐỀ XUẤT ĐƯA RA 91
3.7.1 Hiệu quả về kinh tế 91
3.7.2 Tác động về mặt xã hội 92
3.7.3 Tác động đến môi trường 92
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 93
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 94
Kết luận 94
Kiến nghị 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 8Bảng 1.1: hoạt động của các tổ thu gom rác thải ở nông thôn 6
Bảng 1.2: So sánh quyền lợi của người thu gom rác ở các cấp 7
Bảng 1.3 Các phương pháp xử lý chất thải rắn ở Châu Âu (đơn vị : % ) 18
Bảng 2.2 Cơ cấu sản xuất xã Giao An 36
Bảng 2.3 Cơ cấu tổ chức tổ dịch vụ thu gom rác thải 37
Bảng 2.4 Lịch thu gom trong tuần của đội thu gom rác xã Giao An 38
Bảng 2.5 Các chế độ của người thu gom rác 38
Bảng 2.6 Trang thiết bị phục vụ thu gom rác thải 39
Bảng 2.7 Hoạt động của tổ chức dịch vụ 40
Bảng 2.8 Sự tham gia của cộng đồng trong thu gom rác thải 41
Bảng 2.9 Hiện trạng bãi rác xã Giao An 44
Bảng 2.10 Văn bản ban hành tại xã Giao An 46
Bảng 2.11 Mức thu phí VSMT xã Giao An 47
Bảng 2.12 Kết quả khối lượng rác thải sinh hoạt xã Giao An 49
Bảng 2.13 Tỷ lệ rác thải được thu gom, xử lý hợp vệ sinh (do tổ DVMT) 51
Bảng 2.14 Dự báo lượng rác thải phát sinh từ khu dân cư 52
Bảng 3.1 Hiện trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt xã Giao An 59
Bảng 3.2 Ý kiến các hộ gia đình về dịch vụ quản lý chất thải rắn sinh hoạt 59
Bảng 3.3 Ý kiến về các biện pháp quản lý chất thải rắn sinh hoạt 61
Bảng 3.4 Khoảng cách vận chuyển xe cơ giới 66
Bảng 3.5 Phân bố người thu gom 66
Bảng 3.6: Phương án lựa chọn lịch thu gom 68
Bảng 3.7 Tỷ lệ pha EM thứ phẩm dùng xử lý rác thải sinh hoạt 74
Trang 9Hình 2.1 Tình hình hoạt động sản xuất xã Giao An (tính theo % số hộ) 35
Hình 2.2 Sơ đồ mạng lưới thu gom rác thải xã Giao An 43
Hình 2.3 Mặt bằng bãi chôn lấp rác xã Giao An 44
Hình 2.4 Sơ đồ công nghệ sử lý nước rác hiện tại của bãi chôn lấp 46
Hình 3.1 Tổ chức quản lý rác thải sinh hoạt 63
Hình 3.2 Quy hoạch mạng lưới thu gom, vận chuyển rác thải 65
Hình 3.3 Bố trí các trạm trung chuyển 67
Hình 3.4 Xây dựng sơ đồ ủ rác hữu cơ tại bãi chôn lấp xã Giao An 75
Hình 3.5 Vị trí dự định xây bể ủ rác hữu cơ trên mặt bằng bãi rác xã Giao An 77
Hình 3.6 Bố trí hệ thống ủ phân vi sinh trong bãi rác xã Giao An 78
Hình 3.7 Dụng cụ thu gom rác thải 90
Hình 3.8 Dụng cụ cho pha chế, và phun chế phẩm EM 90
Trang 10NN & PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
TN&MT Tài nguyên và Môi trường
BVMT Bảo vệ môi trường
Trang 11M Ở ĐẦU
1 Tính c ấp thiết của Đề tài:
Việt Nam hiện có 64 tỉnh, thành phố với 541 huyện, 588 thị trấn và 9.069 xã Dân số vùng nông thôn là 60.701.400 người, chiếm 73% dân số trong cả nước Mức thu nhập khu vực nông thôn bình quân 378.100 đồng/người/tháng, chỉ bằng 46,37%
so với đô thị
Trong những năm gần gần đây, đời sống kinh tế người dân nông thôn từng bước được cải thiện, mức tiêu dùng ngày càng tăng đã làm khối lượng chất thải phát sinh ở khu vực nông thôn ngày càng nhiều Tính đến năm 2006, lượng phát sinh rác thải sinh hoạt ở các vùng nông thôn trong cả nước là 9.939.703,5tấn/năm, trong đó rác thải sinh hoạt từ khu dân cư là 7.585.050,4 tấn/năm (76,31%), rác thải sinh hoạt
từ khu kinh doanh - dịch vụ là 2.354.653,1 tấn/năm (23,69%) Nhưng đến năm 2010 khối lượng rác thải sinh hoạt nông thôn là 13.418.573 tấn/năm, tăng so với 2006 là 173,8%
Trong bối cảnh điều kiện kinh tế và trình độ dân trí khu vực nông thôn còn nhiều hạn chế so với khu vực đô thị lại chưa được sự quan tâm của Nhà nước, tình hình quản lý hoạt động thu gom rác vẫn còn nhiều bất cập Dẫn dến tình trạng ô nhiễm do rác thải ở nông thôn ngày càng bức xúc ảnh hưởng đến sức khỏe người dân và các hoạt động sản xuất Những vấn đề hạn chế, bất cập bao gồm:
- Về chủ trương và chính sách: Vấn đề môi trường chất thải nông thôn chưa được ưu tiên chú trọng Chính sách đào tạo nguồn nhân lực có chuyên môn về môi trường chưa được quan tâm nhiều, do tổ chức của UBND phường xã không có biên chế riêng cho công tác này mà do cán bộ địa chính kiêm nhiệm;
- Về tài chính: Thiếu nguồn kinh phí hỗ trợ của Nhà nước đối với vấn đề thu gom, xử lý chất thải cho vùng nông thôn Kinh phí thu gom cho các tổ chức dịch vụ thu gom rác thải chủ yếu dựa vào đóng góp của dân nên hoạt động chưa hiệu quả;
- Về khoa học công nghệ: Chưa được ứng dụng công nghệ xử lý chất thải rắn phù hợp với các vùng nông thôn;
Trang 12- Các vấn đề khác: Chế tài xử phạt các vi phạm về BVMT ở các doanh nghiệp còn nhẹ, chưa đủ độ răn đe cần thiết Các vi phạm pháp luật về BVMT chưa được
xử lý kịp thời, chưa được áp dụng các biện pháp mạnh có tính cưỡng chế Thiếu cán
bộ quản lý về môi trường, nhất là cán bộ có chuyên môn cao Thể chế chưa rõ ràng, chưa áp dụng công cụ kinh tế với nguyên tắc "người gây ô nhiễm phải trả tiền" để
buộc các tổ chức cá nhân phải có ý thức chấp hành, tuân thủ quy định về BVMT; công tác quản lý BVMT ở địa phương còn bị buông lỏng; vai trò của chính quyền
xã, phường, thị trấn hiện còn nhiều bất cập, số lượng và năng lực cán bộ môi trường
chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra
Ở nhiều vùng nông thôn, chính quyền địa phương đang phải đối mặt với những
phản ứng gay gắt của người dân nhưng chưa có được các định hướng trong công tác
quản lý chất thải rắn Chính vì vậy đề tài nhằm nghiên cứu cơ chế hỗ trợ cho công tác thu gom xử lý chất thải rắn sinh hoạt ở vùng nông thôn là một yêu cầu cấp thiết
2 M ục tiêu của Đề tài:
Đề xuất được cơ chế hỗ trợ các hoạt động quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở nông thôn nhằm mục tiêu giảm thiểu ô nhiễm, cải thiện môi trường và điều kiện
sống cho khu vực dân cư nông thôn Việt Nam
3 Cách ti ếp cận, phương pháp nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3 1 Đối tượng nghiên cứu
Các vấn đề liên quan đến công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở khu vực xã Giao An - huyện Giao Thủy – tỉnh Nam Định
3 2 Cách ti ếp cận:
Từ thực trạng công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt cấp xã, tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến những tồn tại, làm cơ sở đề xuất cơ chế hỗ trợ phù hợp với chủ trương, chính sách của nhà nước và điều kiện kinh tế xã hội khu vực nông thôn
3.3 Phương pháp nghiên cứu:
(i) Phương pháp kế thừa các kết quả nghiên cứu liên quan ở trong và ngoài nước
- Thu thập tài liệu trên mạng internet, cơ quan khoa học, cơ quan quản lý (ii) Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa:
Trang 13- Lập phiếu điều tra xác định các thông tin điều tra;
- Tổ chức nhóm điều tra thực địa với sự tham gia của cộng đồng
(iii) Phương pháp chuyên gia và những phương pháp khoa học khác: Tham khảo ý
kiến của các cơ quan quản lý địa phương Trung ương, các nhà khoa học về các giải pháp quản lý chất thải rắn sinh hoạt nông thôn
3.4 Ph ạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu áp dụng cho xã Giao An – huyện Giao Thủy – tỉnh Nam Định để rút kinh nghiệm và phổ biến cho những khu vực nông thôn Việt Nam có điều kiện tương tự
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
4 1 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học đề xuất các chính sách hỗ trợ nâng cao công tác quản lý chất thải nông thôn
4.2 Ý nghĩa thực tiền của đề tài
- Khắc phục những tồn tại trong công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt xã Giao An;
- Hỗ trợ để nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn sinh hoạt xã Giao An;
- Là bài học kinh nghiệm để triển khai cho các vùng nông thôn
Trang 14C HƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH
HO ẠT NÔNG THÔN VÀ CƠ CHẾ HỖ TRỢ HOẠT ĐỘNG
khối lượng Thông tin về thành phần chất thải rắn đóng vai trò rất quan trọng trong
việc đánh giá và lựa chọn những thiết bị thích hợp để xử lý, các quá trình xử lý cũng như việc hoạch định các hệ thống, chương trình và kế hoạch quản lý chất thải rắn Thành phần riêng biệt của chất thải rắn thay đổi theo vị trí địa lý, thời gian, mùa trong năm, điều kiện kinh tế và tùy thuộc vào thu nhập của từng quốc gia…
1.1.2 Kh ối lượng
Khối lượng chất thải rắn sinh ra và thu gom được có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc lựa chọn thiết bị, vạch tuyến thu gom chất thải, thiết kế thiết bị thu hồi
vật liệu và phương tiện thải bỏ chất thải
Tại khu vực nông thôn, khối lượng chất thải rắn sinh hoạt dựa trên dân số và tiêu chuẩn phát thải
1.2 HÌNH THỨC TỔ CHỨC QUẢN LÝ VÀ NĂNG LỰC QUẢN LÝ CHẤT
THẢI RẮN SINH HOẠT Ở NÔNG THÔN
Chiến lược Quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050 đã đặt ra các mục tiêu cụ thể quản lý chất thải rắn từ đô thị đến nông thôn Chiến lược đã góp phần nâng cao nhận thức của các cấp chính quyền địa phương trong việc quản lý chất thải nông thôn Mới đây, thành phố Hà Nội đã có nhiều giải pháp quyết liệt nhằm cải thiện môi trường nông thôn khu vực ngoại thành, trong đó một giải pháp hàng đầu là tập trung quản lý, thu gom và xử lý rác thải Tính đến 09/8/2010 đã có 83% số xã, thị trấn ở ngoại thành thành lập các tổ thu gom rác thải, trong đó có 148 xã (37%) đã thu gom rác đi xử lý tập trung Trên phạm vi cả nước đã triển khai nhiều hoạt động nhằm cải thiện điều kiện vệ sinh môi
Trang 15trường Công tác tuyên truyền, vận động nhân dân được coi trọng Môi trường ở nhiều khu vực nông thôn được cải thiện
* Năng lực quản lý Nhà nước về chất thải rắn ở nông thôn
số lượng và năng lực để quản lý môi trường
Cùng với việc thành lập Bộ Tài nguyên và Môi trường (năm 2002) là việc tổ chức lại hệ thống quản lý Nhà nước về tài nguyên và môi trường ở địa phương Trong đó có thành lập mới Sở tài nguyên và Môi trường (năm 2003) Đến năm 2006, hầu hết các huyện đã có phòng Tài nguyên và Môi trường Nhiều địa phương (cấp xã/ thị trấn) đã thành lập được các tổ chức dịch vụ môi trường như HTX dịch vụ môi trường, tổ thu gom tự quản Sự kiện này đánh dấu sự chuyển biến tích cực trong công tác quản lý
môi trường cấp cơ sở
Ở cấp huyện, phòng Tài nguyên và Môi trường vừa mới (hoặc đang chuẩn bị) được thành lập nên chưa ổn định tổ chức để hoạt động Số lượng cán bộ của phòng tài nguyên và môi trường cấp huyện trung bình là 3-5 người, cán bộ có chuyên môn
về môi trường chiếm 14,3% và chỉ có 50% huyện đã có cán bộ về môi trường nhưng đều mới ra trường nên chưa có kinh nghiệm công tác, mới thực hiện các
chức năng quản lý Nhà nước về tài nguyên đất Trong tương lai cần phải kiện toàn lại bộ máy quản lý môi trường ở các huyện cả về số lượng và chất lượng
Ở cấp xã chưa có cán bộ chuyên trách về môi trường Hiện tại, mỗi xã có một cán bộ làm công tác địa chính, chưa được giao các nhiệm vụ về môi trường, chưa có định hướng cũng như bố trí nguồn kinh phí cho công tác môi trường
Việc thiếu cán bộ chuyên trách về môi trường cũng như năng lực quản lý ở cấp
cơ sở (huyện, xã/ thị trấn) đang làm hạn chế công tác quản lý rác thải Cần phải được củng cố và nâng cao năng lực cho quản lý cho các cấp cơ sở
Công ty môi trường đô thị chưa đủ năng lực để quản lý chất thải rắn nông thôn
Tất cả các tỉnh, thành phố đều đã có Công ty môi trường đô thị thuộc khối dịch vụ công có nhiệm vụ thu gom và xử lý chất thải rắn, hiện tại các công ty này thu gom được 60-80% chất thải rắn sinh hoạt ở các khu vực đô thị, thị xã Hầu hết các Công
Trang 16ty môi trường đô thị đều chưa có kế hoạch thu gom, xử lý chất thải rắn cho khu vực nông thôn kể cả các tỉnh đã được đầu tư xây dựng khu xử lý chất thải rắn như: Nam Định, Việt Trì, Nghệ An Nguyên nhân chính là do các Công ty môi trường đô thị chưa đủ năng lực về con người, trang thiết bị Chi phí vận chuyển rác thải từ khu vực nông thôn đến khu xử lý tập trung rất tốn kém, hệ thống giao thông nông thôn không thuận lợi
* Hoạt động của các tổ chức phi Nhà nước trong quản lý CTR sinh hoạt ở nông thôn
Công ty môi trường đô thị hoạt động dưới sự quản lý của UBND tỉnh, sở Giao thông Công chính hoặc sở Xây dựng và kinh phí hoạt động được hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước thì ở các vùng nông thôn, các hoạt động về thu gom rác thải chủ yếu
do tư nhân tổ chức Theo kết quả điều năm 2006, đã có 85,7% số thị trấn và 28,5%
số xã đã có tổ thu gom rác thải
Hoạt động của các tổ thu gom rác thải không thường xuyên, số lần thu gom rác thải ở cấp xã 0,5-2 lần/tuần, đối với các thị trấn từ 2-6 lần/tuần (bảng 12) là nguyên nhân dẫn đến tình trạng ở cả những địa phương đã có tổ thu gom thì tỷ lệ rác thải được thu gom rất thấp và tình trạng ứ đọng rác trong khu dân cư vẫn là phổ biến
Bảng 1.1: hoạt động của các tổ thu gom rác thải ở nông thôn
TT Hình thức tổ chức Đơn vị Cấp xã Thị trấn
1 Tỷ lệ các địa phương có tổ
xóm UBND thị trấn
Nguồn: Dự án tổng hợp xây dựng các mô hình thu gom, xử lý rác thải cho các thị
trấn, thị tứ, cấp huyện, cấp xã
Trang 17Mức thu nhập của người thu gom rác ở nông thôn từ 70.000-450.000 đ/người/tháng đối với các tổ thu gom ở cấp xã và 200.000-500.000 đ/người/tháng đối với tổ thu gom ở thị trấn, trong khi thu nhập của những người thu gom rác thải thuộc Công ty Môi trường đô thị trung bình từ 1,2-1,8 đ/người/tháng Người thu gom rác thải ở cấp xã, thị trấn chưa được hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo
hiểm y tế, rất ít nơi được phát bảo hộ lao động (bảng 13)
Bảng1.2: So sánh quyền lợi của người thu gom rác ở các cấp
7 Phương tiện thu gom - Công ty cấp Tự trang bị Tự trang bị
Nguồn: Dự án tổng hợp xây dựng các mô hình thu gom, xử lý rác thải cho các thị
trấn, thị tứ, cấp huyện, cấp xã
Trang 18
- Thiết bị thu gom rác thải ở nông thôn do người lao động tự trang bị, thiếu cả về số lượng và không đảm bảo các điều kiện vệ sinh môi trường trong thu gom rác
70% số thị trấn và 100% số xã thiếu
phương tiện thu gom rác, trong đó, 30% số
xã chưa có phương tiện thu gom 100% số
xã, thị trấn chưa có phương tiện vận chuyển
rác thải đúng qui cách Mặc dù, với mức thu
nhập rất thấp nhưng người thu gom rác ở
nông thôn vẫn phải tự trang bị xe thu gom
rác nên loại hình rất đa dạng như xe kéo tay
tự tạo, xe ngựa, xe thồ, xe công nông
không đúng qui cách Xe đẩy tay thu gom
rác ở đô thị không phù hợp ở khu vực nông
thôn chủ yếu do hệ thống giao thông nông
thôn là đường đất, đường gạch gồ ghề và
người dân nông thôn từ xa xưa đã có thói
quen dùng xe kéo tay để chở vật tư và sản
phẩm nông nghiệp
Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế
của các tổ chức phi Nhà nước về thu gom,
xử lý rác thải ở nông thôn là do hình thành
tự phát, chưa có sự hướng dẫn, hỗ trợ của
Nhà nước, nguồn tài chính cho các hoạt
động chủ yếu từ nguồn thu phí của các hộ
Trang 19- Các hoạt động nghiên cứu và triển khai về quản lý chất thải rắn ở nông thôn rất ít và kém hiệu quả
Các hoạt động nghiên cứu triển khai được hỗ trợ thực hiện thông qua các cơ quan nghiên cứu và chủ yếu vẫn tập trung chủ yếu cho lĩnh vực quản lý chất thải rắn
đô thị Kết quả điều tra năm 2006 tại 10 tỉnh đại diện cho các vùng trong cả nước cho thấy: có tới 64,29% các chương trình, dự án nghiên cứu về rác thải đô thị, 21,43% chương trình, dự án nghiên cứu về rác thải chung cho cả đô thị và nông thôn và chỉ có 14,28% chương trình, dự án nghiên cứu về rác thải cho khu vực nông thôn Về loại hình nghiên cứu, 7,14% chương trình, dự án về nâng cao năng lực công công tác quản lý môi trường; 7,14% chương trình, dự án về nâng cao nhận thức cộng đồng trong vấn đề bảo vệ môi trường; 21,43% chương trình, dự án điều tra cơ bản, nghiên cứu lý thuyết để đề xuất phương án thực hiện và có tới 64,29%chương trình dự án về ứng dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật thu gom, xử lý rác thải trong thực tế
Hoạt động nghiên cứu và triển khai về thu gom, xử lý rác thải ở nông thôn chủ yếu ở 2 hình thức:
+ Một là, các đề tài, dự án do các cơ quan nghiên cứu thực hiện đã chú trọng đến các giải pháp công nghệ xử lý rác thải, phân loại rác thành 2 loại (rác hữu cơ và rác còn lại), triển khai công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng, tổ chức dịch vụ thu gom rác thải Tuy nhiên, các mô hình thí điểm của dự án, đề tài do kinh phí ít, chỉ thực hiện trong phạm vi nhỏ (1 thôn, xóm hoặc cụm dân cư), thời gian thực hiện ngắn nên chưa có sự phối hợp chặt chẽ với các chính quyền địa phương để xây dựng các qui định về quản lý rác thải, chưa có cơ chế về tài chính để duy trì mô hình và đảm bảo quyền lợi cho người thu gom Chưa phân công được vai trò trách nhiệm của các cấp địa phương trong vấn đề quản lý rác thải nên các mô hình thường không bền vững và khó nhân rộng cho các vùng khác ngay trong cùng một xã/ thị trấn
+ Hai là các chương trình thử
Trang 20nghiệm, mô hình thí điểm do các
Trung tâm nước sạch và vệ sinh
môi trường và các cơ quan địa
phương thực hiện Thường triển
khai ở không đồng bộ, một số
chương trình đầu tư xây dựng cơ
bản hoặc tổ chức hoạt động thu
gom nhưng không chú ý đến
nguồn kinh phí và tổ chức để duy
trì nên không bền vững và không
được nhân rộng
Bãi rác thị trấn Vân Đình (Hà Tây) được thiết kế và xây dựng với 4 ô chôn lấp,
hệ thống xử lý nước rác bằng hồ sinh học nhưng do thiết kế không phù hợp và không có kinh phí và nguồn nhân lực vận hành dẫn đến bãi rác trở thành điểm gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
Mô hình thu gom rác thải thôn Lai Xá,
xã Kim Chung, Hoài Đức, Hà Tây do tổ
chức YWAM tài trợ đã kết hợp công tác
truyền thông nâng cao nhận thức cộng
đồng, vận động phân loại rác thải tại hộ
gia đình, ủ rác hữu cơ làm phân bón, cải
tiến thiết bị thu gom nhưng cũng không
duy trì được do khó khăn về nguồn kinh
phí và rác vô cơ vẫn đổ lộ thiên
1.3 TỔ CHỨC DỊCH VỤ CHO CÔNG
TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN
SINH HOẠT Ở NÔNG THÔN
Hiện nay, chỉ có khoảng 30-40% số xã ở nông thôn thành lập các tổ dịch vụ thu gom rác thải, nhưng chủ yếu là các tổ thu gom theo mô hình tự quản Rất ít địa
B·i r¸c th«n Lai X¸-Hoµi §øc- Hµ Nội Bãi rác th ị trấn Vân Đình – HàNội
Trang 21phương thành lập được các HTX dịch vụ môi trường Nếu có, đa số các HTX này
lại hình thành theo kiểu tự phát, chưa được sự hỗ trợ nên hoạt động kém hiệu quả và không bền vững
Theo tổng cục Bảo vệ môi trường: Ở nhiều nơi đã thành lập các hợp tác xã công
ty trách nhiệm hữu hạn làm dịch vụ thu gom rác, dọn vệ sinh đường phố Tỉnh Thái Bình đã triển khai khá thành công chương trình này trên toàn thị xã: vừa thu gom rác vừa vận động, giáo dục người dân phân loại rác hữu cơ sinh hoạt tại nguồn một cách có kết quả Một số cá nhân đã làm kinh tê thành công bằng thu gom phân loại
và tái chế rác thải, trong đó có cả xử lý rác thải hữu cơ thành phân hữu cơ vi sinh Nhiều hình thức tổ chức cộng đồng thực hiện công tác thu gom rác thải của địa phương như: Hợp tác xã dịch vụ môi trường; công ty TNHH môi trường, các tổ thu gom rác thải trong xã….chịu trách nhiệm thu gom rác thải trên địa bàn khu vực tùy theo khối lượng
Việc thành lập các tổ thu gom rác là phổ biến nhất hiện nay ở các địa phương để
giải quyết trước mắt các vấn đề bức xúc về rác thải trên địa bàn
Nhiệm vụ của đội thu gom rác thải chủ yếu là đi thu gom rác thải trong các hộ gia đình để tránh tình trạng người dân đổ rác bừa bãi tại các khu công cộng Đối với rác thải tại các khu vực công cộng, rác thải ở đường làng ngõ xóm, rác thải từ khơi
cống rãnh thì rất ít địa phương làm được Do đó, môi trường cảnh quan tại các địa phương vẫn rất ô nhiễm, đường làng ngõ xóm và đặc biệt là các loại chất thải từ chăn nuôi đổ ra cống rãnh của làng gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường cảnh quan trong khu vực
Đối với các địa phương, người dân và chính quyền địa phương đã nhận thức được
vấn đề này nhưng khó khăn lớn nhất tại các địa phương là kinh phí để thực hiện công tác thu gom và vận hành hệ thống Tiền thu phí vệ sinh môi trường của các hộ dân chỉ
đủ để trả lương cho công nhân thu gom rác còn tiền bảo hệ lao động bảo dưỡng thiết bị, nguyên nhiên liệu… là do chính quyền địa phương trích ngân sách
Tuy nhiên, lựa chọn công nhân cho việc thu gom tại các địa phương còn mang tính chủ quan, chủ yêu lựa chọn các đối tượng chính sách, những người có hoàn
Trang 22cảnh khó khăn, neo đơn, mất sức lao động… cộng với việc trả lương cho công nhân thu gom thấp ( từ 80-200 ngàn đồng/người/tháng) là những hạn chế trong thu gom rác thải ở nông thôn
Ngoài ra, trình độ và tổ chức quản lý của chính quyền địa phương không chặt chẽ,
vấn còn xem nhẹ vấn đề môi trường Chính vì thế, hiệu quả của công tác thu gom rác thải tại các địa phương không cao và tỷ lệ thu gom rác thấp và còn nhiều bất cập Lượng chất thải không được thu gom đang thải bỏ bừa bãi, chon lấp tùy tiện như
ở các hồ, cống rãnh, sông ngòi và các bãi đất trống và các khu đồng ruộng xung quanh gây ra hiện tượng ô nhiễm đất, nước, không khí
1.4 CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH VỀ QUẢN LÝ VÀ HỖ TRỢ CHO CÔNG TÁC
QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT
1.4.1 T ổng quan cơ chế chính sách về quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở nước ngoài
Ở nhiều nước, những biện pháp giảm lượng chất thải rắn tạo thành cũng như khuyến khích việc sử dụng lại các vật liệu được áp dụng thông dụng Ở Mỹ chẳng hạn, một số bang có luật bắt buộc cư dân phải ủy thác thu nhặt lại những vật có thể tái chế tại nơi đổ rác bên lề đường Một số bang yêu cầu phải phân các chất thải từ các hộ thành các loại khác nhau, trước khi thu gom
Ở Seattle Washington, “cơ cấu định giá rác thải thay đổi” đã cho dân cư - những người phải trả phí cho các thùng mà họ nhét đầy rác - những kích thích để họ giảm bớt số lượng thùng rác mà họ đổ đầy Khi họ giảm bớt số thùng rác, thì họ được đền đáp bằng một hóa đơn thu tiền rác ít hơn Cơ cấu mức phí bao gồm một vài thành phần: mức phí đa hộ, mức phí cơ bản, (một thùng lít, thu rác hàng tuần chịu chi phí 13,75 USD mỗi tháng, mỗi thùng 120 lít tăng thêm phải chịu thêm 9 USD); mức phí rác tập trung; mức phí cho các khách hàng thu nhập thấp, lớn tuổi, tàn tật, mức phí thu gom rác thải tại sân và lề đường (phí thu gom tại sân lớn hơn 40% so với tại lề đường để khuyến khích hạ thấp chi phí thu gom); mức phí rác thải đổ thêm (một tích kê rác trả tiền trước giá 5 USD dùng cho rác đổ thêm); mức phí rác sân; mức phí thùng nhỏ (dịch vụ thùng rác nhỏ 100 lít; 10,7 USD/tháng cho những ai thải ra ít rác, hoặc có thể tái chế, làm phân ủ phần lớn các rác thải của họ);và thu gom các vật
Trang 23cồng kềnh Tháng giêng năm 1989, chương trình Seattle đã được hoàn thành: lượng rác thu gom hàng tháng vào năm đó đã giảm 30% so với mức năm 1988
Các khoản trợ cấp được cung cấp cho các cơ quan và khu vực tư nhân tham gia vào các lĩnh vực quản lý chất thải rắn ở Mỹ, liên bang đã trợ cấp cho các bang để xây dựng và thực hiện các kế hoạch quản lý chất thải rắn, bảo tồn và khôi phục toàn diện tài nguyên của các bang đó Chúng cũng được dành cho đào tạo, các công trình nghiên cứu, dự án trình diễn về khôi phục năng lượng và vật liệu, cũng như để lập
Theo Vernier Jacques (1994), để góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường cũng như giảm thiểu lượng chất thải phát sinh, người ta đã áp dụng các biện pháp mang tính kinh tế:
- Các loại thuế: Để phạt một hoạt động hay một sản phẩm không có lợi cho môi trường người ta không muốn cấm hoàn toàn mà chỉ muốn hạn chế việc sử dụng sản
phẩm đó Biện pháp tiến hành thông dụng nhất là đánh thuế để giá bán của sản
phẩm đó cao lên Một số loại thuế đã được qui định như: Gây quĩ để tài trợ cho hoạt động xử lý chất thải (ở Mỹ) hoặc loại thuế ngoại ngạch đánh vào việc gây ô nhiễm
Trang 24( ở Pháp ); đánh thuế cao đối với bao bì chất dẻo không phân hủy sinh học ( ở Italia))
và bao bì không sử dụng lại được ( ở Nauy, Phần Lan);
- Miễn giảm thuế hoặc tài trợ: Với mục đích là khuyến khích các sản phẩm hoặc các hoạt động sản xuất có tính cải thiện môi trường Tài trợ cho các chương trình,
dự án thu gom và xử lý chất thải
Luật Quản lý chất thải rắn sinh thái ở Philipin khuyến khích thành lập các quĩ đặc biệt cho hoạt động quản lý chất thải rắn Quỹ này sẽ được hình thành trên cơ sở các khoản phạt, các chi phí cấp phép và cấp giấy phép, các khoản tài trợ và các khoản đóng góp từ các nguồn trong và ngoài nước Bộ luật cũng yêu cầu các khoản tiền trong quỹ sẽ không được sử dụng cho các vị trí công việc, hay để trả lương Quỹ chỉ dùng cho chi trả các chương trình khuyến khích hay các giải thưởng, các chương trình nghiên cứu, các hỗ trợ kỹ thuật, các hoạt động giám sát, thông tin và các hoạt động xây dựng năng lực
1.4.2 T ổng quan các chính sách quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở Việt Nam
Nghị định 59/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 09/4/2007 về Quản lý chất thải rắn đã quy định chi tiết về các nội dung: (i) Qui hoạch quản lý chất thải rắn, đầu tư quản lý chất thải rắn; (ii) Phân loại chất thải rắn; (iii) Thu gom, lưu giữ và vận chuyển chất thải rắn; (iv) Xử lý chất thải rắn; (v) Chi phí quản lý chất thải rắn; (vi) Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm Nội dung chi tiết lập qui hoạch quản lý chất thải rắn, qui hoạch xây dựng các công trình xử lý, lập và quản lý dự toán các công trình dịch vụ công ích xử lý chất thải rắn được qui định cụ thể trong Thông tư số 13/2007/TT-BXD ngày 31/12/2007 của Bộ Xây dựng
Ngày 17/12/2009 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 2149/QĐ-TTg phê duyệt chiến lược Quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050 Quyết định nêu rõ, quản lý tổng hợp chất thải rắn là trách nhiệm chung của toàn xã hội Theo đó, quản lý chất thải rắn phải được thực hiện theo phương thức tổng hợp, nhằm phòng ngừa, giảm thiểu phát sinh chất thải tại nguồn là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu, tăng cường tái sử dụng, tái chế để giảm khối lượng chất thải phải xử lý
Trang 25Chiến lược đặt ra mục tiêu đến năm 2025: 90% lượng chất thải rắn phát sinh tại các điểm dân cư nông thôn được thu gom và xử lý đảm bảo môi trường Phấn đấu tới năm 2050, tất cả các loại chất thải rắn phát sinh đều được thu gom, tái sử dụng, tái chế và xử lý triệt để bằng những công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường
và hạn chế khối lượng chất thải rắn phải chôn lấp đến mức thấp nhất
Nhờ có các chính sách vĩ mô, các địa phương cũng đã quan tâm hơn đến vấn đề chất thải rắn, đặc biệt cho khu vực nông thôn
- Năm 2006, thành phố Đà Nẵng đã ra Quyết định số 114/2006/QĐ-UBND, ban hành chương trình hành động của thành phố nhằm cải thiện vệ sinh môi trường, trong đó chủ trương mở rộng thu gom rác thải đến khu vực nông thôn, khu vực vùng ven thành phố và thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trường trong trồng trọt, chăn nuôi;
- Tỉnh Hà Nam năm 2009 đã ra Quyết định số 33/2009/QĐ-UB ban hành “Quy định quản lý chất thải rắn và nước thải trên địa bàn tỉnh Hà Nam” Trong đó nêu rõ chất thải rắn sinh hoạt tại các hộ gia định trong khu dân cư nông thôn được thu gom
và tự xử lý bằng các phương pháp hợp vệ sinh (chôn lấp, xử lý vi sinh…); còn tại các khu dân cư tập trung, khu công cộng thì các tổ, xóm thực hiện phân loại chất thải rắn tại nguồn, đưa chất thải rắn đến điểm tập kết thu gom, lưu giữ trong các túi hoặc thùng được phân biệt bằng màu sắc theo quy định;
Luật bảo vệ môi trường năm 2005 có qui định một số điểm về trách nhiệm của các tổ chức, bộ phận chuyên môn trong quản lý chất thải;
Điều 69: Trách nhiệm của ủy ban nhân dân các cấp trong quản lý chất thải:
- Ban hành và thực hiện chính sách ưu đãi, hỗ trợ cho hoạt động quản lý chất thải theo quy định của pháp luật;
- Đầu tư, xây dựng, vận hành các công trình công cộng phục vụ quản lý chất thải thuộc phạm vi quản lý của mình
* Cơ chế hỗ trợ tài chính trong quản lý chất thải rắn sinh hoạt
- Thông tư số 108/2003/TT/BTC ngày 07/11/2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn
cơ chế tài chính áp dụng đối với các dự án vệ sinh môi trường sử dụng nguồn vốn
Trang 26hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) Thông tư đã hướng dẫn cụ thể các cơ chế tài chính với các dự án vệ sinh môi trường sử dụng nguồn vốn ODA, cụ thể:
+ Các dự án xử lý rác thải sinh hoạt, xử lý chất thải rắn đô thị sử dụng vốn ODA viện trợ không hoàn lại sẽ được áp dụng cơ chế Ngân sách nhà nước (NSTW) cấp phát toàn bộ vốn viện trợ cho Dự án Vốn đối ứng của dự án do Ngân sách địa phương và Chủ dự án tự bố trí;
- Quyết định số 13/2007/QĐ-BXD ngày 23/4/2007 của Bộ Xây dựng về việc ban hành Định mức dự toán thu gom, vận chuyển và xử lý chôn lấp rác thải đô thị Trong đó, quy định định mức hao phí cần thiết về vật tư, vật liệu, nhân công và xe máy thiết bị để hoàn thành một đơn vị khối lượng công tác thu gom, vận chuyển và
xử lý chôn lấp rác thải đô thị
- Thông tư số 08/2008/TT-BTC ngày 29/01/2008 sửa đổi, bổ sung Thông tư số 108/2003/TT/BTC hướng dẫn cơ chế tài chính áp dụng với các dự án xử lý rác thải sinh hoạt và chất thải rắn đô thị sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) Theo đó, tỷ lệ hỗ trợ của ngân sách trung ương (tỷ lệ cấp phát trên tổng vốn ODA vay cho từng dự án hoặc hợp phần xử lý rác thải sinh hoạt và chất thải rắn đô thị) được xác định tương ứng với cấp đô thị của địa phương và quy mô đầu tư (công suất nhà máy xử lý)
- Quyết định số 58/2008/QĐ-TTg ngày 29/4/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc hỗ trợ có mục tiêu kinh phí từ ngân sách nhà nước nhằm xử lý triệt để, khắc phục ô nhiễm và giảm thiểu suy thoái môi trường cho một số đối tượng thuộc khu vực công ích nằm trong danh mục các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trong Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg, và các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng khác thuộc khu vực công ích mới phát sinh bao gồm cả bãi rác và trạm xử lý nước thải sinh hoạt đô thị
- Nghị định số 69/2008/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30/5/2008 về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y
tế, văn hóa, thể thao, môi trường Trong đó quy định rất nhiều chính sách ưu đãi về thuế, đất đai, cho thuê cơ sở vật chất… Các đối tương được hưởng ưu đãi theo Nghị
Trang 27định này phải nằm trong danh mục các loại hình, tiêu chí quy mô, tiêu chuẩn quy định trong Quyết định số 1466/QĐ-TTg ngày 10/10/2008 Theo đó, về lĩnh vực môi trường, các cơ sở xử lý rác thải phù hợp với quy hoạch và các cơ sở xử lý nước phục vụ cho 50 hộ dân cũng thuộc diện được hỗ trợ ưu đãi Ngày 31/12/2008, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 135/2008/TT-BTC để hướng dẫn chi tiết thực hiện Nghị định số 69/2008/NĐ-CP
- Bộ Tài chính đã ra Thông tư số 121/2008/TT-BTC ngày 12/12/2008 hướng dẫn
cơ chế ưu đãi và hỗ trợ tài chính đối với hoạt động đầu tư cho quản lý chất thải rắn Theo đó, tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng cơ sở xử lý, tổ chức thu gom, vận chuyển chất thải rắn có thể được hưởng rất nhiều ưu đãi như ưu đãi về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất và chi phí giải phóng mặt bằng, ưu đãi về thuế, hỗ trợ nghiên cứu và phát triển công nghệ tái chế, tái sử dụng và xử lý chất thải rắn, hỗ trợ về đào tạo lao động
- Nghị định số 04/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 14/01/2009 quy định về ưu đãi, hỗ trợ hoạt động bảo vệ môi trường quy định về ưu đãi, hỗ trợ đất đai, vốn; miễn, giảm thuế, phí đối với hoạt động bảo vệ môi trường; trợ giá, hỗ trợ tiêu thụ các sản phẩm từ hoạt động bảo vệ môi trường
- Thông tư liên tịch giữa Bộ Tài chính và Bộ Tài nguyên môi trường số 45/2010/TTLT-BTC-BTNMT ngày 30/3/2010 thay thế cho Thông tư liên tịch số 114/2006/TTLT-BTC-BTNMT, hướng dẫn việc quản lý kinh phí sự nghiệp môi trường 1.5 CÔNG NGHỆ VÀ KỸ THUẬT PHỤC VỤ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT
THẢI RẮN SINH HOẠT Ở NÔNG THÔN
1.5.1 Công ngh ệ và kỹ thuật xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên thế giới
áp dụng để xử lý rác thải như : Chôn Lấp thải , thiếu đốt , xử lý hoá lý , xử lý bằng sinh học, compositing, SERAPHIN, plasma ,tai chế , tái sử dụng chất thải
Việc xử lý rác thải theo các cách khá nhau , theo các nước và các thời đại khác nhau Hiện nay , ở ITALIA nơi sáng toạ ra phương pháp ủ phân compost thì chỉ có 2%- 3% khối lượng rác được xử lý theo phương pháp này Còn ở anh nơi sáng tạo ra phương pháp đốt rác thì lượng rác giảm xuống 10% Tại những nơi nứoc phát triển thì lượng rác đốt có thể chiếm từ 10% ở Bắc Mỹ đến 70% ở Nhật bản, Thuỵ Sỹ
Trang 28a Công ngh ệ chôn lấp chất thải
Phương pháp chôn lấp rác thải vẫn được coi là phương pháp thông dụng nhất
hiện nay, đặc biệt đối với các nước có diện tích tự nhiên rộng lớn hoặc các nước đang phát triển So với nhiều phương pháp xử lý rác thải khác thid chôn lấp có chi phí đầu tư và vận hành thấp hơn , công nghệ đơn giản hơn và có thể áp dụng cho nhiều loại chất thải khác nhau Bên cạnh đó , chôn lấp rác thải cung còn njiều nhược điểm cần khắc phục đắc biệt trong khía cạnh môi trường
Việc áp dụng các phương pháp xử lý chất thải rắn phụ thuộc rất nhiều vào điều
kiện tứng nước Tỷ lệ chôn lấp rác ở Nhật Bản và Singapore khá thấp do diện tích đất của Nhật Bản cà Singapore ít , hơn nửa điều kiện kinh tế của hai quốc gia này cho phép áp dụngcác phưong pháp xử lý một cách hiệu quả hơn Hoa Kỳ là nước đang phát triển kinhtế nhưn gtỷ lệ chôn lấp rác cũng khá cao do nước này rộng lớn, nhiều đát đai tuy nhiên từ sau thập kỷ 80 tỷ lệ chôn lấp ở nước này giảm dần do giá thành cho chi phí chôn lấop ngày một tăng và người ta nhận thức rằng dất đai tuy nhiều nhưng có hạn Xu hướng chung của thế giưói hiện nay là giảm nhiều lương rác chôn lấp bằng cách tăng cường tái chế
B ảng 1.3 Các phương pháp xử lý chất thải rắn ở Châu Âu (đơn vị : % )
Nước Chôn lấp/ bãi
Trang 29Hiện nay , chôn lấp rác vẫn là cách làm thông dụng nhất ngay cả ở cá nước phát triển Hơn 60% chất thải cảu Mỹ và của cộng động Châu Âu được xử lý theo chôn
lấp Một số nước có tỷ lệ chôn lấp thấp đó là Nhật Bản 40%, Thuỵ Sỹ , Thuỵ Điển , Pháp < Bỉ , Ý có tỷ lệ dưới 50%
Đốt rác là phương pháp được sử dụng rộng rãi ỏ những nước phát triển như Thuỵ
Sỹ , Hà lan, Đan mạch, nhật bản Đó là những nước có diện tích đất tự nhiên nhỏ
hẹp Hiện Nay , các nước Châu âu có xu hướng giảm việc đốt thải vì hàng lợt các
vấn đề kinh tế và môi trường cần phải xem xét
Mặc dù phươn pháp thiêu đốt có những ưu điểm so với các phương pháp xử lý khá triệt để rác thải, giảm từ 70% - 90% thể tích chất thải sau xử lý, thời gian xử lý nhanh gọn , tiết kiệm được diện tích xây dựng các công trinh xử lý nhưng chi phí đầu tư xây dựng vận hành cao , chi phí phù hợp với các nước có nền kinh tế , khoa
học phát triển , có tiềm lực kinh tế , các nước có diện tích tự nhiên nhỏ , không phù
hợp cho các phưưong pháop xử lý khác
Hiện nay trước sự phát triển của khoa học kỹ thuậtvà sự khan hiếm về tài nguyên thiên nhiên mà côngnghệ tái chế , tái sử dụng chất thải được xem là biện pháp tốt
nhất đẻ giảm thiểu lượng phát dinh chất thỉa và bảo vệ môi trường
+ Đối với rác thải vô cơ công nghiệp , rác thải vô cơ trong sinh hoạt có thể tái
chế làm nguyên liệu sử dụng trong sản xuất công nghiệp như : Thuỷ tinh, kim loại,
hoặc tái chế làm các vật liệu làm vật dụng sử dụng trong sinh hoạt, trong xây dựng Theo Viện Nghiên cứu và phát triển sản phâm Nông Nghiệp của PHILIPIN cho
biết : Họ đang tiến hành tai chế rác thải nhựa để sử dụng làm thùng đựng , các loại túi sách tay và các panel dùng làm vật liệu xây dựng
- Ấn Độ đang tiến hành thử nghiệm công nghệ chế biến nhựa phế thải thành nhiên liệu Theo đó thì 1 kg nhựa phế thải được biến đổi trong thiết bị trộn nhiên
liệu trong vòng 3,5 giờ sẽ cho ra sản phẩm là 800ml dầu
Trang 30+ Đối với rác thải hữu cơ có thể chế biến thành phân vi sinh sử dụng trong nông nghiệp bằng công nghệ ủ Compost
- Tại Thụy Điển, giới thiệu phương pháp xử lý rác thải sinh hoạt và các loại rác
thải hữu cơ thành phân compost
Công nghệ được tiến hành như sau: Rác thải được phân loại bằng trọng lực và từ tính để tách kim loại và các vật liệu rắn Rác thải hữu cơ, sau 2-3 ngày được vi sinh
vật phân hủy trong điều kiện đảm bảo các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm tốt Quá trình ủ rác
thải hữu cơ trong thời gian là 3-7 tuần và không cần cung cấp hóa chất sẽ thu được
sản phẩm là phân compost có chất lượng tốt
Ưu điểm :
- Chất thải hữu cơ được phân loại có thể làm giảm 50-70% khối lượng rác thải
cần phải xử lý bằng chôn lấp hoặc đốt
- Kéo dài thời gian hoạt động của các bãi chôn lấp rác thải Hạn chế các tác động
o nhiễm của nước rác tới nước ngầm
- Giảm chi phí cho quản lý và xử lý môi trường…
- Sản phẩm phân compost tạo thành là một nguồn nguyên liệu sạch cung cấp dinh dưỡng cho nông nghiệp, giảm lượng tiêu thụ các phân bón hóa học, đem lại hiệu
quả kinh tế cao cho người nông dân
Nhược điểm:
- Cần một mặt bằng lớn
- Chỉ xử lý được các nguyên liệu hữu cơ
- Đòi hỏi phải phân loại rác cẩn thận để tránh ảnh hưởng tới khả năng hoạt động
của vi sinh vật và các tạp chất vô cơ tới chất lượng sản phẩm
1.5.2 Công ngh ệ và kỹ thuật xử lý chất thải rắn sinh hoạt ở Việt Nam
Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều loại công nghệ xử lý chất thải rắn mà Việt Nam có thể áp dụng linh hoạt cho phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương
Tỷ lệ xử lý chất thải rắn bằng phương pháp chôn lấp chiếm 80%, làm phân compost chiếm 6% và các phương pháp khác chiếm 14% Các biện pháp xử lý chất thải rắn
phổ biến hiện nay là : Thiêu đốt, ủ sinh học, chôn lấp, tái chế, tái sử dụng
Trang 31a Phương pháp đốt:
Tuy đảm bảo vệ sinh, gọn nhẹ nhưng chi phí xử lý cao, trang thiết bị rất đắt tiền nên phương pháp thiêu đốt không thích hợp cho việc xử lý rác đại trà ở Việt Nam
mà chỉ được xử lý rác thải y tế Giải pháp xử lý một phần chất thải sinh hoạt được
một số vùng nông thôn hiện nay áp dụng là đốt thủ công
Phương pháp ủ sinh học có chi phí ban đầu thấp, sản phẩm tạo thành là phân hữu
cơ có thể sử dụng trong nông nghiệp Nhưng nhược điểm là qui trình xử lý kéo dài 3-4 tháng, xử lý bãi ủ không tốt dễ gây ra những vấn đề môi trường
Công nghệ xử lý rác thải hữu cơ là phân vi sinh là một hướng công nghệ xử lý có
rất nhiều ý nghĩa và lợi ích, phù hợp với điều kiện của các địa phương Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất trong phương pháp sản xuất phân hữu cơ là hiện không phân loại rác tại nguồn
+ Viện Khoa học Thủy lợi (1997): Xây dựng xưởng sản xuất phân vi sinh từ rác
thải sinh hoạt cho xã Thổ Tang, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc có công suất 1.000
tấn/năm, sản xuất thử nghiệm trên 20 tấn phân vi sinh đạt chất lượng tốt Hàm lượng mùn trong phân đạt 16,5%, Lân tổng số đạt 3%, đạm tổng số 1%, Kali tổng
số 1% và 109 bào tử vi sinh/1g phân Đến nay xưởng sản xuất phân vi sinh này đã
ngừng hoạt động do gặp khó khăn trong việc thu gom, phân loại rác và qui chế quản
lý ở địa phương
+ Vũ Thị Thanh Hương - Viện khoa học thủy lợi Việt Nam (2003): Rác thải hữu
cơ sau khi được phân loại, dùng bọt Bosaki và dung dịch EM khử mùi và ủ tự nhiên sau 70 ngày trong điều kiện nhiệt độ mùa hè, không còn mùi hôi thối và các vi khuẩn gây bệnh đường ruột Tỷ lệ các chất vô cơ lẫn trong mùn là 22,6% và muốn
sử dụng chất mùn để bón ruộng cần phải sang để loại bỏ các chất lẫn
Hiện nay, một số địa phương đã chú ý đến xử lý chất thải hữu cơ bằng công nghệ
thổi khí cưỡng bức (ủ hiếu khí) Đây là công nghệ có ưu điểm xử lý nhanh, tận dụng được chất hữu cơ trong rác thải để sản xuất phân bòn, không gây ô nhiễm môi
Trang 32trường không khí và nước ngầm Các phương pháp xử lý rác thải làm phân hữu cơ
bằng phương pháp thổi khí như sau:
Ủ rác thành đống và để lên men tự nhiên có đảo trộn: Đây là phương pháp cổ điển nhất và dễ thực hiện, quá trình kéo dài trong thời gian khoảng 8 tuần với các điều kiện: chiều cao đống ủ là 1,5-2m, nhiệt độ đống ủ khoảng 55P
o
P
C, độ ẩm 50-60% Tuy nhiên, phương pháp này mất vệ sinh và gây ô nhiễm môi trường xung quanh
- Phương pháp ủ rác thành đống không đảo trôn và có thổi khí: Phía dưới đống rác có lắp hệ thống thổi khí, nhờ có hệ thống thổi khí mà quá trình chuyển hóa xảy
ra nhanh hơn, nhiệt độ đống ủ ổn định và phù hợp với quá trình phát triển của vi sinh vật
- Xử lý rác thải bằng vi sinh vật có kiểm soát: Đây là phương pháp sử dụng hệ
thống đóng có sử dụng hệ thống tự động để kiểm soát các thông số của quá trình ủ như nhiệt độ, độ ẩm, và lượng không khí cấp…
Ở TP.Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận: Phân gà và chim cút được thu gom vài ngày mỗi tỉnh và được sủ dụng là phân bón cho trồng trọt ( 75%), nguyên liệu cho
bể Bioga(10%) và nuôi cá( 15%) Phân bò thường được dung lại tại các cơ sở chăn nuôi để bón cho cỏ voi hay các loại cỏ làm thức ăn cho bò( 95% số hộ), bán cho thương lái(72) và một số hộ sử dụng cho hầm Biogas Việc quản lý đối với phân lợn đang gặp nhiều khó khăn do hạn chế về lưu giữu và vận chuyển, pháp sinh mùi gây
mất vệ sinh Việc sử dụng phân lợn để bón ruộng vẫn còn hạn chế, chỉ 6% hộ bán phân, khoảng 29 % hộ làm hầm Biooga và 9% số hộ để nuôi cá
+ Theo PGS.TS Phùng Chí Sĩ: Tận dụng nguồn phế liệu nông nghiệp để sản xuất
nấm rơm, nấm Linh chi…tại Thái Bình và Vĩnh Long; sử dụng vỏ trấu, bã mía, vỏ
hạt điều….làm tăm và ván ép tại Long An, Bến Tre…, lên mem rơm, bã mía là thức
ăn gia suc; sử dụng bùn bã mía làm phân hữu cơ được là ở các tỉnh Tây Ninh, Đồng Nai, Thanh Hóa….Sử dụng quả điều làm nước giải khát ở ĐắcLắc…
Cách này vừa dễ làm, vừa đỡ tốn kém nhưng lại có nhược điểm là không hợp vệ sinh, làm ô nhiễm nguồn nước, các loại khí sinh ra bãi rác… là những tác nhân gây
Trang 33ô nhiễm môi trường nếu như bãi chôn lấp không được quản lý và thiết kế đúng tiêu chuẩn hợp vệ sinh Hầu hết các bãi chôn không có hệ thống thu gom và xử lý nước rác và khí bãi rác
Tỷ lệ thu hồi các chất có khả năng tái chế như giấy, nhựa, thủy tinh, sắt thép…chỉ chiếm 13-20% nhưng hoàn toàn do hoạt động thu gom tự phát mà không
có tổ chức, quản lý Có khoảng 1,5-5% lượng chất thải phát sinh được thu hồi và xử
lý theo phương pháp sản xuất phân vi sinh hữu cơ
Hầu hết các bãi rác hiện nay ở nước ta là các bãi rác lộ thiên đang gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng bao gồm cả các vấn đề về ô nhiễm nước ngầm và nước
mặt do nước rác không được xử lý, các chất gây ô nhiễm không khí, ô nhiễm mùi
ruồi, muỗi, chuột và ô nhiễm bụi, tiếng ồn Sự ô nhiễm tại các bãi rác hiện nay đã và đang ảnh hưởng đến chất lượng môi trường xung quanh và ảnh hưởng trực tiếp tới
sức khỏe ngươi dân địa phương
+ Theo Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam: ở hầu hết các địa phương ở nước ta xử lý rác thải bằng chôn lấp, tuy nhiên các bãi chôn lấp rác thải thường là không đúng tiêu chuẩn và chưa hợp vệ sinh Sở dĩ biện pháp chôn lấp rác được thực
hiện phổ biến vì đây là biện pháp xử lý đơn giản, dễ thực hiện nhưng có nhược điểm chính là tốn nhiều diện tích đất để chôn lấp, thời gian phân hủy rác kéo dài và quá trình xử lý nước thải rất tốn kém cũng như có nguy cơ gây ô nhiễm nước ngầm + Hố rác di động là một giải pháp cho môi trường nông thôn, hố rác gồm 2 phần
là thùng và nắp, thùng rác là hố đất sâu 1,5-2m, nắp thùng được làm bằng vật liệu composite không phân hủy Các hố rác sau khi đã chứa đầy, phân nắp sẽ được di
dời sang hố đào khác , còn phần rác trong thùng sẽ được lấp lại; cứu như vậy hố rác
có thể di chuyển khắp vườn và sử dụng được nhiều lần
Tái sử dụng và tái chế là phương pháp phổ biến ở nhiều hộ gia đình Theo kết
quả nghiên cứu về các hộ gia đình thực hiện năm 1998 thì người dân thường có thói quen tái sử dụng ngay tại gia đình mình
Trang 34Các chất thải có khả năng tái chế và tái sử dụng được những người làm nghề nhặt rác phân loại và sau đó bán cho các cơ sở tái chế Việc thúc đẩy phân loại chất thải
rắn tại nguồn để tăng các hoạt động tái chế trên phạm vi toàn quốc có thể giúp tiết
kiệm được một lượng chi phí đáng kể dung trong tiêu hủy chất thải rắn sinh hoạt 1.6 SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT Ở NÔNG THÔN
1.6.1 S ự tham gia của cộng đồng trong quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở nước ngoài
Các nước cũng chủ động trong quản lý chất thải rắn sinh hoạt bằng các hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thực cộng đồng như:
- Tổ chức cho cộng đồng tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường như chiếu phim về môi trường, các chương trình truyền hình, xuất bản các tạp chí chuyên ngành về môi trường Nhắc nhở mọi người việc tái sử dụng rác thải thông qua các chiến dịch ap-phich;
- Nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là ở các nước phát triển Châu Âu, Mỹ, Úc …
đã lồng ghép vào nhiều chương trình giáo dục phổ thông về kiến thức môi trường đặc biệt vấn đề thu gom, phân loại rác thải như: Tổ chức cho học sinh các trường tham quan các điểm nóng về môi trường rác thải, các cơ sở xử lý rác thải nhằm nâng cao nhận thức của học sinh trong vấn để bảo vệ môi trường nói chung và quản
lý rác thải nói riêng; Khuyến khích việc sử dụng các loại đồ dung học tập làm từ rác tái chế như: giấy, vỏ hộp……
Tại trường tiểu học Oak Grove ( bang Califonia - Mỹ ) đã xây dựng được chương trình về quản lý rác thải với sự tham gia chủ yếu của các em học sinh Từ năm 1992, chương trình này đã hoạt động thành công đưa tỷ lệ tái sử dụng rác thải lên đến 80% Chương trình được thực hiện với nội dung cơ bản sau: (1) Đặt các thùng phân
loại rác tại từng lớp học; (2) Ủ các loại rác thải hữu cơ thành phân bón hữu cơ sử
dụng bón cây xanh trong nhà trường; (3) Rác thải vô cơ được chuyển đến khu tái
chế; (4) Những thức ăn không dung hết trong ngày được thu gom và chuyển đến
những người vô gia cư vào cuối mỗi ngày
Trang 35Ở Cộng Hòa liên bang Đức, tất cả các bang, các khu đô thị, dân cư đều có các cơ quan, công ty khuyến cáo tuyên truyền cho chương trình bảo vệ môi trường sống nói chung và đặc biệt là vấn đề thu gom, phân loại và xử lý rác thải sinh hoạt nói riêng Họ xây dựng những tài liệu, tư liệu giảng bài cho cộng đồng gồm: (i) Sáng
rạo ra những thùng phân tách rác với những màu sắc, ký hiệu rõ rệt, đẹp, hấp dẫn,
dễ phân biệt, (ii) Các loại rác phế thải được tách ra theo các sơ đồ, hình ảnh dây chuyền rất dễ hiểu, dễ làm theo, từ phân loại rác thải giấy, thủy tinh, kim loại, chất
dẻo nhân tạo, vải và đặc biệt là rác thải hữu cơ,(iii) Hoạt động tuyên truyền, khuyến cáo còn được thể hiện bằng các ap-phich tuyên truyền phong phú, hấp dẫn
1.6.2 S ự tham gia của cộng đồng trong quản lý chất thải rắn sinh hoạt nông thôn trong nước
1.6.2.1 Cộng đồng dân cư đang đóng vai trò chính trong quản lý chất thải rắn ở nông thôn
Các địa phương đã triển khai được việc huy động cộng đồng tham gia vào công tác dọn vệ sinh, giải quyết các tụ điểm tồn đọng rác thải gây ô nhiễm môi trường và trong phong trào hưởng ứng tuần lễ quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường (29/04-06/05), ngày kỷ niệm môi trường thế giới (05/06) Nhiều tỉnh đã triển khai
công tác xã hội hoá, huy động cộng đồng tham gia quản lý chất thải rắn như: Tỉnh Bắc Ninh, Hà Tây, Thái Nguyên, Hải Dương, Bắc Giang, Nam Định
1.6.2.2 Nhận thức của cộng đồng hạn chế dẫn đến tổ chức thu gom rác thải ở nông thôn còn gặp nhiều khó khăn
Người dân ở các vùng nông thôn đều rất bức xúc về tình trạng rác thải chưa được thu gom, xử lý nhưng việc tổ chức thu gom, xử lý rác thải tập trung cho 1 xã/ thị trấn là rất khó khăn ở bất kỳ địa phương nào cũng gặp phải sự phản ứng của người dân trong việc lựa chọn các bãi tập kết, chôn lấp rác thải ở Thái Thụy, bãi rác thị trấn Diêm Điềm xây dựng xong người dân ở các địa phương chặn đường không cho các xe rác đi qua Khu xử lý rác thải thị trấn Hồ đã được đa số người dân chấp nhận, UBND tỉnh Bắc Ninh đã ra quyết định thu hồi đất nhưng chỉ có 2 hộ dân không
Trang 36đồng ý cũng phải chuyển đi địa điểm khác
Mặc dù đã có quyết định cấp đất theo qui
hoạch của tỉnh nhưng công tác giải phóng
mặt bằng kéo dài hơn một năm
Phần lớn người dân chưa nhận thức
được trách nhiệm của mình trong quản lý
chất thải rắn, khi bức xúc về rác thải trong
khu dân cư, họ thường gặp chính quyền
địa phương để phản ánh đặc biệt đối với
các dịp đại hội Đảng, tiếp xúc cử tri Ở
huyện Nho Quan (Ninh Bình) khi chuẩn bị đại hội Đảng lần thứ XXIV nhân dân mang rác đến đổ ở cổng UBND huyện, đốt lửa ngay tại biển chào mừng Đại hội Đảng nhưng khi vận động tham gia các chương trình phân loại rác thải, đổ rác đúng giờ và nơi qui định, tăng mức đóng góp phí thu gom thường rất khó khăn
1.6.2.3 Lựa chọn vị trí các bãi chôn lấp rác thải là một vấn đề rất khó khăn ở nông thôn
Cộng đồng dân cư nông thôn phân bố trong các làng bản tương đối khép kín, mỗi làng bản thường là một họ tộc và có những tập quán, tín ngưỡng và hương ước riêng biệt Tổ chức thu gom, xử lý rác thải ở nông thôn do hình thành tự phát nên cũng không nằm ngoài những tập quán trên Rác thải được tổ chức thu gom theo từng xóm hoặc cụm dân cư, mỗi cụm dân cư có một điểm tập kết rác thải và có những qui định riêng do những người cùng hưởng dịch vụ tự thỏa thuận Quan niệm chung của người dân nông thôn, rác thải là những thứ thải bỏ dơ bẩn, không thể mang từ làng, bản nay đến làng, bản khác Do vậy, việc lựa chọn các khu xử lý rác thải tập trung của 1 xã/ thị trấn đã gặp rất nhiều khó khăn do sự phản ứng của người dân Xe vận chuyển rác thải từ thôn/ xóm này cũng khó có thể đi qua thôn xóm khác Một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng nêu trên là ở tất cả các vùng nông thôn đều chưa có được các khu xử lý rác thải hợp vệ sinh Người dân nông thôn cũng chưa nhận thức đầy đủ những tác hại của việc xử lý rác thải không hợp vệ sinh và những lợi ích của việc thu hồi và tái chế rác thải
Đốt rác tại chân biển chào mừng Đại hội Đảng bộ ở Nho Quan - Ninh Bình
Trang 371.7 ĐÁNH GIÁ CÁC KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VÀ NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG TỒN TẠI TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT Ở NÔNG THÔN
1.7.1 Đánh giá những kết quả đã đạt được của công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt nông thôn
Nói chung, chính sách quản lý chất thải ở nước ta đã thể hiện rõ chủ trương và quan điểm của Đảng và Nhà nước, coi bảo vệ môi trường là nhiệm vụ quan trọng, gắn liền với công cuộc hiện đại hóa đất nước Từ đó tác động tích cực đến công tác quản lý chất thải nói chung và quản lý chất thải nông thôn nói riêng Chất thải rắn sinh hoạt là nguyên nhân quan trọng khiến môi trường nông thôn bị ô nhiễm Theo
số liệu thống kê của cơ quan chức năng, 1 người dân ở các đô thị lớn mỗi ngày thải trung bình 1kg rác thì ở nông thôn, con số này là 0,6-0,7kg rác/ngày/người
Nghị định số 59/2007/NĐ-CP là văn bản dưới luật đầu tiên đề cập đến vấn đề chất thải nông thôn Nghị định đã quy định một số điểm về hình thức xử lý rác thải
từ nông thôn, nghiêm cấm các hành vi đổ thải bừa bãi ra đường, sông ngòi, suối, kênh rạch và các nguồn nước mặt
Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050 mới được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 17/12/2009 là cơ sở pháp lý cho việc triển khai một kịch bản quản lý phối hợp để thực hiện phương thức quản lý tổng hợp chất thải rắn Bộ TN&MT là địa chỉ thích hợp nhất cho việc chủ trì xây dựng một đề án quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn, trong đó bao gồm không chỉ bản thân các loại chất thải rắn mà còn cả các đối tượng phát thải, xả thải (doanh nghiệp, hộ gia đình ), các chủ thể quản lý chất thải (các cơ quan quản lý nhà nước trung ương và địa phương) và các đối tượng có thể tham gia, cung cấp các dịch vụ thu gom, xử lý chất thải rắn (các tổ chức, cộng đồng trong xã hội)
Chiến lược Quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050 đã đặt ra các mục tiêu cụ thể quản lý chất thải rắn từ đô thị đến nông thôn Chiến lược đã góp phần nâng cao nhận thức của các cấp chính quyền địa phương trong việc quản lý chất thải nông thôn Mới đây, thành phố Hà Nội đã có
Trang 38nhiều giải pháp quyết liệt nhằm cải thiện môi trường nông thôn khu vực ngoại thành, trong đó một giải pháp hàng đầu là tập trung quản lý, thu gom và xử lý rác thải Tính đến 09/8/2010 đã có 83% số xã, thị trấn ở ngoại thành thành lập các tổ thu gom rác thải, trong đó có 148 xã (37%) đã thu gom rác đi xử lý tập trung Trên phạm vi cả nước đã triển khai nhiều hoạt động nhằm cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường Công tác tuyên truyền, vận động nhân dân được coi trọng Môi trường ở nhiều khu vực nông thôn được cải thiện (theo http://www.nhandan.com.vn)
1.7.2 Đánh giá những tồn tại và nguyên nhân những vấn đề chưa làm được trong công tác quản lý chất thải sinh hoạt nông thôn
Ở nông thôn hiện nay việc đổ rác diễn ra khá thoải mái, nhiều vùng rác ngập ngụa Theo thói quen, nhiều người thường vứt bừa bãi chất thải ra ngoài đường, trên ruộng, mương máng hoặc ngay góc vườn nhà mình Chính những đống rác thải sinh hoạt đổ lung tung này lâu ngày tích tụ lại, sau những trận mưa đó phát tán ra các nơi, gây ô nhiễm môi trường Trước đây, ở nông chủ yếu chỉ cú rác hữu cơ, có thể tự phân hủy; nhưng hiện nay rác vô cơ, túi ni-lông và nhiều tạp chất khác ngày càng
nhiều và sự ô nhiễm càng nghiêm trọng hơn
Nguyên nhân của tình trạng đổ rác bừa bãi là do nhận thức người dân còn giản đơn trong vấn đề rác thải Ở đa số vùng nông thôn, công tác truyền thông về môi trường nói chung và chất thải nói riêng cũn chưa được thường xuyên, việc hướng dẫn cho bà con cách xử lý rác thải cũng mới được quan tâm
Thời gian qua, Chính phủ ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật về quản lý chất thải rắn nhưng hầu hết áp dụng cho khu vực đô thị và khu công nghiệp Nghị định 59/2007/NĐ-CP quy định về các hoạt động quản lý chất thải rắn có thể áp dụng đối với khu vực nông thôn, nhưng lại thiếu sự phân công trách nhiệm cụ thể đối với từng ngành, cấp Chiến lược quốc gia về cấp nước và vệ sinh nông thôn đến năm 2020 do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2000 là văn bản pháp quy quan trọng nhất đối với vấn đề vệ sinh môi trường nông thôn, song lại chưa đề cập đến quản lý chất thải rắn, nước thải sinh hoạt và vỏ bao thuốc bảo vệ thực vật Điều này
Trang 39dẫn đến sự thiếu hụt bất cập trong phân công trách nhiệm giữa các cấp trong công tác quản lý chất thải
Trong khi đó, một số văn bản đã ban hành rất khó áp dụng đối với khu vực nông thôn Thông tư liên tịch của Bộ Khoa học-Công nghệ và Bộ Xây dựng hướng dẫn các quy định về bảo vệ môi trường đối với việc lựa chọn địa điểm xây dựng và vận hành bãi chôn lấp chất thải rắn Các tiêu chuẩn quy định trong thông tư rất khó áp dụng cho các bãi chôn lấp chất
thải rắn quy mô nhỏ cho cấp xã
Ví dụ, tiêu chí về điều tra quy
định tại phụ lục 5 của Thông tư
rất khó thực hiện khi xây dựng
bãi chôn lấp quy mô nhỏ cấp xã
hay như các công trình cơ bản
trong bãi chôn lấp quy định trong
phụ lục 6 yêu cầu bãi chôn lấp
quy mô nhỏ phải có hệ thống thu
gom và xử lý nước rác cũng khó
áp dụng trong thực tế Thông tư số 13/2007/BXD hướng dẫn thực hiện nghị định 59/2007/NĐ-CP về quản lý chất thải chủ yếu hướng dẫn quy hoạch quản lý chất thải rắn nguy hại, quản lý chất thải rắn liên vùng, liên đô thị Trong khi khu vực nông thôn chủ yếu là quản lý chất thải rắn theo xã, thị trấn, thậm chí theo cụm dân
cư thôn xóm, gia đình Thiếu cơ chế hoạt động, việc bố trí kinh phí phục vụ công tác này hạn chế, chủ yếu do ngân sách các xã, huyện và người dân đóng góp
1.8 BÀI HỌC CỦA CÁC NƯỚC VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT
Ở NÔNG THÔN
1.8 1 Ưu nhược điểm, tác động của các chính sách đến công tác quản lý chất
th ải rắn
Nhìn chung, các nước trên thế giới đã đưa ra rất nhiều các chính sách quản lý
chất thải Tùy theo điều kiện của từng quốc qua, các chính sách quản lý chất thải ở
Bãi t ập kết rác tạm thời thị trấn Trúc Sơn
huy ện Chương Mỹ - Hà Nội
Trang 40mỗi nước cũng khác nhau, tuy nhiên, các chính sách đều tập trung vào một số điểm quan trọng:
- Các công cụ kinh tế trong chính sách quản lý chất thải đã tỏ ra có hiệu quả cao
Ở nhiều nước (Trung Quốc, Mỹ…) áp dụng hệ thống thu phí đổ bỏ tính theo lượng rác thải phát sinh, như vậy sẽ kích thích được việc áp dụng các biện pháp làm
giảm lượng rác thải như tái chế, tái sử dụng…, làm giảm tối đa lượng rác phát sinh
phải thu gom Tuy nhiên, để áp dụng được kiểu thu phí này, phải có hệ thống quản
lý chặt chẽ, các gia đình phải được phát túi hoặc thùng đựng rác tiêu chuẩn, và đặc
biệt, phải có chế tài xử phạt để ngăn chặn việc người dân đổ rác bừa bãi để giảm lượng rác cho vào túi (thùng) tiêu chuẩn nhằm trốn phí
Theo Moore và cộng sự (1989), các bang áp dụng các hệ thống ký quỹ - hoàn trả báo cáo rằng 80 - 95% các bao bì ký quỹ, đã được tự nguyện hoàn trả để tái chế
Việc áp dụng công cụ kinh tế (5 - 10 cent được trả lại cho một bao bì) đủ để tạo ra được các kết quả mong muốn
Trên thực tế, các hệ thống ký quỹ - hoàn trả tỏ ra có hiệu quả hơn là các hệ thống
tự nguyện hoàn trả, bởi lẽ chúng bù đắp cho các hành vi tốt Theo cách nhìn hành chính, những hệ thống này là có hiệu quả Chúng không đòi hỏi giám sát hoặc
những sự liên quan khác của các nhà cầm quyền Theo hệ thống này, tiền ký quỹ được nộp cho các thương gia để rồi sẽ được chuyển cho các cơ quan đăng kiểm, sau
đó các cơ quan này sẽ hoàn trả lại cho các chủ xe nào xuất trình giấy chứng nhận đã đập vụn vỏ thân xe Về hiệu quả của các hệ thống ký quỹ - hoàn trả, chưa có đánh giá nào so sánh chi phí của các hệ thống ký quỹ - hoàn trả với chi phí của các phương pháp thay thế, với các kết quả môi trường tương đương
- Vấn đề tái chế và giảm thiểu chất thải được quan tâm đặc biệt trong các chính sách trên thế giới
Hệ thống ký quỹ, hoàn trả là một công cụ góp phần tích cực làm giảm thiểu chất
thải Các chính sách hỗ trợ cũng đều tập trung vào các dự án tái chế chất thải hoặc
dự án sử dụng nguyên liệu là rác thải, sản phẩm thừa, từ đó góp phần kích thích