1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN CỨU DIỄN BIẾN VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU XÂM NHẬP MẶN DẢI VEN BIỂN ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA NƯỚC BIỂN DÂNG

105 128 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 4,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng và phạm vi nghiên cứu trong tính toán thủy lực và xâm nhập mặn là hạ lưu sông Hồng – Thái Bình được chọn giới hạn từ Sơn Tây, Chũ, Cầu Sơn trở r

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

PHẠM TẤT THẮNG

NGHIÊN CỨU DIỄN BIẾN VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU XÂM NHẬP MẶN DẢI VEN BIỂN ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA NƯỚC BIỂN DÂNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT

HÀ NỘI - NĂM 2011

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

PHẠM TẤT THẮNG

NGHIÊN CỨU DIỄN BIẾN VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU XÂM NHẬP MẶN DẢI VEN BIỂN ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA NƯỚC BIỂN DÂNG

Chuyên ngành: Quy hoạch và Quản lý Tài nguyên nước

Mã số: 60 – 62 – 30

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thu Hiền

GS.TS Hà Văn Khối

HÀ NỘI - NĂM 2011

Trang 3

1

I LÝ LỊCH SƠ LƯỢC:

Họ và tên: Phạm Tất Thắng Giới tính: Nam

Ngày, tháng, năm sinh: 02/9/1983 Nơi sinh: Ba Vì, Hà Nội

Quê quán: Ba Vì, Hà Nội Dân tộc: Kinh

Chức vụ, đơn vị công tác trước khi đi học tập, nghiên cứu: Chuyên viên,

Phòng Khoa học Công nghệ - Trường Đại học Thủy lợi

Chỗ ở hiện nay hoặc địa chỉ liên lạc: Số nhà 118, tổ 12, Phường Kiến Hưng,

Quận Hà Đông, Thành Phố Hà Nội

Điện thoại cơ quan: 043 5641053 Điện thoại nhà riêng: 0466 735103

Di động: 0982 599 685 Fax: 043 8534198

Email: ptthang@wru.edu.vn; phamtatthang@wru.vn

II QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO:

1 Trung học chuyên nghiệp:

Hệ đào tạo: Thời gian từ: / đến /

Nơi học (trường, thành phố): Ngành học:

2 Đại học:

Hệ đào tạo: Chính quy Thời gian từ: 9/2001 đến 6/2006

Nơi học (trường, thành phố): Trường Đại học Thủy lợi, Thành phố Hà Nội

Ngành học: Thủy nông – Cải tạo đất

Tên đồ án, luận án hoặc môn thi tốt nghiệp: Thiết kế trạm bơm tưới Đan Hoài I –

Trang 4

2

Hệ đào tạo: Tập chung Thời gian từ: 10/2009 đến 10/2011

Nơi học (trường, thành phố): Trường Đại học Thủy lợi, Thành phố Hà Nội

Ngành học: Quy hoạch và Quản lý Tài nguyên nước

Tên luận văn: Nghiên cứu diễn biến và đề xuất giải pháp giảm thiểu xâm nhập mặn dải ven biển Đồng Bằng Bắc Bộ dưới tác động của nước biển dâng

Ngày và nơi bảo vệ :

Người hướng dẫn: TS Nguyễn Thu Hiền, GS.TS Hà Văn Khối 4 Trình độ ngoại ngữ (biết ngoại ngữ gì, mức độ): Tiếng Anh, Toefl itp 467 5 Học vị, học hàm, chức vụ kỹ thuật được chính thức cấp; số bằng, ngày cấp và n ơi cấp:

III QUÁ TRÌNH CÔNG TÁC CHUYÊN MÔN TỪ KHI TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC: Thời gian N ơi công tác Công việc đảm nhiệm 7/2006 ÷ 10/2006 Công ty tư vấn và chuyển giao công nghệ, Trường Đại học Thủy lợi Cán bộ kỹ thuật 11/2006 đến nay Phòng Khoa học Công nghệ, Trường Đại học Thủy lợi Chuyên viên quản lý khoa học công nghệ VI KHEN THƯỞNG VÀ KỶ LUẬT TRONG QUÁ TRÌNH HỌC CAO HỌC:

Trang 5

3

1 KS Phạm Tất Thắng, TS Nguyễn Thu Hiền, PGS.TS Trần Viết Ổn; Tạp chí khoa học kỹ thuật thủy lợi và môi trường (ISNN 1859 – 3941); số 33 – tháng 6 năm 2011; Hiệu quả của quy trình trữ nước mưa trong việc giảm căng thẳng về nguồn nước mùa kiệt trong bối cảnh biển đổi khí hậu – nước biển dâng cho dải ven biển Đồng Bằng Bắc Bộ

2 PGS.TS Trần Viết Ổn; KS Phạm Tất Thắng; ThS Giang Thu Thảo; Tạp chí khoa học kỹ thuật thủy lợi và môi trường; số 29 tháng 6 năm 2010; Kết quả nghiên cứu ứng dụng quy trình tưới tiết kiệm nước cho lúa tại Phương Đình – hệ thống Đan Hoài

3 ThS Nguyễn Xuân Đông, KS Phạm Tất Thắng, PGS.TS.Trần Viết Ổn; Tạp chí khoa học kỹ thuật thủy lợi và môi trường; số đặc biệt (kỷ niệm 50 năm thành lập trường Đại học Thủy lợi) – tháng 9 năm 2009; Nghiên cứu xây dựng phần mềm tính toán chế độ tưới tiết kiệm nước cho lúa

XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN CỬ ĐI HỌC Ngày 30 tháng 8 năm 2011

(Ký tên, đóng dấu) Người khai ký tên

Trang 6

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ 3

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 4

MỞ ĐẦU 5

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 7

1.1 Tổng quan các nghiên cứu về biến đổi khí hậu – nước biển dâng 7

1.2 Tổng quan các nghiên cứu về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu – nước biển dâng đến ngành thủy lợi 9

1.3 Tổng quan trong và ngoài nước về đối tượng nghiên cứu của đề tài 12

1.3.1 Các nghiên cứu quốc tế về vùng cửa sông 12

1.3.2 Các nghiên cứu trong nước 13

1.4 Kết luận 14

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÙNG NGHIÊN CỨU 15

2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên vùng nghiên cứu 15

2.1.1 Vị trí địa lý 15

2.1.2 Đặc điểm địa hình 15

2.1.3 Mạng lưới sông ngòi 17

2.2 Đặc trưng khí hậu và nguồn nước 20

2.2.1 Đặc trưng khí hậu 20

2.2.2 Dòng chảy 26

2.2.3 Thủy triều và xâm nhập mặn 28

2.3 Các kịch bản biến đổi khí hậu – nước biển dâng 29

2.3.1 Các biểu hiện của biến đổi khí hậu, nước biển dâng 29

2.3.2 Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam 32

2.3.3 Khuyến nghị kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam 37 CHƯƠNG 3 NGHIÊN CỨU DIỄN BIẾN XÂM NHẬP MẶN DẢI VEN BIỂN ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA NƯỚC BIỂN DÂNG 38

3.1 Đánh giá tình xâm nhập mặn dải ven biển đồng bằng bắc bộ và tính toán biên dùng nước 38

3.1.1 Đánh giá tình hình xâm nhập mặn dải ven biển Đồng Bằng Bắc Bộ 38

3.1.2 Tính toán biên dùng nước 41

Trang 7

3.2 Ứng dụng mô hình MIKE 11 mô phỏng tính toán dòng chảy kiệt và xâm

nhập mặn vùng nghiên cứu 44

3.2.1 Giới thiệu mô hình 44

3.2.2 Thuật toán giải hệ phương trình S.Venant trong mô hình MIKE11 45

3.2.3 Các phương án tính toán 50

3.2.4 Sơ đồ tính toán và tài liệu cơ bản 51

3.2.5 Mô phỏng hiệu chỉnh và kiểm định mô hình 56

3.2.6 Kết quả tính toán 63

CHƯƠNG 4 NGHIÊN CỨU, ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NHẰM GIẢM THIỂU XÂM NHẬP MẶN DO NƯỚC BIỂN DÂNG 69

4.1 Tổng quan về các giải pháp giảm thiểu xâm nhập mặn 69

4.1.1 Nhóm các giải pháp công trình 69

4.1.2 Nhóm các giải pháp phi công trình 71

4.2 Giải pháp xây dựng các cống ngăn mặn giảm thiểu xâm nhập mặn 72

4.3 Giải pháp giảm lượng nước tưới tại mặt ruộng 77

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 82

TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

DANH MỤC CÁC BÀI BÁO KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ 87

PHỤ LỤC TÍNH TOÁN 88

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Hình 2.1 Bản đồ địa hình, sông suối hệ thống sông Hồng - sông Thái Bình 16

Hình 2.2 Diễn biến chuẩn sai nhiệt độ trung bình toàn cầu (Nguồn: IPCC/2007) 30

Hình 2.3 Diễn biến của mực nước biển trung bình toàn cầu Nguồn: IPCC/2007 31

Hình 2.4 Diễn biến của mực nước biển tại Trạm hải văn Hòn Dáu 32

Hình 3.1 Sơ đồ minh hoạ cân bằng nước khi thiết lập phương trình liên tục 46

Hình 3.2 Hệ thống sông và mặt cắt vùng nghiên cứu 53

Hình 3.3 Sơ đồ mạng lưới sông, mặt cắt hạ lưu vực sông Hồng - Thái Bình 56

Hình 3.4 Quá trình dòng chảy trạm Như Tân 57

Hình 3.5 Quá trình dòng chảy trạm Phú Lễ 58

Hình 3.6 Quá trình dòng chảy trạm Ba Lạt 58

Hình 3.7 Quá trình dòng chảy trạm Định Cư 58

Hình 3.8 Quá trình dòng chảy trạm Đông Xuyên 59

Hình 3.9 Quá trình dòng chảy trạm Quang Phục 59

Hình 3.10 Quá trình dòng chảy trạm Kiến An 59

Hình 3.11 Quá trình dòng chảy trạm Cửa Cấm 60

Hình 3.12 Quá trình dòng chảy trạm Do Nghi 60

Hình 3.13 Quá trình dòng chảy trạm Đôn Sơn 60

Hình 3.14 Quá trình dòng chảy trạm Cao Kênh 61

Hình 3.15 Quá trình dòng chảy trạm Trung Trang 61

Hình 3.16 Quá trình dòng chảy trạm Chanh Thử 61

Hình 3.17 Quá trình dòng chảy trạm Phả Lại 62

Hình 3.18 Quá trình dòng chảy trạm Hưng Yên 62

Hình 3.19 Quá trình dòng chảy trạm Nam Định 62

Hình 3.20 Quá trình dòng chảy trạm Trực Phương 63

Hình 3.21 Diễn biến độ mặn lớn nhất dọc sông Đáy 64

Hình 3.22 Diễn biến độ mặn lớn nhất dọc sông Hồng 64

Hình 3.23 Diễn biến độ mặn lớn nhất dọc sông Ninh Cơ 65

Hình 3.24 Diễn biến độ mặn lớn nhất dọc sông Trà Lý 65

Hình 3.25 Diễn biến độ mặn lớn nhất dọc sông Thái Bình 66

Hình 3.26 Diễn biến độ mặn lớn nhất dọc sông Đá Bạc 66

Hình 3.27 Diễn biến độ mặn lớn nhất dọc sông Cấm 67

Hình 3.28 Diễn biến độ mặn lớn nhất dọc sông Lạch Tray 67

Hình 3.29 Diễn biến độ mặn lớn nhất dọc sông Văn Úc 68

Hình 4.1 Diễn biến độ mặn lớn nhất dọc sông Đáy 73

Hình 4.2 Diễn biến độ mặn lớn nhất dọc sông Hồng 73

Hình 4.3 Diễn biến độ mặn lớn nhất dọc sông Ninh Cơ 74

Hình 4.4 Diễn biến độ mặn lớn nhất dọc sông Trà Lý 74

Hình 4.5 Diễn biến độ mặn lớn nhất dọc sông Thái Bình 75

Hình 4.6 Diễn biến độ mặn lớn nhất dọc sông Đá Bạc 75

Hình 4.7 Diễn biến độ mặn lớn nhất dọc sông Cấm 76

Hình 4.8 Diễn biến độ mặn lớn nhất dọc sông Lạch Tray 76

Hình 4.9 Diễn biến độ mặn lớn nhất dọc sông Văn Úc 77

Hình 4.10 Tỷ lệ tăng lên của nhu cầu nước tại mặt ruộng (theo loại đất) 80

Hình 4.11 Tỷ lệ tăng lên của nhu cầu nước tại mặt ruộng (theo địa giới hành chính) 80

Hình 4.12 Tỷ lệ giảm đi của nhu cầu nước tại mặt ruộng của việc áp dụng quy trình trữ nước so với kịch bản BĐKH đến năm 2030(theo loại đất) 81

Hình 4.13 Tỷ lệ giảm đi của nhu cầu nước tại mặt ruộng của việc áp dụng quy trình trữ nước so với kịch bản BĐKH đến năm 2030(theo địa giới hành chính các tỉnh) 81

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Đặc trưng hình thái một số sông chính trong HT sông Hồng - Thái Bình 17

Bảng 2.2 Nhiệt độ không khí trung bình năm 21

Bảng 2.3 Độ ẩm trung bình tháng và năm theo các vùng trên lưu vực 22

Bảng 2.4 Lượng bốc hơi ống (PICHE) trung bình tháng và năm theo các vùng 23

Bảng 2.5 Tổng lượng mưa trung bình tháng và năm tại các trạm trên lưu vực 24

Bảng 2.6 Mức tăng nhiệt độ trung bình năm (0C) so với thời kỳ 1980-1999 theo kịch bản phát thải thấp (B1) 33

Bảng 2.7 Mức tăng nhiệt độ trung bình năm (0C) so với thời kỳ 1980-1999 theo kịch bản phát thải trung bình (B2) 33

Bảng 2.8 Mức tăng nhiệt độ trung bình năm (0C) so với thời kỳ 1980-1999 theo kịch bản phát thải cao (A2) 34

Bảng 2.9 Mức thay đổi lượng mưa năm (%) so với thời kỳ 1980-1999 theo kịch bản phát thải thấp (B1) 35

Bảng 2.10 Mức thay đổi lượng mưa (%) so với thời kỳ 1980-1999 theo kịch bản phát thải trung bình (B2) 35

Bảng 2.11 Mức thay đổi lượng mưa năm (%) so với thời kỳ 1980-1999 theo kịch bản phát thải cao (A2) 36

Bảng 2.12 Mực nước biển dâng (cm) so với thời kỳ 1980-1999 37

Bảng 3.1 Bảng phân bố diện tích đất dải ven biển đồng bằng Bắc Bộ 41

Bảng 3.2 Sự biến đổi yếu tố nhiệt độ, lượng mưa và mực nước biển của kịch bản biến đổi khí hậu đến năm 2030 so với kịch bản hiện trạng 51

Bảng 3.4 Kết quả hiệu chỉnh mô hình 57

Bảng 4.1 Quy trình trữ nước đối với vụ Đông xuân 78

Bảng 4.2 Kết quả tính toán lượng nước yêu cầu tại mặt ruộng đối với các phương án: Hiện trạng, BĐKH và mực nước trữ (m3 /ha) 78

Trang 10

MỞ ĐẦU

I Tính cấp thiết của đề tài

Dải ven biển đồng bằng Bắc Bộ thuộc địa giới hành chính của 14 huyện thuộc 5 tỉnh, thành gồm: Huyện Yên Hưng (Quảng Ninh), An Hải, An Lão, Đồ Sơn, Kiến Thụy, Thuỷ Nguyên, tiên Lãng và Vĩnh Bảo (Hải Phòng), Thái Thuỵ, Tiền Hải (Thái Bình ), Hải Hậu, giao Thủy, Nghĩa Hưng (Nam Định) và Kim Sơn (Ninh Bình) Toàn khu vực có dân số 3.120.000 người Diện tích tự nhiên 597.312 ha và hoàn toàn nằm trong châu thổ sông Hồng - Thái Bình

Vùng nghiên cứu bị chi phối đồng thời bởi hệ thống sông Hồng - Thái Bình

và chế độ triều của Vịnh Bắc Bộ Do vậy, khu vực này vừa chịu ảnh hưởng của nước sông do sông ngòi thượng lưu chuyển qua vừa chịu tác động trực tiếp chế độ triều của Vịnh Bắc Bộ Có thể nói khu vực nghiên cứu nằm trong khu vực rất nhạy cảm về chế độ thuỷ văn sông và biển nên diễn biến tài nguyên nước rất phức tạp

Theo Viện Quy hoạch và Thiết kế NN, vùng ven biển Bắc Bộ có 112.738 ha đất mặn phèn chiếm 18,87 % diện tích đất tự nhiên của toàn vùng Phần lớn các

diện tích này đều nằm ở các vùng có điều kiện địa lý thuận lợi cho việc phát triển kinh tế xã hội của khu vực

Hiện nay, vấn đề biến đổi khí hậu – nước biển dâng đang là mối hiểm họa của Việt Nam nói chung Theo thống kê nước biển dâng 1m sẽ có 1.668 km2 đất thuộc đồng bằng sông Hồng bị ngập, 1.874.011 người bị ảnh hưởng Một kịch bản khác chỉ ra rằng, nếu nước biển dâng 2m thì nước sẽ gây ngập 4.693 km2 đất và 5.589.629 người chịu ảnh hưởng ở các mức độ khác nhau (nguồn: Báo Thanh niên) Vấn đề biến đổi khí hậu – nước biển dâng cùng với mực nước các sông hạ thấp dẫn đến mức độ xâm nhập mặn ngày càng ăn sâu vào đất liền làm cho độ mặn tại các cống lấy nước tưới vào mùa kiệt vượt quá mức cho phép Điều này, dẫn đến nguồn nước tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp ngày càng căng thẳng

Do vậy, nghiên cứu diễn biến và đề xuất giải pháp giảm thiểu xâm nhập mặn dải ven biển đồng bằng bắc bộ nói riêng và toàn bộ dải ven biển Việt Nam nói chung dưới tác động của nước biển dâng đến phát triển kinh tế – xã hội, chính trị, văn hóa,… hiện đang là nhiệm vụ cấp bách của toàn ngành thủy lợi

II Mục tiêu của đề tài

Ứng dụng mô hình Mike 11 dự báo xu thế xâm nhập mặn dải ven biển đồng bằng Bắc Bộ dưới ảnh hưởng của mực nước biển dâng

Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp công trình, phi công trình thích hợp nhằm giảm thiểu xâm nhập mặn do nước biển dâng theo hướng phát triển bền vững

Trang 11

III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu trong tính toán thủy lực và xâm nhập mặn

là hạ lưu sông Hồng – Thái Bình được chọn giới hạn từ Sơn Tây, Chũ, Cầu Sơn trở

ra biển

Phạm vi tính toán nhu cầu sử dụng nước là toàn bộ dải ven biển đồng bằng Bắc Bộ thuộc địa giới hành chính của 13 huyện, thị xã thuộc 5 tỉnh là: huyện Yên Hưng (Quảng Ninh); Hải An, Đồ Sơn, Kiến Thụy, Thuỷ Nguyên, Tiên Lãng và Vĩnh Bảo (Hải Phòng), Thái Thuỵ, Tiền Hải (Thái Bình ), Hải Hậu, Giao Thủy, Nghĩa Hưng (Nam Định) và Kim Sơn (Ninh Bình)

IV Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

1) Cách tiếp cận

• Tiếp cận thực tiễn, hệ thống, toàn diện và tổng kết trong thực tế

• Tiếp cận kế thừa tri thức, kinh nghiệm của các nghiên cứu đã có một cách chọn lọc

• Tiếp cận hiện đại: Sử dụng các công cụ hiện đại như các phần mềm thủy lực MIKE 11 để giải quyết các vấn đề của để tài

• Tiếp cận tổng hợp và phát triển bền vững: Các kịch bản phát triển được xem xét theo khía cạnh lợi ích tổng hợp, phát triển tính bền vững

2) Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp điều tra khảo sát thực địa, thu thập tài liệu (tài liệu hiện trạng

và phương hướng phát triển dân sinh kinh tế - xã hội, tài liệu địa hình lòng dẫn các sông thuộc địa hình, địa chất, thổ nhưỡng vùng nghiên cứu)

- Phương pháp phân tích thống kê các tài liệu dân sinh kinh tế, tài liệu khí tượng, thuỷ văn

- Phương pháp mô hình toán: Áp dụng mô hình Mike 11 mô phỏng chế độ thủy văn, thủy lực để đánh giá xu thế diễn biến xâm nhập mặn và khả năng lấy nước của các hệ thống thủy lợi

- Phương pháp chuyên gia (tham khảo ý kiến của các chuyên gia trong việc phân tích tính toán)

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan các nghiên cứu về biến đổi khí hậu – nước biển dâng

Trong mấy thập kỷ qua, nhân loại đã và đang trải qua các biến động bất thường của khí hậu toàn cầu Trên bề mặt Trái đất, khí quyển và thủy quyển không ngừng nóng lên làm xáo động môi trường sinh thái, đã và đang gây ra nhiều hệ lụy với đời sống loài người Các báo cáo của Tổ chức nghiên cứu liên chính phủ về biến đổi khí hậu của Liên hiệp quốc (Intergovernmental Panel on Climate Change - IPCC) và nhiều trung tâm nghiên cứu có uy tín hàng đầu trên thế giới công bố trong thời gian gần đây cung cấp cho chúng ta nhiều thông tin và dự báo quan trọng Theo

đó, nhiệt độ trung bình trên bề mặt địa cầu ấm lên gần 1°C trong vòng 80 năm (từ

1920 đến 2005) và tăng rất nhanh trong khoảng 25 năm nay (từ 1980 đến 2005) Các công trình nghiên cứu quy mô toàn cầu về hiện tượng này đã được các nhà khoa học ở những trung tâm nổi tiếng trên thế giới tiến hành từ đầu thập kỷ 90 thế

kỷ XX Hội nghị quốc tế do Liên hiệp quốc triệu tập tại Rio de Janeiro năm 1992 đã thông qua Hiệp định khung và Chương trình hành động quốc tế nhằm cứu vãn tình trạng “xấu đi” nhanh chóng của bầu khí quyển Trái đất, vốn được coi là nguyên nhân chủ yếu của sự gia tăng hiểm họa Tổ chức nghiên cứu liên chính phủ về biến đổi khí hậu của Liên hiệp quốc (IPCC) đã được thành lập năm 1988, thu hút sự tham gia của hàng ngàn nhà khoa học quốc tế Tại Hội nghị Kyoto năm 1997, Nghị định thư Kyoto đã được thông qua và đầu tháng 2/2005 đã được nguyên thủ 165 quốc gia phê chuẩn Nghị định thư này bắt đầu có hiệu lực từ 10/2/2005 Việt Nam

đã phê chuẩn Nghị định thư Kyoto ngày 25/9/2005 Mới đây, hội nghị lần thứ 12 của 159 nước tham gia hiệp định khung về khí hậu, phiên họp thứ 2 của các bên tham gia Nghị định thư Kyoto đã được Liên hiệp quốc tổ chức tại Nairobi, thủ đô

Kenya

Biến đổi khí hậu có thể gây ra những thảm họa toàn cầu về thiên nhiên - môi trường, đe dọa mạng sống hàng triệu người, làm bùng nổ các làn sóng di cư, thậm chí đe dọa sự tồn tại của nhiều quốc gia ở vị trí thấp so với mực nước biển Có dự báo cho rằng, đến năm 2050, khoảng 150 triệu người có thể phải rời khỏi những khu vực duyên hải do nước biển dâng, bão lụt hoặc nước ngọt bị nhiễm mặn Nếu những điều này xảy ra, cơ cấu địa lý - chính trị cũng như không gian chiến lược ở một số khu vực trên thế giới có thể có sự thay đổi lớn; sự bố trí quốc phòng - an ninh cũng

có thể có những sự xáo trộn không nhỏ

Biến đổi khí hậu có thể làm gia tăng sự khan hiếm và làm thay đổi quá trình phân bổ các nguồn tài nguyên thiết yếu và có tầm chiến lược quan trọng như nước, đất trồng trọt , làm trầm trọng thêm các thách thức an ninh phi truyền thống khác đang nóng bỏng hiện nay như an ninh lương thực, an ninh năng lượng, khoảng cách

Trang 13

giàu-nghèo , từ đó làm gia tăng nguy cơ bất ổn định, xung đột, khủng bố, làm sâu sắc thêm các mâu thuẫn chính trị-xã hội ở nhiều nơi trên thế giới Dự báo đến năm

2025, khoảng 5 tỷ người có thể sẽ sống trong những khu vực có nguy cơ căng thẳng, xung đột liên quan đến sự khan hiếm nước và lương thực Cạnh tranh ảnh hưởng giữa các nước về chi phối, kiểm soát các nguồn tài nguyên thiết yếu của thế giới có chiều hướng gay gắt hơn có thể dẫn tới đối đầu về quân sự liên quan đến việc phân bố lại các nguồn lực của thế giới

Biến đổi khí hậu hiện đang là vấn đề nóng rất được sự quan tâm của các quốc gia trên thế giới nhằm xây dựng những Chương trình ứng phó nhằm giảm thiểu các tác động bất lợi tới môi trường sống, tác động bất lợi tới kinh tế và nhằm bảo vệ tài nguyên đất, nước và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác phục vụ nhu cầu tồn tại

và phát triển của con người

Việt Nam không may mắn nằm trong diện 5 quốc gia bị tác động nhiều nhất bởi biến đổi khí hậu, là hậu quả tăng nhiệt độ làm bề mặt trái đất nóng lên do phát thải khí nhà kính Theo cảnh báo của IPCC đến năm 2100, nếu mực nước biển dâng cao 1m sẽ ảnh hưởng đến 5% đất đai của VN, 10% dân số, tác động đến 7% sản xuất nông nghiệp, giảm 10% GDP (nguồn: Dagupta.et.al.2007), riêng sản xuất kinh

tế biển sẽ suy giảm 1/3 (nguồn UNDP)

Một nghiên cứu gần đây của Ngân hàng thế giới dự báo, Việt Nam là một trong 2 nước (cùng với Bangladesh) bị tác động tồi tệ nhất trên thế giới do nước biển dâng Theo đó, phần lớn đất màu mỡ nhất của Việt Nam sẽ bị chìm ngập, đất nông nghiệp và GDP đều chịu những tác động xấu

Theo kịch bản tính toán thì nếu mực nước biển dâng 1m gây ngập lụt nghiêm trọng ở đồng bằng sông Cửu Long, TP Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, khu vực vùng biển Xuân Thủy (Nam Định), đặc biệt trong đó TP Hồ Chí Minh bị ngập hết Dân các vùng ven biển sẽ chịu ngập lụt hàng năm

Liên Hợp Quốc cảnh báo, nếu mực nước biển tăng thêm 1m thì Việt Nam sẽ đối mặt với mức thiệt hại lên tới 17 tỉ USD/năm; 1/5 dân số mất nhà cửa; 12,3% diện tích đất trồng trọt biến mất; 40.000km2 diện tích đồng bằng, 17.000km2 bờ biển ở khu vực các tỉnh lưu vực sông Mêkông sẽ chịu tác động của lũ ở mức độ không thể dự đoán

Nước biển dâng đe dọa các công trình công nghiệp, giao thông (cảng biển),

đê điều, sạt lở chân móng công trình, chi phí gia cố tăng cường là rất tốn kém Hoạt động của các giàn khoan dầu khí, hệ thống vận chuyển dầu và khí trên biển, các nhà máy điện xây dựng ven biển sẽ bị ảnh hưởng Mực nước biển dâng sẽ làm các quần

xã sinh vật thay đổi cấu trúc và thành phần, trữ lượng bổ sung bị giảm sút, các chế

Trang 14

độ thủy hóa, lý, sinh xấu đi, sinh vật biển bị tổn hại Dự báo trữ lượng các loài hải sản kinh tế sẽ giảm đi 1/3 so với hiện nay

1.2 Tổng quan các nghiên cứu về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu – nước biển dâng đến ngành thủy lợi

quan tâm nghiên cứu từ những năm 1960 Ở Việt Nam, vấn đề này mới chỉ thực sự bắt đầu được nghiên cứu vào những năm 1990 Các chương trình, đề tài, dự án KHCN đã và đang nghiên cứu có liên quan tới tác động của BĐKH-NBD đến lĩnh

vực thủy lợi, điển hình như:

- Nghiên cứu “BĐKH châu Á: Nghiên cứu cho Việt Nam” do Viện Quy

hoạch Thủy lợi chủ trì thực hiện năm 1994 đã có đánh giá bước đầu tác động của BĐKH tới nguồn nước, các vùng ven biển ở Việt Nam và đề xuất các biện pháp thích ứng, giảm thiểu tác hại cho các ngành kinh tế khác nhau

- Dự án hợp tác “Nghiên cứu tác động của BĐKH ở lưu vực sông Hương và

chính sách thích nghi ở huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế” giữa Viện Khí

tượng thuỷ văn và Môi trường, Chương trình hỗ trợ nghiên cứu khí hậu Hà Lan (NCAP) thực hiện năm 2005 Đã nghiên cứu thí điểm về BĐKH tại một khu vực và

đề xuất việc lồng ghép các biện pháp thích nghi Trên cơ sở phân tích các chuỗi số liệu quan trắc khí tượng thủy văn và môi trường ở khu vực nghiên cứu, tổng hợp kết quả nghiên cứu kịch bản BĐKH của Ủy ban Liên quốc gia về BĐKH (IPCC), của Trung tâm Khí tượng Hardley - Anh, sử dụng các mô hình khu vực khác nhau và phương pháp downscaling thống kê để xây dựng và dự báo các kịch bản BĐKH cho Việt Nam và khu vực Thừa Thiên - Huế Dựa trên các kịch bản được xây dựng, các tác giả đã dự báo các tác động, đánh giá mức độ rủi ro và tính dễ bị tổn thương với BĐKH của tài nguyên môi trường và các ngành kinh tế, xã hội lưu vực sông Hương Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, mới chỉ có rất ít hoạt động được tiến hành nhằm giảm thiểu khả năng bị tổn thương, bảo vệ và phục hồi nguồn tài nguyên nước Chủ yếu các hoạt động chỉ là giải quyết hậu quả thiên tai Hiện có rất ít đầu tư vào các hoạt động phòng ngừa lâu dài Để giảm khả năng bị tổn thương và thiệt hại

do thiên tai: bão lụt, hạn hán, và các tác động khác của BĐKH, cải thiện sinh kế và chất lượng môi trường tự nhiên, lưu vực sông Hương cần có một hệ thống quản lý bền vững

- Đề tài NCKH cấp Bộ: “Nghiên cứu cơ sở khoa học và đề xuất các biện pháp ứng phó cho ĐBSCL đảm bảo việc phát triển bền vững trong điều kiện biến đổi khí hậu - nước biển dâng” do GS.TS Nguyễn Sinh Huy, Trường Đại học Thủy lợi chủ trì

thực hiện (2009 – 2010) Đề tài đã nghiên cứu cơ sở khoa học phục vụ quy hoạch phát triển kinh tế xã hội (đặc biệt là quy hoạch phát triển nông nghiệp) cho ĐBSCL

Trang 15

đảm bảo phát triển bền vững trong điều kiện BĐKH-NBD với các mục tiêu: (1) Nhận dạng BĐKH – NBD trên vùng đồng bằng sông Cửu Long; (2) Đề xuất các biện pháp ứng phó với BĐKH-NBD để bảo vệ sản xuất nông nghiệp, nông thôn bảo đảm phát triển bền vững vùng ĐBSCL; (3) Làm cơ sở cho quy hoạch tổng thể thủy lợi vùng ĐBSCL trong điều kiện khí hậu ấm dần lên và nước biển dâng Đề tài đã đạt được các kết quả: (1)Bằng số liệu thực đo chứng minh được mối liên quan giữa NBD và thủy triều (thủy triều truyền tải NBD), song NBD cũng làm biến dạng thủy triều, dẫn tới sự khác nhau trong tác động của NBD trên các vùng biển bao quanh ĐBSCL; (2) Đề xuất cách tính sự biến dạng của sóng triều trên vùng biển nông theo mô hình Vinawave; (3) NBD làm thay đổi chế độ chảy vùng cửa sông (theo không gian, phân bố, cường độ); (4) NBD làm thay đổi biên độ triều, năng lượng triều, sớm pha triều, thay đổi mốc xói mòn cơ bản, chế độ bùn cát Chế độ động lực cửa sông thay đổi dẫn tới sự thay đổi hình thái, địa mạo vùng cửa sông trong tương lai; (5) Tác động của NBD đến chế độ nước nội đồng khác với trên biển, chân triều tăng nhanh hơn do địa hình, do mức nước tăng nhanh, lưu lượng sóng (Qs), lưu lượng chuyển vực (Qc), lưu lượng tràn (Qt) tăng lên dẫn tới ngập nước nhiều hơn; (6) Bên cạnh những điều bất lợi, báo cáo cũng nêu lên được những lợi thế khi NBD cần biết lợi dụng để cải tạo đồng bằng

- Nhiệm vụ NCKH cấp Bộ: “Điều tra, đánh giá tác động, xác định các giải pháp ứng phó, xây dựng và triển khai các kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu trong các lĩnh vực Diêm nghiệp, Thủy lợi” do TS Nguyễn Tuấn Anh,

Trường Đại học Thủy lợi chủ trì và thực hiện (2010 – 2012) với các mục tiêu: (1) Xây dựng được phương pháp đánh giá tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) đến lĩnh vực thủy lợi và diêm nghiệp; (2) Đánh giá được tác động của BĐKH đến lĩnh vực thuỷ lợi và diêm nghiệp ở nước ta; (3) Đề xuất các giải pháp và kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu trong lĩnh vực thủy lợi, diêm nghiệp

- Nhiệm vụ NCKH cấp Bộ: “Xây dựng và tổ chức đào tạo kiến thức cho cán

bộ trong ngành và cộng đồng về giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu” do

TS Nguyễn Trung Việt, Trường Đại học Thủy lợi chủ trì và thực hiện (2010 – 2012) với các mục tiêu: (1) Điều tra, đánh giá nhận thức, hiểu biết từ cộng đồng dân

cư đến cán bộ công chức, viên chức, cán bộ quản lý trong các hoạt động của ngành

về giảm thiểu và thích ứng với BĐKH từ đó phân loại các đối tượng cán tổ chức đào tạo; (2) Xây dựng khung chương trình đào tạo cho cán bộ trong ngành và cộng đồng về giảm thiểu và thích ứng với BĐKH thuộc các lĩnh vực nông nghiệp, thủy lợi

- Đánh giá sơ bộ tác động của nước biển dâng tại khu vực Đồng bằng sông Hồng, khu vực duyên hải miền trung, đồng bằng sông Cửu Long do Viện Quy

hoạch Thuỷ lợi, Viện Khoa học Thuỷ lợi Việt Nam và Viện Quy hoạch Thuỷ lợi

Trang 16

Miền Nam thực hiện năm 2008 theo yêu cầu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Kết quả tính toán được dựa trên 2 kịch bản: nước biển dâng 0,69 cm và 1m Kết quả cho thấy với cả 2 kịch bản, đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng và khu vực Duyên hải miền Trung sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề từ ngập lụt và xâm nhập mặn Giải pháp thích ứng được đề xuất bao gồm xây dựng, kiên cố hoá các công trình đê sông, đê biển, các công trình ngăn mặn, trồng và phát triển rừng ngập mặn, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vv Tuy nhiên đây mới chỉ là các nghiên cứu bước đầu và chủ yếu mới tập trung vào tác động của nước biển dâng

- Nghiên cứu giải pháp xây dựng mới và nâng cấp các công trình kiểm soát mặn ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nhằm thích ứng với BĐKH, do ThS

Nguyễn Phú Quỳnh, Viện KHTL Miền Nam thực hiện năm 2009-2011 Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu các giải pháp xây dựng mới công trình thuỷ lợi kiểm soát mặn mới ở ĐBSCL và đề xuất được các giải pháp nâng cấp công trình thuỷ lợi kiểm soát mặn hiện có ở ĐBSCL nhằm thích ứng với BĐKH

- Nghiên cứu đề xuất quy hoạch và giải pháp nâng cấp các hệ thống thuỷ lợi vùng ven biển ĐB Sông Hồng nhằm thích ứng với BĐKH do TS Lê Hùng Nam,

Viện Quy hoạch Thuỷ lợi thực hiện nhằm đề xuất được quy hoạch và giải pháp nâng cấp các hệ thống thuỷ lợi vùng ven biển đồng bằng Sông Hồng nhằm thích ứng với BĐKH Trên cơ sở đó, áp dụng trong quy hoạch và thiết kế nâng cấp cho 3

hệ thống thuỷ lợi vùng ven biển ĐB Sông Hồng Đề tài được thực hiện 3 năm

2009-2011

- Dự án “Tác động của BĐKH đến tài nguyên nước ở Việt Nam và các biện

pháp thích ứng” (2008-2009) do Viện KTTVMT thực hiện với sự tài trợ của

DANIDA Đan Mạch Mục tiêu lâu dài của dự án là tăng cường năng lực của các ban ngành, tổ chức và của người dân Việt Nam trong việc thích nghi với tác động của BĐKH đến tài nguyên nước, giảm thiểu đến mức thấp nhất các tác động xấu cũng như thiệt hại do BĐKH gây ra; khôi phục có hiệu quả các tác động này hoặc tận dụng các tác động tích cực của BĐKH Mục tiêu cụ thể của dự án là: (1) Đánh giá tác động của BĐKH đến tài nguyên nước mặt tại một số lưu vực sông của Việt Nam; (2) Đề xuất các giải pháp thích ứng với sự thay đổi tài nguyên nước do BĐKH gây ra

- Năm 2009, Trung tâm START vùng Đông Nam Á (Đại học Chulalongkorn, Thái Lan) và Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu - Đại học Cần Thơ đã phối hợp chạy mô hình khí hậu vùng PRECIS với kịch bản A2 và B2, dựa vào chuỗi số liệu khí hậu giai đoạn 1980-2000 để phỏng đoán giai đoạn 2030-2040 Kết quả mô hình cho thấy nhiều khu vực của vùng Đồng bằng sông Cửu Long sẽ bị tác động mạnh

Trang 17

- Dự án nghiên cứu: Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và tính dễ tổn thương cho thành phố Cần Thơ do Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu - Đại học

Cần Thơ đang thực hiện Tham gia dự án, ngoài Viện, còn có Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược Khoa học và Công nghệ (NISTPASS) thuộc Bộ Khoa học

và Công nghệ, Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam (SIWRR) và Trung tâm Tư vấn Khí tượng-Thủy văn-Môi trường (HMECC) và Ủy ban Nhân dân Thành phố Cần Thơ Đây là một phần của chương trình được tài trơ bởi Quỹ Rockerfeller (Mỹ) Chương trình này hỗ trợ nhóm các thành phố ở Châu Á – mạng lưới các thành phố châu Á (gồm Việt Nam, Thái Lan, Ấn Độ và Indonesia) có khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu (ACCCRN) xây dựng các công cụ và biện pháp thực tế để ứng phó với biến đổi khí hậu, giảm nghèo và quản lý tốc độ đô thị hóa đang gia tăng

Ngoài các nghiên cứu nêu trên còn có một số nghiên cứu khác nữa về đánh giá tác động của BĐKH đến các ngành kinh tế, xã hội nói chung và đến lĩnh vực thủy

lợi nói riêng với quy mô cấp tỉnh

1.3 Tổng quan trong và ngoài nước về đối tượng nghiên cứu của đề tài

Các vùng cửa sông, vùng ven biển thường là bộ phận quan trọng của các lưu vực và là bộ phận nhạy cảm của việc quản lý nguồn nước do cuối nguồn, không ổn định cả về lượng và chất, dễ bị tác động bởi các hoạt động sử dụng và khai thác thượng nguồn Hơn nữa việc khai thác, sử dụng nguồn nước thường đa dạng hơn phía thượng nguồn Các nghiên cứu tại khu vực này do vậy cũng rất đa dạng và thường tập trung vào các lĩnh vực sau đây:

- Nghiên cứu phát triển nguồn nước Đây là nghiên cứu quan trọng nhằm tăng

lượng nước hữu ích, tạo nguồn để đáp ứng nhu cầu dùng nước Thuộc loại này là các nghiên cứu về thủy văn, dòng chảy như vấn đề lũ, hạn, nghiên cứu tăng khả năng tích nước nhờ thay đổi mặt đệm Các nghiên cứu này hiện rất được quan tâm ở

Mỹ, Nhật, Tây Ban Nha vv Các nghiên cứu về xây dựng hồ chứa, đập dâng, các nghiên cứu về tích nước cục bộ vùng đồng bằng, các khu bảo tồn thiên nhiên, các nghiên cứu về bổ cập nhân tạo nước ngầm

- Nghiên cứu xâm nhập mặn và kiểm soát mặn: (1) Về nghiên cứu xâm nhập

mặn vùng cửa sông và vùng ven biển đã thu hút được nhiều sự quan tâm trong đó đáng chú ý là các nghiên cứu quốc tế về sự xâm nhập mặn vùng cửa sông Cửu Long, cửa sông Hồng, cửa sông Hương vv,… (2) Việc dùng nguồn nước ngọt để kiểm soát mặn (tạo ra độ mặn thích hợp) phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, cấp nước dân sinh và nuôi trồng thủy sản đã được nghiên cứu nhiều ở Mỹ, kiểm soát mặn và duy trì hệ sinh thái đa dạng như ở Tây Ban Nha, Hà Lan

Trang 18

- Nghiê n cứu duy trì dòng chảy môi trường sinh thái: Vấn đề dòng chảy môi

trường sinh thái đang đặt ra ngày một cấp bách đối với vùng cửa sông, vùng ven biển Kinh nghiệm của Úc của Tây Ban Nha cho thấy việc khai thác quá mức dòng chính sông Murray-Darling, và các sông vùng ven biển Địa Trung Hải đã làm suy thoái hệ sinh thái vùng hạ lưu, nay đang được sửa chữa bằng việc gia tăng dòng chảy chính nhằm phục hồi lại hệ sinh thái vốn có ban đầu của các cửa sông này

- Nghiên cứu ảnh hưởng của các hoạt động sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản đến tính bền vững về hệ sinh thái vùng ven biển: Đáng chú ý là các

nghiên cứu của trường đại học New Castle (Anh) phối hợp với một số cơ quan nghiên cứu của Việt Nam về quản lý nước và các mô hình canh tác bền vững vùng ven biển Bạc Liêu Các nghiên cứu của các nhà khoa học Nga, Mỹ, Tây Ban Nha về tính bên vững của hệ sinh thái vùng cửa sông Dnhep, Ecuado, Địa Trung Hải khi

sử dụng bãi bồi, rừng ngập mặn để nuôi thủy sản Các nghiên cứu này đã chỉ ra tính không bền vững của loại hình khai thác này

1.3.2 Các nghiên cứu trong nước

Tuy đất có vấn đề vùng ven biển Bắc Bộ đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển chung của vùng Với hơn 175 000 ha chiếm xấp xỉ 29,4% tổng diện tích

tự nhiên toàn vùng Số diện tích này hiện đang được khai thác ở mức độ khác nhau với hiệu quả thấp và không ổn định Nhưng các nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả

sử dụng vùng đất này còn chưa được chú ý đúng mức ngang tầm với thực tế vốn có của nó đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu – nước biển dâng Dưới đây là một

số nghiên cứu chính trong nước ít nhiều liên quan đến vấn đề này

1) Các nghiên cứu của nhóm chuyên gia của Ngân hàng phát triển châu Á

Liên quan đến lĩnh vực này phải kể đến các nghiên cứu của nhóm chuyên gia của Ngân hàng phát triển châu Á do ADB tài trợ về quy hoạch sử dụng nguồn nước lưu vực Sông Hồng (Red River Master Plan) Nghiên cứu này đã chia ra các thành phần gồm:

- Nghiên cứu cân bằng nước lưu vực sông Hồng (bao gồm cả vùng ven biển);

- Nghiên cứu về quá trình xâm nhập mặn và ảnh hưởng của nó đến sản xuất nông nghiệp trong vùng;

- Nghiên cứu thoát lũ và công trình chống lũ cho đồng bằng sông Hồng

2) Đề tài NCKH độc lập cấp Nhà nước: "Nghiên cứu cơ sở khoa học thực tiễn điều hành cấp nước mùa cạn đồng bằng Sông Hồng" do Trường đại học Thủy lợi chủ trì

đã đạt được các kết quả:

- Xây dựng hệ thống các phương án điều hành 4 hồ chứa và các công trình cấp nước chủ yếu ở hạ du đồng bằng sông Hồng của các giai đoạn cấp nước mùa kiệt theo mô

Trang 19

hình của các năm 2004, 2005, và năm có tần suất dòng chảy đến P=85%;

- Đưa ra được các phương án điều tiết hồ chứa và điều hành các công trình lấy nước chính ở hạ du đồng bằng sông Hồng theo mô hình nước đến của các năm 2004,

2005, và năm có tần suất dòng chảy đến P=85%

- Xây dựng phương án phối hợp điều tiết cấp nước các hồ chứa Hòa Bình, Thác Bà, Sơn la, Tuyên Quang và các nút công trình cấp nước chính ở hạ du sông Hồng thời

kỳ mùa kiệt theo mô hình nước đến của các năm 2004, 2005, và năm có tần suất dòng chảy đến P=85%

- Xây dựng biểu đồ điều phối hồ chứa phục vụ điều hành hệ thống

- Xây dựng các mô hình tính toán điều tiết hệ thống hồ chứa cấp nước, phát điện phục vụ công tác điều hành

3) Đề tài NCKH cấp Nhà nước: “Nghiên cứu giải pháp thủy lợi cải tạo, phục hồi

và bảo vệ vùng đất có vấn đề phục vụ phát triển kinh tế xã hội dải ven biển đồng bằng Bắc bộ” do PGS.TS Trần Viết Ổn, Trường Đại học Thủy lợi chủ trì và thực

hiện (2008 – 2011) Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đề xuất các giải pháp thủy lợi thích hợp để cải tạo, phục hồi và bảo vệ vùng đất có vấn đề (đất mặn, phèn, đất cát, đất thoái hoá, đất lầy thụt, đất ô nhiễm do các hoạt động sản xuất của con người)

4 ) “Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam” do Bộ Tài nguyên và môi trường thực hiện đã đưa ra những thông tin cơ bản về xu thế biến đổi khí hậu,

nước biển dâng của Việt Nam trong tương lai tương ứng với các kịch bản khác nhau

về phát triển kinh tế - xã hội toàn cầu dẫn đến các tốc độ phát thải khí nhà kính khác nhau Các kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng sẽ là định hướng ban đầu để các Bộ, ngành, địa phương đánh giá các tác động có thể có của biến đổi khí hậu đối với các lĩnh vực kinh tế - xã hội, xây dựng và triển khai kế hoạch hành động nhằm thích ứng và giảm thiểu tác động tiềm tàng của biến đổi khí hậu trong tương lai

1.4 Kết luận

Vấn đề biến đổi khí hậu – nước biển dâng đang là thách thức lớn của Việt

Nam Trong đó các vùng cửa sông ven biển chính là vùng dễ bị tổn thương nhất

Các nghiên cứu nêu trên ít nhiều đã đề cập đến vấn đề nghiên cứu của đề tài Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu cụ thể nào về diễn biến xâm nhập mặn và đề xuất giải pháp giảm thiểu cho dải ven biển đồng bằng bắc bộ dưới tác động của biến đổi khí hậu - nước biển dâng

Về tổng thể các kết quả nghiên cứu đã đề cập ở trên sẽ là nguồn tài liệu rất có giá trị về phương pháp luận, luận cứ khoa học và là tài liệu tham khảo tốt cho đề tài

Trang 20

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÙNG NGHIÊN CỨU

2 1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên vùng nghiên cứu

Dải ven biển đồng bằng Bắc Bộ thuộc địa giới hành chính của 13 huyện, thị

xã thuộc 5 tỉnh là: huyện Yên Hưng (Quảng Ninh); Hải An, Đồ Sơn, Kiến Thụy, Thuỷ Nguyên, Tiên Lãng và Vĩnh Bảo (Hải Phòng), Thái Thuỵ, Tiền Hải (Thái Bình ), Hải Hậu, Giao Thủy, Nghĩa Hưng (Nam Định) và Kim Sơn (Ninh Bình)

Toàn khu vực có dân số 3.120.000 người Diện tích tự nhiên của toàn khu vực có 597.312 ha và hoàn toàn nằm trong châu thổ sông Hồng - Thái Bình

Toạ độ địa lý:

Vĩ độ cực Bắc: 20030’28,8” (xã Mỹ Hà, huyện Mỹ Lộc)

Vĩ độ cực Nam: 19057’7,2” (xã Nam Điền, huyện Nghĩa Hưng)

Kinh độ cực Tây: 105055’19” (xã Yên Thọ, huyện Ý Yên)

Kinh độ cực Đông: 106033’25”(Cồn Lu, xã Giao An,, huyện Giao Thủy)

Phía Tây Bắc giáp tỉnh Hà Nam, Đông Bắc giáp tỉnh Thái Bình, Tây Nam giáp tỉnh Ninh Bình và Phía Đông Nam giáp Biển Đông Với bờ biển dài gần 300km gắn liền với các hệ thống cảng biển và các cơ sở công nghiệp, dịch vụ quan trọng Vị trí địa lý thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội, phát triển kinh tế nông, lâm, ngư nghiệp và chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong vùng

Địa hình lưu vực thấp dần theo hướng tây bắc-đông nam, địa hình đồi núi chiếm phần lớn lưu vực với độ cao trung bình 1090m Phần phía tây của lưu vực nằm trong lãnh thổ nước ta được giới hạn bởi khối núi ở biên giới Việt-Lào với những đỉnh núi cao trên 1800m như Pu-đen-đinh (1886 m), Pu-sam-sao (1987m), về phía bắc có dãy núi Pu-si-lung (3076 m) nằm ở biên giới Việt-Trung, phía đông được giới hạn bởi cánh cung Ngân Sơn - Yên Lạc với những núi cao trên 1500m như đỉnh Phia Bioc cao 1576m Trung và thượng lưu của hệ thống sông là những khối núi và cao nguyên Đáng kể nhất là dãy Hoàng Liên Sơn kéo dài 180km từ biên giới Việt-Trung đến Vạn Yên với đỉnh Phan-xi-păng cao 3143 m, Pu Luông

2985 m Đó cũng là đường phân nước giữa sông Đà và sông Thao Dãy núi Con Voi chạy gần song song với sông Thao, là đường phân nước giữa sông Thao với sông

Lô Các cao nguyên đá vôi có thể kể đến là các cao nguyên: Ta Phìn, Sín Chải, Sơn

La, Mộc Châu trong lưu vực sông Đà, các cao nguyên Bắc Hà, Quản Bạ, Đồng Văn trong lưu vực sông Lô Xen kẽ những cao nguyên, đồi núi là những thung lũng, bồn địa bằng phẳng như các bồn địa Nghĩa Lộ, Quang Huy Vùng trung du được đặc

Trang 21

trưng bởi địa hình đồi dạng bát úp với độ cao dưới 50-100 m Hạ lưu sông Hồng kết hợp với hạ lưu sông Thái Bình đã tạo thành đồng bằng sông Hồng-sông Thái Bình Như vậy, đồng bằng sông Hồng-Thái Bình (đồng bằng châu thổ Bắc Bộ) do phù sa của 2 hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình bồi đắp, địa hình bằng phẳng, hơi nghiêng ra biển theo hướng tây bắc - đông nam, trừ một số đồi có độ cao thường dưới 10 m Dọc theo các triền sông có đê bao bọc, nên đồng bằng bị chia cắt thành những vùng trũng ở gần bờ biển có các cồn cát và bãi phù sa

Vùng đồng bằng sông Hồng có cao trình mặt đất từ 0,4 ÷ 9m Với 58,4% diện tích đồng bằng sông Hồng ở mức thấp hơn 2m, ở cao trình này hoàn toàn bị ảnh hưởng thuỷ triều nếu không có hệ thống đê biển và đê vùng cửa sông Hơn 72% diện tích đồng bằng ở cao trình thấp hơn 3m ở cao trình này hoàn toàn bị ảnh hưởng nước biển nếu xảy ra lũ kết hợp với hiện tượng triều cường Bốn tỉnh Hải Phòng, Thái Bình, Nam Hà và Ninh Bình có trên 80% diện tích đất đai có cao trình thấp hơn 2m

Dọc theo các sông vùng đồng bằng sông Hồng đều có đê bảo vệ từ nhiều năm nay Vì vậy do tác dụng bồi lắng của phù sa sông Hồng, cao trình vùng mặt đất bãi sông ngoài đê thường cao hơn cao trình mặt đất trong dòng chính từ 3 ÷ 5m

Khi mực nước dọc các triền sông mới ở mức báo động I, tức mực nước lũ gần như năm nào cũng xảy ra (85 ÷ 90%) thì hầu như hoàn toàn vùng đồng bằng nằm dưới mực nước sông trừ các làng mạc đã được tôn tạo hoặc những vùng ngoài

đê được phù sa bồi đắp hàng năm Gặp những lũ lớn xảy ra tràn hoặc vỡ đê thì khó tránh khỏi tổn thất lớn về người và của

Hình 2.1 Bản đồ địa hình, sông suối hệ thống sông Hồng - sông Thái Bình

Trang 22

2 1.3 Mạng lưới sông ngòi

Như đã nêu hệ thống sông Hồng là hệ thống sông lớn thứ hai ở nước ta, chỉ sau hệ thống sông Mê Kông Nhưng nếu xét về phần diện tích lưu vực cũng như lượng dòng chảy được sinh ra trong lãnh thổ nước ta thì nó được xếp hàng đầu

Sông Hồng được hình thành từ 3 sông nhánh lớn là sông Đà, sông Lô và sông Thao Sông Thái Bình cũng được hình thành từ 3 nhánh sông lớn là sông Cầu, sông Thương và sông Lục Nam Hai hệ thống sông được nối thông với nhau bằng sông Đuống và sông Luộc tạo thành lưu vực sông Hồng - sông Thái Bình bảng 1, hình 1

Lưu vực Sông Thái Bình thuộc lãnh Việt Nam về phía bắc của Hà Nội, chảy

về phía đông nam và cuối cùng đổ ra Biển Đông Ở phía nam Hà Nội, sông Đuống tách từ sông Hồng và nhập vào sông Thái Bình chảy về phía đông Cảng Hải Phòng nổi tiếng nằm ở phía bắc cửa sông Thái Bình Hệ thống sông Thái Bình nằm ở khu vực đông bắc Bắc Bộ, phía tây và phía bắc giáp lưu vực sông Hồng, phía đông giáp

hệ thống sông Kỳ Cùng - Bằng Giang, phía đông nam giáp lưu vực các sông nhỏ ở Quảng Ninh và phía nam giáp vịnh Bắc Bộ Phần phía tây và tây bắc là vùng núi cao thuộc cánh cung sông Gâm, Ngân Sơn - Yên Lạc quy tụ về dãy núi Tam Đảo với đỉnh Pia-Bioc cao 1576 m, dãy núi Tam Đảo ở phía tây nam với đỉnh cao 1592m; phần phía bắc và đông bắc là vùng núi thuộc cánh cung Bắc Sơn với một số đỉnh núi cao trên 1000 m như đỉnh Cốc Xe 1131 m, Khao Kiên 1107 m, phía đông nam giáp với tỉnh Quảng Ninh là dãy núi Yên Tử cao 1068 m Vùng đồi núi thấp phân bố ở trung lưu sông Cầu, sông Thương và sông Lục Nam với độ cao dưới 100-

200 m Vùng đồng bằng nằm ở hạ lưu các sông, địa hình bằng phẳng và thấp Nhìn chung, địa hình ở lưu vực sông Cầu thấp dần từ bắc xuống nam, còn ở 2 lưu vực sông Thương và sông Lục Nam thì thấp dần theo hướng đông bắc - tây nam Độ cao trung bình lưu vực của sông Cầu, sông Thương xấp xỉ nhau (190 m) còn ở sông Lục Nam thì cao hơn (207m)

Bảng 2.1 Đặc trưng hình thái một số sông chính trong hệ thống sông Hồng - sông

Thái Bình

Hệ thống

sông

Tên các sông chính

Diện tích lưu vực (km2) Chiều dài (km)

Ghi chú Toàn bộ Trong nước Nước

Trang 23

Hệ thống

sông

Tên các sông chính

Diện tích lưu vực (km2) Chiều dài (km)

Ghi chú Toàn bộ Trong nước Nước

ngoài

Toàn

bộ Trong nước Nước ngoài

Tổng toàn lưu vực 169000 86500 82500

Sông Đáy và đ.b Bắc

bộ

Vùng nghiên cứu nằm hoàn toàn trong vùng châu thổ Bắc Bộ và bị chi phối bởi hệ thống sông Hồng - Thái Bình và chế độ triều của Vịnh Bắc Bộ Do vậy, khu vực này vừa chịu ảnh hưởng của nước sông do sông ngòi thuợng lưu chuyển qua vừa chịu tác động trực tiếp chế độ triều của Vịnh Bắc Bộ Có thể nói khu vực nghiên cứu nằm trong khu vực rất nhạy cảm về chế độ thuỷ văn sông và biển nên diễn biến tài nguyên nước rất phức tạp

Các sông chuyển qua vùng nghiên cứu: Gồm 8 sông lớn là các sông chảy qua vùng nghiên cứu thuộc hệ thống sông Hồng - Thái Bình, cụ thể:

1, Sông Hồng:

Hệ thống sông Hồng là hệ thống sông lớn thứ 2 ở nước ta (diện tích 155.000 km2), chỉ sau hệ thống sông Mê Kông Dòng chính sông Hồng (sông Thao) bắt nguồn từ vùng núi tỉnh Vân Nam Trung Quốc, chảy vào nước ta ở vùng biên giới thuộc tỉnh Lào Cai, chảy qua Thủ đô Hà Nội rồi đổ ra biển tại Ba Lạt Đoạn sông chảy qua Nam Định dài 75km (bắt đầu từ thượng lưu cống Hữu Bị 10 km) tạo nên ranh giới giữa tỉnh Nam Định và Thái Bình

2, Sông Đào

Sông Đào là một phân lưu phía hữu của sông Hồng tại Phù Long phía Bắc thành phố Nam Định và đổ vào sông Đáy tại Độc Bộ Sông hoàn toàn nằm trong

Trang 24

tỉnh Nam Định với diện tích lưu vực185 km2 Chiều dài sông 33,5 km và chiều rộng trung bình là 330m Đây là con sông được đào vào khoảng cuối đời Trần Vào thời kỳ đầu, sông vừa hẹp lại nông, có thể bắc cầu bằng đá để qua lại Hiện nay sông rộng và sâu Độ sâu trung bình 10,0 m, có nơi sâu tới 15,0 m Mỗi năm sông Đào chuyển qua sông Đáy khoảng 20 tỷ m3 nước, mùa cạn chuyển vào hạ lưu sông Đáy một lưu lượng nước trung bình 250 - 300 m3s, sang mùa lũ lên tới khoảng

6700 m3s (tháng 8/1971)

3, Sông Đáy

Sông Đáy trước khi xây dựng Đập Đáy (1937) là một phân lưu tự nhiên của sông Hồng, bắt nguồn từ cửa Hát Môn, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây Diện tích lưu vực sông Đáy là 5800 km2 Hiện nay sông Đáy trở thành con sông độc lập có nhiệm vụ cấp và tiêu nước cho các tỉnh Hà Tây, TP Hà Nội, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình và làm nhiệm vụ phân lũ sông Hồng khi tình huống khẩn cấp (mực nước

sông Hồng tại Hà Nội đến 13,4 m và còn tiếp tục lên) Sông chảy theo nhiều hướng, đoạn đầu theo hướng Bắc - Nam sau chuyển hướng Tây Bắc - Đông Nam qua vùng đồng bằng thuộc các tỉnh: Hà Tây, Hoà Bình, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình và đổ

ra biển tại cửa Đáy Sông có chiều dài 240 km (đoạn qua Nam Định khoảng 82 km), chảy với hệ số uốn khúc lớn có đê bao hầu như suốt chiều dài sông từ đập Đáy đến biển

4, Sông Ninh Cơ

Là một phân lưu lớn phía hữu ở hạ lưu sông Hồng, nhận nước sông Hồng từ cửa Mom Rô và đổ vào biển Đông ở cửa Lạch thuộc hai huyện Hải Hậu và Nghĩa Hưng của tỉnh Nam Định Chiều dài sông khoảng 45 km Sông chịu ảnh hưởng triều khá rõ rệt ngay cả trong mùa lũ Về mùa kiệt sông Ninh Cơ là nguồn nước tưới chính của khu vực huyện Xuân Trường và bắc huyện Giao Thuỷ Đoạn sông thượng lưu hiện đang có xu thế bồi, mạnh mẽ nhất là khu vực hạ lưu cửa Mom Rô nên đang gây ra điều kiện bất lợi cho việc cấp nước tự chảy cho lưu vực sông Sò qua hệ thống cống cấp nước của Công ty Thuỷ nông Xuân Thuỷ

5, Sông Trà Lý Bắt nguồn từ Hưng Hà - Thái Bình đổ ra biển tại cửa Trà Lý, sông dài 64 km

6, Sông Hóa nối giữa sông Thái Bình và sông Luộc

7, Dòng chính sông Thái Bình Được tính từ ngã ba Chí Linh ra đến cửa biển sông dài 90km, sông rộng trung bình 350 ÷ 450m ít dốc bị bồi lắng nhiêu Lòng sông so với trước kia bị thu hẹp nhỏ như đoạn Ngọc Điểm đến Quý Cao Riêng đoạn Quý Cao nay đã bị lấp chỉ còn một lạch nhỏ

Trang 25

8, Sông Văn Úc và nhánh của sông Lạch Tray chúng chảy gần như song song với

nhau và chảy ra biển tại 3 cửa Thái Bình, Văn Úc và Lạch Tray Hiện nay dòng

chính sông Thái Bình đã bị đứt đoạn tại Quý Cao (đoạn sông nối giữa sông Luộc

với sông Văn Úc) làm cho đoạn sông Thái Bình từ Quý Cao đến sông Mía và sông

Luộc ra biển đang bị bồi lắng

2 2 Đặc trưng khí hậu và nguồn nước

1) Chế độ bức xạ

Do ở vùng khí hậu nhiệt đới, nên lưu vực sông Hồng - sông Thái Bình hàng

năm nhận được nguồn năng lượng bức xạ 100 ÷ 200 Kcal/cm2/tháng, trung bình là

Kcal/cm2/tháng, lớn nhất là vào tháng VII, thời kỳ lên cao nhất trên Vĩ độ Bắc

lượng bức xạ tổng cộng tới 12 ÷ 16 Kcal/cm2/tháng Các tháng mùa hạ cán cân bức

xạ tăng tương đối đồng đều trên toàn lưu vực nên mức độ chênh lệch ít hơn các

tháng mùa đông

2) Chế độ nhiệt

Lưu vực sông Hồng và sông Thái Bình nằm giữa ranh giới của vùng nhiệt

đới nội chí tuyến (phần Việt Nam và một phần lưu vực thuộc Trung Quốc) và vùng

cận chí tuyến (phần còn lại trên lãnh thổ Trung Quốc) Nó vừa chịu ảnh hưởng của

gió mùa cực đới Châu á đồng thời do nằm sát bên bờ Thái Bình Dương nên lại chịu

ảnh hưởng thường xuyên mãnh liệt của khí hậu biển cả trong mùa hè và mùa đông,

có khí hậu ôn hoà hơn về mùa hạ so với các vùng nhiệt đới trong lục địa, nhưng lại

có mùa đông lạnh hơn Vì thế lưu vực sông Hồng có nền nhiệt thấp hơn các vùng

nhiệt đới khác của hành tinh song độ ẩm lại phong phú So với toàn quốc lưu vực có

nền nhiệt độ bình quân hàng năm thấp hơn

Do chịu ảnh hưởng nhiều của gió mùa Đông Bắc trong mùa đông và gió mùa

Tây Nam trong mùa hạ nên thời gian ấm nóng trong phần lớn lưu vực kéo dài từ 8 ÷

9 tháng (tháng III ÷ IX, có nhiệt độ trung bình tháng trên 200C, tháng V ÷ IX có

nhiệt độ cao hơn 250C) Nhiệt độ thấp ở hầu khắp trong lưu vực vào tháng XII ÷ II

(thấp nhất thường vào tháng I và đầu tháng II, trên vùng núi cao vào những ngày giá

rét thường có tuyết rơi và nước đóng băng trên bề mặt nhưng cũng chỉ xảy ra trong

ngày

Một điều cần lưu ý là vào đầu mùa hè (tháng V ÷ VI) gió mùa Tây Nam phát

triển mạnh, áp thấp ấn - Miên di chuyển từ Tây sang Đông gây gió Tây mang thời

tiết khô nóng ảnh hưởng nhiều nên trên bề mặt lưu vực lưu vực sông Đà và có khi

Trang 26

còn tràn xuống cả trung du và đồng bằng sông Hồng (thời kỳ này thường đạt tới trị

số cao tuyệt đối, trị số đó thường từ 400

Giang 15.9 17 19.8 23.5 27.1 28.5 28.9 28.3 27.2 24.5 20.9 17.4 23.3 Sơn

Động 15 16.5 19.8 23.7 27 27.9 28.2 27.4 26.2 23.4 19.7 16.4 22.6 Tam

Đảo 10.8 12.2 15.1 18.6 21.6 23 23.1 22.6 21.6 19 15.7 12.7 18.0 Bắc

Cạn 14.4 16 19.2 23 26.2 27.2 27.6 27 25.8 23 19.3 15.8 22.0 Sơn

Tây 15.9 17.1 20.1 23.7 27.1 28.6 28.8 28.2 27.1 24.6 20.1 17.6 23.2

Hà Nội 16.2 17 19.9 23.7 27.4 28.7 29.2 28.5 27.4 24.7 21.3 18 23.5 Phủ Lý 16.1 16.9 19.9 23.5 27.1 28.6 29.1 28.3 27 24.5 21.2 17.8 23.3 Nam

Định 16.2 16.9 19.5 23.4 27.2 28.8 29.3 28.5 27.5 24.7 21.3 18 23.4 Hải

Dương 16.1 16.9 19.7 23.4 27.1 28.7 29.2 28.4 27.3 24.5 21.1 17.7 23.3 Ninh

Bình 16.3 17 19.7 23.4 27.3 28.2 29.2 28.4 27.2 24.8 21.5 17.4 23.4 Thái

Bình 16.3 16.8 19.5 23 26.9 28.3 29.2 28.5 27.1 24.5 21.4 18 23.3 Phù

Liễn 16.3 16.7 19.1 22.6 26.4 28 28.2 27.7 26.8 24.5 21.3 18.1 23.0 Trung

bình 15.5 16.4 19.3 23.0 26.6 27.9 28.4 27.7 26.6 23.9 20.4 17.1 22.7

3) Chế độ ẩm

Độ ẩm trung bình năm trong lưu vực sông Hồng ở phần Việt Nam là một vùng lãnh thổ có trị số cao nhất trong toàn quốc Do có mùa mưa kéo dài, có một phần mưa dông, mưa phùn ẩm ướt Trong đó các vùng dọc sông Thao và sông Chảy

có trị số 86 ÷ 90%, dọc sông Lô 84 ÷ 86%, vùng đồng bằng và trung du (trừ Bắc Ninh + Bắc Giang) 83 ÷ 86%, ở Bắc Giang 81 ÷ 82%, Bắc Thái 82 ÷ 84% Phần Tây Bắc ở phía Nam sông Đà 79 ÷ 80% nhỏ nhất lưu vực phần Việt nam

Trung bình các tháng cao nhất ở các vùng thường rơi vào các tháng nhiều mưa nhất và các tháng mưa phùn dài ngày Độ ẩm tương đối thấp nhất tuyệt đối ở

Trang 27

các vùng nhiều mưa phùn phần lớn rơi vào tháng I, cuối mùa đông lạnh hanh và bắt đầu mùa đông ẩm, ở các vùng ít mưa phùn thì rơi vào giữa hoặc cuối mùa đông, bắt đầu sang mùa mưa tháng III ÷ IV ở Tây Bắc

Bảng 2.3 Độ ẩm trung bình tháng và năm theo các vùng trên lưu vực

Xét theo không gian

Lưu vực sông Hồng có lượng bốc hơi trung bình năm nhỏ (là vùng có lượng bốc hơi nhỏ nhất nước ta): ở Tây Bắc từ 660 ÷ 1150 mm/năm, Việt Bắc 500 ÷ 860 mm/năm, Thái Nguyên 730 ÷ 980 mm/năm, trung du 560 ÷ 1050 mm/năm, đồng bằng 700 ÷ 990 mm/năm

Xét theo thời gian

Trang 28

Các tháng lạnh ẩm có lượng bốc hơi thấp, các tháng khô nóng lượng bốc hơi cao hơn rõ rệt

Bảng 2.4 Lượng bốc hơi ống (PICHE) trung bình tháng và năm theo các vùng trên

Giang 78.3 63.9 62.3 67.4 100 101 110 84 81.7 88.5 88.4 85.7 1012 Sơn

Động 71.4 61.8 73.4 88.2 112 94.4 94.2 69 68.4 75.9 75.8 76.4 961.2 Tam

Đảo 37.4 24.6 29 32.7 54.1 49.1 48.1 42.7 55.3 67.9 66.2 54.4 561.5 Bắc

Cạn 55.8 54.4 58.1 60.5 78.4 66.5 61.3 55.8 61.1 65.7 59.8 57.9 735.3 Sơn

Tây 57.1 50.9 55.2 60.9 84.8 83.6 87.5 68.5 65.4 72 66.3 68.9 821.1

Hà Nội 71.4 59.7 56.9 65.2 98.6 97.8 101 84.1 84.4 95.6 89.8 85 989.1 Phủ Lý 59.1 44 43.2 52.8 84.3 90.3 102 74.2 68.5 78.3 76.2 72.9 845.8 Nam

Định 55.2 40.9 39.4 50.7 86.8 92.9 105 77.5 69.4 79.3 72.4 66.7 835.9 Hải

Dương 75.9 56.7 52.9 59 89.6 96.1 110 80.9 81.2 93.9 94 90 980.1 Hưng

Yên 66.5 49.4 46.2 53.9 84.9 96.1 110 80.9 81.3 93.9 97 90 950 Ninh

Bình 57.4 40.2 38.2 50.6 86.2 97.1 106 75 70.4 81.6 76 72.2 851.3 Thái

Bình 58.5 41.5 40.1 50.6 88.4 98.4 116 77.2 69.1 79.1 80.6 71.4 870.9 Phù

Liễn 54.7 34.5 31.8 38.8 62.4 65.7 70.8 55.9 63.8 76.2 75.2 68.2 698 Trung

bình 62.4 49.0 49.2 57.0 86.5 87.4 93.9 71.7 71.7 81.6 79.0 74.6 23.3

5) Mưa

Sử dụng tài liệu quan trắc của một số trạm đo mưa bảng 5 đại diện có số liệu đầy đủ từ năm 1970 – 2006 Vùng nghiên cứu nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa với bốn mùa rõ rệt: xuân hạ thu đông Tuy nhiên theo lượng mưa có thể phân chia khí hậu thành hai mùa: mùa mưa và mùa khô Mùa mưa bắt đầu từ tháng V đến hết

Trang 29

tháng IX với thời tiết nóng lắm, mưa nhiều Mùa khô bắt đầu từ tháng X đến tháng

IV năm sau với thời tiết khô lạnh

Vào mùa mưa thường có mưa rào và gió Đông Nam, bão và áp thấp nhiệt đới Vào mùa khô có gió mùa Đông Bắc và mưa phùn Lượng mưa trung bình ở Nam Định vào mùa mưa thường từ 435.5- 1.197mm

Lượng mưa năm biến động rất mạnh so với yếu tố khí tượng khác, giá trị cực đại tiểu cực đại của lượng mưa có thể chênh nhau từ hai đến ba lần Nếu xét theo không gian trong lưu vực dao động trong khoảng 1200 ÷ 2000 mm, phần lớn trong khoảng 1800 mm/năm

Lượng mưa năm biến đổi rất lớn từ 1200 mm ÷ 4800mm (thuộc loại mưa lớn của thế giới) Tạo ra tài nguyên khí hậu và tài nguyên nước rất phong phú trong lưu vực sông Hồng - sông Thái Bình

Bảng 2.5 Tổng lượng mưa trung bình tháng và năm tại các trạm trên lưu vực

Bình 14.7 20.9 34.1 94.8 239 257 322 333 325 185 51.6 11.8 1890 Yên

Châu 10.8 18 32.2 100 139 195 201 267 145 69.7 25 8.7 1211 Mộc

Châu 14.4 22.3 35.6 98.6 167 228 265 321 249 119 30.7 11 1561 Mường

Tè 23.9 29.5 52.1 123 257 440 620 459 198 111 75.3 26.3 2415 Than

Uyên 28.9 40.9 57.7 159 226 387 444 385 155 75.9 39.6 17.7 2017 MùCăng

Chải 26.5 35.6 53.7 136 220 354 376 322 154 73.3 38.2 18.3 1807 Quỳnh

Nhai 26.8 36.8 51.9 143 200 301 323 327 169 76.6 47 19.8 1722 Sìn Hồ 38.8 43 70.1 183 317 492 587 480 260 145 86.3 34.9 2737

Sa Pa 56.5 80.9 108 200 358 336 460 465 332 215 115 52.9 2778 Yên Bái 32.1 48.8 78.5 131 228 300 343 379 296 169 59.5 25.1 2090 Lào Cai 19.7 34.9 56.5 119 207 235 293 334 239 123 54.4 23.8 1739

Trang 30

Quang 64.5 67.4 82.4 214 713 840 850 583 405 315 158 68.7 4361 Tuyên

Quang 21.1 31.7 45.2 103 217 258 281 305 207 112 44.4 18.1 1643 Bắc Hà 18.4 26.6 45.7 120 172 247 319 357 224 123 57.5 18.9 1729 Nghĩa

Lộ 15.2 22.8 37.3 96 153 227 228 317 262 130 31.8 10.1 1529 Phú Hộ 31.2 40.8 51.9 111 207 244 295 318 227 153 53.8 23.9 1755 Phó

Bảng 12.2 15.6 31 68.4 184 263 263 250 131 87.9 50.8 19.7 1376 Lục Yên 33.1 45.5 66.1 141 217 302 364 395 282 167 60.7 30 2103 Bảo Lạc 14.7 24.6 36.2 76.2 165 204 229 242 111 79.1 48.6 16.7 1247 Chợ Rã 11.8 22.5 34.1 94.5 185 239 246 270 146 72.4 37.2 15.7 1374 Chiêm

Hoá 25.9 29.3 49.8 140 227 286 274 304 167 120 56 20.8 1699 Thái

Nguyên 22.2 35.6 56.7 120 236 253 402 385 238 119 44.8 21.5 1935 Bắc

Giang 20.4 28.5 44.3 100 202 219 269 304 201 105 38.1 17.4 1550 Sơn

Động 15.2 24.6 35.8 102 189 225 302 307 198 120 29.1 15.7 1563 Tam

Đảo 39.4 43.2 69.4 150 241 347 463 575 373 236 90.1 36.8 2663 Bắc Cạn 18.1 33.8 46.2 113 189 289 310 312 162 72.2 37.4 17.4 1599 Sơn Tây 20.3 25.4 37.8 103 229 262 309 322 260 169 56.8 16.7 1811

Hà Nội 18.5 27.2 44.5 91 192 244 291 316 259 136 53.1 17.5 1689 Phủ Lý 21.9 24.5 45.9 82.5 175 238 228 296 312 235 67.4 30 1756 Nam

Định 27 35 50.5 78.4 177 190 231 318 337 203 65 28.4 1741

Hải

Dương 19.6 26.6 42.8 94.3 198 222 235 285 217 145 45.1 19 1549 Hưng

Yên 24.4 33.8 44.7 85 168 234 260 316 277 189 62.6 24 1718 Ninh

Bình 23.5 34.9 52 79.5 172 220 224 307 365 245 65.5 31.6 1820 Thái

Bình 26 31.5 46.9 81.2 172 198 229 327 340 233 72.5 22.6 1780

Trang 31

Một số nhận xét về đặc điểm chế độ mưa:

Lượng mưa biến đổi mạnh theo mùa: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 9 hoặc

10 (khoảng 6 tháng; có khi 7 đến 8 tháng ở vùng mưa nhiều và 4 đến 5 tháng ở vùng mưa ít) Mùa mưa có khi đến sớm hoặc kết thúc muộn Lượng mưa trong mùa mưa chiếm khoảng 75-85% lượng mưa năm, lớn nhất vào tháng 7 hoặc tháng 8

Mùa khô kéo dài 6 đến 7 tháng, lượng mưa nhỏ nhất thường là tháng 1 và tháng 2, do chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của gió mùa Đông Bắc biến tính qua lục địa Lượng mưa trong mùa khô chỉ chiếm 15-20% lượng mưa năm Nhìn chung, chế độ mưa và lượng mưa trên lưu vực phụ thuộc vào chế độ gió mùa và cũng phân theo mùa khá rõ rệt

Mùa mưa gần như trùng với gió mùa Đông Nam Mùa đông thường có mưa phùn và ẩm ướt, mùa hè thường có mưa rào, mưa dông Trung bình số ngày có mưa trong năm trong tỉnh vào khoảng từ 125 đến 160 ngày

Chế độ mưa phụ thuộc vào chế độ gió mùa Mùa mưa gần như trùng với gió mùa Đông Nam và thường kéo dài từ tháng V-X (khoảng 6 tháng), những năm đặc biệt là những năm mưa đến sớm hoặc kết thúc muộn Lượng mưa trong mùa mưa chiếm khoảng 80-85% lượng mưa năm Còn lại là mưa trong mùa khô Mùa đông thường có mưa phùn, mùa hè thường có mưa rào, mưa dông

Sự phân bố mưa trên lưu vực chịu ảnh hưởng rất rõ nét của yếu tố điều kiện địa hình hướng của các dãy núi đối với các luồng khí ẩm

Lượng mưa năm biến đổi không nhiều, năm nhiều gấp 2 đến 3 lần năm ít, nhưng do sự phân bố mưa trong năm không đều và sự biến động mạnh theo tháng

đã làm cho sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn đặc biệt vào các tháng XII, I,

II đó cũng là thời kỳ ngả ải lúa xuân nhu cầu nước lớn thì lượng mưa ba tháng đó lại nhỏ nhất trong năm

1) Đặc điểm phân phối dòng chảy

Vùng nghiên cứu sông Hồng-Thái Bình gồm có ba nhánh sông chính là sông

Đà, sông Thao và sông Lô bắt nguồn từ lãnh thổ Trung Quốc chảy vào Việt Nam và

Trang 32

gặp nhau tại Việt Trì trên dòng chính sông Hồng chảy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam có phân lưu sông Đuống sang sông Thái Bình và đổ ra biển Đông qua cửa Ba Lạt

Sông Thái Bình hình thành trên lãnh thổ Việt Nam gồm ba nhánh sông Chính Cầu-Thương-Lục Nam hợp lưu tại Phả Lại sau đó nhập lưu với sông Đuống (là phân lưu của sông Hồng) trước khi đổ ra biển đông qua các cửa Thái Bình Văn Úc sông Hồng chuyển nước sang sông Thái Bình qua sông Đuống và sông Luộc

Sông Đáy bên hữu sông Hồng là một phân lưu tự nhiên của sông Hồng trước khi xây dựng đập Đáy sông Đáy chảy song song với sông Hồng theo hướng Tây Bắc – Đông Nam đổ ra biển Đông qua cửa Như Tân Sông Đáy có một nhánh lớn là sông Nhuệ nằm kẹp giữa sông Đáy và sông Hồng Trên hệ thống còn có sông Đào nối sông Hồng với sông Đáy Ngoài ra một nhánh sông lớn có thể kể đến là sông Ninh Cơ, sông Trà Lý, sông Hoá

Dòng chảy hàng năm trên lưu vực biến đổi không nhiều, năm nhiều nước và năm ít nước thường xen kẽ nhau Dòng chảy năm trên lưu vực sông Hồng-sông Thái Bình khá dồi dào Tổng lượng bình quân nhiều năm qua Sơn Tây khoảng 118

tỉ m3 tương ứng với lưu lượng 3740m3/s Nếu tính cả sông Thái Bình, sông Đáy và vùng đồng bằng thì tổng lượng dòng chảy năm lưu vực sông Hồng - Thái Bình vào khoảng 133 tỉ m3, trong đó khoảng 82 tỉ m3 (chiếm khoảng 61.2%) sản sinh trên lãnh thổ Việt Nam Tuy nhiên do địa hình chia cắt nên dòng chảy phân bố rất không đều trên các phần lưu vực khác nhau

Trong ba nhánh lớn của sông Hồng thì sông Đà đóng góp dòng chảy nhiều nhất khoảng 42%, sông Thao 19% mặc dù diện tích lưu vực xấp xỉ bằng lưu vực sông Đà Lưu vực sông Lô-Gâm nhỏ nhưng lại đóng góp 25.4%

Chế độ phân phối dòng chảy các tháng trong năm phụ thuộc vào chế độ mưa

do đó cũng hình thành hai mùa rõ rệt; Mùa lũ chiếm khoảng 76% dòng chảy năm trong đó tháng VIII là tháng có dòng chảy chiếm tỷ lệ cao nhất khoảng 21.5%; mùa kiệt chiếm khoảng 24% dòng chảy năm trong đó tháng kiệt nhất là tháng III chỉ chiếm có 2.1%

Do chế độ mưa trên lưu vực biến đổi cả về không gian và thời gian nên sự xuất hiện lũ lớn trên sông Hồng có tính chất phân kỳ rõ rệt (các trận lũ lớn thường xuất hiện vào trung tuần tháng VIII, tháng VII và IX ít có cơ hội xuất hiện lũ lớn)

Mùa kiệt trên lưu vực thường từ tháng XI đến tháng V gồm 7 tháng (có lưu lượng bình quân tháng nhỏ hơn lưu lượng trung bình năm) Trong đó có tháng XI là tháng chuyển tiếp từ mùa mưa sang mùa ít mưa Từ tháng X đến tháng XI dòng chảy trong sông giảm nhanh và từ tháng XII đến tháng IV dòng chảy ít biến động

Trang 33

cuối tháng IV và tháng V do có mưa nên dòng chảy lại tăng nhanh, chính thức mùa kiệt là từ tháng XII đến tháng IV Do vậy việc dùng nước cần được quan tâm đến dòng chảy kiệt từ tháng XII đến tháng IV và có thể là cả tháng V

Trong các tháng mùa kiệt vẫn còn có lượng mưa chiếm khoảng 20 ÷ 25% lượng mưa cả năm nhưng lượng mưa này lại tập trung vào 3 tháng XI IV và V còn các tháng XII đến tháng III mưa nhỏ và nhất là 2 tháng XII và I là thời tiết khô hanh, tháng II và III tuy đã có mưa nhưng chỉ là mưa phùn, từ tháng XII đến tháng III dòng chảy trong sông suối là do nước ngầm và nước điều tiết từ các hồ chứa cung cấp Tháng có lưu lượng nhỏ nhất trong năm là tháng III (xác suất xuất hiện là 53% ở Hoà Bình, 52% ở Yên Bái, 45% ở Phù Ninh, 49% ở Thác Bưởi, 57% ở Chũ

và 63% ở Sơn Tây) Ngoài ra dòng chảy kiệt nhất cũng đã xảy ra vào tháng II và tháng IV một số năm Dòng chảy mùa kiệt ngày nay và trong tương lai đã chịu tác động rất lớn do tác động của thiên nhiên, của con người đó là xây dựng các công trình điều tiết nước, lấy nước, cải tạo dòng chảy, v.v phát triển mạnh nhất là 3 thập kỷ 80, 90 và 2000 song mạnh mẽ nhất là thập kỷ 2000 khi hồ Hoà Bình đi vào vận hành khai thác

2) Phân tích đánh giá quá trình dòng chảy tại Sơn Tây

Trạm thủy văn Sơn Tây nằm trên sông Hồng là tổ hợp dòng chảy của các nhánh Đà, Thao, Lô Vì vậy quá trình lưu lượng tại Sơn Tây được chọn là đầu vào cho bài toán Để đánh giá tình hình hạn hán trên lưu vực thông qua quá trình dòng chảy tại Sơn Tây Cần khôi phục số liệu cho trạm Sơn Tây từ năm 1989 đến nay

Sử dụng phương pháp phân tích hồi quy nhiều biến để tiến hành hoàn nguyên quá trình dòng chảy ngày tại Sơn Tây

Trong một năm độ mặn thay đổi theo mùa lũ và mùa cạn rõ rệt Mùa lũ khi lượng nước sông lớn có tác dụng đẩy nước mặn ra xa bờ nên độ mặn ở vùng cửa

sông thường nhỏ Về mùa cạn lưu lượng nước sông từ thượng lưu về nhỏ, nên nước biển tiến sâu vào nội địa làm cho độ mặn tăng lên Nói chung ở đồng bằng Bắc Bộ

độ mặn lớn nhất thường xuất hiện vào tháng I đến tháng III, nhỏ nhất thường vào tháng vào VIII hoặc VII

Sự thay đổi của độ mặn trong tháng cũng giống như sự thay đổi của thuỷ triều trong tháng nghĩa là có hai kỳ mặn tương ứng với hai kỳ triều Độ mặn lớn nhất thường xuất hiện vào những ngày đầu tháng và giữa tháng âm lịch Độ mặn nhỏ nhất thường xuất hiện vào những ngày đầu của trung tuần và hạ tầng của tháng

âm lịch

Trang 34

Thủy triều vùng biển thuộc Vịnh Bắc Bộ là chế độ nhật triều trong 1 tháng

có 2 chu kỳ con nước mỗi chu kỳ 14 ngày (7 ngày triều cường 7 ngày triều thấp) Mùa lũ - bão mực nước triều cao nhất, mực nước sông dâng cao gây bất lợi về tiêu úng, mùa nước rơi (tháng 9, tháng 10) là thời gian thủy triều cao nhất trong năm

Thuỷ triều tại vùng biển Nam Định thuộc loại nhật triều, biên độ triều trung bình từ 1,6 -1,7m, lớn nhất là 3,31 m và nhỏ nhất là 0,11m Thông qua hệ thống sông ngòi, kênh mương chế độ nhật triều đã giúp cho quá trình thau chua rửa mặn trên đồng ruộng Tuy nhiên cũng còn một số diện tích bị nhiễm mặn Dòng chảy của sông Hồng và sông Đáy kết hợp với chế độ nhật triều đã bồi tụ vùng cửa 2 sông tạo thành hai bãi bồi lớn là Cồn Lu - Cồn Ngạn ở huyện Giao Thuỷ và vùng đông Cửa Đáy ở huyện Nghĩa Hưng

Hàng năm về mùa kiệt, lưu lượng nguồn nước ngọt giảm, nước thuỷ triều dâng cao đẩy nước mặn từ biển Đông xâm nhập sâu vào trong các triền sông, ảnh

hưởng lớn đến việc lấy nước tới của các cống đầu mối gây nhiều khó khăn cho sản xuất nông nghiệp vụ chiêm xuân của toàn tỉnh Trong 4 sông cung cấp nguồn nước Hồng, Đáy, Đào, Ninh Cơ chỉ có sông Đào do được khai thác ở đầu nguồn lại nằm

xa biển có nguồn nước không bị nhiễm mặn, 3 con sông còn lại do ảnh hưởng của mặn nên việc khai thác tưới cho vụ chiêm xuân (từ tháng I đến tháng IV) rất hạn chế

2.3 Các kịch bản biến đổi khí hậu – nước biển dâng

Biến đổi khí hậu là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế kỷ 21 Biến đổi khí hậu sẽ tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống

và môi trường trên phạm vi toàn thế giới Nhiệt độ tăng, mực nước biển dâng gây ngập lụt, gây nhiễm mặn nguồn nước, ảnh hưởng đến nông nghiệp, gây rủi ro lớn đối với nông nghiệp và các hệ thống kinh tế - xã hội trong tương lai

Ở Việt Nam trong khoảng 50 năm qua, nhiệt độ trung bình năm đã tăng khoảng 0,5 - 0,70C, mực nước biển đã dâng khoảng 20cm Biến đổi khí hậu đã làm cho các thiên tai, đặc biệt là bão, lũ, hạn hán ngày càng ác liệt Hậu quả của biến đổi khí hậu đối với Việt Nam là nghiêm trọng và là một nguy cơ hiện hữu cho mục tiêu xoá đói giảm nghèo, cho việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ và sự phát triển bền vững của đất nước

Biến đổi khí hậu, với các biểu hiện chính là sự nóng lên toàn cầu và mực nước biển dâng, chủ yếu là do các hoạt động kinh tế - xã hội của con người gây phát thải quá mức vào khí quyển các khí gây hiệu ứng nhà kính

Trang 35

Theo báo cáo đánh giá lần thứ tư của IPCC năm 2007, nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng khoảng 0,740C trong thời kỳ 1906 - 2005 và tốc độ tăng của nhiệt

độ trong 50 năm gần đây gần gấp đôi so với 50 năm trước đó

Hình 2.2 Diễn biến chuẩn sai nhiệt độ trung bình toàn cầu (Nguồn: IPCC/2007)

Nhiệt độ trên lục địa tăng nhanh hơn so với trên đại dương (IPCC, 2007)

Trong 100 năm qua, lượng mưa có xu hướng tăng ở khu vực vĩ độ cao hơn 300

C Tuy nhiên, lượng mưa lại có xu hướng giảm ở khu vực nhiệt đới từ giữa những năm

1970 Hiện tượng mưa lớn có dấu hiệu tăng ở nhiều khu vực trên thế giới (IPCC, 2007)

Mực nước biển toàn cầu đã tăng trong thế kỷ 20 với tốc độ ngày càng cao Hai nguyên nhân chính làm tăng mực nước biển là sự giãn nở nhiệt của đại dương

và sự tan băng Số liệu quan trắc mực nước biển trong thời kỳ 1961- 2003 cho thấy tốc độ tăng của mực nước biển trung bình toàn cầu khoảng 1,8 ± 0,5mm/năm, trong

đó đóng góp do giãn nở nhiệt khoảng 0,42 ± 0,12mm/năm và tan băng khoảng 0,70

Trang 36

Hình 2.3 Diễn biến của mực nước biển trung bình toàn cầu Nguồn: IPCC/2007

Ở Việt Nam, kết quả phân tích các số liệu khí hậu cho thấy biến đổi của các yếu tố khí hậu và mực nước biển có những điểm đáng lưu ý sau:

- Nhiệt độ: Trong 50 năm qua (1958 - 2007), nhiệt độ trung bình năm ở Việt Nam

tăng lên khoảng từ 0,50C đến 0,70

C Nhiệt độ mùa đông tăng nhanh hơn nhiệt độ mùa hè và nhiệt độ ở các vùng khí hậu phía Bắc tăng nhanh hơn ở các vùng khí hậu phía Nam Nhiệt độ trung bình năm của 4 thập kỷ gần đây (1961 - 2000) cao hơn trung bình năm của 3 thập kỷ trước đó (1931- 1960) Nhiệt độ trung bình năm của thập kỷ 1991 - 2000 ở Hà Nội, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh đều cao hơn trung bình của thập kỷ 1931 - 1940 lần lượt là 0,8; 0,4 và 0,60C Năm 2007, nhiệt độ trung bình năm ở cả 3 nơi trên đều cao hơn trung bình của thập kỷ 1931 - 1940 là 0,8 - 1,30C và cao hơn thập kỷ 1991 - 2000 là 0,4 - 0,50C (Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, Bộ TNMT, 2008)

- Lượng mưa: Trên từng địa điểm, xu thế biến đổi của lượng mưa trung bình năm

trong 9 thập kỷ vừa qua (1911- 2000) không rõ rệt theo các thời kỳ và trên các vùng khác nhau: có giai đoạn tăng lên và có giai đoạn giảm xuống Lượng mưa năm giảm

ở các vùng khí hậu phía Bắc và tăng ở các vùng khí hậu phía Nam Tính trung bình trong cả nước, lượng mưa năm trong 50 năm qua (1958-2007) đã giảm khoảng 2% (Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, Bộ TNMT, 2008)

- Mực nước biển: Số liệu quan trắc tại các trạm hải văn dọc ven biển Việt Nam cho

thấy tốc độ dâng lên của mực nước biển trung bình ở Việt N am hiện nay là khoảng 3mm/năm (giai đoạn 1993-2008), tương đương với tốc độ tăng trung bình trên thế

Trang 37

giới Trong khoảng 50 năm qua, mực nước biển tại Trạm hải văn Hòn Dáu dâng lên

khoảng 20cm (Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, Bộ TNMT, 2008)

Hình 2.4 Diễn biến của mực nước biển tại Trạm hải văn Hòn Dáu

1) Kịch bản biến đổi khí hậu

Các kịch bản phát thải khí nhà kính được chọn để tính toán xây dựng kịch bản biến đổi khí hậu cho Việt Nam là kịch bản phát thải thấp (kịch bản B1), kịch bản phát thải trung bình của nhóm các kịch bản phát thải trung bình (kịch bản B2)

và kịch bản phát thải trung bình của nhóm các kịch bản phát thải cao (kịch bản A2)

Các kịch bản biến đổi khí hậu đối với nhiệt độ và lượng mưa được xây dựng cho bảy vùng khí hậu của Việt Nam: Tây Bắc, Đông Bắc, Đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ Thời kỳ dùng làm cơ sở để so sánh là 1980-1999 (cũng là thời kỳ được chọn trong Báo cáo đánh giá lần thứ 4 của IPCC)

Các kịch bản biến đổi khí hậu cho các vùng khí hậu của Việt Nam trong thế

kỷ 21 (các Bảng 1 đến 6 và các Phụ lục 1 đến 11) có thể được tóm tắt như sau:

Trang 38

a) Về nhiệt độ

Nhiệt độ mùa đông có thể tăng nhanh hơn so với nhiệt độ mùa hè ở tất cả các vùng khí hậu của nước ta Nhiệt độ ở các vùng khí hậu phía Bắc có thể tăng nhanh hơn so với các vùng khí hậu phía Nam

- Theo kịch bản phát thải thấp (B1): Vào cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình năm

ở các vùng khí hậu phía Bắc có thể tăng so với trung bình thời kỳ 1980-1999 khoảng từ 1,6 đến 1,90C và ở các vùng khí hậu phía Nam tăng ít hơn, chỉ khoảng từ 1,1 đến 1,40

- Theo kịch bản phát thải trung bình (B2): Vào cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung

bình năm có thể tăng lên 2,60C ở Tây Bắc, 2,50C ở Đông Bắc, 2,40C ở Đồng bằng Bắc Bộ, 2,80C ở Bắc Trung Bộ, 1,90C ở N am Trung Bộ, 1,60C ở Tây Nguyên và 2,00C ở Nam Bộ so với trung bình thời kỳ 1980 – 1999

Bảng 2.7 Mức tăng nhiệt độ trung bình năm (0

C) so với thời kỳ 1980-1999 theo kịch bản phát thải trung bình (B2)

2020 2030 2040 2050 2060 2070 2080 2090 2100 Tây Bắc 0,5 0,7 1,0 1,3 1,6 1,9 2,1 2,4 2,6 Đông Bắc 0,5 0,7 1,0 1,2 1,6 1,8 2,1 2,3 2,5 Đồng bằng BB 0,5 0,7 0,9 1,2 1,5 1,8 2,0 2,2 2,4 Bắc Trung Bộ 0,5 0,8 1,1 1,5 1,8 2,1 2,4 2,6 2,8 Nam Trung Bộ 0,4 0,5 0,7 0,9 1,2 1,4 1,6 1,8 1,9 Tây Nguyên 0,3 0,5 0,6 0,8 1,0 1,2 1,4 1,5 1,6 Nam Bộ 0,4 0,6 0,8 1,0 1,3 1,6 1,8 1,9 2,0

Trang 39

- Theo kịch bản phát thải cao (A2): Vào cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình năm ở

các vùng khí hậu phía Bắc có thể tăng so với trung bình thời kỳ 1980 - 1999 khoảng 3,1 đến 3,60C, trong đó Tây Bắc là 3,30

C, Đông Bắc là 3,20

C, Đồng bằng Bắc Bộ là 3,10C và Bắc Trung Bộ là 3,60C Mức tăng nhiệt độ trung bình năm của các vùng khí hậu phía Nam là 2,40C ở Nam Trung Bộ 2,10C ở Tây Nguyên và 2,60C ở Nam

Bộ

Bảng 2.8 Mức tăng nhiệt độ trung bình năm (0C) so với thời kỳ 1980-1999 theo

kịch bản phát thải cao (A2)

2020 2030 2040 2050 2060 2070 2080 2090 2100 Tây Bắc 0,5 0,8 1,0 1,3 1,7 2,0 2,4 2,8 3,3 Đông Bắc 0,5 0,7 1,0 1,3 1,6 1,9 2,3 2,7 3,2 Đồng bằng BB 0,5 0,7 1,0 1,3 1,6 1,9 2,3 2,6 3,1 Bắc Trung Bộ 0,6 0,9 1,2 1,5 1,8 2,2 2,6 3,1 3,6 Nam Trung Bộ 0,4 0,5 0,8 1,0 1,2 1,5 1,8 2,1 2,4 Tây Nguyên 0,3 0,5 0,7 0,8 1,0 1,3 1,5 1,8 2,1 Nam Bộ 0,4 0,6 0,8 1,0 1,3 1,6 1,9 2,3 2,6

b) Về lượng mưa

Lượng mưa mùa khô có thể giảm ở hầu hết các vùng khí hậu của nước ta, đặc biệt là các vùng khí hậu phía Nam Lượng mưa mùa mưa và tổng lượng mưa năm có thể tăng ở tất cả các vùng khí hậu

- Theo kịch bản phát thải thấp (B1): Vào cuối thế kỷ 21, lượng mưa năm có thể

tăng khoảng 5% ở Tây Bắc, Đông Bắc, Đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và từ 1 - 2% ở Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Nam Bộ so với trung bình thời kỳ 1980 – 1999 (Bảng 4) Lượng mưa thời kỳ từ tháng III đến tháng V sẽ giảm từ 3-6% ở các vùng khí hậu phía Bắc và lượng mưa vào giữa mùa khô ở các vùng khí hậu phía Nam có thể giảm tới 7-10% so với thời kỳ 1980-1999 Lượng mưa các tháng cao điểm của mùa mưa sẽ tăng từ 6 đến 10% ở cả bốn vùng khí hậu phía Bắc và Nam Trung Bộ, còn ở Tây Nguyên và Nam Bộ chỉ tăng khoảng 1% so với thời kỳ 1980-1999

Trang 40

Bảng 2.9 Mức thay đổi lượng mưa năm (%) so với thời kỳ 1980-1999 theo kịch

bản phát thải thấp (B1)

2020 2030 2040 2050 2060 2070 2080 2090 2100 Tây Bắc 1,4 2,1 3.0 3,6 4,1 4,4 4,6 4,8 4,8 Đông Bắc 1,4 2,1 3.0 3,6 4,1 4,5 4,7 4,8 4,8 Đồng bằng BB 1,6 2,3 3.2 3,9 4,5 4,8 5,1 5,2 5,2 Bắc Trung Bộ 1,5 2,2 3.1 3,8 4,3 4,7 4,9 5,0 5,0 Nam Trung Bộ 0,7 1,0 1,3 1,6 1,8 2,0 2,1 2,2 2,2 Tây Nguyên 0,3 0,4 0,5 0,7 0,7 0,9 0,9 1,0 1,0 Nam Bộ 0,3 0,4 0,6 0,7 0,8 0,9 1,0 1,0 1,0

- Theo kịch bản phát thải trung bình (B2): Vào cuối thế kỷ 21, lượng mưa năm

có thể tăng khoảng 7 - 8% ở Tây Bắc, Đông Bắc, Đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ

và từ 2 - 3% ở Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Nam Bộ so với trung bình thời kỳ 1980

- 1999 (Bảng 5) Lượng mưa thời kỳ từ tháng III đến tháng V sẽ giảm từ 4-7% ở Tây Bắc, Đông Bắc và Đồng bằng Bắc Bộ, khoảng 10% ở Bắc Trung Bộ, lượng mưa vào giữa mùa khô ở các vùng khí hậu phía Nam có thể giảm tới 10-15% so với thời kỳ 1980-1999 Lượng mưa các tháng cao điểm của mùa mưa sẽ tăng từ 10 đến 15% ở cả bốn vùng khí hậu phía Bắc và Nam Trung Bộ, còn ở Tây Nguyên và Nam

Bộ chỉ tăng trên dưới 1%

Bảng 2.10 Mức thay đổi lượng mưa (%) so với thời kỳ 1980-1999 theo kịch bản

phát thải trung bình (B2)

2020 2030 2040 2050 2060 2070 2080 2090 2100 Tây Bắc 1,4 2,1 3.0 3,8 4,6 5,4 6,1 6,7 7,4 Đông Bắc 1,4 2,1 3.0 3,8 4,7 5,4 6,1 6,8 7,3 Đồng bằng BB 1,6 2,3 3.2 4,1 5,0 5,0 6,6 7,3 7,9 Bắc Trung Bộ 1,5 2,2 3.1 4,0 4,9 5,7 6,4 7,1 7,7 Nam Trung Bộ 0,7 1,0 1,3 1,7 2,1 2,4 2,7 3,0 3,2 Tây Nguyên 0,3 0,4 0,5 0,7 0,9 1,0 1,2 1,3 1,4 Nam Bộ 0,3 0,4 0,6 0,8 1,0 1,1 1,2 1,4 1,5

- Theo kịch bản phát thải cao (A2): Vào cuối thế kỷ 21, lượng mưa năm có thể

tăng so với trung bình thời kỳ 1980 - 1999, khoảng 9 - 10% ở Tây Bắc, Đông Bắc, 10% ở Đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, 4 - 5% ở Nam Trung Bộ và khoảng 2% ở Tây Nguyên, Nam Bộ (Bảng 6) Lượng mưa thời kỳ từ tháng III đến tháng V sẽ

Ngày đăng: 15/03/2019, 12:59

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w