1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ DỰ ÁN TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÁC CÔNG TRÌNH NHÀ Ở PHỤC VỤ CÔNG TÁC GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG TỪ NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

117 190 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGUYỄN NGỌC QUYỀN NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ DỰ ÁN TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÁC CÔNG TRÌNH NHÀ Ở PHỤC VỤ CÔNG TÁC GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG TỪ NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH N

Trang 1

NGUYỄN NGỌC QUYỀN

NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ

DỰ ÁN TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÁC CÔNG TRÌNH NHÀ Ở PHỤC

VỤ CÔNG TÁC GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG TỪ NGUỒN VỐN NGÂN

SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2011

Trang 2

NGUYỄN NGỌC QUYỀN

NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ DỰ

ÁN TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÁC CÔNG TRÌNH NHÀ Ở PHỤC VỤ CÔNG TÁC GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG TỪ NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH

NHÀ NƯỚC TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Kinh tế tài nguyên thiên nhiên và môi trường

Mã số: 60 - 31 - 16

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS PHẠM HÙNG

Hà Nội – 2011

Trang 3

NGUYỄN NGỌC QUYỀN * LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ * HÀ NỘI – 2011

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các thông tin, tài liệu trích dẫn trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc Kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào trước đây

Hà Nội, ngày 11 tháng 11 năm 2011

Tác giả luận văn

Nguyễn Ngọc Quyền

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn, tác giả đã nhận được

sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS Phạm Hùng cùng các thầy cô giáo Khoa Kinh tế và Quản lý - Trường Đại học Thủy Lợi; Văn phòng, Phòng Xây dựng

đô thị – UBND Thành phố Hà nội, Ban giám đốc và các phòng chuyên môn

Sở Xây dựng Hà nội

Tác giả xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và các ý kiến đóng góp của các thầy giáo, cô giáo của Khoa Kinh tế và Quản lý trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Do trình độ, kinh nghiệm, điều kiện thực hiện và thời gian nghiên cứu hạn chế nên Luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót, tác giả mong nhận được những ý kiến đóng góp

Luận văn được hoàn thành tại Khoa Kinh tế và Quản lý Trường Đại học Thủy Lợi

Hà Nội, ngày 11 tháng 11 năm 2011

Tác giả luận văn

Nguyễn Ngọc Quyền

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI ……… 1

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI ……… ……… ……… 3

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU ……… … 3

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ……… …… … 3

5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 3

6 NỘI DUNG CỦA LUẬN VĂN ……… 4

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn………5

1.1 Quản lý dự án đầu tư ……… 5

1.1.1 Dự án đầu tư ………5

1.1.2 Quản lý dự án đầu tư xây dựng………6

1.1.3 Quy trình quản lý dự án đầu tư xây dựng……… 9

1.2 Hiệu quả của quản lý dự án……… …20

1.2.1 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả……….… .22

1.2.2 Các tiêu chuẩn đánh giá việc quản lý dự án 24

1.3 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý đầu tư xây dựng 25 1.3.1 Các nhân tố bên trong……….25

1.3.2 Các nhân tố bên ngoài………26

1.4 Kết luận chương 1……….28

Chương 2: Thực trạng hiệu quả quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình nhà ở sử dụng nguồn vốn ngân sách trên địa bàn Thành phố Hà nội 2.1 Giới thiệu tổng quan chung về Thành phố Hà nội………29

2.2 Khái quát về tình hình đầu tư xây dựng các công trình nhà ở trên địa bàn Thành phố Hà nội………34

Trang 7

2.2.1 Tỉ lệ đầu tư của nhà nước trong lĩnh vực xây dựng nhà tại Hà nội… 42

2.2.2 Mức độ đầu tư từ ngân sách vào các ngành……… ………….48

2.2.3 Hiệu quả của quản lý đầu tư ……….….51

2.2.4 Đánh giá kết quả tăng trưởng kinh tế bằng các chỉ tiêu vĩ mô……… 54

2.2.5 Một số bằng chứng thực tế về các dự án công gây lãng phí, thất thoát trên địa bàn thành phố……….57

2.3 Các hạn chế trong quản lý dự án đầu tư xây dựng nhà ở tại TP Hà nội 79

2.3.1 Năng lực của cơ quan nhà nước……….79

2.3.2 Thủ tục hành chính, các quy định pháp luật……… 80

2.3.3 Vấn đề kinh phí đầu tư……… 81

2.4 Kết luận chương 2……….82

Chương 3: Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư xây dựng các công trình nhà ở sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn Thành phố Hà nội 3.1 Các giải pháp về đào tạo nâng cao năng lực……….83

3.2 Giải pháp về cải cách thủ tục hành chính, chính sách văn bản quy định 84

3.3 Giải pháp về tài chính………93

3.4 Kết luận chương 3……… 104

KẾT LUẬN KIẾN NGHỊ……… 105

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 108

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Trang

Sơ đồ 1.1 Chu trỡnh quản lý dự ỏn……… ……… 7

Sơ đồ 1.2 Chu kỳ của dự ỏn……….……… ……….10

Biểu 2.8 Chỉ tiờu kinh tế kỹ thuật của một số khu đụ thị mới tại Hà nội… 40

Sơ đồ 2.9 Sử dụng cỏc nguồn vốn xõy dựng nhà ở mới …… ………… 43

Biểu 2.10: Vốn Nhà nước đầu tư XDCB trờn địa bàn Hà nội………… 45

Biểu 2.11: Tỡnh hỡnh thực hiện một số dự ỏn xõy dựng nhà ở sử dụng vốn ngõn sỏch trờn địa bàn Thành phố ……… … 46

Biểu 2.13 : Vốn đầu t− trên địa bàn Hà nội 49

Biểu 2.14 Cơ cấu vốn đầu tư phỏt triển thời kỳ 2005 – 2010……… …… 50

Biểu 2.15 Tổng sản phẩm nội địa (GDP) theo giá thực tế………… ……….56

DANH MỤC HèNH VẼ Trang Hỡnh 1.1 Những tiờu chuẩn ràng buộc kết quả thực hiện dự ỏn…… …… 25

Hỡnh 2.1 Bản đồ quy hoạch chung xõy dựng thủ đụ Hà nội đến năm 2030 33

Hỡnh 2 Khu đụ thi Bắc Linh Đàm……… …… 34

Hỡnh 2.2 Khu đụ thi Bắc Linh Đàm……… ……35

Hỡnh 2.3 Khu đụ thi Trung Hũa – Nhõn Chớnh……… …….36

Hỡnh 2.4 The Manor Hà Nội - Khu đụ thị Mỹ Đỡnh ……… … 37

Hỡnh 2.5 Phõn vựng cỏc khu đụ thị mới tại Hà Nội……… ………… … 38

Hỡnh 2.6 Biểu đồ đỏnh giỏ quy mụ 131 khu đụ thị mới tại Hà nội.…… … 39

Hỡnh 2.12 Lễ khởi cụng cụng trỡnh OCT1 Bắc Linh Đàm……… …49

Trang 9

: Nghị định : Chính phủ : Quyết định : Thiết kế kỹ thuật : Tổng dự toán : Thẩm định : Bê tông cốt thép

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI:

Thủ đô Hà nội có lịch sử nghìn năm văn hiến, trong những năm qua thành phố Hà Nội đã phát triển mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực văn hóa, kinh tế, giáo dục Đầu tư xây dựng các công trình nhà ở phục vụ công tác giải phóng mặt bằng là nhiệm vụ chiến lược, một giải pháp chủ yếu để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội theo hướng tăng trưởng cao, ổn định và bền vững Hàng ngàn dự án đầu tư xây dựng các công trình giao thông, thủy lợi,

hệ thống điện, hệ thống thông tin liên lạc, các công trình phục vụ trong lĩnh vực văn hóa, y tế, giáo dục, thể dục thể thao, khoa học và kỹ thuật, các dự án xây dựng và phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, các khu đô thị mới…đã và đang được xây dựng và phát triển Công tác giải phóng mặt bằng là khâu tiên phong trong mọi dự án, được thực hiện tốt thì tiến độ dự án mới nhanh Việc đầu tư các dự án xây dựng các công trình nhà ở phục vụ công tác di dân giải phóng mặt bằng cũng là vấn đề cần tích cực song song giải quyết

Nhiều dự án đã được đầu tư trong thời gian vừa qua Việc quản lý dự

án theo điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng, thực hiện quy chế đấu thầu đã có tiến bộ Nhiều dự án đầu tư đã hoàn thành và từng bước phát huy hiệu quả, tạo quỹ nhà nhằm bố trí các hộ dân bị giải toả vào các khu tái định cư tập trung đảm bảo cho các hộ dân có chỗ ở ổn định, đảm bảo tái định cư theo quy hoạch, đảm bảo các cơ hội duy trì thu nhập sau khi bị di chuyển chỗ ở, và ổn định cuộc sống lâu dài

Ngân sách dành cho đầu tư vào lĩnh vực này còn hạn chế, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư còn chưa cao Bởi vậy, vấn đề nâng cao hiệu quả quản lý dự

án trong đầu tư xây dựng luôn thu hút sự quan tâm của các cấp, các ngành, đặc biệt trong điều kiện hiện nay, Hà nội đang trong tiến trình đẩy nhanh tốc

Trang 11

độ công nghiệp hoá - hiện đại hoá, phấn đấu đưa tốc độ tăng trưởng GDP ngày một cao và bền vững Đặt ra nhu cầu đầu tư phát triển rất lớn, trong khi các nguồn lực nhất là nguồn vốn đầu tư của Nhà nước còn hạn hẹp Vì thế, việc nghiên cứu tìm ra các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý dự án trong đầu tư xây dựng nói chung và đầu tư xây dựng các công trình nhà ở phục vụ công tác giải phóng mặt bằng nói riêng bằng vốn Nhà nước càng là vấn đề

cấp thiết Xuất phát từ yêu cầu thực tế đó, tác giả đã chọn vấn đề: “Nghiên cứu đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý dự án trong đầu tư xây dựng các công trình nhà ở phục vụ công tác giải phóng mặt bằng từ nguồn vốn ngân sách nhà nước tại Thành phố Hà nội” làm đề tài tốt

nghiệp Tác giả mong rằng có thể đóng góp một phần nhỏ bé nâng cao hiệu quả đầu tư, đồng thời, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Thành phố

Trang 12

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:

2.1 Nghiên cứu các hiệu quả quản lý dự án trong việc đầu tư xây dựng các công trình nhà ở phục vụ công tác giải phóng mặt bằng sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn Thành phố Hà nội

2.2 Đề ra các giải pháp cải cách, nâng cao hiệu quả đầu tư xây dựng các công trình nhà ở nhằm đẩy nhanh tiến độ đáp ứng quỹ nhà phục vụ công tác di dân giải phóng mặt bằng trong giai đoạn sắp tới

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:

Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống văn bản pháp luật quy định và cơ

quan quản lý đầu tư từ nguồn vốn ngân sách nhà nước tại Thành phố Hà nội

Phạm vi nghiên cứu:

+ Về không gian: Trong địa bàn thành phố Hà nội

+ Về thời gian: Giai đoạn từ năm 2005-2015

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp mô tả, phân tích, tổng hợp, kết hợp với phương pháp chuyên gia thông qua việc tham khảo các ý kiến, báo cáo của chuyên gia trong ngành, so sánh, phân tích và tổng hợp, đồng thời kết hợp với tổng kết rút kinh nghiệm thực tiễn để nghiên cứu, giải quyết vấn đề đặt ra của đề tài

5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

Về mặt khoa học, theo lý thuyết kinh tế, nhà nước thực hiện đầu tư xây dựng các công trình nhà ở phục vụ công tác giải phóng mặt bằng là nhằm đáp ứng cho việc di dân của các dự án khác trong Thành phố, là nhiệm vụ chiến lược cho phát triển hạ tầng, tăng trưởng kinh tế và phát triển các mặt khác của

xã hội Tuy nhiên không phải cứ đầu tư thật nhiều sẽ đạt được kết quả cao Một số nhà kinh tế còn cho rằng tăng đầu tư quá mức sẽ gây tác động lấn át

Trang 13

đến đầu tư của khu vực tư, trong khi hiệu quả đầu tư của khu vực tư thường cao hơn, khi đó sẽ làm chậm tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Vì vậy nghiên cứu đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đầu tư xây dựng, xác định các vấn đề còn tồn tại sẽ làm cơ sở cho việc tổng kết đưa vào lý thuyết

về quản lý kinh tế Về mặt thực tiễn xây dựng các công trình nhà ở phục vụ công tác giải phóng mặt bằng sẽ giúp đưa ra các chính sách quản lý đầu tư một cách hiệu quả hơn, giúp duy trì tốc độ phát triển kinh tế cao của thành phố Hà nội trước các thách thức trong giai đoạn hiện nay

6 NỘI DUNG CỦA LUẬN VĂN:

Luận văn được chia làm 3 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 2: Thực trạng hiệu quả quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình nhà ở sử dụng nguồn vốn ngân sách trên địa bàn Thành phố Hà nội

Chương 3: Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư xây dựng các công trình nhà ở sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn Thành phố Hà nội

Trang 14

tư là gì ?

1.1.1.1 Khái niệm

Để đảm bảo cho mọi công cuộc đầu tư đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao đòi hỏi phải làm tốt công tác chuẩn bị Sự chuẩn bị này được thể hiện trong việc soạn thảo các dự án đầu tư (lập dự án đầu tư), có nghĩa là phải thực hiện đầu tư theo dự án đã được soạn thảo với chất lượng tốt

Dự án là tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hay cải tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng, cải tiến hoặc nâng cao chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong một khoảng thời gian xác định (chỉ bao gồm hoạt động đầu tư trực tiếp) Nói một cách ngắn gọn, dự án đầu tư là tập hợp các đối tượng được hình thành và hoạt động theo một kế hoạch cụ thể để đạt được mục tiêu nhất định trong một khoảng thời gian nhất định

1.1.1.2 Phân loại dự án đầu tư

Có nhiều cách phân loại dự án đầu tư tuỳ theo mục đích và phạm vi xem xét Ở đây chỉ nêu cách phân loại liên quan tới yêu cầu công tác lập, thẩm định và quản lý dự án đầu tư trong hệ thống văn bản pháp quy, các tài liệu quản lý hiện hành Các dự án đầu tư phân loại như sau:

Trang 15

- Theo nguồn vốn: Theo nguồn vốn có thể chia dự án thành dự án đầu

tư bằng vốn ngân sách Nhà nước; vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước; vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh; vốn huy động của doanh nghiệp và các nguồn vốn khác; dự án được đầu tư bằng các nguồn vốn hốn hợp …

- Theo luật chi phối: Dự án được chia ra thành dự án đầu tư theo Luật Đầu tư; theo Luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam (FDI) …

- Theo hình thức đầu tư: Tự đầu tư, Liên doanh, Hợp đồng hợp tác kinh doanh, BOT, BTO, BT …

- Theo các hình thức thực hiện đầu tư: Xây dựng, Mua sắm, Thuê …

- Theo lĩnh vực đầu tư: Dự án sản xuất kinh doanh, dịch vụ, phát triển

cơ sở hạ tầng, văn hoá xã hội …

- Phân loại theo thẩm quyền quyết định hoặc cấp giấy phép đầu tư

+ Đối với đầu tư trong nước chia làm 4 loại: Dự án quan trong cấp quốc gia do Quốc hội thông qua chủ trương và cho phép đầu tư; các dự án còn lại được phân thành 3 nhóm A, B, C theo quy định về quản lý đầu tư

và xây dựng

+ Đối với dự án đầu tư nước ngoài, gồm 3 loại A, B và loại được phân cấp cho các địa phương

1.1.2 Quản lý dự án đầu tư

Trong những năm gần đây, khái niệm “dự án đầu tư” đã không còn là một thuật ngữ xa lạ đối với các nhà quản lý các cấp

Có rất nhiều công việc trong các tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp được thực hiện dưới hình thức dự án và điều đó đồng nghĩa với yêu cầu đặt ra là phải có được một hệ thống quản lý với các phương pháp quản lý dự án hiệu quả nhất Bởi lẽ trong quá trình thực hiện các kế hoạch phát triển kinh tế, sản xuất kinh doanh và đời sống xã hội, dự án đầu tư có một tầm quan trọng đặc biệt Chính vì vậy đi kèm với nó phải xác định rõ quản lý dự án đầu tư là gì?

Trang 16

1.1.2.1 Khái niệm quản lý dự án đầu tư

Quản lý dự án là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực

và giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách được duyệt và đạt được các yêu cầu đã định về kỹ thuật và chất lượng sản phẩm dịch vụ, bằng những phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép

Quản lý dự án bao gồm ba chức năng chủ yếu :

Sơ đồ 1.1 : Chu trình quản lý dự án

Điều phối thực hiện

- Điều phối tiến độ thời gian

- Phân phối nguồn lực

- Phối hợp các nỗ lực

- Khuyến khích và động viên cán bộ và nhân viên

Trang 17

Trong đó :

Lập kế hoạch: Là giai đoạn xây dựng mục tiêu, xác định những công việc cần được hoàn thành, nguồn lực cần thiết để thực hiện dự án và là quá trình phát triển một kế hoạch hành động theo trật tự lô gic mà có thể biểu diễn dưới dạng sơ đồ hệ thống

Điều phối thực hiện dự án: Là quá trình phân phối nguồn lực bao gồm tiền vốn, lao động, thiết bị và đặc biệt quan trọng là điều phối và quản lý về tiến độ thời gian Ở giai đoạn này, các công việc của toàn bộ dự án sẽ được chi tiết hoá thời hạn thực hiện, qua đó có thể biết được khi nào thì một công việc bắt đầu khi nào thì kết thúc …

Giám sát: Là quá trình theo dõi kiểm tra tiến trình dự án, phân tích tình hình hoàn thành, giải quyết những vấn đề liên quan và thực hiện báo cáo hiện trạng

1.1.2.2 Đặc điểm của quản lý dự án đầu tư

Quản lý dự án có những đặc điểm chủ yếu sau đây:

Thứ nhất: Tổ chức dự án là một tổ chức tạm thời Tổ chức quản lý dự án được hình thành để phục vụ dự án trong một thời gian hữu hạn Trong thời gian tồn tại dự án, nhà quản lý dự án thường hoạt động độc lập với phòng chức năng, sau khi kết thúc dự án cần phải tiến hành phân công lại lao động,

bố trí lại máy móc thiết bị, hoàn trả lại mặt bằng…

Thứ hai: Quan hệ giữa nhà quản lý dự án với phòng chức năng trong tổ chức Công việc của dự án đòi hỏi có sự tham gia của nhiều phòng chức năng Người đứng đầu dự án và nhóm tham gia dự án là những người có trách nhiệm phối hợp mọi nguồn lực, mọi người từ các phòng chuyên môn nhằm thực hiện thắng lợi mọi mục tiêu của dự án Nhưng trong thực tế giữa họ thường nảy sinh mâu thuẫn về vấn đề nhân sự, chi phí, thời gian và mức độ thoả mãn các yêu cầu kỹ thuật

Trang 18

1.1.2.3 Tác dụng của quản lý dự án

Phương pháp quản lý dự án đòi hỏi sự kết hợp của nhiều yếu tố như sự

nỗ lực, tính tập thể, yêu cầu hợp tác…vì vậy nó có tác dụng rất lớn, dưới đây

xin được trình bày một số tác dụng chủ yếu nhất

- Liên kết tất cả các công việc, các hoạt động của dự án

- Tạo điều kiện thuận lợi cho việc liên hệ thường xuyên, gắn bó giữa nhóm quản lý dự án và các nhà cung cấp đầu vào cho dự án

- Tăng cường sự hợp tác giữa các thành viên và chỉ rõ trách nhiệm của các thành viên tham gia dự án

- Tạo điều kiện phát hiện sớm những khó khăn vướng mắc nảy sinh và điều chỉnh kịp thời trước những thay đổi hoặc điều kiện không dự đoán được Tạo điều kiện cho việc đàm phán trực tiếp giữa các bên liên quan để giải quyết những bất đồng

- Tạo ra những sản phẩm và dịch vụ có chất lượng cao hơn

1.1.3 Quy trình quản lý dự án đầu tư xây dựng

Chu kỳ của dự án đầu tư là các bước hoặc các giai đoạn mà một dự án phải trải qua bắt đầu từ khi dự án mới chỉ là ý đồ đến khi dự án được hoàn thành chấm dứt hoạt động

Quá trình hình thành và thực hiện một dự án đầu tư trải qua 3 giai đoạn: Chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và vận hành các kết quả đầu tư

Nội dung các bước công việc của mỗi giai đoạn của các dự án không giống nhau, tuỳ thuộc vào lĩnh vực đầu tư (sản xuất kinh doanh hay kết cấu hạ tầng, sản xuất công nghiệp hay nông nghiệp …), vào tính chất tái sản xuất (đầu tư chiều rộng hay chiều sâu), đầu tư dài hạn hay ngắn hạn, …

Xem sơ đồ 2:

Trang 19

Hình 1.1 Chu kỳ của dự án đầu tư

Sơ đồ 1.2: Chu kỳ của dự án

Các bước công việc, các nội dung nghiên cứu ở các giai đoạn được tiến hành tuần tự nhưng không biệt lập mà đan xen gối đầu cho nhau, bổ sung cho nhau nhằm nâng cao dần mức độ chính xác của các kết quả nghiên cứu và tạo

Nghiên cứu cơ hội (Nhận dạng dự án)

Nghiên cứu khả thi

Vận hành, khai thác

Đánh giá sau dự án

Kết thúc dự án

VẬN HÀNH

KHAI THÁC

Xây dựng

Trang 20

thuận lợi cho việc tiến hành nghiên cứu ở các bước kế tiếp

Trong 3 giai đoạn trên đây, giai đoạn chuẩn bị đầu tư tạo tiền đề và quyết định sự thành công hay thất bại ở 2 giai đoạn sau, đặc biệt là ở giai đoạn vận hành kết quả đầu tư Do đó, đối với giai đoạn chuẩn bị đầu tư, vấn

đề chất lượng, vấn đề chính xác của các kết quả nghiên cứu, tính toán và dự đoán là quan trọng nhất Trong quá trình soạn thảo dự án phải dành đủ thời gian và chi phí theo đòi hỏi của các nghiên cứu

Tổng chi phí cho giai đoạn chuẩn bị đầu tư chiếm từ 0,5 – 15% vốn đầu

tư của dự án Làm tốt công tác chuẩn bị đầu tư sẽ tạo tiền đề cho việc sử dụng tốt 85-99,5% vốn đầu tư của dự án ở giai đoạn thực hiện đầu tư (đúng tiến độ, không phải phá đi làm lại, tránh được những chi phí không cần thiết khác …) điều này cũng tạo cơ sở cho quá trình hoạt động của dự án thuận lợi, nhanh chóng thu hồi vốn đầu tư và có lãi (đối với các dự án sản xuất kinh doanh), nhanh chóng phát huy hết năng lực phục vụ dự kiến (đối với các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng và dịch vụ xã hội)

Trong giai đoạn 2, vấn đề thời gian là quan trọng hơn cả Ở giai đoạn này, 85 - 99,5% vốn đầu tư của dự án được chi ra và nằm khê đọng trong suốt những năm thực hiện đầu tư Đây là những năm vốn không sinh lời Thời gian thực hiện đầu tư càng kéo dài, vốn ứ đọng càng nhiều, tổn thất càng lớn Lại thêm những tổn thất do thời tiết gây ra đối với vật tư, thiết bị chưa hoặc đang được thi công, đối với các công trình đang được xây dựng dở dang

Đến lượt mình, thời gian thực hiện đầu tư lại phụ thuộc nhiều vào chất lượng công tác chuẩn bị đầu tư, vào việc quản lý quá trình thực hiện đầu tư, quản lý việc thực hiện những hoạt động khác có liên quan trực tiếp đến các kết quả của quá trình thực hiện đầu tư đã được xem xét trong dự án đầu tư

Giai đoạn 3, vận hành các kết quả của giai đoạn thực hiện đầu tư (giai đoạn sản xuất kinh doanh dịch vụ) nhằm đạt được các mục tiêu của dự án

Trang 21

Nếu các kết quả do giai đoạn thực hiện đầu tư tạo ra đảm bảo tính đồng bộ, giá thành thấp, chất lượng tốt, đúng tiến độ, tại địa điểm thích hợp, với quy

mô tối ưu thì hiệu quả hoạt động của các kết quả này và mục tiêu của dự án chỉ còn phụ thuộc trực tiếp vào quá trình tổ chức quản lý hoạt động của các kết quả đầu tư Làm tốt công tác của giai đoạn chuẩn bị đầu tư và thực hiện đầu tư thuận lợi cho quá trình tổ chức quản lý phát huy tác dụng của các kết quả đầu tư Thời gian phát huy tác dụng của các kết quả đầu tư chính là vòng đời của dự án, nó gắn với đời sống sản phẩm

1.1.3.1 Nghiên cứu cơ hội đầu tư

Mục đích của bước nghiên cứu này là xác định một cách nhanh chóng, nhưng ít tốn kém về các cơ hội đầu tư

Nội dung của việc nghiên cứu là xem xét các nhu cầu và khả năng cho việc tiến hành các công cuộc đầu tư, các kết quả và hiệu quả sẽ đạt được nếu thực hiện đầu tư

Đây là những ý tưởng ban đầu được hình thành trên cơ sở cảm tính trực quan của nhà đầu tư hoặc trên cơ sở quy hoạch định hướng của vùng, của khu vực hay của quốc gia, quy hoạch tổng thể phát triển ngành Thường giai đoạn này kết thúc bằng một kế hoạch mang tính chất chỉ đạo về hướng đầu tư và hình thành tổ chức nghiên cứu

Cần phân biệt 2 loại cơ hội đầu tư tuỳ thuộc vào phạm vi phát huy tác dụng của các kết quả đầu tư và phân cấp quản lý đầu tư Đó là:

+ Cơ hội đầu tư chung cho đất nước, cho địa phương, cho ngành kinh tế

- kỹ thuật hoặc cho một loại tài nguyên thiên nhiên của đất nước Chẳng hạn như cơ hội đầu tư quỹ nhà thu nhập thấp, đầu tư phát triển hạ tầng …

Đối với loại cơ hội đầu tư này, thường có nhiều dự án Chẳng hạn các

dự án đầu tư cơ sở hạ tầng cho các khu du lịch, xây dựng khách sạn để thu hút khách du lịch …

Trang 22

+ Cơ hội đầu tư cụ thể cho các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ Trong trường hợp này, mỗi cơ hội đầu tư thường sẽ có một dự án đầu tư

Khi nghiên cứu để phát hiện các cơ hội đầu tư phải xuất phát từ những căn cứ sau đây:

- Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước hoặc chiến lược phát triển sản xuất kinh doanh dịch vụ của ngành, của cơ sở Đây là những định hướng lâu dài cho sự phát triển của đất nước và của các cơ sở Mọi công cuộc đầu tư không xuất phát từ những căn cứ này sẽ không có tương lai và tất nhiên sẽ không được chấp nhận

- Nhu cầu trong nước và trên thế giới về những mặt hàng hoặc những hoạt động dịch vụ cụ thể Đây là nhân tố quyết định sự hình thành và hoạt động của các dự án đầu tư Không có nhu cầu thì sự hoạt động của các dự án không để làm gì mà chỉ dẫn đến sự lãng phí tiền của và công sức xã hội, ảnh hưởng không tốt đến sự hình thành và hoạt động của các dự án có nhu cầu Nhu cầu ở đây trong điều kiện nền kinh tế mở, bao gồm cả nhu cầu trong nước và nhu cầu thế giới, trong đó nhu cầu trong phạm vi thế giới lớn hơn rất nhiều so với nhu cầu trong nước Trong hoạt động đầu tư luôn chú ý tận dụng mọi cơ hội để tham gia vào phân công lao động quốc tế, để có thị trường ở nước ngoài

- Tình hình cung cấp những mặt hàng hoặc hoạt động dịch vụ trên đây

ở trong nước và trên thế giới còn chỗ trống cho để dự án chiếm lĩnh trong một thời gian dài Trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là điều tất nhiên Tuy nhiên, ở những lĩnh vực hoạt động cung chưa đáp ứng cầu thì sự cạnh tranh trong tiêu thụ sản phẩm và tiến hành các hoạt động dịch vụ không

là vấn đề phải quan tâm nhiều Do đó, tìm chỗ trống trên thị trường để tiến hành các hoạt động đầu tư sẽ đảm bảo khả năng tiêu thụ sản phẩm không gặp phải sự cạnh tranh gay gắt với các cơ sở khác Điều này cho phép giảm chi

Trang 23

phí tiêu thụ sản phẩm, tăng năng suất lao động, nhanh chóng thu hồi đủ vốn

đã bỏ ra

Một điều cần lưu ý là do vốn chi cho một công cuộc đầu tư phát triển thường rất lớn, các thành quả của công cuộc đầu tư cần và phải hoạt động trong một thời gian dài mới thu hồi đủ vốn đã bỏ ra Vì vậy, “chỗ trống” trong thị trường tiêu thụ sản phẩm của dự án đầu tư cũng phải tồn tại trong một thời gian dài đủ để dự án hoạt động hết đời và chủ đầu tư tiêu thụ hết sản phẩm của dự án

- Tiềm năng sẵn có cần và có thể khai thác về vốn, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động để thực hiện dự án của đất nước, của địa phương, của ngành, hoặc của các cơ sở Những lợi thế so sánh nếu thực hiện đầu tư so với nước khác, địa phương khác hoặc cơ sở khác

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, có lợi thế so sánh sẽ đảm bảo khả năng thắng đối thủ cạnh tranh rất nhiều Vì vậy, khi dự kiến tiến hành các công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận, không thể không chú ý đến vấn đề lợi thế so sánh Nếu tự nó không có lợi thế so sánh thì phải

dự kiến phương án tạo ra lợi thế so sánh như đầu tư sang các nước khác có nhiều lợi thế so sánh hơn trong nước hoặc ở nước dự kiến ban đầu sẽ đầu tư hoặc đề ra các biện pháp để tạo lợi thế so sánh như sử dụng vật liệu mới, vật liệu khai thác tại chỗ để giảm chi phí đầu vào, tận dụng lao động dư thừa giá

rẻ của địa phương để khai thác nguyên vật liệu tại chỗ vừa làm giảm chi phí công nhân vừa giảm chi phí vận chuyển các đầu vào thường xuyên

- Những kết quả và hiệu quả sẽ đạt được nếu thực hiện đầu tư Đây là tiêu chuẩn tổng hợp để đánh giá tính khả thi của toàn bộ dự án đầu tư Những kết quả và hiệu quả này phải lớn hơn hoặc chí ít cũng phải bằng nếu đầu tư vào dự án khác hoặc bằng định mức thì cơ hội đầu tư mới được chấp nhận để chuyển tiếp sang giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi hoặc khả thi

Trang 24

1.1.3.2 Nghiên cứu tiền khả thi

Đây là bước nghiên cứu tiếp theo của các cơ hội đầu tư có nhiều triển vọng đã được lựa chọn có quy mô đầu tư lớn, phức tạp về mặt kỹ thuật, thời gian thu hồi vốn lâu, có nhiều yếu tố bất định tác động Bước này nghiên cứu sâu hơn các khía cạnh mà khi xem xét cơ hội đầu tư còn thấy phân vân chưa chắc chắn, nhằm tiếp tục lựa chọn, sàng lọc các cơ hội đầu tư hoặc để khẳng định lại cơ hội đầu tư đã được lựa chọn có đảm bảo tính khả thi hay không

Đối với các cơ hội đầu tư quy mô nhỏ, không phức tạp về mặt kỹ thuật

và triển vọng đem lại hiệu quả rõ ràng thì có thể bỏ qua giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi

Nội dung nghiên cứu tiền khả thi bao gồm các vấn đề sau đây:

+ Các bối cảnh chung về kinh tế, xã hội, pháp luật có ảnh hưởng đến dự án + Nghiên cứu thị trường

+ Nghiên cứu kỹ thuật

+ Nghiên cứu về tổ chức và nhân sự

+ Nghiên cứu về tài chính

+ Nghiên cứu lợi ích kinh tế xã hội

Những nội dung này cũng được xem xét ở giai đoạn nghiên cứu khả thi sau này

Đặc điểm nghiên cứu các vấn đề trên ở giai đoạn này là chưa chi tiết, xem xét ở trạng thái tĩnh, ở mức trung bình mọi đầu vào, đầu ra, mọi khía cạnh kỹ thuật, tài chính kinh tế của cơ hội đầu tư và toàn bộ quá trình thực hiện đầu tư vận hành kết quả đầu tư Do đó độ chính xác chưa cao

Đối với các khoản chi phí nhỏ có thể tính nhanh chóng Chẳng hạn dự tính vốn lưu động cho một chu kỳ hoạt động của doanh nghiệp bằng cách chia tổng doanh thu bình quân năm cho số chu kỳ hoạt động của doanh nghiệp trong năm Đối với chi phí bảo hiểm, thuế: ước tính theo tỷ lệ phần trăm so

Trang 25

với doanh thu, chi phí lắp đặt thiết bị: ước tính theo tỷ lệ phần trăm so với giá trị công trình hoặc thiết bị Đối với các chi phí đầu tư lớn như giá trị công trình xây dựng, giá trị thiết bị và công nghệ … phải tính toán chi tiết hơn

Sản phẩm cuối cùng của nghiên cứu tiền khả thi là luận chứng tiền khả thi Nội dung của luận chứng tiền khả thi bao gồm các vấn đề sau:

- Giới thiệu chung về cơ hội đầu tư theo các nội dung nghiên cứu tiền khả thi ở trên

- Chứng minh cơ hội đầu tư có nhiều triển vọng đến mức có thể quyết định cho đầu tư Các thông tin đưa ra để chứng minh phải đủ sức thuyết phục các nhà đầu tư

- Những khía cạnh gây khó khăn cho thực hiện đầu tư và vận hành các kết quả của đầu tư sau này đòi hỏi phải tổ chức nghiên cứu chức năng hoặc nghiên cứu hỗ trợ

Nội dung nghiên cứu hỗ trợ đối với các dự án khác nhau, thường khác nhau tuỳ thuộc vào những đặc điểm về mặt kỹ thuật của dự án, về nhu cầu thị trường đối với sản phẩm do dự án cung cấp, về tình hình phát triển kinh tế và khoa học kỹ thuật trong nước và trên thế giới Chẳng hạn đối với các dự án có quy mô sản xuất lớn thời hạn thu hồi vốn lâu, sản phẩm do dự án cung cấp sẽ phải cạnh tranh trên thị trường thì việc nghiên cứu hỗ trợ về thị trường tiêu thụ sản phẩm là rất cần thiết để từ đó khẳng định lại quy mô của dự án và thời gian hoạt động của dự án bao nhiêu là tối ưu, hoặc phải thực hiện các biện pháp tiếp thị ra sao để tiêu thụ hết sản phẩm của dự án và có lãi

Nghiên cứu thị trường đầu vào của các nguyên liệu cơ bản đặc biệt quan trọng đối với dự án phải sử dụng nguyên liệu với khối lượng lớn mà việc cung cấp có nhiều trở ngại như phụ thuộc vào nhập khẩu, hoặc đòi hỏi phải có nhiều thời gian Nghiên cứu quy mô kinh tế của dự án là một nội dung trong nghiên cứu hỗ trợ Có nghĩa là nghiên cứu các khía cạnh của dự án về mặt

Trang 26

kinh tế, tài chính, kỹ thuật, quản lý, từ đó lựa chọn các quy mô thích hợp nhất

để đảm bảo cuối cùng đem lại hiệu quả kinh tế tài chính cao nhất cho chủ đầu

tư và cho đất nước

Nghiên cứu hỗ trợ vị trí thực hiện dự án đặc biệt quan trọng đối với các

dự án có chi phí vận chuyển đầu vào và đầu ra lớn Nhiệm vụ của nghiên cứu

hỗ trợ ở đây là nhằm xác định được vị trí thích hợp nhất về mặt địa lý vừa đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật trong hoạt động, vừa đảm bảo chi phí vận chuyển là thấp nhất

Nghiên cứu hỗ trợ để lựa chọn công nghệ, trang thiết bị được tiến hành đối với các dự án đầu tư có chi phí đầu tư cho công nghệ và trang thiết bị là lớn, mà công nghệ và trang thiết bị này lại có nhiều nguồn cung cấp với giá cả khác nhau, các thông số kỹ thuật, thông số kinh tế khác nhau

Các nghiên cứu hỗ trợ có thể được tiến hành song song với nghiên cứu khả thi, và cũng có thể tiến hành sau nghiên cứu khả thi tuỳ thuộc thời điểm phát hiện các khía cạnh cần phải tổ chức nghiên cứu sâu hơn Chi phí cho nghiên cứu hỗ trợ nằm trong chi phí nghiên cứu khả thi

1.1.3.3 Nghiên cứu khả thi

Đây là bước sàng lọc lần cuối để lựa chọn được dự án tối ưu Ở giai đoạn này phải khẳng định cơ hội đầu tư có khả thi hay không? Có vững chắc,

có hiệu quả hay không?

Ở bước nghiên cứu này, nội dung nghiên cứu cũng tương tự như giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi, nhưng khác nhau ở mức độ chi tiết hơn, chính xác hơn Mọi khía cạnh nghiên cứu đều được xem xét ở trạng thái động, tức là

có tính đến các yếu tố bất định có thể xảy ra theo từng nội dung nghiên cứu Xem xét sự vững chắc hay không của dự án trong điều kiện có sự tác động của các yếu tố bất định, hoặc cần có các biện pháp tác động gì để đảm bảo cho dự án có hiệu quả

Trang 27

Tất cả ba giai đoạn nghiên cứu nói trên phải được tiến hành đối với các

dự kiến đầu tư lớn nhằm đảm bảo từng bước phân tích sâu hơn, đầy đủ và chi tiết hơn, phát hiện và khắc phục dần những sai sót ở các giai đoạn nghiên cứu trước thông qua việc tính toán lại, đối chiếu các dữ kiện, các thông số, thông tin thu thập được qua mỗi giai đoạn Điều này sẽ đảm bảo cho các kết quả nghiên cứu khả thi đạt được độ chính xác cao

Đối với dự án đầu tư nhỏ, quá trình nghiên cứu có thể gom lại làm một bước Bản chất, mục đích và công dụng của nghiên cứu khả thi

- Bản chất của nghiên cứu khả thi

Xét về mặt hình thức, tài liệu nghiên cứu khả thi là một tập hồ sơ trình bày một cách chi tiết và có hệ thống tính vững chắc, hiện thực của một hoạt động sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế xã hội theo các khía cạnh thị trường, kỹ thuật, tài chính, tổ chức quản lý và kinh tế xã hội

Ở Việt Nam, nghiên cứu khả thi thường được gọi là lập luận chứng kinh tế kỹ thuật Nghiên cứu khả thi được tiến hành dựa vào kết quả của các nghiên cứu cơ hội đầu tư và nghiên cứu tiền khả thi đã được cấp có thẩm quyền chấp nhận Ở giai đoạn nghiên cứu khả thi, dự án được soạn thảo kỹ lưỡng hơn, đảm bảo cho mọi dự đoán, mọi tính toán đạt được ở mức độ chính xác cao trước khi được đưa ra để các cơ quan kế hoạch, tài chính, ngân hàng, các định chế tài chính quốc tế thẩm định

- Mục đích của nghiên cứu khả thi

Như phần trên đã đề cập, quá trình nghiên cứu khả thi được tiến hành qua 3 giai đoạn Giai đoạn nghiên cứu cơ hội đầu tư nhằm loại bỏ ngay những

dự kiến rõ ràng không khả thi mặc dù không cần đi sâu vào chi tiết Tính không khả thi này được chứng minh bằng các số liệu thống kê, các tài liệu thông tin kinh tế dễ tìm Điều đó giúp cho tiết kiệm được thời giờ, chi phí của các nghiên cứu kế tiếp

Trang 28

Việc nghiên cứu tiền khả thi nhằm loại bỏ các dự án bấp bênh (về thị trường, về kỹ thuật), những dự án mà kinh phí đầu tư quá lớn, mức sinh lời nhỏ, hoặc không thuộc loại ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội hoặc chiến lược phát triển sản xuất kinh doanh Nhờ đó các chủ đầu tư có thể loại bỏ hẳn dự án để khỏi tốn thời gian và kinh phí, hoặc tạm xếp dự án lại chờ cơ hội thuận lợi hơn

Còn việc nghiên cứu khả thi là xem xét lần cuối cùng nhằm đi đến những kết luận xác đáng về mọi vấn đề cơ bản của dự án bằng các số liệu đã được tính toán cẩn thận, chi tiết, các đề án kinh tế - kỹ thuật, các lịch biểu và tiến độ thực hiện dự án trước khi quyết định đầu tư chính thức

Như vậy, nghiên cứu khả thi là một trong những công cụ thực hiện kế hoạch kinh tế của ngành, của địa phương và của cả nước, để biến kế hoạch thành hành động cụ thể và đem lại lợi ích kinh tế xã hội cho đất nước, lợi ích tài chính cho nhà đầu tư

1.1.3.4 Thực hiện dự án

Thực hiện dự án là giai đoạn biến các dự án đầu tư thành hiện thực nhằm đưa dự án vào hoạt động trong thực tế của đời sống kinh tế xã hội Giai đoạn này bao gồm một loạt các quá trình kế tiếp hoặc xen kẽ nhau từ khi thiết

kế đến khi đưa dự án vào vận hành khai thác

Thực hiện dự án là giai đoạn hết sức quan trọng, có liên quan chặt chẽ với việc đảm bảo chất lượng và tiến độ thực hiện dự án và sau đó là hiệu quả đầu tư

1.1.3.5 Vận hành (sử dụng, khai thác…) dự án

Giai đoạn này được xác định từ khi chính thức đưa dự án vào vận hành khai thác cho đến khi kết thúc dự án Đây là giai đoạn thực hiện các hoạt động theo chức năng của dự án và quản lý các hoạt động đó theo các

kế hoạch đã dự tính

Trang 29

1.1.3.6 Đánh giá sau khi thực hiện dự án

Thực chất đây là việc phân tích, đánh giá các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật của dự án trong giai đoạn vận hành, khai thác Phân tích, đánh giá dự án trong giai đoạn này nhằm:

- Hiệu chỉnh các thông số kinh tế - kỹ thuật để đảm bảo mức đã được

dự kiến trong Nghiên cứu khả thi

- Tìm kiếm cơ hội phát triển, mở rộng dự án hoặc điều chỉnh các yếu tố của dự án cho phù hợp với tình hình thực tế để đảm bảo hiệu quả dự án Dựa vào các kết quả phân tích, đánh giá quá trình vận hành, khai thác dự án để có quyết định đúng đắn về sự cần thiết kéo dài hoặc chấm dứt thời hạn hoạt động của dự án

1.1.3.7 Kết thúc dự án

Tiến hành các công việc cần thiết để chấm dứt hoạt động của dự án (thanh toán công nợ, thanh lý tài sản và hoàn thành các thủ tục pháp lý khác)

Công dụng của các dự án đầu tư:

- Đối với nhà nước và các định chế tài chính thì dự án đầu tư là cơ sở

để thẩm định và ra quyết định đầu tư, quyết định tài trợ cho dự án đó

- Đối với chủ đầu tư thì dự án đầu tư là cơ sở để:

+ Xin phép được đầu tư (hoặc được ghi vào kế hoạch đầu tư) và giấy phép hoạt động

+ Xin phép được nhập khẩu vật tư, máy móc thiết bị

+ Xin hưởng các khoản ưu đãi (nếu dự án thuộc diện ưu tiên) về đầu tư + Xin gia nhập các khu chế xuất, khu công nghiệp, cụm công nghiệp + Xin vay vốn của các định chế tài chính trong và ngoài nước

+ Kêu gọi góp vốn hoặc phát hành cổ phiếu, trái phiếu

Trang 30

1.2 HIỆU QUẢ CỦA QUẢN LÝ DỰ ÁN

1.2.1 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả

1.2.1.1 Đánh gía dự án với nhóm chỉ tiêu tĩnh

- Chỉ tiêu chi phí cho một đơn vị sản phẩm (Cd)

Bằng tỷ số giữa chi phí về vốn cố định và vốn lưu động trong một năm trên số lượng sản phảm trong năm của dự án

Phương án có chi phí một đơn vị sản phẩm nhỏ nhất là phương án tốt nhất

- Chỉ tiêu lợi nhuận tính cho một đơn vị sản phẩm (Ld)

Bằng giá bán một đơn vị sản phẩm Gd trừ đi chi phí cho một đơn vị sản phẩm

Phương án nào có chỉ tiêu lợi nhuận tính cho một đơn vi sản phẩm lớn nhất

là phương án tốt nhất

- Chỉ tiêu mức doanh thu của một đồng vốn đầu tư (D)

Bằng tỷ số mà tử số là lợi nhuận của một năm hoạt động của dự án L và tổng chi phí đầu tư của dự án

Phương án nào có chỉ tiêu này lớn nhất là phương án tốt nhất

- Chỉ tiêu thời hạn thu hồi vốn đầu tư (Tk)

Bằng tỷ số giữa vốn đầu tư V cho dự án với lợi nhuận L và khấu hao cơ bản hàng năm

Phương án nào có chỉ tiêu này nhỏ nhất là phương án tốt nhất

1.2.1.2 Đánh giá dự án với nhóm chỉ tiêu động, trường hợp thị trường vốn hoàn hảo

Một thị trường vốn được coi là hoàn hảo khi:

Nhu cầu về vốn luôn luôn được thỏa mãn và không bị một hạn chế nào

Trang 31

Nếu tại mỗi thời điểm có phát sinh thu chi, ta lấy thu trừ chi thì dòng tiền còn lại là dòng các khoản thu nhập hoàn vốn N (vì C là chi phí vận hành không kể khấu hao nên thu nhập hoàn vốn N cũng chính bằng lợi nhuận L cộng khấu

hao KH): B – C = L + KH = N

Phương án nào có trị số NPW lớn nhất là phương án tốt nhất

Khi hai phương án có số vốn đầu tư khác nhau, người ta phải giả định có một phương án đầu tư tài chính phụ thêm vào phương án có vốn đầu tư nhỏ hơn (trong thị trường vốn hoàn hảo NPW của phương án đầu tư tài chính phụ thêm bằng 0)

Khi các phương án có tuổi thọ khác nhau trong thời kỳ tính toán để so sánh được lấy bằng bội số chung nhỏ nhất của các tuổi thọ của các phương án Nếu thời kỳ tồn tại của dự án được xác định rõ ràng, thì thời kỳ phân tích được lấy bằng thời kỳ tồn tại đó

- Chỉ tiêu hiệu số thu chi quy về thời điểm tương lai NFW (NFV)

Phương án nào có trị số NFW lớn nhất là phương án tốt nhất

- Chỉ tiêu hiệu số thu chi quy san đều hàng năm NAW

Để tính chỉ tiêu hiệu số thu chi san đều bằng hàng năm NAW, thì trước hết phải tính giá trị hiện tại của hiệu số thu chi PW sau đó tính trị số NAW:

Phương án đáng giá là phương án có NAW>0 Còn phương án tốt nhất là phương án có NAW lớn nhất

- Chỉ tiêu suất thu lời nội tại IRR

Có hai phương pháp xác định IRR là:

Phương pháp nội suy gần đúng và phương pháp dùng bảng tính Excel

- Chỉ tiêu tỷ số thu chi (Tỷ số lợi ích/chi phí)

Phương pháp được sử dụng phổ biến đối với các dự án phục vụ công cộng, các dự án mà Nhà nước không đặt ra mục tiêu hàng đầu là lợi nhuận

Khi tỷ số B/C> 1 thì dự án đó được coi là đáng giá về mặt kinh tế So

Trang 32

sánh các phương án khi sử dụng chỉ tiêu cũng sử dụng nguyên tắc phân tích theo gia số đầu tư

Khi tỷ số B/C có các dấu hiệu khác nhau thì việc lựa chọn phương án

có vốn đầu tư lớn hơn chỉ khi mẫu số của tỷ số B/C < 1 mang dấu âm (C < 0) Trường hợp có nhiều phương án cùng so sánh lựa chọn theo hình trình tự như chỉ tiêu IRR

- Chỉ tiêu thời gian hoàn vốn tính bằng PP hiện giá Thv

Thời gian hoàn vốn tính bằng phương pháp hiện giá Thv là thời gian từ

0 đến khi NPV = 0

Phương án nào có thời gian hoàn vốn nhỏ hơn, là phương án có lợi hơn

1.2.1.3 Đánh giá dự án với nhóm chỉ tiêu động, trường hợp thị trường vốn không hoàn hảo

- Phương pháp dùng chỉ tiêu NFW

+ Trường hợp không được phép điều hoà

Trường hợp này nghĩa là nếu có một năm bất kỳ t nào đó bị lỗ ta không được dùng tiền lãi của năm trước t-1 để bù mà phải đi vay tiền bên ngoài với lãi suất đi vay (idv) để bù vào Còn tiền lãi của năm t’ bất kỳ nào đó sẽ được đem đầu tư tài chính với lãi suất cho vay icv Ta có công thức tính NFW: NFW = NFW(icv) + NFW(idv)

Nghĩa là hiệu số thu chi quy về thời điểm tương lai của cả dự án bằng tổng đại

số của hiệu số thu chi quy về thời điểm tương lai của dòng thu nhập hoàn vốn dương với lãi suất cho vay NFW(icv) và hiệu số thu chi của dòng thu nhập hoàn vốn âm với lãi suất đi vay NFW

+ Trường hợp được phép điều hoà

Là trường hợp được phép dùng tiền lãi các năm trước bù cho khoản lỗ hiện tại Bởi vì được phép điều hoà như trên nên ta không thể tách biệt 2 dòng tiền với 2 loại lãi suất Ta phải tính dần về tương lai (theo biểu đồ dòng tiền là

Trang 33

từ trái sang phải) khi nào dòng tiền (sau khi đã bù trừ) mang dấu âm thì phải dùng lãi suất đi vay, khi nào dòng tiền (sau khi đã bù trừ) mang dấu dương thì dùng lãi suất cho vay Chính ví phải tính dần về tương lai nên trong trường hợp này ta không thể tính được chỉ tiêu NPW

- Phương pháp dùng chỉ tiêu suất thu lợi hỗn hợp CRR

Suất thu lợi hỗn hợp CRR là suất chiết khấu âm được dùng để chiết khấu dòng hiệu số thu chi âm (thay cho idv) cùng với suất chiết khấu dương icv chiết khấu dòng hiệu số thu chi dương để sao cho giá trị tương lai của cả

1.2.1.4 Đánh giá dự án bằng phương pháp chi phí kinh tế tối thiểu

Phương pháp chi phí tối thiểu có thể được coi là phương pháp chi phí hữu hiệu Mục tiêu là để so sánh các dự án xã hội thay thế nhau và có nội dung về mặt xã hội như nhau, bằng cách so sánh chi phí kèm theo của chúng

để đạt được nội dung này

1.2.2 Các tiêu chuẩn đánh giá việc quản lý dự án

Một dự án thành công có các đặc điểm sau:

Hoàn thành trong thời gian quy định (Within Time)

Hoàn thành trong chi phí cho phép (Within Cost)

Đạt được thành quả mong muốn (Design Performance)

Sử dụng nguồn lực được giao một cách hiệu quả (Effective)

Trang 34

Hình 1.1 Những tiêu chuẩn ràng buộc kết quả thực hiện dự án

1.3 PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG

Quản lý dự án đầu tư xây dựng chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố, tuy nhiên có thể tóm gọn phân loại hai hướng tác động đến quản lý dự án là các nhân tố bên trong và các nhân tố bên ngoài

1.3.1 Các nhân tố bên trong

Các nhân tố bên trong ảnh hưởng đến công tác quản lý dự án bao gồm :

- Trình độ của cán bộ tham gia quản lý dự án

- Thông tin truyền tải trong quá trình thực hiện dự án

- Cơ sở vật chất phục vụ cho công tác quản lý

- Mô hình quản lý tại đơn vị

Chi phí

Thời gian

Thành quả

Ngân sách cho phép Thời hạn

quy định

Yêu cầu về

thành quả

Mục tiêu

Trang 35

Trong đó trình độ của cán bộ quản lý là quan trọng nhất đối với công tác quản lý dự án bởi vì một dự án có thành công hay không là phụ thuộc vào trình độ chuyên môn, năng lực tổ chức quản lý và kinh nghiệm thực tế của cán bộ quản lý Các yếu tố thông tin cũng góp một phần không nhỏ vào quá trình quản lý Nếu thông tin sai lệch, thiếu chính xác, hay bị chậm trễ thì dự

án sẽ không thể đạt được các tiêu chuẩn kỹ thuật cũng như tiến độ thời gian Dựa vào các thông tin nhận được từ các cán bộ tham gia dự án , các tổ chức tư vấn, nhà thầu hay thông tin từ bên ngoài, nhà quản lý sẽ nắm bắt được thực trạng của dự án từ đó có những điều chỉnh kịp thời các sai sót hoặc đưa ra các giải pháp khắc phục nhanh chóng nhất Bên cạnh đó cơ sở vật chất phục vụ quá trình quản lý dự án cũng là một nhân tố ảnh hưởng đến quá trình quản lý Nhà quản lý chỉ có thể thực hiện tốt công tác quản lý dự án khi có đủ các vật chất cần thiết bởi vì quá trình quản lý dự án là một quá trình diễn ra trong một thời gian dài và đòi hỏi sử dụng nhiều đến các phương tiện vật chất Tuy nhiên, một yếu tố không thể không kể đến đó là việc áp dụng mô hình tổ chức quản lý dự án Tuỳ thuộc vào quy mô dự án , thời gian thực hiện,công nghệ sử dụng, nguồn lực, chi phí dự án…mà lựa chọn mô hình quản lý cho phù hợp nhằm đảm bảo một mô hình quản lý năng động, hiệu quả, phù hợp với những thay đổi của môi trường cạnh tranh, công nghệ quản lý và yêu cầu quản lý

1.3.2 Các nhân tố bên ngoài

Bao gồm :

- Môi trường luật pháp, chính sách

- Sự phối hợp của các cơ quan có liên quan

Có thể thấy rằng các nhân tố bên ngoài cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến công tác quản lý dự án Môi trường luật pháp ổn định, không có sự chồng chéo của các văn bản, không có hiện tượng nhũng nhiễu,tiêu cực thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý dự án Hơn nữa,các chính sách về tài

Trang 36

chính tiền tệ, về tiền lương…cũng ảnh hưởng lớn đến quá trình quản lý Dự

án có thể hoàn thành đúng tiến độ, đảm bảo chất lượng hay không cũng phụ thuộc nhiều vào sự kết hợp của các cơ quan, các cấp ngành có liên quan, nếu

sự phối hợp đó là chặt chẽ, có khoa học thì sẽ là cơ sở vững chắc góp phần tạo nên hiệu quả quản lý dự án

- Môi trường đầu tư: Nếu môi trường đầu tư hấp dẫn về lợi thế tuyệt đối

và lợi thế so sánh như tài nguyên thiên nhiên, sức lao động, thị trường tiêu thụ, giá thuê đất, thuế, tín dụng… thì sẽ thu hút được nhà đầu tư, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư sẽ có điều kiện cao hơn và ngược lại

- Chính trị - xã hội: Nếu điều kiện chính trị - xã hội ổn định, luật pháp đảm bảo, nhất quán sẽ làm cho mọi người yên tâm bỏ vốn đầu tư, yên tâm làm ăn, một điều kiện thuận lợi cho việc phát huy hiệu quả sử dụng vốn đầu tư

và ngược lại

- Cơ chế quản lý đầu tư xây dựng: Nếu cơ chế quản lý đầu tư xây dựng phù hợp với chế độ sở hữu vốn, tạo được động lực và sự ràng buộc về quyền lợi, trách nhiệm, tính chủ động sáng tạo của chủ đầu tư thì sẽ phát huy hiệu quả sử dụng vốn đầu tư và ngược lại

- Nhân tố con người: Nếu cán bộ quản lý đầu tư xây dựng bao gồm các cấp cán bộ như chủ đầu tư, cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý, cán bộ lãnh đạo… đáp ứng yêu cầu về năng lực trình độ, thích ứng với cơ chế thị trường là điều kiện thuận lợi phát huy hiệu quả sử dụng vốn đầu tư và ngược lại

Trang 37

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Đầu tư xây dựng các công trình nhà ở phục vụ công tác giải phóng mặt bằng của Thành phố Hà nội từ nguồn vốn ngân sách nhà nước là nhiệm vụ chiến lược, một giải pháp chủ yếu để tạo quỹ đất, tạo mặt bằng thực hiện các

dự án cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội theo hướng tăng trưởng cao, ổn định và bền vững cho thủ đô

Hoàn thiện công tác quản lý các dự án đầu tư xây dựng các công trình nhà ở phục vụ công tác giải phóng mặt bằng sử dụng vốn ngân sách là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của các cấp, các ngành và của nhà đầu tư, là một đòi hỏi khách quan của sự công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, là một biện pháp tích cực nhất để giải quyết đúng đắn mâu thuẫn giữa yêu cầu tăng trưởng kinh tế ở tốc độ cao, bền vững với khả năng tích luỹ có hạn của các nền kinh tế nói chung và của cả đất nước ta nói riêng

Quá trình hình thành và đưa vào khai thác sử dụng dự án xây dựng các công trình nhà ở phục vụ công tác giải phóng mặt bằng qua ba giai đoạn là: chuẩn bị đầu tư; thực hiện đầu tư và vận hành khai thác dự án Mỗi giai đoạn gồm nhiều bước công việc khác nhau được tiến hành một cách liên tục Quá trình quản lý đầu tư theo các dự án cũng là quá trình quản lý trong từng bước, từng giai đoạn của nó

Các nội dung chủ yếu của quản lý các dự án đầu tư xây dựng các công trình nhà ở phục vụ công tác giải phóng mặt bằng sử dụng vốn ngân sách nhà nước gồm: Công tác kế hoạch hoá vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách; Công tác lập và quản lý quy hoạch; Công tác lập và thẩm định dự án đầu tư, thiết kế kỹ thuật, tổng dự toán; Quản lý công tác đấu thầu; Công tác thanh quyết toán; Công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng; Năng lực Ban quản lý và chủ đầu tư; Công tác giám sát đánh giá đầu tư; Trách nhiệm của các cấp, các ngành trong quản lý đầu tư và xây dựng

Trang 38

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÁC CÔNG TRÌNH NHÀ Ở SỬ DỤNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

2.1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN CHUNG VỀ THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Vị trí, địa hình: Thành phố Hà nội nằm ở phía tây bắc của vùng đồng

bằng châu thổ sông Hồng, có vị trí từ 20°53' đến 21°23' vĩ độ Bắc và 105°44' đến 106°02' kinh độ Đông, tiếp giáp với các tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc ở phía Bắc, Hà Nam, Hòa Bình phía Nam, Bắc Giang, Bắc Ninh và Hưng Yên phía Đông, Hòa Bình cùng Phú Thọ phía Tây Sau đợt mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8 năm 2008, thành phố có diện tích 3.324,92 km², nằm ở cả hai bên bờ sông Hồng, nhưng tập trung chủ yếu bên hữu ngạn Địa hình Hà Nội thấp dần theo hướng từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông với độ cao trung bình từ 5 đến 20 mét so với mực nước biển Nhờ phù sa bồi đắp, ba phần tư diện tích tự nhiên của Hà Nội là đồng bằng, nằm ở hữu ngạn sông Đà, hai bên sông Hồng và chi lưu các con sông khác Phần diện tích đồi núi phần lớn thuộc các huyện Sóc Sơn, Ba Vì, Quốc Oai, Mỹ Đức, với các đỉnh như Ba

Vì cao 1.281 m, Gia Dê 707 m, Chân Chim 462 m, Thanh Lanh 427 m, Thiên Trù 378 m Khu vực nội thành có một số gò đồi thấp, như gò Đống Đa, núi Nùng

- Kinh tế: Vị thế trung tâm kinh tế của Hà Nội đã được thiết lập từ rất

lâu trong lịch sử Tên những con phố như Hàng Bạc, Hàng Đường, Hang Than đã minh chứng cho điều này Tới thế kỷ gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của Thành phố Hồ Chí Minh và khu vực Nam Bộ, Hà Nội chỉ còn giữ vị trí quan trọng thứ hai trong nền kinh tế Việt Nam

Trang 39

Sau một thời gian dài của thời kỳ bao cấp, từ đầu thập niên 1990, kinh

tế Hà Nội bắt đầu ghi nhận những bước tiến mạnh mẽ Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của thành phố thời kỳ 1991–1995 đạt 12,52%, thời kỳ 1996–

2000 là 10,38% Từ năm 1991 tới 1999, GDP bình quân đầu người của Hà Nội tăng từ 470 USD lên 915 USD, gấp 2,07 so với trung bình của Việt Nam Theo số liệu năm 2010, GDP của Hà Nội chiếm 12,73% của cả quốc gia và khoảng 41% so với toàn vùng Đồng bằng sông Hồng

Giai đoạn phát triển của thập niên 1990 cũng cho thấy Hà Nội đã có những thay đổi về cơ cấu kinh tế Từ 1990 tới 2000, trong khi tỷ trọng ngành công nghiệp tăng mạnh từ 29,1% lên 38% thì nông–lâm nghiệp và thủy sản từ 9% giảm xuống còn 3,8% Tỷ trọng ngành dịch vụ cũng giảm trong khoảng thời gian này, từ 61,9% xuống còn 58,2% Ngành công nghiệp của Hà Nội vẫn tập trung vào 5 lĩnh vực chính, chiếm tới 75,7% tổng giá trị sản xuất công nghiệp, là cơ–kim khí, điện–điện tử, dệt–may–giày, chế biến thực phẩm và công nghiệp vật liệu Bên cạnh đó, nhiều làng nghề truyền thống như gốm Bát Tràng, may ở Cổ Nhuế, đồ mỹ nghệ Vân Hà cũng dần phục hồi và phát triển

Năm 2007, GDP bình quân đầu người của Hà Nội lên tới 31,8 triệu đồng, trong khi con số của cả Việt Nam là 13,4 triệu Hà Nội là một trong những địa phương nhận được đầu tư trực tiếp từ nước ngoài nhiều nhất, với 1.681,2 triệu USD và 290 dự án Thành phố cũng là địa điểm của 1.600 văn phòng đại diện nước ngoài, 14 khu công nghiệp cùng 1,6 vạn cơ sở sản xuất công nghiệp Nhưng đi đôi với sự phát triển kinh tế, những khu công nghiệp này đang khiến Hà Nội phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm môi trường Bên cạnh những công ty nhà nước, các doanh nghiệp tư nhân cũng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Hà Nội Năm 2003, với gần 300.000 lao động, các doanh nghiệp tư nhân đã đóng góp 77% giá trị sản xuất công nghiệp của

Trang 40

thành phố Ngoài ra, 15.500 hộ sản xuất công nghiệp cũng thu hút gần 500.000 lao động Tổng cộng, các doanh nghiệp tư nhân đã đóng góp 22% tổng đầu tư xã hội, hơn 20% GDP, 22% ngân sách thành phố và 10% kim ngạch xuất khẩu của Hà Nội

Sau khi mở rộng địa giới hành chính, với hơn 6 triệu dân, Hà Nội có 3,2 triệu người đang trong độ tuổi lao động Mặc dù vậy, thành phố vẫn thiếu lao động có trình độ chuyên môn cao Nhiều sinh viên tốt nghiệp vẫn phải đào tạo lại, cơ cấu và chất lượng nguồn lao động chưa dịch chuyển theo yêu cầu

cơ cấu ngành kinh tế Hà Nội còn phải đối đầu với nhiều vấn đề khó khăn khác Năng lực cạnh tranh của nhiều sản phẩm dịch vụ cũng như sức hấp dẫn môi trường đầu tư của thành phố còn thấp Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế vẫn chậm, đặc biệt cơ cấu nội ngành công nghiệp, dịch vụ và các sản phẩm chủ lực mũi nhọn Chất lượng quy hoạch phát triển các ngành kinh tế ở Hà Nội không cao và thành phố cũng chưa huy động tốt tiềm năng kinh tế trong dân cư

- Nhà ở: Mặc dù là thủ đô của một quốc gia nghèo, thu nhập bình quân

đầu người thấp, nhưng Hà Nội lại là một trong những thành phố đắt đỏ nhất thế giới và giá bất động sản không thua kém các quốc gia giầu có Điều này

đã khiến những cư dân Hà Nội, đặc biệt tầng lớp có thu nhập thấp, phải sống trong điều kiện chật chội, thiếu tiện nghi Theo con số năm 2003, 30% dân số

Hà Nội sống dưới mức 3 mét vuông một người Ở những khu phố trung tâm, tình trạng còn bi đát hơn rất nhiều Nhà nước cũng không đủ khả năng để hỗ trợ cho người dân Chỉ khoảng 30% cán bộ, công nhân, viên chức được phân phối nhà ở

Do truyền thống văn hóa và những khó khăn về chỗ ở, hiện tượng 3, 4 thế hệ cùng sống chung trong một ngôi nhà rất phổ biến ở Hà Nội Mỗi năm, thành phố xây dựng mới hàng triệu mét vuông nhà, nhưng giá vẫn ở mức quá

Ngày đăng: 15/03/2019, 12:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w