TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI PHẠM TRUNG KIÊN NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ, VẬN HÀNH HỆ THỐNG THỦY LỢI TÂN GIANG, NINH THUẬN TRONG ĐIỀU KIỆN HẠN HÁN LUẬN VĂN THẠC SĨ HÀ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI
PHẠM TRUNG KIÊN
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ,
VẬN HÀNH HỆ THỐNG THỦY LỢI TÂN GIANG,
NINH THUẬN TRONG ĐIỀU KIỆN HẠN HÁN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI - 2011
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI
PHẠM TRUNG KIÊN
NGHI£N CøU GI¶I PH¸P N¢NG CAO HIÖU QU¶ QU¶N Lý,
VËN HµNH HÖ THèNG THñY LîI T¢N GIANG, NINH THUËN TRONG §IÒU KIÖN H¹N H¸N
Chuyên ngành : Quy hoạch và quản lý tài nguyên nước
Mã số : 60-62-30
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS LÊ TRUNG TUÂN PGS.TS PHẠM VIỆT HÒA
H À NỘI - 2011
Trang 3Bảng 2.1: Đặc trưng các sông suối nhánh của sông Cái Phan Rang 16
Bảng 2.2: Đặc trưng các sông suối chảy qua tỉnh Ninh Thuận 18
Bảng 2.3: Phân phối lượng mưa bình quân của 2 trạm tiêu biểu cho 2 vùng 19
Bảng 2.4: Thống kê các trạm khí tượng, đo mưa liên quan 21
Bảng 2.5: Thống kê các trạm thủy văn liên quan 21
Bảng 2.6: Lượng mưa trung bình tháng và năm tại trạm Phan Rang 22
Bảng 2.7: Lượng mưa trung bình tháng và năm tại trạm Cà Ná 22
Bảng 2.8: Nhiệt độ trung bình tháng trong năm tại trạm Phan Rang 23
Bảng 2.9: Độ ẩm tương đối trung bình các tháng trong năm trạm Phan Rang 23
Bảng 2.10: Lượng bốc hơi trung bình tháng (Piche) trạm Phan Rang 23
Bảng 2.11: Tổng số giờ nắng các tháng trạm Phan Rang 24
Bảng 2.12: Tốc độ gió lớn nhất trong năm tại trạm Phan Rang 24
Bảng 2.13: Lượng mưa TB nhiều năm của các trạm trong khu vực có liên quan 25
Bảng 2.14: Lượng mưa trung bình nhiều năm lưu vực Tân Giang 25
Bảng 2.15: Bảng tính lưu lượng tới lưu vực Tân Giang theo số liệu trạm sông Lũy 26
Bảng 2.16: Các thông số thiết kế cơ bản của hồ chứa Tân Giang 30
Bảng 2.17: Diện tích và thời vụ các loại cây trồng trong hệ thống TL Tân Giang 33
Bảng 2.18: Tóm tắt kết quả tính toán điều tiết lũ 1% 34
Bảng 2.19: Tóm tắt kết quả tính toán điều tiết lũ 0,2% 35
Bảng 2.20: Mưa hiệu quả các giai đoạn trong năm 47
Bảng 3.1: Nhu cầu nước cho sinh hoạt và chăn nuôi 77
Bảng 3.2: Thông tin về diện tích khu tưới, tương ứng với các loại cây trồng 78
Bảng 3.3: Đặc tính sinh trưởng của cây lúa Ninh Thuận 78
Bảng 3.4: Đặc tính sinh trưởng của cây mía Ninh Thuận 79
Bảng 3.5: Đặc tính sinh trưởng của cây nho Ninh Thuận 80
Trang 4ảng 3.7: Giá trị kinh tế của các loại cây trồng 81
Bảng 3.8: Số liệu đầu vào để tính toán bằng phần mềm DSS-RO 82
Bảng 3.9: Kết quả tính toán lượng xả từ hồ chứa và lượng xả cho mỗi cây trồng ứng
với kịch bản 1 84
Bảng 3.10: Kết quả tính toán mô hình lượng xả từ hồ chứa cho các khu tưới 87
Bảng 3.11: Quá trình diễn biến mực nước hồ thực tế năm 2005 89
Bảng 3.12: Quá trình phân bổ nước cho các cây trồng trong khu tưới giả định theo
tỷ lệ diện tích của các cây trồng 91
Bảng 3.13: Số liệu mưa thực và mưa dự báo được thu thập cho 10 ngày 93
Bảng 3.14: Thông số mô hình Tank cho lưu vực nghiên cứu 94
Bảng 3.15: Dòng chảy đến và dòng chảy chảy đến tính toán từ mô hình Tank tại
mỗi bước tính toán 95
Bảng 3.16: Kết quả tính toán lượng xả từ hồ chứa và lượng xả cho từng cây trồng 97
Bảng 3.17: Bảng so sánh diễn biến AET/PET trong 3 kịch bản tính toán và năng
suất ứng với mỗi kịch bản 100
Bảng 3.18: Số liệu giảm năng suất bình quân thực tế của cây trồng năm 2005 103
Trang 6ETo : Tốc độ bốc thoát hơi cây trồng
Trang 7Hình 2.1: Hệ thống tưới Tân Giang 33
Hình 2.2: Sơ đồ tổ chức quản lý vận hành hệ thống thủy lợi hồ Tân Giang 35
Hình 2.3: Sơ đồ các hạng mục chính trong hệ thống tưới 40
Hình 2.4: Sơ đồ đường đi của nước mưa 46
Hình 2.5: Cân bằng nước vùng rễ 48
Hình 2.6: Sơ đồ quá trình tính toán tại mỗi bước mô phỏng 69
Hình 2.7: Sơ đồ quá trình tính toán cho cả năm 69
Hình 3.1: Sơ đồ vị trí của Ban quản lý hồ Tân Giang với các ban liên ngành 73
Trang 8Sau hơn 8 tháng thực hiện, luận văn Thạc sỹ chuyên nghành Quy hoạch và
Quản lý Tài nguyên nước với đề tài: “Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả Quản lý, vận hành Hệ thống thủy lợi Tân Giang, Ninh Thuận trong điều kiện hạn hán” đã được hoàn thành Ngoài sự nỗ lực của bản thân, tác giả còn được sự
chỉ bảo, hướng dẫn nhiệt tình của các thầy giáo và các đồng nghiệp, bạn bè
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Thủy lợi, các thầy giáo,
cô giáo Khoa Kỹ thuật Tài nguyên nước, các thầy giáo, cô giáo các bộ môn đã truyền đạt những kiến thức chuyên môn trong quá trình học tập
Tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn chân thành tới các thầy giáo PGS TS Phạm Việt Hoà - Khoa Kỹ thuật Tài nguyên nước, Trường Đại học Thủy lợi, TS Lê Trung Tuân - Tổng Cục Thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, người đã trực tiếp tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và cung cấp những tài liệu, những thông tin cần thiết cho tác giả hoàn thành Luận văn này
Tác giả xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Viện Khoa học Thuỷ lợi Việt Nam, Công ty Cổ phần Đầu tư, Phát triển Tài nguyên & Môi trường và các đồng nghiệp đã cung cấp các tài liệu cần thiết cho tác giả hoàn thành luận văn
Tuy nhiên do thời gian có hạn, trình độ còn hạn chế, số liệu và công tác xử lý
số liệu với khối lượng lớn nên những thiếu sót của Luận văn là không thể tránh khỏi Do đó, tác giả rất mong tiếp tục nhận được sự chỉ bảo giúp đỡ của các thầy cô giáo cũng như những ý kiến đóng góp của bạn bè và của đồng nghiệp
Cuối cùng, tác giả xin chân thành cảm ơn tấm lòng của những người thân trong gia đình, bạn bè đã động viên giúp đỡ khích lệ tác giả trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn./
Hà Nội, tháng 12 năm 2011
Trang 9M ỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
I.TÍNHCẤPTHIẾTCỦAĐỀTÀI 1
II.MỤCĐÍCHCỦAĐỀTÀI 3
III.ĐỐITƯỢNGVÀPHẠMVINGHIÊNCỨU 3
IV.CÁCHTIẾPCẬNVÀPHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HẠN HÁN VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ VẬN HÀNH CÔNG TRÌNH THỦY LỢI TRONG ĐIỀU KIỆN HẠN HÁN TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC 4
1.1.TỔNGQUANVỀHẠNHÁN 4
1.1.1 Vùng Miền núi và Trung du Bắc Bộ 4
1.1.2 Vùng Đồng bằng Bắc Bộ 5
1.1.3 Vùng Bắc Trung bộ 5
1.1.4 Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ 6
1.1.5 Vùng Tây Nguyên 7
1.1.6 Vùng Đông Nam Bộ 7
1.1.7 Vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) 8
1.2 TỔNGQUAN VỀCÔNG TÁCQUẢN LÝ,VẬNHÀNH CÔNGTRÌNH THỦYLỢITRONGĐIỀUKIỆNHẠNHÁNTRÊNTHẾGIỚI 9
1.2.1 Nghiên cứu quản lý vận hành công trình thủy lợi 9
1.2.2 Tại Mỹ 10
1.2.3 Tại Iran 11
1.2.4 Tại Hàn Quốc 11
1.2.5 Tại Đài Loan 12
1.3 TỔNGQUAN VỀCÔNG TÁCQUẢN LÝ,VẬNHÀNH CÔNGTRÌNH THỦYLỢITRONGĐIỀUKIỆNHẠNHÁNỞTRONGNƯỚC 12
Trang 10CHƯƠNG 2 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN ĐỂ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ, VẬN HÀNH HỆ THỐNG THUỶ LỢI TÂN GIANG TRONG ĐIỀU
KIỆN HẠN HÁN 15
2.1 PHÂN TÍCH ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH NINHTHUẬN 15
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 15
2.1.1.1 Vị trí địa lý 15
2.1.1.2 Đặc điểm địa hình 15
2.1.1.3 Đặc điểm hệ thống sông ngòi 16
2.1.1.4 Đặc điểm khí tượng thuỷ văn tỉnh Ninh Thuận 18
2.1.1.5 Đặc điểm khí tượng thuỷ văn tỉnh khu vực dự án 21
2.1.2 Hiện trạng kinh tế, văn hóa xã hội 27
2.1.2.1 Dân cư và lao động 27
2.1.2.2 Kinh tế- xã hội 27
2.1.2.3 Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Ninh Thuận 28
2.2 PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG HỆ THỐNG CÔNG TRÌNH THỦYLỢITÂNGIANG 30
2.2.1 Hồ chứa 30
2.2.2 Công trình đầu mối 31
2.2.3 Hệ thống kênh và công trình trên kênh 32
2.2.4 Nhiệm vụ của hệ thống thủy lợi Tân Giang 33
2.2.4.1 Nhiệm vụ cấp nước 33
2.2.4.2 Nhiệm vụ phòng lũ 34
2.3 PHÂN TÍCHĐÁNH GIÁHIỆN TRẠNGQUẢN LÝ VÀ NHỮNGVẤN ĐỀBẤTCẬP 35
2.3.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy Ban quản lý vận hành hồ Tân Giang 35
2.3.2 Vận hành cấp nước tưới 37
2.3.3 Vận hành phòng lũ 38
Trang 112.4 CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ VẬN HÀNH
CHOHỆTHỐNGTHỦYLỢITÂNGIANG 39
2.4.1 Đặc điểm hệ thống tưới 39
2.4.2 Tính toán cân bằng nước 41
2.4.3 Tính toán nhu cầu nước cho cây trồng 43
2.4.3.1 Tính toán ETo 43
2.4.3.2 Tính toán ETc 44
2.4.3.3 Tính toán mưa hiệu quả 45
2.4.3.4 Tính toán lượng tưới cần 47
2.4.4 Quan hệ giữa năng suất và lượng nước tưới cho cây trồng 49
2.4.5 Các mô hình tính toán tối ưu 51
2.4.5.1 Mô hình lập trình tuyến tính 51
2.4.5.2 Mô hình lập trình động 52
2.4.5.3 Mô hình lập trình phi tuyến 52
2.4.5.4 Tính toán tiến hóa 53
2.4.5.5 Các kỹ thuật tính toán mềm 55
2.4.6 Lập trình tuyến tính cho tối ưu hóa hồ chứa 56
2.4.6.1 Cơ sở lựa chọn lập trình tuyến tính 56
2.4.6.2 Lý thuyết lập trình tuyến tính 58
2.5 ÁPDỤNG KỸTHUẬTLẬPTRÌNHTUYẾNTÍNH CHOTỐIƯUHÓA HỆTHỐNGTHỦYLỢITÂNGIANG 62
2.5.1 Xây dựng thuật toán 62
2.5.1.1 Hàm mục tiêu của mô hình tối ưu hồ Tân Giang 63
2.5.1.2 Ràng buộc 65
2.5.2 Sơ đồ giải mô hình tối ưu cho hồ Tân Giang 68
CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ, VẬN HÀNH HỆ THỐNG THUỶ LỢI TÂN GIANG TRONG ĐIỀU KIỆN HẠN HÁN 70
3.1.ĐỀXUẤTMÔHÌNHTỔCHỨCQUẢNLÝVẬNHÀNH 70
3.1.1 Các nguyên tắc xây dựng mô hình tổ chức quản lý vận hành 70
Trang 123.1.1.1 Lấy ranh giới thủy lực làm cơ sở cho việc quản lý 70
3.1.1.2 Áp dụng các nguyên tắc về quản lý tổng hợp tài nguyên nước (IWRM) 70
3.1.1.3 Tăng cường năng lực và quyền cho Ban quản lý hồ Tân Giang 71
3.1.1.4 Xây dựng kế hoạch nâng cao năng lực 72
3.1.2 Đề xuất sơ đồ tổ chức Ban quản lý hồ chứa Tân Giang 72
3.1.2.1 Sơ đồ vị trí và vai trò của Ban quản lý hồ chứa Tân Giang 72
3.1.2.2 Cơ chế hoạt động của sơ đồ 73
3.2.NHỮNGKẾTQUẢĐẠTĐƯỢC 76
3.2.1 Xây dựng các kịch bản cho việc đánh giá 76
3.2.2 Số liệu điều tra phục vụ tính toán 77
3.2.3 Kết quả tính toán 81
3.2.3.1 Kịch bản tính toán phân phối nước 1 81
3.2.3.2 Kịch bản tính toán phân phối nước 2 88
3.2.3.3 Kịch bản tính toán phân phối nước 3 92
3.2.4 Đánh giá kết quả 100
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 105
1.KẾTLUẬN 105
2.KIẾNNGHỊ 108
TÀI LIỆU THAM KHẢO 110
Trang 13MỞ ĐẦU
I TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Việt Nam là một nước đông dân với trên 70% dân số hoạt động trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp Vì vậy, sản xuất nông nghiệp đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc gia với thu nhập chiếm 20,36 % GDP
Thuỷ lợi là một nhân tố quan trọng trong việc phát triển nền nông nghiệp nước ta Các hệ thống thuỷ lợi đã làm tăng diện tích canh tác, tăng năng suất cây trồng, tạo điều kiện để chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, sử dụng các giống cây có giá trị kinh tế cao Hàng năm, một nguồn vốn lớn được đầu tư cho việc xây dựng, sửa chữa các công trình thuỷ lợi, nhờ đó xấp xỉ 43% diện tích trồng trọt trên toàn quốc được cung cấp nước tưới Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động của các hệ thống thuỷ nông còn thấp Theo đánh giá của Bộ Nông Nghiệp và PTNT, diện tích thực tưới chỉ đạt khoảng trên dưới 50% so với thực tế Do đó, vấn đề nâng cao hiệu quả của
hệ thống thuỷ nông là rất quan trọng và cần thiết
Trong những năm gần đây, do những biến động bất thường về thời tiết cùng những nguyên nhân khác do con người đã làm cho tình trạng thiếu nước, hạn hán ở các tỉnh Nam Trung Bộ nói chung và Ninh Thuận nói riêng, ngày càng trở nên nghiêm trọng và thường xuyên hơn, không những vào mùa khô mà ngay cả trong mùa mưa Tình trạng hạn hán đã làm ảnh hưởng rất lớn đến phát triển kinh tế cũng như đời sống sinh hoạt của nhân dân tỉnh Ninh Thuận
Trong năm 2004, tổng lượng mưa trong tỉnh thấp hơn cùng kỳ năm 2003 từ 250 - 450mm; độ ẩm không khí trung bình 74% thấp hơn trung bình năm 2%; tổng lượng bốc hơi 2.046mm cao hơn trung bình năm 200mm Vì thế đến đầu tháng 2/2005 mực nước trên các sông, suối, ao hồ trong toàn tỉnh đều bị cạn kiệt và nằm dưới mực nước chết nên không thể phục vụ tưới được cho sản xuất vụ Đông - Xuân Do
đó, sản xuất nông nghiệp của tỉnh gặp rất nhiều khó khăn, ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất vụ Đông - Xuân năm 2004 - 2005 Đàn gia súc vừa thiếu thức ăn, vừa thiếu nước uống nên bị suy kiệt và chết Nhiều vùng dân cư bị thiếu nước sinh hoạt trầm trọng
Trang 14Như vậy, dù chưa có số liệu thống kê đầy đủ, ta cũng dễ dàng nhận thấy rằng sản xuất nông nghiệp nói chung và đặc biệt là lúa nước, rau màu trong vụ Đông Xuân và Hè Thu rất dễ bị tổn thương với hạn
Hệ thống thủy lợi Tân Giang được xây dựng trên Sông Lu, là một sông nhánh của
hệ thống sông Cái Phan Rang Công trình đầu mối được xây dựng trên sông Lu thuộc xã Phước Hà, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận Hệ thống có nhiệm vụ tạo nguồn tưới tự chảy cho trên 3.000ha đất canh tác nông nghiệp thuộc địa phận các xã Phước Hà, Phước Hữu, Nhị Hà, Phước Nam và Phước Dân, huyện Ninh Phước Đây là vùng sản xuất nông nghiệp có nhiều chuyển đổi mạnh mẽ trong cơ cấu cây trồng, vật nuôi, ứng dụng nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và trình độ thâm canh cao Ngoài ra, hệ thống còn làm nhiệm vụ cấp nước cho dân sinh, phát triển chăn nuôi, kết hợp làm giảm và chậm lũ sông Lu, cải thiện môi trường trong vùng Tuy nhiên, trong những năm vừa qua, hệ thống thủy lợi Tân Giang chịu nhiều tác động của tình trạng hạn hán Điển hình mùa hạn năm 2004 - 2005 có đến 40% diện tích lúa bị thiếu nước tưới, trong đó có nhiều diện tích lúa bị mất trắng và gây
ra tình trạng căng thẳng về nước uống cho gia súc, gia cầm Ngoài ra, công tác quản
lý vận hành hệ thống thủy lợi Tân Giang chủ yếu phụ thuộc vào kinh nghiệm của những người quản lý Do đó, chưa chủ động ứng phó với tình trạng hạn hán
Trước những thách thức về hạn hán đòi hỏi phải có giải pháp quản lý, vận hành hệ thống thủy lợi Tân Giang chủ động, thích ứng với hạn hán Đồng thời, những yêu cầu phục vụ thâm canh tăng năng suất, tăng vụ trong sản xuất nông nghiệp và đặc biệt là việc đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thâm canh đòi hỏi phải nâng cao hiệu quả quản lý, vận hành hệ thống thuỷ nông trong điều kiện hạn hán
Vì vậy, trong luận văn này tác giả muốn đề cập tới vấn đề trên qua đề tài:
“NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ, VẬN HÀNH HỆ
TH ỐNG THUỶ LỢI TÂN GIANG - NINH THUẬN TRONG ĐIỀU KIỆN HẠN HÁN”
Đề tài này sẽ tập trung nghiên cứu đánh giá hiệu quả quản lý, vận hành của hệ thống thuỷ lợi Tân Giang trong điều kiện hạn hán, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả của hệ thống
Trang 15II MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
- Đánh giá được hiện trạng công tác quản lý, vận hành hệ thống thủy lợi Tân Giang trong điều kiện hạn hán
- Đề xuất được giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, vận hành của hệ thống thủy lợi Tân Giang trong điều kiện hạn hán
III ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý, vận hành hệ thống thủy lợi trong điều kiện hạn hán, từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, vận hành của hệ thống trong điều kiện hạn hán Trong phạm vi của luận văn này chỉ giới hạn nghiên cứu đánh giá thực trạng công tác quản lý, vận hành hệ thống thủy lợi Tân Giang tỉnh Ninh Thuận trong điều kiện hạn hán, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, vận hành của hệ thống
IV CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1 Cách tiếp cận
- Tiếp cận kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu lý luận và thực tiễn ở trong nước cũng như trên thế giới;
- Tiếp cận theo quan điểm thực tiễn, tổng hợp đa mục tiêu;
- Tiếp cận đáp ứng nhu cầu;
- Tiếp cận theo quan điểm hệ thống;
- Tiếp cận có sự tham gia của cộng đồng;
- Tiếp cận theo quan điểm bền vững
4.2 Ph ương pháp nghiên cứu
- Phương pháp kế thừa tài liệu và kết quả nghiên cứu đã có;
- Đánh giá nhanh (PRA), phân tích theo khung logic (LFA);
- Điều tra, khảo sát thực địa;
- Phương pháp chuyên gia;
- Nghiên cứu phân tích, thống kê;
- Phương pháp phân tích hệ thống;
- Phương pháp sử dụng mô hình toán, thủy lực và thủy văn
Trang 16CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HẠN HÁN VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ VẬN HÀNH CÔNG
TRÌNH THỦY LỢI TRONG ĐIỀU KIỆN HẠN HÁN
TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC
1.1 TỔNG QUAN VỀ HẠN HÁN
Hạn hán là một hiện tượng thường xuyên tái diễn của khí hậu, xảy ra ở hầu hết các vùng khí hậu, ở khu vực mưa nhiều cũng như mưa ít Hạn hán là hậu quả của việc không có mưa trong một thời gian dài và những yếu tố khí tượng đi kèm như nhiệt
độ cao, gió mạnh và độ ẩm không khí nhỏ thường làm tăng thêm mức độ khắc nghiệt của hạn Hạn hán cũng liên quan đến thời điểm và tính hiệu quả của mưa Hạn hán khác với các loại thiên tai khác ở nhiều khía cạnh Điểm đặc trưng nhất là tác động của hạn hán thường tích lũy một cách chậm chạp trong một khoảng thời
gian dài và có thể kéo dài trong nhiều năm sau khi đợt hạn kết thúc Bởi vậy, việc xác định thời gian bắt đầu và kết thúc đợt hạn rất khó khăn Cũng do sự diễn biến tích lũy chậm, tác động của hạn hán thường khó nhận biết hơn và khi nhận biết được thì sự thiệt hại đã đáng kể
Hạn thường gây ảnh hưởng trên diện rộng Tuy hạn hán ít khi là nguyên nhân trực tiếp gây tổn thất về nhân mạng nhưng thiệt hại do hạn gây ra rất lớn Số liệu thống
kê trong và ngoài nước cho thấy: Thiệt hại do hạn hán thường xếp hàng thứ nhất hoặc thứ hai trong số các loại hình thiên tai phổ biến
1.1.1 Vùng Miền núi và Trung du Bắc Bộ
Từ năm 1980 trở lại đây, vùng có các năm hạn hán đáng kể sau đây:
- Hạn vụ đông xuân: Năm 1988, 1990, 1991, 1993, 1994, 1996, 1998;
- Hạn vụ mùa: Năm 1988, 1990, 1991, 1992,1993
Trong các năm kể trên, diện tích bị hạn mỗi vụ sản xuất khoảng từ 10.000 ha đến 60.000 ha, mất trắng từ 1.000 ha đến trên 9.000 ha Trong đợt hạn vụ đông xuân năm 1998, lúc cao điểm có tới 277.000 người thiếu nước sinh hoạt, môi trường khô kiệt và dịch bệnh phát triển
Trang 171.1.2 Vùng Đồng bằng Bắc Bộ
Theo tài liệu khí tượng thủy văn, trong 40 năm từ 1958 đến 1998 có 4 năm hạn nặng đến rất nặng trong suốt vụ mùa là các năm 1960, 1961, 1963, 1964 và nhiều năm hạn vừa và nặng trong vụ đông xuân Hạn hán thường xảy ra 2 hoặc 3 năm liền, chu kỳ xuất hiện hạn hán từ 9 đến 10 năm Theo tài liệu thống kê sản xuất nông nghiệp, từ năm 1980 trở lại đây, vùng có các năm hạn hán đáng kể sau đây:
- Hạn vụ đông xuân: Năm 1986, 1987, 1988, 1991, 1992, 2004 - 2005;
Khí hậu vùng thuộc loại khắc nghiệt với đủ mọi loại thiên tai, trong đó có hạn hán
Vùng còn chịu tác động của gió tây khô nóng (gió Lào), mạnh nhất từ khoảng giữa tháng 4 đến hết tháng 5, làm tăng đáng kể lượng bốc hơi, tạo nên môi trường khô kiệt, tác động bất lợi đến cây trồng, vật nuôi và con người
Theo tài liệu SXNN từ năm 1980, vùng có các năm hạn hán đáng kể sau đây:
- Hạn vụ đông xuân: Năm 1991, 1992, 1993, 1994, 1996;
- Hạn vụ hè thu: Năm 1991, 1992, 1993, 1994, 1995, 1996, 1998;
- Hạn vụ mùa: Năm 1982, 1983, 1984, 1988, 1992, 1993, 1995, 1998 Các năm hạn trên, diện tích bị hạn mỗi vụ sản xuất từ 12.000 ha đến trên 50.000 ha
Vụ hè thu năm 1998 có khoảng 2,1 triệu người trong vùng không có nước sinh hoạt, phải sử dụng đến cả nguồn nước ít ỏi còn đọng lại dưới các dải cát ven biển
Trang 18Cơ sở hạ tầng thuỷ lợi, với các công trình trữ nước lúc mưa, lũ còn thiếu nghiêm trọng, nhất là vùng cao Các công trình thủy lợi đã có chủ yếu phục vụ sản xuất nông nghiệp và dân sinh cho khu vực đồng bằng và vùng núi thấp
1.1.4 Vùn g Duyên hải Nam Trung Bộ
Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ có tổng diện tích tự nhiên 4,4 triệu ha, trong đó đất nông nghiệp khoảng 0,639 triệu ha, lâm nghiệp 2,1 triệu ha, đồi núi trọc khoảng 1,0 triệu ha, núi đá 0,540 triệu ha Còn lại là đất dân cư, đô thị và đất chưa sử dụng, bao gồm cả vùng cát ven biển Số dân trên 7,0 triệu người Vùng có độ dốc địa hình tương đối lớn, các nhánh núi thuộc dãy núi Trường Sơn từng đoạn lại đâm ngang ra sát biển, tạo nên nhiều tiểu vùng khí hậu có chế độ thời tiết rất phức tạp Các sông lớn như sông Thu Bồn, Trà Khúc, Hà Giao, Kỳ Lộ, Đà Nẵng, sông Cái Nha Trang, Phan Rang, Phan Thiết v.v là nguồn cấp nước cho SXNN và thoát lũ mùa mưa Tuy vậy, quy luật thời tiết khu vực và độ dốc địa hình trong vùng tạo nên sự chênh lệch rất lớn về lượng nước các sông giữa mùa mưa và mùa khô (lượng nước mùa mưa lớn gấp 2 - 4 lần lượng nước mùa khô) Khả năng tự điều tiết và trữ nước của địa hình rất kém, đã làm giảm đáng kể ý nghĩa kinh tế của các sông suối trong vùng Mùa khô nước biển xâm nhập sâu vào các cửa sông và nội đồng ven biển từ 10 đến 15km, tạo nên những vùng đất và nước bị nhiễm mặn Trong lúc ở trung và thượng lưu các sông, dòng chảy cơ bản giảm nhỏ, nhiều đoạn sông khô cạn, ảnh hưởng rất lớn đến nước dân sinh, môi trường và gây hạn hán cho các loại cây trồng, vật nuôi Theo tài liệu SXNN, từ năm 1980 trở lại đây, vùng có các năm hạn đáng kể sau đây:
- Hạn vụ đông xuân: Năm 1983, 1993, 1998;
- Hạn vụ hè thu: Năm 1982, 1985, 1988, 1993, 1998;
- Hạn vụ mùa: Năm 1983, 1993, 1994, 1997, 1998
Các năm hạn kể trên, diện tích bị hạn mỗi vụ sản xuất từ 4.000 ha đến 5,2 vạn ha và diện tích bị mất trắng từ 1.000ha đến trên 1,5 vạn ha Vụ hè thu năm 1998 có 20,3 vạn người thiếu nước sinh hoạt Để khắc phục sự mất cân đối giữa thừa nước và thiếu nước, Nhà nước đã đầu tư xây dựng 395 hồ chứa, cùng với nhiều loại đập dâng, đập chặn dòng các sông suối v.v
Trang 191.1.5 Vùng Tây Nguyên
Tây Nguyên là vùng đồi núi và cao nguyên, có diện tích đất đỏ bazan khoảng 1,7 triệu ha chiếm tới 90% diện tích đất bazan cả nước Tổng diện tích tự nhiên gần 5,5 triệu ha, đất nông nghiệp gần 0,875 triệu ha, đất lâm nghiệp trên 3,3 triệu ha, đồi hoang núi trọc gần 0,38 triệu ha Số dân khoảng 3 triệu người, phần lớn là các dân tộc ít người Tây Nguyên có tiềm năng rất lớn về phát triển cây công nghiệp dài ngày và ngắn ngày như cà phê, cao su, chè, hồ tiêu, mía, đậu, đỗ v.v Đất bazan có đặc điểm tơi xốp, khả năng thấm nước lớn, nên các sông suối trong mùa khô sinh thuỷ kém, sớm bị cạn kiệt, tạo nên hạn hán cục bộ và diện rộng Trong vùng có 494
hồ chứa thuỷ lợi các loại, giữ vai trò quan trọng trong việc tưới nước cho các loại cây trồng và cấp nước dân sinh
Tây Nguyên được đánh giá là không có hạn nghiêm trọng và rất ít xuất hiện hạn liền 2 vụ Nhưng từ năm 1980 trở lại đây, hạn đã xuất hiện nhiều hơn như các năm
1983, 1988, 1993, 1995, đặc biệt là năm 1997 và 1998 Theo tài liệu, từ 1980 trở lại đây, Tây Nguyên có các năm hạn hán đáng kể sau đây:
- Hạn vụ đông xuân: Năm 1994, 1995, 1996, 1997, 1998;
- Hạn vụ mùa: Năm 1997, 1998
Các năm hạn hán trên, diện tích bị hạn mỗi vụ sản xuất từ 2.000 ha đến 130.000 ha
và diện tích bị mất trắng từ vài chục ha đến 5.300 ha Hạn nặng nhất là năm 1998,
vụ đông xuân hạn cao nhất lên tới 10.700 ha, mất trắng 5.320ha, vụ mùa hạn cao nhất lên tới 13.330 ha, mất trắng 2.280 ha Đến tháng 5/1998, tổng diện tích cây công nghiệp và cây ăn quả bị hạn là 110.630 ha, bị chết là 19.290 ha, trong đó riêng diện tích cà phê bị hạn là 74.400 ha, bị chết 13.760 ha
1.1.6 Vùng Đông Nam Bộ
Đông Nam Bộ là vùng bình nguyên phù sa cổ và đất đỏ bazan Đây là vùng đất chuyển tiếp địa hình từ dạng đồi núi, sườn dốc Trung Bộ sang dạng địa hình châu thổ bằng phẳng, ngập nước của đồng bằng sông Cửu Long Tổng diện tích tự nhiên khoảng 2,4 triệu ha, đất nông nghiệp khoảng 1,3 triệu ha, đất lâm nghiệp 0,6 triệu
ha, đồi hoang, núi trọc khoảng 55.000 ha, núi đá 20.000 ha, bãi bồi ven sông, biển
Trang 20và đầm lầy hơn 26.000 ha Còn lại là đất dân cư, đô thị và đất chưa sử dụng Số dân khoảng 9 triệu người, chủ yếu là người Kinh, còn lại là người Khơ me và người Chăm Vùng có độ dốc địa hình tương đối đồng đều và nhỏ hơn so với Trung bộ Sông Đồng Nai, sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ Đông là 3 sông lớn đảm bảo nguồn nước phục vụ sản xuất và nước dân sinh Các công trình thủy lợi và thuỷ điện lớn như Dầu Tiếng, Trị An v.v cùng với 41 hồ chứa nước thuỷ lợi các loại đã góp phần làm tăng lượng nước tưới mùa khô, đẩy mặn ven biển, tạo môi trường sản xuất
và phòng chống hạn thuận lợi cho các tỉnh trong vùng
Vùng bị hạn vụ mùa nặng hơn hạn vụ đông xuân, nhân dân địa phương gọi là hạn
"Bà Chằng" Hạn vụ mùa có chu kỳ 6 - 16 năm, trong đó các năm 1988, 1990, 1992 hạn rất nặng Chu kỳ hạn vụ đông xuân từ 8 đến 14 năm Theo tài liệu sản xuất nông nghiệp, từ năm 1980 trở lại đây vùng có các năm hạn hán đáng kể sau đây:
- Hạn vụ đông xuân: Năm 1987, 1992, 1994, 1997, 1998;
- Hạn vụ hè thu: Năm 1998;
- Hạn vụ mùa: Năm 1997
Các năm hạn hán kể trên, diện tích bị hạn mỗi vụ sản xuất từ 700 - 2.700ha và diện tích bị mất trắng từ 300 ha đến 760 ha Hạn hán vụ đông xuân năm 1998, toàn vùng
có 691.000 người thiếu nước sinh hoạt
1.1.7 Vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)
Tổng diện tích tự nhiên của vùng gần 4,0 triệu ha; trong đó, đất nông nghiệp gần 2,9 triệu ha, đất lâm nghiệp trên 300.000 ha, đất hoang hoá vùng đồng bằng khoảng 163.000 ha, bãi bồi ven sông, ven biển và đầm lầy gần 160.000 ha Số dân khoảng
16 triệu người, chủ yếu là người Kinh và người Khơ me
Vùng có mùa vụ sản xuất nông nghiệp quanh năm và hạn hán có thể xảy ra liền một vài vụ trong năm Lũ lụt sông Cửu Long về muộn hoặc kết thúc sớm cũng có thể gây ra hạn hán trên diện rộng Tác động của hạn hán đối với ĐBSCL theo quy luật như vùng Đông Nam Bộ, nhưng sự nghiêm trọng của hạn hán còn được tăng thêm
vì mùa khô dòng chảy cơ bản của sông Cửu Long rất nhỏ, mực nước sông thấp, nước biển mặn xâm nhập sâu vào nội đồng, với mức độ nước nhiễm mặn trên 2‰
Trang 21bất lợi cho cây trồng, có thể theo kênh rạch vào sâu trong đất liền từ 40 - 50km Nước ngầm cũng nhiễm mặn và phèn
Theo tài liệu, từ năm 1980 trở lại đây vùng có các năm hạn hán đáng kể sau đây:
- Hạn vụ đông xuân: Năm 1989, 1992, 1993, 1998;
- Hạn vụ hè thu: Liên tiếp từ năm 1981 đến năm 1998;
- Hạn vụ mùa: Năm 1981, 1983, 1984, 1985, 1987, 1992, 1994, 1998 Các năm hạn trên, diện tích bị hạn mỗi vụ sản xuất từ 4.000ha đến gần 230.000 ha
và diện tích bị mất trắng từ 1.000 ha đến 390.000 ha Hạn hán vụ đông xuân và vụ
hè thu năm 1998, đã làm cho trên 1.100.000 người ở ĐBSCL thiếu nước sinh hoạt
và diện tích hè thu bị hạn gần 274.850 ha, bị mất trắng hơn 32.000 ha
1.2 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ, VẬN HÀNH CÔNG TRÌNH THỦY LỢI TRONG ĐIỀU KIỆN HẠN HÁN TRÊN THẾ GIỚI
1.2.1 Nghiên cứu quản lý vận hành công trình thủy lợi
Theo Keith W.H, 1992, nghiên cứu quản lý vận hành (QLVH) công trình thủy lợi (CTTL) được ra đời từ những năm đầu thế kỷ 19 Tùy theo mục đích vận hành công trình mà từ đó đưa ra nhiều giải pháp khác nhau như tối ưu hóa, thỏa thuận, đối thoại, phân tích đa mục tiêu, hệ thống đa tác nhân và mô phỏng đa lớp Về thực chất, nghiên cứu QLVH CTTL là nghiên cứu sử dụng các công trình trong hệ thống công trình thủy lợi để phân phối nước theo thời gian và không gian một cách tối ưu
nhất Theo các nhà nghiên cứu, việc tiến hành nghiên cứu giải pháp QLVH CTTL là một hoạt động có vai trò rất quan trọng nhằm vận hành hiệu quả các công trình đã được xây dựng với những lý do sau:
- Hệ thống có thể không được xây dựng đúng thiết kế
- Hệ thống được thiết kế để phục vụ một số điều kiện như vận hành phục vụ đa mục tiêu
- Các thông số kỹ thuật công trình luôn thay đổi theo thời gian
Như vậy, nhiệm vụ chính đối với công tác nghiên cứu giải pháp QLVH CTTL trong điều kiện hạn hán là việc tìm ra giải pháp phù hợp khi các thông số kỹ thuật của công trình thay đổi theo thời gian
Trang 22Trong giai đoạn thiết kế công trình thủy lợi, người thiết kế chủ yếu dựa vào các số liệu trong quá khứ và hiện tại Việc dự báo những yếu tố tự nhiên và xã hội thay đổi theo thời gian sau khi công trình đi vào vận hành chỉ được tính toán theo một kịch bản đơn giản Tuy nhiên, những yếu tố tác động vào công trình như điều kiện tự nhiên (khí tượng, thủy văn) hoặc sự biến động về đối tượng hưởng lợi từ công trình
là những yếu tố không thể tính toán hết trong giai đoạn thiết kế Đặc biệt, hiện nay
xu hướng biến đổi khí hậu ngày một gia tăng khiến nhiều khu vực trở nên khô hạn hơn và ngược lại, nhiều khu vực lại ẩm ướt hơn Do đó việc quản lý vận hành công trình thủy lợi có mang lại hiệu quả cao hay không hoàn toàn phụ thuộc vào người quản lý đưa ra các giải pháp phân phối nước cho các đối tượng sử dụng như thế nào cho hợp lý Để giải quyết bài toán này, ở Việt Nam cũng như trên thế giới đã có một
số nghiên cứu được triển khai và đã mang lại những kết quả đáng khích lệ, sau đây
là một số nghiên cứu điển hình
1.2.2 Tại Mỹ
Nghiên cứu quản lý vận hành công trình thủy lợi trong điều kiện hạn hán được Viện Thủy lợi thuộc Trung tâm kỹ thuật thủy lực Mỹ thực hiện từ rất sớm (năm 1986) Nghiên cứu được triển khai cho các hồ chứa đa mục tiêu của lưu vực sông Delaware, lưu vực sông Potomac và khu vực khô hạn thuộc bang California Các tác giả đã thực hiện đánh giá hiện trạng hạn hán tại những khu vực nghiên cứu và xác định những thiệt hại Trên cơ sở các tài liệu về điều kiện tự nhiên, thông số kỹ thuật công trình thủy lợi và đặc điểm kinh tế xã hội, đề tài đã tiến hành lập phương
án sử dụng nước của các đối tượng hưởng lợi và tính toán cân bằng nước cho các đối tượng này theo các phương án hạn nặng và hạn nhẹ Kết quả tính toán cân bằng nước sẽ tìm được mức độ thiếu nước trong những năm hạn, từ đó đề xuất biện pháp quản lý vận hành công trình thủy lợi và các biện pháp tận thu nguồn nước mặt từ các ao hồ Đây là nghiên cứu được thực hiện từ rất sớm và đã mang lại những kết quả trong việc phân phối nguồn nước của các hồ chứa đa mục tiêu trong những năm hạn hán Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa tính toán, dự báo nguồn nước đến hồ
Trang 23trong tương lai mà chỉ sử dụng thông số thiết kế dung tích các hồ chứa phục vụ cho việc tính toán phân phối nguồn nước
1.2.3 Tại Iran
Nghiên cứu QLVH CTTL của tác giả Khayyat Kholghi thực hiện cho hồ chứa Dez
ở miền Nam Iran đã thực hiện vào năm 2002 Nghiên cứu xuất phát từ thực tế khi 3 năm liền hạn hán xảy ra rất khốc liệt đã khiến cho Iran đối mặt với một loạt các vấn
đề về nguồn nước cấp cho sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp và công nghiệp Trong nghiên cứu, tác giả đã đánh giá yếu tố dòng chảy đến hồ chứa có tính chất quyết định đến việc áp dụng các giải pháp vận hành hồ Từ đó, tác giả đã tiến hành nghiên cứu biện pháp nội suy dòng chảy đến hồ từ số liệu dòng chảy đến của 18 năm và tính toán theo các phương án dự báo theo tháng, theo 1 năm, 10 năm và 15 năm Kết quả của nghiên cứu này đã được kiểm chứng lại và cho thấy hiệu quả của việc dự báo dòng chảy đến hồ là rất lớn trong việc đưa ra quyết định vận hành hồ chứa để phân phối nước cho các đối tượng sử dụng Ngoài ra, nó còn có ý nghĩa trong việc
dự báo hạn hán tại khu vực một cách khá chính xác
1.2.4 Tại Hàn Quốc
Năm 2003, nhóm tác giả Tai-Cheol Kim, Jae-Myun Lee và Dae-Sik Kim đã tiến hành đề tài nghiên cứu với tiêu đề “Nghiên cứu xây dựng hệ thống trợ giúp ra quyết định (Dicision support system) cho công tác quản lý vận hành hồ chứa phục vụ chuyển đổi cơ cấu cây trồng”, thực hiện cho hồ chứa Yedang, trữ nước phục vụ nông nghiệp Nghiên cứu này không chỉ đánh giá được vấn đề hạn nông nghiệp từ thông số tích nước của hồ chứa mà còn đưa ra được giải pháp và lịch chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với kế hoạch cấp nước và tự động hóa vận hành công trình trên kênh Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, với số liệu về trữ lượng nước trong hồ
tại thời điểm hiện tại (tính bằng %), người vận hành hệ thống CTTL có thể quyết định những thời đoạn cắt giảm lượng nước tưới và tính toán được tổng lượng nước
bị cắt giảm là bao nhiêu Do đó, trong thời kỳ hạn hán, người vận hành hồ có thể dựa vào biểu đồ vận hành hồ chứa và số liệu dự báo mưa tuần mà đưa ra lịch chuyển đổi cơ cấu cây trồng sao cho giảm được tối đa diện tích không được tưới
Trang 241.2.5 Tại Đài Loan
Năm 2004, nhóm tác giả tại trường Đại học Quốc gia Đài Loan gồm S Y Hsu, C
P Tung, C J Chen và C F Wang đã tiến hành nghiên cứu QLVH CTTL cho hồ LiYuTan Nghiên cứu này cho rằng với việc biến đổi khí hậu toàn cầu và các hoạt động của con người sẽ tác động đến các thông số của hồ chứa như lượng nước đến
hồ và khả năng phòng lũ cũng như nhu cầu cấp nước phòng chống hạn hán Như vậy, cần phải thay đổi biểu đồ vận hành hồ chứa đã có để phù hợp hơn với bối cảnh hiện tại Từ những lý giải đó, nghiên cứu đã tiến hành bước 1 là lập kịch bản phát triển kinh tế xã hội để tính toán nhu cầu nước từ các đối tượng sử dụng nước từ hồ chứa LiYuTan, sau đó tiến hành tính toán tối ưu hóa quy trình vận hành hồ chứa Bước 2 được thực hiện trên cơ sở dự báo hạn hán dựa trên các tài liệu quan trắc và tính toán nguồn nước đến hồ bằng mô hình toán Cuối cùng, nghiên cứu đã tiến hành tổng hợp 2 bước nói trên bằng một mô hình kép là tính toán hiệu chỉnh biểu đồ vận hành hồ chứa và mô hình dự báo nguồn nước đến hồ để đưa ra các phương án vận hành hồ chứa một cách tối ưu
1.3 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ, VẬN HÀNH CÔNG TRÌNH THỦY LỢI TRONG ĐIỀU KIỆN HẠN HÁN Ở TRONG NƯỚC
Trong những năm qua, hạn hán đã xảy ra rất khốc liệt tại nhiều khu vực trên toàn quốc Vùng đồng bằng sông Hồng hạn mang đặc điểm hạn thủy văn (không đủ nguồn nước cấp) Tại miền Trung, chủ yếu là hạn khí tượng (điều kiện thời tiết khô hạn) Hạn hán ở nước ta đã được nhiều nhà nghiên cứu đánh giá là do nguyên nhân của cả tự nhiên và con người, trong đó, nguyên nhân từ con người là yếu tố tác động chủ yếu như gia tăng dân số, chặt phá rừng hoặc khai thác tài nguyên thiên nhiên quá mức
Việc nghiên cứu các giải pháp phòng chống hạn hán ở Việt Nam đã được một số cơ quan thực hiện trong những năm gần đây Điển hình trong lĩnh vực này là cấp Nhà nước do trường Đại học Thủy lợi thực hiện năm 2001 Đề tài đã tiến hành một loạt các nghiên cứu về dự báo hạn hán cho khu vực Nam Trung Bộ và Tây nguyên Từ
đó, đưa ra các kiến nghị cho công tác quản lý vận hành các CTTL (hồ chứa) nhằm
Trang 25nâng cao hiệu quả phục vụ của công trình Kết quả của đề tài này có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc đưa ra các biện pháp phòng chống hạn hán nói chung và đưa
ra giải pháp quản lý vận hành công trình thủy lợi hợp lý
Bên cạnh đề tài nói trên, đã có một số đề tài cấp Bộ thực hiện nghiên cứu giải pháp
QLVH CTTL trong điều kiện hạn hán như đề tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học cho
công tác quản lý vận hành hệ thống thủy nông trong những năm ít nước” do Viện
Khoa học Thủy lợi thực hiện năm 2007 Trong đó, đề tài đã xây dựng giải pháp trợ giúp ra quyết định vận hành hồ Núi Cốc - Thái Nguyên Kết quả của đề tài đã cho thấy việc nghiên cứu giải pháp QLVH CTTL trong thời kỳ hạn hán là điều rất cần thiết, không chỉ đem lại những lợi ích về kinh tế mà còn có tác dụng về mặt xã hội
và môi trường
Đề tài “Xây dựng quy trình vận hành liên hồ chứa Hoà Bình, Thác Bà, Tuyên
Quang phục vụ cấp nước trong mùa khô cho hạ du lưu vực sông Hồng - Thái Bình”
do TS Tô Trung Nghĩa - Viện Quy hoạch Thuỷ Lợi chủ trì Mô hình Mike 11 đã được ứng dụng để xây dựng quy trình vận hành liên hồ chứa cấp nước (P= 85%) cho hạ du về mùa kiệt của hệ thống liên hồ Hoà Bình, Thác Bà và Tuyên Quang
Nghiên cứu của Ngô Lê Long, Trường đại học Thuỷ Lợi “Tối ưu hoá vận hành hồ
chứa Hoà Bình” Đóng góp chính của nghiên cứu là phát triển một khung, trong đó
một mô hình mô phỏng cùng với phương pháp tìm kiếm số để tối ưu các biến quyết định đặc biệt được xác định cho vận hành hồ chứa Mô hình Mike 11 được sử dụng cho mô phỏng dòng chảy trong hệ thống sông, bao gồm có hồ chứa và thuật toán tiến hoá phức trộn được sử dụng trong phần mềm Autocad Ở đây, các trao đổi giữa một loạt các biến được tính toán, ngoài ra được ký hiệu là bộ lời giải không lấn át hay là các lời giải tối ưu Pareto Khung này đã được kiểm tra cho hồ chứa Hoà Bình xem xét thuỷ điện và kiểm soát lũ hạ lưu Kết quả này cho thấy, các đường cong tối
ưu đã cải thiện đáng kể hoạt động của hồ chứa về mặt sản xuất năng lượng mà không làm giảm an toàn chống lũ Để cải tiến hơn nữa vận hành, tối ưu hoá thời gian thực được thể hiện sử dụng các thông tin dự báo về hồ chứa, dòng chảy đến hồ
và nhu cầu nước Vấn đề tối ưu đặt trọng tâm vào trao đổi giữa các mục tiêu nguy
Trang 26cơ lũ và thuỷ điện thời đoạn ngắn và các quy định nghiêm ngặt khi chệch khỏi các đường cong tối ưu Phân tích đã cho thấy quy trình tối ưu hoá thời gian thực đã cải thiện đáng kể hoạt động và tăng cường độ linh hoạt của vận hành hồ chứa so sánh với việc áp dụng nghiêm ngặt luật tối ưu
Nhìn chung, đã có một số đề tài, dự án tiến hành nghiên cứu các giải pháp phòng chống hạn hán và giải pháp QLVH CTTL Tuy nhiên, do phạm vi nghiên cứu của các đề tài trên hoặc là rất lớn (như đề tài cấp Nhà nước của trường ĐH Thủy lợi) hoặc là không thể nghiên cứu, dự báo hết các yếu tố tác động đến quá trình vận hành CTTL (như đề tài do Viện KHTL thực hiện) nên kết quả của các đề tài này còn có những hạn chế nhất định
Nhằm giải quyết những vấn đề còn tồn tại, cần có những nghiên cứu để đưa ra được giải pháp tổng hợp trên cơ sở dự báo hạn hán, dự báo nguồn nước đến hồ chứa, lập kịch bản phát triển kinh tế xã hội Từ đó, nghiên cứu quy trình vận hành hồ chứa và cân bằng nước cho các đối tượng sử dụng nước nhằm đảm bảo thiệt hại do hạn hán gây ra là nhỏ nhất
Trang 27CHƯƠNG 2
CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN ĐỂ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ,
VẬN HÀNH HỆ THỐNG THUỶ LỢI TÂN GIANG
TRONG ĐIỀU KIỆN HẠN HÁN
2.1 PHÂN TÍCH ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH NINH THUẬN
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Ninh Thuận thuộc vùng Duyên hải Nam Trung bộ, nằm ở vị trí địa lý từ 11018’14” đến 12009’15” vĩ độ Bắc và từ 108009’08” đến 1090
14’25” kinh độ Đông
- Phía Bắc giáp tỉnh Khánh Hòa;
- Phía Nam giáp tỉnh Bình Thuận;
- Phía Tây giáp tỉnh Lâm Đồng;
- Phía Đông giáp biển Đông
Diện tích tự nhiên 3.358 km2
, được chia thành 7 đơn vị hành chính, gồm 6 huyện và
1 thành phố Nằm ở giao điểm 3 trục giao thông chiến lược là quốc lộ 1A, đường sắt Bắc Nam và quốc lộ 27 lên Nam Tây Nguyên; cách sân bay Cam Ranh 60km, thành phố Hồ Chí Minh 350km Là cửa ngõ nối vùng kinh tế trọng điểm giữa kinh tế Đông Nam Bộ với các tỉnh Tây Nguyên và Nam Trung bộ
Trang 28Như vậy, Ninh Thuận có đặc điểm địa hình dốc nên nước tập trung nhanh, thường gây lũ lớn cho hạ lưu Vùng bán sơn địa và vùng đồng bằng có độ dốc bé hơn nhưng cũng bị chia cắt mạnh bởi sông suối và gò đồi nên công trình chuyển nước tưới rất khó khăn và tốn kém
2.1.1.3 Đặc điểm hệ thống sông ngòi
Ninh Thuận có nhiều sông suối, trong đó đáng kể nhất là hệ thống sông Cái Phan Rang có diện tích lưu vực 3.000km2 có dòng chảy về mùa khô, còn các sông khác đều có lưu vực bé nên không có dòng chảy trong mùa khô Cụ thể như sau:
1 Hệ thống Sông Cái Phan Rang:
Là sông lớn nhất tỉnh, bắt nguồn từ tỉnh Khánh Hòa, có cao độ trên 1.000 m, chảy qua 5 huyện, thị rồi đổ ra cửa biển Đông
- Diện tích lưu vực là 3.000km2;
- Chiều dài dòng chính là 120km, trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận là 95km
Hệ thống Sông Cái Phan Rang gồm nhiều sông suối lớn nhỏ Phía bên bờ tả đáng kể
có sông Sắt, Cho Mo và suối Ngang Phía bờ hữu có sông Ông, Cha, Quao và Lu Diện tích lưu vực chiều dài của các sông suối được thống kê trong bảng 2.1:
Bảng 2.1: Đặc trưng các sông suối nhánh của Sông Cái Phan Rang
TT Sông suối Địa điểm F lv
5 Sông Cha Ninh Thuận
Trang 29TT Sông suối Địa điểm F lv
- Sông Trâu: Bắt nguồn từ Bác Ái, chảy qua Ninh Phước, băng qua đường quốc
lộ 1A rồi đổ vào vịnh Cam Ranh Sông Trâu có diện tích lưu vực 148km2
, trong đó có Ninh Thuận 136km2, Khánh Hòa 12km2
- Sông Bà Râu và một số sông suối nhỏ chảy song song với Bà Râu vào Đầm Nại Bắt nguồn từ vùng núi huyện Bác Ái chảy qua quốc lộ 1A nhập với suối Kiền Kiền và một số suối nhỏ khác cùng đổ vào Đầm Nại Diện tích lưu vực tổng cộng 236km2, chiều dài tính theo sông Bà Râu là 15km
- Suối Đông Nha: Bắt nguồn từ núi Chúa huyện Ninh Hải có cao độ 1.039m chảy qua rìa phía Đông Bắc của tỉnh rồi đổ vào Đầm Nại Suối có diện tích lưu vực 54km2, chiều dài 15km
- Suối Nước Ngọt: Nằm trong địa phận huyện Ninh Hải có diện tích lưu vực 33km2, chiều dài 15km
- Suối Núi Một: Bắt nguồn từ vùng đồi núi phía Đông Nam của tỉnh rồi đổ ra biển tại xã Sơn Hải, huyện Ninh Phước Suối có diện tích lưu vực 55km2
, chiều dài 9km
- Sông Quán Thẻ: Bắt nguồn từ Núi Gió huyện Tuy Phong tỉnh Bình Thuận chảy qua đường quốc lộ 1A rồi đổ ra biển Cà Ná với diện tích lưu vực 116km2, chiều dài 15km
Trang 30- Các suối nhỏ khác: Ngoài các sông suối đã nêu trên trong huyện Ninh Phước
và Ninh Hải còn có một số suối nhỏ khác đổ trực tiếp ra biển với diện tích lưu vực 203,06km2
Diện tích lưu vực và chiều dài các sông suối độc lập trong toàn tỉnh được nêu trong Bảng 2.2:
Bảng 2.2: Đặc trưng các sông suối chảy qua tỉnh Ninh Thuận
TT Sông suối Địa điểm F lv
9 Các suối nhỏ Ninh Hải,
và lân cận cho thấy: Mưa bình quân nhiều năm trên toàn tỉnh: Xo = 1.071mm; Lượng mưa biến đổi không đều theo không gian và thời gian: Theo không gian lượng mưa có xu thế tăng dần từ đồng bằng lên miền núi Theo thời gian lượng mưa trong các tháng mùa mưa chiếm 87%, còn mùa khô chỉ 13%
Trang 31Phân phối lượng mưa bình quân 2 vùng được nêu trong Bảng 2.3
Bảng 2.3: Phân phối lượng mưa bình quân của 2 trạm tiêu biểu cho 2 vùng
Mưa 1 ngày max đã đo được tại Phan Rang 280 mm ngày 18.11.1979;
Mưa 1 ngày max đã đo được tại Nha Hố 323 mm ngày 18.11.1979;
Mưa 1 ngày max đã đo được tại Sông Pha 338 mm ngày 2.10.1962
- Thời gian xảy ra lũ: Theo tài liệu thống kê mực nước lũ hàng năm trong nhiều năm (từ 1978 đến 2010) của 2 trạm Tân Mỹ và Đạo Long trên Sông Cái Phan Rang thì mực nước lũ lớn nhất tại Đạo Long xuất hiện từ tháng 9 đến tháng 12, trong đó tháng 10 và tháng 11 có tỉ lệ cao hơn
b Các đặc điểm khí tượng khác:
- Nhiệt độ: Có nền nhiệt độ cao, nhiệt độ bình quân cả năm 270C, chênh lệch nhiệt độ bình quân giữa các tháng trong năm không đáng kể, nhiệt độ cao nhất tuyệt đối 40,50C, nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối 14,20C
- Bốc hơi: Lượng bốc hơi ở Ninh Thuận vào loại lớn nhất so với cả nước, bốc
hơi cả năm trên ống Piche: 1.788 mm
- Độ ẩm: Thấp so với cả nước, độ ẩm tương đối bình quân cả năm 76%
- Ánh sáng: Dồi dào, số giờ nắng bình quân từ 8 - 10 giờ trong ngày
- Gió: Có 2 mùa gió chính là gió Đông bắc từ tháng 11 đến tháng 4 và gió Tây
Nam từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm
- Bão: Ít xảy ra và không nguy hiểm, thường kéo theo mưa lớn trên diện rộng
Trang 32- Giông: Là 1 tỉnh có nhiều giông (85 cơn giông trong 1 năm) Giông thường
kéo theo gió lớn xoáy và mưa to, có khi gió xoáy với tốc độ lớn hoặc mưa đá làm hư hỏng nhà cửa và hoa màu
2 Đặc điểm thủy văn nguồn nước:
a Nguồn nước mặt:
Tổng lượng nước mặt bình quân trên toàn tỉnh: 2.369.000.000 m3; Trong đó:
+ Trong phạm vi ranh giới của tỉnh Ninh Thuận: 1.580.000.000m3; + Sau nhà máy thủy điện Đa Nhim: 537.000.000m3; + Từ sông suối các tỉnh khác chảy vào Ninh Thuận: 252.000.000m3
- Nguồn nước mặt trong tỉnh nhìn chung phụ thuộc vào mưa nên dòng chảy về mùa mưa khá phong phú, ngược lại mùa khô nhiều sông suối khô kiệt nên dòng chảy bị hạn chế
- Nguồn nước mặt sau nhà máy thủy điện Đa Nhim có thể điều tiết được thông qua hồ chứa Đa Nhim Tuy nhiên, nhiệm vụ chính vốn là phát điện nên nguồn nước đến bổ sung cho Ninh Thuận vẫn phụ thuộc vào sự điều phối nguồn nước của nhà máy thủy điện Đa Nhim
b Nguồn nước ngầm:
Nước ngầm tại Ninh Thuận tồn tại dưới 2 dạng là nước lỗ hổng trong các trầm tích
bở rời đệ tứ và nước khe nứt tàng trữ trong các trầm tích lục nguyên và phun trào Kết quả thăm dò tìm kiếm nguồn nước ngầm tại một số khu vực trong tỉnh cho thấy:
- Nguồn nước ngầm nằm ở độ sâu từ 14 đến 20 m
- Độ dày của tầng chứa nước mỏng chỉ từ 3 - 5 m
- Mực nước tĩnh ổn định ở mức 0,5 m - 3 m đối với vùng đồng bằng và lớn hơn 3,5 m đối với vùng trung du và miền núi
- Trữ lượng nước ngầm vào loại nghèo nên chỉ khai thác để phục vụ cho sinh
hoạt cho các hộ dân cư với qui mô nhỏ
- Chất lượng nước ngầm có độ khoáng hóa thấp (≤ 1 g/l), vùng đồng bằng ven biển Phan Rang tầng chứa nước mỏng và bị ảnh hưởng của mặn
Trang 332.1.1.5 Đặc điểm khí tượng thuỷ văn tỉnh khu vực dự án
a Mạng lưới khí tượng - thủy văn
Trong lưu vực hồ chứa Tân Giang không có trạm khí tượng - thủy văn nhưng xung quanh lưu vực hệ thống trạm đo đạc tương đối đầy đủ, được nêu trong Bảng 2.4, Bảng 2.5:
Bảng 2.4: Thống kê các trạm khí tượng, đo mưa liên quan
TT Trạm Tọa độ Số năm quan trắc
1 Trạm khí tượng Phan Rang 11034’ - 108059’ 65 năm
2 Trạm khí tượng Nha Hố 11042’ – 108054’ 29 năm
3 Trạm đo mưa Nhị Hà 11028’ – 108040’ 22 năm
Bảng 2.5: Thống kê các trạm thủy văn liên quan
TT Trạm F (km 2 ) Thời kỳ quan trắc Ghi chú
1 Tân Giang 158 1996 – 1998 Dừng đo
2 Cà Giây 155 1992 – 1994 Dừng đo
3 Sông Quao 300 1980 -1986 Dừng đo
4 Sông Lũy 964 1978 – 2004 Trạm thủy văn cấp 1
5 Sông Con 13 1985 – 1988 Dừng đo
6 Tân Mỹ 1978 – 2004 Trạm thủy văn đo mực nước
- Mùa khô: từ tháng I - VIII (8 tháng), mùa khô dài, trùng với mùa nắng nóng, gió nhiều, khả năng bốc hơi lớn nên thường khắc nghiệt
Trang 34- Mùa mưa: Từ tháng IX - XII (4 tháng), lượng mưa chiếm tới hơn 85% lượng mưa năm Mùa mưa thường kèm theo các loại thời tiết nguy hiểm như bão, áp thấp nhiệt đới, gió mùa đông bắc nên thường gây ra mưa lũ lớn
Hồ Tân Giang có vị trí gần với các trạm Phan Rang, Cà Ná, Nha Hố Tuy nhiên, trạm khí tượng Phan Rang có chuỗi số liệu dài trên 30 năm nên có thể sử dụng để tính toán cho hồ Tân Giang
Trang 352 Nhiệt độ không khí:
Khu vực hồ Tân Giang là vùng khí hậu khô hạn, có nhiệt độ cao quanh năm, chênh lệch nhiệt độ giữa các mùa trong năm không nhiều
- Nhiệt độ không khí trung bình năm: 270C;
- Nhiệt độ không khí cao nhất tuyệt đối: 39,90C;
- Nhiệt độ không khí thấp nhất tuyệt đối: 14,40C
Bảng 2.8: Nhiệt độ trung bình tháng trong năm tại trạm Phan Rang
Độ ẩm không khí trung bình nhiều năm theo số liệu quan trắc tại trạm Phan Rang là
Rnăm = 76,1%, đượ nêu tại Bảng 2.9
Bảng 2.9: Độ ẩm tương đối trung bình các tháng trong năm trạm Phan Rang
Trang 36Bảng 2.12: Tốc độ gió lớn nhất trong năm tại trạm Phan Rang
c Các đặc trưng thủy văn:
Từ số liệu của các trạm lân cận, tiến hành tính toán các đặc trưng thủy văn cho hồ Tân Giang như sau:
1 Dòng chảy năm:
Dòng chảy năm là lượng dòng chảy sinh ra của lưu vực trong thời đoạn bằng một năm cùng với sự thay đổi của nó trong năm Sự thay đổi mang tính chu kỳ rõ rệt thể hiện qua hai mùa: mùa lũ và mùa kiệt Mặt khác, trong sản xuất và lập kế hoạch phát triển kinh tế xã hội nói chung và xây dựng hồ chứa phát điện nói riêng người ta quan tâm đến lưu lượng trong một năm Vì vậy, khi tính toán dòng chảy trong sông phục vụ thiết kế thường dùng thời đoạn năm để tính toán
Một số đại lượng biểu thị lượng dòng chảy năm:
Lưu lượng dòng chảy bình quân năm: Là lưu lượng tính bình quân theo thời đoạn 1 năm Qn=
n Qi
n i
∑
=1 (m3/s), trong đó i là thời đoạn, n số thời đoạn trong năm
Tổng lượng dòng chảy năm: Là lượng dòng chảy chảy ra khỏi mặt cắt cửa ra trong một năm Wn= Qn.T (m3)
Trang 37Mô đuyn dòng chảy năm: Biểu thị khả năng sinh dòng chảy của một đơn vị diện tích trong một năm Mn= 1000
Trong đó: X: Lượng mưa lưu vực (mm )
Y: Lớp dòng chảy trên lưu vực (mm) S: Sai số tương quan tính theo công thức: S = ∂y (1- R2)1/2
Cụ thể tính toán như sau:
Mưa lưu vực X được tính theo phương pháp đa giác Thaison với các trạm mưa liên quan như Tân Mỹ, Nha Hố, Cà Ná Kết quả tính toán được nêu trong Bảng 2.13
Bảng 2.13: Lượng mưa TB nhiều năm của các trạm trong khu vực có liên quan
Chọn mưa trung bình nhiều năm lưu vực Tân Giang là X0 = 890 mm
Ta thay vào phương trình tương quan tính được Y0 Từ đó tính được Q0 Tân Giang
là 1,53 m3/s
Trang 38Để tính chuỗi dòng chảy tới lưu vực Tân Giang, ta sử dụng lưu vực tương tự Chọn lưu vực trạm Sông Lũy là lưu vực gần với lưu vực Tân Giang và có các đặc điểm tương tự để tính toán phân phối dòng chảy cho lưu vực Tân Giang Với Qo Sông Lũy =
15,49 m3/s Kết quả tính toán được nêu trong Bảng 2.15
Bảng 2.15: Bảng tính lưu lượng tới lưu vực Tân Giang
theo số liệu trạm Sông Lũy
Trang 392 Phân mùa dòng chảy:
Dòng chảy tới lưu vực Tân Giang được chia thành hai mùa rõ rệt là mùa lũ và mùa kiệt Người ta dùng chỉ tiêu vượt trung bình để phân mùa dòng chảy:
Mùa lũ bao gồm các tháng liên tục trong năm có lượng dòng chảy tháng lớn hơn 1/12 lượng dòng chảy năm với mức ổn định hàng năm lớn hơn 50% Tiến hành tính toán phân mùa, ta thấy mùa dòng chảy lũ từ tháng IX tới tháng XII Lượng nước mùa lũ chiếm 62,3 % tổng lượng cả năm
Mùa kiệt tính từ tháng XII năm trước cho tới tháng VIII năm sau
2.1.2 Hiện trạng kinh tế, văn hóa xã hội
2.1.2.1 Dân cư và lao động
Dân số trung bình năm 2010 có khoảng 614 nghìn người, trong đó dân số đô thị chiếm 32,3% Mật độ dân số trung bình 174 người/km2, phân bố không đều, tập trung chủ yếu vùng đồng bằng ven biển Cộng đồng dân cư gồm 3 dân tộc chính là dân tộc Kinh chiếm 78%, dân tộc Chăm chiếm 12%, dân tộc Găglây chiếm 9%, còn lại là các dân tộc khác
Dân số trong độ tuổi lao động có 350 nghìn người, chiếm khoảng 60,7%; dự kiến đến năm 2010 có 380 nghìn người Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng 18% và
sẽ tăng lên 25 -30% năm 2010 Với nguồn lao động dồi dào trên sẽ đáp ứng nhu cầu lao động cho các dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh
2.1.2.2 Kinh tế- xã hội
a Sản xuất nông nghiệp:
Vụ sản xuất Đông Xuân 2010 - 2011, diện tích thu hoạch 22.479ha, so với kế hoạch đạt 98% Trong đó, cây lúa năng suất bình quân đạt 62,8tạ/ ha, tăng 2tạ/ha; sản lượng đạt 90.090 tấn Các địa phương đạt năng suất lúa cao gồm: Ninh Phước 70,5 tạ/ha, Phan Rang - Tháp Chàm 66,3tạ/ha, Thuận Nam 64,7tạ/ha Tính chung sản lượng lương thực có hạt vụ Đông Xuân 2010 - 2011 toàn tỉnh đạt 103.641 tấn, tăng 15% so vụ Đông Xuân năm trước, vượt 22,6% kế hoạch Để đảm bảo nước tưới cho sản xuất, các ngành chức năng và các địa phương đang tập trung chỉ đạo gieo trồng
Trang 40vụ Hè Thu đối với những diện tích chủ động nước, trong đó tập trung ưu tiên nước cho sinh hoạt và chăn nuôi
b Sản xuất công nghiệp:
Giá trị sản xuất ước đạt 135,8 tỷ đồng, tăng 49,47% so với cùng kỳ, luỹ kế 5 tháng đầu năm 2011 đạt 627,96 tỷ đồng, tăng 20,56% so với cùng kỳ Các sản phẩm tăng khác như: Xi măng tăng 10 lần, đá ốp lát granite tăng 5,8 lần, may công nghiệp tăng 2,5 lần, nhân hạt điều tăng 73%, hải sản chế biến tăng 57%, gạch nung tăng 13,6%, đường RS tăng 22,16%, tinh bột mỳ tăng 12,5%, một số sản phẩm chỉ đạt xấp xỉ hoặc giảm như: đá xây dựng giảm 2,3%, muối các loại giảm 20%,
c Thu chi ngân sách Nhà nước, Tín dụng- ngân hàng:
Trong tháng thu ngân sách 70 tỷ đồng; luỹ kế 5 tháng thu ngân sách 473,656 tỷ đồng, đạt 50,65% kế hoạch dự toán năm (thu nội địa 345 tỷ đồng đạt 50,4% kế hoạch, thu xuất nhập khẩu 128,656 tỷ đồng đạt 51,46% kế hoạch) Tổng chi ngân sách nhà nước trong 5 tháng là 1.264 tỷ đồng đạt 55,9 % kế hoạch
2.1.2.3 Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Ninh Thuận
a Nông, lâm nghiệp:
Phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất sạch, ứng dụng tiến bộ khoa học- kỹ thuật vào sản xuất để tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả, nâng giá trị sản xuất trên đất canh tác trên 52 triệu đồng/ha, chuyển dịch mạnh cơ cấu sản xuất nội bộ ngành Tập trung triển khai các chính sách phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn, chuyển giao các loại giống mới có năng suất cao, chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với điều kiện từng vùng, chú trọng các loại cây trồng sử dụng ít nước Phát triển ngành chăn nuôi trở thành ngành sản xuất chính, chiếm tỷ trọng từ 36 -37% GDP toàn ngành nông nghiệp theo hướng đầu tư thâm canh, bán công nghiệp,
kết hợp chăn nuôi trang trại và hộ gia đình gắn với quy hoạch đồng cỏ, thực hiện tốt các khâu giống, thức ăn, phòng chống dịch bệnh, ổn định qui mô tổng đàn và tập trung nâng cao chất lượng đàn gia súc, nâng tỷ lệ sinh hóa đàn bò đạt 34%, triển khai đề án xây dựng lò giết mổ tập trung theo quy hoạch để bảo đảm an toàn vệ sinh
thực phẩm, cung cấp thực phẩm sạch, an toàn cho tỉnh và thị trường cả nước