1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

“Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp quản lý môi trường đảm bảo phát triển bền vững cho Khu du lịch Vịnh Hạ Long”.

104 190 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT SRU : Hội đồng tư vấn về các vấn đề môi trường UBA : Cục môi trường liên bang WBGU : Hội đồng khoa học của biến đổi khí hậu toàn cầu KKGMT : Khoảng không gian c

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn, tác giả đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của PGS.TSKH Nguyễn Trung Dũng cùng các thầy cô giáo Khoa Kinh tế và Quản lý - Trường Đại học Thủy Lợi, Sở Tài nguyên môi trường tỉnh Quảng Ninh, Ban quản lý Vịnh Hạ Long

Tác giả xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và các ý kiến đóng góp của các thầy giáo, cô giáo của Khoa Kinh tế và Quản lý trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Do trình độ, kinh nghiệm, điều kiện thực hiện và thời gian nghiên cứu hạn chế nên Luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót, tác giả mong nhận được những ý kiến đóng góp

Luận văn được hoàn thành tại Khoa Kinh tế và Quản lý Trường Đại học Thủy Lợi

Hà Nội, ngày 08 tháng 03 năm 2012

Tác giả luận văn

Hoàng Phương

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các thông tin, tài liệu trích dẫn trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc Kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào trước đây

Hà Nội, ngày 08 tháng 03 năm 2012

Tác giả luận văn

Hoàng Phương

Trang 3

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 2.1: Cọ - Một loài thực vật độc đáo của rừng Vịnh Hạ Long 18

Hình 2.2: Khai thác than – nguyên nhân số 1 gây ô nhiễm Vịnh Hạ Long 30

Hình 2.3: Một cầu cảng ở Vịnh Hạ Long 33

Hình 2.4: Báo động ô nhiễm dầu Vịnh Hạ Long 35

Hình 2.5: Sơ đồ tổ chức BQL Vịnh Hạ Long 44

Hình 2.6: UBND tỉnh Quảng Ninh và thành phố Hạ Long trong một hoạt động BVMT khu vực Hạ Long 50

Hình 3.1: Đa dạng sinh học khu vực Vịnh Hạ Long 65

Hình 3.2: Khách du lịch quốc tế đến Hạ Long 67

Hình 3.3: Khách quốc tế trong tour homestay tại làng cổ Phước Tích (Huế) 89

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Các công cụ về chính sách bảo vệ môi trường 10

Bảng 2.1: Phân bố dân số các phường Thành phố Hạ Long 21

Bảng 2.2: Tăng trưởng kinh tế Hạ Long giai đoạn 2006-2010 22

Bảng 2.3: Phát triển GDP bình quân đầu người giai đoạn 2006-2010 23

Bảng 2.4: Tải lượng của một số chất ô nhiễm trong nước thải tại các cơ sở công nghiệp TP Hạ Long 38

Bảng 2.5: Ước tính lượng thải ô nhiễm sinh hoạt của dân đô thị các tỉnh ven biển năm 2009 40

Bảng 2.6: Ước tính tải lượng nước thải từ hoạt động du lịch qua các năm 42

Bảng 2.7: Nhân lực Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh 43

Bảng 2.8: Nhân lực của Ban quản lý Vịnh Hạ Long 45

Bảng 3.1: Những công cụ kinh tế áp dụng trong quản lý môi trường 76

Bảng 3.2: Phương pháp đề xuất chứa rác tại nguồn và thu gom chất thải 86

Bảng 3.3: Thông số 02 nhà máy xử lý nước thải dự kiến xây dựng 88

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

SRU : Hội đồng tư vấn về các vấn đề môi trường

UBA : Cục môi trường liên bang

WBGU : Hội đồng khoa học của biến đổi khí hậu toàn cầu

KKGMT : Khoảng không gian của môi trường

KT - XH : Kinh tế - xã hội

BVMT : Bảo vệ môi trường

IUCN : Liên minh bảo tồn thiên nhiên quốc tế

NOWC : Tổ chức New Open World

GDP : Tổng sản phẩm quốc nội

TKV : Tập đoàn Than khoáng sản Việt Nam

JICA : Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản

UBND : Ủy ban nhân dân

COD : Nhu cầu ô xy sinh hóa

BOD : Nhu cầu ô xy hóa học

TSS : Tổng chất rắn lơ lửng

TVVN : Tiêu chuẩn Việt Nam

CNH – HĐH : Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa

EATOP : Diễn đàn du lịch khu vực Đông Á

GEF : Quỹ môi trường toàn cầu

RT : Du lịch có trách nhiệm

SNV : Tổ chức phát triển Hà Lan

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

2 MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI:

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:

4 CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

5 NỘI DUNG CHÍNH CỦA LUẬN VĂN

Chương 1: Cơ sở lý luận của việc quản lý môi trường để đảm bảo phát triển bền vững 1

1.1 Các khái niệm về môi trường và phát triển bền vững .1

1.1.1 Môi trường: 1

1.1.2 Phát triển bền vững: 2

1.1.3 Mối quan hệ giữa môi trường và phát triển bền vững 4

1.2 Vấn đề quản lý môi trường 6

1.2.1 Sự cần thiết của quản lý môi trường 6

1.2.2 Nội dung quản lý nhà nước về môi trường 7

1.2.3 Các công cụ quản lý môi trường 8

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 11

Chương 2: Thực trạng môi trường và quản lý môi trường hiện nay tại khu vực V ịnh Hạ Long 13

2.1 Những vấn đề cơ bản về khu vực Vịnh Hạ Long có liên quan đến môi trường khu vực .13

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 13

2.1.2 Tài nguyên thiên nhiên: 16

2.1.3 Điều kiện kinh tế xã hội 19

2.2 Thực trạng môi trường khu vực Vịnh Hạ Long 29

2.2.1 Hiện trạng các nguồn gây ô nhiễm môi trường 29

2.2.2 Các nguyên nhân chính ảnh hưởng đến môi trường khu vực vịnh Hạ Long 36

2.3 Thực trạng quản lý môi trường vịnh Hạ Long 42

Trang 6

2.3.1 Hệ thống tổ chức quản lý môi trường 42

2.3.2 Các hoạt động của các cơ quan quản lý môi trường khu vực vịnh Hạ Long 45

2.3.3 Mối quan hệ giữa các cơ quan quản lý môi trường trong khu vực 54

2.3.4 Thực trạng quản lý môi trường tại Vịnh Hạ Long hiện nay 55

2.4 Sự cần thiết phải đặt vấn đề quản lý môi trường ở khu vực Vịnh Hạ Long .57

2.4.1 Những mâu thuẫn giữa phát triển bền vững kinh tế xã hội và môi trường khu vực vinh Hạ Long: 57

2.4.2 Sự cần thiết phải đặt vấn đề quản lý môi trường khu vực vịnh Hạ Long 59

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 60

Chương 3: Một số giải pháp chủ yếu quản lý môi trường đảm bảo phát triển bền vững khu vực Vịnh Hạ Long 64

3.1.1 Những thuận lợi: 64

3.1.2 Những khó khăn : 67

3.2 Các quan điểm và mục tiêu quản lý môi trường khu vực Vịnh Hạ Long 70

3.2.1 Các quan điểm 70

3.2.2 Mục tiêu quản lý môi trường khu vực vịnh Hạ Long 71

3.3 Các giải pháp chủ yếu quản lý môi trường đảm bảo phát triển bền vững khu vực Vịnh Hạ Long 72

3.3.1 Các giải pháp về tổ chức và cơ sở chính sách quản lý môi trường 72

3.3.2 Các giải pháp về khoa học - công nghệ 74

3.3.3 Các giải pháp về sử dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường khu vực vịnh Hạ Long 75

3.3.4 Các giải pháp quản lý môi trường cho từng ngành 79

3.3.5 Các giải pháp quản lý môi trường nhằm giảm thiểu ô nhiễm do đô thị hoá và phát triển bền vững đô thị .84

3.3.6 Du lịch bền vững và du lịch có trách nhiệm 88

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 91

KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 92

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Vịnh Hạ Long là một vịnh nhỏ thuộc phần bờ Tây vịnh Bắc Bộ tại khu vực biển Đông Bắc Việt Nam, bao gồm vùng biển đảo thuộc thành phố Hạ Long, thị xã Cẩm Phả và một phần của huyện đảo Vân Đồn

Là trung tâm của một khu vực rộng lớn có những yếu tố ít nhiều tương đồng

về địa chất, địa mạo, cảnh quan, khí hậu và văn hóa, với vịnh Bái Tử Long phía Đông Bắc và quần đảo Cát Bà phía Tây Nam, vịnh Hạ Long giới hạn trong diện tích khoảng 1.553km² bao gồm 1.960 hòn đảo lớn nhỏ, phần lớn là đảo đá vôi, trong đó vùng lõi của Vịnh có diện tích 334km² quần tụ dày đặc 775 hòn đảo

Ngoài ra, khu vực Vịnh Hạ Long còn bao gồm các phần lục địa như thành phố Hạ Long , thị xã Cẩm Phả, huyện Hoành Bồ, huyện Yên Hưng và phần Đảo Cát

Bà thuộc thành phố Hải Phòng là những nơi có nhiều hoạt động phát triển có liên quan mật thiết đến sự tồn tại và phát triển của khu vực vịnh Hạ Long Thành phố Hạ Long là đô thị loại II Trong 20 năm đổi mới, nhất là từ những năm đầu của thế kỷ XXI, sự phát triển với tốc độ cao của kinh tế xã hội, đã làm cho thành phố thay đổi nhanh Sự hình thành các khu công nghiệp mới, những tăng trưởng trong sản xuất than, cơ khí, thủ công nghiệp và xuất khẩu hải sản, trong kinh tế cảng biển, đóng tàu, giao thông vận tải và thương mại đó làm cho đời sống xã hội sôi động, mức sống của nhân dân, kể cả vật chất lẫn tinh thần, đều được nâng cao, nguồn nhân lực lao động được phát huy, tất cả đó tạo cơ sở cho các tiềm năng du lịch được khai thác và từng bước hoàn thiện… Những yếu tố đó một mặt tạo nên những cơ hội phát triển kinh tế xã hội của khu vực nhưng cũng đặt ra những mâu thuẫn và thách thức ngày càng khắc nghiệt đối với yêu cầu phát triển bền vững Trong những năm gần đây do sự phát triển không cân đối giữa các ngành và các khu vực kinh tế, đã và đang làm cho môi trường khu vực bị xuống cấp nhanh chóng đòi hỏi phải có một môi trường sạch và bền vững

Do đó, trong vấn đề quản lý môi trường cho khu vực vịnh Hạ Long vừa là

Trang 8

trong việc bảo vệ tài nguyên môi trường phục vụ chiến lược phát triển kinh tế xã hội bền vững của khu vực cũng như góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng và năng lực quản lý bảo vệ môi trường của các cơ quan liên quan

Được sự chỉ đạo, hướng dẫn, giúp đỡ nhiệt tình của thầy giáo PGS.TSKH

Nguyễn Trung Dũng, tác giả đã chọn nghiên cứu đề tài : “Nghiên cứu - đề xuất một số giải pháp quản lý môi trường đảm bảo phát triển bền vững cho Khu du lịch Vịnh Hạ Long” Tác giả mong rằng có thể đóng góp một phần nhỏ bé tác động

tích cực tới chiến lược phát triển bền vững kinh tế xã hội của tỉnh Quảng Ninh nói chung và khu vực vịnh Hạ Long nói riêng

2 MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI

2.1 Tìm hiểu, củng cố những lí luận về môi trường và phát triển bền vững

du lịch, đưa ra mối quan hệ giữa môi trường và phát triển bền vững

2.2 Phân tích, đánh giá hiện trạng môi trường của Khu du lịch Vịnh Hạ Long

Trang 9

2.3 Đề ra các biện pháp chính sách thiết thực để quản lý môi trường không chỉ ở Vịnh Hạ Long mà còn có thể áp dụng cho nhiều khu du lịch khác ở Việt Nam

2.4 Xây dựng định hướng phát triển bền vững du lịch

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng:

Các chủ thể liên quan đến vấn đề quản lý môi trường ở Vịnh Hạ Long gồm có:

- Các cơ quan quản lý môi trường

- Các cơ quan quản lý du lịch

- Các đối tượng hoạt động sản xuất kinh doanh trong khu du lịch

- Các đối tượng là khách du lịch

3.2 Phạm vi Nghiên cứu:

+ Về không gian: Trong địa bàn khu vực Vịnh Hạ Long

+ Về thời gian: Từ năm 1995 đến 2010

4 CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4.1 Cách tiếp cận

“Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thoả mãn các nhu cầu hiện tại của con người nhưng không tổn hại tới sự thoả mãn các nhu cầu của thế hệ tương lai” Sự phát triển bền vững kinh tế xã hội nói chung và bất kỳ ngành nào cũng cần đạt ba mục tiêu cơ bản là:

- Bền vững kinh tế

- Bền vững tài nguyên môi trường

- Bền vững về văn hoá và xã hội

Sự bền vững tài nguyên và môi trường đòi hỏi khai thác, sử dụng tài nguyên để đáp ứng cho nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai

Trang 10

Đối với văn hoá xã hội thì sự phát triển bền vững cần đảm bảo đem lại lợi ích lâu dài cho xã hội như: tạo công ăn việc làm cho người lao động, góp phần nâng cao mức sống của người dân và sự ổn định xã hội, đồng thời giữ gìn các bản sắc văn hoá dân tộc

Xu thế phát triển ngày nay thì du lịch sinh thái được sự quan tâm của nhiều người, bởi đó là một loại hình du lịch có trách nhiệm với thiên nhiên, và là loại hình duy nhất hỗ trợ đắc lực cho công tác bảo tồn thiên nhiên, giữ gìn các giá trị văn hoá bản địa, phát triển cộng đồng, góp phần tích cực vào sự phát triển du lịch nói riêng và phát triển kinh tế xã hội nói chung

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp mô tả, phân tích, tổng hợp, kết hợp

với phương pháp chuyên gia thông qua việc tham khảo các ý kiến, báo cáo của chuyên gia trong ngành, so sánh, phân tích và tổng hợp, đồng thời kết hợp với tổng kết rút kinh nghiệm thực tiễn để nghiên cứu, giải quyết vấn đề đặt ra của đề tài

5 NỘI DUNG CHÍNH CỦA LUẬN VĂN

Nội dung của luận văn bao gồm:

Chương 1: Cơ sở lý luận của việc quản lý môi trường để đảm bảo phát triển bền vững

Chương 2: Thực trạng môi trường và quản lý môi trường hiện nay tại khu vực Vịnh Hạ Long

Chương 3: Các giải pháp quản lý môi trường đảm bảo phát triển bền vững khu vực Vịnh Hạ Long

Trang 11

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG ĐỂ ĐẢM BẢO PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

1.1 CÁC KHÁI NIỆM VỀ MÔI TRUỜNG VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 1.1.1 Môi trường

a Định nghĩa

Môi trường được định nghĩa theo Điều 3, Luật bảo vệ môi trường 2005:

”Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”

Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội

Môi trường theo nghĩa hẹp không xét tới tài nguyên thiên nhiên, mà chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống con người Ví dụ: môi trường của học sinh gồm nhà trường với thầy giáo, bạn bè, nội quy của trường, lớp học, sân chơi, phòng thí nghiệm, vườn trường, tổ chức xã hội như Ðoàn, Ðội với các điều lệ hay gia đình, họ tộc, làng xóm với những quy định không thành văn, chỉ truyền miệng nhưng vẫn được công nhận, thi hành và các cơ quan hành chính các cấp với luật pháp, nghị định, thông tư, quy định

Tóm lại, môi trường là tất cả những gì có xung quanh ta, cho ta cơ sở để sống và phát triển

b Chức năng của môi trường

- Môi trường là không gian sống của con người và các loài sinh vật

- Môi trường là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người

- Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất của mình

Trang 12

- Môi trường là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và sinh vật trên trái đất

- Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người

c Phân loại môi trường

Tuỳ theo mục đích nghiên cứu và sử dụng, tồn tại nhiều cách phân loại môi trường Có thể phân loại môi trường theo các dấu hiệu đặc trưng sau:

- Theo chức năng (thành phần)

- Theo quy mô

- Theo mức độ can thiệp của con nguời

- Theo mục đích nghiên cứu và sử dụng

Trang 13

giới hạn của thiên nhiên, thì về nguyên tắc giới hạn các hoạt động của con người (UBA 2002: 3; Quốc hội Đức 2002/07: 71) Như vậy nó dựa vào quan điểm (1) và (2) Đối với phân tích tiếp theo thì chúng ta theo đuổi quan điểm của SRU, UBA và WBGU Nếu nói về phát triển bền vững thì ở đây chúng ta luôn hiểu đó là vị trí của

sự phát triển bền vững mạnh (để phân biệt mức độ bền vững thì xem mục 6.2) Chính vì vậy chúng tôi muốn (xét ở góc độ của Kinh tế học bền vững / Kinh tế môi trường thế hệ mới) dành công sức cho định nghĩa về khái niệm, cố gắng làm sao khái niệm phải được viết một cách chính xác, làm sao có thể phân biệt một cách rõ ràng phát triển bền vững so với những xu thế phát triển hiện nay

Định nghĩa về phát triển bền vững

(1) Do Ủy ban Brundtland đưa ra: “Phát triển lâu bền là phát triển đáp ứng những nhu cầu hiện tại nhưng không ảnh hưởng, gây tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai ” (Hauff 1987: 46);

(2)Thông qua Kinh tế học bền vững:

“Một phát triển bền vững sẽ đảm bảo đủ cho tất cả con người sống hiện nay

và các thế hệ tương lai đầy đủ các chuẩn mực về sinh thái, kinh tế và văn hóa - xã hội trong giới hạn của sự chịu đựng của thiên nhiên và như vậy thực thi nguyên tắc công bằng nội và ngoại thế hệ” (Rogall 2000: 100; xem tài liệu của Hạ nghị viện Berlin 2006/06: 12)

Thay vì khái niệm “Khả năng chịu đựng của thiên nhiên” thì sử dụng khái niệm “Giới hạn của hệ sinh thái” (ở đây có lẽ là sự giới hạn khả năng tiếp nhận chất thải đặc biệt nhất định) hay khoảng không gian của môi trường (KKGMT): KKGMT có nghĩa là những cơ sở sự sống tự nhiên với tất cả các chức năng của mình Khái niệm “giới hạn của không gian môi trường” cần phải chỉ ra là con người

có thể sử dụng lâu dài những tài nguyên thiên nhiên cho đến một mức độ nhất định,

mà không gây ra nguy hại đối cơ sở sinh tồn Những cơ sở này bị vi phạm ở những nơi mà việc xả thải các chất độc hại dẫn đến nguy hại sức khỏe của con người, động vật và cây cối cũng như tài nguyên thiên nhiên với mọi chức năng của chúng bị sử dụng quá mức Khái niệm của Opschoor được phát triển từ năm 1992 và công bố

Trang 14

thông qua nghiên cứu “Một nước Đức có tương lai” (BUND/MISEREOR 1996: 26)

1.1.3 Mối quan hệ giữa môi trường và phát triển bền vững

Phát triển và môi trường có mối quan hệ tưong tác rất chặt chẽ, thường xuyên, phụ thuộc và quy định lẫn nhau Phát triển và môi trường biểu hiện mối quan hệ đa dạng, đa chiều giữa con người và thiên nhiên Cách mạng khoa học và

kỹ thuật thúc đẩy mối quan hệ tương tác đó Xã hội cần hướng tới một sự phát triển bền vững trên cơ sở bảo vệ môi trường lấy con người làm trung tâm

“Môi trường tự nhiên và sản xuất xã hội quan hệ khăng khít, chặt chẽ, tác động lẫn nhau trong thế cân đối thống nhất: Môi trường tự nhiên (bao gồm cả tài nguyên thiên nhiên) cung cấp nguyên liệu và không gian cho sản xuất xã hội Sự giàu nghèo của mỗi nước phụ thuộc khá nhiều vào nguồn tài nguyên: Rất nhiều quốc gia phát triển chỉ trên cơ sở khai thác tài nguyên để xuất khẩu đổi lấy ngoại tệ, thiết bị công nghệ hiện đại, Có thể nói, tài nguyên nói riêng và môi trường tự nhiên nói chung (trong đó có cả tài nguyên) có vai trò quyết định đối với sự phát triển bền vững về kinh tế - xã hội (KT-XH) ở mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ, địa phương vì:

Thứ nhất, môi trường không những chỉ cung cấp “đầu vào” mà còn chứa đựng “đầu ra” cho các quá trình sản xuất và đời sống

Hoạt động sản xuất là một quá trình bắt đầu từ việc sử dụng nguyên, nhiên liệu, vật tư, thiết bị máy móc, đất đai, cơ sở vật chất kỹ thuật khác, sức lao động của con người để tạo ra sản phẩm hàng hóa Những dạng vật chất trên không phải gì khác, mà chính là các yếu tố môi trường

Các hoạt động sống cũng vậy, con người ta cũng cần có không khí để thở, cần có nhà để ở, cần có phương tiện để đi lại, cần có chỗ vui chơi giải trí, học tập nâng cao hiểu biết, Những cái đó không gì khác là các yếu tố môi trường

Vấn đề ở đây là phải làm thế nào để hạn chế được nhiều nhất các chất thải, đặc biệt là chất thải gây ô nhiễm, tác động tiêu cực đối với môi trường

Trang 15

Thứ hai, môi trường liên quan đến tính ổn định và bền vững của sự phát triển KT-XH

Phát triển KT-XH là quá trình nâng cao điều kiện sống về vật chất và tinh thần của con người qua việc sản xuất ra của cải vật chất, cải tiến quan hệ xã hội, nâng cao chất lượng văn hóa Phát triển là xu thế chung của từng cá nhân cũng như của cả loài người trong quá trình sống Giữa môi trường và sự phát triển có mối quan hệ chặt chẽ: Môi trường là địa bàn và đối tượng của sự phát triển, còn phát triển là nguyên nhân tạo nên các biến đổi của môi trường

Trong hệ thống KT-XH, hàng hóa được di chuyển từ sản xuất đến lưu thông, phân phối và tiêu dùng cùng với dòng luân chuyển của nguyên liệu, năng lượng, sản phẩm, chất thải Các thành phần đó luôn luôn tương tác với các thành phần tự nhiên

và xã hội của hệ thống môi trường đang tồn tại trong địa bàn đó

Tác động của con người đến môi trường thể hiện ở khía cạnh có lợi là cải tạo môi trường tự nhiên hoặc tạo ra kinh phí cần thiết cho quá trình cải tạo đó, nhưng

có thể gây ra ô nhiễm môi trường tự nhiên hoặc nhân tạo

Mặt khác, môi trường tự nhiên đồng thời cũng tác động đến sự phát triển KT-XH thông qua việc làm suy thoái nguồn tài nguyên - đối tượng của sự phát triển KT-XH hoặc gây ra các thảm họa, thiên tai đối với các hoạt động KT-XH trong khu vực

Như vậy, để phát triển, dù là giàu có hay nghèo đói đều tạo ra khả năng gây

ô nhiễm môi trường Vấn đề ở đây là phải giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển và BVMT Để phát triển bền vững không được khai thác quá mức dẫn tới hủy hoại tài nguyên, môi trường; thực hiện các giải pháp sản xuất sạch, phát triển sản xuất đi đôi với các giải pháp xử lý môi trường; bảo tồn các nguồn gen động vật, thực vật; bảo tồn đa dạng sinh học; không ngừng nâng cao nhận thức của nhân dân

về BVMT,

Thứ ba, môi trường có liên quan tới tương lai của đất nước, dân tộc

Như trên đã nói, BVMT chính là để giúp cho sự phát triển kinh tế cũng như

xã hội được bền vững KT-XH phát triển giúp chúng ta có đủ điều kiện để đảm bảo

Trang 16

an ninh quốc phòng, giữ vững độc lập chủ quyền của dân tộc Điều đó lại tạo điều kiện ổn định chính trị xã hội để KT-XH phát triển BVMT là việc làm không chỉ có

ý nghĩa hiện tại, mà quan trọng hơn, cao cả hơn là nó có ý nghĩa cho tương lai Nếu một sự phát triển có mang lại những lợi ích kinh tế trước mắt mà khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, hủy hoại môi trường, làm cho các thế hệ sau không còn điều kiện để phát triển mọi mặt (cả về kinh tế, xã hội, thể chất, trí tuệ con người ), thì sự phát triển đó phỏng có ích gì! Nếu hôm nay thế hệ chúng ta không quan tâm tới, không làm tốt công tác BVMT, làm cho môi trường bị hủy hoại thì trong tương lai, con cháu chúng ta chắc chắn sẽ phải gánh chịu những hậu quả tồi tệ.”

(Nguồn: http://www.tchdkh.org.vn/tchitiet.asp?code=576)

1.2 VẤN ĐỀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG

1.2.1 Sự cần thiết của quản lý môi trường

“Quản lý môi trường là một lĩnh vực quản lý xã hội, nhằm bảo vệ môi trường

và các thành phần của môi trường, phục vụ sự nghiệp phát triển bền vững và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và xã hội”

(Nguồn:http://thuvien.dncot.edu.vn/Ebook_MoiTruong/QuanLyMoiTruong/QL_Moi_truon g.pdf)

Vấn đề quản lý và bảo vệ môi trường ở nước ta hiện nay đang là vấn đề cấp thiết, xuất phát từ các vấn đề sau :

Thứ nhất : Sự xuống cấp của môi trường do hậu quả của sự phát triển kinh tế

đặt ra yêu cầu quản lý môi trưòng

Là một nước đang phát triển, Việt Nam đang trên con đường xây dựng phát triển, đòi hỏi sử dụng ngày càng nhiều tài nguyên thiên nhiên, các chất thải trong sản xuất cũng ngày càng tăng lên, đã đang và sẽ làm nhiễm bẩn môi trường không khí, đất, nước, làm cho môi trường sống của con người ngày xấu đi, nhất là ở một

số vùng mỏ và khu công nghiẹp tập trung, là mối đe doạ đối với tài nguyên sinh vật

ở các vùng lân cận

Mặc dù nền kinh tế chưa phát triển, song tình trạng ô nhiễm môi trường do hoạt động của ngành gây ra (công - nông - lâm- ngư- giao thông vận tải - dịch vụ)

Trang 17

cũng không kém phần nghiêm trọng Đặc biệt tình trạng ô nhiễm cục bộ ở các khu công nghiệp và các đô thị đã thể hiện rõ hơn, nhất là ô nhiễm nguồn nước và ô nhiễm môi trường do đất xói mòn Hiện nay nước ta đang phải đương đầu với những vấn đề môi trường nghiêm trọng như nạn phá rừng và xói mòn đất, khai thác quá mức tài nguyên ven biển, đe doạ các hệ sinh thái ngập nước nói chung và sự cạn kiệt tài nguyên do mất dần các loại động vật hoang dã và các nguồn gen

Thứ hai : Quản lý nhằm sử dụng tốt hơn tài nguyên môi trường

Cần phải nhận thức rằng, vấn đề bảo vệ môi truờng ở Việt Nam thực chất là vấn đề về khoa học các nguồn tài nguyên - thiên nhiên, các điều kiện tự nhiên và tiềm năng lao động gắn bó chặt chẽ và chủ động trong mọi quá trình xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội Đó là một trong những đường lối có tính chiến lược

Thứ ba : Sự gia tăng dân số đặt ra vấn đề quản lý môi trường

Mức tăng dân số là mối đe dọa môi trường lớn nhất nước ta Mật độ dân số trung bình của nước ta là 263/Km2 (số liệu năm 2010 , thuộc loại cao trên thế giới Tốc độ tăng dân số nhanh, trong khi diện tích đất canh tác không tăng, làm cho bình quân diện tích đất canh tác theo đầu người rất thấp (thấp nhất khu vực Đông Nam Á) và lại xu hướng giảm dần Diện tích rừng phá hàng năm (20 vạn ha) làm cho diện tích rừng càng giảm Tàn phá thảm thực vật rừng còn phá huỷ cả các nguồn gen quý giá của các động vật hoang dã, phá huỷ đất rừng, làm cạn nguồn nước ngầm và nước mặt làm cho nhiều vùng trở thành hoang mạc

Dân số tăng nhanh cùng với quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa ở nước

ta đã làm gia tăng những khối lượng khổng lồ các chất phế thải vào môi trường sống, làm hỏng đất, ô nhiễm nguồn nước và không khí Nhiều khu công nghiệp như Hà Nội,

TP Hồ Chí Minh, Thái Nguyên, Hải Phòng, Biên Hoà, Việt Trì vv… các chỉ số về mức độ độc hại do ô nhiễm đã vượt quá giới hạn cho phép rất nhiều

1.2.2 Nội dung quản lý nhà nước về môi trường

Nội dung công tác quản lý nhà nước về môi trường của Việt Nam được thể hiện trong Điều 37, Luật Bảo vệ Môi trường, gồm các điểm:

Trang 18

- Ban hành và tổ chức việc thực hiện các văn bản pháp quy về bảo vệ môi trường, ban hành hệ thống tiêu chuẩn môi trường

- Xây dựng, chỉ đạo thực hiện chiến lược, chính sách bảo vệ môi trường, kế hoạch phòng chống, khắc phục suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường

- Xây dựng, quản lý các công trình bảo vệ môi trường, các công trình có liên quan đến bảo vệ môi trường

- Tổ chức, xây dựng, quản lý hệ thống quan trắc, định kỳ đánh giá hiện trạng môi trường, dự báo diễn biến môi trường

- Thẩm định các báo cáo đánh giá tác động môi trường của các dự án và các

cơ sở sản xuất kinh doanh

- Cấp và thu hồi giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường

- Giám sát, thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường, giải quyết các khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về bảo vệ môi trường, xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường

- Đào tạo cán bộ về khoa học và quản lý môi trường

- Tổ chức nghiên cứu, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực bảo

vệ môi trường

- Thiết lập quan hệ quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

Tất cả những vấn đề trên là nội dung tổng quát của quản lý môi trường nói chung, điều quan trọng đặt ra là tuỳ theo tính chất của môi trường hiện tại và yêu cầu của quản lý môi trường để các nhà quản lý môi trường nhấn mạnh các nội dung quản lý cụ thể thông qua các công cụ quản lý môi trường

1.2 3 Các công cụ quản lý môi trường

Trang 19

b Phân loại

- Trích trong cuốn “Kinh tế học bền vững”, GS.TS Rogall đã viết:

Với sự khởi đầu của giai đoạn truyền thống về chính sách môi trường hiện đại vào đầu những năm 1970 thì các nguyên tắc của chính sách môi trường được xác định Ngày nay thì chúng được bổ sung thêm khía cạnh bền vững và đến nay nó vẫn mang tính thời sự Từ đó đến nay thì có không biết bao nhiêu quy định pháp lý về môi trường đã được ban hành và đi vào đời sống Chúng ta phân chia những công

cụ hiện hữu theo một sơ đồ thành bốn loại (như trong bảng 1.1) Trong đó chúng ta biết rằng nhiều công cụ trong số đó là tổ hợp của các loại công cụ vì các nhà ban hành luật thì ngày càng năng động hơn đối với luật trật tự thông qua các yếu tố của kinh tế môi trường Nhưng chúng tôi vì lý do lý luận nên dừng ở cách phân biệt truyền thống

Trang 20

Bảng 1.1: Các công cụ về chính sách bảo vệ môi trường

Các biện pháp nội bộ của bàn tay công

Kiểm toán, báo cáo, nhãn hiệu

3 Các công cụ kinh tế

môi trường (thay đổi

các điều kiện khung)

Sinh thái hóa hệ thống tài chính (thuế môi trường,

hệ thống thưởng phạt hay Bonus-Malus)

Quyền sử dụng tài nguyên có thể mua bán Các mô hình Quota Lợi ích của người sử dụng

Luật về nộp thuế nước thải, cải

tổ thuế sinh thái, luật về năng lượng tái tạo, luật về hiệu quả năng lượng

Hệ thống mua bán khí CO2 ở châu Âu

Ban hành Quota cho năng lượng tái tạo

Tạo vùng đệm bảo vệ chống tiếng ồn

4 Các công cụ khác Nghĩa vụ thu hồi

Các công cụ lên kế hoạch Quy định về đóng gói bao bì Kế hoạch sử dụng diện tích

- Các chỉ tiêu đánh giá các công cụ bảo vệ môi trường:

Để nghiên cứu xem những biện pháp và công cụ nào thích hợp để vượt qua những yếu tố kinh tế - xã hội của thất bại thị trường và thành công trong phát triển bền vững thì cần phải đánh giá tiếp theo những công cụ lựa chọn Để làm việc đó thì cần xây dựng những bộ catalog chỉ tiêu khác nhau (SRU 1974; Wicke năm 1993; Endres 1994: 100; Bartmann 1996: 117) Chúng ta phân các công cụ thành các loại

Trang 21

và sử dụng chúng trong đánh giá các công cụ trong bảo vệ môi trường như trong hộp

Các chỉ tiêu để đánh giá các công cụ bảo vệ môi trường (theo Busch trong cuốn sách của Costanza u a 2001: 239)

1 Tính phù hợp với Liên minh châu Âu (các điều kiện cần thiết đối với những nước thành viên thuộc Liên minh châu Âu)

2 Tác dụng về mặt sinh thái (đánh giá xem liệu qua việc áp dụng công cụ này thì mục tiêu về chất lượng môi trường có thể đạt được không)

3 Hiệu quả kinh tế (kiểm tra xem liệu các mục tiêu về chính sách môi trường có lợi đối với nền kinh tế quốc dân hay đạt được với chi phí thấp như có thể cho nền kinh tế quốc dân)

4 Tác dụng kích thích động năng (đánh giá xem liệu công cụ có ở trong hoàn cảnh để tạo ra những kích thích mà người gây ô nhiễm môi trường không những chỉ cố gắng với trình độ công nghệ hiện tại, mà tiếp theo còn phải phấn đấu liên tục để cải thiện tình trạng môi trường và sử dụng tài nguyên)

5 Tính thực tế, năng động và có thể chấp nhận được (tính thực tế có nghĩa là có thể quản lý được các công cụ, tính năng động có nghĩa là khả năng thích ứng tương đối nhanh đối với phát triển mới, khả năng chấp nhận được dựa vào số đông người dân mà nó còn được gọi là “khả năng chịu đựng được của xã hội”)

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Mọi vấn đề về môi trường đều bắt nguồn từ phát triển, phát triển sẽ biến đổi môi trường Nhưng làm sao để môi trường vẫn làm tốt chức năng của mình: tạo cho con người không gian sống với phạm vi và chất lượng đầy đủ; cung cấp cho con người nguồn tài nguyên cần dùng; lưu trữ, xử lý những nguồn phế thải của con người sao cho môi trường sống không bị ô nhiễm? Chỉ có phát triển bền vững gắn liền với bảo vệ môi trường mới bảo đảm được điều đó Tuy nhiên, trên thực tế còn

nhiều điều bất cập trong công cuộc phát triển kinh tế gắn liền với bảo vệ môi trường

mà chúng ta chưa làm được: Môi trường vẫn từng ngày, từng giờ bị chính các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của chúng ta làm cho ô nhiễm nghiêm trọng hơn, sự phát triển bền vững vẫn đứng trước những thách thức lớn lao Điều này đòi hỏi Nhà nước phải nghiên cứu và nâng cao những giải pháp quản lý môi trường một cách

Trang 22

hợp lý theo các yêu cầu: Đánh giá tác động của hoạt động con người đến môi trường, hệ thống hóa các giá trị của môi trường, lập kế hoạch thiết kế cho phát triển bền vững và góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng và năng lực quản lý bảo

vệ môi trường của các cơ quan liên quan

Trang 23

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG VÀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG HIỆN NAY TẠI KHU VỰC VỊNH HẠ LONG

2.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KHU VỰC VỊNH HẠ LONG CÓ LIÊN QUAN ĐẾN MÔI TRƯỜNG KHU VỰC

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

a Địa hình

Là một vịnh nhỏ, bộ phận của vịnh Bắc Bộ, Vịnh Hạ Long được giới hạn với phía Đông Bắc giáp vịnh Bái Tử Long; phía Tây Nam giáp quần đảo Cát Bà; phía Tây và Tây Bắc giáp đất liền bằng đường bờ biển khoảng 120km kéo dài từ huyện Yên Hưng, qua thành phố Hạ Long, thị xã Cẩm Phả đến hết huyện đảo Vân Đồn; phía Đông Nam và phía Nam hướng ra vịnh Bắc Bộ Trong diện tích 1.553km² gồm vùng lõi và vùng đệm, nằm tại các tọa độ từ 106°58'-107°22' Đông và 20°45'-20°50' Bắc, vịnh Hạ Long bao gồm 1.969 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó 989 đảo có tên và 980 đảo chưa được đặt tên

Khu vực có tác động đến môi trường vịnh Hạ Long là thành phố Hạ Long, thị xã Cẩm Phả, huyện Hoành Bồ, phía Đông huyên Yên Hưng và phía đông Đảo Cát Bà Tất cả các khu vực này đều nằm quanh vịnh Hạ Long Vịnh Hạ Long năm ở ngay phía Nam thành phố với hàng trăm đảo đá vôi Các hoạt động khai thác diễn ra

ở vùng đồi núi nằm song song với bờ biển từ thành phố Hạ Long đến Cẩm Phả Khu vực bờ biển tương đối hẹp, nên việc lấn biển được tiến hành trên diện rộng

Trang 24

khoảng 3,5-4m/ngày Độ mặn trong nước biển trên vùng Vịnh dao động từ 31 đến 34.5MT vào mùa khô nhưng vào mùa mưa, mức này có thể thấp hơn Mực nước biển trong vùng Vịnh khá cạn, có độ sâu chỉ khoảng 6m đến 10m và các đảo đều không lưu giữ nước bề mặt

Khí hậu trong khu vực chủ yéu bị ảnh hưởng bởi gió mùa đông Bắc khô (tháng10-11 đến 3-4) và gió mùa hè ẩm (tháng 5-6 đến 9-10) Lượng mưa hang năm khoảng 1800-2000 mm Trong vùng mùa mưa thường có cường suất tác động làm tăng xói mòn ở những lưu vực rừng bị chặt phá và các mỏ làm tăng tải lượng rửa trôi, độ đục lớn gây bồi lắng ở các sông suối và ven bờ biển

c Điều kiện địa chất

Vịnh Hạ Long được bao quanh bởi những hòn đảo đá vôi ngoài biển và những dãy núi đá ở trong đất liền Thềm vịnhh được bao phủ bằng một lớp trầm tích mịnh sâu khoảng 1,5-2.0 m Bờ biển coa các bãi triều, các bãi triều phần lớn được che phủ bởi rừng ngập mặn, được nhờ một phần vào hệ thốnglạch và kênh thuỷ triều nhỏ Ngoài ra còn có một số vỉa đá và các bãi biển ở bờ Bãi Cháy và phía Bắc đảo Tuần Châu được bao phủ bằng cát lục địa Cát có vỏ sò trộn lẫn ở các bờ biển nhỏ đảo đá vôi ở phía Nam vịnh Hạ Long Phù sa thô được tìm thấy ở hầu hết các khu vực vịnh Bãi Cháy và từ Cái Dăm Tuần Châu-Đầu Bên danh giới vịnh Bái Tử Long

d Điều kiện thuỷ văn

Có 5 con sông lớn chảy vào vịnh là sông Mip, sông Trới, sông Diễn Vọng, sông Mông Dương Sông Diễn Vọng thoát nước ra lưu vực phía Đông vịnh Bãi Cháy Tổng khối lượng nước bề mặt được ngoại suy sử dụng mối liên hệ giữa diện tích lưu vực và lượng nước mưa thực, được tính băng cách nhân lượng nước mưa với tỷ lệ thải vào dòng chảy Ước tính lượng nước rửa trôi bề mặt của các con sông chính là 806.000.000 m³/năm, chiếm82% tổng lượng mưa

e Di sản Việt Nam và thế giới

Năm 1962, vịnh Hạ Long được Bộ Văn hóa-Thông tin Việt Nam xếp hạng di tích danh thắng cấp quốc gia với diện tích 1553km² bao gồm 1969 hòn đảo

Trang 25

Các đảo trong vùng vịnh Hạ Long được quy hoạch là khu bảo tồn các di tích văn hoá-lịch sử và cảnh quan quốc gia, theo Quyết định Số 313/VH-VP của Bộ Văn hoá-Thông tin Việt Nam ngày 28 tháng 4 năm 1962 Các đảo này cũng có trong danh sách các khu rừng đặc dụng theo Quyết định Số 194/CT, ngày 9 tháng 8 năm

1986 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính Phủ)

- Di sản thế giới lần 1: giá trị thẩm mỹ

Ngày 21 tháng 12 năm 1991 Chính phủ Việt Nam cho phép xây dựng hồ sơ

về cảnh quan vịnh Hạ Long để trình Hội đồng Di sản Thế giới xét duyệt di sản thiên nhiên thế giới Hồ sơ vịnh Hạ Long được chấp nhận đưa vào xem xét tại hội nghị lần thứ 18 của Hội đồng Di sản Thế giới

Ngày 17 tháng 12 năm 1994, trong kỳ họp thứ 18 tại Phuket, Thái Lan, Ủy ban Di sản Thế giới đã công nhận vịnh Hạ Long vào danh mục di sản thiên nhiên thế giới với giá trị ngoại hạng toàn cầu về mặt thẩm mĩ

- Di sản thế giới lần 2: giá trị địa chất địa mạo

Tháng 9 năm 1998, theo đề nghị của Ban quản lý vịnh Hạ Long và Liên minh bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN), Giáo sư Tony Waltham, chuyên gia địa chất học trường Đại học Trent Nottingham đã tiến hành nghiên cứu địa chất vùng

đá vôi carxtơ vịnh Hạ Long Giáo sư đã gửi bản báo cáo về giá trị địa chất vịnh Hạ Long tới UNESCO tại Paris, Văn phòng IUCN tại Thụy Sĩ và Hà Nội, đồng gửi Ban quản lý vịnh Hạ Long Ngày 25 tháng 2 năm 1999, sau khi nhận được báo cáo của giáo sư Tony Waltham, UNESCO đã gửi thư tới Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Ủy ban quốc gia UNESCO Việt Nam và Ban quản lý vịnh Hạ Long yêu cầu xúc tiến việc chuẩn bị hồ sơ trình UNESCO công nhận về giá trị địa chất, địa mạo vùng đá vôi vịnh Hạ Long

Ngày 2 tháng 12 năm 2000, căn cứ Công ước Quốc tế về bảo vệ Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới và kết quả xét duyệt hồ sơ địa chất vịnh Hạ Long, tại Hội nghị lần thứ 24 của Hội đồng Di sản Thế giới tại thành phố Cairns, Queensland,

Úc, Hội đồng Di sản Thế giới đã công nhận vịnh Hạ Long là di sản thế giới lần thứ

2 theo tiêu chuẩn (viii) về giá trị địa chất địa mạo[10]

Trang 26

- Bình chọn trong Bảy Kì quan Thiên nhiên Mới của Thế giới

Trong 4 năm từ 2007-2011, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng kết hợp với Bộ Ngoại giao, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Thông tin và Truyền thông, báo Tuổi Trẻ các hội đoàn như Đoàn Thanh niên, Hội Sinh Viên v.v cùng tỉnh Quảng Ninh và nhiều địa phương khác, tổ chức vận động quy mô bầu chọn cho Hạ Long là một trong Bảy Kì quan Thiên nhiên Mới của Thế giới, là một cuộc bình chọn do Tổ chức tư nhân NewOpenWorld (NOWC) Cuộc bình chọn này không phải do Tổ chức văn hóa, giáo dục Liên Hợp Quốc (UNESCO) tổ chức và kết quả bầu chọn cũng không được tổ chức này công nhận, nên có những dư luận không đồng tình cũng như chỉ trích Nhưng theo ông Trần Nhất Hoàng, Giám đốc Trung tâm Xúc tiến Văn hóa, Thể thao và Du lịch, thì cuộc thi là "một cơ hội quảng bá cho Việt Nam, Thứ hai nữa là sau khi có danh hiệu, sẽ tiếp tục quảng bá, thu hút thêm nhiều khách du lịch tới Việt Nam thêm nữa" Khi so với việc quảng bá trên kênh truyền thông quốc tế như CNN, BBC, mỗi lần mất khoảng 160.000 USD-200.000 USD (4

tỷ đồng) mà chỉ quảng cáo được trong 1 clip dài 30 giây, thì chi phí vận động là không đáng kể trong khi hiệu quả lại cao hơn nhiều So với chi phí quảng bá du lịch hàng năm ở các nước cùng khu vực cũng là rất nhỏ, như Malaysia đầu tư 80 triệu USD, Thái Lan 70 triệu USD, và Singapore gần 60 triệu USD

Lúc 7h ngày 11 tháng 11 năm 2011 nhằm 2h ngày 12 tháng 11 năm 2011 (giờ Việt Nam), vịnh Hạ Long được tổ chức New7Wonders tuyên bố là một trong bảy kỳ quan thiên nhiên thế giới mới sau cuộc kiểm phiếu sơ bộ

(Nguồn:http://vi.wikipedia.org/wiki/V%E1%BB%8Bnh_H%E1%BA%A1_Long#V.E 1.BB.8B_tr.C3.AD)

2.1.2 Tài nguyên thiên nhiên

a Tài nguyên khoáng sản

Đối với địa bàn khu vực Hạ Long bao gồm chủ yếu là than đá và nguyên vật liệu xây dựng Tổng trữ lượng than đá đã thăm dò được đến thời điểm này là trên

530 triệu tấn, nằm ở phía bắc và đông bắc Thành phố trên địa bàn các phường Hà Khánh, Hà Lầm, Hà Trung, Hà Phong, Hà Tu (Đại Yên và Việt Hưng nằm trong

Trang 27

vùng cấm hoạt động khoáng sản) Loại than chủ yếu là than Antraxit và bán Antraxit Bên cạnh đó là trữ lượng sét phục vụ làm nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng tại vùng Giếng Đáy, theo đánh giá triển vọng trữ lượng hiện có khoảng trên

39 triệu tấn Ngoài ra là đá vôi phục vụ làm nguyên liệu xi măng và vật liệu xây dựng, tập trung tại phường Hà Phong và khu vực Đại Yên, theo đánh giá trữ lượng hiện còn khoảng trên 15 triệu tấn có thể khai thác được Bên cạnh đó, còn có các khu vực có thể khai thác cát xây dựng tại ven biển phường Hà Phong, Hà Khánh, khu vực sông trới tiếp giáp Hà Khẩu, Việt Hưng… tuy nhiên trữ lượng là không đáng để (đến nay chưa có đánh giá thống kê cụ thể)

b Tài nguyên biển

Do lợi thế có vịnh Hạ Long 2 lần được công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới Với tổng diện tích 1.553 km2 bao gồm 1969 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó 989 đảo có tên và 980 đảo chưa có tên Vùng Di sản được Thế giới công nhận có diện tích 434 km2 bao gồm 775 đảo, như một hình tam giác với ba đỉnh là đảo Đầu Gỗ (phía tây), hồ Ba Hầm (phía nam) và đảo Cống Tây (phía đông) Với nhiều hang động đẹp và huyền ảo như hang Bồ Nâu, Trinh Nữ, Sửng Sốt, Đầu Gỗ, Thiên Cung, Tam Cung, Mê Cung đã đưa danh tiếng của vịnh Hạ Long là một trong những điểm

du lịch nổi tiếng trên toàn thế giới…Bên cạnh đó, vùng biển Hạ Long cũng rất phong phú về các loại động vật và thực vật dưới nước Theo nghiên cứu có 950 loài

cá, 500 loài động vật thân mềm và 400 loài giáp xác, trong đó có nhiều loài hải sản

có giá trị kinh tế cao như cá thu, cá nhụ, cá song, cá hồi, cá tráp, cá chim và tôm, cua, mực, ngọc trai, bào ngư, sò huyết… 117 loài san hô thuộc 40 họ, 12 nhóm

c Tài nguyên du lịch

Vịnh Hạ Long được coi là một trong những khu vực có tiềm năng du lịch lớn nhất trong cả nước Những núi đá vôi trên biển đẹp tuyệt vời đã được cả thế giới công nhận Vịnh Hạ Long cũng mang nhiều giá trị văn hoá và giá trị lịch sử quan trọng Ngoài ra Quảng Ninh có rất nhiều bãi biển đẹp dọc theo 250 km đường bờ biển như Bãi Cháy, Trà Cổ, Minh Châu, Quan Lan, Vĩnh Trung và Vĩnh Thực

Trang 28

Trong khu vực gần kề có công viên Cát Bà là công viên Quốc Gia duy nhất

và có sinh vật đa dạng nhất ở khu vực bờ biển và biển Bắc Việt Nam với rất nhiều loại động vật và thực vật không tìm thấy ở bất cứ nơi nào khác trên thế giới

d Tài nguyên rừng

Theo số liệu thống kê tính đến hết năm 2009, trên địa bàn thành phố có tổng diện tích đất rừng là 5.862,08ha/tổng diện tích thành phố là 27.153,40 ha Tỷ lệ che phủ của rừng đạt: 21,58 % Trong đó rừng trồng 5.445,69ha và rừng tự nhiên 416,39ha (bao gồm: rừng gỗ 27,94ha, rừng tre nứa 17,31ha, rừng ngập mặn 371,14ha)

Hình 2.1: Cọ - Một loài thực vật độc đáo của rừng Vịnh Hạ Long

Bên cạnh đó là tài nguyên rừng của Vịnh Hạ Long rất phong phú, đặc trưng với tổng số loài thực vật sống trên các đảo, núi đá khoảng trên 1.000 loài Một số quần xã các loài thực vật khác nhau bao gồm các loài ngập mặn, các loài thực vật ở

bờ cát ven đảo, các loài mọc trên sườn núi và vách đá, trên đỉnh núi hoặc mọc ở của hang hay khe đá Các nhà nghiên cứu của Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên thế giới đã phát hiện 7 loài thực vật đặc hữu của vịnh Hạ Long Những loài này chỉ thích nghi sống ở các đảo đá vôi vịnh Hạ Long mà không nơi nào trên thế giới có được, đó là: thiên tuế Hạ Long, khổ cử đại tím (Chirieta halongensis), cọ Hạ Long (Livisona halongensis) khổ cử đại nhung (Chirieta hiepii), móng tai Hạ Long, ngũ gia bì Hạ

Trang 29

Long, hài vệ nữ hoa vàng Ngoài ra, qua các tài liệu khác danh sách thực vật của vịnh Hạ Long có 347 loài, thực vật có mạch thuộc 232 chi và 95 họ: trên 477 loài mộc lan, 12 loài dương xỉ và 20 loài thực vật ngập mặn Trong số các loại trên, có

16 loài đang nằm trong danh sách đỏ của Việt Nam đã nguy cấp và sắp nguy cấp Trong các loài thực vật quý hiếm, có 95 loài thuộc cây làm thuốc, 37 loài cây làm cảnh, 13 loài cây ăn quả và 10 nhóm có khả năng sử dụng khác nhau

Tuy nhiên hiện nay việc khai thác rừng đã ảnh hưởng nhiều đến cảnh quan và tác động không tốt đến phát triển du lịch sinh thái trong khu vực nghiên cứu Các vùng núi đặc biệt là hành lang đường quốc lộ18B từ Hoành Bồ đến Mông Dương có nhiều tiềm năng, cần phải được bảo vệ rừng để phát triển du lịch sinh thái trong tương lai

e Tài nguyên nước

Tài nguyên nước mặt tại Hạ Long tập trung tại các khu vực hồ Yên Lập

(tổng dung tích chứa của cả hồ bao gồm cả huyện Yên Hưng, Hoành Bồ khoảng 107.200.000 m3 (thời điểm đo trong tháng 8/2010)), Hồ Khe Cá tại phường Hà Tu… đây là nguồn cung cấp lớn nước tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp Ngoài ra là các hồ điều hòa tạo cảnh quan cho thành phố: Yết Kiêu, Ao Cá-Kênh

Đồng …

2.1.3 Điều kiện kinh tế xã hội

Khu vực vịnh Hạ Long bao gồm thành phố Hạ Long, thị xã Cẩm Phả, một phần huyện Yên Hưng,huyện Hoành Bồ Diện tích đất tự nhiên của thành phố Hạ Long là 123 km², huyện Hoành Bồ là 911km², thị xã Cẩm Phả là 486km², một phần của huyện Yên Hưng là 83,6 km²

a Dân số

Trong số 1.969 đảo của Hạ Long hiện nay chỉ có khoảng 40 đảo là có dân sinh sống, những đảo này có qui mô từ vài chục đến hàng ngàn hecta tập trung chủ yếu ở phía Đông và Đông Nam vịnh Hạ Long[7] Mấy chục năm gần đây, nhiều vạn chài sống trôi nổi trên mặt nước, bắt đầu lên một số đảo định cư biến những đảo

Trang 30

hoang sơ trở thành trù phú như đảo Sa Tô (thành phố Hạ Long), đảo Thắng Lợi (huyện đảo Vân Đồn)

Dân số trên vịnh Hạ Long hiện nay khoảng 1.540 người, tập trung chủ yếu ở các làng đánh cá Cửa Vạn, Ba Hang, Cặp Dè (thuộc phường Hùng Thắng, thành phố Hạ Long) Cư dân vùng Vịnh phần lớn sống trên thuyền, trên nhà bè để thuận tiện cho việc đánh bắt, nuôi trồng và lai tạo các giống thủy sản, hải sản Ngày nay đời sống của cư dân Vịnh Hạ Long đã phát triển do kinh doanh dịch vụ du lịch

Trong tỉnh Quảng Ninh, mức tăng dân số không đều Trong khi ở thành phố

Hạ Long chỉ tăng 1,29% thì ở miền núi còn tăng nhanh (Ba Chẽ 2,5%, Tiên Yên 2,7%, Cô Tô 2,44%)

Dân số Quảng Ninh có mật độ bình quân 180 người/km2 nhưng phân bố không đều Vùng đô thị và các huyện miền tây rất đông dân, thành phố Hạ Long

739 người/km2, huyện Yên Hưng 415 người/km2, huyện Ðông Triều 390 người/km2 Trong khi đó, huyện Ba Chẽ 30 người/km2, Cô Tô 110 người/km2, Vân Ðồn 74 người/km2

Tính đến 1 tháng 4 năm 2009, toàn Thành phố Hạ Long có 215.795 người, phân bố ở các phường như trong bảng 2.1:

Trang 31

Bảng 2.1: Phân bố dân số các phường Thành phố Hạ Long

- Phường Hồng Hải 17.815 người

- Phường Cao Thắng 16.167 người

- Phường Bãi Cháy 19.890 người

- Phường Bạch Đằng 9334 người

- Phường Giếng Đáy 14.822 người

- Phường Trần Hưng Đạo 9.643 người

- Phường Việt Hưng 8.648 người

-Phường Hùng Thắng 5.730 người

- Phường Tuần Châu 1.763 người

( Nguồn: http://halongcity.gov.vn/pages/dieukientunhienxahoi.aspx)

Trang 32

b Tình hình phát triển kinh tế - xã hội của khu vực

Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) dự kiến bình quân 5 năm đạt khoảng 12,5%/năm, tuy chưa đạt mục tiêu kế hoạch đề ra là 13-14%/năm và thấp hơn giai đoạn 2001-2005 là 12,9% Tuy nhiên, trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2006-

2010 khó khăn hơn nhiều so với 5 năm trước, thì các kết quả đạt được này là rất đáng khích lệ, thể hiện khả năng thích ứng và sự bền vững của kinh tế tỉnh ta, vượt qua được những điều kiện khó khăn nhất Đặc biệt trong hai năm đầu thực hiện kế hoạch (2006-2007), tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) đạt mức khá cao (GDP 2006: 13,78%, GDP 2007: 13,67%); từ cuối năm 2008-2010 chịu tác động khá lớn của khủng hoảng kinh tế thế giới và những khó khăn nội tại, tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2008 vẫn đạt 13,02%, năm 2009 ước đạt 10,3%, năm 2010 đạt khoảng 11,5%

là sự nỗ lực rất lớn của các cấp, các ngành và doanh nghiệp trong tỉnh, thuộc nhóm địa phương có tốc độ tăng trưởng cao so với các tỉnh, thành phố trong cả nước và Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

Bảng 2.2: Tăng trưởng kinh tế Hạ Long giai đoạn 2006-2010

Trang 33

Bảng 2.3:Phát triển GDP bình quân đầu người giai đoạn 2006-2010

- Sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp:

Trang 34

+ Giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 43,5 tỷ đồng đạt 100% KH năm; diện tích gieo trồng đạt 1.287 ha; sản lượng rau xanh đạt 11.516 tấn, bằng 109% kế hoạch; tổ chức mở các lớp tập huấn kỹ thuật về nông nghiệp cho nông dân Chỉ đạo kịp thời công tác phòng chống hạn, phòng trừ dịch bệnh, vật nuôi cây trồng trên địa bàn Năm 2011 trên địa bàn không có dịch bệnh xảy ra Triển khai thực hiện dự án JICA của Nhật Bản về tăng cường năng lực quản lý ngành trồng trọt tai HTX Hà Phong, thí điểm trồng hoa Ly tại Việt Hưng đạt kết quả

+ Giá trị sản xuất thuỷ sản đạt 52,24 tỷ đồng, đạt 128% KH năm, bằng 102%

so cùng kỳ; tổng sản lượng thuỷ sản ước đạt 2.545 tấn= 100% so cùng kỳ

+ Phá rừng là vấn đề chính ở khu vực.Theo thống kê tỉnh Quảng Ninh, năm

1983 có khoảng 507000 ha đất rừng, năm 1995 giảm xuống còn 208000 ha và

176655 ha năm 2002 và sẽ còn tiếp tục giảm trong những năm tiép theo Trong khu vực cón tương đối ít rừng ngập mặn ven biển phần lớn là rừng tái sinh

Tuy nhiên đến nay công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng đã được tăng cường kiểm tra, kiểm soát; Thành phố đã chỉ đạo các đơn vị chức năng, các chủ rừng thường xuyên kiểm tra, canh gác, phòng, chống cháy rừng, chỉ đạo các đơn vị chủ động kiểm tra, ngăn chặn, xử lý các vụ vận chuyển lâm sản trái phép; quản lý bảo tồn động vật hoang dã Tổ chức phát động Tết trồng cây năm 2011, kết quả đã trồng 18.140 cây xanh các loại Tiến hành tổ chức tổng kết 10 năm thực hiện luật phòng cháy chữa cháy và diễn tập công tác phòng cháy chữa cháy rừng mùa hanh khô năm 2011-2012 cấp thành phố đạt kết quả

- Du lịch: Khách du lịch đến Hạ Long đạt 4.031.098 lượt khách = 115% so cùng kỳ năm 2010, trong đó khách quốc tế đạt 2.063.700 lượt =116% so cùng kỳ, doanh thu đạt 2.236 tỷ đồng đạt 111% so với cùng kỳ; triển khai thực hiện tốt các hoạt động chỉnh trang đô thị phục vụ Tuần Du lịch Hạ Long 2011; tập trung thực hiện có hiệu quả cuộc vận động, tuyên truyền, bầu chọn Vịnh Hạ Long là 1 trong 7

kỳ quan thiên nhiên thế giới mới, kết quả ngày 11/11/2011 tổ chức NewOpenWorld

đã công bố kết quả sơ bộ Vịnh Hạ Long đã được lựa chọn vào danh sách 7 kỳ quan thiên nhiên thế giới mới

Trang 35

- Năm 2011 đã tổng kiểm tra, rà soát tổng thể các tàu hoạt động du lịch, các nhà nghỉ, khách sạn, nhà hàng, các hộ kinh doanh, các cơ sở sản xuất công nghiệp xen kẽ trong khu dân cư trên địa bàn, đồng thời rà soát, xử lý việc việc chấp hành nộp thuế, phí của các hộ kinh doanh

c Hiện trạng phát triển kết cấu hạ tầng

- Cảng than cột 5: Cảng nằm ở khu 5 (cọc 5) phường Hồng Hà - TP Hạ Long Có một bến dài 200m trong vùng triều Chiều dài tuyến luồng tàu là 4km từ cầu Trắng đến vịnh Hòn Gai Cảng dùng cho xà lan vận chuyển than cỡ từ 200 đến

250 tấn Việc nâng cấp cảng trong tương lai dự kiến sẽ tăng lượng hàng xuất từ 200.000 đến 500.000 tấn/năm Xà lan có công suất 400 tấn có thể cập bến sau khi nạo vét

- Cảng dầu B12: nằm ở vị trí cửa vào của vịnh Bãi Cháy dưới sự quản lý của công ty xăng dầu B12 Các tàu chở dầu có kích cỡ từ 400 DWT đến 3600 DWT, phần lớn trong số đó là tàu Trung Quốc, Malaysia, và Panama

Có 5 phao ngoài khơi để các loại tàu chở dầu tới 300.000 DWT neo đậu và

dỡ hàng Dầu được bơm vào bằng đường ống từ những phao này và được lưu trữ trong kho chứa

- Cảng Cái Lân: Cảng Cái Lân nằm ở vịnh Bãi Cháy, cách Hải Phòng 100km Cảng được nối với biển khơi bằng tuyến luồng từ vịnh Bãi Cháy qua vịnh

Hạ Long vào vịnh Bắc Bộ

Trang 36

- Cảng than Vũng Đục: Nằm ở phía Nam thị xã Cẩm Phả, cách cảng than Cửa Ông 10km Cảng do công ty Duyên Hải trực thuộc UBND tỉnh quản lý Một số công ty than sử dụng sau bãi chứa và hệ thống xếp dỡ trong cảng Có 2 lần cửa để xếp dỡ hàng trong khu vực cảng Khoảng 200.000 đến 300.000 tấn than được vận chuyển mỗi năm

- Cảng than Cửa Ông: Nằm cách Cẩm Phả 10km, cảng có 2 phục vụ bốc xếp than Chiều dài bến chính là 300m, độ sâu mực nước là 9m Diện tích vùng nước là

400 x 400m với độ sâu là 9,5m Một bến khác có chiều dài là 45m, độ sâu 2m và diện tích lưu vực 100 x 200m Kích cỡ các tàu từ 10.000DWT đến 50DWT

- Cảng nổi Hòn Nét: Dự án cảng này được Bộ GTVT thông qua 31/7/1997 Cảng vụ Quảng Ninh quản lý Lượng hàng xếp dỡ được ước tính vào khoảng 150.000 tấn/năm Gần 95% số tàu có trọng tải 400 DWT hoặc nhỏ hơn, phần lớn là tàu chở dầu xuất sang Trung Quốc và cao su tiêu thụ nội địa Ngoài ra có xi măng

và thép bốc dỡ tại cảng

* Đường giao thông:

Các tuyến giao thông đường bộ đến Thành phố đã tạo thành một mạng lưới khá hoàn chỉnh và được nâng cấp, một số dự án xây mới, cải tạo và nâng cấp đã hoàn thành

Hệ thống đường nội thị được đầu tư nâng cấp mở rộng như: một số đường tại khu vực Hòn Gai, Bạch Đằng Đã hình thành các trục chính, trục trung tâm và đường khu vực Tuy nhiên, đoạn đường nối ga Hạ Long đi Trới vẫn chưa thực hiện

Hệ thống vỉa hè, thoát nước cũng được nâng cấp cải tạo Hiện nay đã gần như bê tông hoá toàn bộ hệ thống đường ở các khu dân cư

Cầu Bãi Cháy được xây dựng hoàn thành, bắc qua vịnh Cửa Lục thay thế cho phà Bãi Cháy trước đây

Một số kế hoạch phát triển giao thông đặt ra trong quy hoạch tổng thể kinh tế

xã hội của Thành phố đến năm 2010 đang gặp khó khăn như: Đường bao biển Lán

bè - cọc 8 thi công dở dang vì chậm giải phóng mặt bằng

Trang 37

Cuối tháng 12 năm 2008 khởi công dự án cải tạo, nâng cấp quốc lộ đoạn Mông Dương-Móng Cái

Một số dự án làm mới, cải tạo nâng cấp quốc lộ và tỉnh lộ khác như đường

337 (Loong Toòng-Hà Khánh, đường 279 (Hà Khẩu-Hoành Bồ), đường 188 (Mạo Khê-Hải Dương, đường Trới-Vũ Oai (Hoành Bồ) được đầu tư xây dựng,

Đã xây dựng xong 1 bến ô tô ở Kênh Đồng (Bãi Cháy) diện tích 1ha Bến xe

ô tô dự định xây ở cọc 8 Hòn Gai đã thay đổi kế hoạch, hiện nay đang được triển khai xây dựng ở phường Hà Tu

Tính đến hết ngày 31/12/2008, tỉnh Quảng Ninh có 1.698 xe vận tải hành khách, 16 bến, 185 điểm đỗ, dừng đón khách, đưa đón trên 1,3 vạn lượt hành khách

đi lại Điểm nổi bật trong năm 2008 là 3 tuyến xe buýt hoạt động ngày càng có hiệu quả Năm 2008, 3 tuyến xe buýt đã vận chuyển gần 6,6 triệu lượt khách Cuối năm

2008, Công ty TNHH Phúc Xuyên nối dài tuyến xe buýt Hạ Long- Đông Triều và

mở thêm tuyến mới: Thị Trấn Đông Triều- xã Bình Khê

và mềm, độ pH thấp (6-6,5) Nguồn nước mặt: Nguồn nước cấp cho nhà máy nước

là nước mặt đập Thác Nhồng sông Đồng Ho, cách Bãi Cháy khoảng 10km Nguồn nước ngầm: đang sử dụng nguồn nước ngầm lấy từ các giếng khoan

Khu vực Hòn Gai được cấp khoảng 20.000m3/ng.đ từ nhà máy nước Diễn Vọng (công suất thiết kế 60.000m3/ng.đ, cấp cho khu vực Hòn Gai và Cẩm Phả)

Do lượng nước thất thoát lớn, lên đến 30% lượng nước sản xuất, nên lượng nước thực cấp chưa thỏa mãn nhu cầu dùng nước Trung bình dân nội thị được cấp khoảng 100lít/người/ng.đ và khoảng 80% dân nội thị dùng nước máy; số còn lại dùng nước giếng khơi hay giếng khoan

(Nguồn: http://halongcity.gov.vn/Pages/cungcapnuoc.aspx)

Trang 38

Các nhà máy nước của thành phố đều ở rất xa thành phố nên tuyến ống dẫn nước dài, gây thất thoát lớn và khó khăn cho công tác vận hành và quản lý

Một số chỉ tiêu về môi trường đối với địa bàn thành phố:

Về cấp nước sạch: Tại các khu vực trung tâm của Thành phố tỷ lệ các hộ dân được cấp nước sạch đạt 100% Khu vực xa trung tâm, địa bàn khó khăn, phức tạp tỷ

lệ dân cư được cấp nước sạch chỉ đạt 80%

- Công tác thu gom xử lý nước thải đô thị:

+ Nhà máy xử lý nước thải Ao Cá 3.500m3/ngàyđêm

+ Nhà máy xử lý nước thải Hà Khánh 7.200m3/ngàyđêm

+ Trạm xử lý nước KCN Cái Lân với công suất 2.000 m3/ngđ

+ Trạm xử lý nước thải bệnh viện Tỉnh: 360 m3/ngày

+ Trạm xử lý nước thải bệnh viện Bãi Cháy: 50 m3/ngày

+ Trạm xử lý nước thải nhà máy dầu thực vật Cái Lân: 200 m3/ngày

+ Cụm xử lý nước thải mỏ Công ty than Hà Lầm: 6.200 m3/ngày

+ Các trạm xử lý nước thải mỏ của Công ty TNHH MTV than Hòn Gai: 1.620m3/ngày

+ Trạm xử lý nước thải Công ty bia và NGK Hạ Long: 1.200 m3/ngày

+ Trạm xử lý nước thải Công ty xăng dầu B12: 50 m3/ngày

+ Trạm xử lý nước thải Cảng Quảng Ninh: 400 m3/ngày

+ Trạm xử lý nước thải khu đô thị Cột 5-Cột 8 Licogi: 1.000 m3/ngày

+ Trạm xử lý nước thải khu đô thị Hà Khánh B: 1.000 m3/ngày

Như vậy, đến thời điểm hiện tại trên địa bàn thành phố đã có các công trình

xử lý nước thải cho các cơ sở sản xuất công nghiệp với tổng công suất 12.080m3/ngày; Các trạm xử lý nước thải sinh hoạt khu dân cư, với tổng công suất 12.700m3/ngày

- Công tác đầu tư, cải tạo, nâng cấp hệ thống thoát nước khắc phục tình trạng ngập úng: Dự án thoát nước vệ sinh môi trường Hạ Long - Cẩm Phả đến nay cơ bản

đã hoàn thành Đảm bảo cho việc tiêu thoát nước mặt cho thành phố Hàng năm, Thành phố đã sử dụng nguồn kinh phí từ thu phí bảo vệ môi trường đối với hoạt

Trang 39

động khai thác khoáng sản theo Nghị định số 63/2008/NĐ-CP ngày 13/5/2008 của Chính phủ, để xây dựng, cải tạo, nạo vét nhiều hệ thống thoát nước trong khu dân

cư nhằm khắc phục tình trạng lụt lội và đảm bảo vệ sinh môi trường Các kết quả thực hiện từ năm 2007 đến nay như sau:

+ Năm 2007: sử dụng 30,804 tỷ đồng, bố trí cho 19 dự án, công trình với tổng mức đầu tư là 105,658 tỷ đồng (bao gồm 3 dự án hoàn thành và 16 dự án chuyển tiếp)

+ Năm 2008: sử dụng 27,760 tỷ đồng, bố trí cho 21 dự án với tổng mức đầu

tư là 119,090 tỷ đồng (bao gồm 4 dự án hoàn thành và 16 dự án chuyển tiếp và 01 công trình mới)

+ Năm 2009: sử dụng 37,553 tỷ đồng, bố trí cho 24 dự án với tổng mức đầu

tư là 176,817 tỷ đồng (bao gồm 10 dự án hoàn thành và 8 dự án chuyển tiếp và 6 công trình mới)

+ Năm 2010: sử dụng 37,385 tỷ đồng, bố trí cho 16 dự án với tổng mức đầu

tư là 107,175 tỷ đồng (bao gồm 11 dự án hoàn thành và 5 dự án mới)

(Nguồn: Theo “Kết quả công tác quản lý tài nguyên - môi trường 5 năm 2005-2010 của Thành phố Hạ Long”)

2.2 THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG KHU VỰC VỊNH HẠ LONG

2.2.1 Hiện trạng các nguồn gây ô nhiễm môi trường

Vịnh Hạ Long – Di sản thiên nhiên thế giới đã được UNESCO công nhận Tuy nhiên, di sản này hiện nay đang bị xâm hại nghiêm trọng do quá trình phát triển kinh tế -

xã hội trên địa bàn Danh tiếng vịnh Hạ Long sẽ sớm biến mất nếu như chúng ta không sớm có hành động kịp thời

Môi trường khu vực Vịnh Hạ Long chịu ảnh hưởng của những tác động do:

- Hoạt động phát triển công nghiệp và khai thác than

- Quá trình đô thị hoá

- Hoạt động phát triển cảng biển

- Hoạt động phát triển du lịch

Trang 40

Tất cả các hoạt động nêu trên đều gây ảnh hưởng tiêu cực cho những khu vực Vịnh Hạ Long Tức là làm tăng mức độ ô nhiễm ở đây Cần phải phân tích cụ thể thực trạng ô nhiễm của khu vực do từng yếu tố tác động gây nên Điều đó có tác dụng trong việc phân tích và tìm ra các giải pháp cho quản lý môi trường:

a Nguồn gây ô nhiễm do phát triển công nghiệp và đặc biệt là khai thác than

Nói đến Quảng Ninh người ta thường nhắc đến điểm du lịch nổi tiếng là vịnh

Hạ Long, nhưng cũng ít ai biết được rằng bên cạnh đó là vùng mỏ than ngày đêm hoạt động không ngưng nghỉ

Năm 2009, Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam (TKV) đạt sản lượng than tăng hơn 5 lần so với năm 1995 (với 43,5 triệu tấn) Trong năm 2010, khai thác

với sản lượng than lên tới 47,5 triệu tấn

Hình 2.2: Khai thác than – nguyên nhân số 1 gây ô nhiễm Vịnh

Hạ Long

Với tốc độ khai thác than quá “nóng” như hiện nay đang gây ra những vấn đề

về môi trường làm cạn kiệt tài nguyên khi khai thác than hầm lò đã phải xuống sâu hàng trăm mét Và chính hoạt động khai thác này đang làm môi trường xung quanh đặc biệt là vịnh Hạ Long bị suy thoái nghiêm trọng

Ngày đăng: 15/03/2019, 12:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm