Kế hoạch chi tiết hàng năm phải được xây dựng trên cơ sở thống nhất với nhà tài trợ và trình chủ dự án phê duyệt phù hợp với lịch biểu xây dựng kế hoạch hàng năm của cơ quan chủ quản; -
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và làm luận văn thạc sĩ em đã nhận được
sự giúp đỡ nhiệt tình, sự động viên sâu sắc của nhiều cá nhân, cơ quan và nhà trường; em xin chân thành cảm ơn các cá nhân, cơ quan và nhà trường đã tạo điều kiện cho em hoàn thành luận văn này
Trước hết em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến Thầy giáo PGS.TS Phạm Hùng đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Em xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Thủy lợi, Phòng Đào tạo đại học và Sau đại học, Ban chủ nhiệm Khoa Kinh tế và Quản lý cùng các thầy cô giáo khoa Kinh tế và Quản lý và các đồng nghiệp đã động viên, tạo mọi điều kiện giúp đỡ em về mọi mặt trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn gia đình, Vụ Đầu tư, Phòng địa phương là cơ quan hiện em đang công tác và bạn bè đã chia sẻ cùng em những khó khăn, động viên và giúp đỡ cho em học tập, nghiên cứu và hoàn thành đồ án này
Do những hạn chế về kiến thức, thời gian, kinh nghiệm và tài liệu tham khảo nên không thể tránh khỏi thiếu sót Vì vậy, em rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của các thầy cô giáo và đồng nghiệp Đó chính là sự giúp đỡ quý báu mà em mong muốn để cố gắng hoàn thiện hơn trong quá trình nghiên cứu và công tác sau này
Em xin trân trọng cám ơn!
Hà Nội, ngày 1 tháng 12 năm 2011
Người viết luận văn
Nguyễn Thị Mai Khanh
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Công trình thuỷ điện Tuyên Quang được Nhà nước đầu tư xây dựng năm
2003 và hoàn thành đưa vào khai thác năm 2007, hàng năm cung cấp cho lưới điện quốc gia 1.295,83 triệu KWh; tham gia chống lũ cho hạ du với dung tích phòng lũ 1 tỷ m3 làm giảm lũ cho thị xã Tuyên Quang từ 2,5 – 2,7m và giảm lũ cho Hà Nội từ 0,4 – 0,42m; Cung cấp nước ngọt mùa kiệt cho hạ du từ 49m3/s – 52m3/s Để hoàn thành xây dựng công trình, tỉnh Tuyên Quang phải tổ chức di rời và tái định cư (TĐC) trên địa bàn tỉnh 4.116 hộ dân vùng lòng hồ và mặt bằng công trường Số dân TĐC được bố trí tại 125 điểm thuộc địa bàn 34 xã của
4 huyện Na Hang, Chiêm Hoá, Hàm Yên, Yên Sơn và thành phố Tuyên Quang
Về công tác di dân TĐC, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể di dân TĐC dự án thuỷ điện Tuyên Quang tại Quyết định số 08/2007/QĐ-TTg ngày 12 tháng 01 năm 2007 Trong đó giao cho UBND tỉnh Tuyên Quang làm chủ đầu tư dự án trên địa bàn tỉnh
Thưc hiện nhiệm vụ được Thủ tướng Chính phủ giao, tỉnh Tuyên quang đã huy động cả hệ thống chính trị tham gia công tác di dân TĐC dự án thuỷ điện Tuyên Quang Đến nay, tỉnh Tuyên Quang đã hoàn thành cơ bản công tâc di dân khỏi vùng lòng hồ và đang tiếp tục việc tổ chức cuộc sống mới cho người dân tại các khu (điểm) TĐC kết quả cụ thể trong thực hiện dự án TĐC như sau:
Thực hiện sắp xếp, di chuyển 4.116 hộ, 20,382 khẩu vùng lòng hồ và mặt bằng công trường đến các khu (điểm) TĐC và nơi TĐC đúng tiến độ và đảm bảo
an toàn tuyệt đối cho người và tài sản trong suốt quá trình thực hiiện dự án
Tất cả các hộ dân TĐC trên địa bàn tỉnh đều được giao đủ diện tích đất đợt
1 gồm đất ở, đất sản xuất nông nghiệp, được hỗ trợ sản xuất theo quy định
Hệ thống kết cấu hạ tầng TĐC thiết yếu theo quy hoạch được đầu tư xây dựng bước đầu tạo điều kiện cho người dân TĐC có điều kiện tốt hơn trước về
đi lại, học hành, khám chữa bệnh
Trang 3Với sự cố gắng nỗ lực của các cấp uỷ Đảng, chính quyền và đồng bào các dân tộc trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang, các hộ TĐC bước đầu ổn định sản xuất, thu nhập đảm bảo dược các nhu cầu sinh hạt thiết yếu, cộng đồng dân TĐC và dân sở tại đều phấn khởi đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển
Tuy vậy, so với Mục tiêu của dự án “ Phải tạo được điều kiện để đồng bào
TĐC có nơi ở tốt hơn nơi ở cũ, trên cơ sở khai thác tiềm năng về tài nguyên và sức lao động, từng bước thay đổi cơ cấu kinh tế, phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập, cuộc sống vật chất, tinh thần ngày càng tốt đẹp hơn, góp phần phát triển kinh tế - xã hội vùng Đông Bắc theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, giữ vững ổn định chính trị xã hội, quốc phòng, an ninh
và bảo vệ môi trường sinh thái” dự án TĐC thuỷ điện Tuyên Quang rất cần được Nhà nước tiếp tục quan tâm đầu tư hỗ trợ
Vì vậy, cần thiết phải đánh giá kết quả đã thực hiện cũng như hiệu quả đầu
tư của dự án di dân TĐC thuỷ điện Tuyên Quang về những mục tiêu đã đạt được, đạt được hơn dự kiến ban đầu, chưa đạt được so với mục tiêu ban đầu Bên cạnh đó cũng đề xuất phương án, giải pháp bằng cơ chế chính sách cũng
như dự án đầu tư pha 2 để khắc phục những mặt chưa đạt được, những mặt cần
bổ sung phát huy hiệu quả hơn nữa
2 Mục đích của đề tài
Xây dựng cơ sở khoa học cho việc đánh giá sau việc thực hiện dự án di dân tái định cư thủy điện Tuyên Quang và đề xuất phương án, giải pháp thông qua cơ chế chính sách tiếp tục hỗ trợ tái định cư nhằm phát huy tối đa những mặt đạt hiệu quả, khắc phục những mặt còn tồn tại
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
+ Đánh giá tình hình thực hiện dự án di dân tái định cư thủy điện Tuyên Quang
+ Đề xuất các phương án, giải pháp nhằm khắc phục những tồn tại của dự án
di dân tái định cư các dự án thủy điện nói chung và dự án thủy điện Tuyên Quang nói riêng
Trang 44 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp tổng hợp, so sánh, phân tích, thống kê các tài liệu liên quan đến dự án di dân tái định cư thủy điện Tuyên Quang, các văn bản pháp quy về đầu tư xây dựng cơ bản;
- Các phương pháp khoa học khác
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
QLDA : Quản lý dự án
QĐ : Quyết định
Bộ NN&PTNT : Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
HĐND : Hội đồng nhân dân
UBND : Ủy ban nhân dân
Trang 7Bảng 2.4: Tổng hợp khối lượng thực hiện đầu tư hệ thống cấp nước sinh
hoạt phục vụ TĐC so với Quyết định số 08/QĐ-TTg 47 Bảng 2.5: Tổng hợp khối lượng thực hiện đầu tư hệ thống điện sinh hoạt
Bảng 2.6: Tổng hợp khối lượng thực hiện đầu tư công trình kiến trúc công
cộng phục vụ TĐC so với Quyết định số 08/QĐ-TTg 50 Bảng 2.7: Tổng hợp khối lượng thực hiện đầu tư khai hoang đồng ruộng
Bảng 2.8: Tổng hợp tình hình sử dụng vốn đầu tư 53 Bảng 3.1: Tổng hợp kinh phí bồi thường, hỗ trợ hộ dân trên cao trình 120m 67 Bảng 3.2: Tổng hợp đầu tư di dãn dân dự án Phú Lâm đi xã Bình An
(Chiêm Hóa)
69 Bảng 3.3: Tổng hợp đầu tư bổ sung mở rộng đất ở tại các điểm TĐC 72 Bảng 3.4: Tổng hợp khả năng bổ sung quỹ đất sản xuất nông nghiệp 75 Bảng 3.5: Tổng hợp khả năng bổ sung quỹ đất lâm nghiệp 80 Bảng 3.6: Tổng hợp đầu tư tạo quỹ đất ở, đất sản xuất bổ sung cho hộ TĐC 82 Bảng 3.7: Tổng hợp khả năng chuyển đổi nghề sang phi nông nghiệp 86 Bảng 3.8: Tổng hợp đầu tư hỗ trợ chuyển đổi nghề phi nông nghiệp 90 Bảng 3.9: Tổng hợp nhu cầu đầu tư bổ sung hệ thống giao thông TĐC 95 Bảng 3.10: Tổng hợp nhu cầu đầu tư bổ sung hệ thống giao thông liên vùng 97 Bảng 3.11: Tổng hợp nhu cầu đầu tư bổ sung hệ thống thủy lợi phục vụ
Bảng 3.12: Tổng hợp nhu cầu đầu tư bổ sung hệ thống thủy lợi liên vùng
thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội chung của địa phương 103 Bảng 3.13: Tổng hợp nhu cầu đầu tư bổ sung hệ thống cấp nước sinh hoạt 104 Bảng 3.14: Tổng hợp nhu cầu đầu tư bổ sung hệ thống điện sinh hoạt 106 Bảng 3.15: Tổng hợp nhu cầu đầu tư bổ sung công trình kiến trúc công cộng 108 Bảng 3.16: Tổng hợp đầu tư bổ sung công trình thoát nước và vệ sinh môi
Bảng 4.1: Tổng mức vốn đầu tư bổ sung để ổn định đời sống nhân dân vùng
TĐC thủy điện Tuyên Quang trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang 119
Bảng 4.3: Kết quả thực hiện hỗ trợ tạo việc làm lao động TĐC
Trang 8CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN VÀ VẤN ĐỀ DI DÂN TÁI ĐỊNH CƯ
THUỶ ĐIỆN 1.1 Khái quát chung về dự án đầu tư
1.1.1 Khái niệm dự án đầu tư
Dự án đầu tư là một tập hợp những đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm hoặc dịch
vụ trong khoảng thời gian xác định
Trước hết, dự án đầu tư phải thể hiện rõ mục tiêu đầu tư là gì, có thể là mục tiêu
dài hạn, trung hạn hay ngắn hạn hoặc là mục tiêu chiến lược hay mục tiêu trước mắt Mục tiêu trước mắt được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu kinh tế cụ thể như năng lực sản xuất, quy mô sản xuất hay hiệu quả kinh tế Còn mục tiêu dài hạn có thể là các lợi ích kinh tế cho xã hội mà dự án đầu tư phải mang lại
Hai là, nguồn lực và cách thức để đạt được mục tiêu Nó bao gồm các điều kiện
và biện pháp vật chất để thực hiện như vốn, nhân lực, công nghệ…
Ba là, với khoảng thời gian bao lâu thì các mục tiêu có thể đạt được và cuối
cùng là ai có thể thực hiện hoạt động đầu tư này và kết quả của dự án
Vậy các đặc trưng chủ yếu của dự án đầu tư đó là:
- Xác định được mục tiêu, mục đích cụ thể;
- Xác định được hình thức tổ chức để thực hiện;
- Xác định được nguồn tài chính để tiến hành hoạt động đầu tư;
- Xác định được khoảng thời gian để thực hiện mục tiêu dự án
Một cách chung nhất có thể hiểu dự án là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một nhiệm vụ cụ thể cần phải được thực hiện với phương pháp riêng, nguồn lực riêng và theo một kế hoạch tiến độ xác định
1.1.2 Các đặc trưng cơ bản của dự án:
1.1.2.1 Dự án có mục đích, mục tiêu rõ ràng
Mỗi dự án là một hoặc một tập hợp nhiệm vụ cần được thực hiện để đạt tới một kết quả xác định nhằm thỏa mãn một nhu cầu nào đó Dự án là một hệ thống
Trang 9phức tạp nên có thể chia thành nhiều bộ phận khác nhau để quản lí và thực hiện nhưng cuối cùng vẫn phải đảm bảo các mục tiêu cơ bản về thời gian, chi phí và chất lượng
Bất cứ dự án nào cuối cùng đều phải thực hiện một mục tiêu nhất định, kết quả của nó có thể là một sản phẩm hay một dịch vụ mà khách hàng mong muốn Khi mục tiêu dự án đã được xác định thì khó có thể thay đổi hay sửa chữa Tuy nhiên, nếu có sự biến đổi của hoàn cảnh dự án (hoàn cảnh bên trong và hoàn cảnh bên ngoài) thì mục tiêu dự án cũng có thể thay đổi hoặc điều chỉnh theo Khi mục tiêu dự án có sự biến đổi về tính chất thì nó không còn là dự án ban đầu nữa mà trở thành một dự án mới
1.1.2.2 Dự án có chu kỳ riêng và thời gian tồn tại hữu hạn
Nghĩa là dự án cũng phải trải qua các giai đoạn: hình thành, phát triển, có thời điểm bắt đầu và kết thúc
Dự án được xem là chuỗi các hoạt động nhất thời Tổ chức của dự án mang
tính chất tạm thời, sau khi đạt được mục tiêu đề ra, tổ chức này sẽ giải tán hay thay đổi cơ cấu tổ chức cho phù hợp với mục tiêu mới
Mỗi dự án đều có một chu kỳ hoạt động, chu kỳ hoạt động của dự án bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau:
* Giai đoạn khởi đầu dự án (Initiation Phase)
- Khái niệm (Conception)
- Định nghĩa dự án (Definition)
- Thiết kế (Design)
- Thẩm định (Appraisal)
- Lựa chọn (Selection)
- Bắt đầu triển khai
* Triển khai (Implementation Phase)
- Hoạch định (Planning)
- Lập tiến độ (Scheduling)
- Tổ chức công nghệ (Organizing)
Trang 10- Kiểm soát (Controlling)
* Kết thúc (Termination Phase)
- Chuyển giao (Handover)
- Đánh giá (Valuation)
1.1.2.3 Dự án liên quan đến nhiều bên và có sự tương tác phức tạp giữa các
bộ phận quản lí chức năng và quản lí dự án
Dự án nào cũng có sự tham gia của nhiều bên hữu quan như chủ đầu tư, người hưởng lợi dự án, nhà thầu, các nhà tư vấn, các cơ quan quản lí nhà nước… Tùy theo tính chất dự án và yêu cầu của chủ đầu tư mà sự tham gia của các thành phần trên cũng khác nhau Ngoài ra, giữa các bộ phận quản lý chức năng và nhóm quản lý dự án thường phát sinh các công việc yêu cầu sự phối hợp thực hiện nhưng mức độ tham gia của các bộ phận là không giống nhau Vì mục tiêu của dự án, các nhà quản lý dự án cần duy trì mối quan hệ với các bộ phận quản lý khác
1.1.2.4 Sản phẩm của dự án mang tính đơn chiếc, độc đáo
Khác với quá trình sản xuất liên tục và gián đoạn, sản phẩm của dự án không phải là sản phẩm hàng loạt mà có tính khác biệt ở một khía cạnh nào đó Kể cả một quá trình sản xuất liê tục cũng có thể được thực hiện theo dự án , ví dụ như dự án phục vụ một đơn hàng đặc biệt, dự án nâng cao chất lượng sản phẩm… Sản phẩm của những dự án này dù được sản xuất hàng loạt nhưng vẫn có điểm khác biết (về đơn đặt hàng, về chất lượng sản phẩm…) Có thể nói sản phẩm hoặc dịch vụ do dự
án đem lại là duy nhất, lao động đòi hỏi kỹ năng chuyên môn với những nhiễm vụ không lặp lại
1.12.5 Dự án bị hạn chế bởi các nguồn lực
Mỗi dự án đều cần dùng một nguồn lực nhất định để thực hiện Nó bao gồm nhân lực (giám đốc dự án, thành viên dự án), vật lực (thiết bị, nguyên liệu) và tài lực Ví dụ, chúng ta muốn xây dựng một công trình nhà ở thì nguồn lực của nó bao gồm công ty xây dựng được uỷ quyền, các cửa hàng cung ứng nguyên liệu, thiết bị, máy móc phục vụ cho xây dựng công trình Tuy cùng là một công trình xây dựng nhưng do công ty xây dựng khác nhau, cửa hàng cung ứng nguyên liệu, thiết bị, máy móc khác nhau, nguồn nhân, tài, vật lực khác nhau nên các công trình kiến trúc cũng có kiểu dáng, phong cách, chất lượng không giống nhau Ngoài ra, trong quá
Trang 11trình thực hiện, công ty xây dựng được uỷ quyền còn phải chịu sự ràng buộc về giá thành, phải tính toán sao cho với cái giá thấp nhất có thể tạo ra một công trình kiến trúc có chất lượng cao nhất, phù hợp nhất với yêu cầu của khách hàng
1.1.2.6 Dự án luôn có tính bất định và rủi ro
Mỗi dự án đều có tính không xác định của nó, tức là trong khi thực hiện dự
án cụ thể do sự tác động của hoàn cảnh bên trong và bên ngoài nên việc thực hiện
đó tất nhiên có sự thay đổi so với kế hoạch ban đầu Dự án có thể hoàn thành trước thời gian hoặc có thể bị kéo dài thời hạn thi công Cũng có thể do sự biến đổi về điều kiện kinh tế nên giá thành thực hiện dự án sẽ cao hơn giá dự kiến ban đầu, thậm chí kết quả thực hiện dự án cũng không giống với kết quả dự định Những hiện tượng trên đều là tính không xác định của dự án, đôi khi ta có thể gọi đó là tính rủi ro của dự án Vì thế, trước khi thực hiện dự án cần phân tích đầy đủ các nhân tố bên trong và bên ngoài mà chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến dự án Trong quá trình thực hiện mục tiêu dự án cũng cần tiến hành quản lý và khống chế có hiệu quả nhằm tránh được những sai sót xảy ra
1.1.2.7 Tính trình tự trong quá trình thực hiện dự án
Mỗi dự án đều là nhiệm vụ có tính trình tự và giai đoạn Đây chính là khác biệt lớn nhất giữa dự án với nhiệm vụ công việc mang tính trùng lặp Cùng với sự kết thúc hợp đồng và bàn giao kết quả thì dự án cũng kết thúc, vì thế dự án không phải là nhiệm vụ công việc lặp đi lặp lại và cũng không phải là công việc không có kết thúc Ví dụ, việc xây dựng một nhà máy giày dép là một dự án nhưng quá trình sản xuất giày dép mang tính trùng lặp hàng ngày lại không được coi là một dự án Mỗi dự án nên căn cứ vào điều kiện cụ thể để tiến hành quản lý hệ thống và thực hiện dự án phải có tính trình tự và giai đoạn
1.1.2.8 Người ủy quyền riêng của dự án
Mỗi dự án đều có người ủy quyền chỉ định riêng hay còn gọi là khách hàng
Đó chính là người yêu cầu về kết quả dự án và cũng là người cung cấp nguyên vật liệu để thực hiện dự án Họ có thể là một người, một tập thể, một tổ chức hay nhiều
tổ chức có chung nhu cầu về kết quả một dự án Khi một công ty xây dựng xây một toà nhà cho một cơ quan nào đó thì cơ quan này chính là người ủy quyền của dự án; một nhà máy sản xuất vũ khí cho quân đội được Chính phủ cấp cho một khoản vốn
Trang 12để nghiên cứu, sản xuất một loại vũ khí mới thì lúc đó Chính phủ là người ủy quyền của dự án
Tuy nhiên trong một số trường hợp, người ủy quyền của dự án cũng chính là người được ủy quyền Ví dụ, một tập đoàn doanh nghiệp bỏ ra một vốn để thành lập một nhóm dự án chuyên nghiên cứu sản xuất một loại sản phẩm mới với mong muốn trong vòng một năm, tổ dự án đó có thể cho ra đời loại sản phẩm đó Trong trường hợp này, tập đoàn doanh nghiệp vừa là người ủy quyền vừa là người được
ủy quyền của dự án
1.2 Tổng quan về đánh giá dự án đầu tư
1.2.1 Nhiệm vụ, mục tiêu về đánh giá
Đánh giá là các công cụ quản lý quan trọng để theo dõi tiến độ thực hiện và hỗ trợ quá trình ra quyết định Đánh giá là để đáp ứng yêu cầu của một vài nhà tài trợ, thông qua việc xem xét kỹ lưỡng công việc, tổ chức của dự án mà ta có thể thiết kế các chương trình và hoạt động một cách hiệu quả hơn mang lại những lợi ích lớn hơn cho cộng đồng
Đánh giá là quá trình đánh giá một cách có hệ thống và khách quan một dự
án, chương trình hoặc một chính sách đang được thực hiện hoặc đã hoàn thành từ giai đoạn thiết kế đến triển khai và các kết quả đạt được Mục đích của việc đánh giá là để xác định tính phù hợp và mức độ hoàn thành các mục tiêu, tính hiệu quả, tác động và tính bền vững Quá trình đánh giá cần cung cấp thông tin đáng tin cậy
và hữu ích, cho phép lồng ghép những bài học kinh nghiệm vào quá trình ra quyết định của các nhà tài trợ và của đối tượng tiếp nhận tài trợ
Cơ sở thực hiện đánh giá đầu tư:
Công tác đánh giá đầu tư thực hiện dựa trên cơ sở các quy định của Nhà nước
về quản lý đầu tư xây dựng công trình nhằm mục đích đánh giá chất lượng công tác đầu tư, hiệu quả đầu tư và sự phù hợp với quy hoạch, kế hoạch phát triển của ngành,
của địa phương Từ đó đề xuất các biện pháp phù hợp, kịp thời xử lý những sự cố phát sinh trong quá trình chuẩn bị cũng như thực hiện đầu tư nhằm đảm bảo công trình được đầu tư đúng quy hoạch, kế hoạch, mục đích, mục tiêu và đảm bảo hiệu
quả kinh tế, xã hội
Trang 13Các quy định của Nhà nước về quản lý đầu tư xây dựng công trình được áp
dụng gồm:
Luật xây dựng số 16/2003/QH11 ngày 26/11/2003;
Luật đấu thầu số 61/2005/QH11 ngày 29/12/2005;
Nghị định số 58/2008/NĐ – CP ngày 05/05/2008 của Chính phủ hướng dẫn thi hành luật đấu thầu và lựa chọn nhà thầu xây dựng theo Luật xây dựng;
Nghị định số 209/2004/NĐ – CP ngày 16/12/2004 về quản lý chất lượng công trình xây dựng và số 49/2008/NĐ – CP ngày 18/04/2008 về việc sửa đổi, bổ sung
Nghị định số 84/2007/NĐ – CP ngày 25/05/2007 quy định bổ sung về việc cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình
tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;
Thông tư số 03/2003/TT – BKH ngày 19/05/2003 của Bộ Kế Hoạch và Đầu tư hướng dẫn công tác giám sát, đánh giá đầu tư;
Quyết định số 675/QĐ – BNN – XD ngày 03/03/2008 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn về việc ủy quyền cho Chủ đầu tư trong quá trình
thực hiện các dự án sử dụng vốn Ngân sách nhà nước do Bộ Nông Nghiệp & PTNT
quản lý
1.2.2 Nội dung đánh giá:
1.2.2.1 Đánh giá tổng thể đầu tư:
Trang 14Hình 1.1: Sơ đồ nội dung giám sát, đánh giá tổng thể đầu tư
Phản ánh tình hình, đánh giá mức độ đạt được, phân tích nguyên nhân, tìm biện pháp nâng cao hiệu quả đầu tư Việc đánh giá tổng thể đầu tư của nền kinh tế,
ngành, địa phương, vùng lãnh thổ gồm:
− Tổng hợp, phân tích tình hình và kết quả đầu tư theo các chỉ tiêu
− Đánh giá mức độ đạt được so với quy hoạch, kế hoạch, kỳ trước
− Xác định nguyên nhân ảnh hưởng, đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả, đánh giá tính khả thi của các quy hoạch được duyệt
1.2.2.2 Đánh giá dự án đầu tư
Đánh giá dự án là hoạt động định kỳ, xem xét toàn diện, có hệ thống và khách quan về tính phù hợp, hiệu quả, hiệu suất, tác động và mức độ bền vững của chương trình, dự án để có những điều chỉnh cần thiết và rút ra những bài học kinh nghiệm
để áp dụng cho giai đoạn thực hiện tiếp theo và áp dụng cho các chương trình, dự án khác
Công tác đánh giá được tiến hành định kỳ và đột xuất (khi cần thiết) Công tác đánh giá định kỳ được tiến hành theo 4 giai đoạn chủ yếu sau:
- Đánh giá ban đầu: tiến hành ngay sau khi bắt đầu thực hiện chương trình, dự
án nhằm xem xét tình hình thực tế của chương trình, dự án so với văn kiện được duyệt để có biện pháp xử lý ngay từ khâu thiết kế kỹ thuật và lập kế hoạch thực hiện chi tiết;
Trang 15- Đánh giá giữa kỳ: tiến hành vào giữa thời gian thực hiện chương trình, dự án nhằm xem xét quá trình thực hiện từ khi bắt đầu và đề xuất các điều chỉnh cần thiết;
- Đánh giá kết thúc: tiến hành ngay sau kết thúc thực hiện chương trình, dự án nhằm xem xét các kết quả đạt được và tổng kết toàn bộ quá trình thực hiện, rút ra các kinh nghiệm cần thiết làm cơ sở lập báo cáo kết thúc chương trình, dự án;
- Đánh giá tác động: tiến hành vào một thời điểm thích hợp trong vòng 3 năm,
kể từ ngày đưa chương trình, dự án vào khai thác, sử dụng nhằm làm rõ hiệu quả, tính bền vững và tác động kinh tế - xã hội của chương trình, dự án so với mục tiêu đặt ra ban đầu
Ban quản lý dự án có trách nhiệm thường xuyên theo dõi, đánh giá chương trình, dự án theo các quy định dưới đây:
- Xây dựng kế hoạch tổng thể và kế hoạch chi tiết hàng năm thực hiện chương trình, dự án, trong đó xác định rõ các nguồn lực sử dụng, tiến độ thực hiện, thời hạn hoàn thành, mục tiêu chất lượng và tiêu chí chấp nhận kết quả đối với từng hoạt động của chương trình, dự án để làm cơ sở theo dõi, đánh giá Kế hoạch tổng thể thực hiện dự án phải được Ban quản lý dự án chuẩn bị trước ngày khởi động chương trình, dự án 3 tháng và phải được chủ dự án phê duyệt Kế hoạch chi tiết hàng năm phải được xây dựng trên cơ sở thống nhất với nhà tài trợ và trình chủ dự
án phê duyệt phù hợp với lịch biểu xây dựng kế hoạch hàng năm của cơ quan chủ quản;
- Thiết lập hệ thống thông tin nội bộ, thu thập và lưu trữ đầy đủ thông tin, dữ liệu, hồ sơ, tài liệu, sổ sách, chứng từ của chương trình, dự án, báo cáo của các nhà thầu, những thay đổi trong chính sách, luật pháp của Nhà nước và các quy định của nhà tài trợ liên quan đến việc quản lý thực hiện;
- Lập báo cáo thực hiện theo quy định, cung cấp, chia sẻ thông tin thông qua
hệ thống thông tin theo dõi, đánh giá cấp ngành, địa phương và cấp quốc gia;
- Thuê tư vấn tiến hành đánh giá ban đầu, giữa kỳ và kết thúc theo nội dung báo cáo khả thi hoặc văn kiện chương trình, dự án đã được phê duyệt; làm đầu mối phối hợp với nhà tài trợ hoặc cơ quan quản lý có thẩm quyền để đánh giá chương trình, dự án
Trang 16Chủ dự án có trách nhiệm chỉ đạo, đôn đốc, hỗ trợ Ban quản lý dự án trong việc theo dõi, đánh giá chương trình, dự án Trường hợp có khó khăn, vướng mắc
mà không tự xử lý được, chủ dự án phải kịp thời đề nghị các cấp có thẩm quyền giải quyết
Chủ dự án có trách nhiệm công bố công khai với các tổ chức chính trị, xã hội, chính quyền địa phương và các cơ quan dân cử tại địa bàn có chương trình, dự án về mục đích, nội dung các hoạt động, quy mô vốn ODA và vốn đối ứng của chương trình, dự án; cơ cấu tổ chức và quy chế hoạt động của Ban quản lý dự án để tranh thủ sự giám sát của cộng đồng trong quá trình thực hiện
Cơ quan chủ quản có trách nhiệm theo dõi tình hình thực hiện các chương trình, dự án thuộc thẩm quyền quản lý; phản hồi đầy đủ và kịp thời các báo cáo của chủ dự án; tiến hành phân tích danh mục các chương trình, dự án để xác định mức
độ thực hiện
Cơ quan chủ quản có trách nhiệm xem xét các kết quả đánh giá các chương trình, dự án do các chủ dự án thuộc thẩm quyền quản lý tiến hành Trong những trường hợp cần thiết cơ quan chủ quản phối hợp với nhà tài trợ và các cơ quan liên quan tổ chức đánh giá đột xuất các chương trình, dự án
Trong trường hợp cần thiết, Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ quản lý ngành và địa phương thành lập đoàn công tác liên ngành làm việc trực tiếp với chủ dự án và Ban Quản lý dự án để xem xét, đánh giá và giải quyết theo thẩm quyền những kiến nghị liên quan đến chương trình, dự án đó Đối với những vấn đề vượt quá thẩm quyền, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có trách nhiệm tổng hợp ý kiến của các cơ quan liên quan trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định
Đánh giá qua tất cả các tài liệu của dự án:
- Tổ chức theo dõi, tổng hợp phân tích tình hình
- Kiểm tra xem xét thường xuyên
+ Kiểm tra thường xuyên qua báo cáo
+ Thực hiện giám sát tại chỗ
- Tổ chức đánh giá đầu tư
Trang 17+ Đánh giá định kỳ
+ Đánh giá theo yêu cầu của cấp trên
Hình 1.2: Sơ đồ trình tự giám sát, đánh giá tổng thể đầu tư
Tất cả các dự án nên giám sát, đánh giá thường xuyên liên tục để kịp thời điều chỉnh Công tác giám sát đánh giá sau dự án càng quan trọng để khẳng định lại dự
án có đạt hiệu quả, mục tiêu đề ra so với mục tiêu dự kiến ban đầu hay không, có cần đầu tư thêm để nâng cao hiệu quả đầu tư không Mục đích cụ thể của công tác giám sát đánh giá là:
- Đảm bảo hoạt động đầu tư có hiệu quả, đúng mục tiêu, đúng định hướng phát triển kinh tế, đúng luật pháp
Kiến nghị giải pháp xử lý Kiểm tra thực
tế
Trang 18- Giúp cơ quan quản lý nhà nước nắm sát và đánh giá đúng:
+ Tình hình, kết quả, tiến độ thực hiện đầu tư
+ Tồn tại, khó khăn
+ Phát hiện để ngăn chặn sai phạm, thất thoát, lãng phí trong quá trình đầu tư
- Giúp các cơ quan hoạch định chính sách có tư liệu thực tế để nghiên cứu về cơ cấu đầu tư và chính sách thúc đẩy đầu tư cho từng thời kỳ
1.3 Vấn đề di dân, tái định cư thuỷ điện
1.3.1 Tổng quan về vấn đề di dân và tái định cư
1.3.1.1 Khái niệm di dân
Di dân là quá trình phân bố lại lực lượng lao động và dân cư, và là nhân tố quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội Di dân và quá trình tập trung dân số ở địa bàn nơi đến luôn đặt ra những thách thức mới cho sự nghiệp phát triển kinh tế -
xã hội bền vững, đặc biệt trong mối quan hệ với các nguồn lực tự nhiên, môi trường của các vùng miền đất nước
Theo nghĩa rộng, di dân là sự chuyển dịch bất kỳ của con người trong một không gian, thời gian nhất định kèm theo sự thay đổi nơi cư trú tạm thời hay vĩnh viễn Với khái niệm này, di dân đồng nhất với sự di động dân cư Theo nghĩa hẹp,
di dân là sự di chuyển dân dân cư từ một đơn vị lãnh thổ này đến một đơn vị lãnh thổ khác nhằm thiết lập một nơi cư trú mới trong một khoảng thời gian nhất định Tóm lại, khái niệm di dân có thể được tóm tắt theo các điểm chung như sau:
- Người di dân di chuyển ra khỏi một địa dư nào đó đến nơi khác sinh sống
- Người di chuyển bao giờ cũng có những mục đích, họ đến một nơi nào đó và định cư tại đó trong một thời gian để thực hiện mục đích đó
- Di dân gắn liền với sự thay đổi công việc, nơi làm việc, công việc nghề nghiệp, sở thích, lối sống,
Có nhiều cách phân loại di dân theo các góc độ khác nhau như:
- Theo khoảng cách di chuyển, gồm có: di dân nông thôn - thành thị, di dân nông thôn - nông thôn,
Trang 19- Theo độ dài thời gian cư trú, gồm có: di chuyển ổn định, di chuyển tạm thời,
- Theo đặc trưng di dân:
+ Di dân có tổ chức: là hình thái di chuyển dân cư được thực hiện theo kế hoạch và theo chương trình mục tiêu nhất định do nhà nước, chính quyền các cấp vạch ra và tổ chức, thực hiện với sự tham gia của các tổ chức đoàn thể xã hội Về nguyên tắc, người dân di chuyển có tổ chức được nhà nước và chính quyền địa phương nơi nhập cư giúp đỡ Di dân có tổ chức có thể giảm bớt khó khăn cho những người nhập cư, tăng nguồn lực lao động địa phương, có thể tránh được việc khai thác tài nguyên thiên nhiên bừa bãi gây ảnh hưởng xấu tới môi trường
+ Di dân tự phát (tự do): là hình thái di dân mang tính cá nhân do bản thân người di chuyển hoặc bộ phận gia đình quyết định, không có và không phụ thuộc vào kế hoạch và sự hỗ trợ của nhà nước và câc cấp chính quyền Di dân tự phát phản ánh tính năng động và vai trò độc lập của cá nhân và hộ gia đình trong việc giải quyết đời sống, tìm công ăn việc làm
1.3.1.2 Tái định cư
Tái định cư là việc phải di chuyển đến một nơi khác để sinh sống, đây là thuật ngữ chung liên quan tới bị thu hồi đất, mất đất, mất chỗ ở, mất tài sản, mất nguồn thu nhập hay mất những phương tiện kiếm sống khác
Theo khái niệm của Ngân hàng Phát triển châu Á năm 1995, tái định cư được phân loại dựa trên thiệt hại của người tái định cư:
- Thiệt hại về tài sản sản xuất, bao gồm đất đai, thu nhập và đời sống
- Thiệt hại về nhà ở, có thể là toàn bộ cộng đồng và các hệ thống, dịch vụ kèm theo
Trang 20- Thiệt hại về các tài sản khác
- Thiệt hại về các nguồn tài nguyên của cộng đồng như môi trường sinh sống, văn hóa, và hàng hóa
1.3.1.3 Tái định cư tự nguyện và không tự nguyện
Tái định cư được hiểu là con người tạo dựng cuộc sống ở nơi cư trú mới sau khi rời khỏi nơi cư trú cũ của họ Thực tế có nhiều lý do mà người dân phải tái định
cư và có thể chia ra thành hai loại: Tái định cư bắt buộc (do những điều kiện khách quan như chiến tranh, thiên tai, xây dựng công trình, thu hồi đất, ) và tái định cư tự nguyện (do nhu cầu người dân muốn cải thiện cuộc sống)
Thực tế tại Việt Nam có nhiều hình thức tái định cư và được tổng hợp thành hai hình thức tái định cư phổ biến như sau:
(1) Tái định cư tập trung theo quy hoạch, kế hoạch chung, có tổ chức (còn gọi
là tái định cư bắt buộc):
- Di dân từ các tỉnh miền Bắc và miền Trung vào Tây Nguyên xây dựng các vùng kinh tế mới Hình thức này chủ yếu diễn ra trước năm 1990
- Xây dựng làng thanh niên lập nghiệp và các khu giãn dân
- Xây dựng các công trình phục vụ lợi ích quốc gia (các công trình thủy điện tại Tây Nguyên, Sơn La, )
TĐC không tự nguyện là việc tái định cư do người dân bị trưng dụng đất để xây dựng dự án vì lợi ích chung của cộng đồng Việc TĐC không tự nguyện liên quan tới tất cả lứa tuổi và giới, những mong muốn của một số người bị ảnh hưởng
có thể không được đáp ứng Rất nhiều người có thể gặp rủi ro và thiếu động lực, sáng tạo để di chuyển, tái lập nơi ở mới và thực hiện những định hướng mới Phụ
nữ và những hộ gia đình do họ đứng đầu thường chịu nhiều thiệt thòi vì đền bù lại thường chỉ giành cho nam giới, những hộ do phụ nữ đứng đầu lại thường trong tình trạng kinh tế mong manh, hơn nữa phụ nữ thường bị hạn chế trong tiếp cận các dịch
vụ hỗ trợ Không có sự giúp đỡ mạnh mẽ, thì những người bị TĐC không tự nguyên
sẽ trở nên nghèo khó Nếu việc TĐC không tự nguyện là không thể tránh khỏi thì nó cần được hoạch định và thực thi một cách chu đáo để kinh tế có thể được tăng trưởng và giảm được nghèo đói, đặc biệt đối với những người dễ bị tổn thương Ba yếu tố quan trọng của TĐC không tự nguyện đó là: i) Bồi thường tài sản bị mất, hỗ
Trang 21trợ thay đổi thu nhập và cuộc sống của người dân; ii) Trợ giúp giúp di dời và cung cấp các dích vụ cần thiết giúp ổn định và nâng cao đời sống; iii) Giúp người dân có cuộc sống bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ
(2) TĐC tự nguyện: di cư tự phát vào Tây Nguyên từ các tỉnh miền Bắc và miền Trung, trong đó có cả nhân dân các dân tộc ở miền núi phía Bắc như Tày, Nùng, Dao, Sán Chỉ, H’Mông Di dân tự phát diễn ra mạnh ở một số thời điểm và thường gây áp lực lớn về đất đai
Những người TĐC tự nguyện được tự quyết định lựa chọn Họ thường là nam giới ở lứa tuổi trẻ hoặc trung niên vì vậy họ khá năng động, sáng tạo và chấp nhận rủi ro Chính phủ sẽ tổ chức các chương trình tái định cư được quy hoạch trước, các chương trình này không chỉ quy hoạch nơi ở mới mà còn quy hoạch điều kiện sống tại nơi ở mới, cung cấp các dịch vụ xã hội và thậm chí phục vụ cả nhu cầu văn hóa
và tôn giáo
1.3.2 Di dân tái định cư trong các công trình thuỷ điện
Di dân tái định cư trong các công trình thuỷ điện thường là di dân không tự nguyện để giải phóng mặt bằng, thi công công trình thuỷ điện Các công trình thuỷ điện đều mang tính quan trọng quyết định đối với sự phát triển của địa phương, khu vực và quốc gia Tuy nhiên, chúng cũng làm nảy sinh mâu thuẫn giữa mục đích phát triển quốc gia lâu dài với quyền lợi của các cộng đồng và cá nhân - những người chịu bất lợi trước tiên Các dự án này đều có thể tác động bất lợi tới những người đang sử dụng các nguồn tài nguyên như đất đai, nguồn nước, hay các loại tài nguyên thiên nhiên khác và các phương tiện kinh tế, xã hội, văn hoá và tôn giáo liên quan
Điều quan trọng là phải cân nhắc lợi ích đạt được với cái giá phải trả cho các ảnh hưởng này bằng cách xem xét các phương án triển khai hoặc không phải di dân, hoặc chỉ gây gián đoạn nhỏ về kinh tế, xã hội và tìm ra cách để hoà hợp những quyền lợi và mâu thuẫn nói trên Trường hợp không tránh khỏi tái định cư, phải tiến hành các biện pháp cụ thể nhằm đạt được các nội dung như sau:
- Bảo vệ quyền lợi và cuộc sống của những người bị di chuyển do dự án
- Giảm và đền bù những thiệt hại về tiềm năng kinh tế của người bị ảnh hưởng, của nền kinh tế khu vực và địa phương
Trang 22- Hỗ trợ phát triển tiềm năng kinh tế, xã hội và văn hoá cho các cộng đồng và người bị ảnh hưởng
Quy trình TĐC: Thông thường, một dự án TĐC thường trải qua ba gia đoạn, mỗi giai đoạn sẽ tiến hành các công tác khác nhau Để đảm bảo TĐC có hiệu quả thì các giai đoạn cần được thực hiện một cách có liên kết và đầy đủ
Hình 1.3: Quy trình TĐC
1.3.3 Đặc điểm của di dân tái định cư trong các công trình thuỷ điện
Việc xây dựng các công trình thuỷ điện luôn gắn với công tác tái định cư, nhất là ở các công trình lớn, trở thành một vấn đề thường xuyên được xã hội và cộng đồng quốc tế quan tâm hiện nay dù ở quốc gia phát triển hay đang phát triển, vì sự công bằng và tính nhạy cảm của nó Đặc biệt hơn đối tượng tái định cư là các nhóm dân tộc thiểu số, sinh sống ở miền núi - vùng cao, dễ bị tổn thương do đa số rất nghèo, tập quán sản xuất lạc hậu, tâm lý sống gắn bó với môi trường rừng
Khía cạnh xã hội
Khía cạnh thời gian
Xem xét nguồn tài chính
GĐ khả thi
Quản lý đề án
Kế hoạch TĐC
Trang 23Do tính chất công trình, địa điểm xây dựng các nhà máy thuỷ điện đều nằm tại địa bàn miền núi Việc phát triển các công trình thuỷ điện kéo theo vấn đề thu hồi đất
và di dời dân cư để xây dựng các hồ chứa và công trình nhà máy với diện tích thu hồi sử dụng lớn tới hàng chục ngàn ha và phần lớn đất ngập lại là các thung lũng, vùng đất thấp, có nơi rất bằng phẳng, màu mỡ, quần cư đông đúc
Các công trình thuỷ điện có tác động ảnh hưởng nhiều mặt đến đời sống kinh tế - xã hội của các vùng bị ảnh hưởng, đặc biệt là đối với các đối tượng phải di dời Việc thay đổi điều kiện, môi trường sống của người dân là một vấn đề lớn đối với mỗi cá nhân và các cộng đồng, vì khả năng thích nghi của họ rất có hạn Đây là đối tượng Nhà nước cần có sự quan tâm đặc biệt trong chính sách tái định cư để đảm bảo công bằng lợi ích, tính phù hợp và toàn diện nhằm đảm bảo ổn định cuộc sống cho đồng bào
Các công trình thuỷ điện chủ yếu được đầu tư xây dựng ở bên các con sông có địa hình đồi núi cao Mục đích xây dựng nhằm lợi dụng địa thế tự nhiên để hình thành các hồ chứa nhân tạo Một nhà máy thuỷ điện không chiếm nhiều diện tích nhưng hồ chứa nước để đảm bảo vận hành nhà máy chiếm diện tích rất lớn, từ vài
km2đến hàng trăm km2(diện tích hồ thuỷ điện Hoà Bình là 208 km2, Sơn La là 224
km2) Điều đó cũng có nghĩa là có diện tích đất tương ứng bị mất đi, hơn nữa, đó chủ yếu là diện tích canh tác đã ổn định lâu đời (do điều kiện đất ở đây gần nguồn nước, trong thung lũng và được canh tác lâu đời chủ yếu là đất tốt)
Nhiều dự án di dân TĐC không tự nguyện có nhiều bất lợi kinh tế, xã hội và môi trường, tác động đến người dân di dời Các ngôi nhà được bị bỏ rơi, hệ thống sản xuất bị phá bỏ, tài sản sản xuất và các nguồn thu nhập bị mất Người phải di dời
có thể được chuyển đến môi trường mà kỹ năng của họ có thể ít được áp dụng, sự cạnh tranh cho các nguồn lực có thể lớn, văn hoá không tương thích Cấu trúc cộng đồng, mạng xã hội, và mối quan hệ thân tộc có thể bị hỏng hoặc suy yếu Bản sắc văn hóa, quyền hạn truyền thống, và tiềm năng giúp đỡ lẫn nhau có thể bị giảm bớt
Số lượng người dân phải tái định cư và bị ảnh hưởng một phần từ các dự án thuỷ điện thông thường cũng rất lớn, xem Bảng 1.1: Ảnh hưởng của các công trình
thuỷ điện trên sông Đà
Trang 24Bảng 1.1: Ảnh hưởng của các công trình thủy điện trên sông Đà
TT Công trình thuỷ điện Số người bị ảnh hưởng Số người phải TĐC
Nguồn: Nghiên cứu về tái định cư ở Tây Bắc Việt Nam (2007)
Đặc điểm nổi bật của di dân TĐC công trình thủy điện đó là:
+ Những người dân tại vùng chịu ảnh hưởng phải di dời TĐC còn nghèo
+ Trình độ nhận thức còn hạn chế
+ Phần lớn là người dân tộc, không đủ ăn hàng năm
Với những đặc điểm đó, các dự án di dân TĐC sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của huyện, xã cũng như của toàn tỉnh chịu ảnh hưởng và có khả năng sẽ làm cho chính quyền địa phương khó khăn hơn trong việc đạt được những mục tiêu đã đề ra
Trang 25C HƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ SAU THỰC HIỆN DỰ ÁN DI DÂN TÁI ĐỊNH CƯ
THỦY ĐIỆN TUYÊN QUANG 2.1 Giới thiệu về Dự án Di dân, tái định cư thuỷ điện Tuyên Quang
Dự án di dân tái định cư (TĐC) thuỷ điện Tuyên Quang được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể tại Quyết định số 08/2007/QĐ-TTg ngày 12/01/2007 với các nội dung chính sau:
2.1.1 Mục tiêu của dự án
Di dân, tái định cư dự án thuỷ điện Tuyên Quang phải tạo được điều kiện để đồng bào TĐC có đời sống tốt hơn nơi ở cũ, trên cơ sở khai thác tiềm năng về tài nguyên và sức lao động, từng bước thay đổi cơ cấu kinh tế, phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập, cuộc sống vật chất, tinh thần ngày càng tốt hơn, góp phần phát triển kinh tế - xã hội vùng Đông Bắc theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, quốc phòng, an ninh và bảo
vệ môi trường sinh thái
2.1.2 Yêu cầu
Công tác di dân, tái định cư phải được các cấp, các ngành, các đoàn thể phối hợp chặt chẽ để tổ chức thực hiện theo phương châm: Trung Ương quy định và hướng dẫn cơ chế, chính sách chung, tỉnh cụ thể hoá và triển khai thực hiện
2.1.3 Phương án Quy hoạch di dân, tái định cư
2.1.3.1 Về thiệt hại
- Tổng diện tích đất đai bị ngập của tỉnh Tuyên Quang là 5.360,5 ha trong đó diện tích đất nông nghiệp là 3.435 ha chiếm 64,1% Bình quân diện tích đất sản xuất thu hồi của 01 hộ phải di chuyển là từ 8.200 m2đến 8.300 m2 (trong đó đất 1 vụ lúa 1.100 đến 1.200 m2, đất 2 vụ lúa 1.500 đến 1.600 m2, đất mầu 4.400 đến 4.600 m2, đất vườn và đất cây lâu năm 1.000 m2)
- Tài sản của hộ phải di chuyển: Tổng số có 4.139 căn nhà phải bồi thường với diện tích 323.757 m2, trong đó: Nhà sàn: 1.246 nhà, với diện tích 134.626 m2
; Nhà trệt: 2.893 nhà, với diện tích 189.131 m2 cùng toàn bộ vật kiến trúc kèm theo nhà Ngoài ra còn thiệt hại về cây trồng, vật nuôi trên đất thu hồi
- Mồ mả phải di chuyển là 6.016 mộ
Trang 26- Thiệt hại về công trình kết cấu hạ tầng gồm: 114,3 km đường giao thông; 31,405 km kênh mương kiên cố; 60 phai đập; 01 hồ chứa; 148 km đường dây điện
từ 0,4 đến 35 KV; 20 trạm biến áp; 01 trạm thuỷ điện nhỏ; 11 công trình cấp nước tập trung; 47 giếng đào lắp máy bơm tay; 130 lu nước 02m3
; 39.429 m2 nhà trụ sở, trường học, trạm y tế, bưu điện Ngoài ra còn nhiều điểm khoáng sản, các di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh cũng bị ngập
2.1.3.2 Số dân phải di chuyển
Số hộ dân phải di chuyển trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang theo quy hoạch được duyệt là 4.204 hộ với 20.398 khẩu Trong đó theo Quyết định số 08/QĐ-TTg
là 4.139 hộ và 20.138 khẩu thuộc 88 thôn, bản, tổ dân phố và theo công văn số 674/TTg-KTN ngày 7/5/2008 bổ sung thêm 56 hộ với 260 số khẩu tại thôn Nà Trác,
xã Trùng Khánh, thôn Khuổi Tranh, xã Khau Tinh và thôn Nà Khuyến, xã Yên Hoa, huyện Na Hang
Nhân dân trong vùng ngập và vùng bị ảnh hưởng bởi dự án thuỷ điện chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số (chiếm 89,8%) gồm: Tày 54,8%, Dao: 29,2%, H’Mông: 5,8%, còn lại dân tộc Kinh là 10,2% Nghề nghiệp chủ yếu là sản xuất nông nghiệp (chiếm 92%)
Đời sống của nhân dân còn nhiều khó khăn, theo kết quả phân loại hộ giàu nghèo đến cuối năm 2003 của toàn huyện Na Hang, trong đó có 11 xã vùng lòng hồ thì: Hộ giàu chiếm 1,2%, hộ khá chiếm 10,4%, hộ trung bình: 77,05% và hộ nghèo chiếm 11,35% Tỷ lệ hộ nghèo cao gấp 1,74 lần bình quân chung toàn tỉnh cùng thời điểm (6,54%)
2.1.3.3 Phương án bố trí tái định cư
- Về định hướng bố trí tái định cư của tỉnh: Tái định cư trong tỉnh là chính, hình thức tái định cư vừa tập trung vừa xen ghép Bố trí vào các vùng có tiềm năng
về đất đai để phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp Sử dụng nguồn lực đầu tư cho tái định cư đồng thời góp phần tạo nên động lực mới để phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng ở từng địa phương và toàn tỉnh
- Về tiêu chí lựa chọn vùng tái định cư: Có đủ đất ở và đất sản xuất cho dân tái định cư theo quyết định 937/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Có đủ nguồn nước
Trang 27đáp ứng nhu cầu nước cho sản xuất, sinh hoạt của nhân dân và được sự nhất trí cao của các cấp chính quyền và nhân dân địa phương
- Phương án bố trí tái định cư như sau: Số hộ dân phải di chuyển bố trí tái định
cư trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang là 4.139 hộ với 20.138 khẩu; Trong đó:
+ Bố trí tại các điểm tái định cư là 4.099 hộ, 19.980 khẩu
+ Số hộ dân tự di chuyển là 40 hộ, 158 khẩu
- Quỹ đất lập khu, điểm tái định cư được hình thành chủ yếu từ việc chuyển nhượng quyền sử dụng giữa người dân sở tại với người dân tái định cư; khai hoang
mở rộng diện tích
- Diện tích đất ở giao cho hộ TĐC:
+ Hộ TĐC nông nghiệp từ 200 m2
- 400m2+ Hộ TĐC phi nông nghiệp từ 150 m2
+ Vùng TĐC huyện Chiêm Hoá và vùng TĐC huyện Hàm Yên: mỗi khẩu TĐC nông nghiệp được giao bằng đất sản xuất nông nghiệp từ 400 m2 - 500m2 đất hai vụ lúa Ngoài ra tuỳ điều kiện quỹ đất từng xã có thể giao thêm đất màu hoặc đất rừng sản xuất cho nhân dân TĐC tăng gia sản xuất
+ Vùng TĐC huyện Yên Sơn: mỗi khẩu TĐC nông nghiệp được giao bằng đất sản xuất từ 400 m2
- 500m2 đất 2 vụ lúa hoặc 200 m2
- 300m2 đất 2 vụ lúa +
200 m2 - 300m2 đất lúa màu hoặc 100 m2 - 200m2 đất 2 vụ lúa + 800 m2 - 1100m2 đất màu Ngoài ra tuỳ điều kiện quỹ đất từng xã có thể giao thêm đất màu hoặc đất rừng sản xuất cho nhân dân TĐC tăng gia sản xuất
2.1.3.4 Thời gian thực hiện dự án: từ năm 2003 - 2006
Trang 282.1.4 Tổ chức thực hiện
2.1.4.1 Các Bộ
Kế Hoạch & Đầu tư, Tài Chính, Công Nghiệp, Xây Dựng, Nông nghiệp & Phát triển Nông Thôn, … Ngân hàng Nhà nước Việt nam, Tập đoàn Điện lực Việt Nam và các Bộ ngành có liên quan thực hiện nhiệm vụ của Bộ, ngành về công tác di dân TĐC dự án thuỷ điện Tuyên Quang đã được Thủ tướng Chính phủ giao tại quyết định số 288/QĐ - TTg ngày 19/4/2002 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đầu tư dự án thuỷ điện Tuyên Quang; Quyết định số 937/QĐ-TTg ngày 20/8/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc quy định tạm thời về bồi thường, TĐC
di dân dự án thuỷ điện Tuyên Quang; văn bản 259/CP-NN ngày 11/3/2003 của Thủ tướng Chính phủ giao cho UBND các tỉnh Tuyên Quang, Hà Giang, Bắc Kạn làm chủ đầu tư dự án di dân, TĐC dự án thuỷ điện Tuyên Quang trên điạ bàn từng tỉnh; văn bản số 1784/CP-CN ngày 26/11/2004 của Chính phủ về việc thi công đường tránh ngập thuỷ điện Tuyên Quang
Ngoài ra các Bộ, ngành còn thực hiện các nhiệm vụ cụ thể do Thủ tướng Chính phủ giao để giúp tỉnh hoàn thành đúng tiến độ và đảm bảo mục tiêu của dự
án di dân TĐC thuỷ điện Tuyên Quang
2.1.4.2 Trách nhiệm của UBND tỉnh
- Chỉ đạo lập, thẩm định, phê duyệt: quy hoạch chi tiết khu, điểm TĐC, các dự án thành phần theo cơ chế chính sách về bồi thường; TĐC dự án thuỷ điện Tuyên Quang tại quyết định số 937/QĐ-TTg ngày 20/8/2003 của Thủ tướng Chính phủ và các quy định hiện hành có liên quan Được phép điều chỉnh dự án bố trí TĐC; Quy mô các công trình kiến trúc hạ tầng phù hợp với điều kiện thực tế tại điểm TĐC nhưng không được làm tăng mức vốn đầu tư được phân bổ
- Thực hiện lồng ghép các chương trình, dự án khác trên địa bàn tỉnh với dự
án di dân TĐC thuỷ điện Tuyên Quang nhằm phát huy hiệu quả đầu tư, thúc đẩy phát triển Kinh tế - Xã hội của tỉnh
- Cấp ủy, chính quyền các cấp trong tỉnh giao, chỉ đạo nhiệm vụ cho các tổ chức đoàn thể nơi có dân đi, dân đến, tăng cường công tác tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành nghiêm chỉnh quy định về bồi thường, hỗ trợ, di dân TĐC và các chính sách có liên quan Thực hiện dân chủ, công khai trong quá trình triển khai
Trang 29dự án tạo điều kiện để người dân tham gia giám sát việc bồi thường, hỗ trợ, di dân TĐC Thực hiện tốt công tác chỉ đạo, kiểm tra giám sát việc thực hiện dự án để đảm bảo hiệu quả đầu tư
2.2 Các căn cứ, nội dung đánh giá sau Dự án di dân tái định cư thuỷ điện Tuyên Quang
2.2.1 Các căn cứ đánh giá sau dự án di dân tái định cư thủy điện Tuyên Quang
(1) Quyết định số 08/2007/QĐ-TTg ngày 12 tháng 01 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể di dân TĐC dự án thủy điện Tuyên Quang;
(2) Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về tiêu chí phát triển nông thôn mới;
(3) Nghị định số 84/2007/NĐ - CP ngày 25/05/2007 quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình
tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;
(4) Thông tư số 03/2003/TT – BKH ngày 19/05/2003 của Bộ Kế Hoạch và Đầu tư hướng dẫn công tác giám sát, đánh giá đầu tư;
(5) Các tài liệu liên quan đến dự án và các văn bản pháp quy khác
2.2.2 Nội dung đánh giá sau dự án di dân tái định cư thủy điện Tuyên Quang
Căn cứ quy hoạch tổng thể di dân TĐC thuỷ điện Tuyên Quang đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 08/2007/QĐ-TTg ngày 12 tháng 01năm 2007và thự tế triển khai công tác di dân TĐC trên địa bàn tỉnh Nội dung nghiên
cứu đánh giá bao gồm:
- Công tác kiện toàn tổ chức bộ máy chỉ đạo, thực hiện dự án;
- Công tác xây dựng, ban hành cụ thể hoá cơ chế, chính sách;
- Công tác tuyên truyền vận động;
- Kết quả chuyển dân và thực hiện bồi thường, hỗ trợ TĐC;
- Kết quả giải ngân vốn đầu tư;
Trang 30- Xác định những vấn đề còn tồn tại đề nghị Thủ tứong xem xét tiếp tục đầu tư tiếp tục đầu tư ổn định đời sống nhân dân vùng tái định cư thuỷ điện Tuyên Quang trên địa bàn tỉnh;
- Điều tra đánh giá thực trạng sản xuất, việc làm và thu nhập của hộ TĐC:
+ Thực trạng về mức diện tích các loại đất đã giao cho hộ TĐC sử dụng đất ở, đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp;
+ Thực trạng sản xuất, việc làm và thu nhập của hộ TĐC: sản xuất nông nghiệp, sản xuất phi nông nghiệp, mức thu nhập thực tế của hộ TĐC năm 2009;
+ Nguyện vọng của hộ TĐC về hỗ trợ để ổn định sản xuất phục hồi thu nhập và đảm bảo phát triển bền vững chung trong vùng TĐC (hộ dân TĐC, xã nhận dân TĐC, xã có dân phải di chuyển)
- Điều tra thực trạng kết cấu hạ tầng TĐC: khảo sát thực trạng hệ thống kết cấu
hạ tầng trên địa bàn khu TĐC: Công trình đã đầu tư xây dựng; công trình cần nâng cấp cải tạo, sửa chữa; Công trình đề xuất xây mới… Xác định rõ từng hạng mục cần
ưu tiên đầu tư thêm: Quy mô, khối lượng, lý do cần nâng cấp, cải tạo, làm mới … Đảm bảo cho người dân TĐC và dân sở tại cùng được hưởng lợi từ dự án
2.3 Tình hình thực hiện Dự án
2.3.1 Công tác tổ chức triển khai thực hiện dự án:
(1) Xây dựng bộ máy làm công tác di dân, tái định cư:
Trên cơ sở nhiệm vụ được Thủ tướng Chính phủ giao, Uỷ ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã ra quyết định thành lập các Ban Di dân, tái định cư với cơ cấu ở 2 cấp tỉnh và huyện và phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng ban, cụ thể:
Ban Di dân, tái định cư thuỷ điện Tuyên Quang là cơ quan trực thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh; Ban Di dân tái định cư các huyện trực thuộc Uỷ ban nhân dân huyện,
có nhiệm vụ tham mưu cho Uỷ ban nhân dân tổ chức thực hiện công tác di dân, tái định cư của dự án thuỷ điện Tuyên Quang trên địa bàn
Được sự chỉ đạo chặt chẽ của Thường trực Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân tỉnh,
Uỷ ban nhân dân tỉnh, Huyện uỷ và Uỷ ban nhân dân các huyện, Ban Di dân, tái định cư thuỷ điện Tuyên Quang và Ban Di dân tái định cư các huyện đã triển khai thực hiện và cơ bản hoàn thành công tác di dân TĐC
Trang 31(2) Công tác xây dựng, ban hành và cụ thể hóa cơ chế, chính sách
Thực hiện nhiệm vụ của Thủ tướng Chính phủ, Tập đoàn Điện lực Việt Nam
đã phối hợp với Uỷ ban nhân dân các tỉnh Tuyên Quang, Hà Giang, Bắc Kạn và các
Bộ, ngành liên quan nghiên cứu xây dựng quy định về bồi thường tái định cư trình Thủ tướng phê duyệt Ngày 20 tháng 8 năm 2003 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 937/QĐ-TTg Quy định tạm thời về bồi thường và tái định cư dự án thuỷ điện Tuyên Quang với 6 chương, 26 điều Nội dung chủ yếu của Quyết định số 937/QĐ-TTg tập trung vào những quy định như:
- Bồi thường thiệt hại về đất
- Bồi thường thiệt hại về tài sản
- Xây dựng khu tái định cư
- Hỗ trợ tái định cư
Theo đề nghị của các tỉnh Tuyên Quang, Hà Giang và Bắc Kạn, đến ngày 04 tháng 6 năm 2007 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 675/QĐ-TTg về việc đổi tên Quyết định và sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 937/QĐ-TTg cho phù hợp với điều kiện thực tế của các địa phương trong quá trình tổ chức thực hiện
Các Quyết định trên đây của Thủ tướng Chính phủ là cơ sở pháp lý trong quá trình lập dự án và tổ chức thực hiện công tác di dân, tái định cư
(3) Việc xây dựng và ban hành chính sách của Tỉnh
Sau khi được Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ thực hiện công tác di dân tái định cư, trong khi chưa có chính sách về bồi thường, tái định cư, tỉnh đã chủ động áp dụng các quy định hiện hành về đền bù, giải phóng mặt bằng của tỉnh tại thời điểm đó để thực hiện nhiệm vụ Sau khi Quyết định số 937/QĐ-TTg được ban hành, tỉnh đã ban hành các văn bản để quy định chi tiết các nội dung thuộc thẩm quyền của tỉnh để thực hiện
Sau khi có Quyết định số 675/QĐ-TTg ngày 04 tháng 6 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ, Uỷ ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo xây dựng và ban hành Quyết định số 309/QĐ-UBND ngày ngày 07 tháng 8 năm 2007 Quy định về đơn giá bồi thường, hỗ trợ và TĐC dự án thuỷ điện Tuyên Quang, theo nguyên tắc kế thừa,
Trang 32những quy định nào có lợi cho dân hơn thì tiếp tục áp dụng, những nội dung nào chưa phù hợp thì điều chỉnh cho phù hợp để thực hiện thống nhất trên toàn tỉnh
(4) Công tác tuyên truyền, vận động nhân dân
Công tác tuyên truyền vận động đã được các địa phương triển khai sâu rộng, đồng bộ, kịp thời thông qua nhiều hình thức như: báo viết, báo nói, báo hình Tỉnh
đã chỉ đạo các huyện và các cơ quan chuyên môn của tỉnh tổ chức tuyên truyền sâu, rộng trong cộng đồng nhân dân các dân tộc vùng lòng hồ về chủ trương của nhà nước xây dựng nhà máy thuỷ điện Tuyên Quang, các chính sách đối với các hộ dân phải di dời để xây dựng nhà máy thuỷ điện đồng thời động viên nhân dân tự giác chấp hành việc di chuyển, tái định cư theo kế hoạch đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành, được nhân dân đồng tình ủng hộ
(5) Công tác điều tra và thống kê thiệt hại vùng lòng hồ
Ngay sau khi được giao nhiệm vụ thực hiện công tác di dân, tái định cư, đồng thời với việc giải phóng mặt bằng công trình phục vụ khởi công và xây dựng nhà máy thuỷ điện, tỉnh đã khẩn trương tổ chức tổng kiểm kê đất đai, tài sản và con người vùng lòng hồ và khu vực mặt bằng công trình để làm căn cứ bồi thường, hỗ trợ
Để tiến hành việc tổng kiểm kê đất đai, tài sản cho toàn bộ các hộ gia đình và các tổ chức thuộc vùng lòng hồ thuỷ điện, Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định thành lập các tổ công tác, huy động 246 người là sinh viên các lớp tại chức Đại học Nông nghiệp của tỉnh, 26 người là cán bộ các cơ quan trong tỉnh, 12 người cán bộ Ban di dân tái định cư tỉnh, cùng toàn bộ cán bộ, công chức các xã vùng lòng hồ tham gia làm nhiệm vụ; tổ chức tập huấn, học tập các chế độ, chính sách, quy trình và đơn giá thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện công tác tổng kiểm kê
Trong thời gian từ tháng 10 năm 2002 đến tháng 01 năm 2003 đã tiến hành tổng kiểm kê chi tiết theo tiêu chí kiểm kê đền bù xong toàn bộ 4.410 hộ, 20.739 nhân khẩu (trong đó có 4.116 hộ phải di chuyển và 294 hộ bị ảnh hưởng không phải di chuyển)
Trang 33(6) Thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ cho nhân dân
- Căn cứ biên bản kiểm kê hợp pháp của từng hộ gia đình, căn cứ chính sách bồi thường, hỗ trợ của Chính phủ các Ban Di dân, tái định cư tỉnh Tuyên Quang lập
hồ sơ bồi thường trình Hội đồng bồi thường huyện Na Hang (cơ quan hành chính quản lý trực tiếp địa bàn có dân vùng lòng hồ phải di chuyển) xem xét sau đó: (1) thông báo tới các hộ tái định cư; (2) tiếp nhận những kiến nghị, đề nghị của nhân dân để tổng hợp và đề xuất phương án giải quyết
- Căn cứ kết quả xét của Hội đồng bồi thường huyện Na Hang và đơn giá bồi thường hỗ trợ của Chính phủ và của tỉnh, Ban Di dân tái định cư tỉnh Tuyên Quang
lập dự toán chi tiết cho từng hộ, từng thôn trình Hội đồng thẩm định của tỉnh để trình Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt
- Căn cứ kết quả phê duyệt của Uỷ ban nhân dân tỉnh, Ban di dân tái định cư tỉnh Tuyên Quang phối hợp với Uỷ ban nhân dân huyện và Uỷ ban nhân dân huyện
Na Hang công bố dự toán được duyệt tới từng hộ, từng thôn để đối chiếu và giải quyết những kiến nghị, đề nghị trước khi các hộ nhận tiền bồi thường và di chuyển theo kế hoạch
Toàn bộ các hộ dân trước khi di chuyển đều được nhận các khoản tiền bồi thường về tài sản trên đất, bồi thường xây dựng nhà nơi ở mới, hỗ trợ di chuyển, hỗ trợ ổn định đời sống và được khuyến khích thưởng di chuyển nếu di chuyển đúng tiến độ
Các khoản tiền hỗ trợ: hỗ trợ sản xuất, hỗ trợ sử dụng điện, hỗ trợ về y tế, hỗ trợ về giáo dục, hỗ trợ chăn nuôi được Uỷ ban nhân dân các huyện đón nhận, dân lập dự toán và thanh toán sau khi các hộ di chuyển đến nơi tái định cư
Quá trình bồi thường từ lập dự toán, lấy ý kiến các hộ dân về kết quả xét bồi thường đến khâu thanh toán tiền bồi thường đều được thực hiện dân chủ, công khai, đúng trình tự theo quy định của nhà nước Tiến độ bồi thường được căn cứ vào kế hoạch di chuyển, tái định cư, tổ chức di chuyển đến đâu thực hiện việc bồi thường đến đó
Tổng số có 4.410 hộ (trong đó có 4.116 hộ phải di chuyển và 294 hộ bị ảnh hưởng không phải di chuyển) đã được phê duyệt dự toán bồi thường, hỗ trợ với tổng
số tiền là 574,81 tỷ đồng, tăng 220,49 tỷ đồng so với Quy hoạch được duyệt tại
Trang 34Quyết định số 08/2007/QĐ-TTg (354,323 tỷ), nguyên nhân chủ yếu là do thay đổi chính sách bồi thường về nhà ở đã làm tăng 112 tỷ đồng, số còn lại là do các nguyên nhân như: điều kiện bồi thường về đất thực hiện từ 01/01/2005 theo Nghị định 197/2004/NĐ-CP có sự thay đổi so với quy định tại Nghị định 22/1998/NĐ-CP
áp dụng tại thời điểm lập Quy hoạch; giá đất trên địa bàn tỉnh có sự điều chỉnh hàng năm; đơn giá bồi thường một số nội dung về cây cối và vật kiến trúc được điều chỉnh cho phù hợp thực tế
2.3.2 Kết quả thực hiện dự án
Căn cứ quy định về tiêu chuẩn xây dựng khu tái định cư tại Quyết định số 937/QĐ-TTg ngày 20 tháng 8 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ, Uỷ ban nhân dân tỉnh đã giao cho Uỷ ban nhân dân các huyện có tiếp nhận hộ tái định cư làm chủ đầu tư xây dựng các khu tái định cư trên địa bàn huyện mình
Trong điều kiện hết sức cấp bách, yêu cầu công tác di chuyển dân phải đáp ứng tiến độ xây dựng nhà máy theo chỉ đạo của Chính phủ, việc xây dựng hạ tầng các dự án tái định cư được các huyện thực hiện theo phương châm: đầu tư xây dựng trước các hạng mục thiết yếu như mặt bằng đất ở, đường vào khu tái định cư, cấp điện và cấp nước sinh hoạt, để đón nhận dân, sau khi nhân dân di chuyển về sẽ tiếp tục đầu tư hoàn thiện các công trình còn lại theo dự án đầu tư được phê duyêt Thủ tướng Chính phủ đã cho phép tỉnh Tuyên Quang được chủ động lập, thẩm định và phê duyệt các dự án thành phần, chủ động lựa chọn nhà thầu trong nước để thi công xây dựng các dự án tái định cư đồng thời chỉ đạo các Bộ, ngành trung ương kịp thời cấp phát tạm ứng nguồn vốn trái phiếu chính phủ để tỉnh thực hiện công tác di dân, tái định cư
Kết quả cụ thể như sau:
2.3.2.1 Thực hiện việc di chuyển dân đến các khu, điểm TĐC:
Căn cứ vào số hộ, số khẩu phải di chuyển, căn cứ vào tiến độ xây dựng dự án nhà máy thuỷ điện Tuyên Quang, Uỷ ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo xây dựng và phê duyệt kế hoạch di dân cụ thể cho từng năm tại Quyết định số 184/2003/QĐ-UB ngày 23 tháng 12 năm 2003; Quyết định số 79/2004/QĐ-UBND ngày 24 tháng 11 năm 2004 và quyết định số 55/QĐ-UBND ngày 13 tháng 02 năm 2006
Trang 35Huyện Na Hang có trách nhiệm tuyên truyền, vận động nhân dân di chuyển theo kế hoạch; huy động lực lượng hỗ trợ nhân dân tháo dỡ nhà và bốc xếp lên phương tiện vận chuyển
Các hộ thuộc diện phải di chuyển, bố trí tái định cư đều được Uỷ ban nhân dân huyện Na Hang cùng với Uỷ ban nhân dân các huyện đón nhận dân tổ chức cho đại diện chủ hộ đi thăm đất tại điểm tái định cư Sau đó lập kế hoạch di chuyển cụ thể theo tháng, theo tuần và theo ngày để bố trí lực lượng hỗ trợ, các lực lượng hỗ trợ được huy động bao gồm: bộ đội, công an, đoàn viên thanh niên, cán bộ các cơ quan trong tỉnh, trong huyện Na Hang và nhân dân trong thôn, trong xã, những hộ
di chuyển sau sẽ phối hợp giúp đỡ những hộ di chuyển trước trong việc tháo dỡ, vận chuyển, bốc xếp nhà và tài sản lên phương tiện vận chuyển
Huyện đón nhận hộ tái định cư có trách nhiệm phối hợp với Ban Di dân, tái định cư tỉnh và Uỷ ban nhân dân huyện Na Hang cùng chính quyền cấp xã, thôn trực tiếp chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ cho nhân dân trước khi nhân dân di chuyển tái định cư; bố trí cán bộ thường xuyên có mặt tại thôn bản nơi đi để phối hợp giải quyết các vấn đề phát sinh có liên quan, liên hệ phương tiện vận chuyển tài sản giúp nhân dân di chuyển theo kế hoạch di chuyển
Tại các điểm TĐC, Uỷ ban nhân dân huyện thành lập các tổ công tác có nhiệm vụ trực tiếp thực hiện công tác giải phóng mặt bằng, xây dựng các điểm tái định cư, chuẩn bị trước các điều kiện thiết yếu để bố trí cho nhân dân di chuyển theo kế hoạch, gồm: mặt bằng đất ở, đường giao thông vào khu tái định cư, điện và nước sinh hoạt cho khu tái định cư Căn cứ kế hoạch di chuyển cụ thể của từng thôn
để huy động và bố trí lực lượng tại chỗ giúp nhân dân bốc dỡ tài sản, nhà cửa và xây dựng nhà ở nơi tái định cư Tổ chức đón nhận và bố trí tái định cư cho các hộ
và giúp nhân dân ổn định đời sống và sản xuất trên quê hương mới Mỗi thành viên trong tổ công tác đều được phân công nhiệm vụ cụ thể tại từng thôn bản di dân, tái định cư Tổ chức các đợt tuyên truyền, vận động các hộ dân sở tại giúp đỡ các hộ mới TĐC không chỉ bằng vật chất mà bằng cả tinh thần tạo nên mối quan hệ thiện cảm, cộng đồng giữa hộ sở tại và hộ TĐC
Mặc dù phải thực hiện di dân trong điều kiện hết sức khó khăn vừa triển khai thực hiện vừa xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách đền bù cho các hộ phải di chuyển, vừa tổ chức cho các hộ di chuyển Song với sự chỉ đạo chặt chẽ của Tỉnh
Trang 36uỷ, Hội đồng nhân dân tỉnh, Uỷ ban nhân dân tỉnh cùng với sự nỗ lực của các cấp, các ngành và tinh thần đồng thuận của nhân dân, đến nay đã tổ chức di chuyển và
bố trí sắp xếp tái định cư cho 4.116 hộ, 20.382 khẩu (trong đó có 49 hộ tách hộ đã
có Quyết định phê duyệt đồng ý tách hộ và giao đất ở tại nơi tái định cư) được bố trí
ở 125 điểm thuộc 42 dự án tái định cư, gồm:
- Huyện Na Hang: 16 dự án, 30 điểm tái định cư với 1.269 hộ, 5.983 khẩu
- Huyện Chiêm Hoá: 10 dự án, 35 điểm TĐC với 796 hộ, 4.241 khẩu
- Huyện Hàm Yên: 04 dự án, 30 điểm tái định cư với 505 hộ, 2.525 khẩu
- Huyện Yên Sơn: 11 dự án, 27 điểm tái định cư với 1.199 hộ, 5.859 khẩu (trong đó các dự án do UBND huyện Yên Sơn và Công ty chè Mỹ Lâm tiếp nhận 1.104 hộ, 5.498 khẩu; Ban di dân TĐC thủy điện Tuyên Quang 95 hộ, 361 khẩu)
- Thành phố Tuyên Quang: 01 dự án (trước đây thuộc huyện Yên Sơn), 3 điểm tái định cư với 81 hộ, 482 khẩu
- Tự di chuyển trong và ngoài tỉnh: 266 hộ, 1.292 khẩu
Việc di chuyển và bố trí TĐC trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang thực hiện trong
6 năm, cụ thể như sau:
Năm 2003 di chuyển 869 hộ, 3.971 khẩu
Năm 2004 di chuyển 832 hộ, 3.893 khẩu
Năm 2005 di chuyển 1.446 hộ, 7.608 khẩu
Năm 2006 di chuyển 762 hộ, 3.826 khẩu
Năm 2007 di chuyển 82 hộ, 452 khẩu
Năm 2008 đến nay di chuyển 125 hộ, 632 khẩu và cơ bản hoàn thành việc chuyển dân TĐC
2.3.2.2 Xây dựng điểm tái định cư và di chuyển bố trí dân:
Theo Quyết định 08/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ (viết tắt là Quyết định 08/QĐ-TTg), trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang có 4 vùng TĐC (thuộc 4 huyện: Na Hang, Chiêm Hoá, Hàm Yên, Yên Sơn), 36 khu TĐC (36 xã) 125 điểm TĐC bố trí 4.155 hộ, 20.240 khẩu gồm 4.099 hộ, 19.980 khẩu theo Quyết định số 08/QĐ-TTg
Trang 37và 56 hộ, 260 khẩu theo Công văn số 674/TTg-KTN bổ sung vào Quyết định 08/QĐ-TTg Số dân TĐC tự di chuyển là 40 hộ, 128 khẩu
Kết quả thực hiện của tỉnh Tuyên Quang: đã xây dựng tổng số 42 dự án trên địa bàn 4 huyện Na Hang, Chiêm Hoá, Hàm Yên, Yên Sơn và thành phố Tuyên Quang, 34 khu TĐC với 125 điểm TĐC bố trí 3.850 hộ/4.155 hộ, 19.090 khẩu/20.240 khẩu Ngoài ra, tỉnh còn xây dựng 2 dự án TĐC dự phòng nhưng không thực hiện đầu tư là: dự án đội Tân Phong, công ty chè Tân Trào, huyện Sơn Dương và dự án xã Thái Long, huyện Yên Sơn
- Huyện Na Hang 16 dự án gồm 30 điểm tái định cư;
- Huyện Chiêm Hoá 10 dự án gồm 35 điểm tái định cư;
- Huyện Hàm Yên 04 dự án gồm 30 điểm tái định cư;
- Huyện Yên Sơn 11 dự án gồm 27 điểm tái định cư ;
- Thành phố Tuyên Quang 01 dự án gồm 3 điểm tái định cư
Số khẩu
Số điểm Số hộ
Số khẩu
Số điểm
Số
hộ
Số khẩu
I Theo quy hoạch
1.150
2 HuyÖn Chiªm
Trang 38Số khẩu
Số điểm Số hộ
Số khẩu
Số điểm
Số
hộ
Số khẩu
2.3.2.3 Thực hiện việc giao đất ở cho hộ TĐC:
- Tổng diện tích mặt bằng khu tái định cư đã được đầu tư xây dựng là 4.003.829 m2, trong đó đất ở là 1.172.870 m2 đã giao cho 3.923 hộ tái định cư, bình quân 298,9 m2/ hộ (Đối với các hộ tự di chuyển, tự liên hệ chuyển nhượng đất của nhân dân sở tại; hộ đông khẩu được cấp huyện cho phép tách hộ thì được xét giao
01 lô đất ở), diện tích mặt bằng khu TĐC còn lại là đất xây dựng công trình công cộng, hệ thống hạ tầng và khu chức năng nông thôn:
+ Huyện Na Hang đầu tư xây dựng là 1.458.892 m2 Trong đó đất ở là 352.181 m2 đã giao cho 1.241 hộ, bình quân 283,7 m2/hộ
+ Huyện Chiêm Hoá đầu tư xây dựng là 769.261 m2, trong đó đất ở là 283.442 m2 đã giao cho 813 hộ (gồm 18 hộ phát sinh trước khi di chuyển), bình quân 348,6 m2/hộ
+ Huyện Hàm Yên đầu tư xây dựng là 669.922 m2, trong đó đất ở là 179.512
m2 đã giao cho 512 hộ (gồm 7 hộ phát sinh trước khi di chuyển), bình quân 350,6
m2/ hộ
Trang 39+ Huyện Yên Sơn đầu tư xây dựng là 956.734 m2 (gồm cả 01 dự án đã chuyển
về thành phố Tuyên Quang), trong đó đất ở là 334.839 m2 đã giao cho 1.276 hộ (gồm 78 hộ phát sinh trước khi di chuyển), bình quân 262,4 m2/ hộ
+ Ban Di dân tỉnh đầu tư xây dựng là 149.020 m2, trong đó đất ở là 22.896
m2 đã giao cho 81 hộ, bình quân 282,6 m2/ hộ
So với quy định về mức diện tích đất ở giao cho hộ TĐC nông nghiệp từ 200 m2 - 400 m2; Hộ TĐC phi nông nghiệp từ 150 m2 - 200 m2 (quy định tại tại Quyết định 08/2007/QĐ-TTg; và Quyết định số 937/QĐ-TTg), tỉnh Tuyên Quang đã đảm bảo được quy định về giao đất ở cho hộ TĐC ở mức trung bình (bình quân 298,9
m2/ hộ)
Tổng kinh phí đầu tư xây dựng mặt bằng đất ở và khu dân cư là 189,153 tỷ đồng, tăng 88,687 tỷ đồng so với Quy hoạch được duyệt tại Quyết định số 08/2007/QĐ-TTg (100,466 tỷ) Nguyên nhân chính là do đơn giá xây dựng thực tế
đã tăng so với thời điểm lập Quy hoạch, mức tăng bình quân khoảng 50,13%
Trên thực tế ở hầu hết các điểm TĐC, các hộ dân đều không được giao đất sản xuất nông nghiệp liền kề với đất ở (đất vườn) nên gặp nhiều khó khăn trong phát triển kinh tế gia đình (chăn nuôi gia súc, gia cầm, trồng rau ) và bảo vệ môi trường trong khu dân cư Mặt khác, sau 6 năm số hộ dân TĐC tăng thêm khoảng 7,6%, diện tích đất ở được giao trở lên chật chội hơn Nguyện vọng của các hộ TĐC (đặc biệt đối với hộ có nhiều khẩu) là được Nhà nước hỗ trợ để mở rộng diện tích đất ở
2.3.2.4 Thực hiện giao đất sản xuất nông nghiệp:
Uỷ ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã chỉ đạo các cấp các ngành trong tỉnh căn cứ vào quỹ đất sản xuất của từng xã nhận dân tái định cư để chuyển nhượng và giao đất sản xuất nông nghiệp cho hộ tái định cư
Trên địa bàn toàn tỉnh, tổng số khẩu nông nghiệp phải giao đất sản xuất là 15.142 khẩu, trong đó đã giao cho 14.934 khẩu với tổng diện tích đã giao là 762,3 ha:
- Diện tích đất 2 vụ lúa là 568,6 ha
- Diện tích đất 1 vụ lúa là 90,3 ha
Trang 40- Diện tích đất màu là 103,4 ha
Bình quân diện tích đất quy về đất 2 vụ lúa được giao cho hộ TĐC là 443
m2/ khẩu (cách quy về đất 2 vụ lúa: tính 400m2 đất 2 lúa = 700m2 đất 1 lúa = 1.000
m2đất mầu) Cụ thể:
- Huyện Na Hang: Tổng số khẩu phải giao đất sản xuất là 2.278 khẩu, trong
đó đã giao cho 2.178 khẩu với tổng diện tích đất là 1.277.845 m2, bình quân 434,8
m2/ khẩu quy về đất 2 vụ lúa
- Huyện Chiêm Hoá: Tổng số khẩu phải giao đất sản xuất là 4.232 khẩu, trong đó đã giao cho 4.211 khẩu với tổng diện tích đất là 1.947.562 m2
, bình quân
451 m2/ khẩu quy về đất 2 vụ lúa
- Huyện Hàm Yên: Tổng số khẩu phải giao đất sản là 2.479 khẩu, trong đó
đã giao cho 2.438 khẩu với tổng diện tích là 1.127.368 m2
, bình quân 440,8 m2/ khẩu quy về đất 2 vụ lúa
- Huyện Yên Sơn (gồm cả 01 dự án đã chuyển về thành phố Tuyên Quang): Tổng số khẩu phải giao đất sản xuất là 5.857 khẩu, trong đó đã giao cho 5.812 khẩu với tổng diện tích đất là 3.035.185 m2 Bình quân 447,3 m2/ khẩu quy về đất 2 vụ lúa
- Ban Di dân tỉnh: Tổng số khẩu phải giao đất sản xuất là 295 khẩu, đã giao cho 295 khẩu tổng diện tích đất đã giao là 235.467 m2
Bình quân 456,6 m2/ khẩu quy về đất 2 vụ lúa
So với quy định về mức diện tích đất sản xuất giao cho hộ TĐC nông nghiệp: mỗi khẩu sản xuất nông nghiệp được cấp từ 400 - 500 m2/khẩu đất 2 vụ lúa hoặc từ
700 - 800 m2/khẩu đất 1 vụ lúa hoặc từ 1.000 - 1.200 m2/khẩu đất trồng màu (quy định tại tại Quyết định 08/2007/QĐ-TTg; và Quyết định số 937/QĐ-TTg), tỉnh Tuyên Quang đã đảm bảo được quy định về giao đất sản xuất nông nghiệp đợt 1 cho
hộ TĐC ở mức trung bình (bình quân 443 m2/ khẩu)
Tổng kinh phí tạo quỹ đất cho hộ tái định cư là 108,893 tỷ đồng, giảm 59,84
tỷ đồng so với Quy hoạch được duyệt tại Quyết định số 08/2007/QĐ-TTg (168,733 tỷ) Nguyên nhân là: chưa thực hiện thu hồi đất lâm nghiệp để giao cho hộ tái định
cư với tổng kinh phí 11,288 tỷ đồng; tổng diện tích đất sản xuất thu hồi (thực chất là chuyển nhượng theo giá quy định của nhà nước) để giao cho hộ tái định cư thực tế