Nguồn nước khan hiếm khó khăn, việc khai thác tổng hợp nguồn nước một cách có hiệu quả chưa được quan tâm dẫn đến một năm mới chỉ canh tác 1 vụ lúa mùa vào mùa mưa, yêu cầu nước tưới chủ
Trang 1MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Lai Châu là một tỉnh miền núi còn nhiều khó khăn về nhiều mặt: kinh tế - xã hội, hạ tầng cơ sở, điều kiện khoa học kỹ thuật Huyện Tam Đường là một trong những huyện nghèo của tỉnh, dân số là 54.362 người, bao gồm 14 xã và một thị trấn (trong đó có 12 xã thuộc diện nghèo đói, đặc biệt khó khăn) Số dân ở nông thôn chiếm 85% Diện tích đất canh tác nông nghiệp khoảng 12.528ha
Theo chủ trương phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đến năm 2020 chú trọng việc phát triển nông nghiệp, chủ yếu là cây lương thực, mở rộng diện tích đất nông nghiệp, nâng cao sản lượng lúa gạo Theo định hướng phát triển thuỷ lợi: Sửa chữa, nâng cấp và xây dựng mới các công trình thuỷ lợi, chủ động cấp nước tưới cho lúa, cấp nước sinh hoạt, kiên cố hoá kênh mương phát triển vùng lúa tập trung tại các điểm Bình Lư, Tam Đường, Than Uyên
Hiện tại vùng dự án gần như chưa có công trình để chủ động cấp nước cho nông nghiệp Nguồn nước khan hiếm khó khăn, việc khai thác tổng hợp nguồn nước một cách có hiệu quả chưa được quan tâm dẫn đến một năm mới chỉ canh tác 1 vụ lúa mùa vào mùa mưa, yêu cầu nước tưới chủ yếu phụ thuộc vào lượng mưa tự nhiên trong vùng, năng suất và chất lượng rất thấp, vào mùa khô (vụ Chiêm và Đông xuân) gần như không canh tác nên chưa sử dụng triệt để diện tích đất nông nghiệp Chưa có hệ thống cấp nước sinh hoạt cho dân cư hiện tại trong vùng và điểm tái định cư sắp tới
Theo yêu cầu phát triển của tỉnh, huyện và vùng dự án, để đảm bảo ổn định cuộc sống nhân dân thực hiện kế hoạch quy hoạch tái định cư thuỷ điện Sơn La, việc xây dựng công trình thủy lợi Chu Va cùng với các công trình khác như Đông Pao, Thèn Thầu có nhiệm vụ đảm nhiệm việc di dân tái định cư theo quy hoạch Việc xây dựng công trình Chu Va nhằm đảm bảo tưới ổn định, tăng hệ số quay vòng sử dụng đất, phát huy tiềm năng đất nông nghiệp trong khu vực
Chính vì vậy, việc nghiên cứu tìm ra giải pháp khoa học nhằm “Sử dụng
nguồn nước một cách có hiệu quả để phục vụ sản xuất và sinh hoạt cho khu vực
Trang 2bách, tạo tiền đề cho việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng nhằm tăng giá trị hàng hoá của sản phẩm nông nghiệp, giải quyết thiếu nước sinh hoạt, nâng cao đời sống cho nhân dân, từ đó đảm bảo ổn định chính trị, an ninh quốc phòng
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Điều tra, thu thập, phân tích tài liệu thực tế
- Tổng kết đánh giá và kế thừa các kết quả nghiên cứu về các biện pháp khai thác và sử dụng tổng hợp nguồn nước vùng nứi phía Bắc
- Kiểm chứng đánh giá
Trang 7
CHƯƠNG I TỔNG QUAN
Nước là nguồn gốc của sự sống, là một trong những tài nguyên quyết định sự tồn tại và phát triển của nền kinh tế, của xã hội và môi trường đối với mỗi quốc gia,
do đó vấn đề khai thác và sử dụng hợp lý nguồn nước luôn được xếp vào vị trí hàng đầu Nền kinh tế càng phát triển vấn đề về nước càng trở nên quan trọng Vì vậy vấn đề khai thác và sử dụng nguồn nước có hiệu quả, đồng thời duy trì và bảo vệ môi trường là nhiệm vụ mang tính chiến lược vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của xã hội
Việc nghiên cứu các giải pháp sử dụng tổng hợp nguồn nước sử dụng đa mục tiêu được các nước trên thế giới rất quan tâm, đặc biệt ở các nước có nền nông nghiệp phát triển lúa nước như Việt Nam
Hiện nay, ở nước ta đã có nhiều các đề tài nghiên cứu về vấn đề sử dụng tổng hợp nguồn nước phục vụ đa mục tiêu như:
- PGS TS Phạm Ngọc Hải - “ Nghiên cứu sử dụng nguồn nước một cách
có hiệu quả để phục vụ sản xuất và sinh hoạt cho bản Duồng - chợ Đồn - tỉnh Bắc Kạn ” - Đại diện cho các tỉnh thuộc khu vực miền núi phía Đông Bắc Việt Nam
- Thạc sỹ Nguyễn Tuấn Anh - “Sử dụng nguồn nước tổng hợp có hiệu quả cho phát triển kinh tế - xã hội vùng núi Thanh Hoá” - Đại diện cho các tỉnh
1.1 TÌNH HÌNH CHUNG CỦA KHU VỰC
1.1.1 Đánh giá chung về kinh tế - xã hội
a Dân số và xã hội: Theo kết quả điều tra cho thấy tỷ lệ tăng dân số trong
vùng dự án còn cao, mức sống của nhân dân trong huyện và trong vùng dự án còn rất thấp Theo chỉ đạo của UBND tỉnh Lai Châu, định hướng phát triển đến 2010
Trang 8của UBND huyện Tam Đường sẽ giảm tỷ lệ tăng dân số, giảm số hộ nghèo Đặc biệt vùng dự án sẽ phục vụ việc di dân tái định cư thủy điện Sơn La
Tam Đường nói chung đại đa số làm nghề nông nghiệp và chủ yếu là trồng lúa nước với trình độ canh tác lạc hậu, biện pháp canh tác thủ công Do vấn đề sử dụng nước phục vụ cho canh tác nông nghiệp có nhiều hạn chế nên thường xảy ra hạn hán Nước tưới cho vùng hưởng lợi hiện vẫn phụ thuộc vào thời tiết tự nhiên và các công trình nhỏ trên suối Nậm Giê, không canh tác trong mùa kiệt
Điều kiện địa hình khu tưới cao so với nguồn nước, địa hình khu tưới bị phân cắt phức tạp, điều kiện nguồn nước khó khăn vào mùa khô (từ tháng 12 đến tháng 05 năm sau) nên việc sản xuất nông nghiệp trong vùng dự án là rất khó khăn Phần lớn sản xuất nông nghiệp chỉ tiến hành vào mùa mưa (từ tháng 06 đến tháng
11) Hiện tại trong khu tưới chưa có công trình chủ động cấp nước tưới cho sản xuất nông nghiệp Trên toàn bộ khu tưới chỉ có một vài công trình dẫn nước thô sơ do dân tự làm lấy nước từ các nhánh suối nhỏ, các khe nước vào mùa mưa để tưới cho một phần diện tích không đáng kể, theo kết quả điều tra thực địa vùng tưới các công trình này hiện không còn khả năng phục vụ Diện tích đất canh tác nhỏ, tập trung chủ yếu tại những vùng thuận lợi về nguồn nước tự nhiên (ven suối, gần khe nước ) do đó sản lượng hàng năm thấp, hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp chưa cao
Bảng 1.1: Hiện trạng sản xuất nông nghiệp S
không đáng kể, hầu như không có
Trang 9d Năng lượng: Về năng lượng điện hiện nay huyện Tam Đường phụ thuộc
vào lưới điện của tỉnh từ lưới điện quốc gia qua trục đường điện 110KV và 35KV chạy dọc quốc lộ 4D và quốc lộ 32 Hệ thống điện thoại chạy dọc từ quốc lộ 32 từ ngã ba Bình Lư đến Bản Bo Nói chung , nguồn điện đảm bảo nhu cầu năng lượng đienj hiện nay, điện dùng trong dự án là điện sinh hoạt và đã kéo dài về đến UBND
xã
1.1.2 Đánh giá hiện trạng thủy lợi của khu vực
Do điều kiện tự nhiên hết sức khó khăn, phức tạp vì vậy công tác thủy lợi ở vùng núi còn đang rất hạn chế Công trình để chủ động sử dụng nước một cách hiệu quả nên hiện mới chỉ có một vài công trình nhỏ được xây dựng trên suối, thường chỉ canh tác được ở những vùng thấp, ven suối Nhân dân sinh hoạt chủ yếu nhờ hệ thống giếng tự đào, từ nguồn nước mặt (các mó nước, khe nước) không đảm bảo vệ sinh và khối lượng Về mùa kiệt thì gặp rất nhiều khó khăn về nước sinh hoạt, sản xuất
a Đánh giá về công trình đầu mối
Công trình đầu mối Thuỷ lợi miền núi có nhiều dạng, xin tập trung vào các dạng chính:
Hồ chứa
Các hồ chứa vùng núi thường nằm cao hơn so với các thung lũng ruộng, bụng hồ hẹp và trải dài theo các lũng núi Do vậy, muốn tăng được dung tích
hồ thì thường là đập phải cao
Các hồ chứa hiện nay đang sử dụng hầu hết có dung tích hữu ích rất bé, chỉ
từ vài nghìn đến vài chục nghìn mP
3 P
, vì vậy diện tích tưới được cũng rất hạn chế, phần lớn chỉ phục vụ cho vài chục ha đất canh tác trong phạm vi thôn bản
Về cụm công trình đầu mối, hồ chứa miền núi bao gồm: Đập đất, tràn xả lũ, cống lấy nước
Đất đắp đập chủ yếu sử dụng vật liệu sẵn có tại địa phương, do dân tự làm Mặt đập bé và thấp, mái thượng hạ lưu dốc, không có thiết bị tiêu nước, chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn về thiết kế
Trang 10Cho đến nay, hầu hết các đập đất miền núi đều bị thẩm thấu mạnh, mất nước nghiêm trọng Đặc biệt, do quá trình thi công không đảm bảo nên hiện nay hai bên vai đập, mang cống và lòng khe cũ luôn bị thấm nước, gây xói lở chân đập phía hạ lưu, cống lấy nước bị lùng mang, xói đáy
Mặt khác, do đặc thù miền núi là có nhiều mối, vì thế hầu hết thân đập đều
bị mối xâm nhập Đó là một ẩn hoạ luôn luôn có nguy cơ vỡ đập
Phần lớn là các đường tràn tự nhiên, lợi dụng các eo núi sẵn có Đa số các đường tràn đều là tràn đất, không được gia cố, hoặc có nhưng rất sơ sài, chỉ bằng đá xếp hoặc đá xây chất lượng kém, không đảm bảo ổn định, chưa tương xứng với dung tích hiệu quả và dung tích phòng lũ của hồ
Trên vùng núi do độ dốc sườn núi lớn, thảm phủ thực vật bị phá hoại nên về mùa mưa lũ tập trung rất nhanh, lưu lượng và vận tốc rất lớn nên đường tràn phải tập trung hoạt động với công suất cao Mặt khác, tiết diện đường tràn thường bé, không được gia cố, giải pháp kỹ thuật tiêu năng sau tràn chưa phù hợp dẫn đến xói
hạ lưu tràn, thậm chí nếu tiết diện tràn quá bé có thể dẫn đến vỡ đập
Hầu hết các cống lấy nước dưới đập miền núi dùng các ống bêtông đúc sẵn hoặc các thân cây đục rỗng, vì thế thường bị rò rỉ mất nước Chiều dài cống thường ngắn hơn so với thân đập, thiết bị tiêu năng không có Qua thời gian khai thác khá dài, phần lớn xung quanh thân cống và hạ lưu cống đều bị xói lở, có thể dẫn đến vỡ đập
Bên cạnh đó, thiết bị đóng mở cống cũng rất thô sơ, chủ yếu bằng van phẳng, bằng các thân cây gỗ hoặc cục bêtông nên chất lượng kín nước kém, hay rò rỉ, đóng
mở nặng nề, vận hành hết sức khó khăn
- Nhìn chung, các hồ chứa miền núi hiện nay mới chỉ đang làm nhiệm vụ cấp nước cho nông nghiệp, chủ yếu phục vụ tưới cho lúa, còn các loại cây trồng khác hầu như chỉ được tưới dựa vào nước trời
- Phát điện nhỏ là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong việc lợi dụng tổng hợp nguồn nước miền núi, nhưng tới nay vẫn chưa được chú trọng phát triển
Trang 11Đây là một lãng phí rất lớn, đặc biệt trong lúc đồng bào đang rất cần điện để phát triển mọi mặt của cuộc sống như hiện nay
- Ngoài việc cung cấp nước tưới và phát điện, mà hiện tại cũng rất hạn chế, các hồ chứa còn có một nhiệm vụ nữa là cấp nước sinh hoạt Mặc dù lưu lượng để cấp cho sinh hoạt là rất nhỏ, nhưng các hồ chứa vẫn chưa đảm nhiệm được, đặc biệt
là trong mùa khô lại càng hết sức khó khăn
Hiện nay, các hồ chứa, ao núi nhỏ nói chung hiệu quả sử dụng còn rất thấp, tính bền vững kém, dễ bị hư hỏng Hiện mới chỉ phục vụ cấp nước tưới cho sản xuất nông nghiệp, mà chủ yếu là lúa, nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu Bên cạnh
đó, tính lợi dụng tổng hợp không cao Các ngành dùng chung như phát điện, cấp nước sinh hoạt, nông nghiệp vẫn chưa có điều kiện để phát triển
Một vấn đề nữa là, tất cả các hồ chứa nhỏ hiện tại chưa thể đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong vùng
Đập dâng
- Đặc tính kỹ thuật
Ở vùng núi, đồng bào thường sử dụng đập dâng ngăn dòng suối, chủ yếu nhằm sử dụng dòng chảy cơ bản, nâng cao đầu nước để dẫn vào kênh, cung cấp nước tưới cho những diện tích nhỏ lẻ ven thềm suối Quy mô đập thường nhỏ, đơn giản, tính bền vững không cao
Kết cấu đập phổ biến là đá xây hoặc bêtông, kiểu mặt cắt thực dụng Tuy nhiên, loại đập kiên cố này cũng chỉ mới xuất hiện trong mấy năm gần đây
Ngoài ra, các địa phương còn dùng loại đập rọ đá xếp (rọ tre hoặc bằng thép đan) Để ngăn nước chảy qua thân đập, thường dùng các tấm phên nứa có phủ đất phía thượng lưu Cấu tạo đập tuy đơn giản, rẻ tiền và có thể dùng vật liệu tại chỗ, nhưng rất dễ bị phá huỷ trong mùa mưa lũ, nhất là khi gặp các trận lũ lớn, lũ quét
Đập dâng tuy có những đặc tính kỹ thuật rất thuận lợi như trên, nhưng ngược lại khả năng phục vụ thường rất thấp, kém bền vững, chỉ tồn tại được qua một vài năm Mùa mưa lũ thì phải tu bổ thường xuyên, mùa khô khi cần nước thì hầu như
Trang 12không phát huy được hiệu quả, do trong mùa này lưu lượng cơ bản của các suối rất nhỏ, gần như bằng không
Cũng như công trình đầu mối dạng hồ chứa, tính lợi dụng tổng hợp của đập dâng hiện nay còn rất thấp Nguyên nhân do dễ hư hỏng, phải thường xuyên sửa chữa, khó tạo được chênh lệch đầu nước tương đối ổn định để chạy máy phát điện mini hoặc các trạm bơm nước va, bơm thủy luân Vì thế, việc cấp nước cho các vùng đồi cao, cấp nước sinh hoạt, cấp điện cho các hộ gia đình là không thể thực hiện được
Các loại công trình khác
Một số địa phương hiện vẫn còn dùng guồng nước (Cọn Nước), lợi dụng tốc
độ của dòng chảy làm quay guồng đưa nước lên cao, đổ vào kênh tưới ruộng Đây
là các công trình mang tính truyền thống, đơn giản, dễ làm nhưng hiệu quả phục vụ rất thấp, diện tích được tưới rất nhỏ, hơn nữa loại công trình này kém bền, tuổi thọ không cao
Đặc biệt, kênh miền núi không những làm nhiệm vụ chuyển nước tưới mà còn đảm nhiệm cả việc chuyển nước mặt từ sườn dốc do mưa, hoặc dòng chảy từ các lưu vực dọc hai bên tuyến kênh (tràn vào kênh) Trong mùa mưa, hiện tượng nước lũ suối chảy cắt ngang kênh thường xuyên xảy ra Mặt khác, do kênh đi ven dưới sườn dốc nên rất dễ xảy ra hiện tượng lở, sạt đất bồi lấp kênh, dòng chảy bị chặn lại, nước dâng tràn bờ gây vỡ kênh Hiện nay, các hệ thống phần lớn chưa có công trình đảm bảo an toàn như tràn bên, công trình chống bồi lấp và xói mòn trên kênh
Trang 13Các công trình trên kênh
Hầu hết các công trình trên kênh của hệ thống thủy lợi miền núi đều thiếu Các loại công trình vượt chướng ngại, công trình đảm bảo an toàn cho kênh chưa đầy đủ hoặc nếu có thì rất tạm bợ
Đặc biệt, công trình chia nước trên mặt ruộng hầu như không có Vì vậy, phần lớn các công trình thủy lợi miền núi đều tưới tràn lan, từ ruộng cao đến ruộng thấp, từ ruộng này đến ruộng khác , nước tràn trề lại đổ xuống suối Tình trạng này
đã dẫn đến hậu quả xói mòn, gây bạc màu ở các ruộng và rất lãng phí nước Đó là chưa kể đến việc “chủ động” điều tiết nước, phù hợp theo yêu cầu sinh trưởng của cây trồng để đạt năng suất cao
Nói chung, hiệu quả phục vụ của hệ thống rất thấp, đồng thời gây khó khăn cho công tác quản lý Tính lợi dụng tổng hợp cũng chưa có gì
Những thành tựu to lớn của công tác Thuỷ lợi ở miền núi như đã nêu trên là không thể phủ nhận được Tuy vậy, chúng ta cũng cần phải thấy được những vấn đề còn hạn chế:
- Kết quả đạt được không tương xứng với kinh phí đã bỏ ra Hiệu quả đầu tư thấp, gây mất lòng tin cho nhân dân, nhất là đối với đồng bào các dân tộc miền Núi dân trí còn thấp
Trang 14- Đại bộ phận Các công trình Thuỷ lợi đã được xây dựng, mới chỉ đáp ứng mục tiêu đơn lẻ như tưới cho Nông nghiệp hoặc phát điện hoặc cấp nước cho sinh hoạt Tính tổng hợp lợi dụng của công trình còn thấp
- Các nguồn nước chưa được khai thác và sử dụng một cách triệt để và lợi dụng nguồn nước một cách tổng hợp
Như vậy, vấn đề đặt ra là: Phải khai thác, sử dụng tổng hợp nguồn nước một cách có hiệu quả nhất, để phục vụ sản xuất và sinh hoạt nhằm phát triển kinh tế xã hội ở các tỉnh miền núi phía Bắc nói chung và khu vực Chu Va huyện Tam Đường tỉnh Lai Châu nói riêng Đây chính là mục tiêu nghiên cứu của đề tài
này
1.2 SƠ LƯỢC ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA KHU VỰC
1.2.1 Đặc điểm khí tượng, thuỷ văn
Trong khu vực nghiên cứu chưa có trạm đo đạc về Thủy văn, về khí tượng nên có thể sử dụng tài liệu đo đạc của các trạm để sử dụng để nghiên cứu như: Bình Lư, Phong Thổ, Hoàng Liên Sơn
Đây là vùng chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Nam, đầu mùa hạ có gió Tây nóng, mùa mưa từ tháng 6 ÷ tháng 10, mùa khô từ tháng 11 ÷ tháng 5 Mùa mưa lượng mưa chiếm đến 80% lượng mưa năm, lớn nhất là tháng 7 và nhỏ nhất là tháng 12 Vì là vùng xa biển lại chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam nên có số ngày nóng nhiều hơn các nơi khác
a Nhiệt độ
Khí hậu khu vực thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa núi cao, nhiệt độ trung bình hàng năm từ 21oc đến 23oC Mùa đông từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau, nhiệt độ trung bình là 15-17oC, từ tháng 5 đến tháng 9 có nhiệt độ trung bình 26oC, cao nhất đến 39oC Biên độ nhiệt giữa ngày và đêm chênh lệch tương đối lớn
Bảng1.2 : Nhiệt độ không khí cao nhất bình quân tháng, năm của trạm (oC)
trạm I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII năm Lai Châu
To tb 23,8 26,2 30,3 32,8 33,0 31,7 30,6 32,2 32,1 30,0 26,9 22,8 29,4
Trang 15Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1400mm đến 1800 mm/năm, chia thành
2 mùa rõ rệt mùa mưa và mùa khô: mùa mưa từ tháng 4 đến đầu tháng 9, chiếm 80% lượng mưa cả năm; mùa khô từ cuối tháng 9 đến cuối tháng 3 năm sau chiếm 20% lượng mưa cả năm
Theo kết quả quan trắc nhiều năm, lượng mưa trung bình trạm Lai châu như
c Chế độ thủy văn:
Mạng lưới sông suối: Suối Nậm Dê , chiều dài suối L = 3.8 km Suối có độ dốc khá lớn bình quân 5% ÷ 7%, cao độ thay đổi từ +2000m đến +550m, địa hình bị chia cắt nhiều Diện tích lưu vực Flv = 25 km2
Trang 16Bảng 1.5: Dòng chảy trung bình tháng trạm Khí tượng Lai Châu
Địa hình khu dự án chạy dọc suối Nậm Giê Địa hình là vùng núi hiểm trở,
độ dốc khá lớn Độ cao trung bình khu đo gần 865m so với mặt nước biển Độ dốc địa hình tăng dọc theo hai sườn núi của suối Địa hình được phủ lớp thực vật thưa
b Địa chất
• Đặc điểm địa hình và địa mạo
Khu vực Dự án nằm trong vùng đồi núi cao, hiểm trở, phân cắt mạnh Các dãy núi phát triển theo hướng Tây Bắc- Đông Nam Suối Nậm Giê xuất phát từ dãy núi Hoàng Liên Sơn có hướng chảy từ Bắc xuống Nam là phụ lưu cấp 2 của sông Nậm Mu (một nhánh của sông Đà) Địa hình khu vực dự án bị phân cắt rất mạnh bởi các khe suối và nhánh suối nhỏ đổ vào suối Nậm Giê Độ dốc địa hình thay đổi từ 30
• Cấu trúc địa chất khu vực
- Hệ tầng Lũng Pô (PR1-2lp) Granitôgơnai, amfibôlit, gơnaibiotit, đá phiến amfibôn, đá hoa Hệ tầng này phân bố ở phía bắc khu vực dự án trên một dải dài chạy gần như song song với suối Nậm Giê
Trang 17- Hệ tầng Tú Lệ (J - K?tl): Riolit, riolit focfia, riollit thạch anh, cát kết, đá phiến màu xám đen, Hệ tầng này phân bố trên một diện rộng nằm tại trung tâm dự
án
- Điệp Đồng Giao (TR 2 Rđg): Đá vôi xám sáng phân lớp dày đến dạng khối, xen thấu kính bột kết, đá phiến, cuội kết vôi, đá vôi sét Nằm về phía Tây Nam và Nam
dự án, tiếp giáp với hệ tầng Tú Lệ
- Hệ đệ tứ: Trong khu vực Dự án hệ tầng này chỉ phân bố tại những vị trí lòng suối rộng, địa hình dốc thoải Nhìn chung hệ tầng này không phát triển
- Các thành tạo macma xâm nhập: phân bố trong phạm vi nghiên cứu, bao gồm:
+ Thành tạo xâm nhập Crêta Plêôgen, phức hệ Nậm Chiến (mn aKR 2 Rnc) gồm gabro amfibol, gabro điaba
+ Thành tạo xâm nhập Crêta Plêôgen, phức hệ Phù Sa Phìn (eξP
∏ P
- eγP
∏ P
aKR 2 Rpp) gồm Xienit kiềm thạch anh, Xienit kiềm dạng pocfia, granit kiềm
• Địa chất thuỷ văn
Nước mặt tập trung chủ yếu ở suối Nậm Giê và một số khe, nhánh suối nhỏ đổ vào suối này Các khe suối hầu hết đều bắt nguồn từ các đỉnh núi cao, dốc Mực nước và lưu lượng phụ thuộc vào mùa trong năm, vào mùa mưa lưu lượng dồi dào, vào mùa khô nước suối cạn, dòng chảy nhỏ, nguồn cấp bổ sung là nước trong đới đá nứt nẻ và thảm thực vật trên cao đưa xuống
Nước ngầm trong khu vực nghiên cứu tàng trữ chủ yếu tầng cát cuội sỏi
bở rời đệ tứ và trong đới nứt nẻ (tồn tại trong các đới khe nứt) Tại khu vực vùng tuyến đập nước ngầm nghèo nàn, chỉ gặp phần trên cùng của đá gốc, trong đới đá phong hoá, nứt nẻ Nước ngầm có nguồn cấp chính là nước mưa Trên tuyến kênh chính và khu vực bể lắng cát, trong giai đoạn khảo sát (cuối mùa khô) vẫn thấy xuất
hiện nước ngầm xuất lộ với lưu lượng không lớn và diện xuất lộ trên một đoạn dài khoảng 100m Tuyến xi phông tại khu vực xi phông vượt đường Quốc lộ 4D có nước ngầm xuất lộ tại chân khối sạt tầng phủ Lưu lượng nước ước tính khoảng 4l/s
• Động đất và tân kiến tạo
Khu vực nghiên cứu chiếm một phần nhỏ ở khoảng giữa miền kiến tạo Tây Bắc Việt Nam, nằm trong đới Sông Đà phân cách phụ đới Sơn La với phụ đới
Trang 18Sông Đà bởi đứt gãy sâu Sơn La có phương Tây Bắc - Đông Nam Ngoài ra trong khu vực còn tồn tại các đứt gãy cấp hai, cấp ba phân bố đa dạng và phức tạp
• Các hiện tượng địa chất vật lý
Trong vùng nghiên cứu, hiện tượng địa chất động lực phát triển phổ biến là bào mòn xâm thực sâu tạo nên các thung lũng hẹp và các tích tụ không ổn định dọc theo các suối trong vùng Tại một số nơi cục bộ hiện tượng sạt trượt cũng xảy ra, đặc biệt là vào mùa mưa lũ Các hiện tượng trượt sạt này xảy ra với quy mô không lớn, có chiều rộng từ 20÷ 100m Quá trình phong hoá xảy ra trong đá gốc với mức độ rất khác nhau Phía bên bờ trái suối quá trình phong hoá xảy ra khá mạnh, bề dầy của sản phẩm phong hoá có thể lên tới 20÷ 40m
Trang 19CHƯƠNG II
ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP CÔNG TRÌNH
THỦY LỢI ĐỐI VỚI KHU VỰC
2.1 NHỮNG CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỂ ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH
2.1.1 Điều kiện tự nhiên của khu vực
- Địa hình khá phức tạp, bị chia cắt mạnh mẽ, độ chênh lệch cao độ từ đầu mối đến khu tưới tương đối lớn
- Đặc trưng địa hình vùng núi là có nhiều gò đồi, thung lũng, nhiều lưu vực
có khả năng hứng nước
2.1.2 Các loại nguồn nước ở vùng núi
Như đã nêu trên, khu vực dự án rất khan hiếm nước, đặc biệt về mùa khô Tuy nhiên, cũng xuất hiện nhiều loại nguồn nước khác nhau có khả năng sử dụng được, trong đó chủ yếu là nước mưa và nước mặt
Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1400mm đến 1800 mm/năm, chia thành
2 mùa rõ rệt mùa mưa và mùa khô: mùa mưa từ tháng 4 đến đầu tháng 9, chiếm 80% lượng mưa cả năm; mùa khô từ cuối tháng 9 đến cuối tháng 3 năm sau chiếm 20% lượng mưa cả năm
Nước mặt trong vùng khá phong phú với nhiều nguồn khác nhau: Nước từ các sông suối lớn, suối nhỏ, nước từ các lưu vực hứng nước, ao núi, thung lũng Tuy nhiên, do ảnh hưởng của mưa, các nguồn nước này cũng bị biến đổi theo không gian và thời gian, mùa mưa rất dồi dào, mùa khô thì ngược lại - rất khan hiếm Sau đây chúng tôi sẽ đi sâu vào từng loại cụ thể
Vùng núi thường có mạng lưới khe suối chằng chịt, lưu lượng khá đáng kể Đây cũng là những nguồn có thể tận dụng để khai thác được Tuy nhiên, do địa hình vùng núi thường bị chia cắt và thay đổi đột ngột, địa chất giữ nước kém, nguồn nước lại nhỏ, ở xa và thấp hơn khu dân cư rất nhiều, chính vì vậy rất cần có các công trình tập trung nước và dẫn nước tới nơi canh tác và sinh hoạt của người dân
Trang 20• Nước từ sông, suối lớn
Địa bàn khu vực dự án được nghiên cứu trên đoạn suối Nậm Dê dài 3.8 km
có độ dốc khá lớn bình quân 5% ÷ 7%, cao độ thay đổi từ +2000m đến +550m, địa hình bị chia cắt nhiều Vùng tưới nằm chủ yếu ở bờ trái là vùng sườn đồi chảy dài khoảng 5,6km, có địa hình tương đối phù hợp cho sản xuất nông nghiệp
Lượng nước này tuy nhỏ nhưng chính là nguồn cung cấp quý giá cho các vườn rừng, phù hợp với tập quán canh tác trên đất dốc, tăng khả năng trữ ẩm, bổ sung nước cho các tuyến kênh tưới, mở rộng diện tích canh tác và nâng cao hiệu quả công trình
Trong những năm gần đây, nhu cầu về nước cho phát triển kinh tế - xã hội ngày càng tăng, song ảnh hưởng của biến đổi khí hậu gây ra thiên tai hạn hán cũng ngày càng nghiêm trọng Do đó, nguy cơ thiếu nước là khó tránh khỏi Vì vậy áp dụng giải pháp trữ nước rộng rãi ở các địa phương, điều tiết nước cho mùa khô và thực hiện tiết kiệm nước trong nông nghiệp đang được sự quan tâm của Chính phủ Việt nam, đặc biệt là vùng núi
huyện vùng núi tỉnh Lai Châu Loại nước này thường xuất hiện các khe lạch hoặc điểm lộ ở sườn núi Chúng có đặc điểm cơ bản là lưu lượng rất nhỏ, thậm chí vô
cùng nhỏ, chỉ khoảng 1/10 l/s
Tuy có khó khăn về lưu lượng (đặc biệt vào mùa khô) nhưng trong điều kiện nguồn nước khan hiếm, việc tận dụng các mó nước này để phục vụ sinh hoạt là hết sức quý giá, hơn nữa việc khai thác cũng khá đơn giản và thuận lợi Theo truyền thống, đồng bào thường dẫn nước bằng “máng lần” từ mó nước về trữ trong bể hoặc
lu Nước trong dùng để ăn, còn bình thường dùng để rửa, tắm giặt Vật liệu dùng làm máng dẫn nước thường là ống nứa, ống mai bổ đôi, các mấu đốt trong ống được thông phá để dẫn nước
Nước ngầm: Nước ngầm trong khu vực nghiên cứu tàng trữ chủ yếu tầng
cát cuội sỏi bở rời đệ tứ và trong đới nứt nẻ (tồn tại trong các đới khe nứt) Tại khu vực vùng tuyến đập nước ngầm nghèo nàn, chỉ gặp phần trên cùng của đá gốc, trong
Trang 21đới đá phong hoá, nứt nẻ Nước ngầm có nguồn cấp chính là nước mưa Lưu lượng nước ước tính khoảng 4l/s
2.1.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Như đã nêu ở phần hiện trạng kinh tế - xã hội của khu vực dự án hiện nay về nhiều mặt vẫn đang còn hết sức khó khăn Có thể tóm tắt qua mấy đặc điểm chính sau đây:
Thứ nhất: Đời sống của đồng bào các dân tộc trong vùng còn đang rất
nghèo nàn, lạc hâu Tỷ lệ mù chữ còn khá cao, trẻ em thất học đang còn nhiều Đặc
biệt, nạn chặt phá rừng vẫn đang là một Vấn nạn, chưa có biện pháp xử lý và ngăn
chặn một cách triệt để
Thứ hai: Hiện trạng sản xuất nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp chưa phát
triển, trình độ thâm canh vẫn còn ở mức thấp, năng suất cây trồng chưa cao Chính
vì vậy, tiềm năng đất đai chưa được khai thác một cách triệt để, hệ số quay vòng của đất vẫn còn ở mức rất thấp so với miền xuôi
Thứ ba: Vấn đề thiếu nước sinh hoạt vẫn còn khá trầm trọng, đặc biệt trong
mùa khô lại càng trở nên gay gắt, ảnh hưởng lớn tới sức khỏe của người dân, bệnh dịch càng có môi trường phát triển mạnh
Tuy khó khăn về nguồn nước, kinh tế - xã hội chưa phát triển nhưng vùng núi lại có một tiềm năng đất đai hết sức to lớn Đây chính là một thế mạnh để phát triển cây trồng cạn có giá trị kinh tế cao: Cây công nghiệp dài ngày (chè, cà phê, quế, hồi); cây công nghiệp ngắn ngày; cây ăn quả nhiệt đới (chuối, đu đủ, na, dứa, xoài…), á nhiệt đới (vải, hồng, cam, quýt, mơ, nho); cây màu và trồng cỏ chăn nuôi
2.1.4 Đánh giá về khả năng phụ trách của các công trình cấp nước
Về hiện trạng, khả năng phục vụ của các hệ thống cấp nước khu vực nghiên cứu chúng ta đã nắm được cụ thể trong Chương I Song, để có cơ sở đề xuất các mô hình cấp nước hiệu quả, chúng tôi khái quát một số điểm sau:
Thứ nhất: Các công trình cấp nước trong khu vực vẫn chưa tận dụng được
tối đa nguồn nước hiện có
Thứ hai: Mới chỉ lợi dụng được dòng chảy cơ bản, hiệu quả đem lại chưa cao Thứ ba: Chưa đáp ứng được đa mục tiêu, mới chỉ lợi dụng tổng hợp một
cách tự phát, chưa có quy hoạch mang tính tổng thể
Trang 222.1.5 Các yêu cầu về mặt thuỷ lợi để phát triển kinh tế - xã hội vùng nghiên cứu
Yêu cầu nước cho phát triển kinh tế - xã hội của miền núi nói chung và khu vực Chu Va nói riêng đang ngày càng tăng; thiên tai hạn hán nghiêm trọng dẫn đến nguy cơ thiếu nước ngày càng trở nên gay gắt Chính vì vậy, đòi hỏi phải có chiến lược về khai thác, sử dụng tài nguyên nước hợp lý Trong đó, vấn đề sử dụng nước hiệu quả, tiết kiệm nước bằng những giải pháp công nghệ phù hợp đang được đặt ra cấp thiết đối với miền núi Việc đưa nước lên vùng cao đất dốc để tạo điều kiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mở rộng diện tích phát triển sản xuất và cấp nước sinh hoạt cũng đang là vấn đề tồn tại, cần sớm được giải quyết
Khẳng định vai trò của miền núi trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, giữ vững
an ninh biên giới, công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, Đảng và nhà nước luôn quan tâm đến phát triển kinh tế - xã hội miền núi Nhiều quyết định và chính sách
đã được ban hành, nhiều mục tiêu quốc gia đã được thực hiện như: Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo và việc làm; Chương trình phát triển kinh tế -
xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi, vùng sâu, vùng xa; Chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn.Trong đó, việc xây dựng cơ
sở hạ tầng, đặc biệt là thuỷ lợi chiếm vị trí quan trọng
Trong các giải pháp để làm bật dậy tiềm năng nông nghiệp miền núi thì giải pháp thuỷ lợi đóng vai trò hàng đầu Thuỷ lợi nhỏ đặc biệt thích hợp cho địa hình vùng núi, vùng sâu, vùng xa, phù hợp với quy mô sản xuất hộ gia đình và trang trại,
sẽ giúp cho đồng bào có được nguồn nước để tưới, cấp nước sinh hoạt và chăn nuôi, phát điện, tạo điều kiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi hiện đang được nhà nước quan tâm đầu tư xây dựng
Trên đây mới chỉ là những yêu cầu khắc phục khó khăn về nguồn nước mang tính giải quyết tình thế Biện pháp chiến lược và bền vững phải là: Đáp ứng được yêu cầu về nước nhằm:
- Phát triển tối đa tiềm năng đất đai của khu vực
- Từng bước đẩy mạnh thâm canh tăng năng suất, đưa các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao vào sản xuất
Những yêu cầu đặt ra cho công tác thuỷ lợi gồm các nội dung sau:
Trang 23- Đảm bảo nước cho sinh hoạt, định canh định cư
Đồng bào các dân tộc thiểu số vùng núi thường có tập quán canh tác du canh
du cư, chặt phá rừng bừa bãi Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới tình hình an ninh - chính trị, kinh tế - xã hội trong vùng
Cùng với các chính sách của nhà nước đối với miền núi, tỉnh Lai Châu đã tiến hành thực hiện các công tác định canh định cư, công tác xoá đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc vùng núi Trong đó, bao gồm cả việc cấp nước sinh hoạt
và cấp nước cho sản xuất nông nghiệp
Ở Việt nam hiện nay, tỷ lệ dân số được cấp nước còn thấp, chỉ đạt 40-50% tiêu chuẩn cần thiết Vẫn thiếu nước trầm trọng ở nhiều nơi vào mùa hè Tỷ lệ dân
số vùng núi Lai Châu được cấp nước còn thấp hơn, trung bình chỉ đạt 30-35% Có nhiều vùng núi thiếu nước sạch cho sinh hoạt cực kỳ trầm trọng Tình hình này kéo dài trong mùa khô
Hệ thống thuỷ lợi vùng đồi núi còn có ý nghĩa rất lớn trong việc giải quyết nạn du canh du cư, phá rừng, đồng thời cũng góp phần rất lớn trong chiến lược phân
bố dân cư trên lãnh thổ của Nhà nước Chính vì vậy, trong những năm gần đây, các công trình nước sạch phục vụ đồng bào các dân tộc miền núi đã và đang được xây dựng thông qua các Chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, Chương trình 135 Tuy nhiên số lượng còn ít, chất lượng chưa đảm bảo, và đang gặp nhiều khó khăn, trở ngại, chưa có các giải pháp công nghệ thích hợp để cấp nước, trữ nước, xử lý nước đảm bảo tiêu chuẩn nước sinh hoạt, nguồn nước không được quản lý tốt (chăn thả súc vật ở thượng lưu) gây ô nhiễm và ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ nhân dân
1- Tập trung xây dựng các công trình đầu mối, công trình tạo nguồn làm cơ
sở cung cấp nước tưới cho cây vùng đồi, cây trồng cạn, cấp nước sinh hoạt ( trước mắt phải đạt được mức tối thiểu 60l/người/ngày-đêm)
2- Đề ra các biện pháp công trình cấp nước hợp lý, với phương châm: Đơn giản, dễ thi công, giá thành thấp và dễ sử dụng Các công nghệ cần phù hợp với nền kinh tế, trình độ dân trí, phong tục sống và tập quán canh tác của đồng bào Thực tế cho thấy, công nghệ càng đơn giản, dễ sử dụng thì hiệu quả càng cao và dễ được
Trang 24chấp nhận Mặt khác, phải xét đến việc nâng cấp và hiện đại hoá sau này, theo kịp
sự phát triển kinh tế - xã hội trong khu vực
3- Chất lượng nước phải đảm bảo, phù hợp với từng mục đích sử dụng như: nước ăn, nước tắm giặt Tránh tình trạng người dân phải dùng nước có chất lượng kém như trước đây, như vậy có thể giảm được tỷ lệ các bệnh truyền nhiễm qua con đường nước như bệnh đâu mắt, bệnh tả
4- Ngoài việc cấp nước sinh hoạt cần chú trọng đến việc tạo nguồn nước tưới cho các vườn cây ăn quả, rau màu để đồng bào ổn định cuộc sống, chấm dứt nạn du canh du cư Lưu ý triệt để tận dụng nước sinh hoạt sau khi sử dụng nhằm bổ sung cho nguồn nước tưới Ví dụ: Nước sinh hoạt sau khi sử dụng được thu về hố tập trung, sau đó theo mương dẫn tới ao, từ đó được đưa lên để tưới vườn
5- Các công trình cấp nước sinh hoạt phải đảm bảo tính bền vững, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế xã hội, khai thác tận dụng tối đa nguồn nước tự chảy
hiện có Về nước mặt, sử dụng trực tiếp nước mặt từ sông suối (nơi có các cụm dân
cư tập trung) thông qua các giếng đào kiên cố gần sông suối, sử dụng nước mó khe nhờ hệ thống cấp nước tự chảy bằng đường ống, có công trình xử lý nước đầu
nguồn phù hợp với điều kiện thực tế Về nước ngầm, sử dụng giếng đào ở những
khu vực thấp, mạch nước ngầm nông, có sự đầu tư nâng cấp, cải tạo giếng, đảm bảo yêu cầu vệ sinh môi trường; sử dụng giếng khoan UNICEF chủ yếu đối với những khu vực vùng cao, không có khả năng khai thác bất kỳ một nguồn nước nào ngoài
nước ngầm ở độ sâu 25 – 30m Về nước mưa, phù hợp cho những khu vực đồng bào
sinh sống phân bố không tập trung, cần có biện pháp khai thác sử dụng triệt để, tránh lãng phí
Song song với việc đảm bảo cấp nước sinh hoạt, định canh định cư thì nhiệm vụ phát triển kinh tế khu vực cũng là một trong những yêu cầu mà công tác thuỷ lợi cần phải đạt được
Chiến lược tăng trưởng và giảm nghèo quốc gia đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tăng năng suất nông nghiệp trên miền núi và đặt ưu tiên cho đầu tư thủy lợi vùng cao Những kế hoạch này có tác động rất lớn đến vấn đề an ninh
Trang 25lương thực và giảm nghèo miền núi qua việc tăng cường trồng lúa, đồng thời có những ảnh hưởng quan trọng lên các chiến lược sinh kế của người dân địa phương
Do tình hình phát triển kinh tế và những điều kiện tự nhiên của vùng núi hết sức khó khăn, phức tạp vì vậy nhìn chung công tác thuỷ lợi ở vung đồi núi chưa phát triển mạnh như ở vùng đồng bằng Tuy nhiên, hệ thống thuỷ lợi miền núi lại có tầm quan trọng đặc biệt vì nó góp phần quyết định vào việc khai thác tiềm năng và phát triển kinh tế ở miền núi, bảo vệ rừng đầu, chống xói mòn đất, phòng chống lũ lụt cho hạ lưu
Hiểu rõ được tầm quan trọng đó, Đảng và Nhà nước đã rất quan tâm đầu tư cho việc phát triển kinh tế xã hội vùng núi với những mục tiêu cơ bản, trong đó công tác thuỷ lợi là một trong những mũi đột phá quan trọng Nghị quyết 09/2000/NQ-CP của Chính phủ ( ngày 15/06/2000 ) về một số chủ trương và chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm đã nêu: “ Để phục vụ mục tiêu trong 10 năm tới, về cơ bản hoàn thành đầu tư phát triển thuỷ lợi, phục vụ yêu cầu tưới tiêu nước đối với cây trồng có giá trị kinh tế cao, có nhu cầu Phải đẩy mạnh nghiên cứu và áp dụng công nghệ tưới cho các loại cây trồng cần thiết ở các vùng sinh thái thích hợp ” Mặt khác, chỉ thị số 66/2000/CT/BNN-KH ngày 14/6/2000 cũng nêu rõ: “ Trong nông nghiệp chuyển mạnh sang đầu tư làm thuỷ lợi phục vụ tưới cà phê, chè, mía và các loại rau màu khác Cần chú ý xây dựng các công trình thủy lợi vừa và nhỏ ở miền núi ”
Để đạt được mục tiêu nói trên, lĩnh vực thủy lợi cần phải đáp ứng tốt nguồn nước phục vụ cho trồng trọt, chăn nuôi, phát triển lâm nghiệp
- Yêu cầu về nước cho trồng trọt
Để đảm đời sống nhân dân, làm tiền đề cho phát triển kinh tế khu vực thì vấn
đề đặt ra là: Đảm bảo an ninh lương thực, tăng thu nhập, mở rộng diện tích được tưới, tăng năng suất cây trồng, tạo công ăn việc làm, chấm dứt nạn chặt phá rừng và
tập quán du canh du cư (thực tế cho thấy, tuỳ từng vùng cụ thể 1 ha được tưới ở vùng núi có thể tác động giảm được 5 - 16 ha rừng không bị phá)
Việc tăng cường an ninh lương thực có thể được thực hiện thông qua đảm bảo nguồn tài nguyên đất đai và tài nguyên nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, nâng cao và ổn định thu nhập mùa màng, đa dạng hóa các loại cây lương thực
Trang 26Trung bình, để đảm bảo mức lương thực, một đầu người cần khoảng 250kg thóc mỗi năm ( tương đương 150 kg gạo, theo tỷ lệ 40% là trấu và cám sau khi xay xát ) Năng suất lúa trên các khu vực vùng núi thường thấp hơn 4 tấn/ha/vụ, đồng thời diện tích được cấp nước từ công tác thủy lợi của các huyện, xã miền núi cũng ít hơn nhiều so với mức trung bình trong toàn tỉnh
Với mục tiêu giảm bớt sự phụ thuộc vào cây lúa nương và các cây lương thực khác, cấp đủ lương thực và từng bước chuyển dần sang sản xuất hàng hoá, cần phải cải tiến hệ thống canh tác - chuyển sang mô hình trồng trọt và chăn nuôi
Để giải quyết vấn này, yêu cầu đặt ra về mặt thuỷ lợi cụ thể như sau:
1 Tạo nguồn nước để cung cấp nước tưới không những cho các diện tích lúa nước hiện có, mà còn phải đảm bảo cho cả những vùng đất có thể khai hoang nhằm khai thác tối đa tiềm năng đất đai của khu vực
2 Bố trí các kênh dẫn nước đến từng khu tưới Tính toán cấp nước hợp lý cho từng loại cây trồng cụ thể làm tiền đề cho việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng
3 Cung cấp đủ nước tưới nhằm đảm bảo tính ổn định cho sản xuất nông nghiệp trong một chu kỳ mấy năm liên tiếp
4 Tạo điều kiện thâm canh tăng vụ, tăng hệ số quay vòng của đất, mở rộng diện tích canh tác nhằm đảm bảo một cách ổn định nhu cầu thiết yếu về lương thực, thực phẩm, tạo điều kiện phát huy hiệu quả nguồn nhân lực còn dồi dào ở địa phương
5 Cần có những biện pháp hợp lý để cấp nước cho những vùng đất dốc có khả năng canh tác, thích hợp hợp với các cây trồng cạn có giá trị kinh tế cao và ít sử dụng nước như: Chè, cà phê, các cây họ đậu, mía
6 Giải quyết đủ nước để tăng năng suất cây trồng, tăng hiệu quả phân bón và các biện pháp kỹ thuật khác Cung cấp và điều tiết nước phù hợp với từng giai đoạn sinh trưởng, đảm bảo tưới đúng tưới đủ theo yêu cầu của cây trồng Nhiều tài liệu nghiên cứu cho thấy: Khi có tác động của yếu tố thuỷ lợi thì năng suất cây trồng tăng từ 16 – 35% ( nhiều nơi tăng gấp 2,3 lần tương đương 10 - 12 tấn/ha năm) so với chỉ trông chờ vào nước trời Song song với việc khi năng suất lúa tăng thì thu nhập từ chăn nuôi cũng tăng, cám và các phụ phẩm khác, như lúa kém chất lượng,
là nguồn thức ăn quan trọng cho lợn, gà, vịt
Trang 277 Kết hợp với các biện pháp kỹ thuật khác (như canh tác, bón phân ) để làm tốt hơn kết cấu và chất lượng đất Một số kết quả nghiên cứu cho thấy, nhờ có thuỷ lợi đã làm tăng độ xốp của đất từ 43% lên 47%, tổng số muối hoà tan giảm 1,18%, yếu tố dinh dưỡng dễ tiêu tăng 0,6 mg trong 100 g đất, đảm bảo gieo trồng lúa đạt năng suất cao
- Yêu cầu về nước cho chăn nuôi
Song song với trồng trọt, chăn nuôi cũng là một trong những hướng đi quan trọng, thúc đẩy phát triển kinh tế nông hộ nói riêng và kinh tế khu vực nói chung Một mặt, người dân tự đảm bảo được về thực phẩm, mặt khác qua chăn nuôi sẽ tạo
ra các sản phẩm hàng hoá có thể trao đổi hoặc bán lấy tiền, tăng thu nhập, tạo vốn tích luỹ và tái đầu tư cho sản xuất
Chính phủ Việt nam đã đặt ưu tiên cho việc Uđa dạng hoáU và Uthương mại hoáU
sản xuất chăn nuôi gia súc, coi đây là một trong những yếu tố chính của chiến lược, chính sách giảm nghèo, tạo việc làm, thu nhập, phát triển kinh tế trên các khu vực nông thôn cả nước
Sự thành công đáng kể trong giảm nghèo ở nông thôn Việt nam hơn một thập
kỷ qua là nhờ một phần vào việc nâng cao khả năng an ninh lương thực cho các hộ gia đình ( qua tăng cường sản xuất lương thực ) kết hợp với đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp - nhất là đa dạng hoá chăn nuôi Tăng cường chăn nuôi gia súc đã và đang là yếu tố chính mở ra khả năng thu nhập tiền mặt cho các hộ gia đình nông dân Chăn nuôi gia súc nhỏ, như lợn và gia cầm, cũng đóng vai trò quan trọng trên con đường giảm nghèo, nâng cao khả năng dinh dưỡng cho các hộ
Trong suốt thập niên 90, ở nhiều nơi trên đất nước, thu nhập từ chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sản đã tăng mạnh, trở thành nguồn thu nhập tiền mặt chính cho nhiều hộ gia đình Ví dụ, trong giai đoạn 1993 – 1998 ước tính thu nhập của các hộ chăn nuôi đã tăng khoảng 52% Theo nguồn tài liệu của Ngân hàng Thế giới ( WB ) dựa trên số liệu điều tra mức sống dân cư Việt nam, thì tăng trưởng lợi tức nông nghiệp (1993 – 1998 ) như sau:
Trang 28Nguồn lợi tức
Bình quân tổng lợi tức theo hộ (1000 đ)
Tăng trưởng trong 5 năm (%)
Cơ cấu lợi tức nông nghiệp
1993 1998 1993 - 1998 1993 1998
Chăn nuôi & NTTS 1.480 2.269 52,3 28.7 31.1
Trong những năm qua, cùng với sự gia tăng sản xuất chăn nuôi là sự phát triển của nghành công nghiệp thức ăn chăn nuôi Điều đó dẫn tới tăng nhu cầu nguyên liệu thức ăn - nhất là ngô - kéo theo sự thay đổi trong cơ cấu sản xuất cây lương thực ở vùng núi với việc tăng lượng trồng ngô trên các khu vực ruộng lúa và nương rẫy
Chăn nuôi thương mại là một trong các hoạt động kinh tế trong đó vùng cao
có thể thuận lợi hơn các vùng khác ( đồng bằng và trung du ) Giá trị kinh tế cao của các sản phẩm, khả năng đất đai cho chăn nuôi đã làm cho vùng cao phù hợp với chuyên canh một số sản phẩm chăn nuôi, nhất là gia súc lớn
Một trong các sản phẩm phụ của chăn nuôi gia súc, gia cầm là phân bón ruộng Qua con đường này, các nguồn dinh dưỡng luôn được chuyển về đất rừng cho hệ thống canh tác cây lương thực, có tác dụng nâng cao năng suất cây trồng, cải tạo và làm tăng thêm độ màu mỡ cho đất
Nhiều khu vực vùng cao đã rất nổi tiếng với các sản phẩm chăn nuôi có giá trị cao Có thể đưa ra đây một vài ví dụ:
này đã cung cấp nguồn thức ăn và khu vực chăn thả để nuôi trâu bán cho các khu
Trang 29vực đồng bằng lấy sức cày kéo Ví dụ, ước tính có khoảng 10.000 con trâu được bán
từ Tuyên quang mỗi năm Việc buôn bán chủ yếu qua mạng lưới tư nhân và có địa bàn hoạt động rất rộng Trâu được đưa tới đồng bằng sông Cửu long, sang Lào, thậm chí qua cả Thái lan
nuôi ong thương mại Ví dụ, năm 2002 Công ty liên doanh mật ong Tây nguyên, tỉnh Đắc lắc, đã xuất khẩu 2000 tấn mật Công ty quản lý hơn 70 cơ sở nuôi ong và cung cấp việc làm cho hàng trăm hộ gia đình địa phương
điển hình về hệ thống chăn nuôi gia súc vùng cao Huyện Mèo vạc là một trong những khu vực ở Hà giang nổi tiếng về sản xuất thịt bò chất lượng cao Bán gia súc
là nguồn thu nhập đáng kể của các gia đình H’mông trên khu vực
Qua đây, ta thấy rằng, thu nhập từ chăn nuôi chiếm một tỷ trọng khá lớn trong sản suất nông nghiệp ở vùng núi Tuy nhiên, để thúc đẩy nghành chăn nuôi
phát triển thì một yếu tố không kém phần quan trọng là: Nguồn nước, phải được đáp ứng đầy đủ cho mọi nhu cầu trong chăn nuôi
Để đạt được điều này, công tác thủy lợi vùng núi phải thoả mãn các yêu cầu sau đây:
1 Lợi dụng những nơi có điều kiện địa hình cho phép để xây dựng các ao hồ nhỏ lợi dụng tổng hợp, trong đó có nuôi trồng các loại thuỷ sản nước ngọt có giá trị kinh tế cao, kết hợp chăn nuôi các loại gia cầm có khả năng sống trong môi trường nước như ngan, vịt
2 Kết hợp với nghành nông nghiệp để quy hoạch, cấp nước cho các vùng
đồi trống thành các cánh đồng trồng các loại cây làm thức ăn cho gia súc Ví dụ, trồng cỏ và các loại cây họ đậu để nuôi bò sữa, nuôi dê, bò thịt Qua thực tế cho thấy, trở ngại chính cho phát triển đàn gia súc là thiếu nguồn thức ăn có chất lượng, nhất là vào thời kỳ mùa khô
3 Khi tính toán cấp nước phải có kế hoạch dài hạn, trong đó có tính đến nhu cầu nước phục vụ cho công nghệ thực phẩm, chế biến các sản phẩm sau thu hoạch
Ví dụ, cấp nước cho các nhà máy, xí nghiệp sản xuất đồ hộp từ chăn nuôi: Thịt lợn, thịt bò, sữa
Trang 304 Đảm bảo đáp ứng đủ nhu cầu về nước cho việc vệ sinh chuồng trại, nước uống cho gia súc, gia cầm Điều này rất quan trọng, nó góp phần tăng sản lượng và chất lượng thực phẩm, giảm tỷ lệ con giống chết do nhiễm bệnh và nhiễm ký sinh trùng
- Yêu cầu về nước cho phát triển lâm nghiệp
Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương chính sách nhằm bảo vệ và khôi phục lại vốn rừng Điển hình là luật Bảo vệ Phát triển rừng (1991), Chương trình 327 (1992), Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng (1998) Đặc biệt là các chính sách về giao khoán rừng trong lâm nghiệp như: Nghị định 01/ CP (1994), Nghị định 02/CP (1995), Nghị định 163/CP (1999) đã góp phần làm hạn chế tệ nạn phá rừng, đẩy mạnh xây dựng và phát triển rừng
Hiện nay, với các nhận thức ngày càng đầy đủ và sâu sắc hơn về giá trị kinh
tế, sinh thái - nhân văn, cảnh quan - môi trường, an ninh - quốc phòng của rừng, từ việc kinh doanh, khai thác lợi dụng rừng là chủ yếu đã chuyển dần sang phát triển lâm nghiệp bền vững Lâm nghiệp truyền thống lấy Quốc doanh làm chính cũng chuyển sang nền lâm nghiệp xã hội - lâm nghiệp coi con người là trung tâm, là mục tiêu của sự phát triển Rừng sản xuất không chỉ cung cấp lâm sản mà còn phát huy các chức năng sinh thái ở mức cao; rừng phòng hộ ngoài vai trò phòng hộ, chống lũ lụt cho hạ du, chống xói mòn đất, giữ ẩm và điều tiết lưu vực thì còn có chức năng cung cấp lâm sản Kinh doanh rừng lấy sản phẩm có giá trị là chính sẽ được chuyển sang kinh doanh nhằm thu được những giá trị tổng hợp cả về kinh tế, xã hội và sinh thái; sản xuất lâm nghiệp thuần túy sẽ được chuyển thành sản xuất Nông- Lâm nghiệp, Nông -Lâm kết hợp Có thể nói rằng, lâm nghiệp đang chuyển sang một giai đoạn mới, một bước tiến mới, mà ở đó mỗi phương án hoạt động sản xuất, kinh doanh, mỗi giải pháp kỹ thuật hay mỗi quy trình công nghệ, đều phải được quyết định trên cơ sở phân tích hiệu quả tổng hợp về kinh tế - sinh thái - môi trường và phát triển bền vững
Phát triển lâm nghiệp cũng sẽ được lồng ghép với các hoạt động phát triển khác nhằm mục tiêu sử dụng hợp lý, hiệu quả trên diện tích của mỗi hộ gia đình, mỗi cộng đồng và cả đất nước Lâm nghiệp không thể tách rời nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp nông thôn, giao thông, thủy lợi, y tế, giáo dục, lâm
Trang 31nghiệp phải được coi là một bộ phận hợp thành của hệ sinh thái nông nghiệp và các nghành kinh tế khác Ngoài ra, với chức năng cực kỳ quan trọng như bảo vệ đất, giữ
và điều tiết nguồn nước, điều hòa khí hậu lâm nghiệp còn được xem là một hoạt
động “ Xây dựng cơ bản ”, cần được đầu tư để phát triển, nhằm tạo tiền đề và cơ sở
hạ tầng cho sự phát triển nhiều hoạt động kinh tế - xã hội khác Với quan điểm đó, hàng loạt các vấn đề về kinh tế, khoa học công nghệ, kỹ thuật cần phải được nghiên cứu toàn diện, cần được đào tạo, chuyển giao và phổ cập rộng rãi Một trong những vấn đề quan trọng đó là công tác thủy lợi
Trong Hệ sinh thái Rừng, Đất - Nước - Rừng có một một mối quan hệ hữu
cơ hết sức bền vững Nước hòa tan các chất hữu cơ, các chất khoáng trong đất cung cấp chất dinh dưỡng cho cây phát triển Ngược lại, dưới các tán cây rừng ken dày đất sẽ được giữ ẩm, điều tiết nguồn nước, chống được xói mòn và bạc màu đất Mặt khác, khí hậu ở các vùng, các tiểu vùng có rừng cũng được cải thiện hơn
Để góp phần đẩy mạnh công tác phát triển lâm nghiệp, từng bước nâng cao các mặt kinh tế - xã hội vùng núi, yêu cầu đặt ra về mặt thủy lợi như sau:
1- Cấp nước đầy đủ cho các vườn ươm của các lâm trường, đảm bảo cả về số lượng, chất lượng cũng như thời gian
2- Quy hoạch hệ thống công trình, kết hợp với các biện pháp khác như bố trí đường xá, hàng cây và một số biện pháp chống xói mòn khác để giữ đất, giữ nước, tăng khả năng trữ ẩm trong đất (điều này có ý nghĩa rất lớn trong mùa khô), chống xói mòn và rửa trôi đất
3- Bố trí hệ thống kênh phù hợp với độ dốc địa hình và vị trí khu tưới, áp dụng các công nghệ tưới tiên tiến, tiết kiệm nước nhằm tăng hiệu quả canh tác trên đất dốc, phát triển vườn rừng
Với mục tiêu “ Xã hội công bằng - dân chủ - văn minh ”, “ Miền núi tiến kịp miền xuôi ”, “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn”, chúng ta cần có những giải pháp hữu hiệu nhằm thúc đẩy kinh tế - xã hội vùng núi ngày một phát triển bền vững, đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số ngày càng được ấm
no, hạnh phúc, trình độ dân trí được nâng cao, rút ngắn khoảng cách phân hóa giàu - nghèo
Trang 32Một trong những giải pháp đó là, cần chủ động thay đổi cơ cấu cây trồng - vật nuôi, phá vỡ thế độc canh truyền thống, đẩy mạnh phát triển kinh tế hộ, nhất là
mô hình kinh tế trang trại và vườn rừng theo hướng sản xuất nông sản hàng hóa Nhà nước cần phải có định hướng về chiến lược, quy hoạch cho các vùng, các khu vực để sản xuất từng loại nông sản, hình thành các vùng chuyên canh phù hợp với
ưu thế của từng địa phương
Phải hướng cho các hộ nông dân thay đổi cách nghĩ, cách làm thoát khỏi sản xuất tự cấp, tự túc mà là sản xuất hàng hóa để bán, theo yêu cầu của thị trường Hay nói cách khác, người nông dân phải sản xuất để làm giàu chứ không phải chỉ làm cho no đủ trong gia đình Sản phẩm của hộ gia đình vươn ra khỏi làng, xã để lưu thông trong tỉnh, trong vùng và trong cả nước và nước ngoài Từ cách nghĩ như vậy, người nông dân buộc phải lựa chọn cách canh tác, đầu tư cho sản xuất, lựa chọn giống cây trồng, vật nuôi để sản phẩm có chất lượng, có năng suất, thu lợi nhiều hơn
Việc lựa chọn các giống cây con mới có năng suất, chất lượng cao đã và đang được coi là khâu “đột phá” trong nông nghiệp Hàng loạt các giống mới: Chè, cao su, điều, cây ăn quả các loại cũng như trong chăn nuôi: Bò sữa, dê sữa, lợn hướng nạc, gà, vịt siêu thịt, siêu trứng đã tạo nên “mới hóa” các mặt hàng nông sản
Để chủ động thay đổi cơ cấu cây trồng - vật nuôi, một trong những giải pháp quan trọng của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội vùng núi, thì yêu cầu đặt ra cho công tác thủy lợi cũng rất đa dạng và cấp thiết, đó là:
1 Phải xây dựng được hệ thống công trình cung cấp nước tưới cho các loại cây trồng khác nhau, bao gồm: Công trình đầu mối, kênh dẫn các cấp, các trạm bơm cột nước cao để tưới cho vùng đồi ( nếu có yêu cầu) Việc bố trí công trình phải phù hợp với địa hình của từng khu vực cụ thể
2 Quy mô công trình phải phù hợp với yêu cầu cấp nước để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tránh lãng phí Tuy nhiên, cần tính đến khả năng cần nâng cấp sau này
Trang 333 Nguồn nước được cung cấp phải đảm đáp ứng được nhu cầu nước của các loại cây trồng khác nhau, cả về mặt số lượng và thời gian phù hợp với từng thời kỳ sinh trưởng của cây trồng
4 Cần có quy hoạch tổng thể cho từng khu vực, từng vùng, đáp ứng được yêu cầu phát triển và mở rộng diện tích đất canh tác trong tương lai
5 Tận dụng tối đa địa hình cho phép để xây dựng các ao hồ, trữ nước vào các chân ruộng bậc thang theo đường đồng mức một mặt để trữ ẩm, cấp nước tưới, mặt khác tạo môi trường để nuôi trồng thủy sản và các loại thủy cầm như ngan, vịt
6 Bên cạnh việc đáp ứng nhu cầu về nước để chủ động thay đổi cơ cấu cây trồng - vật nuôi, cũng cần phải có các biện pháp tiết kiệm nước, nâng cao hiệu quả
sử dụng nước tưới
• Chỉ tưới bổ sung khi đã tận dụng tối đa lượng nước mưa
• Áp dụng các kỹ thuật tưới hiện đại tiết kiệm nước như tưới nước ngầm, tưới phun, tưới nhỏ giọt, tưới rãnh
• Giảm mất nước trong quá trình dẫn nước, phân phối nước như lát kênh mương, sử dụng đường ống và thực hiện chế độ phân phối nước hợp lý
• Lựa chọn chế độ cây trồng và phương pháp canh thích hợp:
- Chọn các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao để tăng hiệu quả sử dụng trên một mP
3
Pnước tưới;
- Trồng các cây trồng cạn ở vùng trồng lúa hoặc xen canh để giảm tiêu hao nước Ví dụ: đậu tương, lạc, khoai tây sẽ tiêu thụ nước ít hơn từ 1/3 – 1/4 so với cây lúa;
- Áp dụng công nghệ sinh học để tạo ra các giống cây có khả năng sử dụng nước hiệu quả;
- Bảo vệ nước thông qua biện pháp canh tác nông nghiệp làm tăng hiệu quả
sử dụng nước – Nước lại là cơ sở cho sản xuất nông nghiệp bền vững;
Năng lượng đóng một vai trò hết sức to lớn trong nền kinh tế quốc dân, đảm bảo an ninh - quốc phòng Bên cạnh các nguồn như than đá, dầu lửa, khí gas thì điện là một nguồn năng lượng cực kỳ quan trọng, có vai trò rất lớn trong đời sống sinh hoạt và phát triển kinh tế - xã hội
Trang 34Hiện nay, trên Thế giới người ta sản xuất điện từ nhiều nguồn năng lượng khác nhau: Năng lượng nguyên tử, năng lượng nhiệt, thế năng của dòng nước - thủy điện Tuy nhiên, thủy điện vẫn đang được quan tâm hàng đầu do nhiều đặc điểm ưu việt của nó: Tiềm năng khai thác lớn, không gây ô nhiễm môi trường, có khả năng lợi dụng tổng hợp, hiệu quả kinh tế cao
Ở Việt nam, về khai thác thủy năng, trữ năng lý thuyết trên toàn lãnh thổ có thể đạt tới 270 – 300 tỷ KW/h-năm Tới nay đã xác định được 363 vị trí có đủ điều kiện kỹ thuật để xây dựng các nhà máy thủy điện vừa và lớn công suất lắp máy từ
10 MW trở lên, với tổng công suất 17.513 MW, tổng điện lượng 71,9 tỷ Kwh Đồng thời cũng xác định được 500 điểm có thể xây dựng được các trạm thủy điện nhỏ có tổng công suất 814 MW, điện lượng 3,7 tỷ Kwh Đây là nguồn năng lượng tái tạo tương đương 30 – 33 triệu tấn than nguyên khai hay 17 – 18,6 triệu tấn dầu/năm Đó
là nguồn tài nguyên không nhỏ, khai thác trong hàng trăm năm
Bên cạnh những nhà máy thủy điện với công suất rất lớn như trên, việc xây dựng những trạm thủy điện nhỏ để cung cấp điện cho từng khu vực, từng hộ gia đình độc lập cũng rất cần thiết và có hiệu quả kinh tế cao
Trong cả nước nói chung và phạm vi tỉnh Lai Châu nói riêng, đồng bào các dân tộc thiểu số vùng núi thường sống tại các bản xa trung tâm, địa hình phức tạp, giao thông khó khăn, mật độ dân cư thưa thớt, đường điện quốc gia chưa vươn tới được, hoặc có nhưng rất hạn chế do kinh phí có hạn
Chính vì vậy, để giảm bớt khó khăn, nâng cao đời sống cho đồng bào thì một yêu cầu nữa đặt ra cho công tác thủy lợi vùng núi là: Cung cấp điện năng, dựa trên tiềm năng sẵn có của khu vực để phát triển thủy điện nhỏ theo một số hướng như sau:
• Do các khe lạch miền núi có độ dốc lớn, dòng chảy xiết với vận tốc cao, cần triệt để lợi dụng để lắp đặt các loại máy phát điện Mini cung cấp cho từng hộ gia đình Các loại máy này tuy công suất không lớn, nhưng cũng đủ để sử dụng cho các nhu cầu tối thiểu như nghe đài, xem Tivi, thắp sáng phục vụ sinh hoạt và học tập từ đó nâng cao đời sống văn hóa cho đồng bào
Trang 35• Sử dụng biện pháp công trình để xây dựng các trạm bơm thủy luân (tương tự dạng guồng nước mà bà con vẫn thường sử dụng) để chạy động cơ phục
vụ cho xay xát lúa gạo, chế biến nông sản
2.2 ĐỀ XUẤT CÁC MÔ HÌNH KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG TỔNG HỢP NGUỒN NƯỚC
Địa bàn vùng núi tỉnh Lai Châu nói chung và huyện Tam Đường nói riêng rất khó khăn về nguồn nước, đặc biệt trong mùa khô lại càng khan hiếm, nhu cầu về nước lại càng trở nên cấp bách
Như đã tìm hiểu về đặc điểm tự nhiên, hiện trạng phát triển kinh tế xã hội, hiện trạng và khả năng phục vụ của các hệ thống cấp nước vùng nghiên cứu; đồng thời cũng đã nghiên cứu các cơ sở khoa học của vấn đề sử dụng nguồn nước tổng hợp Qua đó, đánh giá được những mặt thuận lợi và hạn chế của vấn đề này trên địa bàn Trên cơ sở đó, trong chương này tôi xin đề xuất một số mô hình sử dụng nguồn
nước một cách có hiệu quả để phục vụ sản xuất và sinh hoạt cho tỉnh Lai Châu nói
chung và huyện Tam Đường nói riêng
Xét một cách tổng quan về những đặc điểm nói trên, huyện Tam Đường cứu
có 3 dạng địa hình đặc trưng, đây là những dạng địa hình mang tính chung nhất, đại biểu cho huyện Tam Đường Cụ thể như sau:
Trong khu vực cần cấp nước có lưu vực với diện tích hứng nước lớn, điều kiện địa hình cho phép để xây dựng hồ chứa, có các thềm suối bằng phẳng thuận tiện cho sản xuất nông nghiệp Trong phạm vi lưu vực có nhiều khe suối với lưu lượng cơ bản dồi dào
Có thể nói rằng, những điều kiện tự nhiên như dạng thứ nhất là hết sức thuận lợi cho việc tạo nguồn nước, xây dựng các công trình cấp nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt Tuy nhiên, qua khảo sát thực tế khu vực nghiên cứu chúng tôi thấy rằng, rất hiếm khi gặp được dạng này
Dạng này bao gồm những lưu vực diện tích hứng nước tương đối lớn, nghĩa là khả năng thu nhận dòng chảy cao, lượng nước ngầm phong phú Tuy nhiên địa hình hẹp
Trang 36và dốc, dung tích trữ nước nhỏ, do đó không đủ điều kiện xây dựng hồ chứa, hoặc nếu có làm thì đập sẽ rất cao, kinh phí đầu tư lớn, không mang tính khả thi
Cũng tương tự như dạng trên Nghĩa là, lưu lượng cơ bản lớn nhưng điều kiện địa hình không thuận lợi, không tìm được vị trí thích hợp để xây dựng hồ chứa Mặt khác, các khu tưới và khu dân cư phần lớn nằm cao hơn lòng suối, nước mạch thì khan hiếm, nước ngầm thì quá sâu, đầu tư khai thác rất lớn
Đây là dạng rất phổ biến trên một số huyện miền núi của tỉnh Lai Châu Quả
là một thách thức đối với vấn đề cấp nước Tuy nhiên, chúng ta sẽ tìm ra biện pháp khắc phục, giải quyết bài toán này một cách tốt nhất, trên cơ sở lợi dụng tối đa những nguồn nước có thể có trong khu vực, kết hợp với những phương pháp tưới tiên tiến nhất, nhằm mục đích cuối cùng là: Thoả mãn mọi nhu cầu về nước cho phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
2.2.1 Mô hình I
Bao gồm các nội dung sau
• Chọn vị trí thích hợp xây dựng hồ chứa để tưới cho vùng cao Trên thượng nguồn tận dụng điều kiện địa hình để làm các ao núi nhằm tăng tính điều tiết của lưu vực, tăng khả năng phục vụ của hồ
• Phía hạ lưu đập bố trí các trạm thủy điện, các bể xử lý nước sinh hoạt phục vụ dân sinh
• Dọc theo kênh chính thường có các thác nước do điều kiện địa hình hoặc cống lấy nước vào kênh nhánh, tận dụng các vị trí này để xây dựng các trạm thủy điện mini, các trạm bơm thủy luân sử dụng năng lượng nước, các cối giã gạo
Dùng các trạm bơm nước va hoặc đập dâng để tưới cho vùng thấp, vùng ven thềm suối
Trên đầu nguồn, chọn vị trí thích hợp để xây dựng hồ chứa, tạo nguồn nước
để cung cấp cho các khu ruộng cao, các khu canh tác trên sườn dốc có cao độ thấp hơn mực nước hồ để có thể đảm bảo tưới tự chảy
Trang 37Nguồn nước hồ không những cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp mà còn có nhiệm vụ cấp nước sinh hoạt, phát điện và các nhu cầu về nước khác như: Nuôi trồng thủy sản, giao thông thủy, cải tạo môi trường khí hậu của khu vực.
Hình 2.1: Mô hình I
Trang 38Tăng hiệu quả hồ chứa
Phía trên thượng nguồn của hồ chứa chính, trên các nhánh suối đổ vào hồ, chọn vị trí thích hợp để xây dựng các ao núi và các hồ chứa nhỏ Những ao, hồ này
có tác dụng tăng cường khả năng điều tiết của lưu vực, tăng hiệu quả làm việc của
hồ chính, giảm xói mòn và góp phần chống lũ lụt cho hạ du Bên cạnh đó, chúng còn có nhiệm vụ cung cấp nước tưới cho các vùng độc lập hoặc những vùng cao cục
bộ, cải thiện môi trường vi khí hậu
Hå chÝnh
A o nói
§Ëp ch¾n
2 Hệ thống kênh dẫn
Nước trong hồ được dẫn vào hệ thống kênh qua cống lấy nước dưới đập Về kết cấu kênh, ở địa bàn miền núi tốt nhất là dùng kênh đá xây, gạch xây, kênh bêtông hoặc đường ống Mục đích để tăng độ dốc đáy kênh phù hợp với địa hình, giảm tiết diện mặt cắt, tiết kiệm khối lượng Mặt khác, trên đỉnh bờ kênh nên bố trí tấm nắp để chống sạt lở gây bồi lấp lòng kênh Ngoài ra chúng còn có tác dụng cho nước tràn qua, bảo đảm an toàn cho kênh trong mùa lũ khi kênh phải đi cắt qua các khe suối hoặc đi ven theo sườn dốc
Kênh dẫn chính lấy nước từ hồ chứa sẽ cung cấp cho các kênh nhánh qua cống lấy nước đầu kênh, sau đó dẫn tới mặt ruộng
Trang 393 Cấp nước tưới cho sản xuất nông nghiệp
Hiện nay, để cấp nước tưới cho sản xuất nông nghiệp người ta có nhiều phương pháp khác nhau, bao gồm cả truyền thống và hiện đại Tuy nhiên, trong mỗi phương pháp đều có những ưu nhược điểm riêng Chính vì vậy, cần cân nhắc tính toán để lựa chọn cho phù hợp với thực tế sử dụng
Trong mô hình này, điều kiện nguồn nước tương đối đảm bảo cả về lượng và cột nước để có thể tưới tự chảy Hơn nữa, hình thức canh tác ở đây là các thửa ruộng bậc thang theo đường đồng mức, rất thuận tiện cho việc bố trí công trình cấp nước Do đó, chúng tôi đề xuất dùng phương pháp tưới tràn Nước được dẫn vào các thửa ruộng trên cao, sau đó tràn dần xuống dưới cứ tiếp tục như vậy
Tuy nhiên, để tiết kiệm nước chảy tràn lan gây lãng phí và xói mòn bạc màu đất, nước chảy từ ruộng cao xuống ruộng thấp nên qua cống lấy nước Hình thức cống rất đơn giản, thân cống có thể bằng ống nhựa PVC, sau cống có bể tiêu năng Tại chân thửa ruộng thấp nhất bố trí kênh thu nước, mục đích để tận dụng tối đa lượng nước hồi quy, có thể tái sử dụng khi cần thiết Bên cạnh việc xây dựng cống cũng cần phải củng cố, đắp hoàn thiện các bờ vùng nhằm trữ nước trong ruộng, nâng cao hiệu quả tưới nước
èng cèng
BÓ tiªu n¨ng
Để tận dụng tối đa tiềm năng đất đai của khu vực, không những cấp nước tưới cho các khu vực canh tác lấy nguồn nước trực tiếp từ hồ qua hệ thống kênh tự chảy, mà còn mở rộng diện tích được tưới qua nhiều phương pháp khác, cụ thể:
Dọc lòng suối cũ, tại các vị trí thích hợp xây dựng các đập dâng hoặc các trạm bơm thuỷ luân để tưới cho các thửa ruộng ven thềm suối
Trang 40Để cung cấp nước tưới cho các loại cây công nghiệp, cây ăn quả như chè, cà phê, quýt trên các triền dốc cao, nơi mực nước hồ không thể giải quyết tưới tự chảy được, phải dùng các biện pháp cấp nước khác
Hiện nay, để cung cấp nước tưới cho cây vùng đồi, vùng cao đất dốc người
ta có nhiều công nghệ khác nhau: Bơm nước va, bơm tuabin, bơm di chuyển trên đường ray, bơm cột hút cao, bơm chìm Trong đó, hai loại bơm va và bơm tuabin có
ưu điểm khác biệt là: Không phải sử dụng năng lượng điện hoặc dầu Hơn nữa, vốn đầu tư thấp, thi công lắp đặt nhanh, dễ phổ cập, tính xã hội hóa cao, đặc biệt là đốivới vùng núi
Dọc theo đường kênh dẫn nước tưới, chọn vị trí thích hợp để đặt trạm bơm, bơm nước lên để tưới cho các diện tích nằm trên sườn dốc mà tuyến kênh tưới không đảm nhiệm được Ngoài nhiệm vụ cung cấp nước tưới, các trạm bơm này còn có thể cung cấp nước sinh hoạt và phục vụ các nhu cầu về nước khác của người dân Đặc biệt, đối với bơm tuabin, khi ngừng tưới có thể lắp thêm động cơ để chạy máy phát điện hoặc chế biến nông sản, xay xát, phục vụ đa nhu cầu cho đồng bào