1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG THOÁT LŨ SÔNG TRÀ KHÚC VÀ SÔNG VỆ BẰNG PHƯƠNG PHÁP MÔ HÌNH TOÁN

115 87 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 3,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên toàn tỉnh có 4 sông lớn sông Trà Bồng, sông Trà Khúc, sông Vệ và sông Trà Câu nhưng sông Trà Khúc và sông Vệ là 2 con sông chảy giữa tỉnh , nơi tập trung dân cư đông đúc và nhiều

Trang 1

NGUY ỄN ĐỨC DIỆN

VÀ SÔNG VỆ BẰNG PHƯƠNG PHÁP MÔ HÌNH TOÁN

Hà N ội – 2011

Trang 2

NGUY Ễ N ĐỨ C DI Ệ N

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG THOÁT LŨ SÔNG TRÀ KHÚC

VÀ SÔNG V Ệ B Ằ NG PH ƯƠ NG PHA ́ P MÔ HI ̀ NH TOA ́ N

Chuyên ngành:Th ủy văn học

Trang 3

L ỜI CẢM ƠN

Lu ận văn Thạc sỹ kỹ thuật được hoàn thành đánh dấu một bước quan trọng trên con đường công danh, sự nghiệp và nghiên cứu khoa học Để hoàn thành được Luận văn này, tác giả đã nhận được nhiều sự giúp đỡ của các cá nhân, cơ quan, ban ngành và đoàn thể

Đầu tiên, tác giả muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến hai thầy hướng dẫn khoa h ọc là TS Nguyễn Thanh Hùng - Viện Khoa học Thuỷ lợi Việt Nam và TS

Tr ần Thanh Tùng - Trường Đại học Thuỷ lợi

Xin được chân thành cảm ơn các thầy, cô của các bộ môn thuộc Trường Đại

h ọc Thuỷ lợi đã cung cấp những kiến thức bổ ích trong hơn 25 môn học trong chương trình đào tạo Thạc sỹ ngành Thuỷ văn học

Chân thành c ảm ơn các cá nhân, cơ quan thuộc Viện Khoa học Thuỷ lợi Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi để tác giả được tham gia chương trình đào tạo Cao h ọc và hoàn thành khoá học, cũng như Luận văn này

M ột phần dữ liệu quan trọng được thu thập để thực hiện Luận văn này được

l ấy từ Viện Địa lý - Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, do vậy, tác giả

mu ốn bày tỏ lòng biết ơn đến tập thể, cán bộ và các cá nhân trong Viện

Xin cảm ơn gia đình bé nhỏ của tác giả, những người luôn theo sát, động viên, khích l ệ và tạo điều kiện để tác giả hoàn thành tốt công việc chuyên môn, khoá h ọc và Luận văn này

Cu ối cùng xin bày tỏ lòng đặc biệt biết ơn đến cha, mẹ, anh, chị và những người thân trong gia đình đã nuôi dưỡng, giáo dục và động viên tác giả trong suốt những năm tháng qua của cuộc đời để có được những sự trưởng thành như ngày nay

Hà N ội, tháng 03 năm 2011

Tác gi ả luận văn

Trang 6

Nguyễn Đức Diện - CH16V

4T

3.2.4T 4TKHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG THOÁT

LŨ, TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ TRÊN THẾ GIỚI4T 50

Trang 12

Nguyễn Đức Diện - CH16V

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1 ATNĐ Áp thấp nhiệt đới

2 BĐI, BDDII, BĐIII Báo động I, Báo động II, Báo động III

7 HTNĐ Hội tụ nhiệt đới

Trang 13

Nguyễn Đức Diện - CH16V

MỞ ĐẦU

Quảng Ngãi là tỉnh thuộc duyên hải Trung Trung Bộ với đặc điểm chung là núi

lấn sát biển, địa hình có tính chuyển tiếp từ địa hình đồng bằng ven biển ở phía đông đến địa hình miền núi cao ở phía tây Miền núi chiếm khoảng 3/4 diện tích tự nhiên toàn tỉnh, đồng bằng nhỏ hẹp chiếm 1/4 diện tích tự nhiên Hệ thống sông suối tương đối dày đặc và phát triển theo hình nan quạt Độ dốc đáy sông thường rất lớn ở vùng núi nhưng lại giảm nhỏ ở vùng đồng bằng khiến cho khả năng tiêu thoát lũ gặp nhiều bất lợi Lũ thường tập trung nhanh ở thượng lưu và trung lưu các sông nhưng lại tiêu thoát chậm do vùng đồng bằng có độ dốc nhỏ và nhiều vùng trũng có thể gây ngập, úng ảnh hưởng đến an sinh - kinh tế và phát triển của địa phương Trên toàn tỉnh có 4 sông lớn (sông Trà Bồng, sông Trà Khúc, sông Vệ và sông Trà Câu ) nhưng sông Trà Khúc và sông Vệ là 2 con sông chảy giữa tỉnh , nơi tập trung dân cư đông đúc và nhiều vị trí là thị trấn , thị xã, thành phố Quảng Ngãi nên vấn đề lũ lụt của 2 con sông này được địa phương và các Bộ , ngành quan tâm Mặt khác, do là tỉnh ven biển nên thường phải hứng chịu những ả nh hưởng trực tiếp của bão và áp thấp nhiệt đới kéo theo mưa lớn và gây lũ trên các sông Các cửa sông miền Trung nói chung và c ửa sông Trà Khúc, cửa sông Vệ nói riêng thường xuyên

bị bồi cạn, dịch chuyển trong thời kỳ mùa kiệt làm ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng thoát lũ c ủa vùng đồng bằng ven biển nơi các dòng sông chảy qua trước khi đổ ra

biển

Trước đây đã có một số nghiên cứu đánh giá khả năng thoát lũ và ngập lụt trên

hệ thống sông Trà Khúc, sông Vệ ví dụ như dự án quy hoạch lũ của Viện Quy

hoạch thủy lợi, dự án giảm nhẹ thiên tai cho tỉnh Quảng Ngãi do chính phủ Úc tài

trợ Tuy nhiên các dự án này mới chỉ đánh giá khả năng thoát lũ của lòng sông mà chưa xét tới tới khả năng thoát lũ của toàn bộ hệ thống sông, đặc biệt là của vùng

cửa sông Mặt khác các tính toán trước kia chưa xét tới trường hợp cửa sông Vệ bị

bồi lấp và cửa sông Trà Khúc trở thành đường thoát lũ duy nhất cho cả hệ thống sông Vệ và sông Trà Khúc

Trang 14

M ục đích nghiên cứu của đề tài:

Xuất phát từ những vấn đề trên, Đề tài được đề xuất:

+ Đánh giá hiện trạng thoát lũ của sông Trà Khúc và sông Vệ

+ Đánh giá khả năng thoát lũ dựa trên những kịch bản có thể xảy ra

+ Xác lập cơ sở khoa học , đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường khả năng thoát lũ

Phương pháp nghiên cứu:

Đề tài sẽ thực hiện trên cơ sở tổng hợp các phương pháp sau:

1 Phương pháp điều tra thực địa

2 Phương pháp phân tích thống kê

3 Phương pháp mô hình toán thuỷ văn – thuỷ lực

4 Phương pháp chuyên gia

K ết quả đạt được:

1 Báo cáo Luận văn Thạc sỹ kỹ thuật

2 Kết quả nghiên cứu khả năng thoát lũ và bộ mô hình toán

3 01 bài báo khoa học in trên tạp chí chuyên ngành

Trang 15

Nguyễn Đức Diện - CH16V

Chương 1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ TÌNH

HÌNH DÂN SINH - KINH TẾ VÀ XÃ HỘI KHU

VỰC NGHIÊN CỨU

1.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ

Phạm vi nghiên cứu là lưu vực sông Trà Khúc và lưu vực sông Vệ thuộc tỉnh

Quảng Ngãi

Lưu vực sông Trà Khúc nằm trên địa bàn các huyện Sơn Hà, Sơn Tây, Trà

Bồng, Ba Tơ, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Nghĩa Hành, thành phố Quảng Ngãi và một

phần huyện Kon Plong tỉnh Kon Tum

Vùng nghiên cứu có vị trí địa lý:

Phía Bắc giáp lưu vực sông Trà Bồng

Phía Nam giáp lưu vực sông Vệ

Phía Tây giáp lưu vực sông Sê San

Phía Đông giáp Biển Đông

Sông Vệ bắt nguồn từ rừng núi phía Tây của huyện Ba Tơ Sông chảy theo hướng Tây Nam- Đông Bắc, giữa các huyện Nghĩa Hành, Tư Nghĩa, Mộ Đức đổ ra biển Đông tại cửa Cổ Lũy và cửa Đức Lợi Sông Vệ có diện tích lưu vực 1.260kmP

2

P

, bao gồm địa hạt các huyện Ba Tơ, Minh Long, Mộ Đức, Nghĩa Hành và một phần

nhỏ diện tích của huyện Tư Nghĩa Độ cao trung bình lưu vực khoảng 170m, mật độ lưới sông 0,79km/kmP

2

P

Ranh giới lưu vực sông Vệ:

Phía Bắc giáp lưu vực sông Trà Khúc

Phía Nam giáp lưu vực sông Trà Câu

Phía Đông giáp Biển Đông

Phía Tây giáp lưu vực sông Sê San

Trang 16

Nguyễn Đức Diện - CH16V

Hình 1.1 Bản đồ hành chính khu vực nghiên cứu

1.2 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN

1.2.1 Đặc điểm địa hình

Địa hình khu vực có d ạng chung là thấp dần từ Tây sang Đông , địa hình có

dạng phức tạp núi và đồng bằng xen kẽ nhau , chia cắt b ởi những cánh đồng nhỏ nằm dọc theo các thung lũng , từ vùng núi xuống đồng bằng địa hình hạ thấp d ần,

tạo thành d ạng bậc địa hình cao thấp nằm kế tiếp nha u, không có khu đệm chuyển

Trang 17

Nguyễn Đức Diện - CH16V

tiếp giữa vùng núi và đồng bằng Vùng phía Tây là những dãy núi cao v ới độ cao từ 500m đến 1000m, vùng đồng bằng có cao độ từ 5m đến 20 m

Hình 1.2 Bản đồ địa hình lưu vực sông Trà Khúc và sông Vệ

Địa hình dốc là một đặc điểm bất lợi d ễ hình thành các dòng chảy lớn, thường gây lũ lụt vào mùa mưa , còn mùa khô dòng chảy cạn kiệt gây hạn hán Có thể chia địa hình ra làm 4 vùng:

- Vùng núi: Nằm phía Tây của tỉnh, chiếm một phần lớn diện tích chạy dọc ranh giới tỉnh Kon Tum và tỉnh Quảng Ngãi Đó chính là sườn núi phía Đông hoặc nhánh núi kéo dài của dãy Trường Sơn gồm những đỉnh núi có cao độ trung bình 500-700m, thỉnh thoảng có đỉnh núi cao trên 1000m mà đỉnh cao nh ất là Hòn Bà nằm phía Tây Vân Canh 1146 m Vùng núi phía Bắc có nhiều đỉnh núi cao , nhất là vùng núi Trà Bồng, Sơn Hà có những đỉnh núi cao từ 1400 - 1600m Địa hình phân cách mạnh, sông suối trong khu vực có độ dốc lớn, lớp phủ thực vật khá dầy

- Vùng địa hình đồi gò : Đây là địa hình trung gian giữa núi và đồng bằng , độ cao hạ thấp đột ngột gồm nhiều đồi gò nhấp nhô xen kẽ có n hững đồng bằng khá

Trang 18

Một đặc điểm về địa hình đáng lưu ý trong lưu vực là dãy Trường Sơn nằm ở phía Tây lưu vực đã đóng vai trò chính trong việc lệch pha mùa mưa so với cả nước Các dãy núi đều nằm ở phía Tây đã tạo thành hành lang chắn gió, tăng cường độ mưa trong mùa mưa và tăng tính khắc nghiệt trong mùa khô

- Vùng cát ven biển: Cồn cát, đụn cát phân bố thành một dải hẹp ven biển Dạng địa hình này được hình thành do sông n gòi mang vật liệu từ núi xuống bồi lắng ven biển, sóng đẩy dạt vào bờ và gió thổi vun cao thành cồn, đụn

Bắc- Tây Nam, dọc theo phía Tây chủ yếu là hệ thống đứt gãy Ba Tơ- Giá Vực

Dọc theo các đứt gãy xuất hiện nhiều thể magma xâm nhập, nối tiếp với các thành

tạo trầm tích Neogen và kỷ đệ tứ

Trang 19

Nguyễn Đức Diện - CH16V

1.2.3 Thổ nhưỡng

Lưu vực sông Trà Khúc và sông Vệ có 9 loại đất sau:

1 Đất cát ven biển: Đất cát ven biển được tạo thành từ các trầm tích sông, trầm tích biển và trầm tích sông biển Loại đất này gặp ở vùng ven biển thuộc các huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Mộ Đức và Đức Phổ Diện tích đất cát ven biển trong vùng nghiên cứu là 6290 ha

2 Đất mặn Đất mặn nằm xen với đất phù sa ở các vùng cửa sông thuộc các huyện ven biển với diện tích 1573 ha Loại đất này chủ yếu thích hợp cho nuôi

trồng thủy sản nhưng cần chủ động nước ngọt để thay nước cho tôm cá, không thích

4 Nhóm đất Glây: Nhóm đất này thường gặp ở các vùng địa hình trũng ở đồng

bằng, thường xuyên ẩm ướt của các huyện Sơn Tịnh, Mộ Đức, Tư Nghĩa thích hợp

với trồng lúa nước, song cần luân canh với trồng màu và cung cấp phân hóa học đặc

biệt là lân và kali để cải tạo tính chất của đất Diện tích nhóm đất này là 2052 ha

5 Nhóm đất xám: Nhóm đất xám có diện tích lớn nhất vùng nghiên cứu được phân bố ở tất cả các huyện trên nhiều dạng địa hình khác nhau từ đồng bằng ven

biển đến các vùng núi cao Tuy nhiên diện tích tập trung nhiều ở các huyện Ba Tơ, Sơn Hà, Sơn Tây Loại đất này phù hợp với sản xuất các loại cây như hoa màu, cây công nghiệp hàng năm và lâu năm như mía, lạc, ca cao, chè, quế Diện tích của nhóm đất xám là 286909 ha

6 Nhóm đất đỏ: Nhóm đất đỏ phân bố chủ yếu ở hai huyện Sơn Tịnh và Bình Sơn Đặc điểm của đất là thịt pha sét, có thành phần cơ giới trung bình, đất tích lũy

sắt nhôm, đất có hàm lượng hữu cơ khá, tuy vậy vẫn thiếu lân và kali, đặc biệt là lân Diện tích của nhóm đất đỏ là 6106 ha

Trang 20

Nguyễn Đức Diện - CH16V

7 Nhóm đất đen: Đất đen xuất hiện ở Bình Sơn và Sơn Tịnh Gồm có đất đen

và đất nâu thẫm phát triển trên đá Bazan Diện tích nhóm đất đen là 2398 ha

8 Nhóm đất nứt nẻ: Nhóm đất này có diện tích không đáng kể trong vùng nghiên cứu hình thành do sản phẩm của núi lửa và chỉ gặp duy nhất ở huyện Bình Sơn Loại đất này hạn chế trong sử dụng, có diện tích 234 ha

9 Nhóm đất mòn trơ sỏi đá: Nhóm đất mòn trơ sỏi đá phân bố ở hầu hết các huyện không tốt cho sản xuất nông nghiệp Diện tích đất mòn trơ sỏi đá là 6348 ha

1.2.4 Thảm phủ thực vật

Thảm phủ thực vật có tác dụng quan trọng trong việc điều hòa khí hậu và điều

tiết dòng chảy Đặc biệt rừng có tác dụng làm giảm dòng chảy lũ và tăng lượng dòng chảy mùa kiệt

Rừng ở Quảng Ngãi tuy ít so với cả nước, chủ yếu là rừng nghèo và rừng trung bình nhưng trữ lượng rừng rất phong phú và có nhiều loại gỗ quý như gõ, sơn, dổi,

và có nhiều quế … như ở Minh Long, Ba Tơ, Sơn Tây, Sơn Hà

Rừng trong lưu vực chủ yếu tập trung ở vùng thượng nguồn trên các vùng núi cao, độ dốc lớn (5P

) Việc trồng cây gây rừng vẫn chưa hàn gắn được những

tổn thất về rừng trong thời kỳ chiến tranh và hậu quả của việc khai thác bừa bãi , chưa hợp lý và t ệ chặt phá rừng lấy gỗ và làm nương rẫy Hiện nay có xu thế giảm rừng giàu và trung bình , tăng diện tích rừng nghèo Độ che phủ của rừng thấp làm

cho xói mòn đất, suy thoái nguồn nước làm cho tình hình lũ lụt hạn hán ngày càng gia tăng

1.3 TÌNH HÌNH DÂN SINH - KINH TẾ - XÃ HỘI

1.3.1 Đặc điểm chung về kinh tế - xã hội

Theo niên giám thống kê tỉnh Quảng Ngãi năm 2009, dân số toàn tỉnh Quảng Ngãi là 1.219.229 người, trong đó trong lưu vực sông Trà Khúc có 1.000.946 người Mật độ dân số trung bình là 237 người/ kmP

Trang 21

Trong vùng có nhiều dân tộc khác nhau sinh sống như người Kinh , Xơ Đăng, Hrê, Cor và các dân tộc khác Người Kinh sống tập trung ở các huyện đồng bằng và chiếm tới hơn 99% dân số Trong khi đó , ở các huyện miền núi Sơn Hà , Sơn Tây,

Ba Tơ, dân tộc Xơ Đăng và Hrê chiếm từ 84-88%

Trong những năm gần đây , tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm dần Tỷ lệ này là 1,4% năm 2001, trong khi đó năm 1998 là 1,6%

1.3.2 Các lĩnh vực kinh tế

1.3.2.1 Nông n ghiệp

Trong những năm gần đây ngành nông nghiệp của tỉnh Quảng Ngãi nói chung

và lưu vực sông Trà Khúc nói riêng đã từng bước phát triển, đặc biệt là sản xuất lương thực Nông nghiệp phát triển đã góp phần quan trọng vào việc ổn định đời

sống nhân dân và phát triển kinh tế xã hội trong vùng

Tuy nhiên do ảnh hưởng nhiều yếu tố nên tốc độ tăng trưởng ngành nông nghiệp chưa cao, tốc độ tăng trưởng bình quân của ngành khoảng 4,5%/năm Một số vùng sản xuất tập trung chuyên canh đã hình thành, sản lượng lương thực nhìn chung tăng dần, tương đối ổn định và có khả năng đáp ứng được cơ bản về nhu cầu

tại chỗ Bên cạnh ngành trồng trọt ngành chăn nuôi đã được quan tâm và cũng có sự tăng trưởng khá Năm 2009 giá trị sản xuất ngành nông nghiệp chiếm 42% trong cơ

cấu tổng sản phẩm của tỉnh, trong đó trồng trọt chiếm 63,48%, chăn nuôi chiếm 33,07%, dịch vụ và săn bắn chiếm 4,45%

Trang 22

Nguyễn Đức Diện - CH16V

1.3.2.2 Lâm n ghiệp

Hiện tại trong lưu vực sông Trà Khú c có diện tích đất lâm ngh iệp là 154.130 ha trong đó rừng tự nhiên là 125.694 ha và rừng trồng là 28.435 So với các tỉnh trong

cả nước thì vốn rừng của Quảng Ngãi nói chung và lưu vực sông Trà Khúc nói riêng

là ít, chủ yếu là rừng trung bình và rừng nghèo Tuy nhiên, trữ lượng rừng cao hơn mức trung bình của cả nước

Rừng trong lưu vực chủ yếu tập trung ở vùng thượng nguồn trên các vùng núi cao, độ dốc lớn (50 - 300) Do quá trình khai thác bừa bãi , chưa hợp lý nên hiện đang có xu thế giảm rừng giàu và trung bình, tăng diện tích rừng nghèo

1.3.2.3 Công n ghiệp

Trong những năm qua, ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp đã từng bước phát triển song chủ yếu với qui mô vừa và nhỏ Công nghiệp chế biến nông – lâm – thuỷ sản và sản xuất vật liệu xây dựng đã được chú trọng Nhiều nhà máy, xí nghiệp mới ra đời như nhà máy bao bì , sữa, chế biến bột mỳ , rau quả, may mặc, gạch tuy nen, gạch xây dựng,

Đến nay, toàn vùng đã có 60 doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, gần 12.000 cơ

sở và hộ sản xuất tiểu thủ công nghiệp Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 14,8%/năm, chiếm tỷ trọng 21% trong nền kinh tế của tỉnh G1Tiá trị sản xuất công nghiệp trong năm 2009 đạt khoảng 6.930 tỷ đồng, tăng 144,7% so với năm trước Trong đó khu vực kinh tế nhà nước đạt khoảng 4.192 tỷ đồng, tăng gấp 8,4 lần so

với năm 2008; kinh tế ngoài nhà nước đạt khoảng 2.582 tỷ đồng, tăng gấp 182,4 lần

so với năm 2008

1.3.2.4 Thủy sản

Ngành thuỷ sản có những chuyển biến mạnh trong những năm gần đây cả về đánh bắt lẫn nuôi trồng và chế biến Nhờ tập trung đầu tư phát triển tàu thuyền có công suất lớn để đánh bắt xa bờ nên sản lượng đạt 66.000 tấn Nghề nuôi tôm sú phát triển mạnh và đạt hiệu quả kinh tế cao ở vùng cửa sông với diện tích nuôi trồng

thủy sản là 599 ha

Trang 23

Nguyễn Đức Diện - CH16V

Thương mại dịch vụ phát triển đa dạng cả về thành phần tham gia và chủng loại thành phần và chủng loại hàng hoá, đáp ứng cơ bản nhu cầu sản xuất và đời sống xã hội 1TVề thương mại thị trường trong nước: Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu

dịch vụ đạt 13.400 tỷ đồng, tăng 25% so với năm trước và vượt 3% kế hoạch năm Trong đó kinh tế Nhà nước đạt 1.222,2 tỷ đồng, tăng 22,7% so với năm 2008 và chiếm 9,12% thị phần; kinh tế cá thể đạt 9.461,5 tỷ đồng, tăng 28,6% và chiếm 70,6% thị phần; kinh tế tư nhân đạt 2.705,5 tỷ đồng, tăng 15% và chiếm 20,19% thị

phần.1TThương mại quốc doanh chiếm tỷ trọng nhỏ và nhịp độ phát triển chậm , trong khi đó thương mại ngoài quốc doanh lại tăng nhanh , chiếm tỷ trọng gần 90% tổng mức thu của ngành với 26.600 hộ kinh doanh gồm 30.490 lao động Kinh doanh du lịch cũng ngày càng phát triển, tăng khoảng 22%/năm

1.4 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH QUẢNG NGÃI [6]

Có thể nói toàn bộ nội dung phát triển kinh tế - xã hội các ngành, lĩnh vực cùng

với các sản phẩm chủ lực, định hướng khung phát triển trong giai đoạn 10 năm

2011 - 2020 có chia ra hai thời kỳ 2011 - 2015 và 2016 - 2020 đều được xác định đầy đủ, với mục tiêu chung đến năm 2020 Quảng Ngãi trở thành tỉnh Công nghiệp

với cơ cấu kinh tế công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp

Tất cả các định hướng phát triển đều căn cứ trên các đề án, quy hoạch vùng, quy hoạch ngành từ Trung ương và các luận chứng của địa phương, vì vậy mang tính khoa học, tính thống nhất và tính khả thi cao Phát triển đúng định hướng này

sẽ đưa Quảng Ngãi bước vào giai đoạn phát triển cao hơn, mạnh mẽ hơn với tốc độ nhanh hơn Dưới đây là một số nội dung chính của định hướng:

1.4.1 Công nghiệp

Phát trển công nghiệp với nhịp độ cao Phấn đấu nâng tỷ trọng GDP công nghiệp - xây dựng lên 60% vào năm 2020 Phát triển nhanh, mạnh một số ngành công nghiệp trọng điểm sau:

Trang 24

Nguyễn Đức Diện - CH16V

- Công nghiệp lọc hóa dầu

- Công nghiệp gia công kim loại, đóng tàu và điện tử tin học

- Công nghiệp chế biến nông - lâm - thủy sản

- Công nghiệp vật liệu xây dựng, gốm sứ, thủy tinh

- Công nghiệp khai khoáng

- Công nghiệp may, da giày

- Công nghiệp điện, sản xuất và phân phối nước

- Phát triển và bảo tồn tiểu thủ công nghiệp và làng nghề

- Phát triển các khu, cụm công nghiệp

Quy hoạch các cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề ở các huyện

với tổng diện tích sử dụng khoảng 560ha với 45.000 lao động Trong đó Đức Phổ

có 4 CCN – TTCN là Sa Huỳnh, Phổ Phong, Gò Hội, Phổ Khánh Tư Nghĩa có CCN La Hà, các điểm công nghiệp Cổ Lũy, Nghĩa Thuận Nghĩa Hành có CCN Đồng Dinh, CCN Núi Đá Hai Bình Sơn có 4 CCN Bình Nguyên, Bình Khương, đông thị trấn Châu Ổ, Bình Hiệp Mộ Đức có CCN Quán Lát, Thạch Trụ, CCN Tây

Mộ Đức Sơn Tịnh có CCN Tịnh Ấn Tây, điểm công nghiệp-làng nghề thị trấn Sơn

Tịnh Lý Sơn có điểm công nghiệp - làng nghề An Hải

1.4.2 Dịch vụ

Nâng tỷ trọng dịch vụ trong GDP lên 30,8% vào năm 2015 và 32,4% vào năm

2020 Giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng hóa dịch vụ đạt 400 - 410 triệu USD vào năm 2020

1.4.3 Nông, lâm, thủy sản

Phát triển nông, lâm, thủy sản theo hướng CNH, HĐH, bền vững về sinh thái, cung cấp các sản phẩm nông nghiệp có sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và hướng ra xuất khẩu Kết hợp phát triển sản xuất nông sản hàng hóa với đảm bảo

chất lượng nông sản và vệ sinh an toàn thực phẩm Giá trị sản xuất nông nghiệp đạt

Trang 25

Tạo việc làm phi nông nghiệp để giảm lao động nông nghiệp xuống 40% trong

tổng lao động vào năm 2020 Đầu tư phát triển lâm nghiệp theo hướng đẩy mạnh

trồng rừng, nâng tỷ lệ che phủ rừng lên 47-48% năm 2015 và 50% năm 2020 Xây

dựng hệ thống hạ tầng thủy sản: cảng cá Sa Huỳnh, Sa Cần, Trung tâm dịch vụ hậu

cần nghề cá Sa Kỳ, nạo vét Cửa Đại Sau 2015 xây dựng, mở vùng neo đậu tàu thuyền và trung tâm dịch vụ nghề cá Lý Sơn đạt tầm cỡ khu vực miền Trung

1.4.4 Các lĩnh vực xã hội

- Phát triển dân số và nguồn nhân lực: Dân số Quảng Ngãi năm 2015 khoảng 1,4 triệu người và năm 2020 khoảng trên 1,5 triệu người Dự kiến đến năm 2020 chỉ còn khoảng 40% lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội Phấn đấu đến năm 2020 có 42% lao động qua đào tạo

- Giáo dục và đào tạo: Hoàn thành việc xây dựng vào đưa vào họat động trường Cao đẳng nghề Việt Nam – Hàn Quốc – Quảng Ngãi, trường Trung cấp nghề Đức

Phổ, Trung tâm đào tạo nghề quy mô vùng và thành lập thêm các trung tâm dạy nghề ở 6 huyện miền núi Phối hợp với Bộ Tài chính thành lập trường Đại học Tài chính – Kế toán trên cơ sở trường Cao đẳng Tài chính – Kế toán hện nay

- Y tế, chăm sóc sức khỏe công đồng: Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ y tế về chuyên môn, y đức, quản lý và sử dụng các thiết bị hiện đại Đến năm 2015 thành lập bệnh viện nội tiết, bệnh viện mắt Sau năm 2015 xây dựng

bệnh viện ung bướu Nâng cấp trường trung học y tế thành trường Cao đẳng y tế

- Văn hóa, thể dục, thể thao: Phấn đấu đến năm 2015 có 90-95% gia đình, 85% thôn, tổ dân phố, trên 95% cơ quan, trường học đạt chuẩn văn hóa; 100% các huyện, thành phố có trung tâm văn hóa – thể thao, thư viện, sân bãi thể thao, nhà

Trang 26

dụng kỹ thuật nông, lâm, thủy sản

- Chính sách xã hội và xóa đói giảm nghèo: Thực hiện đồng bộ, toàn diện và

hiệu quả các chương trình, dự án xóa đói giảm nghèo; tăng cường các nguồn lực theo hướng xã hội hóa, đẩy nhanh tốc độ xóa đói, giảm nghèo; tập trung cho 6 huyện nghèo miền núi Xây dựng và phát triển mạng lưới an sinh xã hội, đẩy mạnh

thực hiện các chính sách xã hội và công tác phòng chống tệ nạn xã hội

1.4.5 Phát triển kết cấu hạ tầng về cấp nước và xử lý nước thải

Cải tạo hệ thống cấp thoát nước, nâng công suất nhà máy nước tại thành phố

Tiếp tục xây dựng và hoàn thành các hồ chứa lớn để hoàn chỉnh hệ thống tưới

và cắt lũ cơ bản Thạch Nham cùng Hồ Nước Trong hỗ trợ cho Thạch Nham, triển khai công trình thủy lợi hồ Chóp Vung Quy hoạch xây dựng đê biển (dự án đê biển

Quảng Ngãi – Kiên Giang) kết hợp với giao thông ven biển Dung Quất – Sa Huỳnh Đầu tư xây dựng và vận hành hệ thống hạ tầng xử lý nước thải tại các KCN, cụm công nghiệp và các cơ sở sản xuất công nghiệp, các đô thị và khu dân cư tập trung Đến năm 2015 xử lý được 65% và năm 2020 xử lý 75% nước thải công nghiệp đảm

bảo chất lượng được phép xả thải

Trang 27

Hệ thống sông Trà Khúc là hệ thống sông lớn nhất trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, gồm sông chính là sông Trà Khúc và các phụ lưu

Sông Trà Khúc bắt nguồn từ vùng núi cao Kon Plong tỉnh Kon Tum ở độ cao

1500 m Phần thượng nguồn sông chảy theo hướng Nam-Bắc, đến Thạch Nham

chảy theo hướng Tây-Đông, đổ ra biển qua cửa Cổ Lũy Sông có chiều dài 135 km,

Mạng sông trong lưu vực có dạng cành cây Ngoài dòng chính ra sông có các

phụ lưu sau :

+ Nhánh Đăk Đrinh: chảy trong vùng núi phía Tây của tỉnh ở độ cao 1100m,

hợp lưu với dòng chính tại Tay On, có chiều dài 19 km, diện tích lưu vực 42 kmP

2

P

+ Nhánh Đak se Lô: bắt nguồn từ vùng núi cao phía Nam của tỉnh, có chiều dài

65 km và diện tích lưu vực 633 kmP

2

P

+ Nhánh sông Re: bắt nguồn từ vùng núi cao phía Tây Nam huyện Ba Tơ ở độ cao 800m, sông có chiều dài 82 km với diện tích lưu vực 625 kmP

2

P

Trang 28

Hình 2.1 Bản đồ mạng lưới sông suối và mạng lưới quan trắc KTTV

Sông Vệ là hệ thống sông lớn thứ hai tỉnh Quảng Ngãi Sông dài khoảng 90km, trong đó 2/3 chiều dài chảy trong vùng núi có độ cao 100 - 1.000m Sông có 05 phụ lưu cấp I, 02 phụ lưu cấp II Các phụ lưu không lớn, đáng kể là:

Trang 29

+ Sông Mễ chảy từ vùng núi Mum, phần tiếp giáp giữa hai huyện Ba Tơ và Minh Long theo hướng Tây Bắc- Đông Nam, hợp lưu tại khoảng làng Teng xã Ba Thành, dài khoảng 09km Dòng chính cơ bản chảy theo hướng Tây Nam - Đông

Bắc, dọc huyện Nghĩa Hành đến hết xã Hành Thiện thì sông thoát khỏi núi, chảy trên vùng đồng bằng Tại điểm này có trạm bơm Nam sông Vệ Đến qua đường sắt, sông chảy giữa hai huyện Tư Nghĩa - Mộ Đức Trên sông Vệ xưa kia cũng có rất nhiều guồng xe nước Cuối nguồn, sông Vệ đổ ra cửa Lở và cửa Đại Cổ Lũy

Sông Vệ có một chi lưu đáng kể nhất là sông Thoa Sông Thoa bắt đầu từ thôn

Mỹ Hưng (xã Hành Thịnh, huyện Nghĩa Hành) và thôn Phú An (xã Đức Hiệp, huyện Mộ Đức) theo hướng Tây Bắc- Đông Nam đến Sa Bình (xã Phổ Minh, huyện Đức Phổ) thì nhập với sông Trà Câu rồi đổ ra biển qua cửa Mỹ Á

Ngoài ra, còn có các nhánh sông khác như sông Cây Bứa dài 15km, sông Phú

Thọ dài 16km, hợp lưu với sông chính gần vùng cửa sông tạo thành hình nan quạt Sông Phú Thọ thực chất là đoạn sông Vệ ở cuối nguồn Nguồn của chúng chủ yếu

là nước mưa của vùng tiếp giáp giữa rừng núi và đồng bằng

2.2 MẠNG LƯỚI TRẠM QUAN TRẮC KHÍ TƯỢNG - THUỶ VĂN

Mạng lưới trạm quan trắc khí tượng - thuỷ văn trong khu vực nghiên cứu và các vùng lân cận về cơ bản đã được thành lập từ sau năm 1975 đến nay, một số trạm được thành lập từ đầu thế kỷ XX như: Quảng Ngãi, Ba Tơ, Đà Nẵng, Trà My, Hội

An nhưng trong thời kỳ chiến tranh chống Pháp, Mỹ bị gián đoạn

Nhìn chung, các trạm này có chất lượng tài liệu tốt, đủ mức độ tin cậy để sử

dụng trong tính toán

Trang 30

Nguyễn Đức Diện - CH16V

Bảng 2.1 Danh sách các trạm KTTV trong khu vực nghiên cứu và vùng lân cận [5]

Vệ

H, Q, ρ, X H,Q, ρ, X

nước; Q: Lưu lượng ; ρ: Độ đục

Các trạm khí tượng thuỷ văn ch ủ yếu được bố trí chủ yếu ở huyện , lỵ, thị trấn, vùng đồng bằng ven biển , còn ở vùng núi và các nơi hẻo lánh chưa có trạm đo , do

đó cũng chưa nắm bắt được các diễn biến hiện tượng thời tiết và đ ặc điểm thủy văn một cách chi tiết toàn vùng

Qua phân tích cho thấy ở các trạm đo đạc trong khu vực nghiên cứu và vùng lân

cận cho thấy, tài liệu từ sau ngày giải phóng Miền Nam liên tục và đáng tin cậy có thể sử dụng để tính toán các số liệu trước đó không có đầy đủ và không đồng bộ

Trang 31

Nguyễn Đức Diện - CH16V

Đối với các trạm thuỷ văn, từ khi thành lập đến tháng 12/1994 các trạm thuộc lưu vực Trà Khúc tỉnh Quảng Ngãi nói riêng và miền duyên hải Nam Trung bộ nói chung đều sử dụng hệ cao độ giả định Từ tháng 1/1995 đã được chuyển về hệ cao

độ quốc gia với hệ số chuyển đổi như trong Bảng 2.2

Bảng 2.2 Hệ số chuyển đổi hệ cao độ và mực nước báo động các trạm thuỷ văn

Sơn Giang 50.961 43.315 -7.65

Trà Khúc 9.00 8.189 -0.81 2.70 4.20 5.70

An Chỉ 11.50 9.52 -1.98

Sông Vệ 5.715 4.845 -0.87 2.10 3.10 4.10

2.3 ĐẶC ĐIỂM KHÍ TƯỢNG - KHÍ HẬU [1]

Vùng nghiên cứu có chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa nội chí tuyến , chịu ảnh hưởng sâu sắc của địa hình dãy Trường S ơn và các nhiễu động t hời tiết ngoài biển Đông Trong vùng nghiên cứu có hai mùa khí hậu khác nhau:

- Khí hậu mùa Đông : từ tháng XI đến tháng IV là thời kỳ hoạt động của gió mùa Đông Bắc và tín phong Đông Bắc :

+ Gió mùa Đông Bắc mang không khí lạnh (tuy đã biến tính trong quá trình di chuyển qua các dãy núi Bạch Mã , Hải Vân) làm cho nhiệt độ của vùng nghiên cứu thời kỳ này tương đối lạnh Nhiệt độ thấp nhất tại một số trạm xuống đến 10 - 13P

o

P

C Vào đầu mùa Đô ng gió mùa Đông Bắc qua biển mang theo hơi ẩm và kết hợp với hoạt động của các nhiễu động thời tiết trên biển Đông như bão , ATNĐ, khi vào đến đất liền gặp dãy Trường Sơn đã gây mưa vừa đến mưa to Giữa và cuối mùa Đông cường độ hoạt động của các nhiễu động thời tiết này đã lùi sâu hơn vào phía Nam nên sự hội tụ gi ữa gió mùa Đông Bắc với hướng gió Đông , Đông Nam đã yếu đi

Trang 32

- Khí hậu mùa Hạ: Từ tháng V đến tháng X là các hoạt động của gió mùa Tây Nam và Đông Nam

+ Gió mùa hướng Tây Nam có nguồn gốc từ Vịnh Thái Lan mang theo hơi ẩm , khi qua sườn phía Tây của dải Trường Sơn đã để lại lượng mưa đáng kể và tạo thành hiện tượng “phơn” làm cho không khí sườn phía Đông Trường sơn khô và nóng

+ Gió hướng Đông Nam có nguồn gốc từ Đông châu úc hoặc xích đạo gây nên các nhiễu động biển Đông , mang theo hơi ẩm vào các tỉnh Nam Trung bộ vào các tháng V, VI hàng năm cung cấp lượng mưa vừa làm dịu mát và làm bớt đi sự khô hạn trong vùng Từ tháng VII đến tháng IX toàn vùng có lượng mưa không đáng kể nên lại là thời kỳ khô hạn trong vùng

Tóm lại với chế độ gió mùa, điều kiện bức xạ và vị trí địa lý , đặc điểm địa hình

đã tạo cho khí hậu Quảng Ngãi những đặc điểm chủ yếu sau:

- Chế độ gió mùa cùng với dải Trường Sơn đã tạo ra sự tương phản sâu sắc giữa mùa khô và mùa mưa trên toàn vùng nghiên cứu

- Hoạt động của gió mùa, tín phong Đông Bắc và các nhiễu động thời tiết ở biển Đông cùng với địa hình dãy Trường Sơn đã tạo ra mùa mưa phong phú trong các tháng từ tháng IX đến tháng XII

- Do sự xâm nhập sâu về phía Nam của gió mùa Đông Bắc nên Quảng Ngãi tương đối lạnh trong tháng XII, I

- Do hiệu ứng “phơn” của dãy Trường Sơn đối với gió mùa Tây Nam nên ở vùng nghiên cứu xuất hiện một thời kỳ nắng nóng và khô hạn trong suốt các tháng mùa hạ

Trang 33

Nguyễn Đức Diện - CH16V

2.3.1 Chế độ nhiệt

Do được thừa hưởng chế độ bức xạ mặt trời nhiệt đới đã dẫn đến một nền nhiệt

độ cao trong toàn vùng Nhiệt độ có xu hướng tăng dần từ Bắc vào Nam và từ miền núi xuống đồng bằng Nhiệt độ bình quân hàng năm vùng núi : 25,3P

0

P

C, vùng đồng bằng ven biển: 25,7P

Bảng 2.3 Nhiệt độ bình quân tháng, năm của khu vực nghiên cứu

Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm

Ba Tơ 21,4 22,7 24,6 26,8 27,7 28,1 28,0 27,8 26,5 25,1 23,5 21,6 25,3 Quảng Ngãi 21,7 22,5 24,4 26,7 28,3 28,8 28,7 28,6 27,1 25,8 24,1 22,0 25,7 Nhiệt độ tối cao trung bình tháng đạt trên 30P

o

P

C

2.3.2 Số giờ nắng

Tổng số giờ nắng trên vùng nghiên cứu khoảng 2000 - 2200 giờ/năm Tháng có

số giờ nắng nhiều nhất là tháng V, ở vùng núi (Ba Tơ) đạt 222 giờ/tháng, bình quân 7,2 giờ/ngày), vùng đồng bằng ven biển 242 giờ/tháng đạt bình quân 8,2 giờ/ngày

Bảng 2.4 Số giờ nắng bình quân tháng trung bình nhiều năm (Giờ)

Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm

Ba Tơ 114,2 154,6 205,5 215,6 222,6 210,1 222,3 201,8 166,9 132,2 91,5 71,1 2008 Quảng Ngãi 130,2 154,7 210,9 224,1 250,5 229,8 240,5 225,2 183,2 155,8 111,3 84,6 2201

Trang 34

Nguyễn Đức Diện - CH16V

Độ ẩm tương đối trung bình năm trong vùng khoảng 85% Vào các tháng mùa mưa (từ tháng IX tới tháng XII ) độ ẩm không khí đạt từ 85% - 90%, vào các tháng mùa khô chỉ còn đạt trên dưới 80% Độ ẩm không khí thấp nhất có thể xuống tới mức 35% ở Ba Tơ trị số độ ẩm thấp nhất quan trắc được 34%, ở Quảng Ngãi trị số này là 37%

Bảng 2.5 Độ ẩm bình quân tháng trung bình nhiều năm Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm

Ba Tơ 88 87 84 82 83 81 80 80 86 89 90 90 85 Quảng Ngãi 88 87 86 84 82 81 80 80 85 88 89 89 85

2.3.4 Bốc hơi

Theo tài liệu bốc hơi bằng ống piche tại các trạm trong lưu vực vùng nghiên cứu cho thấy lượng bốc hơi hàng năm khoảng 800 mm - 900 mm, Vùng núi khoảng 800mm/năm Vùng đồng bằng ven biển bốc hơi nhiều hơn, khoảng 900mm/năm Vào các tháng mùa khô lượng bốc hơi có thể đạt tới 95 - 100 mm/tháng Tháng

có lượng bốc hơi lớn nhất là tháng VII , tháng có lượng bốc hơi nhỏ n hất là tháng

XI, XII

Bảng 2.6 Lượng bốc hơi ống Piche bình quân tháng trung bình nhiều năm Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm

Ba Tơ 43.3 50.7 75.1 86.6 87.0 96.2 101.8 97.1 61.1 44.3 35.8 33.6 812.7 Quảng Ngãi 52.9 54.9 73.9 83.6 94.6 94.9 103.9 96.1 68.6 69.1 50.1 47.8 890.5

Trang 35

Ngãi

Vtb 1.2 1.4 1.5 1.5 1.2 1.0 1.0 1.0 1.1 1.4 1.6 1.4 1.3 Vmax 18.0 17.0 16.0 19.0 20.0 16.0 18.0 20.0 20.0 28.0 40.0 20.0 40.0 Hướng N N NNE,

SE

SE SW, WNW

S, WNW

W S S NNE N N N

2.3.6 C ác hình thế thời tiết đặc biệt

2.3.6.1 Bão và áp thấp nhiệt đới

Bão và áp thấp nhiệt đới thường phát sinh ở vùng biển Thái Bình Dương hoặc ở

biển Đông Bão thường đổ bộ vào bờ biển nước ta từ tháng VII đến tháng XI , vào các tháng VII, VIII đường đi của bão thường hướng vào đoạn bờ biển Bắc bộ , càng vào phía Nam, bão đổ bộ càng muộn dần

Bão và ATNĐ ảnh hưởng đến Quảng Ngãi thường trùng vào mùa mưa (tháng

IX đến tháng XII) Các cơn bão đổ bộ vào Quảng Ngãi thường gây ra gió mạnh và

mưa rất lớn hoặc các cơn bão đổ bộ vào các vùng lân cận cũng thường gây ra mưa

lớn ở vùng nghiên cứu Mặt khác địa hình vùng nghiên cứu rất thuận lợ i cho việc đón gió bão và mưa bão , do đó cần chú ý công tác phòng chống lũ lụt Hàng năm mưa bão lũ lụt gây những tác hại nghiêm trọng làm thiệt hại người , vật chất và huỷ hoại môi trường, cảnh quan Tại Quảng Ngãi, bão thường tập trung vào tháng IX, X

và tháng XI Khả năng xuất hiện vào tháng X là lớn nhất , tuy nhiên mùa bão diễn

biến khá phức tạp qua các năm : có năm bão ảnh hưởng sớm , có năm muộn, có năm lại không có bão ảnh hưởng

Trang 36

Nguyễn Đức Diện - CH16V

Bão thường gây ra mưa lớn, lượng mưa có thể đạt 400-500mm/ngày hoặc lớn hơn Theo thống kê từ năm từ 1891 - 1999, tổng số cơn bão đổ bộ vào bờ biển Việt nam có 526 cơn, trung bình mỗi năm 4,83 cơn/năm nhưng trong 39 năm trở lại đây (từ 1961 - 1999) bão xuất hiện nhiều hơn (248 cơn), trung bình 6,36 cơn/năm Đặc biệt là từ Quảng Ngãi trở vào có 47 cơn(trong 39 năm), trung bình 1,21 cơn/năm, trong khi 7 thập kỷ trước đó (1891-1960) chỉ xuất hiện 20 cơn, trung bình chỉ có 0,29 cơn/năm

2.3.6.2 Dải hội tụ nhiệt đới

Đây là dạng nhiễu động đặc trưng của gió mùa mùa hạ , thể hiện sự hội tụ giữa gió tín phong Bắc Bán cầu và gió mùa mùa hạ Khi có dải hội tụ nhiệt đới , không khí hai bên trục hội tụ là không khí nóng ẩm , duy trì một vùng mây dày đặc , có bề rộng vài trăm km và gây mưa lớn kèm theo dông trên diện rộ ng Dạng thời tiết này thường ảnh hưởng đến khu vực Trung Bộ nói chung và Quảng Ngãi nói riê ng vào các tháng IX, X và đôi khi vào các tháng V, VI

2.3.6.3 Không khí lạnh

Không khí lạnh ảnh hưởng đến Quảng Ngãi vào các tháng X đến tháng XII Trung bình mỗi năm có 1 đến 2 đợt không khí lạnh ảnh hưởng đến duyên hải Nam Trung Bộ

Thống kê từ 1961 - 1996 có tới 45 đợt KKL và các hình thế thời tiết khác phối hợp, trung bình mỗi năm có 1 đến 2 đợt, năm nhiều nhất có tới 4 đợt như năm 1993,

3 đợt như 1976, 1982, 1984, năm ít nhất không có đợt nào như năm 1961, 1962,

1964

2.3.7 Chế độ mưa

2.3.7.1 Biến động của mưa theo không gian

Nhìn chung trong lưu vực lượng mưa có xu hướng giảm dần từ Bắc vào Nam

và từ Tây sang Đông Vùng mưa lớn chủ yếu ở vùng núi cao như Trà Bồng , Ba Tơ, Giá Vực từ 3200 - 4000mm và vùng trung du , đồng bằng ven biển lượng mưa chỉ còn 1700 - 2200 mm

Trang 37

Nguyễn Đức Diện - CH16V

2.3.7.2 Biến động của mưa theo thời gian

Theo thời gian , sự biến động của mưa năm ở vùng nghiên cứu khá lớn Hệ số biến sai Cv lượng mưa năm đạt từ 0,30 đến 0,50, nguyên nhân là do khu vực này chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão và các nhiễu động thời tiết từ biển Đông làm cho lượng mưa hàng năm không ổn định Năm mưa nhiều có thể gấp 3 - 4 lần năm mưa

ít, năm 1996, 1998 và năm 1999 là năm mưa nhiều và đều khắp vùng nghiên cứu , năm 1999 đạt 5095 mm tại Giá Vực , 4557.7 mm tại Sơn Hà , 6520 mm tại Ba Tơ ,

5157 mm tại Sơn Giang và 3947 mm tại Quảng Ngãi Nhưng năm 1982 là năm mưa ít nhất với lượng mưa đo được ở tại Giá Vực 1299 mm, tại Sơn Hà 2007.9 mm, tại Trà Bồng 2671.2 mm, tại Ba Tơ 1952.6 mm, tại Sơn Giang 1975.6mm và 1373.9

mm tại Quảng Ngãi

2.3.7.3 Biến động mưa theo mùa

Theo chỉ tiêu phân mùa, nếu coi thời gian mùa nhiều mưa bao gồm những tháng

có lượng mưa lớn hơn lượng mưa bình quân tháng trong năm và đạt trên 50% tổng

số năm quan trắc Theo chỉ tiêu này phân bố của mưa theo mùa của vùng nghiên cứu có 2 mùa: mùa mưa và mùa khô:

- Mùa mưa ngắn chỉ từ 3 - 4 tháng, từ tháng IX đến tháng XII hàng năm , Mùa mưa phù hợp với mùa lũ trên các lưu vực sông và trùng với thời kỳ gió mùa Đông Bắc và bão hoạt động trên biển Đông Lượng mưa trong mùa mưa ở đây chiếm từ 70% - 80% lượng mưa cả năm Tháng có lượng mưa lớn nhất thường xảy ra vào tháng X, XI có thể đạt từ 600 đến 900 mm/tháng như tại Giá Vực lượng mưa trung bình tháng XI đạt 904.2 mm, tại Ba Tơ đạt 887.5mm, tại Sơn Giang 923.6 mm, Lượng mưa trung bình tháng X tại An Chỉ 666.7mm, tại Quảng Ngãi 649.9 mm

- Trong khi đó mùa khô kéo dài 8 - 9 tháng, từ tháng I đến tháng VIII với lượng mưa chỉ chiếm 30% - 35% tổng lượng mưa năm Thời kỳ ít mưa nhất trong vùng thường tập trung vào 3 tháng từ tháng II đến tháng IV lượng mưa trong 3 tháng chỉ chiếm khoảng 3-5% lượng mưa năm

Trang 38

Nguyễn Đức Diện - CH16V

Tháng có lượng mưa nhỏ nhất thường là tháng II với lượng mưa chỉ chiếm xấp

xỉ 1%-2% lượng mưa năm

Và do địa hình tron g vùng nghiên cứu xuất hiện các đỉnh mưa phụ vào tháng V

và tháng VI , ở thời kỳ này gió mùa mùa hạ hướng Tây Nam hoặc Đông Nam thổi tới, càng về phía Tây của tỉnh lượng mưa này càng rõ nét hơn với lượng mưa trung bình tháng chiếm khoảng 4-7% lượng mưa năm , tuy nhiên giá trị bình quân của tháng V và tháng VI cũng không vượt quá giá trị bình quân các tháng trong năm Như vậy, qua biến trình mưa trong vùng cho thấy sự chênh lệch giữa tháng mưa

nhiều và tháng mưa ít khoảng 400 - 800 mm Tức là tháng mưa nhiều có tổng lượng mưa gấp 1,5- 20 lần tháng mưa ít Sự phân phối mưa trong năm rất không đồng đều,

đó là điều không thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp

Bảng 2.8 Lượng mưa mùa lũ, mùa kiệt và tỷ lệ so với lượng mưa năm

(mm)

X Mùa mưa (IX-XII) (mm)

Tỷ lệ (%) X Mùa khô

(I-VIII) (mm)

Trang 39

Nguyễn Đức Diện - CH16V

2.3.7.4 Mưa thời đoạn ngắn

Qua tính toán thống kê tài liệu mưa thực đo tại các trạm trong và lân cận vùng nghiên cứu cho thấy thời gian mưa của các trận mưa lớn thường kéo dài từ 3 đến 5 ngày nhưng lượng mưa lớn nhất trong trận chỉ từ 1 đến 3 ngày Lượng mưa lớn nhất thời đoạn 1, 3, 5, 7 ngày liên tục thường tập trung vào tháng X và tháng XI là t hời gian thường bị ảnh hưởng của bão , áp thấp nhiệt đới và các đợt không khí lạnh Lượng mưa 1 ngày có thể đạt trên 700 mm ngày Lượng mưa ngày lớn nhất đo được đạt 723.2 mm ngày 3/XII/1986 tại Giá Vực, ngày 19/XI/1987 đã gây mưa rất lớn ở vùng hạ du như tại Quảng Ngãi đạt 429.2 mm, Trà Khúc 513mm, An chỉ 599.7mm Đặc biệt trận mưa lũ tháng XI và tháng XII năm 1999 đã gây mưa rất lớn trên vùng nghiên cứu, lượng mưa 1 ngày max đạt 677.2 mm tại Sơn Giang, 639.5 mm tại Ba

Tơ Lượng mưa 3 ngày max ở đợt mưa này đạt 1694.8 mm tại Ba Tơ, 1598.4 mm tại Sơn Giang, 584.5 mm tại Quảng Ngãi và đặc biệt lượng mưa 5 ngày max của đợt này đạt từ 1200 – 2000 mm tại các vị trí Ba Tơ, Giá Vực, Sơn Giang

Bảng 2.9 Lượng mưa ngày lớn nhất tại các vị trí

Trạm X1 ngày max X3 ngày max X5 ngày max X7 ngày max

Ba Tơ 639.5 3/XII/99 1694.8 1999 2000.2 1999 2155.5 1999 Giá Vực 723.2 3/XII/86 1227.7 1986 1298.2 1986 1339.3 1986 Sơn Giang 677.2 4/XII/99 1598.4 1999 1800.5 1999 1908.8 1999

An Chỉ 599.7 19/XI/87 770.9 1987 778.1 1999 905.9 1999

Mộ Đức 433.0 24/XI/93 595.0 1993 682.0 1993 717.0 1993 Đức Phổ 425.5 24/XI/93 709.0 1998 743.0 1998 745.0 1998 Sơn Hà 578.0 3/XII/86 924.0 1999 1010.5 1999 1052.0 1999

Trang 40

Nguyễn Đức Diện - CH16V

2.4 ĐẶC ĐIỂM THUỶ VĂN

2.4.1 Dòng chảy năm

Căn cứ vào tài liệu thực đo tại Sơn Giang và An Chỉ cho thấy lượng dòng chảy rất phong phú với Moduyn dòng chảy bình quân nhiều năm đạt 70 - 80 l/s/kmP

2

P

Dòng chảy năm trung bình nhiều năm trên sông Trà Khúc tại Sơn Giang với diện tích lưu vực F = 2706 kmP

An Chỉ 64.9 0.55 1.10 113 84.1 58.6 38.9 25.4 854

An Hoà 29.6 0.55 0.83 51.3 39.0 27.4 17.8 10.7 383

LV Trà Khúc 221 0.40 0.80 339 272 209 157 118 3240

2.4.1.1 Biến động dòng chảy năm

Sự biến đổi của dòng chảy năm trong nhiều năm khá lớn , hệ số biến sai Cv dòng chảy năm đạt 0,46 ở trạm Sơn Giang , năm nhiều nước gấp 5-6 lần năm ít nước Năm 1982 - 1983, lưu lượng năm chỉ đạt 63,7 mP

3

Pnước

Ngày đăng: 15/03/2019, 12:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w