Cách tiếp cận: - Cách tiếp cận hệ thống: Các giải pháp quản lý chất thải rắn sinh hoạt nông thôn được đề xuất trên cơ sở đánh giá tổng hợp các yếu tố: + Các qui định, chính
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của Đề tài
Tính đến năm 2010, khu vực nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng có 86 huyện và 1.868 xã, phát thải khoảng 13,5 triệu tấn chất thải rắn sinh hoạt, tăng khoảng 170% so với năm 2007, trong đó trên 90% khối lượng rác thải sinh hoạt chưa được thu gom, xử lý hợp vệ sinh đang làm ô nhiễm môi trường nông thôn ngày càng trở nên nghiêm trọng Ngày nay, đến bất kỳ địa phương nào cũng gặp những bãi đổ rác lộ thiên ngay cạnh đường làng, ven bờ mương Ở nhiều nơi chính quyền địa phương đang phải đối mặt với những phản ứng của người dân nhưng chưa có được giải pháp hiệu quả
Nông thôn Việt Nam có những đặc thù khác biệt so với đô thị như dân cư phân bố rải rác trong các thôn, xóm, mỗi nơi có nhưng tập quán sinh sống riêng, cơ
sở hạ tầng thấp kém, nhận thức của người dân còn nhiều hạn chế,… Giải quyết vấn
đề rác thải ở nông thôn cũng cần phải có cách tiếp cận riêng không giống như ở đô
thị Chính vì vậy, học viên đã chọn đề tài : “Nghiên cứu các giải pháp quản lý và
xử lý chất thải rắn sinh hoạt xã Ngọc Thanh , huyện Kim Động , tỉnh Hưng
Yên” Trên cơ sở đánh giá hiện trạng các hoạt động quản lý CTR sinh hoạt tại xã Ngọc Thanh, tác giả luận văn sẽ đề xuất một số biện pháp quản lý và xử lý phù hợp với qui mô cấp xã Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở khoa học cho nghiên cứu áp dụng ở các địa phương khác Đồng thời còn là cơ sở đề xuất các chính sách quản lý chất thải nông thôn
2 Mục đích của Đề tài:
- Đánh giá được hiện trạng và nguyên nhân của những tồn tại trong quản lý,
xử lý chất thải rắn sinh hoạt xã Ngọc Thanh, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên
- Đề xuất được các giải pháp xử lý và quản lý CTR sinh hoạt ( bao gồm: rác thải gia đình, trường học, chợ, cơ sở y tế ) nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường xã Ngọc Thanh, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Chất thải rắn sinh hoạt nông thôn
Trang 2- Phạm vi nghiên cứu: Các giải pháp quản lý và xử lý chất thải rắn sinh hoạt nông thôn cấp xã, thí điểm tại xã Ngọc Thanh, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu:
4.1 Cách tiếp cận:
- Cách tiếp cận hệ thống: Các giải pháp quản lý chất thải rắn sinh hoạt nông thôn được đề xuất trên cơ sở đánh giá tổng hợp các yếu tố:
+ Các qui định, chính sách hiện hành của Nhà nước Việt Nam về bảo vệ môi trường và quản lý CTR
+ Hiện trạng và nguyên nhân dẫn đến tồn tại trong quản lý chất thải rắn sinh hoạt và môi trường nông thôn
+ Các đặc thù về điều kiện tự nhiên, KTXH và tập quán sinh sống của người dân vùng nông thôn
Tổng hợp, đánh giá mối quan hệ giữa các yếu tố trên để có cơ sở khoa học và thực tiễn đưa ra các giải pháp phù hợp trong quản lý chất thải rắn sinh hoạt nông thôn
- Cách tiếp cận kết hợp khoa học tiên tiến với biện pháp truyền thống và giáo dục môi trường trong quản lý chất thải rắn sinh hoạt nông thôn
4.2 Phương pháp nghiên cứu:
(i) Phương pháp kế thừa các kết quả nghiên cứu liên quan:
- Thu thập tài liệu trên mạng Internet, cơ quan khoa học, cơ quan quản lý (ii) Phương pháp điều tra thực địa:
- Lập mẫu phiếu điều tra xác định các thông tin điều tra
- Tổ chức nhóm điều tra thực địa với sự tham gia của cộng đồng
(iii) Phương pháp chuyên gia : Tham khảo ý kiến của các cơ quan quản lý địa phương, Trung ương, các nhà kho a học về các giải pháp quản lý chất thải rắn sinh hoạt nông thôn
Trang 3C HƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ VÀ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN
SINH HOẠT
1.1 TỔNG QUAN QUẢN LÝ VÀ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT Ở NƯỚC NGOÀI
1.1.1 Cơ chế chính sách trong việc quản lý chất thải rắn
+ Theo Vernier Jacques (1994): Để có thể góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường cũng như giảm thiểu lượng chất thải phát sinh , người ta đã áp dụng các biện pháp mang tính kinh tế:
- Các loại thuế: Để phạt một hoạt động hay một sản phẩm không có lợi cho môi trường mà người ta không muốn cấm hoàn toàn mà chỉ muốn hạn chế việc sử dụng sản phẩm đó Biện pháp tiến hành thông dụng nhất là đánh thuế để giá bán của sản phẩm đó cao lên Một số loại thuế đã được qui định như : Gây quĩ để tài trợ cho hoạt động xử lý chất thải (ở Mỹ) hoặc loại thuế ngoại ngạch đánh vào việc gây ô nhiễm (ở Pháp), đánh thuế cao đối với bao bì chất dẻo không phân hủy sinh học (ở Italia) và các bao bì không sử dụng lại được (ở Na Uy, Phần Lan)
- Miễn giảm thuế hoặc tài trợ : Với mục đích là khuyến khích các sản phẩm hoặc các hoạt động sản xuất có tính cải th iện môi trường Tài trợ cho các chương trình, dự án thu gom và xử lý chất thải
- Áp dụng các hệ thống thu hồi : Hiện nay chủ yếu thực hiện đối với các loại chai thủy tinh và chai nhựa (ở Đức) và hiện đang thực hiện hoặ c đang nghiên cứu thu hồi đối với các loại pin, lốp cao su, bao bì đựng thuốc trừ sâu
+ Ở Hà Lan: Yêu cầu mỗi tỉnh lập ra kế hoạch quản lý chất thải rắn , trong đó nêu rõ chúng sẽ được lưu chứa , thu gom, xử lý hoặc sử dụ ng lại như thế nào , do ai
Trang 4chuẩn cho phép, gây ô rác thải điện tử, rác thải sinh hoạt yêu cầu không được đốt và chôn lấp không nhiễm môi trường thì phải chịu toàn bộ chi p hí cho các hoạt động , dịch vụ để thu gom , vận chuyển và xử lý chất thải đó một cách phù hợp và an toàn với môi trường theo tiêu chuẩn qui định của Ấn Độ
- Chi phí giảm thiểu: Chính phủ khuyến khích các Nhà máy, xí nghiệp đầu tư các trang thiết bị, công nghệ, kỹ thuật để giảm thiểu lượng chất thải phát sinh Đồng thời đầu tư cho các chương trình , dự án phục vụ mục đích tái chế , tái sử dụng chất thải góp phần giảm thiểu lượng chất thải phát sinh ra môi trường Một phần kinh phí đầu tư cho các chương trình này được thu từ các phí ô nhiễm do người gây ô nhiễm phải trả
+ Luật sửa đổi của Trung Quốc để ngăn ngừa ô nhiễm do chất thải rắn Trong đó chú ý vào các loại hợp vệ sinh vì có nguy cơ gây ô nhiễm không khí , đất và nước ngầm Đối với các loại rác thải điện tử thì yêu cầu bắt buộc phải tái chế và tái sử dụng
1.1.2 Công nghệ xử lý chất thải rắn:
Trên thế giới hiện nay có rất nhiều phương pháp khác nhau được nghiên cứu
và áp dụng để xử lý rác thải như: Chôn lấp chất thải, thiêu đốt, xử lý hoá lý, xử lý bằng sinh học, composting, SERAPHIN, plasma, tái chế, tái sử dụng chất thải
Việc xử lý rác thải theo các cách khác nhau, theo các nước và các thời đại khác nhau Hiện nay, ở Italia, nơi sáng tạo ra phương pháp ủ phân compost thì chỉ
có 2 ÷ 3% khối lượng rác được xử lý theo phương pháp này Còn ở Anh, nơi sáng tạo ra phương pháp đốt rác thì lượng rác được đốt giảm xuống 10% Tại những nước phát triển thì lượng rác đốt có thể chiếm từ 10% ở Bắc Mỹ đến 70% ở Nhật Bản, Thụy Sĩ
a- Công nghệ chôn lấp chất thải
Phương pháp chôn lấp rác thải vẫn được coi là phương pháp thông dụng nhất hiện nay, đặc biệt là đối với các nước có diện tích tự nhiên rộng lớn hoặc các nước đang phát triển So với nhiều phương pháp xử lý rác thải khác thì chôn lấp có chi phí đầu tư và vận hành thấp hơn, công nghệ đơn giản hơn và có thể áp dụng cho
Trang 5nhiều loại chất thải khác nhau Bên cạnh đó, chôn lấp rác thải cũng còn nhiều nhược điểm cần khắc phục đặc biệt trong khía cạnh môi trường
Việc áp dụng các phương pháp xử lý chất thải rắn phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện của từng nước Tỷ lệ chôn lấp rác ở Nhật Bản và Singapore khá thấp do diện tích đất của Nhật Bản và Singapor ít, hơn nữa điều kiện kinh tế của hai quốc gia này cho phép áp dụng các phương pháp xử lý khác một cách hiệu quả hơn Hoa Kỳ là nước kinh tế phát triển nhưng tỷ lệ chôn lấp rác cũng khá cao do nước này rộng lớn, nhiều đất đai Tuy nhiên từ sau thập kỷ 80, tỷ lệ chôn lấp ở nước này giảm dần do giá thành cho chi phí chôn lấp ngày một tăng và người ta nhận thức được rằng đất đai tuy nhiều nhưng cũng có hạn Xu hướng chung của thế giới hiện nay là giảm thiểu lượng rác chôn lấp bằng cách tăng cường tái chế
Bảng 1.1: CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ RÁC THẢI Ở CHÂU Á (đơn vị: %)
Nước Chôn lấp/ bãi
rác lộ thiên Thiêu đốt Chế biến phân compost
b- Công nghệ thiêu đốt rác thải
Đốt rác là phương pháp được sử dụng rộng rãi ở những nước phát triển như Đức, Thụy Sĩ, Hà Lan, Đan Mạch, Nhật Bản Đó là những nước có diện tích đất tự nhiên nhỏ hẹp Hiện nay, các nước Châu Âu có xu hướng giảm việc đốt rác thải vì
Trang 6hàng loạt các vấn đề kinh tế và môi trường cần phải xem xét
Mặc dù phương pháp thiêu đốt có những ưu điểm so với các phương pháp xử
lý rác thải khác như xử lý khá triệt để rác thải, giảm từ 70% ÷ 90% thể tích chất thải sau xử lý, thời gian xử lý nhanh, gọn, tiết kiệm được diện tích xây dựng các công trình xử lý nhưng chi phí đầu tư xây dựng vận hành cao, chỉ phù hợp với các nước có nền kinh tế, khoa học phát triển, có tiềm lực kinh tế, các nước có diện tích tự nhiên nhỏ, không phù hợp cho các phương pháp xử lý khác
c- Công nghệ tái chế rác thải
Hiện nay, trước sự phát triển của khoa học kỹ thuật và sự khan hiếm về tài nguyên thiên nhiên mà công nghệ tái chế, tái sử dụng chất thải được xem như là biện pháp tốt để giảm thiểu lượng phát sinh chất thải và bảo vệ môi trường
+ Đối với rác thải vô cơ công nghiệp, rác thải vô cơ trong sinh hoạt có thể tái chế lại làm nguyên liệu sử dụng trong sản xuất công nghiệp như: thuỷ tinh, kim loại, hoặc tái chế làm các vật liệu làm vật dụng sử dụng trong sinh hoạt, trong xây dựng
- Theo Viện nghiên cứu và phát triển sản phẩm nông nghiệp của Phillipine cho biết: Họ đang tiến hành tái chế rác thải nhựa để sử dụng làm thùng đựng, các loại túi sách tay và các tấm panel dùng làm vật liệu xây dựng
- Ấn Độ đang tiến hành thử nghiệm công nghệ chế biến nhựa phế thải thành nhiên liệu Theo đó thì 1 kg nhựa phế thải được biến đổi trong thiết bị trộn nhiên liệu trong vòng 3,5 giờ sẽ cho ra sản phẩm là 800ml dầu
+ Đối với rác thải hữu cơ có thể chế biến thành phân vi sinh sử dụng trong
nông nghiệp bằng công nghệ ủ Compost
- Tại Thụy Điển, giới thiệu phương pháp xử lý rác thải sinh hoạt và các loại rác thải hữu cơ thành phân compost
Công nghệ được tiến hành như sau: Rác thải được phân loại bằng trọng lực
và từ tính để tách kim loại và các vật liệu rắn Rác thải hữu cơ, sau 2 ÷ 3 ngày được vi sinh vật phân huỷ trong điều kiện đảm bảo các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm tốt Quá trình ủ rác thải hữu cơ trong thời gian là 3÷7 tuần và không cần cung cấp hoá
Trang 7chất sẽ thu được sản phẩm là phân compost có chất lượng tốt
Ưu điểm:
- Chất thải hữu cơ được phân loại có thể làm giảm 50 ÷ 70 % khối lượng rác thải
cần phải xử lý bằng chôn lấp hoặc đốt
- Khéo dài thời gian hoạt động của các bãi chôn lấp rác thải Hạn chế các tác động ô nhiễm của nước rác tới nước ngầm
- Giảm chi phí cho quản lý và xử lý môi trường…
- Sản phẩm phân compost tạo thành là một nguồn nguyên liệu sạch cung cấp dinh dưỡng cho nông nghiệp, giảm lượng tiêu thụ các phân bón hoá học, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người nông dân
Nhược điểm:
- Cần một mặt bằng lớn
- Chỉ xử lý được các nguyên liệu hữu cơ
- Đòi hỏi phải phân loại rác cẩn thận để tránh ảnh hưởng tới khả năng hoạt động của
vi sinh vật và các tạp chất vô cơ tới chất lượng sản phẩm
1.1.3 Truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng
Bên cạnh đó , các nước cũng chủ động trong quản lý chất thải rắn sinh hoạt bằng các hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng như:
- Tổ chức cho cộng đồng tham gia vào các hoạt động bảo v ệ môi trường như chiếu phim về môi trường , các chương trình truyền hình , xuất bản các tạp chí chuyên ngành về môi trường Nhắc nhở mọi người việc tái sử dụng rác thải thông qua các chiến dịch áp-phích
- Nhiều nước trên thế giới , đặc biệt là ở các nước phát triển Châu Âu , Mỹ, Úc đã lồng ghép vào nhiều chương trình giá o dục phổ thông về kiến thức môi trường và đặc biệt vấn đề thu gom, phân loại rác thải như: Tổ chức cho học sinh các trường tham quan các điểm nóng về môi trường rác thải , các cơ sở xử lý rác thải nhằm nâng cao nhận thức của học sinh trong vấn đề bảo vệ môi trường nói chung và quản lý rác thải nói riêng ; Khuyến khích việc sử dụng các loại đồ dùng học tập làm từ rác tái chế như: giấy, vỏ hộp
Trang 8Tại trường tiểu học Oak Grove (bang Califonia – Mỹ) đã xây dựng được chương trình về quản lý rác thải với sự tham gia chủ yếu của các em học sinh Từ năm 1992, chương trình này đã hoạt động thành công đưa tỷ lệ tái sử dụng rác thải lên đến 80% Chương trình được t hực hiện với nội dung cơ bản sau : (1) Đặt các thùng phân loại rác tại từng lớp học ; (2) Ủ các loại rác thải hữu cơ thành phân bón hữu cơ sử dụng bón cây xanh trong nhà trường ; (3) Rác thải vô cơ được chuyển đến khu tái chế; (4) Những thức ăn không dùng hết trong ngày được thu gom và chuyển đến những người vô gia cư vào cuối mỗi ngày
Ở Cộng hòa liên bang Đức, tất cả các bang, các khu đô thị, dân cư đều có các
cơ quan, công ty khuyến cáo tuyên t ruyền cho chương trình bảo vệ môi trường sống nói chung và đặc biệt là vấn đề thu gom , phân loại và xử lý rác thải sinh hoạt nói riêng Họ xây dựng những tài liệu , tư liệu giảng bài cho cộng đồng gồm : (i) Sáng tạo ra những thùng phân tách rác với những màu sắc , ký hiệu rõ rệt , đẹp, hấp dẫn,
dễ phân biệt ; (ii) Các loại rác phế thải được tách ra theo các sơ đồ , hình ảnh dây chuyền rất dễ hiểu , dễ làm theo, từ phân loại rác thải giấy , thủy tinh, kim loại, chất dẻo nhân tạo , vải và đặc biệt là rác thải hữu cơ ; (iii) Hoạt động tuyên truyền , khuyến cáo còn được thể hiện bằng các áp phích tuyên truyền phong phú , hấp dẫn 1.2 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ VÀ XỬ LÝ C HẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TRONG NƯỚC
1.2.1 Các chính sách bảo vệ môi trường và quản lý chất thải rắn
Cho đến nay , Việt Nam đã xây dựng được một khung pháp lý phù hợp đối với các hoạt động bảo vệ môi trường nói chung và quản lý chất thải rắn nói riêng như:
- Quyết định số 152/1999/QĐ- TG ngày 10 tháng 7 năm 1999 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chiến lược quản lý chất thải rắn tại các đô thị và khu công nghiệp Việt Nam đến năm 2020
- Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ số 23/2005/CT-TTG ngày 21 tháng 6 năm
2005 về đẩy mạnh công tác quản lý chất thải rắn tại các đô thị và khu công nghiệp
Trang 9- Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09/04/2007 của Chính phủ về q uản lý chất thải rắn
- Thông tư số 13/2007/TT-BXD ngày 31 tháng 12 năm 2007 Hướng dẫn một
số điều của Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09/4/2007 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn
- Thông tư số 08/2008/TT-BTC ngày 29 tháng 01 năm 2008 sửa đổi, bổ sung thông tư số 108/2003/TT-BTC ngày 7/11/2003 Hướng dẫn cơ chế tài chính áp dụng đối với các dự án xử lý rác thải sinh hoạt và chất thải rắn
- Thông tư số 39/2008/TT-BTC ngày 19 tháng 05 năm 2008 của Bộ Tài chính Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 174/2007/NĐ-CP ngày 29/11/2007 của Chính phủ về Phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn
- Thông tư số 121/2008/TT-BTC ngày 12 tháng 12 năm 2008 Hướng dẫn cơ chế ưu đãi và hỗ trợ tài chính đối với họat động đầu tư cho quản lý chất thải rắn
- Nghị định số 174/2007/NĐ-CP ngày 29 tháng 11 năm 2007 về phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn
- Quyết định số 2149/QĐ-TTg ngày 17 tháng 12 năm 2009 Phê duyệt Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm
1.2.2 Các giải pháp công nghệ xử lý chất thải rắn sinh hoạt nông thôn
Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều loại công nghệ xử lý rác thải mà Việt Nam có thể áp dụng linh hoạt cho phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương Tỷ lệ xử lý rác thải bằng phương pháp chôn lấp chiếm 80%, làm phân compost chiếm 6% và các phương pháp khác chiếm 14% Các biện pháp xử lý rác thải phổ biến hiện nay là: Thiêu đốt, ủ sinh học, chôn lấp, tái chế, tái sử dụng
Phương pháp đốt: Tuy đảm bảo vệ sinh, gọn nhẹ nhưng chi phí xử lý cao, trang thiết
Trang 10bị rất đắt tiền nên phương pháp thiêu đốt không thích hợp cho việc xử lý rác đại trà
ở Việt Nam mà chỉ được để xử lý rác thải y tế Giải pháp xử lý một phần chất thải sinh hoạt được một số vùng nông thôn hiện nay áp dụng là đốt thủ công
Phương pháp ủ sinh học: Phương pháp ủ sinh học có chi phí ban đầu thấp, sản phẩm tạo thành là phân hữu cơ có thể sử dụng trong nông nghiệp Nhưng nhược điểm là quy trình xử lý kéo dài từ 3 ÷ 4 tháng, xử lý bãi ủ không tốt dễ gây ra những vấn đề môi trường
Công nghệ xử lý rác thải hữu cơ làm phân vi sinh là một hướng công nghệ
xử lý có rất nhiều ý nghĩa và lợi ích, phù hợp với điều kiện của các địa phương Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất trong phương pháp sản xuất phân hữu cơ là hiện không phân loại rác thải tại nguồn
+ Viện Khoa học Thuỷ lợi (1997): Xây dựng xưởng sản xuất phân vi sinh từ rác thải sinh hoạt cho xã Thổ Tang, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc có công suất 1.000 tấn/năm, sản xuất thử nghiệm trên 20 tấn phân vi sinh đạt chất lượng tốt Hàm lượng mùn trong phân đạt 16,5%, Lân tổng số đạt 3%, đạm tổng số 1%, Kali tổng
số 1% và 109 bào tử vi sinh /1g phân Đến nay xưởng sản xuất phân vi sinh này đã ngừng hoạt động do gặp khó khăn trong việc thu gom, phân loại rác và quy chế quản lý ở địa phương
+ Vũ Thị Thanh Hương - Viện Khoa học Thuỷ lợi (2003): Rác thải hữu cơ sau khi được phân loại, dùng bọt Bosaki và dụng dịch EM khử mùi và ủ tự nhiên sau 70 ngày trong điều kiện nhiệt độ mùa hè, rác hữu cơ hầu như đã được phân huỷ hoàn toàn, tạo thành chất mùn đen, không còn mùi hôi thối và các vi khuẩn gây bệnh đường ruột Tỷ lệ các chất vô cơ lẫn trong mùn là 22,6% và muốn sử dụng chất mùn
để bón ruộng cần phải sàng để loại bỏ các chất lẫn
Hiện nay, một số địa phương đã chú ý đến xử lý chất thải hữu cơ bằng công nghệ thổi khí cưỡng bức (ủ hiếu khí) Đây là công nghệ có ưu điểm xử lý nhanh, tận dụng được chất hữu cơ trong rác thải để sản xuất phân bón, không gây ô nhiễm môi trương không khí và nước ngầm Các phương pháp xử lý rác thải làm phân hữu cơ bằng phương pháp thổi khí như sau:
Trang 11- Ủ rác thành đống và để lên men tự nhiên có đảo trộn: Đây là phương pháp
cổ điển nhất và dễ thực hiện , quá trình kéo dài trong thời gian khoảng 8 tuần với các điều kiện: chiều cao đống ủ là 1,5 ÷ 2 m, nhiệt độ đống ủ khoảng 550C, độ ẩm
50 ÷ 60% Tuy nhiên, phương pháp này mất vệ sinh và gây ô nhiễm môi trường xung quanh
- Phương pháp ủ rác thành đống không đảo trộn và có thổi khí: Phía dưới đống rác ủ có lắp hệ thống thổi khí, nhờ có hệ thống thổi khí mà quá trình chuyển hoá xảy ra nhanh hơn, nhiệt độ đống ủ ổn định và phù hợp với qúa trình phát triển của vi sinh vật
- Xử lý rác thải bằng vi sinh vật có kiểm soát: Đây là phương pháp sử dụng hệ thống đóng có sử dụng hệ thống tự động để kiểm soát các thông số của quá trình
ủ như nhiệt độ, độ ẩm, và lượng không khí cấp…
Ở TP.HCM và các tỉnh lân cận: Phân Gà và Chim Cút được thu gom vài ngày hay mỗi tuần và được sử dụng làm phân bón cho trồng trọt (75% hộ), nguyên liệu cho bể Biogas (10%) và nuôi cá (15%) Phân Bò thường được dùng lại tại các
cơ sở chăn nuôi để bón cho cỏ voi hay các loại cỏ làm thức ăn cho bò (95% số hộ), bán cho thương lái (72%) và một số hộ sử dụng cho hầm Biogas Việc quản lý đối với phân lợn đang gặp nhiều khó khăn do hạn chế về lưu giữ và vận chuyển, phát sinh mùi gây mất vệ sinh Việc sử dụng phân lợn để bón ruộng vẫn còn hạn chế, chỉ 6% hộ bán phân, khoảng 29% hộ làm hầm Biogas và 9% số hộ dùng để nuôi cá
Đối với chất thải chăn nuôi gia súc và các phế thải từ nông nghiệp… qua một quá trình xử lý đơn giản đó là quy trình xử lý chất thải để tạo ra khí sinh học hay còn gọi là công nghệ Biogas Với chi phí khoảng 6 triệu đồng cho một bể Biogas có thể tích 10 m3cho các hộ có quy mô chăn nuôi khoảng 20 con lợn
Đây là một mô hình xử lý chất thải chăn nuôi và phế thải nông nghiệp có chi phí thấp, đơn giản dễ vận hành… nhưng có hiệu quả sử dụng rất cao vừa tránh ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi mà lại có khí sinh học dùng trong sinh hoạt và có phân bón ruộng…Việc xử lý chất thải chăn nuôi và phế thải nông nghiệp bằng công nghệ Biogas đã được thực hiện ở xã Nam Dong huyện Cư Jút tỉnh Đắk Nông đã rất
Trang 12thành công, hiện tại xã đã có trên 50 hầm Biogas và đang được các địa phương tham khảo và vận dụng
+ Theo PGS TS Phùng Chí Sĩ: Tận dụng nguồn phế liệu nông nghiệp để sản xuất nấm rơm, nấm Linh chi, nấm mỡ, nấm mèo… tại Thái Bình và Vĩnh Long; Sử dụng vỏ trấu, bã mía, vỏ hạt điều, xơ dừa… làm dăm và ván ép tại Long An, Bến Tre, Đồng Nai Lên men rơm, bã mía làm thức ăn gia súc; Sử dụng bùn bã mía làm phân hữu cơ được làm ở các tỉnh Tây Ninh, Đồng Nai, Thanh Hoá, Quảng Ngãi, Long An, Cà Mau… Sử dụng quả điều làm nước giải khát ở ĐắcLắc…
Đây có thể được xem là giải pháp để có thể tận dụng các phế thải từ nông nghiệp đang rất dư thừa tại khu vực nông thôn Nếu áp dụng tốt, người nông dân có thêm nghề phụ cũng như tăng thêm các nguồn thu nhập Hiện nay, điều cần thiết là có được cán bộ chuyên, kỹ thuật hướng dẫn bà con nông dân tiến hành và giải đáp thắc mắc để người dân có thể tận dụng các phế thải trong nông nghiệp phục vụ sản xuất
Tỷ lệ thu hồi các chất có khả năng tái chế như giấy, nhựa, thuỷ tinh, sắt thép… chỉ chiếm từ 13 ÷ 20% nhưng hoàn toàn do các hoạt động thu gom tự phát
và không có tổ chức, quản lý Có khoảng 1,5 ÷ 5% lượng chất thải phát sinh được thu hồi và xử lý theo phương thức sản xuất phân vi sinh hữu cơ
Hầu hết các bãi rác hiện nay ở nước ta là các bãi rác lộ thiên đang gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng bao gồm cả các vấn đề về ô nhiễm nước ngầm và nước mặt do nước rác không được xử lý, các chất ô nhiễm không khí, ô nhiễm mùi, ruồi, muỗi, chuột bọ và ô nhiễm bụi, tiếng ồn Sự ô nhiễm tại các bãi rác hiện nay
Trang 13đã và đang ảnh hưởng đến chất lượng môi trường xung quanh và ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ người dân địa phương
+ Theo Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam: Ở hầu hết các địa phương ở nước ta xử lý rác thải bằng cách chôn lấp, tuy nhiên các bãi chôn lấp rác thải thường
là không đúng tiêu chuẩn và chưa hợp vệ sinh Sở dĩ biện pháp chôn lấp rác được thực hiện phổ biến vì đây là biện pháp xử lý đơn giản, dễ thực hiện nhưng có nhược điểm chính là tốn nhiều diện tích đất để chôn lấp, thời gian phân huỷ rác kéo dài và quá trình xử lý nước rác rất tốn kém cũng như có nguy cơ gây ô nhiễm nước ngầm
+ Hố rác di động là một giải pháp cho môi trường nông thôn, hố rác gồm 2 phần là thùng và nắp, thùng rác là hố đất đào sâu 1,5 ÷ 2m, nắp thùng được làm bằng vật liệu composite không phân huỷ Các hố rác sau khi đã chứa đầy, phần nắp
sẽ được di dời sang hố đào khác, còn phần rác trong thùng sẽ được lấp lại; cứ như vậy hố rác có thể di chuyển khắp vườn và sử dụng được nhiều lần Tỉnh Thừa Thiên
- Huế đang bước đầu thử nghiệm mô hình rác di động tại gia đình
Tái sử dụng và tái chế chất thải
Tái sử dụng và tái chế là phương pháp phổ biến ở nhiều hộ gia đình Theo kết quả nghiên cứu về các hộ gia đình thực hiện năm 1998 thì người dân thường có thói quen tái sử dụng ngay tại gia đình mình
Các chất thải có khả năng tái chế và tái sử dụng được những người làm nghề nhặt rác phân loại và sau đó bán cho các cơ sở tái chế Việc thúc đẩy phân loại chất thải rắn tại nguồn để tăng các hoạt động tái chế trên phạm vi toàn quốc có thể giúp tiết kiệm được một lượng chi phí đáng kể dùng trong tiêu huỷ chất thải rắn sinh hoạt
1.2.3 Một số mô hình thu gom, xử lý rác thải nông thôn Việt Nam
1.2.3.1 Mô hình thu gom rác thải xã An Đồng , huyện Quỳnh Phụ , tỉnh Thái Bình
a- Tình hình chung
Xã An Đồng có diện tích đất tự nhiên 615 ha nằm ở cuối huyện Quỳnh Phụ, giáp với huyện Ninh Giang tỉnh Hải Dương Dân số trong xã 7.000 người phân bố
Trang 14trong 6 thôn Ngoài sản xuất nông nghiệp, xã An Đồng còn có một số ngành khác như: Chế biến lâm sản thu hút 534 lao động, chế biến lương thực thực phẩm 181 lao động, mây tre đan 125 lao động
b- Tổ chức thu gom, xử lý rác thải xã An Đồng
- Thu gom rác thải tại xã An Đồng tổ chức theo từng thôn, mỗi thôn thành lập một tổ thu gom rác thải 2-3 người do trưởng thôn điều hành có nhiệm vụ thu gom và vận chuyển rác thải ra bãi tập kết chung
- Tần suất thu gom 1 lần/tuần, thu nhập của người thu gom rác 200.000 đ/người/tháng (trung bình 50.000 đ/ngày công)
- Mức nộp phí thu gom rác thải 1.000 đ/hộ, gần 80% số dân tham gia nộp phí thu gom Người thu gom được được trang bị xe thu gom và bảo hộ lao động và chưa có chế độ bảo hiểm y tế và bảo hiểm xã hội
- Rác thải sinh hoạt sau khi thu gom vận chuyển ra bãi rác do UBND xã bố trí, cả xã có 2 bãi chôn lấp 1 bãi ở đầu xã diện tích 2.000 m2, 1 bãi ở cuối xã diện tích 1.000 m2 đều nằm ở bãi ngoài đê UBND xã đã dầu tư đắp bờ bao xung quanh, xây cống thoát nước và trồng cây xung quanh bờ bao Rác thải đổ lộ thiên và đốt khi trời nắng
• Ưu điểm của mô hình
- Được sự quan tâm của chính quyền địa phương, chỉ đạo hoạt động thu gom rác thải thống nhất trong toàn xã về mức thu phí, thù lao cho người thu gom rác thải, qui hoạch các bãi tập kết chung cả xã
- UBND xã hỗ trợ thiết bị thu gom, bảo hộ lao động và chi phí đào hố chôn lấp
- Đã dựa vào tổ chức đoàn thể (hội nông dân) để huy động sự tham gia của cộng đồng trong thu gom rác thải
• Nhược điểm của mô hình
- Mức thu phí và số lần thu gom thấp dẫn đến tình trạng rác thải tồn đọng trong khu dân cư
- Chưa có biện pháp xử lý rác thải hợp vệ sinh
• Nguyên nhân của những tồn tại
Trang 15- Do hạn chế về năng lực quản lý, thiếu cán bộ có trình độ chuyên môn về lĩnh vực môi trường
- Chưa có cơ chế hỗ trợ tài chính cho các hoạt động thu gom, xử lý rác thải và biện pháp tích cực để huy động sự đóng góp tài chính từ cộng đồng
1.2.3.2 Mô hình thu gom, xử lý rác thải thôn Lai Xá, xã Kim Chung, Hoài Đức,
Hà Nội
a- Tình hình chung
Lai Xá là 1 trong 4 thôn thuộc xã Kim
Chung Thôn có 3.800 khẩu, khối lượng rác thải
khoảng 2,5 tấn/ngày Mô hình được xây dựng từ
năm 2003 Tổng kinh phí xây dựng mô hình là
600 triệu đồng, trong đó: Tổ chức Thanh niên
sứ mệnh nhân đạo, cứu trợ và phát triển châu Á
(YWAM) tài trợ 300 triệu đồng Số tiền còn lại do nhân dân thôn Lai Xá và ngân sách xã Kim Chung đóng góp
b- Nội dung thực hiện trong mô hình:
- Xây dựng 1 nhà truyền thông, cung cấp tài liệu tuyên truyền và phổ biến các kiến thức về vệ sinh môi trường
- Tổ chức 1 lớp tập huấn cho cán bộ và 5 lớp cho nhân dân về vệ sinh môi trường và sức khoẻ cộng đồng Phổ biến, hướng dẫn trên đài phát thanh, cách phân loại rác thải và thói quen đổ rác như ở các thành phố
+ Tổ chức dịch vụ thu gom rác thải:
- Thành lập đội vệ sinh môi trường hoạt động dưới dự quản lý của trưởng thôn gồm 7 người có nhiệm vụ thu gom, vận chuyển rác thải 7 lần/tuần và quản lý trạm
xử lý rác thải
- Kinh phí hoạt động do dân đóng góp với mức 2.000 đ/người/tháng (khoảng 8.000 đ/hộ) Tỷ lệ nộp phí thu gom đạt 80% Thu nhập của người thu gom rác 700.000 đ/người/tháng
+ Giải pháp kỹ thuật
KHU XLRT THÔN LAI XÁ
Trang 16- Tổ chức YWAM hỗ trợ 1 máy nghiền rác, 1 máy sàng, 7 xe kéo tay thu gom rác được thiết kế 2 ngăn để chứa rác hữu cơ và rác vô cơ Xây dựng trạm xử lý rác hữu cơ theo phương pháp ủ tự nhiên kết hợp đảo trộn, trạm xử lý đã xây dựng xong
và đi vào hoạt động thử nghiệm ra sản phẩm mùn hữu cơ
- Hoạt động thu gom rác thải vẫn được thực hiện nhưng việc phân loại rác thải
và ủ rác hữu cơ làm phân bón không còn được duy trì
• Ưu điểm trong mô hình:
- Kết hợp các biện pháp tuyên
truyền nâng cao nhận thức, hướng dẫn
kỹ thuật, hỗ trợ kinh phí, trang thiết bị
từ dự án là động lực khuyến khích địa
phương thực hiện
- Chú ý đến hoạt động phân loại
rác tại nguồn và ủ rác hữu cơ làm
phân bón
- Cải tiến được thiết bị thu
gom rác thải từ xe đẩy 3 bánh kiểu đô
thị sang xe kéo tay 2 ngăn
• Tồn tại trong mô hình:
- Bãi chôn lấp chưa được quy
hoạch và xây dựng theo tiêu chuẩn hợp
vệ sinh Rác vô cơ đổ lộ thiên, không
được chôn lấp hợp vệ sinh dẫn đến mất
mỹ quan và ô nhiễm môi trường xung
KHU ĐỔ RÁC VÔ CƠ THÔN LAI XÁ
BÃI RÁC MỚI THÔN LAI XÁ
Trang 17- Do không có qui hoạch ổn định nên trạm xử lý rác thải sau khi XD xong đã bị giải tỏa, do chưa đủ kinh phí xây dựng nên rác thải hiện còn đang đổ bừa bãi khu vực xung quanh (ảnh)
• Nguyên nhân các tồn tại trong mô hình
- Chưa có cơ chế chính sách và nguồn tài chính để duy trì các hoạt động quản
lý vận hành sau khi có dự án kết thúc
- Mô hình chưa xác định vai trò của các cấp địa phương, cộng đồng trong thu gom, xử lý rác thải Dẫn đến việc duy trì, quản lý vận hành không ổn định
- Qui mô nhỏ nên khó khăn trong qui hoạch vị trí khu xử lý rác thải
1.2.3.3 Mô hình thu gom, xử lý rác thải thị trấn Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh
a- Tình hình chung
Thị trấn Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh có diện tích đất tự nhiên là 510,71 ha, dân số là 11.709 người, phân bố trong 10 thôn/ khu phố Mỗi thôn/ khu phố có 1 tổ thu gom rác thải và vận chuyển ra bãi rác tạm của thôn, thường là ở ven đường làng hoặc bờ ruộng
b- Nội dung xây dựng mô hình
+ Qui hoạch mạng lưới tuyến thu gom và các điểm tập kết rác thải
Xóa bỏ 10 bãi rác tạm của 10 khu phố, bố trí 3 điểm tập kết rác thải, rác thải
ở các khu phố được thu gom và tập kết tại địa điểm qui định, sau đó vận chuyển bằng xe cơ giới đến trạm xử lý tập trung của thị trấn
+ Hướng dẫn kỹ thuật
- Tổ 10 chức lớp tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật phân loại rác thải cho 10 thôn/ khu phố và các đoàn thể
- Tổ chức tập huấn về kỹ thuật thu gom, xử lý rác thải và vận hành bãi chôn lấp cho HTX dịch vụ môi trường
- Hướng dẫn nhân và sử dụng chế phẩm vi sinh trong xử rác hữu cơ HTX dịch vụ vệ sinh môi trường đã tự nhân được chế phẩm EM để xử lý bãi chôn lấp và làm dịch vụ cho các tổ chức, hộ gia đình
Trang 18- Thiết kế kỹ thuật và lập
tổng dự toán khu xử lý rác thải
sinh hoạt thị trấn Hồ diện tích 2
ha, kinh phí xây giai đoạn 1 là 2,9
tỷ đồng từ nguồn ngân sách của
- Phổ biến trên đài truyền
thanh các thôn/ khu phố về qui
định thu gom, xử lý rác thải, kỹ thuật phân loại tại gia đình
- Tổ chức mít tinh, diễu hành tuyên truyền cho toàn dân về thu gom, xử lý rác thải
- Treo pano, ap phích tuyên truyền về thu gom, xử lý rác thải tại các nơi công cộng
+ Thiết kế khu xử lý rác thải thị trấn Hồ
Diện tích khu xử lý rác thải 2 ha, thời gian sử dụng 20 năm với các giải pháp chính như: Xử lý rác hữu cơ theo phương pháp ủ tự nhiên kết hợp đảo trộn, rác còn lại chôn lấp hợp vệ sinh, xử lý nước rác bằng bãi lọc trồng cây kết hợp hồ sinh học
• Ưu điểm của mô hình
- Mô hình thu gom, xử lý rác thải tập trung qui mô toàn thị trấn đòi hỏi phải có sự chỉ đạo của chính quyền địa phương, huy động được sự tham gia của các ban ngành liên quan
- Được sự hỗ trợ của tỉnh Bắc Ninh, huyện Thuận Thành về kinh phí, trang thiết bị, tạo cơ chế để UBND thị trấn có nguồn vốn đầu tư
- HTX dịch vụ vệ sinh môi trường hoạt động theo hướng chuyên môn hóa, thu nhập và các quyền lợi của người thu gom được đảm bảo
PHÒNG TRUYỀN THÔNG VỀ QLCTR THỊ TRẤN HỒ
Trang 19- Huy động được sự tham gia của cộng đồng trong các hoạt động thu gom rác
thải, nghĩa vụ đóng góp kinh phí
• Khó khăn, tồn tại
- Khó khăn lớn nhất là công tác giải phóng mặt bằng, dự án đã phải 2 lần làm các thủ tục cấp đất và giải phóng mặt bằng
- Tỉnh Bắc Ninh chưa có cơ chế về hỗ trợ tài chính cho các hoạt động thu gom rác thải nông thôn nên mặc dù mô hình được các ban ngành chuyên môn trong tỉnh, huyện đồng tình ủng hộ, chủ tịch Tỉnh Bắc Ninh giao các ngành chuyên môn
đề xuất cơ chế hỗ trợ nhưng đến nay các thủ tục vẫn chưa được hoàn thành
1.2.3.4 Mô hình thu gom, xử lý rác thải xã Tam Hồng, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc
a- Tình hình chung
Xã Tam Hồng nằm ở trung tâm huyện Yên Lạc, dân số khoảng 11.000 người
và phân bố trong 9 thôn Do mật độ dân số cao và nghề dịch vụ- thương mại phát triển, phát sinh nhiều rác thải sinh hoạt ảnh hưởng đến môi trường Từ năm 2006, UBND xã đã phát động mỗi thôn thành lập tổ thu gom rác thải Mỗi thôn dành 1 khu đất 700-1.000 m2 để đổ Mỗi tổ thu gom có từ 3-5 người, có nhiệm vụ thu gom rác và đổ ra điểm qui định của thôn
b- Nội dung xây dựng mô hình
• Hướng dẫn kỹ thuật
- Hướng dẫn kỹ thuật phân loại rác
thải cho các hộ gia đình, sau 2 tháng thực
hiện có trên 80% số dân thực hiện phân loại
rác thải
- Hướng dẫn xử lý rác hữu cơ theo
phương pháp ủ bán hiếu khí, hố ủ trát bùn
Thời gian ủ rác từ 65-75 ngày, sau đó phơi
khô trong nhà có mái che và nghiền, sàng
lấy chất mùn hữu cơ làm phân bón Hiện đang trong giai đoạn ủ thử nghiệm chưa có
KH U Ủ RÁC HỮU CƠ THÔN TẢO PHÚ
Trang 20sản phẩm
- Thiết kế nhà bao che và các ô ủ rác hữu cơ (ảnh)
• Cơ chế quản lý:
- Thành lập ban chỉ đạo gồm 13 người trong đó có trưởng, phó thôn và 11 trưởng xóm
- Tổ thu gom rác thải thôn Tảo Phú có 4 người, thu gom rác thải 2 lần/tuần, thu nhập của người thu gom rác 480.000 đ/tháng (60.000 đ/ngày công) Khi yêu cầu tăng buổi thu gom rác UBND xã sẽ hỗ trợ kinh phí
- Mức nộp phí thu gom rác thải 5.000 đ/hộ/tháng
• Ưu điểm của mô hình
- Qui mô nhỏ, giải pháp kỹ thuật đơn giản, dễ quản lý vận hành phù hợp với tập quán và năng lực quản lý của địa phương
- Được sự chỉ đạo sát sao của lãnh đạo địa phương, sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp
- Có cơ chế hỗ trợ kinh phí xây dựng
trạm xử lý rác thải
- Đã huy động được sự tham gia của
cộng đồng thông qua việc nộp phí thu gom
và phân loại rác thải tại gia đình
• Tồn tại của mô hình
- Các loại rác thải còn lại vẫn đổ lộ
thiên và đốt thủ công, chưa có biện pháp xử
lý hợp vệ sinh (ảnh)
- Chưa có phương án hỗ trợ tài chính
duy trì mô hình sau khi dự án kết thúc và mở rộng mô hình cho các thôn/ xóm khác
* Nhận xét:
Qua điều tra các mô hình thu gom , xử lý rác thải sinh hoạt nông thôn có thể thấy các mô hình này đều có quy mô nhỏ , các giải pháp kỹ thuật đơn giản , dễ áp dụng Tuy nhiên, các mô hình trên vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề như : chưa xác định
BÃI ĐỔ RÁC VÔ CƠ THÔN TẢO PHÚ
Trang 21vai trò của các cấp địa phương, cộng đồng trong thu gom, xử lý rác thải Dẫn đến việc duy trì, quản lý vận hành không ổn định Đây sẽ là bài học kinh nghiệm cho việc xây dựng mô hình quản lý và xử lý rác thải tại xã Ngọc Thanh , huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên
1.2.4 Tổ chức dịch vụ thu gom rác thải
Ở Thái Bình hiện đang tài trợ cho các đội thu gom và tiêu huỷ chất thải ở các địa điểm tiêu huỷ theo qui định Tiền mua trang thiết bị và trả lương cho công nhân thu gom sẽ lấy từ phí thu từ các hộ gia đình Việc giám sát các hoạt động quản lý chất thải sẽ được thực hiện thông qua quá trình thăm dò ý kiến tư vấn rộng rãi ở cấp
Nhiều hình thức tổ chức cộng đồng thực hiện công tác thu gom rác thải của địa phương như: Hợp tác xã dịch vụ môi trường; Công ty TNHH môi trường, các tổ thu gom rác thải trong xã… Các tổ chức thu gom này hoạt động dưới sự quản lý của thôn, xã, … chịu trách nhiệm thu gom rác thải trên địa bàn khu vực (thường là 1- 3 lần/tuần) tuỳ theo khối lượng
Việc thành lập các tổ thu gom rác là phổ biến nhất hiện nay ở các địa phương
để giải quyết trước mắt các vấn đề bức xúc về rác thải trên địa bàn
Nhiệm vụ của đội thu gom rác thải chủ yếu là đi thu gom rác thải trong các hộ gia đình để tránh tình trạng người dân đổ rác bừa bãi tại các khu công cộng Đối với rác thải tại các khu vực công cộng, rác thải ở đường làng ngõ xóm, rác thải từ khơi
Trang 22thông cống rãnh thì rất ít địa phương làm được Do đó, môi trường cảnh quan tại các địa phương vẫn rất ô nhiễm, đường làng ngõ xóm và đặc biệt là các loại chất thải từ chăn nuôi đổ ra cống rãnh của làng gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường cảnh quan trong khu vực
Đối với các địa phương, người dân và chính quyền địa phương đã nhận thức được vấn đề này nhưng khó khăn lớn nhất tại các địa phương là kinh phí để thực hiện công tác thu gom và vận hành hệ thống Tiền thu phí vệ sinh môi trường của các hộ dân chỉ đủ để trả lương cho công nhân thu gom rác còn tiền bảo hộ lao động, bảo dưỡng thiết bị, nguyên nhiên liệu… là do chính quyền địa phương trích ngân sách
Tuy nhiên, lựa chọn công nhân cho việc thu gom tại các địa phương còn mang tính chủ quan, chủ yếu lựa chọn các đối tượng chính sách, những người có hoàn cảnh khó khăn, neo đơn, mất sức lao động… cộng với việc trả lương cho công nhân thu gom thấp (từ 80 – 200 ngàn đồng/người/tháng) là những hạn chế trong thu gom rác thải ở nông thôn
Ngoài ra, trình độ và tổ chức quản lý của chính quyền địa phương không chặt chẽ, vẫn còn xem nhẹ vấn đề môi trường Chính vì thế, hiệu quả của công tác thu gom rác thải tại các địa phương không cao và tỷ lệ thu gom rác thấp và còn nhiều bất cập
Lượng chất thải không được thu gom đang thải bỏ bừa bãi, chôn lấp tuỳ tiện như ở các ao hồ, cống rãnh, sông ngòi và các bãi đất trống và các khu vực đồng ruộng xung quanh gây ra hiện tượng ô nhiễm môi trường nước, đất và không khí
1.2.5 Đánh giá chung về công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt nông thôn
Công tác quản lý chất thả i rắn nông thôn đã bước đầu được Đảng Nhà nước
và các cấp chính quyền quan tâm, thể hiện ở các mặt sau:
- Ban hành các chủ trương đường lối chính sách trong vấn đề quản lý chất thải rắn như Nghị định số 59/2007/NĐ-CP, ngày 09/04/2007 của Chính phủ về quản
lý chất thải rắn đã có qui định rõ vai trò của các cấp , tổ chức, cá nhân trong quản lý chất thải
Trang 23- Nhiều tỉnh đã có chủ trương định hướng rõ ràng trong công tác quản lý chất thải rắn như Hà Tây, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh
- Các cấp cơ sở cũng đã chủ động thành lập các tổ thu gom tự quản , giải quyết các vấn đề rác thải sinh hoạt ở địa phương mình
Tuy nhiên , trong công tác quản lý chất thải rắn ở khu vực nông thôn cũng còn có rất nhiều các mặt tồn tại như:
- Chưa có các giải pháp về công nghệ trong việc xử lý rác thải hợp vệ sinh , chủ yếu để lộ thiên hoặc thu gom trong khu dân cư đổ ra ven đường gây ô nhiễm thứ phát
- Chưa thực hiện chuyên môn hóa công tác thu gom , người thu gom chưa được bảo đảm quyền lợi của người lao động nặng và các chế độ bảo hiểm độc hại
- Chưa thể hiện được vai trò của cộng đồng và trách nhiệm của các cấp t rong quản lý rác thải ở nông thôn Đó là: nhận thức của người dân còn hạn chế và năng lực quản lý của các cấp còn yếu kém
Để khắc phục các tồn tại trên , mô hình quản lý và xử lý chất thải rắn sinh hoạt xã Ngọc Th anh, huyện Kim Động , tỉnh Hưng Yên sẽ được xây dựng đồng bộ từ các khâu tổ chức dịch vụ , cơ chế chính sách , giải pháp công nghệ Kết quả của
mô hình sẽ là cơ sở để kiến nghị với Nhà nước các chính sách hỗ trợ cho côn g tác quản lý rác thải ở các khu vực nông thôn
Trang 24C HƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ VÀ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN
SINH HOẠT XÃ NGỌC THANH, HUYỆN KIM ĐỘNG,
TỈNH HƯNG YÊN
2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
2.1.1- Vị trí địa lý
Xã Ngọc Thanh thuộc huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên, nằm dọc theo đê sông Hồng, cách Thị trấn Lương Bằng 3 km về phía Tây-Nam Phía Bắc giáp xã Song Mai, phía Đông giáp xã Hiệp Cường, phía Nam giáp xã Phú Cường và phía Tây giáp xã Hùng An
2.1.2- Hiện trạng sử dụng đất
Xã Ngọc Thanh có tổng diện tích đất tự nhiên 651,79 ha, trong đó:
- Đất nông nghiệp 408,99 ha, chiếm 62,75% diện tích đất tự nhiên
- Đất thổ cư 36,66 ha, chiếm 5,62% diện tích đất tự nhiên
- Diện tích đất mặt nước là 34,93 ha, chiếm 5,36% diện tích đất tự nhiên, chủ yếu là sông ngòi, kênh mương dùng để phục vụ tưới tiêu cho nông nghiệp một phần diện tích ao hồ dùng để nuôi trồng thuỷ sản
2.2- ĐIỀU KIỆN KINH TẾ XÃ HỘI
2.2.1 Dân số và phân bố dân cư
Dân số toàn xã Ngọc Thanh là 6.715 người với 1.674 hộ Mật độ dân số diện tích đất tự nhiên là 1.030 người/km2; trong khu dân cư 18.316 người/km2 Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên năm 2008 là 0,92% Dự báo tỉ lệ tăng dân số từ 2008 - 2015 duy trì
ở mức 0,92%/năm
Bảng 2.1: DÂN SỐ VÀ PHÂN BỐ DÂN CƯ
Trang 25Toàn xã có 4 thôn gồm: Phượng Lâu, Thanh Cù, Duyên Yên và Ngọc Đồng Dân số tập trung chủ yếu ở 2 thôn Thanh Cù và Duyên Yên, với 1.300 hộ và 5.260 nhân khẩu, chiếm 78,33% dân số toàn xã (bảng 2.1)
2.2.2- Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn xã
a- Sản xuất nông nghiệp
Sản xuất nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế chủ đạo của Ngọc Thanh, với 93,8% số hộ trong xã tham gia sản xuất nông nghiệp, năm 2009đã tạo ra giá trị sản phẩm nông nghiệp chiếm tới 46,0% tổng giá trị kinh tế
Về chăn nuôi, trong tổng số 1.570 hộ sản xuất nông nghiệp có 1.379 hộ tham gia phát triển chăn nuôi, chiếm 87,83% số hộ sản xuất nông nghiệp Chăn nuôi trên địa bàn xã Ngọc Thanh chủ yếu ở quy mô nhỏ hộ gia đình Có 31 trang trại (chiếm 2,25% số hộ chăn nuôi), chủ yếu tập trung vào các mô hình chăn nuôi chăn nuôi lợn + cá và vịt thả đồng
Bảng 2.2: TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI
Thôn Tổng số
hộ Số hộ NN
Số hộ
CN
Trang trại
Số lượng (con) Đàn
Gia cầm
b- Sản xuất tiểu thủ công nghiệp, làng nghề
Nhìn chung sản xuất tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn xã kém phát triển Toàn
xã có 4 hộ tham gia vào nghề mộc, 5 hộ tham gia vào nghề cơ khí Các lao động trong các ngành nghề khác như: sản xuất vật liệu xây dựng, may mặc thường tham gia vào các cơ sở sản xuất trên địa bàn các xã lân cận
Nghề mới phát triển là trồng dâu nuôi tằm với khoảng 500 hộ tham gia, tập trung tại các thôn Duyên Yên và Ngọc Đồng Năm 2009, diện tích đất trồng dâu toàn xã là 28,8 ha Sản lượng kén ước tính đạt 17 tấn kén/ 2 vụ nuôi
c- Dịch vụ, thương mại và các ngành nghề khác
Trang 26Tập trung phát triển ở khu vực chợ Gò thuộc thôn Duyên Yên với 26 hộ kinh doanh buôn bán và dịch vụ, gồm: 2 hộ kinh doanh vật tư xây dựng; 17 hộ buôn bán tạp hoá, 7 hàng ăn sáng và chế biến thực phẩm
Chợ Gò họp 6 lần/tháng vào các buổi sáng ngày 4 và 9 âm lịch
2.2.3- Cơ cấu các ngành kinh tế và mức thu nhập bình quân
a- Cơ cấu các ngành kinh tế
Bảng 2.3:CƠ CẤU CÁC NGÀNH KINH TẾ VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2010
TT
Năm Nông nghiệp Cơ cấu ngành kinh tế (%) Công nghiệp,
tiểu thủ CN Thương mại, dịch vụ & ngành nghề khác
Qua các năm từ 2004 đến 2010, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm
tỷ trọng ngành nông nghiệp và tăng tỷ trọng ngành công n ghiệp- tiểu thủ công nghiệp Do đó, có thể thấy xã Ngọc Thanh là một xã điển hình vùng Đồng bằng sông Hồng đang nhanh chóng chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa , hiện đại hóa Kèm theo đó thì vấn đề về rác thải cũng đa dạng và phong phú hơn , xuất hiện nhiều vỏ bao bì công nghiệp, vỏ xà phòng, thuốc BVTV
b- Thu nhập
- Bình quân lương thực đầu người đạt 550kg thóc/năm
- Giá trị thu nhập đầu người là 7,2 triệu đồng/năm
2.2.4- Hiện trạng môi trường
a- Nguồn nước dùng cho sinh hoạt
Xã đã có 1 trạm cấp nước sạch với công suất 600 m3/ngày đêm Đến nay, trên địa bàn xã đã có 1.177 hộ (chiếm 70,31%) sử dụng nước máy trong sinh hoạt Số hộ còn lại, sử dụng nước giếng khơi hoặc giếng khoan kết hợp với nước mưa, chiếm
Trang 27Ghi chú: M1- Mẫu nước giếng khơi
M2- Mẫu nước giếng khoan chưa lọc tại thôn Thanh Cù
M3- Mẫu nước máy xã Ngọc Thanh
Kết quả phân tích chất lượng các nguồn nước sinh hoạt (bảng 2.4) cho thấy:
- Nước giếng khoan có hàm lượng Fe tổng số vượt tiêu chuẩn cho phép 6,24 lần, hàm lượng tổng các chất lơ lửng vượt 3,2 lần Đặc biệt đối với chỉ tiêu Coliform theo tiêu chuẩn TC Bộ Y tế 2002 không được phép có trong nước sinh hoạt, nhưng có tương đối nhiều trong mẫu nước giếng khoan
- Nước giếng khơi có chỉ tiêu CODKMnO4 vượt tiêu chuẩn cho phép 1,2 lần; Hàm lượng sắt tổng số vượt 1,12 lần, hàm lượng Amoni (NH4+) gấp 4,4 lần; Độ cứng tổng số gấp 1,34 lần; tổng các chất lơ lửng gấp 18,76 lần
- Nước máy có tổng các chất lơ lửng vượt tiêu chuẩn nước sinh hoạt 35,4 lần b- Điều kiện vệ sinh
Trang 28Kết quả điều tra cho thấy: 187 hộ gia đình, chiếm 11,17% chưa có nhà vệ sinh phải đi ngoài trời hoặc sử dụng chung với các hộ khác; 643 hộ (chiếm 38,41%) có nhà tiêu nhưng không hợp vệ sinh Toàn xã chỉ có 844 hộ có nhà tiêu hợp vệ sinh, chiếm 50,41% số hộ gia đình
c- Tình hình sử dụng chất thải chăn nuôi
Các kết quả thống kê trong bảng 2.5 cho thấy toàn xã có 1.379 hộ tham gia chăn nuôi, chiếm 82,38% tổng số hộ trong xã Trong tổng số các hộ chăn nuôi có 1.279 hộ (chiếm trên 92% số hộ chăn nuôi) sử dụng chất thải chăn nuôi để bón ruộng, nhưng chỉ có 102 hộ, (chiếm 7,40%) ủ phân trước khi bón ruộng Số còn lại
sử dụng phân tươi để nuôi cá, bón ruộng hoặc xả ra hệ thống thoát nước chung
Bảng 2.5: TÌNH HÌNH SỬ DỤNG CHẤT THẢI CHĂN NUÔI
số hộ
Số hộ
chăn nuôi
Hình thức sử dụng chất thải rắn hộ gia
đình (hộ)
Xả ra cống rãnh, ao hồ
SD phân tươi bón ruộng
Ủ trước khi bón
d- Hiện trạng hệ thống tiêu thoát nước thải và nước mưa
Hệ thống tiêu thoát nước thải trong các
khu dân cư đều là hệ thống kênh hở chạy
theo các trục đường làng Các loại nước thải
đều không được xử lý trước khi đổ ra hệ
thống tiêu chung Công tác vệ sinh khơi
thông cống rãnh không được làm thường
xuyên nên nước tiêu chậm làm ngập úng vào HIỆN TRẠNG HỆ THỐNG TIÊU
THOÁT NƯỚC THÔN DUYÊN YÊN
Trang 29mùa mưa và nước bẩn tù đọng dọc các cống rãnh Việc rửa chuồng trại và xả nước thải trực tiếp từ các hộ chăn nuôi, góp phần bồi lấp hệ thống cống tiêu thoát, gây ngập úng phân rác tại một số xóm rất mất vệ sinh
2.2.5 Các nguồn gây rác thải rắn trong xã Ngọc Thanh
Rác thải rắn trên địa bàn xã Ngọc Thanh chủ yếu phát sinh từ các nguồn sau: (i) Rác thải rắn sinh hoạt khu dân cư Thành phần bao gồm: kim loại, sành sứ, thủy tinh, gạch ngói vỡ, đất đá, thực phẩm dư thừa hoặc quá hạn sử dụng , rơm rạ, vỏ rau quả (ii) Rác thải rắn sinh hoạt từ c ác cơ quan, trường học, cơ sở y tế , chợ Thành phần chủ yếu là những bao bì, vỏ hộp
2.2.6- Định hướng phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2015
• Về Nông nghiệp:
Tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp - Nông thôn theo hướng công nghiệp hoá- hiện đại hoá tạo bước đột phá trong nền kinh tế nông nghiệp Tập trung sự lãnh đạo, chỉ đạo để phát triển nông nghiệp một cách toàn diện theo hướng sản xuất hàng hoá Quy hoạch những vùng chuyên canh sản xuất, cây dâu, hoa cây cảnh, rau mầu và các loại cây ăn quả có giá trị kinh tế cao
Tiếp tục khuyến khích tạo điều kiện cho các hộ nông dân dồn điền, đổi thửa hình thành các khu sản xuất tập trung để đạt hiệu quả kinh tế cao Phấn đấu năng suất lúa hàng năm đạt từ 112 – 115 tạ/ha và đạt sản lượng từ 3.700- 3.800 tấn/năm
• Nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường:
- Phấn đấu đến năm 2015, trên 90% số hộ được sử dụng nước sạch
- Tiếp tục duy trì hoạt động thu gom xử lý rác thải các thôn Phấn đấu tất cả các thôn trong xã có tổ vệ sinh môi trường và tập kết rác vào bãi tập trung
• Khả năng gia tăng rác thải rắn:
Tính đến năm 2015, khối lượng rác thải rắn của xã Ngọc Thanh sẽ tăng nhiều
và thành phần của rác thải cũng có nhiều thay đổi
Các nguồn phát sinh rác thải rắn có chỉ số tăng mạnh phải kể đến là: Rác thải rắn sinh hoạt, rác thải công nghiệp, rác thải y tế
Đối với rác thải chăn nuôi và rác thải do sử dụng thuốc BVTV có thể coi như
Trang 30không tăng (thậm chí còn có thể giảm xuống do tỷ trọng nông nghiệp sẽ giảm xuống)
2.3 HIỆN TRẠNG THU GOM , QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT XÃ NGỌC THANH
2.3.1 Khối lượng và thành phần chất thải rắn sinh hoạt
2.3.1.1- Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt
Tổng khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ các khu dân cư, khu dịch
vụ thương mại, khu chợ và các cơ quan - trường học đóng trên địa bàn xã Ngọc Thanh là 2.446,0 kg/ngày, tương đương với 892,79 tấn/năm
Bảng 2.6:KHỐI LƯỢNG CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT (kg/ngày)
Thôn
Khu dân cư
Khu TMDV
Rác thải chợ
Cơ quan kg/ngày Tấn/năm
- Tổng khối lượng chất thải chăn nuôi của các hộ gia đ ình tại xã Ngọc Thanh
là 51.979 kg/ngày Trên 93% lượng chất thải loại này do các gia đình tận dụng để bón ruộng và dùng cho các mục đích khác; 6,82 % còn lại đổ vào hệ thống tiêu thoát, không thu gom cùng rác thải sinh hoạt
- Khối lượng vỏ bao thuốc BVTV thải ra hàng năm là 817,98 kg/năm.Vỏ bao bì thuốc BVTV là chất thải nguy hại, nhưng hiện chưa được thu gom xử lý, đang vứt bừa bãi ngoài đồng, ven các kênh mương
2.3.1.2- Thành phần rác thải:
Kết quả xác định thành phần rác thải tại xã Ngọc Thanh (bảng 2.7) như sau:
Trang 31- Rác hữu cơ chủ yếu là phế phẩm thức ăn thừa và rơm rạ, lá cây chiếm 62%, tương đương 1.531,9 kg/ngày hoặc 559,14 tấn/năm
- Rác có thể thu hồi để tái chế, chủ yếu là nilon, giấy bìa cacton, chai lo thủy tinh, chiếm 12%, tương đương 292,7 kg/ngày hoặc 106,84 tấn/năm
- Rác còn lại chiếm 26% tương đương 621,4 kg/ngày hoặc 226,8 tấn/năm Như vậy, trong thành phần rác thải của xã Ngọc Thanh chủ yếu vẫn là rác thải hữu cơ chiếm 62%
§ å t h Þ 2.1: Th µ n h ph Çn r ¸ c t h ¶ I si n h h o ¹ t (% )
62%
26 %
12 %
R¸c th¶I h÷u c¬ chiÕm 62%
R¸c th¶I cã thÓ t¸I chÕ ®îc chiÕm 12%
R¸c th¶I cßn l¹i chiÕm 26%
Bảng 2.7:THÀNH PHẦN CÁC LOẠI RÁC THẢI XÃ NGỌC THANH
TT
Thành phần rác thải
Khối lượng Tỷ lệ
(%) Kg/ngày Tấn/năm
Trang 32Như vậy, nếu được phân loại chỉ riêng việc sử dụng tái chế rác hữu cơ lấy chất mùn, thì đến năm 2015 đã giảm được lượng rác chôn lấp là 1.824,7 kg/ngày tương đương với 666,0 tấn/năm
2.3.2 Dự báo khối lượng chất thải rắn phát sinh
a- Cơ sở tính dự báo khối lượng chất thải rắn
- Với chất thải rắn khu dân cư: Dựa vào qui mô dân số và mức thải trung bình + Tû lÖ t¨ng d©n sè trung b×nh/n¨m lµ 0,92% (bao gåm c¶ t¨ng d©n sè tù nhiªn
b- Kết quả dự báo khối lượng chất thải rắn phát sinh tại thôn Phượng Lâu
Kết quả dự báo lượng chất thải rắn sinh hoạt xã Ngọc Thanh như sau:
- Khối lượng rác thải sinh hoạt phát sinh trên địa bàn thôn Phượng Lâu đến năm 2010 là 235,8 kg/ngày, năm 2015: 305,1 kg/ngày, tăng 134,97% và 174,64%
so với năm 2008 (bảng 2.8a, phụ lục 1)
- Khối lượng rác thải sinh hoạt phát sinh trên địa bàn 2 thôn Thanh Cù và Duyên Yên đến năm 2010 là 2.628,8 kg/ngày, năm 2015: 3.350,6 kg/ngày, tăng
133,39% và 170,01% so với năm 2008 (bảng 2.8b, phụ lục 1)
- Khối lượng rác thải sinh hoạt phát sinh trên địa bàn thôn Ngọc Đồng đến
năm 2010, 2015 là 605,8 kg/ngày và 775,6 kg/ngày Tăng so với năm 2008 là 201,53% và 258,02% (bảng 2.8c, phụ lục 1)
Trang 33Bảng 2.9: TỔNG HỢP DỰ BÁO KHỐI LƯỢNG CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT
TẠI XÃ NGỌC THANH
2.3.3- Hiện trạng thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt xã Ngọc Thanh
2.3.3.1 Các biệp pháp thu gom, xử lý rác thải tại xã Ngọc Thanh
- Rác thải sinh hoạt hiện đã thu gom được khoảng 40% Lượng rác thải do các
hộ gia đình tự xử lý chiếm 30%, dưới hình thức đốt thủ công và bán đồng nát các chất thải vô cơ có thể tái chế cho người thu gom đồng nát 30% còn lại do các hộ gia đình đổ bừa bãi ven đường
- Rác chợ được thu gom 6 lần/tháng sau mỗi phiên chợ và chưa được đổ đúng nơi quy định của xã
- Rác cơ quan, trường học mới thực hiện thu gom đối với trường tiểu học và trung học cơ sở 2 lần/tuần sau đó vận chuyển ra bãi rác tạm của thôn Duyên Yên Các đơn vị cơ quan còn lại đều tự tổ chức quét dọn, thu gom và xử lý tại chỗ
- Rác thải khu công cộng đã thu gom đượ c khoảng 80%, trong đó: 10% lượng rác được thu gom và đổ ra bãi lộ thiên; 70% được thu gom và đốt tại chỗ qua các phong trào vệ sinh đường làng ngõ xóm do các thôn, xóm tự tổ chức
- Rác làng nghề trồng dâu nuôi tằm: Toàn xã có khoảng 500 hộ làm nghề trồng dâu nuôi tằm, tập trung chủ yếu ở 2 thôn: Duyên Yên và Ngọc Đồng Chất thải chủ yếu
là phân tằm và cọng gân lá dâu với khối lượng khoảng 278 kg/ha/tháng đã được các gia đình tận dụng làm phân và cho bò ăn Tuy nhiên, vẫn còn khoảng 30% đang đổ cùng với rác thải sinh hoạt
- Rác thải xây dựng: chủ yếu được tận dụng lại để san lấp nền , khoảng 5% đổ
Trang 34ven đường làng cùng rác thải sinh hoạt
- Rác thải y tế do cơ sở tự thu gom và xử lý tại chỗ, thu hồi lại các vỏ chai dịch chuyền (khoảng 30%) và đốt thủ công các loại rác thải y tế cùng với rác thải sinh hoạt Chất thải sau đốt không được chôn lấp , gây ảnh hưởng rất lớn đến an toàn và vệ sinh môi trường
2.3.3.2 Tổ chức dịch vụ thu gom, xử lý chất thải rắn xã Ngọc Thanh
• Tổ chức thu gom: Các thôn đều tự tổ chức các tổ thu gom rác thải dưới nhiều
hình thức khác nhau mà chưa có sự thống nhất trong toàn xã , số lần thu gom từ 1-2 lần/tuần Mức thu phí từ 500đ-5.000 đ/hộ/tháng, thu nhập của người thu gom từ 80.000-120.000 đ/tháng (bảng 2.10)
• Phương tiện thu gom, vận chuyển rác thải
Các tổ thu gom rác đã được trang bị 4 xe do Tổ chức tầm nhìn Thế giới hỗ trợ từ năm 2004 hiện các xe này đã hư hỏng và không phù hợp với đường giao thông nông thôn Đến năm 2006, huyện Kim Động hỗ trợ thêm 5 xe thu gom loại kéo tay hiện đang giao cho các tổ thu gom quản lý Số lượng xe thu gom còn thiếu rất nhiều so
Bảng 2.10:TỔ CHỨC DỊCH VỤ THU GOM RÁC THẢI XÃ NGỌC THANH
2.3.3.3 Hiện trạng các bãi đổ rác thải
Theo Theo quy hoạch sử dụng đất xã Ngọc Thanh, mỗi thôn có 1 bãi đổ rác từ quỹ đất công ích Tuy nhiên hiện nay mới chỉ có 2 thôn: Duyên Yên và Ngọc Đồng đổ
Trang 35đúng nơi quy định, thôn Phượng Lâu và Thanh Cù đ ổ rác bừa bãi ven đầu làng, ao hồ, kênh mương
Hình 2.1: BÃI RÁC THÔN PHƯỢNG LÂU Hình 2.2: BÃI RÁC THÔN DUYÊN YÊN 2.3.3.4 Đánh giá những tồn tại của công tác thu gom, bãi rác đang hoạt động:
+ Công tác thu gom còn gặp nhiều khó khăn là do: chưa xây dựng được qui chế quản lý rác thải thống nhất trên địa bàn xã ; chưa thực hiện phân loại rác thải tại nguồn; phương tiện thu gom còn thiếu và hỏng
+ Các bãi rác tạm ở các thôn đang là điểm gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, phát sinh rất nhiều côn trùng, ruồi muỗi và mùi hôi thối, ảnh hưởng đến nguồn nước mặt và người dân khi canh tác khu vực gần bãi rác
+ Điểm đổ rác thôn Phượng Lâu, hiện đang nằm trên lộ giới hành lang an toàn bảo vệ đê, chưa có bờ bao phía ngoài nên khi lũ lớn rác thải bị cuốn trôi ảnh hưởng đến nguồn nước và khu vực đất canh tác ngoài bãi
+ Đường giao thông từ trục đường chính đến bãi rác thôn là đường đất, trong mùa mưa xe thu gom không vận chuyển được, rác thải phải đổ ngoài đường gây ô nhiễm và mất cảnh quan
+ Bãi rác tạm thời các thôn đang tận dụng các đoạn kênh mương làm nơi đổ rác hoặc đổ bừa bãi xuống kênh tiêu nước, gây ô nhiễm môi trường nước mặt
Trang 36Bảng 2.11:KẾT QUẢ PHÂN TÍCH CÁC MẪU NƯỚC MẶT
Ghi chú: - M4: Mẫu nước tại cừ Sen - điểm đổ rác thải thôn Duyên Yên
- M5: Mẫu nước tại cừ Xã hội – Kênh tưới tiêu thôn Duyên Yên
- M6: Mẫu nước ao nuôi cá, gần điểm đổ rác 3, thôn Thanh Cù
Kết quả phân tích mẫu nước mặt (bảng 2.11) cho thấy: Chỉ tiêu tổng các chất rắn lơ lửng ở tất cả các mẫu phân tích đều vượt tiêu chuẩn nước dùng cho nông nghiệp (TCVN 5942-1995 - cột B) từ 2,39 – 2,53 lần Các mẫu nước đều xuất hiện Coliform, trong đó điểm M4 là nơi tiếp nhận trực tiếp nước từ bãi rác thôn Duyên Yên vượt tiêu chuẩn cho phép 2,2 lần
2.3.4- Cơ chế, chính sách đã áp dụng trong thu gom, xử lý rác thải
• Các văn bản đã áp dụng
Hiện nay, việc quản lý rác thải ở địa phương hoàn toàn dựa vào các hương ước mà chưa có các văn bản, chính sách hướng dẫn của Nhà nước Kết quả điều tra năm 2008, cho thấy: Tất cả các thôn đã thành lập hương ước và đề cập đến việc bảo vệ môi trường nói chung cũng như trong quản lý rác thải nói riêng Nhìn chung, các quy định về bảo vệ môi trường được nêu trong hương ước của các thôn khá chi tiết
và đầy đủ
Tuy nhiên trong điều kiện thực tế hiện nay, nhiều nội dung quy định trong hương ước về bảo vệ môi trường và quản lý rác thải không còn phù hợp như số lần thu gom từ 1-2 lần/tuần không đáp ứng được nhu cầu và chưa mang tính chuyên
Trang 37môn hoá; Việc thực hiện hương ước đã đưa vào tiêu chuẩn xếp loại gia đình văn hoá, nhưng chưa có chế tài xử phạt đối với các hành vi vi phạm quy ước Do đó, việc quản lý rác thải ở xã Ngọc Thanh còn gặp nhiều khó khăn, bất cập
• Các biện pháp đã áp dụng
- Phát động toàn dân làm tổng vệ sinh đường làng ngõ xóm vào các dịp lễ tết
- Định hướng quy hoạch khu đổ rác thải cho các thôn
- Thành lập tổ thu gom, vận chuyển rác tự quản
2.4 MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG TỔ CHỨC QUẢN LÝ VÀ XỬ LÝ CHẤT T HẢI RẮN SINH HOẠT XÃ NGỌC THANH
2.4.1 Đánh giá chung về quản lý
Là một xã thuần nông còn nhiều khó khăn về kinh tế nhưng cán bộ và nhân dân xã Ngọc Thanh đã thể hiện được sự cố gắng, nỗ lực của địa phương trong quản
lý rác thải Bước đầu địa phương đã thành lập được các tổ vệ sinh môi trường thu gom rác thải ở các thôn và định hướng quy hoạch các bãi rác thải cho từng thôn Tuy nhiên, công tác quản lý rác thải ở địa phương cũng còn rất nhiều tồn tại và hạn chế như:
- Mức thu phí thấp dẫn đến thu nhập của người thu gom rác thấp, chỉ đạt 120.000 đ/người/tháng đã ảnh hưởng đển hiệu quả của công tác thu gom, không khuyến khích các hoạt động thu gom theo hướng chuyên môn hóa Số lần thu gom ít dẫn đến rác thải tồn lưu trong khu dân cư và ảnh hưởng đến môi trường
80 Các điểm đổ rác tạm đang là nguồn gây ô nhiễm môi trường và mất mỹ quan khu dân cư
- Chưa thực hiện phân loại rác thải tại nguồn, tận thu các loại rác thải có thể tái chế, tái sử dụng để giảm chi phí xử lý và lượng rác phải chôn lấp
- Chưa xây dựng được qui chế quản lý rác thải thống nhất trên địa bàn xã Chưa định hướng được các giải pháp kỹ thuật phù hợp trong thu gom , xử lý rác thải qui mô nhỏ theo từng thôn hoặc cụm thôn
- Thiếu chính sách hỗ trợ cho công tác quản lý rác thải của Ngọc Thanh và nguồn kinh phí hoạt động
Trang 382.4.2 Định hướng về tổ chức quản lý
1 Củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động tổ chức dịch vụ thu gom, xử lý rác thải tự quản theo hướng chuyên môn hoá, đảm bảo mứ c thu nhập và quyền lợi của người thu gom
2 Qui hoạch thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt xã Ngọc Thanh
3 Xây dựng qui chế bảo vệ môi trường , mức thu phí, cơ chế hỗ trợ trong các
mô hình tự quản
4 Thiết kế xây dựng bãi xử lý rác thải theo cụm dân cư thôn, xóm đảm bảo hợp vệ sinh và không gây ô nhiễm môi trường cho các khu vực sản xuất xung quanh
5 Hướng dẫn xử lý rác hữu cơ trong bể ủ yếm khí Hướng dẫn kỹ thuật chôn lấp hợp vệ sinh Hướng dẫn qui trình nhân và sử dụng chế phẩm vi sinh trong xử lý môi trường Thiết kế trạm tập kết và tái chế rác thải
6 Qui hoạch điểm tập kết và tái chế rác thải theo cụm dân cư , mỗi thôn 1 điểm tập kết và xử lý rác thải
7 Xây dựng c ác chính sách về t uyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường
Xuất phát từ các định hướng này, trong khuôn khổ cho phép của luận văn sẽ
tập trung “Nghiên cứu các giải pháp quản lý và xử lý chất thải rắn sinh hoạ t xã
Ngọc Thanh, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên”
Trang 39CHƯƠNG 3 NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ VÀ XỬ LÝ
CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT Ở XÃ NGỌC THANH,
HUYỆN KIM ĐỘNG, TỈNH HƯNG YÊN
3.1 CƠ SỞ LỰA CHỌN CÁC GIẢI PHÁP QU ẢN LÝ VÀ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT XÃ NGỌC THANH
3.1.1 Cơ sở pháp lý
Mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt xã Ngọc Thanh được xây dựng dựa trên các văn bản qui phạm pháp luật của Nhà nước, các chủ trương, định hướng của tỉnh Hưng Yên và huyện Kim Động liên quan đến thu gom, xử lý rác thải như sau:
- Luật bảo vệ môi trường năm 2005;
- Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước;
- Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 9 tháng 4 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về quản lý CTR
- Quy chế BVMT trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, ban hành theo quyết định
77/2004/QĐ-UB, ngày 31-08-2004 của UBND tỉnh Hưng Yên, trong đó qui định:
UBND xã/thị trấn dành một phần quỹ đất thích hợp trong quỹ đất công để làm bãi rác thải Tổ chức các tổ đội thu gom, vận chuyển rác thải về khu vực đã quy định để xử lý Chỉ đạo ban quản lý các chợ xây dựng hệ thống vệ sinh công cộng, thu gom rác thải vào nơi quy định và hướng dẫn công tác vệ sinh môi trường cho những người buôn bán, vận chuyển hàng hoá trong chợ
- Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 5/5/2005 của Ban thường vụ tỉnh uỷ về công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh CNH- HĐH
Nghị quyết nêu rõ đối với vùng đô thị và ven đô thị phải chấm dứt nạn đổ rác
và xả nước thải chưa qua xử lý vào các sông, kênh, mương, ao hồ Thu gom và xử
lý toàn bộ rác thải sinh hoạt, rac thải công nghiệp bằng các biện pháp thích hợp, trong đó ưu tiên tái sử dụng, tái chế chất thải Quy hoạch và xây dựng khu, điểm xử
lý rác …
Trang 40- Quyết định số 45/2005/ UBND, ngày 15/6/2005 của UBND tỉnh Hưng Yên
về việc thực hiện Nghị quyết số 23 NQ/TU ngày 5/5/2005 của Ban Thương vụ tỉnh
uỷ về công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh CNH- HĐH Trong đó chú trọng đến các nhiệm vụ trọng tâm là:
• Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức và trách nhiệm bảo vệ môi trường
• Chú trọng xây dựng và thực hiện quy ước, hương ước, cam kết bảo vệ môi trường ở cộng đồng dân cư, phát triển các mô hình cộng đồng dân cư tự quản trong hoạt động bảo vệ môi trường, đưa tiêu chí bảo vệ môi trường vào việc xem xét công nhận chi, đảng bộ trong sạch vững mạnh Đa dạng hoá các loại hình tổ chức thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải sinh hoạt …
• Kiểm soát ô nhiễm và xử lý chất thải
• Bảo vệ môi trường khu vực đô thị: Xây dựng và hoàn thành bãi chôn lấp hợp vệ sinh kết hợp với nhà máy xử lý rác thải ở Thị xã Hưng Yên, các thị trấn và thị
tứ
• Bảo vệ môi trường khu vực nông thôn
3.1.2 Cơ sở khoa học và thực tiễn
Lựa chọn giải pháp xử lý và mô hình quản lý chất thải rắn s inh hoạt xã Ngọc Thanh được dựa trên các cơ sở thực tế sau:
- Ngọc Thanh là xã thuần nông, dân cư sinh sống rải rác theo 4 cụm thôn, xóm Trong đó 2 thôn Thanh Cù và Duyên Yên, có vị trí gần nhau và có số dân đông nhất, chiếm 78,33% dân số toàn xã
- Căn cứ vào chủ trương định hướng của xã trong tổ chức thu gom, xử lý rác thải thông qua việc triển khai quy hoạch sử dụng đất làm bãi rác theo từng thôn
- Cơ sở hạ tầng, giao thông nông thôn thấp kém dẫn đến việc thu gom tập trung rác khó khăn, địa phương không có điều kiện bố trí bãi chôn lấp hợp vệ sinh
- Căn cứ vào điều kiện tự nhiên (địa hình, khí hậu, kênh mương, hồ ao ), văn hóa truyền thống (thói quen sinh hoạt, quy ước nông thôn )