Do đặc thù đối với các công trình đập bê tông được xây dựng trên lòng sông hẹp thi công khó khăn nên việc lựa chọn phương án dẫn dòng càng có ý nghĩa quyết định tới tiến độ và chất lượng
Trang 1- *** -
HOÀNG ĐẠI NGHĨA
NGHIÊN CỨU PHƯƠNG ÁN DẪN DÒNG THI CÔNG
ĐẬP BÊ TÔNG ĐƯỢC XÂY DỰNG
Ở VỊ TRÍ LÒNG SÔNG THU HẸP
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Hà Nội – 2011
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI
- *** -
HOÀNG ĐẠI NGHĨA
NGHIÊN CỨU PHƯƠNG ÁN DẪN DÒNG THI CÔNG
ĐẬP BÊ TÔNG ĐƯỢC XÂY DỰNG
Trang 3Mẫu gáy HOÀNG ĐẠI NGHĨA LUẬN VĂN THẠC SĨ HÀ NỘI - 2011
Trang 4Luận văn đã được thực hiện trong thời gian ngắn với tất cả sự
nỗ lực của bản thân, tác giả đã hoàn thành với đề tài: “Nghiên cứu
phương án dẫn dòng thi công đập bê tông được xây dựng ở vị trí lòng sông thu hẹp” Trong quá trình thực hiện tác giả đã nhận được sự giúp đỡ
nhiệt tình của Phòng đào tạo Đại học và Sau đại học, Khoa Công trình Trường Đại học Thủy lợi cùng các thầy cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Tác giả xin tỏ lòng biết ơn chân thành tới các cơ quan đơn vị và các
cá nhân đã truyền thụ kiến thức, tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả hoàn thành luận văn
Đặc biệt tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Dương
Đức Tiến người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tận tình cho tác giả trong
quá trình thực hiện luận văn này
Với trình độ hiểu biết và kinh nghiệm thực tế còn hạn chế đồng thời với đối tượng nghiên cứu là đưa ra phuơng án dẫn dòng thi công cho đập
bê tông ở vị trí lòng song thu hẹp rất phức tạp nên nội dung của luận văn không tránh khỏi những sai sót Tác giả rất mong nhận được sự chỉ bảo và đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo, của các độc giả quan tâm và bạn bè đồng nghiệp
Hà Nội, tháng 6 năm 2011
TÁC GIẢ
Hoàng Đại Nghĩa
Trang 6CHƯƠNG 2.1T 1TNGHIÊN C ỨU VÀ LỰA CHỌN PHƯƠNG ÁN DẪN DÒNG
ĐỐI VỚI ĐẬP BÊ TÔNG Ở VỊ TRÍ LÒNG SÔNG HẸP1T 25
Trang 9M Ở ĐẦU
1 TÍNH C ẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, các đập thủy lợi thủy điện chủ yếu
được xây dựng ở vùng miền núi, địa hình hẹp Việc dẫn dòng thi công rất nhiều khó
khăn Tính toán dẫn dòng thi công rất quan trọng, nó ảnh hưởng đến an toàn đập,
tiến độ trong quá trình thi công và vốn đầu tư công trình
Đặc biệt các tỉnh miền núi phía Bắc, đặc điểm địa hình thường là lòng suối
dốc, địa hình bị chia cắt nhiều, lòng suối hẹp, lượng mưa lớn Với độ dốc lớn kết
hợp với lượng mưa lớn cho phép khai thác nguồn thuỷ năng đáng kể phục vụ phát
triển các ngành kinh tế Xây dựng các đập thủy lợi, thủy điện tại ở đây đem lại hiệu
quả kinh tế rất cao nhưng việc dẫn dòng thi công rất khó khăn Thường phải kết hợp
dẫn dòng ở lòng sông với các công trình phụ trợ khác
Đối với công trình đầu mối của cụm công trình thuỷ công thì công trình đầu
mối chiếm tỷ trọng khối lượng rất lớn quyết định tính hiệu quả toàn bộ dự án Việc
lựa chọn tuyến công trình đầu mối hẹp sẽ có khối lượng thi công nhỏ Tuy nhiên, để
xây dựng công trình thuỷ công ở những khu vực này ngoài những khó khăn chung
còn một vấn đề được đặt ra là biện pháp dẫn dòng thi công hết sức phức tạp do lòng
sông quá hẹp
Dẫn dòng thi công là công tác hết sức quan trọng trong thi công, xây dựng
các công trình thuỷ lợi, thuỷ điện Lựa chọn sơ đồ dẫn dòng thi công đúng đắn hợp
lý làm cho công tác thi công thuận lợi đẩy nhanh được tiến độ, an toàn trong thi
công và giảm được giá thành xây dựng công trình Ngược lại công tác dẫn dòng
không tốt sẽ làm chậm tiến độ gây khó khăn trong quá trình thi công, tăng giá thành,
gây hư hỏng hoặc phá hoại công trình
Việc tính toán các thông số dẫn dòng thi công để đưa ra quy mô, kích thước
của các công trình dẫn dòng có ý nghĩa hết sức quan trọng đến hiệu quả của công
tác dẫn dòng, tiến độ cũng như chi phí xây dựng
Trang 10Hiện nay, việc thi công công trình đòi hỏi phải có tiến độ nhanh, hiệu quả và
an toàn là một việc làm hết sức quan trọng, nhất là đối với công trình thuỷ điện Xét
về khía cạnh xây dựng, mỗi công trình thuỷ điện đều có những phương án, biện
pháp xây dựng khác nhau và phụ thuộc vào cấu tạo địa hình, địa chất và điều kiện
khí tượng thuỷ văn Với những lòng sông hẹp, về mùa lũ có lưu lượng thường rất
lớn thì lựa chọn biện pháp dẫn dòng thi công qua lòng sông thu hẹp là không đủ,
phải kết hợp với các phương án dẫn dòng khác:
- Yêu cầu về mặt bằng thi công ít nên có thể dẫn dòng ở những vị trí có lòng
sông rất hẹp
- Có thể tùy chọn vị trí và kích thước sao cho phù hợp với tính toán dẫn
dòng
- Yêu cầu thi công đơn giản để đảm bảo tiến độ thi công
- Có thể sử dụng cống lấy nước, đường ống, tuy nen dẫn nước làm cống dẫn
dòng
- Tăng tiến độ thi công vào mùa khô
- An toàn trong quá trình thi công
Một số công trình đã và đang ứng dụng biện pháp dẫn dòng thi công này với
các đặc trưng của công trình như sau:
- Thuỷ điện ngang đập, lòng sông hẹp, khó bố trí nhà máy và công trình dẫn
dòng, lũ thi công lớn: thuỷ điện Hồ Bốn-Yên Bái, thuỷ điện Hòa Bình-Hòa Bình,
thuỷ điện Khe Diên, thuỷ điện, đập Cà Tót
- Thuỷ điện đường dẫn, lòng sông quá hẹp, lũ thi công lớn khó bố trí đê quai
và kênh dẫn dòng: thuỷ điện Hồ Bốn-Yên Bái
- Thuỷ điện đường dẫn, lòng sông rộng, lũ thi công quá lớn và thời gian thi
công yêu cầu nhanh: cụm thuỷ điện Thiên Nam-Lai Châu, cụm thuỷ điện Nậm Sì
Lường-Lai Châu
Trang 11Các công trình trên đã và đang thi công cho thấy giải pháp lựa chọn khi thi
công công trình phải kết hợp thêm các công trình phụ trợ để phục vụ dẫn dòng
2 M ỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
- Xác định lưu lượng dẫn dòng và tính toán cao trình đê quai
- Tính toán khả năng tháo của lòng sông thu hẹp
- Tính toán lưu lượng cần phải tháo của công trình dẫn dòng phụ trợ
- So sánh lựa chọn các phương án dẫn dòng
- Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào công trình cụ thể
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Sử dụng phương pháp tổng hợp thống kê các tài liệu lý thuyết, thực nghiệm,
thực tế nghiên cứu phương án dẫn dòng để tổng quan được tình hình nghiên cứu,
các tồn tại, hướng nghiên cứu của luận văn
- Áp dụng cho một công trình thực tế có so sánh kết quả nghiên cứu giữa lý
thuyết và thực tế
4 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
- Trong thiết kế và thi công các công trình Thủy lợi, Thủy điện biện pháp dẫn
dòng thi công ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ xây dựng, kết cấu, và sự thành công
của công trình Việc lựa chọn đúng phương án dẫn dòng sẽ giúp đẩy nhanh tiến độ
thi công, an toàn và hạ giá thành công trình Do đặc thù đối với các công trình đập
bê tông được xây dựng trên lòng sông hẹp thi công khó khăn nên việc lựa chọn
phương án dẫn dòng càng có ý nghĩa quyết định tới tiến độ và chất lượng công trình
trong quá trình thi công
- Đề tài có ý nghĩa thiết thực phục vụ cho thiết kế và thi công các công trình
xây dựng Thủy lợi, Thủy điện
Trang 12CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ DẪN DÒNG THI CÔNG
1.1 TỔNG QUAN VỀ DẪN DÒNG THI CÔNG
Mục đích của dẫn dòng thi công là không để lũ ảnh hưởng đến quá trình thi
công công trình Có thể dùng nhiều cách để dẫn dòng thi công như: Dùng đê quây
để dẫn dòng qua một phần lòng sông, dẫn dòng qua đường dẫn, có thể kết hợp nhiều
phương án dẫn dòng với nhau
Dẫn dòng thi công có ý nghĩa quyết định đến sự thành công của công trình
Việc lựa chọn phương án dẫn dòng hợp lý sẽ giúp quá trình thi công thuận lợi, tiến
độ thi công nhanh, chất lượng công trình đảm bảo giảm chi phí xây dựng công
trình Đôi khi phương án dẫn dòng thi công còn ảnh hưởng đén cả việc lựa chọn
hình thức kết cấu công trình cũng như việc bố trí hệ thống công trình đâu mối Do
vậy việc lựa chọn các giải pháp dẫn dòng thi công hợp lý an toàn là vấn đề rất cấp
thiết
Khi dẫn dòng thi công các công thủy lợi thủy điện, các biện pháp dẫn dòng
đưa ra thường là dẫn dòng thi công một đợt hoặc nhiều đợt
Dẫn dòng thi công một đợt thường áp dụng khi xây dựng các công trình nhỏ
lòng sông hẹp Đắp đê quây ngăn dòng một lần toàn bộ lòng sông, dòng chảy được
dẫn về hạ lưu qua các công trình tháo nước tạm thời hoặc lâu dài Các công trình
thường được sử dụng là: máng, kênh, tuy nen, tràn tạm, cống ngầm
Dẫn dòng thi công nhiều đợt thường sử dụng với các công trình lớn thường
dùng giải pháp đắp đê quai ngăn dòng nhiều đợt Đối với các công trình lớn dẫn
dòng qua nhiều năm như công trình thủy điện Sơn La, công trình Hồ Tả Trạch, thủy
điện Hòa Bình… Phổ biến là hai đợt, đợt đầu dẫn dòng qua lòng sông thu hẹp để thi
công công trình đợt 1 Đợt 2 sẽ ngăn phần lòng sông còn lại và tháo nước qua các
công trình dẫn dòng đã được thi công trong đợt 1 như : khe răng lược, cống xả đáy,
Trang 13lỗ xả xâu, tuy nen, tràn tạm hoặc chỗ lõm được chừa lại trên mặt đập (mặt đập là bê
tông hoặc đập đá đổ đang xây dở như đập Cửa Đạt)
Trong quá trình các đợt thi công thường kết hợp một hay nhiều các hình thức
dẫn dòng để đạt hiệu quả cao nhất cho việc tiêu thoát lũ Các công trình thủy lợi
thủy điện ở chủ yếu kết hợp nhiều phương án dẫn dòng năm đầu dẫn dòng qua lòng
sông hẹp năm thứ hai dẫn dòng qua các công trình dẫn dòng như: Đập Cà Tót, công
trình thủy điện Hồ Bốn
Dẫn dòng thi công công trình thủy lợi thủy điện dựa vào tình hình ngăn nước
và dẫn dòng trong thời kỳ thi công khác nhau Đối với công trình có cột nước cao và
vừa, có thể chia thành ba giai đoạn:
(1) Giai đoạn đê quai ngăn nước (thời kỳ đầu), là thời kỳ sau khi chặn dòng
đến trước lúc thân đập chuẩn bị điều kiện để ngăn nước
(2) Giai đoạn thân đập ngăn nước (thời kỳ giữa), là thời kỳ sau khi thân đập
chuẩn bị điều kiện ngăn nước đến trước lúc hoàn thành triệt công trình dẫn dòng
(3) Giai đoạn hoàn thành và tích nước (thời kỳ cuối), là thời kỳ sau khi hoành
triệt công trình dẫn dòng đến lúc công trình vĩnh cửu đi vào vận hành
Đối với công trình có cột nước thấp thường chỉ có một hoặc hai giai đoạn
Phân chia các giai đoạn trên, trong phương án dẫn dòng có một lần chặn dòng, các
giai đoạn thường phân biệt rõ ràng Nếu phân kỳ dẫn dòng, các giai đoạn không thật
rõ ràng, thường có tình trạng các giai đoạn chồng chéo nhau Các phương án tháo
nước và ngăn nước của các giai đoạn nên có thiết kế quy hoạch cẩn thận, giúp cho
phương án dẫn dòng được hoàn chỉnh
Một số biện pháp dẫn dòng của các công trình thủy lợi, thủy điện
1.1.1 Dẫn dòng máng
- Máng bằng gỗ, thép hoặc bê tông cốt thép… bắc quá đê quai thượng lưu và
đê quai hạ lưu để dẫn nước về hạ lưu công trình Thường áp dụng cho các công trình
ở vị trí lòng sông hẹp, công trình nhỏ hoặc công trình thi công trong một mùa khô
Trang 14- Hiện nay ở Việt Nam ít dụng biện pháp dẫn dòng này vì khả năng tháo
nước nhỏ, không đảm bảo yêu cầu kỹ thuật vì nước rò rỉ xuống hố móng gây cản trở
khi thi công Mặt khác có thể dùng các biện pháp khác như dùng bơm, xi phông
ngược bằng cao su hoặc ống nhựa thay thế cho máng cũng sẽ thuận tiện hơn rất
nhiều đối với những công trình có lưu lượng nhỏ Q ≤ 2mP
3 P/s Trong qúa trình sửa
chữa các cống lấy nước với lưu lượng nhỏ chỉ nên dùng bơm để tháo nước
- Trên thế giới cũng đã áp dụng biện pháp dẫn dòng qua máng như: công
trình Kim Giang, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc dẫn dòng được với lưu lượng qua máng
lên đến 146 mP
3 P/s
1.1.2 Dẫn dòng qua kênh
- Thường áp dụng cho các công trình xây dựng trên đoạn sông rộng, có bờ
thoải rộng Địa hình địa chất thuận lợi cho việc đào kênh Có thể kết hợp nhiều
phương án thi công cả thi công thủ công và cơ giới Kênh có thể trong công trình
hoặc chạy vòng qua công trình Trong trường hợp kênh chiếm một phần công trình
cần kết hợp thêm nhiều các công trình dẫn dòng khác để dễ dàng thi công phần công
trình bị kênh chiếm chỗ Do kênh có kích thước lớn nên cần tính toán bố trí sao cho
không ảnh hưởng đến việc thi công hố móng Tuyến kênh ngắn khối lượng đào đắp
ít thuận lợi cho quá trình thi công
- Các công trình kè trên sông thường dùng đê quai ngăn một phần lòng sông,
dẫn dòng qua phần còn lại của lòng sông: như kè Lục Cẩu, tỉnh Lào cai, kè sông Tô
Lịch, Hà Nội …
Kênh đào một bên bờ để dẫn dòng thi công như : kênh dẫn dòng công trình
Đầm Hà Động, kênh dẫn dòng công trình Định Bình
Một số công trình Trung Quốc có sử dụng biện pháp dẫn dòng qua kênh ở
công trình: trạm thủy điện Công Chủy, Anh Tú Loan, Lục Thủy, Cát Châu, Giá
Khê, Bạch Sơn, Lục Thủy …
Trang 151.1.3 Dẫn dòng qua cống ngầm
- Cống dẫn dòng khi xây mới phải hoàng triệt vào mùa khô năm thi công cuối
cùng nếu không lợi dụng lấy nước hoặc xả nước cho đập Thường áp dụng trong
trường hợp không thể dẫn dòng qua kênh Cống thường đặt trong thân đập được tính
toán thiết kế sao cho kích thước hợp lý nhất để dẫn dòng mà không ảnh hưởng đến
kết cấu của công trình So sánh với đường hầm có ưu điểm là thi công đơn giản, tốc
độ nhanh, giá thành rẻ … Chỉ cần địa chất, địa hình có đủ điều kiện bố trí cống
ngầm là có thể áp dụng
- Lợi dụng cống lấy nước trong thân đập để dẫn dòng và mùa khô như: đập
phụ số 4 thuộc công trình hồ chứa nước Tả Trạch, tỉnh Thừa Thiên Huế Bố trí các
lỗ xả trong thân đập để tháo lũ thi công Lợi dụng cống xả sâu để tiêu nước dẫn
dòng mùa kiệt như tràn Tả Trạch thuộc công trình Hồ Tả Trạch, tỉnh Thừa Thiên
Huế, công trình Đầm Hà Động, tỉnh Quảng Ninh, thủy điện Thạch Tuyền, Trung
Quốc
- Cống lấy nước ở vị trí quá cao so với mực nước dẫn dòng như công trình hồ
chứa nước Sông Dinh 3, tỉnh Bình Thuận thì phải thiết kế riêng cống dẫn dòng
Hoặc thiết kế kết hợp cống xả cát và cống dẫn dòng như công trình thủy điện Hồ
Bốn, tỉnh Yên Bái
- Cống ngầm nằm trong thân đập đất ở công trình hồ chứa nước Cà Tót, công
trình Đầm Hà Động
- Một số công trình ở Trung Quốc: Giá Lâm, Lục Thành, Bạch Liên Hà …
Cống ngầm nằm trong thân đập đá đổ ở Trung Quốc như công trình Bách Hoa, Sư
Tử Than …
- Đập bê tông cần dẫn dòng với lưu lượng lớn thì người ta phải thiết kế công
ngầm có nhiều khoang như: công trình thủy điện Ke Diên, tỉnh Quảng Nam, hồ
chứa nước Phan Dũng, tỉnh Bình Thuận, công trình Núi Cốc, Kẻ Gỗ, Yên Lập …
Giải pháp dẫn dòng qua cống ngầm bố trí trong thân đập bê tông công trình Hủa Na,
trạm thủy điện Tân Giang, đập Đơn Giang Khẩu, Ô Giang Độ – Trung Quốc …
Trang 16- Cống đáy còn dùng để dẫn dòng kết hợp làm cống xả cát như cống đáy Tam
Hiệp Môn, trạm thủy điện Công Chủy … Khi cống đáy xuyên qua bụng rỗng, đoạn
bụng rỗng cần được bịt kín lại do trong quá trình tháo nước khí thức nghiêm trọng
như trạm thủy điện Phong Than
1.1.4 Dẫn dòng qua đường hầm, tuy nen
- Được ứng dụng cho các công trình miền núi có địa chất tốt, lòng sông hẹp
không thể dẫn dòng qua lòng sông hoặc lưu lượng dẫn dòng quá lớn không thế áp
dụng các công trình dẫn dòng khác thi công đập trong thời đoạn mùa khô cuối cùng
Để thi công các công trình này rất khó khăn tốn kém, đòi hỏi kỹ thuật cao cả trong
thiết kế và thi công Trong nhiều trường hợp cần lợi dụng cống lấy nước để dẫn
dòng vào mùa khô Đối với các công trình có lưu lượng dẫn dòng lớn cần kết hợp
thêm tràn hoặc các công trình dẫn dòng khác Nên tận dụng đường hần dẫn dòng kết
hợp với đường hầm lâu dài
- Thi công tuy nen khó khăn tốn kém nên khi áp dụng giải pháp này cần phải
làm nhiều phương án để so sánh tính toán cả hiệu quả kinh tế và kỹ thuật sao cho
hiệu quả nhất
- Đa phần các tuy nen hay đường hầm dẫn dòng đều là đường hầm có áp dẫn
dòng với lưu lượng lớn mà không áp dụng được giải pháp dẫn dòng qua kênh
Đường hầm dẫn dòng lớn nhất Trung Quốc là 15x18m dài 661m Đường hầm lớn
nhất của Liên Xô là đường hầm dẫn dòng trạm thủy điện Pukia là 17x22m
- Một số công trình ở Việt Nam dùng tuy nen để dẫn dòng như: thủy điện
Hòa Bình dùng 2 tuy nen để dẫn dòng Ở công trình Cửa Đạt tuy nen dẫn dòng riêng
và tuy nen dẫn nước vào nhà máy riêng Công trình hồ Tả Trạch tuy nen dẫn dòng
và tuy nen lấy nước vào nhà máy có chung của vào …
- Trên thế giới đã áp dụng cả các đường hầm chảy không áp như: đường hầm
Long Dương Hiệp, có chế độ chảy quá độ chuyển đổi không áp và có áp như đường
hầm Ô Long Độ Một số đường hầm dẫn dòng của một số công trình khác ở Trung
Trang 17Quốc như: Kiến Khê, Gia khê, Ô Giang Độ, Bích Khẩu … Ở Ấn Độ có đường hầm
dẫn dòng Si-li-sa-lam, ở Mỹ có De-vo-sick, Pao-er-th
- Trong trường hợp tận dụng kết hợp đường hầm dẫn dòng và đường hầm lâu
dài Phổ biến là đường hầm dẫn dòng xả lũ kết hợp làm đường hầm phát điện như
đối với công trình hồ chứa nước Tả Trạch đường được chia thành 2 nhánh: 1 nhánh
dẫn dòng trong năm thứ 4, 1 nhánh làm đường ống dẫn nước vào nhà máy để phát
điện Ngoài ra, kết hợp đường hầm dẫn dòng làm đường hầm tháo lũ, kết hợp với
đường hầm tháo cạn như hồ chứa nước Mao Gia Thôn, Trách Cảng Khẩu, Nam
Thủy … Kết hợp dẫn dòng, tháo cạn, phát điện như thủy điện Sơn Mỹ, Hồng
Cương, Thạch Môn …
1.1.5 Dẫn dòng qua lòng sông thu hẹp
- Đây là biện pháp dùng phổ biến ở nước ta khi thi công các trình thủy lợi
thủy điện Đắp đê quai một phần công trình vào mùa khô để thi công, dẫn dòng qua
lòng sông thu hẹp Thi công phần trên cao của công trình vào mùa lũ Phần còn lại
của công trình sẽ được thi công vào mùa khô năm sau, khi đó các công trình dẫn
dòng đặt trong phần đập đã thi công hoặc tuynen dẫn nước đã được thi công trong
năm trước
- Biện pháp dẫn dòng này thường dùng cho các công trình có lòng sông rộng
Công trình có thể chia được thành nhiều đoạn để thi công
- Giải pháp dẫn dòng này được áp dụng cho nhiều công trình ở nước ta như
thủy điện Sơn La, thủy điện Hồ Bốn, hồ chứa nước sông Dinh 3, đập dâng Văn
Phong … Trong quá trình thi công đê kè trên các sông cũng cần đắp đê quây dẫn
dòng qua lòng sông hẹp như: kè sông Tô Lịch, cải tạo và sửa chữa lòng dẫn sông
Đáy, kè 2 bên bờ sông khi thi công cống Báo Đáp, tỉnh Hưng Yên …
1.1.6 Dẫn dòng qua khe răng lược
- Khe răng lược thường được dùng để dẫn dòng giai đoạn hai Khi dẫn dòng
qua khe răng lược thì thi công các hạng mục công trình đợt 2 Thường bố trí một
Trang 18khe răng ngay tại vị trí các khoang của đập và áp dụng cho các công trình bê tông có
địa chất tốt Ở nước ta nói chung ít dùng biện pháp dẫn dòng này khi thi công do
việc lấp khe răng lược rất phức tạp, duy nhất chỉ áp dụng tại công trình thủy điện
Thác Bà, tỉnh Yên Bái
- Ở Trung Quốc sử dụng biện pháp này cho nhiều công trình Hình thức để
bố trí là lỗ chừa đặt cao hơn cống đáy và cùng với các công liên hợp tháo lũ: Đập
Tam Hiệp Môn, Đơn Giang Khẩu
1.1.7 Một số hình thức dẫn dòng khác
- Dẫn dòng qua gian máy thường dùng với trạm thủy điện lòng sông, cột
nước thấp như công trình Phú Xuân Giang, Tây Tân, Đại Hóa, Lạc Đông, A Kỳ
Vượng … Có các hình thức dẫn dòng như đem bịt ống xả, tháo nước qua cửa cống,
dẫn dòng qua ống xoắn hoặc ống xả hoặc sử dụng đường xả cát, đường tháo lũ lâu
dài để dẫn dòng
- Còn có thể cho nước tràn qua ở đập bê tông trọng lực, đập trụ chống, đập
vòm, đập bụng rỗng, gian máy Trong các trường hợp dẫn dòng này khi cao trình lỗ
chừa tương đối cao, dòng chảy qua tràn tạm không chảy ngập hoặc hình thức dòng
nhảy, mặt đập sinh ra áp suất âm, khí thực, đối với nền móng phía hạ lưu hoặc các
công trình khác tạo thành xói, phá hoại Vì vậy cần kiểm tra tính toán ứng lực và ổn
định thân đập
- Hình thức cho nước tràn qua với đập đá đổ cần có biện pháp bảo vệ đập
bằng các rọ đá khi cho nước tràn qua như đập Cửa Đạt Các đập đá đổ trên thế giới
khi cho nước tràn qua cũng tính toán đảm bảo được yêu cầu chống xói: dùng đá
tảng, đá xây, tấm bê tông, lồng tre, lồng thép Đập Za-rat-cha-la-if, Nam Phi dùng
lưới cốt thép và thép néo nằm ngang bảo vệ mái hạ lưu, đập Nurik Liên Xô (cũ)
dùng khối bê tông lớn bảo vệ mặt đập, hồ chứa Cầm Nguyên bảo vệ mái hạ lưu
bằng đá tảng 30 ÷ 40cm …
Trang 19Trên đây là các biện pháp dẫn dòng thường dùng Dựa vào tình hình cụ thể
của từng công trình mà nghiên cứu kết hợp nhiều phương án dẫn dòng khác nhau để
đẩy nhanh tiến độ thi công và giảm giá thành để có hiệu quả nhất đối với công trình
1.2 PHƯƠNG ÁN DẪN DÒNG QUA LÒNG SÔNG HẸP
Khi xây dựng các công trình thủy lợi thủy điện thường chọn công trình tại vị
trí có lòng sông hẹp để giảm giá thành và tăng độ an toàn cho công trình khi đó việc
dẫn dòng thi công đòi hỏi phức tạp hơn so với tại vị trí lòng sông rộng Khi đó ta
cần so sánh phân tích lựa chọn các phương án dẫn dòng thi công dựa vào quy mô
kích thước công trình chính, thời gian và tiến độ thi công, tài liệu thủy văn dòng
chảy, tài liệu địa chất địa hình để xác định được khả năng tháo của công trình trong
thời gian dẫn dòng Cần xác định chính xác thời điểm đắp đê quai, chiều cao đê
quai cho từng thời đoạn, kích thước, khả năng tháo nước của công trình Đưa ra
được bảng tiến độ thi công đối với từng giai đoạn và với từng hạng mục của công
trình
Các công trình thủy lợi thủy điện tại vị trí lòng sông hẹp thường có quy mô
và kích thước không lớn nên thường áp dụng biện pháp dẫn dòng thi công trong hai
mùa khô, chọn biện pháp dẫn dòng thi công hai đợt Mùa khô năm thi công thứ nhất
đắp đê quai ngăn một phần lòng sông, dẫn dòng qua lòng sông thu hẹp Thi công
công trình dẫn dòng và thi công công trình chính lên trên cao trình vượt lũ Đến mùa
lũ năm thứ nhất dẫn dòng qua lòng sông hẹp tiếp tục thi công phần trên cao của
công trình Mùa khô năm thứ hai đắp đê quai phần đập còn lại, dẫn dòng qua công
trình dẫn dòng đã thi công trong mùa khô năm thứ nhất thi công công trình chính lên
trên cao trình vượt lũ và tiếp tục hoàn thiện công trình trong mùa lũ năm thứ hai
Khi lòng sông đã bị thu hẹp một phần do hố móng và đê quai chiếm chỗ khi
tính toán dẫn dòng thi công cần xác định chính xác độ rộng lòng sông bị thu hẹp,
xác kích thước, kết cấu, cao trình đỉnh đê quai để đảm bảo an toàn và thi công thuận
lợi nhất Trong nhiều trường hợp cần xây tường ngăn dòng để tăng độ rộng lòng
sông
Trang 201.2.1 Phương án dẫn dòng năm thứ nhất
- Phương án khi dẫn dòng năm thứ nhất chủ yếu đối với các công trình thủy
lợi thủy điện trên lòng sông hẹp là dẫn dòng trên lòng sông hẹp Đắp đê quai thượng
lưu, đê quai hạ lưu, đê quai dọc để dẫn dòng qua lòng sông thu hẹp Mùa khô năm
thứ nhất thi công phần đập trong đê quai đến cao trình vượt lũ và các công trình tiêu
thoát lũ cho mùa khô năm thứ hai Mùa lũ năm thứ nhất tiếp tục thi công phần đập ở
trên cao, dẫn dòng qua lòng sông bị thu hẹp
- Cần tính toán chính xác lưu lượng cần dẫn dòng, cao trình các đê quai để
tính được quy mô kích thước các đê quai, kênh dẫn dòng Cân đối khối lượng thi
công năm thứ nhất và năm thứ hai từ bảng tiến độ để có được kích thước đoạn đập
cần thi công năm thứ nhất và phần đập còn lại thi công trong năm thứ hai
- Trong trường hợp lòng sông không đủ để tiêu lũ dẫn dòng trong quá trình
thi công mùa khô năm thứ nhất cần đào kênh dẫn dòng như công trình Đầm Hà
Động, công trình Định Bình
- Đối với đập phụ số 4 của công trình hồ chứa nước Tả Trạch, tỉnh Thừa
Thiên Huế thi công cống lấy nước kết hợp làm cống dẫn dòng trước, dẫn dòng qua
lòng suối Thi công xong cống mới tiến hàn đắp đê quai thượng hạ lưu, dẫn dòng
qua cống
- Các công trình dẫn dòng qua lòng sông thu hẹp như: thủy điện Hồ Bốn, tỉnh
Yên Bái, công trình hồ chứa nước Phan Dũng, tỉnh Bình Thuận, hồ chứa nước Cà
Tót, tiểu dự án nâng cấp công trình thủy lợi Ngòi Nhì, Thác Hoa, tỉnh Yên Bái …
Phương án dẫn dòng thi công năm thứ nhất được nêu ở hình 1.1
Trang 21Hình 1 1: Sơ đồ dẫn dòng thi công năm thứ nhất
5 C ống đáy
6 Ph ần công trình bê tông đã thi công
1.2.2 Phương án dẫn dòng năm thứ hai
- Lúc này dòng sông đã bị chặn lại do phần đập đã thi công năm thứ nhất nên
cần phải có biện pháp dẫn dòng tiêu thoát lũ trong quá trình thi công trong năm thứ
hai Phương án khi dẫn dòng năm thứ hai chủ yếu đối với các công trình thủy lợi
thủy điện trên lòng sông hẹp là dẫn dòng qua các công trình tiêu thoát lũ đã xây
dựng trong mùa khô năm thứ nhất Đắp đê quai thượng lưu, đê quai hạ lưu để thi
công đoạn đập còn lại Mùa khô thi công đập và thi công tràn xả lũ Mùa lũ thi công
phần đập còn lại trên cao, tiêu thoát lũ qua tràn xả lũ
- Các biện pháp đưa ra để tiêu thoát lũ cả mùa khô và mùa lũ trong năm thứ
hai cần được tính toán chuẩn bị ngay trong năm thứ nhất Có thể lợi dụng các công
trình lâu dài để dẫn dòng hoặc phải xây mới các công trình dẫn dòng tạm thời Sau
khi dẫn dòng cần phá bỏ các công trình dẫn dòng này
- Lợi dụng các công trình lâu dài như: lợi dụng cống xả cát, đường hầm dẫn
Trang 22nước, tuy nen dẫn nước vào nhà máy, cống lấy nước, tràn xả lũ Cần tính toán các
công trình này có thể tiêu thoát hết được lũ dẫn dòng, nếu không cần xây dụng thêm
các công trình dẫn dòng khác để hỗ trợ nhằm đảm bảo tiêu thoát hết lũ dẫn dòng
trong quá trình thi công
- Thiết kế các công trình dẫn dòng mới phục vụ dẫn dòng trong quá trình thi
công: thi công cống ngầm, cống đáy, tuy nen dẫn nước
- Ngoài ra còn có thể dẫn dòng bằng cách để lại một phần đập hay nhà máy để
dẫn dòng như dẫn dòng qua lỗ chừa, qua gian máy Tuy nhiên cách dẫn dòng này
rất phức tạp nên ít được sử dụng
- Trong thực tế các công trình khi đưa ra các phương án dẫn dòng thường phải
kết hợp nhiều biện pháp dẫn dòng khác nhau Các phương án đưa ra cần tính toán so
sánh với nhau nhằm đạt được hiệu quả cao nhất về kỹ thuật, kinh tế và an toàn tuyệt
đối trong quá trình thi công
- Các phương án đã sử dụng trên thực tế:
+ Mùa khô dẫn dòng qua cống được xây dựng trong năm thi công thứ nhất
Mùa lũ dẫn dòng qua tràn xả lũ Công trình thủy điện Ke Diên, tỉnh Quảng Nam, hồ
chứa nước Phan Dũng, tỉnh Bình Thuận
+ Xây thêm cống dẫn dòng kết hợp với các công trình lâu dài Xây thêm cống
dẫn dòng kết hợp cống xả cát để tiêu thoát lũ mùa khô và tiêu nước qua tràn xả lũ
trong mùa lũ năm thứ hai: công trình thủy điện Hồ Bốn, tỉnh Yên Bái Cống dẫn
dòng kết hợp với cống lấy nước để tiêu thoát lũ mùa khô và xả nước qua tràn trong
mùa lũ năm thứ hai: công trình hồ chứa nước Yên Lập, tỉnh Quảng Ninh, hồ chứa
nước Sông Sào, tỉnh Nghệ An Công trình sông Rác, tỉnh Hà Tĩnh sử dụng đến tràn
tạm kết hợp cống lấy nước và tràn chính để tiêu thoát lũ
+ Chỉ sử dụng công trình lâu dài để dẫn dòng Tràn Tả Trạch, Thừa Thiên
Huế chỉ sử dụng tuy nen dẫn nước và cống xả đáy để tiêu thoát lũ Đập phụ số 4
thuộc công trình hồ Tả Trạch, Thừa Thiên Huế chỉ sử dụng cống lấy nước để tieu
Trang 23thoát lũ dẫn dòng trong cả hai năm thi công Công trình Đầm Hà Động, Quảng Ninh
sử dụng lỗ xả tràn và cống lấy nước để thoát lũ thi công
+ Các phương án dẫn dòng khác như dẫn dòng qua kênh kết hợp với cống ở
thủy điện Sơn La, kết hợp cống dẫn dòng với chỗ lõm chừa lại trên mặt đập đá đổ
đang xây dở, các lỗ xả sâu và tràn đang xây dở ở thủy điện Tuyên Quang, hay ở hồ
chứa nước Cửa Đạt Dẫn dòng qua cống dẫn dòng kết hợp chỗ lõm chừa lại trên mặt
đập bê tông đầm lăn để tháo lũ thi công ở thủy điện Sesan 3 Dẫn dòng qua tuy nen
và cống dẫn dòng và các lỗ xả sâu ở thủy điện Hòa Bình Đều là các phương án dẫn
dòng đối với các công trình lớn được xây dựng trên lòng sông rộng có lưu lượng
dẫn dòng lớn
Một số các công trình thủy lợi thủy điện xây dựng trên lòng sông hẹp thi công
trong 3 năm cũng xử dụng quy mô và các phương án dẫn dòng như đối với các công
trình thi công trong 2 năm như đã nói ở trên
Phương án dẫn dòng qua cống lấy nước được nêu ở hình 1.2
Hình 1.2: Phương án dẫn dòng cống lấy nước, qua tràn xả lũ –
Hình 1.2 là phương án dẫn dòng của công trình thủy lợi Sông Lạng, tỉnh Hòa
Trang 24Bình Năm thứ nhất, năm thứ hai dẫn dòng qua lòng sông hẹp Thi công 1 phần đập,
hoàn thiện cống lấy nước và tràn xả lũ Mùa khô năm thứ ba đắp đê quai thượng hạ
lưu dẫn dòng qua cống lấy nước Mùa lũ dẫn dòng qua cống lấy nước và qua tràn xả
lũ, hoàn thiện công trình
Hình 1.3: Phương án dẫn dòng qua cống xả cát, cống dẫn dòng, qua tràn xả lũ –
Phương án dẫn dòng của công trình thủy điện Hồ Bốn, tỉnh Yên Bái Mùa khô
năm thứ 2 dẫn dòng qua cống xả cát và cống dẫn dòng Mùa lũ dẫn dòng qua cống
xả cát, cống dẫn dòng và qua tràn xả lũ Đến mùa khô năm thứ 3 sẽ hoành triệt cống
dẫn dòng và hoàn thiện công trình
1.3 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHƯƠNG ÁN DẪN DÒNG
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng tới chọn phương án dẫn dòng, nhưng chủ yếu có
các nhân tố sau:
1.3.1 Điều kiện địa chất
Trang 25Điều kiện địa chất của lòng sông khu vực đập thường là nhân tố chủ yếu
quyết định phương án dẫn dòng Các phương thức dẫn dòng ngoài việc lợi dụng
điều kiện địa hình thuận lợi, còn cần kết hợp điều kiện địa chất Có khi điều kiện địa
hình lòng sông phù hợp với dẫn dòng phân kỳ, nhưng do tầng phủ đáy sông rộng
lớn, việc xử lý phòng sói và phòng thấm cho đê quai dọc gặp khó khăn, nên không
dùng kênh dẫn dòng
1.3.2 Đặc điểm thủy văn
Sông có lưu lượng lớn hay nhỏ, thời đoạn và biên độ lưu lượng của mùa lũ và
mùa khô, lượng đỉnh lũ và quy luạt xuất hiện đều trực tiếp ảnh hưởng tới phương
án dẫn dòng Đối với dòng sông có lưu lượng lớn, việc dẫn dòng qua đường hầm
khó thỏa mãn yêu cầu, cần phân kỳ dẫn dòng, dẫn dòng qua kênh hoặc dẫn dòng
qua các hình thức khác Đối với sông có biên độ mực nước mùa khô, mùa lũ lớn, có
thể dùng đê quai cho nước tràn qua đê giảm bớt giá thành dẫn dòng Với dòng sông
có lưu lượng bình thường, biên độ mùa lũ mùa khô không lớn, dùng đê quai không
cho nước tràn qua có thể kéo dài thời gian thi công
1.3.3 Hình thức và bố trí công trình chính
Hình thức kết cấu công trình thủy công, bố trí tổng thể và lượng công trình
chính là 1 trong những căn cứ chủ yếu khi lựa chọn phương án dẫn dòng Yêu cầu
dẫn dòng cần lợi dụng công trình vĩnh cửu, lựa chọn hình dạng đập, bố trí lưu vực
cần xét tới công tác dẫn dòng, 2 việc đó ảnh hưởng lẫn nhau Đối với đập đất đá nói
chung không dùng phân kỳ dẫn dòng, mà thường dùng phương thức dẫn dòng qua
đường hầm, qua cống ngầm, qua kênh Không dùng đê quai cho nước tràn qua Đối
với công trình có quy mô lớn, thời gian thi công hố móng dài, không nên cho nước
tràn qua đê quai để có thể bảo đảm thi công hố móng cả năm Đối với trạm thủy
điện cột nước thấp có thể sử dụng đê quai ngăn nước để phát điện, sớm thu được
hiệu ích
1.3.4 Nhân tố thi công
Trang 26Phương án dẫn dòng thi quan hệ mật thiết với tổng tiến độ thi công Phương
án dẫn dòng thi công khác nhau thì trình tự thi công khác nhau Trình tự thi công
khác nhau ảnh hưởng đến phân kỳ dẫn dòng và bố trí công trình dẫn dòng Trình tự
thi công hợp lý không ảnh hưởng đến thời gian hưu ích thi công và tổng thời gian
thi công Vì vậy, khi chọn phương án dẫn dòng cần xét đến trình tự và phương pháp
thi công, cường độ và tiến độ thi công, tới bố trí thi công và bố trí giao thông bên
ngoài bên trong công trường Hiện nay, việc cơ giới hóa thi công phát triển, máy
móc lớn đã không ngừng hoàn thiện công tác thi công, đê quai đất đá được làm càng
nhiều và càng cao, quy mô kênh dẫn dòng càng ngày càng lớn Để đẩy nhanh tiến
độ thi công và giải quyết đắp đất đá của đập ở hai bên bờ đã dùng phương án dẫn
dòng kênh lớn kết hợp lỗ xả đáy Kỹ thuật thi công công trình ngầm phát triển, mặt
cắt đường hầm có thể rất lớn
1.3.5 Nhân tố lợi dụng tổng hợp
Chủ yếu là lợi dụng tổng hợp trong thời gian thi công gồm: thông thuyền,
chở gỗ, phát điện, tưới, cấp nước Khi chọn phương án dẫn dòng, nên xét tổng hợp
để các công trình tháo nước dẫn dòng thỏa mãn các yêu cầu đó
Trên đây là những nhân tố ảnh hưởng tới chọn phương án dẫn dòng thi công
Tùy tình hình cụ thể, phân tích để xác định Nhìn chung thì hình dạng đập và địa
hình lòng sông là một trong những điều kiện chủ yếu chọn phương án dẫn dòng
Nếu lấy tỷ số chiều dài đỉnh đập và chiều cao đập η=L/h là hệ số biểu thị hình dạng
lòng sông, qua phân tích và thống kê có được quan hệ sau:
η < 3 đối với đập bê tông thường thích hợp dẫn dòng qua đường hầm và chặn
Trang 27Nếu bề rộng lòng sông rộng có thể dùng phân kỳ dẫn dòng
1.4 LỰA CHỌN PHƯƠNG ÁN DẪN DÒNG VỚI ĐẬP BÊ TÔNG TRÊN
LÒ NG SÔNG HẸP
Khi chọn phương án dẫn dòng, tùy theo điều kiện cụ thể của từng công trình
để có thể ấn định một vài phương án, phân tích toàn diện, so sánh, không chỉ phân
tích trước lúc dẫn dòng mà cần phân tích toàn diện trước và sau khi dẫn dòng Phân
tích dẫn dòng không chỉ là định lượng giá thành công trình dẫn dòng mà cần so sánh
toàn diện về kinh tế và kỹ thuật như tổng tiến độ thi công và các yêu cầu kinh tế
quốc dân khác Phương án tối ưu của dẫn dòng thể hiện trên một số mặt sau:
- Tiến độ thi công toàn bộ hệ thống công trình với thời gian ngắn, giá thành
hạ Rút ngắn thời gian đầu tư ban đầu, phát huy nhanh hiệu quả đầu tư
- Thi công công trình chính xác an toàn, cân bằng cường độ thi công, tránh
thi công chồng chéo, bảo đảm tính chủ động trong thi công
- Công trình dẫn dòng đơn giản, khối lượng công trình nhỏ, giá thành hạ, thi
công thuận tiện, tiến độ thi công nhanh
- Thỏa mãn yêu cầu các thành phần kinh tế quốc dân (thông thuyền, chở gỗ,
nước tưới, cấp nước, di dân, …)
Khi chọn phương án dẫn dòng cần đề xuất một số kết quả sau:
- Chọn lưu lượng dẫn dòng, thời đoạn thi công và tiêu chuẩn dẫn dòng
- Khối lượng công trình và giá thành công trình của các phương án
- Sơ đồ dẫn dòng, kích thước và hình thức công trình ngăn nước và tháo
nước, trình tự và tiến độ thi công
- Chỉ tiêu và phương thức chủ yếu của chặn dòng tháo nước hố móng
- Phương thức và chỉ tiêu chủ yếu của thi công đập vượt lũ, hoành triệt công
trình dẫn dòng và tích nước
Trang 28- Chỉ tiêu chủ yếu của tổng tiến độ, bao gồm tổng thời gian thi công, chặn
dòng, ngừng thông thuyền, chở gỗ, số nhân lực, tích nước, ngày giờ phát điện tổ
máy số một, …
- Biện pháp tổng hợp lợi dụng dòng chảy
- Kết quả thực nghiệm mô hình thủy lực của phương án chủ yếu
1.5 KẾT LUẬN
Dẫn dòng thi công các công trình thủy lợi thủy điện có vai trò quyết định đến
việc thành bại của dự án Phương án dẫn dòng ảnh hưởng đến chi phí đầu tư xây
dựng, tiến độ xây dựng, kết cấu và bố trí của hệ thống công trình đầu mối Đồng
thời các phương án dẫn dòng thi công cũng bị chi phối bởi nhiều yếu tố điều kiện tự
nhiên như địa hình, địa chất, thủy văn, điều kiện dân sinh kinh tế …
Khi bố trí bố trí hệ thống công trình đầu mối luôn phải xem xét đến phương
án dẫn dòng thi công Đôi khi phương án dẫn dòng thi công chi phối cả việc lựa
chọn hình thức kết cấu của công trình
Việc lựa chọn được phương án dẫn dòng thi công hợp lý đòi hỏi người thiết
kế phải có kiến thức toàn diện về công nghệ xây dựng cũng như quản lý xây dựng
Các kiến thức cơ bản, cơ sở của công trình như: thủy lực, địa kỹ thuật, thủy văn, kết
cấu công trình, vật liệu xây dựng, …
Hiện nay các công trình thủy lợi thủy điện chủ yếu được xây dựng ở các
vùng miền núi địa hình hẹp Dẫn dòng thi công rất khó khăn nên việc lựa chọn
phương án dẫn dòng rất phức tạp Việc tính toán các thông số dẫn dòng để đưa ra
quy mô kích thước của các công trình dẫn dòng có ý nghĩa hết sức quan trọng Nó
ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác dẫn dòng, tiến độ cũng như chi phí xây dựng
của công trình
Trang 29CHƯƠNG 2 NGHIÊN C ỨU VÀ LỰA CHỌN PHƯƠNG ÁN DẪN DÒNG ĐỐI VỚI
ĐẬP BÊ TÔNG Ở VỊ TRÍ LÒNG SÔNG HẸP
Dẫn dòng thi công là dẫn dòng chảy trong lòng sông theo một phần của lòng
sông thiên nhiên hoặc theo một đường dẫn nhân tạo khác, nhằm mục đích tạo hố
móng được cách ly với dòng chảy để thi công các công trình thủy công trong đó
Dẫn dòng thi công có thể được thực hiện bằng cách dùng đê quây để thu hẹp lòng
sông hoặc bằng cách ngăn hẳn lòng dẫn, bắt dòng chảy đi qua một đường dẫn khác
(kênh, tuynen, đập tràn, cống, …) đã được chuẩn bị trước
Dẫn dòng thi công là công tác có vai trò quyết định đến thành công và chi phí
đầu tư xây dựng hệ thống công trình đầu mối thủy lợi thủy điện Khi chọn tuyến xây
dựng đập, chon phương án xây dựng hệ thống công trình đầu mối thủy lợi thủy điện,
luôn phải xem xét đến phương án dẫn dòng nhằm đảm bảo việc dẫn dòng nói riêng
và công tác xây dựng nói chung được tiến hành nhanh, kinh phí nhỏ, thi công dễ
dàng và an toàn nhất Đôi khi phương án dẫn dòng chi phối cả việc lựa chọn hình
thức kết cấu công trình cũng như bố trí hệ thống công trình đầu mối
2.1 XÁC ĐỊNH LƯU LƯỢNG DẪN DÒNG
2.1.1 Theo tiêu chuẩn Việt Nam
2.1.1.1 Phân chia cấp công trình dẫn dòng
Công trình dẫn dòng là công trình sử dụng trong thời gian thi công trong một
phân công trình đầu mối hoặc hệ thống dẫn
– công trình t ạm thời trong một công trình đầu mối hay hệ thông dẫn
Cấp thiết kế của công trình đầu mối hoặc hệ thống
Cấp thiết kế của công trình chủ yếu I II III IV V
Trang 30Cấp thiết kế của công trình thứ yếu III III IV V V
Cấp thiết kế của công trình tạm thời IV IV V V V
Ghi chú: Theo thời gian sử dụng công trình thủy trong các Dự án thủy lợi
được chia thành công trình lâu dài và công trình tạm thời:
- Công trình lâu dài là công trình được sử dụng thường xuyên hoặc định kỳ
trong suốt quá trình khai thác Tùy thuộc vào chức năng, công trình lâu dài được
chia thành công trình chủ yếu và công trình thứ yếu
+ Công trình chủ yếu là công trình mà sự hư hỏng của chúng sẽ ảnh hưởng
trực tiếp đến sự làm việc bình thường của công trình đầu mối và hệ thống như: đập,
cửa cống, công trình xả, công trình lấy nước, trạm bơm, trạm thủy điện …, làm cho
chúng không đảm nhận được nhiệm vụ như thiết kế đặt ra
+ Công trình thứ yếu là công trình mà sự hư hỏng của chúng không ảnh
hưởng đến sự làm việc bình thường của công trình đầu mối và hệ thống như: tường
chắn đất, tường hướng dòng, cầu công tác và công trình bảo vệ bờ … Có thể phục
hồi được trong thời gian ngắn
- Công trình tạm thời là công trình chỉ sử dụng trong thời kỳ xây dựng hoặc
chỉ sử dụng để sửa chữa công trình lâu dài trong thời kỳ khai thác (đê quai, công
trình dẫn, xả lưu lượng thi công, cầu tạm, …)
Cấp thiết kế của công trình tạm thời có thể được nâng lên một cấp khi sự hư
hỏng của chúng dẫn đến các hậu quả sau:
+ Có thể gây ra thảm họa cho các khu dân cư, khu công nghiệp tập trung, các
tuyến giao thông huyết mạch ở hạ lưu
+ Làm mất an toàn cho công trình lâu dài đang xây dựng
+ Thiệt hại về vật chất gây ra sự khi sự cố lớn hơn nhiều so với vốn đâu tư
thêm cho công trình tạm thời
Trang 31+ Đẩy lùi thời gian đưa công trình vào khai thác, làm giảm đáng kể hiệu quả
đầu tư
2.1.1.2 Tiêu chuẩn thiết kế lũ của công trình dẫn dòng
Lưu lượng mực nước lớn nhất để thiết kế các công trình tạm thời phục vụ
công tác dẫn dòng đê quai, kênh dẫn được xác định theo bảng 2.2
Cấp công trình Tần suất lưu lượng lớn nhất để chặn dòng
Lưu lượng trong tập hợp thống kê tính toán là lưu lượng trung bình ngày có
trị số lớn nhất đối với dòng chảy không bị ảnh hưởng triều hoặc lưu lượng trung
bình giờ có trị số lớn nhất đối với dòng chảy chịu ảnh hưởng của triều xuất hiện
trong thời đoạn dự tính chặn dòng của từng năm thống kê Thời đoạn dự tính chặn
dòng được xác định tùy thuộc vào đặc điểm thủy văn cụ thể và khối lượng công tác
nhưng không quá 30 ngày
Căn cứ vào số liệu đo đạc thực tế trong thời gian trước thời điểm ấn định tiến
hành chặn dòng (thường tiến hành đo đạc từ thời điểm kết thức mùa lũ đến thời
điểm ấn định chặn dòng), khi thi công cần phải hiệu chỉnh lại phương án chặn dòng
cho phù hợp thực tế của dòng chảy, thời tiết, lịch triều
Khi dẫn dòng vào mùa lũ các công trình phải dẫn dòng với lưu lượng lũ thiết
kế công trình Đây chính là lưu lượng đến lớn nhất trong quá trình thi công
Trang 32Một số tiêu chuẩn dẫn dòng dùng trong một số công trình đập bê tông trọng
lực đã xây dựng ở vị trí lòng sông hẹp được nêu ở bảng 2.3
2.1.2 Theo tiêu chuẩn quốc tế
2.1.2.1 Phân chia cấp công trình dẫn dòng
Công trình dẫn dòng là công trình tạm thời Khi công trình dẫn dòng hư hỏng
khiến các vùng thành phố hạ lưu, khu công nghiệp hoặc các bộ phận kinh tế quốc
dân bị hư hại hoặc ảnh hưởng nghiêm trọng có thể nâng lên 1 cấp hoặc 2 cấp…
Quan hệ giữa cấp công trình tạm và cấp công trình lâu dài như bảng 2.4
Trang 33IV 4 5 5
Ghi chú:
- Công trình lâu dài là công trình được sử dụng thời gian công trình vận hành,
căn cứ vào mức độ quan trọng chia ra:
+ Công trình chủ yếu: là công trình nếu sau khi bị hư hại gây tổn hịa cho hạ
lưu hoạc ảnh hưởng tới lợi ích của công trình như: đập, của cống, công trình xả,
công trình lấy nước, trạm bơm, trạm thủy điện
+ Công trình thứ yếu: là công trình nếu sau khi bị hư hại không gây tổn hại
cho hạ lưu, không ảnh hưởng lớn tới lợi ích của công trình và dễ tu sửa như: tường
chắn đất, tường hướng dòng, cầu công tác và công trình bảo vệ bờ …
- Công trình tạm thời là công trình sử dụng trong thời gian thi công như:
công trình phụ trợ, đê quai, công trình dẫn dòng …
2.1.2.2 Chọn tiêu chuẩn thiết kế lũ dẫn dòng
Nên căn cứ vào tình hình khác nhau của đặc điểm đối tượng kết cấu cần bảo
vệ, phương thức dẫn dòng, thời gian dài hay ngắn, yêu cầu sử dụng, ảnh hưởng ngập
và đặc tính thủy văn dòng chảy Bảng 2.5 quy định tiêu chuẩn chống lũ cho công
trình tạm Khi cần thiết công trình dẫn dòng phải chống được lũ tiêu chuẩn
Trong tiêu chuẩn thiết kế công trình, cần phân biệt khu vực đồng bằng và
miền núi vì đặc tính thủy văn dòng chảy của 2 vùng có sự khác biệt lớn Vùng núi
lũ, mưa bão rất mạnh, lũ đổ về nhanh, phá hoại lớn, uy hiếp tới an toàn của công
trình, nên tiêu chuẩn lũ cần nâng lên thích đáng Vùng đồng bằng lũ không mạnh,
thời gian lũ đổ về chậm, sau mưa bão có một thời gian nhất định dự báo thủy văn và
có biện pháp thích ứng kịp thời, cho nên tiêu chuẩn lũ của công trình tạm thời vùng
đồng bằng có thể hạ thấp ít nhiều
Trang 34(SDJ 217-87) >10 10 ÷5 5 ÷3 3
Tiêu chuẩn vùng đồng bằng dùng cho công trình ngăn nước có độ cao không
lớn hơn 15m, chênh lệch cột nước thượng hạ lưu không lớn hơn 10m Nhưng đối
với hồ chứ lớn đặc biệt trọng yếu, sử dụng tiêu chuẩn lũ cần căn cứ vào tình hình cụ
thể
Chọn hợp lý các tiêu chuẩn lỹ thiết kế dẫn dòng sẽ ảnh hưởng lớn đến hiệu
ích kinh tế và thi công thuận lợi Tiêu chuẩn không quá cao, không quá thấp đồng
thời xét tới biện pháp an toàn tương ứng Phương pháp chọn tiêu chuẩn dẫn dòng,
ngoài phương pháp chọn tần suất ra cần sử dụng phương pháp năm điển hình Khi
liệt tài liệu thực đo thủy văn tương đối dài, có thể dùng giá trị lới nhất của liệt đo
hoặc một giá trị điển hình nào đó của liệt thực đo Trong thực tế, nên kết hợp cả hai
phương pháp để xét Khi theo quy định chọn một tiêu chuẩn tần suất nào đó, cần đối
chiếu với tiêu chuẩn chuẩn tần suất tương ứng, dự tính những điều có thể gặp phải
Một số tiêu chuẩn dẫn dòng dùng trong một số công trình đập bê tông trọng
lực đã xây dựng ở Trung Quốc, xem trong bảng 2.6
Phương án
dẫn dòng Hình thức đê quai
Tần suất thiết kế dẫn dòng
Trang 35Đê quai lồng tre
Đê quai đất cỏ kỳ
1 nước thấp Mùa khô 10%
Đê quai đất cỏ nước cao Toàn năm 5%
Đê quai đất đá, đất cỏ hỗn hợp kỳ
kỳ)
Đê quai đất đá kỳ
1, nước thấp
Toàn năm Thiết kế 1%
Đê quai đất đá kỳ
2
Toàn năm Thiết kế 1%
Kiểm tra 0.5%
Toàn năm Thiết kế 1%
Kiểm tra 2%
Trang 36bê tông
Toàn năm Thiết kế 1%
Kiểm tra 2%
Từ cấp công trình , tần suất thiết kế lũ dẫn dòng sẽ chọn được lưu lượng dẫn
dòng trong quá trình thi công Các công trình đập bê tông trọng lực xây dựng tại vị
trí lòng sông hẹp thường xây dựng trong ít nhất hai mùa khô nên dùng phương thức
phân kỳ dẫn dòng Trong các thời đoạn thi công khác nhau sẽ có tần suất và lưu
lượng khác nhau, tùy vào từng thời điểm mà có các hình thức tính toán thủy lực dẫn
dòng, ngăn dòng cho phù hợp
2.2 TÍNH TOÁN KHẢ NĂNG THÁO CỦA CÔNG TRÌNH DẪN DÒNG
Sau khi so sánh, phân tích, lựa chọn và đưa ra được những phương án dẫn
dòng thi công, dựa vào quy mô kích thước công trình chính, thời gian và tiến độ thi
công, tài liệu thủy văn dòng chảy và các tài liệu liên quan để xác định được thời
đoạn và tần suất tính toán dẫn dòng, tiến hành tính toán thủy lực để xác định khả
năng tháo nước tháo của công trình dẫn dòng trong mùa kiệt và trong mùa lũ, xác
định khả năng thu hẹp của lòng sông, xác định được chiều cao đê quai của từng giai
đoạn, kích thước và khả năng tháo nước của công trình Cuối cùng đưa ra được khối
lượng và tiến độ cho công trình dẫn dòng, từ đó lựa chọn được phương án dẫn dòng
tối ưu Đối với những công trình thủy lợi, thủy điện hiện nay thời gian thi công
thường kéo dài, không thể hoàn thành trong một mùa khô nên biện pháp dẫn dòng
thi công thường chọn là biện pháp dẫn dòng thi công hai đợt Đợt một dẫn dòng qua
lòng sông thu hẹp, đợt hai dẫn dòng thi công qua công trình tháo đã được thi công
trong giai đoạn một Trình tự tính toán như sau:
Trang 37- Tính toán và hiệu chỉnh tài liệu thủy văn dòng chảy để xác định các giá trị
tần suất và lưu lượng tương ứng
- Từ tài liệu thủy văn dòng chảy, tiến hành tính toán các thông số thủy lực
qua các công trình dẫn dòng như: lòng sông thu hẹp, cống ngầm, hầm, tuy nen, đập
bê tông xây dở, đập tràn … cho từng giai đoạn để xác định các giá trị: lưu lượng dẫn
dòng Q(mP
3
P
/s), lưu tốc V(m/s), cột nước trên tràn HR tr R(m), cao trình mực nước thượng
hạ lưu ZR tl R(m), ZR hl R(m), cao trình mực nước tại cửa ra của cống, hầm, tuy nen ZR r R, các
hệ số lưu lượng µ, m và các hệ số tổn thất ξ
- Với các thông số thủy lực, xác định kích thước và cao trình đê quai trong
từng giai đoạn dẫn dòng thi công Kích thước và kết cấu các công trình dẫn dòng
- Tính toán tiêu năng sau công trình tháo: tiêu năng sau cống dẫn dòng, tiêu
năng sau đập tràn để xác định được hình dạng và kích thước của các hố tiêu năng …
Thường các công trình bê tông trên lòng sông hẹp đều sử dụng các phương
án phân kỳ dẫn dòng trong quá trình thi công Giai đoạn đầu dẫn dòng qua lòng
sông thu hẹp Giai đoạn sau dẫn dòng qua các công trình dẫn dòng và qua tràn
Khi dùng phương pháp phân kỳ dẫn dòng, hố móng co hẹp, dẫn đến mức
nước thượng lưu dâng cao Trạng thái chảy khi dẫn dòng phân kỳ tùy thuộc và chiều
dài L của đê quai dọc và chiều cao nước dâng thượng lưu H khác nhau mà xử lý
theo dòng chảy tràn đỉnh rộng hoặc dòng chảy trong kênh Thông thường chiều dài
giới hạn của tràn đỉnh rộng bằng 10 lần mực nước thượng lưu H Đối với công trình
tạm có thể lấy tới 20 lần mực nước thượng lưu Trạng thái chảy theo bảng 2-7
Tràn đỉnh rộng Chảy trong kênh Chú thích
L/H=2.5 ÷ 20 L/H > 20 HR o R: cột nước thượng lưu
Chảy tự do Chảy ngập Chảy êm Chảy xiết hR k R: Chiều sâu phân giới
Trang 38hR s R < 1.25 hR k hR s R≥ 1.25 hR k i < iR k i > iR k hR o R: chiều sâu dòng đều
hR s R < 0.8 HR o hs ≥ 0.8 HR o hR 0 R > hR k hR 0 R < hR k hR s R: cột nước hạ lưu
2.2.1 Tính toán thủy lực qua lòng sông hẹp
Lưu lượng được tháo qua lòng sông đã bị thu hẹp một phần, lúc này trạng
thái dòng chảy của dòng sông ở thượng lưu và dọc theo đê quai dọc sẽ bị thay đổi,
nước sẽ dâng lên do hố móng và đê quai chiếm chỗ Vì vậy cần xác định được kích
thước cũng như cao trình đỉnh đê quai tương ứng với lưu lượng tính toán dẫn dòng
một cách chính xác để quá trình thi công được an toàn và thuận lợi nhất Muốn vậy,
cần xác định được mức độ thu hẹp lòng sông, độ dềnh cao của dòng chảy trong lòng
sông đã bị thu hẹp cũng như khả năng thấm của đê quai trong quá trình thi công Sơ
đồ tính toán xem theo hình 2.1
Để xác định được độ dềnh cao của nước sông khi lòng sông bị thu hẹp có thể
tính toán theo hai phương pháp sau:
Trang 392.2.1.1 Phương pháp sai phân
Với tài liệu thủy văn dòng chảy, lưu lượng thời đoạn ứng với tần suất thiết kế
dẫn dòng thi công đã được chọn, cùng với tài liệu địa hình, các quan hệ Q~f(ZR tl R),
Q~f(ZR hl R), và Q~f(ZR tim R), đã được cung cấp Tiến hành vẽ đường mặt nước trong lòng
sông đã bị thu hẹp một phần để từ đó xác định cao trình đê quai cần được xây dựng
Theo trình tự tại vị trí hạ lưu cuối đê quai dọc vẽ mặt cắt ngang sông theo bình đồ
địa hình, tra quan hệ Q~f(ZR hl R) ta được mực nước hạ lưu ở cao trình ZR 1 R tương ứng
với chiều sâu nước trong sồng hR 1 R Với cao trình mực nước ZR 1 R vẽ đường mặt nước
hạ lưu lên thượng lưu theo phương pháp thử dần cho tới vị trí đầu của đê quai
thượng lưu Từ đó xác định được đê quai dọc tương ứng bằng cách, từ cao trình
đường mặt nước trong lòng sông đã bị thu hẹp công thêm chiều cao an toàn Trong
trường hợp lòng sông rộng, tốc độ gió lớn, mực nước sông thay đổi nhiều cao trình
đê quai cần cộng thêm độ dềnh của sông để đảm bảo an toàn
Ưu điểm của phương pháp này là: Tính toán được chính xác cao trình mực
nước tại từng mặt cắt tại từng mặt cắt tương ứng khi thu hẹp lòng sông, từ đó có thể
xác định chính các cao trình đê quai cho từng giai đoạn dẫn dòng
Nhược điểm của phương pháp này là: Tính toán tương đối phức tạp và tốn
thời gian vì phải thử đi thử lại nhiều lần, phải vẽ nhiều mặt cắt ngang lòng sông
Ứng dụng của phương pháp này là: ứng dụng cho các công trình lớn, lưu
lượng dòng chảy thay đổi nhiều, cấp công trình quan trọng câng độ chính xác và an
toàn cao
2.2.1.2 Phương pháp xác định các thông số
Xác định mực nước và các thông số khác sau khi thu hẹp lòng sông
Đối với chảy ngập qua tràn, tính gần đúng lưu lượng chày qua lòng sông thu
hẹp:
) (
2 Ac g Ho Hs
Trang 40Hoặc viết thành:
Z =
g
V g
22
2 2
2
−ϕ
Đối với lòng sông có mặt cắt hình chữ nhật, công thức trên viết thành:
) (
2 bhs g ho hs
22
2 2
2
−ϕ
Đối với lòng sông hình chữ nhật, công thức trên viết thành:
) (
2 bhs g ho hs
2 2 2
) (
2
2 gB h Z
Q h
VR 0 R,VR C R : Lưu tốc tới gần, lưu tốc tại mắt thu hẹp
HR 0 R: Cột nước thượng lưu
g
V H
2
2
H: Độ sâu mực nước thượng lưu H= h s +Z1
Z: Chênh lệch mực nước thượng hạ lưu khi tính toán đầu tiên, lấy Z = 0 làm
giá trị ban đầu, sau đó dùng giá trị tính toán được Z thay vao công thức cho tới khi