1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu, tính toán các thông số thủy động lực và xác định nguyên nhân gây ra diễn biến bồi xói đê biển III, thành phố Hải Phòng

125 92 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 2,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÍ NH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Hải Phòng là thành phố cảng công nghiệp ven biển, thuộc tam giác phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bằng sông Hồng và sông Thái Bình, được xác định là khu vự

Trang 1

được sự giúp đỡ, động viên khích lệ của các thầy, bạn bè đồng nghiệp và người thân Qua trang viết này tác giả xin gửi lời cảm ơn tới những người đã giúp đỡ trong thời gian học tập - nghiên cứu khoa học vừa qua

Tác giả xin tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đối với PGS.TS Vũ Minh Cát

và các giảng viên tham gia giảng dạy khoá Cao học 16 trường Đại học Thủy lợi đã tận tình hướng dẫn và truyền đạt những tri thức khoa học quý giá

Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Thủy lợi, Phòng Đào tạo

ĐH & SĐH và Bộ môn Xây dựng Công trình thủy đã tạo điều kiện cho tác giả hoàn thành tốt công việc nghiên cứu khoa học của mình

Tác giả xin chân thành cảm ơn đồng nghiệp – đơn vị công tác đã giúp đỡ trong quá trình học tập và hoàn thành Luận văn

Cuối cùng tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn của mình tới người thân, bạn bè và đồng nghiệp đã khích lệ động viên tôi thực hiện đề tài này

TÁC GIẢ

Trang 2

1.2.7 Bão0T 15 0T

1.3 Điều kiện thủy - hải văn0T 15

Trang 4

2.3.1 Quy luật vận chuyển bùn cát chủ đạo.0T 40

0T

2.3.2 Tính toán vận chuyển bùn cát dọc bờ.0T 42 0T

2.3.3.Ứng dụng phần mềm CRESSWIN tính vận chuyển bùn cát đê biển III0T 50

3.2 Xác định tuyến đê biển0T 61

4.3.3.2 Tiêu chuẩn về độ chặt nén thân đê0T 93

Trang 5

4.3.5.2 Thiết kế mái bảo vệ phía đồng0T 96

0T

4.3.6 Thiết kế chân kè0T 96 0T

4.3.7 Độ sâu hố xói tại chân kè0T 97

4.3.1 Tài liệu tính toán0T 102

Hình 2.2: Vận chuyển bùn cát dọc bờ dưới tác dụng của sóng và dòng chảy0T 44 0T

Hình 2.3: Hiện tượng khúc xạ0T 46 0T

Hình 2.4: Dòng chảy và vận chuyển bùn cát do sóng trong vùng sóng vỡ0T 51 0T

Hình 2.5: Phương pháp CERC tính cho mặt cắt đoạn 10T 53 0T

Hình 2.6:Phương pháp CERC tính cho mặt cắt đoạn 20T 54 0T

Hình 2.7: Phương pháp Queens tính cho mặt cắt đoạn 10T 56 0T

Hình 2.8: Phương pháp Queens tính cho mặt cắt đoạn 20T 57 0T

Hình 2.9: Biểu đồ quan hệ giữa độ dốc đới bờ m và lượng vận chuyển bùn cát0T 58 0T

Hình 2.10: Vận chuyển bùn cát dọc bờ0T 58 0T

Hình 3.1 Mô hình đê mái nghiêng có cơ đê (a) và không cơ (b)0T 63 0T

Hình 3.2a: Mô hình tiêu nước đỉnh đê0T 67 0T

Hình 3.2b: Tường chắn sóng phía biển kết hợp kênh thu và tiêu nước mặt đê0T 67

Trang 6

Hình 4.1: Kết quả tính sóng leo trong trường hợp thiết kế0T 90 0T

Hình 4.2: Kích thước cấu kiện BTĐS.0T 96 0T

Hình 4.3 Mặt cắt thiết kế đê biển III, H Tiên Lãng0T 101

Bảng 1.9: Số liệu điều tra nước dâng cơn bão số 2 & số 70T 20

Trang 7

Bảng 1.14: Chỉ tiêu cơ lý của lớp đất 40T 26

0T

Bảng 2.1: Diện tích rừng phòng hộ0T 38 0T

Bảng 2.2: Lượng vận chuyển bùn cát dọc bờ khu vực đê biển III0T 57

Bảng 4.1: Trị số gia tăng độ cao a0T 88

Trang 8

MỞ ĐẦU

I TÍ NH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Hải Phòng là thành phố cảng công nghiệp ven biển, thuộc tam giác phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bằng sông Hồng và sông Thái Bình, được xác định là khu vực động lực phát triển trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa của vùng Đông Bắc, nằm trên trục động lực kinh tế của miền Bắc là Hà Nội – Hải Phòng - Quảng Ninh Với lợi thế có cảng biển chính của miền Bắc, Hải Phòng là nơi hội tụ, giao thoa của nhiều luồng kinh tế và có nhiều cơ hội đón nhận đầu tư, nhất là đầu tư nước ngoài Đồ Sơn đã được xác điịnh là một trong những vùng có tiềm năng phát triển về cảnh quan, dịch vụ du lịch và kinh tế biển Đây là một vùng có rất nhiều thuận lợi với điều kiện tự nhiên, địa hình, cảnh quan phong phú

Bên cạnh những thuận lợi thì Hải Phòng cũng là nơi thường xuyên phải gánh chịu nhiều thiên tai như gió bão, lũ lụt, nước biển dâng là các hiểm họa tự nhiên

đe dọa cuộc sống của người dân ven biển Trong những năm gần đây, vùng ven biển Hải Phòng liên tiếp chịu ảnh hưởng trực tiếp của nhiều cơn bão mạnh vượt thiết kế chẳng hạn sự tổ hợp của triều cường và nước dâng là nguyên nhân sóng leo, tràn nước qua mặt đê gây sạt lở mái đê, cũng như xói lở, bồi tụ bãi biển không theo qui luật, đặc biệt trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng là những thảm họa tiềm tàng đe dọa sự ổn định và quá trình phát triển của cư dân dải ven biển Hải Phòng

Để đáp ứng yêu cầu phòng chống và giảm nhẹ thiên tai một cách chủ động, phòng chống và giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai gây ra, ngăn mặn, giữ ngọt một cách chắc chắn lâu dài với yêu cầu khai thác tối đa tiềm năng vùng ven biển thì việc xây dựng hệ thống đê biển kiên cố là một nhiệm vụ trọng yếu của nhân dân thành phố Hải Phòng

Nghiên cứu tập trung vào tuyến đê biển III thuộc huyện Tiên Lãng là một trong các tuyến đê biển của Hải Phòng có chiều dài trên 20 km bảo vệ cho 138.094 người, 16.435 ha đất tự nhiên (8.988 ha đất canh tác, 2036 ha nuôi

Trang 9

trồng thuỷ sản) là một vùng đất có nhiều tiềm năng phát triển ở phía đông nam

từ trung tâm thành phố Hải Phòng

II MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI

- Nghiên cứu, tính toán các thông số thủy động lực và xác định nguyên nhân gây

ra diễn biến bồi xói đê biển III, thành phố Hải Phòng

- Tính toán thiết kế nâng cấp cho đê biển III

III ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu là các đặc trưng thủy động lực và hệ thống đê biển, vùng bãi biển thuộc huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng

IV CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Trên cơ sở của những điều kiện thủy động lực, địa chất, địa mạo và đặc điểm đã phân tích ở trên, cách tiếp cận hợp lý để đạt được mục tiêu nghiên cứu là việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu bao gồm:

- Kế thừa, áp dụng có chọn lọc sản phẩm khoa học và công nghệ hiện có trong nước và thế giới

- Phương pháp điều tra phân tích tổng hợp nguyên nhân hình thành

- Phương pháp phân tích thống kê

- Phương pháp mô hình toán mô phỏng vận chuyển bùn cát, các đặc trưng hình

học của đê, lựa chọn vật liệu và tính toán ổn định công trình

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn có 4 chương:

Ch ương I: Giới thiệu vùng nghiên cứu

Chương II: Nghiên cứu phát triển bờ biển vùng nghiên cứu

Chương III: Tính toán điều kiện biên thiết kế

Chương IV: Thiết kế đê biển

Trang 10

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VÙNG NGHIÊN CỨU

1.1 Điều kiện tự nhiên

1.1.1 Vị trí địa lý, giới hạn diện tích

Tiên lãng là một huyện ven biển thuộc Thành Phố Hải Phòng, cách trung tâm thành phố 22km về phía Tây Nam, có diện tích tự nhiên là 18,904 kmP

2

P, dân số là 138,094 người, huyện có 20 xã và thị trấn

Đê biển III xuất phát từ cống Dương Áo (K0) đến cống Đông Côn có chiều dài

là 21,162 km Đê biển III cùng với các đê tả sông Văn Úc, hữu sông Thái Bình, hữu sông Mới bao bọc toàn bộ diện tích 20 xã Nam sông Mới là: Vinh Quang, Đông Hưng, Tây Hưng, Bắc Hưng, Nam Hưng, Tiên Hưng, Tiên Minh, Hùng Thắng, Toàn Thắng, Tiên Thắng, Quang Phục, Thị trấn Minh Đức, Quyết Tiến, Tiên Tiến, Khởi Nghĩa, Cấp Tiến, Tiên Thanh, Bạch Đằng, Kiến Thiết, Đoàn lập Vị trí tuyến

xem hình 1.1

Hình 1.1: Bản đồ khu vực nghiên cứu

Vị trí tuyến công trình Trung tâm thành phố

Trang 11

1.1.2 Đặc điểm địa hình

Hải Phòng nói chung, huyện Tiên Lãng nói riêng là sản phẩm bồi đắp phù sa của

hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình, mang đặc điểm chung của vùng đồng bằng ven biển Địa hình huyện Tiên Lãng có các đặc điểm sau đây:

Địa hình khá bằng phẳng, cao độ ruộng đất khoảng 0.7m đến 1.2m Chênh lệch

cao độ tự nhiên nơi cao nhất và thấp nhất không quá 1.5m

Địa hình bị chia cắt, mạng lưới kênh rạch dày đặc Sông Thái Bình, sông Mới, sông Văn Úc tách vùng nghiên cứu thành một đảo Mạng lưới sông rạch tự nhiên và

hệ thống kênh mương chia cắt địa hình thành nhiều mảnh nhỏ

Địa hình chưa được bồi đắp hoàn toàn, để mở rộng đất, giữ lấy đất, bảo vệ mình, con người đã xây dựng các con đê và đê cứ tiến dần ra biển Dấu vết để lại trên địa hình đồng bằng chưa bồi đắp hoàn toàn là những vùng trũng cục bộ

Hướng dốc chính thấp dần về phía biển và phía sông Khu vực trung tâm huyện,

xa biển, xa sông Văn Úc và sông Thái Bình cao độ tự nhiên là 1.0m đến 1.5m Khu vực ven biển ven sông cao độ bình quân < 0.7m, (phạm vi các xã: Vinh Quang, Tiên Hưng, Đông Hưng, Tây Hưng, Nam Hưng) Bãi ngoài đê cao độ bình quân < 0.5m thỉnh thoảng có các cồn cát cao độ > 1.0m

Hiện tại khu bãi ngoài đê tiếp tục bồi đắp, mở rộng về phía biển Từ năm 1996 cho đến nay các bãi triều thuộc Vinh Quang, Tiên Hưng, Đông Hưng hiện vẫn tiếp tục được bồi đắp và đang tiến dần ra biển Diện tích tự nhiên hiện tại là 16.435ha,

dự kiến đến năm 2010 diện tích tăng thêm 1000ha

1.2 Đặc điểm khí tượng, khí hậu

Ở khu vực dải ven biển của thành phố Hải Phòng có đài Phủ Liễn quan sát đầy

đủ các yếu tố khí tượng: mây, mưa, nhiệt độ, độ ẩm… Ngoài ra còn một số trạm quan trắc lượng mưa như trạm Quang Phục, Tiên Tiến, Cống Rỗ nhưng tài liệu đo được thường không liên tục, độ chính xác còn hạn chế Vị trí tọa độ các trạm đo khí

tượng xem trong bảng 1.1

Trang 12

- Trong một năm mặt trời đi qua thiên đỉnh hai lần, lượng nhiệt thu được từ bức

xạ mặt trời lớn, tổng số giờ nắng nhiều

- Chịu tác động của hai hệ thống gió mùa: gió mùa đông bắc từ tháng X đến tháng I năm sau, và gió mùa tây nam từ tháng II đến tháng IX năm sau

Mức độ biến tính của hai hệ thống gió trên cùng với yếu tố địa hình và các nhiễu động làm cho khí hậu thay đổi theo không gian và thời gian Sự luân chuyển này tạo

ra bốn mùa rõ rệt trong năm

- Tác động của tín phong với hướng ổn định theo hướng đông, đông nam: mùa đông chủ yếu là gió mùa đông bắc, tín phong thổi vào theo hướng đông, đông nam Mùa hè gió mùa thổi vào theo hướng tây nam, nhưng tín phong vẫn thổi theo hướng đông nam

- Chịu tác động trực tiếp của bão, áp thấp nhiệt đới vào mùa hè

- Lượng mưa lớn độ ẩm cao, phân bố không đều theo không gian và thời gian Tuy nhiên vì là một tỉnh duyên hải Bắc bộ nên thành Phố Hải Phòng còn có một

số khác biệt về khí hậu đó là:

- Mùa Đông: Tính chất lạnh, khô của gió mùa Đông Bắc giảm nhiều so với nơi xuất phát sau khi qua đại lục Trung Hoa, nhưng mùa đông đến sớm, nhiệt độ thấp, rét nhiều hơn so với Miền Trung

Trang 13

- Mùa hè: Sau khi qua biển, tính chất khô nóng ác liệt của gió Tây, Tây Nam ở

Hải Phòng không còn như ở miền Trung nữa

Các đặc trưng khí hậu ở Hải Phòng:

1.2 1 Bức xạ

Bức xạ khuếch tán: thường giao động trong khoảng từ 4kcalo/cmP

2

P/tháng đến 8kcalo/cmP

2

P

/tháng Bức xạ nhỏ nhất là tháng I-II, bức xạ lớn nhất là tháng VI-VIII Bức xạ mặt trời: Năng lượng bức xạ tập trung vào khoảng 10 đến 14 giờ ( chiếm khoảng 60% tổng lượng bức xạ trong ngày) Trong năm bức xạ tổng cộng lớn nhất vào mùa hạ, nhỏ nhất vào tháng II-III Xem bảng 1.2

Bảng 1.3: Nhiệt độ trung bình tháng tại các trạm đo thuộc Hải Phòng

Trạm I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm Phủ Liễu 16,0 16,6 19,5 22,8 26,7 27,9 28,3 27,3 26,7 24,5 21,2 18,1 23,0 Hòn Dấu 16,7 16,9 19,3 22,8 27,1 28,4 28,9 28,3 27,6 25,4 22,2 19,1 23,6

1.2.3 Nắng

Tổng số giờ nắng toàn năm vào khoảng 1600 - 1700 giờ Mùa hạ nhiều nắng mỗi tháng có khoảng 150 giờ nắng Tháng 7 là tháng nắng nhiều nhất, với số giờ nắng trung bình lên tới 200 - 200 giờ (mỗi ngày 7 giờ nắng) Mùa đông, mùa xuân số giờ

nắng giảm xuống còn 40 - 150 giờ trên một tháng

1.2.4 Độ ẩm

Trang 14

Độ ẩm: độ ẩm trung bình năm tương đối lớn, khoảng 82 - 84% Thời kỳ ẩm ướt nhất là ba tháng cuối mùa xuân (I, II, III) Tháng III có độ ẩm cực đại là 86 - 88%, ở vùng ven biển tới trên dưới 90% Đầu mùa hạ cũng có một thời kỳ tương đối khô vào tháng V - VI, độ ẩm trung bình vào khoảng 82 - 84% Trong những đợt gió Lào khô nóng, độ ẩm có thể xuống tới 40 - 50% Từ tháng VII đến hết mùa hạ, độ ẩm trung bình ở mức 85 - 86% Thời kỳ khô nhất trong năm là những tháng đầu mùa Đông ( từ tháng XI - I), độ ẩm trung bình 80% thấp hơn tháng cực đại hơn 10%

1.2 5 Mưa

Phân bố mưa thay đổi theo mùa, theo năm và theo khu vực Lượng mưa phân bố không đều giữa các tháng trong năm Nếu lấy lượng mưa trung bình tháng ổn định nhiều năm đạt trị số 100 mm trở lên thì có thể chia 1 năm thành 2 mùa:

Mùa mưa nhiều: Từ tháng V đến tháng X Lượng lượng mưa trong mùa mưa tới

85 -90% lượng mưa toàn năm Mưa tập trung vào các tháng 7, 8, 9 với các trận mưa rào, mưa dông, mưa bão Mưa bão thường kéo dài 2 - 4 ngày với lượng mưa tập trung nhất trong 1 - 2 ngày Lượng mưa lớn nhất trong 24 giờ ở trung tâm bão thường là 200 - 300 mm

Mùa ít mưa: từ tháng X đến tháng IV năm sau Đầu mùa đông là thời kỳ ít mưa nhất Lượng mưa trung bình khoảng 20 - 100 mm, các trận mưa phùn kéo dài từ 6 -

8 ngày, lượng mưa nhỏ

Năm mưa nhiều lượng mưa có thể vượt quá 2500 mm Năm mưa ít nhất chưa tới

1000 mm Chênh lệch lượng mưa giữa năm cực đại và năm cực tiểu lên tới 1500

mm Lượng mưa trung bình tháng, năm cực đai tại các trạm như bảng 1.4

Bảng 1.4: Lượng mưa trung bình tháng năm cực đại tại các trạm đo (mm)

Phù Liễn 25 34 48 93 203 240 274 349 399 156 54 3 1808 Tiên Lãng 18 26 36 77 199 277 280 343 293 155 45 23 1719 Hòn Dấu 26 19 39 76 152 241 214 235 264 185 33 16 1077

Trang 15

Thời đoạn mưa phụ thuộc vào tác nhân gây mưa: Nguồn ẩm, hoạt động của hệ thống gió, yếu tố địa hình và các nhiễu động trên cao Mưa ở Hải Phòng thể hiện đầy đủ các kiểu, loại mưa: Mưa phùn, mưa cực đới, mưa đường đứt Mùa xuân chủ yếu là mưa phùn, các đợt mưa thường kéo dài từ 10 đến 70 ngày, với lượng mưa nhỏ Mùa hè các trận mưa rào lượng mưa lớn, số ngày mưa liên tục từ 1 đến 7 ngày, trong một tháng mưa không vượt quá 15 ngày Thời đoạn mưa 3 ngày và 5 ngày chiếm tỷ lệ lớn nhất trong mùa mưa Lượng mưa không quá 50mm Mùa thu, các trận mưa rầm thường kéo dài hàng tháng với lượng mưa trung bình lên tới 50 mm Mùa đông số ngày mưa không quá 7 ngày trong tháng, lượng mưa không đáng kể Lượng mưa thường dưới 20mm, thậm chí từ 3 đến 5mm

1.2.6 Gió

Hoàn lưu gió là một trong những yếu tố quyết định sự tồn tại và mức độ của các yếu tố động lực vùng cửa sông - ven biển như: Sóng, mực nước dòng chảy … Mùa đông gió thưòng thổi ở hai hướng: hướng đông bắc (hay bắc), hướng đông nam (hay nam) Mùa hè các hướng gió đông nam đến nam chiếm ưu thế tuyệt đối đạt tới tần xuất 50 - 60% Gió tây nam (tây) chiếm tần số nhỏ Giai đoạn chuyển tiếp từ mùa

hè sang mùa đông, Sự phân bố hướng gió trở lên khá phức tạp Vào tháng IX hầu như không có hướng gió nào chiếm ưu thế rõ rệt (hướng gió đông bắc tần suất từ 20

- 30%, hướng đông nam tần suất từ 15 - 20%) Các đặc trưng thông số gió như bảng 1.5

Bảng 1.5: Các đặc trưng thông số của gió tại trạm Phủ Liễn

Đặc trưng (với tần suât đảm bảo hơn 50%) Phủ Liễn

Hướng gió thịnh hành tháng I và tần suất (%) Đông 28

Đông Bắc 25 Hướng gió thịnh hành tháng VII và tần suất (%) Nam 35

Đông Nam 35

Trang 16

Trên địa hình khá bằng phẳng của đồng bằng, tốc độ gió trung bình đạt 1,5m/s, vùng ven biển 3 - 4m/s Tốc độ gió lớn nhất khi có bão lên tới 30 - 40m/s ở đất liền,

40 - 50m/s ở ven biển Mùa Đông khi gió mùa Đông Bắc tràn về gây ra gió cấp 5, cấp 6 Mùa hè gió thổi từ cấp 3 đến cấp 6

1.2.7 Bão

Mùa bão từ tháng 5 đến tháng 10, tập trung từ tháng 7 đến tháng 10 Tháng 8 là tháng có bão nhiều nhất trong năm Bão đổ bộ và ảnh hưởng trực tiếp đến Hải Phòng cao nhất là 17 cơn bão/năm

Bão đổ bộ trực tiếp vào Hải Phòng có tần suất 31% tổng số bão đổ bộ vào nước

ta Mỗi năm thường có 1 đến 5 cơn bão đổ bộ hoặc ảnh hưởng trực tiếp Hướng gió bão trực chủ yếu theo hướng đông nam Tốc độ gió từ cấp 9 đến cấp 15, gió trong đất liền có thể đạt tới 30 - 35 m/s (cấp 11), ở ven biển 40 - 50 m/s (cấp 15) Cơn bão Wendy ngày 9/9/1968 gió mạnh trên 50 m/s (cấp 15) Trận bão ngày 2/9/1933 tốc

độ gió đo tại Phú Liễn 50 m/s

Dông, lốc xoáy xảy ra ở ngay đầu mùa hè, phạm vi hẹp, ngắn tuy nhiên là một tai họa bất thường đối với người dân vùng sông, biển Hàng năm có khoảng 40 đến

50 ngày có dông Tần số bão xuất hiện xem bảng 1.6

Bảng 1.6: Tần số xuất hiện bão bình quân các tháng trong năm

Phú Liễn 0,1 0,5 3,5 3,8 5,9 7,3 7,1 8,7 5,6 2,0 0,2 0,1 43,8 Hòn Dấu 0,2 0,3 3,4 3,8 5,1 6,3 5,7 9,4 6,2 3,3 0,3 0,1 43,1 Cát Hải 0,0 0,29 3,29 3,43 4,57 9,29 7,43 8,14 5,43 2,0 0,43 0,0 44,83

1.3 Điều kiện thủy - hải văn

1.3.1 Các trạm đo thủy, hải văn trong khu vực nghiên cứu

Trên sông Văn Úc, sông Thái Bình, sông Mới có 4 trạm thuỷ văn Để đo hải văn

có trạm Hòn Dáu Tài liệu đo lưu lượng còn rất hạn chế, không liên tục và chủ yếu

là để đo lưu lượng mùa lũ Các trạm thủy, hải văn xem bảng 1.7

Trang 17

Bảng 1.7: Các trạm thuỷ - hải văn

2 Quang Phục Bờ Hữư Văn Úc - Tiên Lãng 1987-2005

3 Tiên Tiến Bờ Hữư sông Mới - Tiên Lãng 1962-2005

4 Cống Rỗ Bờ tả Thái Bình - Tiên Lãng 1962-2005

5 Đông Xuyên Bờ tả Thái Bình - Tiên Lãng 1962-2005

6 Hòn Dấu Đảo Hòn Dấu - Vịnh Bắc Bộ 1958-2005

1.3.2 Đặc điểm hệ thống sông ngòi

Mạng lưới sông chảy qua khu vực nghiên cứu:

Sông ngòi chảy qua vùng nghiên cứu được tạo ra từ các phân lưu, hợp lưu của sông Hồng và sông Thái Bình trước khi chảy vào Vịnh Bắc Bộ Sông Văn Úc từ ngã ba Ngùa đến Vinh Quang dài 45 km, đoạn chảy qua Tiên Lãng dài 30 km, chiều rộng trung bình từ 500 đên 800 m, đáy sông có độ cao từ (-7) m đến (-16) m, cục bộ tới gần 40 m như đoạn ngã 3 sông Mới - Văn Úc

Sông Thái Bình bộ phận chảy qua Tiên Lãng dài 40 km Hiện nay sông Thái Bình đang bị bồi dần, gần ngã 3 cống Rỗ khi chân triều thấp có thể nội qua sông từ Tiên Lãng sang Vĩnh Bảo

Sông Mới là sông đào năm 1369 - 1940 dài 3.5 km với mục đích vận tải thuỷ Mặt cắt ban đầu BR đáy R= 19 m, độ dốc i = 10 cm/km Tại ngã ba cống Rỗ , cao trình đáy (-1.5m), hệ số mái đào m = 2 Đến nay do tác dụng của dòng chảy, mặt cắt sông Mới rộng từ 100 đến 140m, đáy có chỗ (-5m) đến (-7m)

1.3.3 Mực nước

Mực nước trên các sông ngòi thay đổi theo mùa: Mùa lũ từ tháng 5 đến tháng 10 Mùa kiệt từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Mực nước lớn nhất trong năm thường xuất hiện vào tháng VII, VIII trong năm Mực nước mhỏ nhất trong năm xuất hiện

vào khoảng tháng II, III trong năm

1.3.4 Dòng chảy năm

Trang 18

Dòng chảy cửa sông Văn Úc, sông Thái Bình rất phức tạp, là kết quả tổ hợp dòng chảy các sông phía thượng lưu và dòng triều

Mùa lũ: Khi triều lên sự tương tác của dòng triều và dòng chảy thượng lưu làm cho nước sông bị dồn ép, gây khó khăn cho tiêu nước trong mùa lũ Khi triều rút, dòng chảy có lưu tốc rất cao làm cho lòng dẫn của vùng cửa sông bị xói sâu, phá vỡ các bãi, mỏm đất, đảo chắn, tạo thành luồng lạch mới, bồi lấp những luồng lạch cũ Mùa kiệt: Dòng chảy thượng lưu giảm, dòng triều ngược lên thượng lưu, kéo theo sự xâm nhập mặn Ranh giới mặn trên các con sông thay đổi theo từng thời kỳ, từng năm và phụ thuộc chủ yếu vào dòng chảy thượng lưu Các cống cách cửa sông

20 km thường không lấy được nước ngọt trong những tháng cuối vụ Đông Xuân

1.3.5 Dòng chảy lũ

Dòng chảy lũ ở Hải Phòng phụ thuộc vào lượng mưa ở thượng lưu sông Hồng, sông Thái bình Quan hệ giữa mưa rào ở Hải Phòng và lũ trên các sông là không chặt chẽ

Mùa lũ bắt đầu từ tháng V đến tháng X Phân tích các trận lũ có biên độ lớn (1m trở lên) từ năm 1960 đến năm 1996 trung bình mỗi năm có 4 - 7 trận lũ lớn, tần số dao động khoảng 30 - 40 %

Lượng dòng chảy lũ chiếm 75 - 85% dòng chảy cả năm Dòng chảy lớn nhất thường xuất hiện vào tháng VIII chiếm 20 - 25% tổng lượng cả năm Thậm chí có thể đạt tới 50%

Mùa lũ dòng chảy trong sông có lưu tốc rất lớn Tốc độ dòng cực đại ở đoạn sông cong, hẹp có thể đạt tới 2,0 - 2,5 m/s và vùng cửa sông đạt 1,0 - 1,5 m/s

Thống kê từ năm 1937 đến năm 1998 có 29 trận lũ lớn với HR max Rtại Phả Lại lớn hơn 5,5m (ứng với báo động cấp 3), trong các trận lũ lớn thì lũ tháng VIII/1971 là lũ lịch sử Mực nước lũ lịch sử năm 1971 tại các trạm đo như bảng 1.8

Bảng1.8: Mực nước lũ năm 1971

Trang 19

3 Đông Xuyên Thái Bình 2/9/71 1,93

4 Chanh Chử Sông Luộc 27/8/71 4,32

Thời gian lũ kéo dài thường 10 - 20 ngày, thời gian lũ lên nhỏ hơn thời gian lũ rút Lũ đặc biệt lớn là lũ kéo dài tới 30 ngày, lũ đơn có thời gian ngắn hơn từ 5 - 8 ngày

Biên độ lũ thường giao động trong phạm vi lớn (0,94m - 4,53 m) Với các trận lũ lớn và đặc biệt lớn thì mực nước chân lũ biến đổi tương đối rộng Cường suất lũ giao động khoảng 1 - 3 cm/h, lớn nhật có thể 10 - 16 cm/h

Những trận lũ xuất hiện vào khoảng tháng V - VI thường là những trận lũ đơn,

có cường suất lũ lên khá lớn, lớn nhất có thể tới 25 cm/h (trận lũ tháng VIII/1978) ngược lại cường xuất lũ lên của các trận lũ kép thường không lớn trung bình khoảng 0,6 cm/h

1.3 6 Đặc điểm thủy triều

1.3.6.1 Mang đặc tính chung của thuỷ triều vịnh Bắc Bộ

Chế độ nhật triều đều tương đối thuần nhất: Hầu hết các ngày trong tháng (trên dưới 25 ngày) mỗi ngày chỉ suất hiện một lần đỉnh triều và chân triều

Đỉnh triều tại hầu hết các trạm đo cửa sông xảy ra gần như đồng thời với đỉnh triều tại Hòn Dấu Mỗi tháng có 2 kỳ triều cường, khoảng 15 ngày có 1 kỳ triều cường và 1 kỳ nước ròng Mỗi kỳ triều cường kéo dài từ 11-13 ngày xen kẽ 2 kỳ nước kém, mỗi kỳ 4-2 ngày, mực nước lên xuống ít, có lúc gần như đứng Trong những ngày này thường có 2 lần nước lớn và 2 lần nước ròng

Độ lớn triều trung bình từ 3m đến 4m, cực đại vào 4m đến 4.5m vào những ngày nước cuờng Mực nước đỉnh triều cao nhất tại Hòn Dáu đo được (ngày 22/10/85) là

4.21 m, mực nước đỉnh triều thấp nhất (ngày 21/12/1964) đo được là (-7 cm), như vậy độ lớn triều đạt 428cm

Trang 20

Theo số liệu quan trắc, sóng ở khu vực chủ yếu do gió gây ra với chu kỳ nhỏ 4s, cực đại 6-8s; chiều dài song trung bình 14-24m, độ cao sóng trung bình 0,5-0,7m

3-1.3.6.2 Mang đặc tính riêng của thuỷ triều vùng cửa sông

Dòng chảy thượng lưu và các yếu tố lòng dẫn đã làm cho thuỷ triều trong sông sai khác với thuỷ triều Vịnh Bắc Bộ:

Độ cao nước thực đo ở các cửa sông thường có các trị số cao hơn mực nước dự báo tại Hòn Dấu cùng kỳ

Càng vào sâu trong sông, thời điểm xuất hiện đỉnh và chân triều càng muộn hơn

1.3.6.3 Những hiện tượng riêng của vùng ven biển

Dòng chảy do sóng: trong chu kỳ, dòng chảy đổi hướng 2 lần khi sóng đổ vào bờ

và khi sóng rút Do lưu tốc tăng giảm đột ngột dòng chảy do sóng ở ven bờ là một yếu tố gây xói lở bãi, gây biến đổi hình thái cửa sông và ảnh hưởng đến khả năng thoát lũ

Dòng trôi do gió: khi có gió Đông Bắc, tốc độ gió 8- 9m/s, mặt biển có xu hướng nghiêng theo hướng Dông Bắc - Tây Nam

Khi có gió Tây Nam, tốc độ gió đạt 8-9 cm/s, mặt biển có xu hướng nghiêng ngược lại về phía Đông Nam mực nước thấp hơn

Sự chêch lệch mực nước do gió đã tạo ra dòng trôi, tốc độ, hướng chảy phụ thuộc vào tốc độ gió và hướng gió Dòng trôi do gió và bán đảo Đồ Sơn là tác nhân thuận lợi hình thành bãi bồi vùng Nam bán đảo Đồ Sơn đến cửa sông Thái Bình Nước rươi: liên quan đến gió mùa Đông Bắc, vùng duyên hải Bắc Bộ, khu vực Hải Phòng và còn có nước rươi tháng 11, 12 Nước rươi là kết quả của tổ hợp tương

hỗ giữa triều cường và gió mùa Đông Bắc mạnh, biến thiên lớn, thời gian gió thổi

Trang 21

ổn định kéo dài Nước rươi là tác nhân quan trọng trong việc phá hỏng các công trình thuỷ lợi Ở Hải Phòng nước rươi tháng 12 thường xuyên làm ngập một số đường phố nội thành

1.3 7 Nước dâng do bão

Thiệt hại do bão gây ra không chỉ do gió mạnh, mưa lớn mà nguy hiểm hơn là bão đỗ bộ vào gây ra hiện tượng nước dâng Đó là hiện tượng mực nước biển dâng cao hơn so với bình thường Theo tính toán của viện cơ học độ cao nước dâng lớn nhất ỏ Hải Phòng có thể tới 2,35m

Độ cao nước dâng phụ thuộc vào nhiều yếu tố Cấp gió bão, hướng gió bão, vị trí bão đổ bộ, thời gian gió mạnh, điều kiện bờ, kỳ triều và dòng chảy thượng lưu Tổ hợp bão gặp kỳ triều cường không hiếm: Trong số 67 cơn bão và áp thấp nhiệt dới xuất hiện ở biển Đông có tới 28 cơn bão xuất hiện vào ngày triều cường H > 3,3 m Thống kê các trận bão đổ bộ vào khu vực Nam Định đến Quảng Ninh từ năm

1996 đến năm 2005 có 20 cơn bão đổ bộ vào khu vực, đã gây ra nước dâng tại Hòn Dấu có độ cao từ 0,3m đến 1,94m

Kết quả khảo sát của trung tâm khí tượng thuỷ văn Đông Bắc, cuối năm 2005 khi bão số 2 (31/7) và số 7(22/9) đổ bộ vào khu vực Thanh Hoá, gặp kỳ triều cường đã làm mực nước biển tại một số điểm trên đê biển III dâng cao hơn mức bình thường

từ 0,98 đến 1,58m Số liệu điều tra nước dâng cơn bão số 2, số 7 xem bảng 1.9

Bảng 1.9: Số liệu điều tra nước dâng cơn bão số 2 & số 7

TT Hạng mục Vị trí LR Hòn Dáu Chiều cao nước

dâng

m

Km Bão số 7 Bão số 2

1 Cống Ruộc - Giáp Biển K7,73 11,5 1,33 1,17

2 Cống ba gian - cửa Văn Úc K3,46 1,24 1,24 1,05

3 Cống C4 - Giáp biển K14,45 1,58 1,58 1,32

4 Đông Xuyên - S Thái Bình K17,9 0,.98 0,98 1,17

Trang 22

1.4 Cấu tạo địa chất, thổ nhưỡng

1.4.1 Đặc điểm địa chất công trình khu vực

Dựa vào kết quả khảo sát, kết hợp với tài liệu thí nghiệm trong phòng, địa tầng

vị trí khảo sát từ mặt đất đến độ sâu 10m được chia thành các lớp như sau:

- Lớp 1: đất đắp đê có thành phần là sét pha màu xám nâu, nâu vàng lẫn sạn, trạng thái dẻo cứng

- Lớp 2a: Sét pha màu xám nâu, trạng thái dẻo mềm

- Lớp 2b: Sét pga màu xám đen, trạng thái dẻo chảy

- Lớp 3: Sét pha xám đen xen kẹp cát, trạng thái dẻo mềm

- Lớp 4: Cát hạt mịn màu xám đen, xám ghi, kết cấu xốp đến chặt vừa

a Lớp 1(ký hiệu 1 trên hình trụ hố khoan)

Lớp này có mặt trong tất cả các hố khoan, với bề dày trung bình khoảng 3.2m tại các hố khoan tại vị trí đê, các hố khoan tại vị trí các cống có bề dày trung bình khoảng 1.0m Đáy lớp kết thúc ở độ sâu từ 0.3 đến 3.3m Đây là lớp đắp đê có thành phần là sét pha màu xám nâu, nâu vàng lẫn sạn, trạng thái dẻo cứng

Các chỉ tiêu cơ lý như bảng 1.10:

Bảng 1.10: Chỉ tiêu cơ lý của lớp đất 1

STT Các chỉ tiêu cơ lý Ký hiệu Đơn vị Giá trị

Trang 23

Theo tiêu chuẩn kiến nghị:

- Cường độ chịu tải quy ước: RR 0 R = 1.3kg/cmP

2

P

- Mô đun tổng biến dạng: ER 0 R = 120.0kg/cmP

2

P

b Lớp 2a (ký hiệu 2a trên hình trụ hố khoan)

Lớp này nằm dưới lớp 1 tại vị trí mặt cắt địa chất, có bề dày trung bình khoảng 1.5m Mặt lớp xuất hiện ở độ sâu từ 0.3 đến 3.3m Đáy lớp kết thúc ở độ sâu từ 1.8 đến 4.6m Đất thuộc loại sét pha màu xám nâu, trạng thái dẻo mềm, đây là lớp đất

có sức chịu tải trung bình, biến dạng trung bình, khả năng thấm nước kém

Các chỉ tiêu cơ lý như bảng 1.11:

Trang 24

Bảng 1.11: Chỉ tiêu cơ lý của lớp đất 2a

STT Các chỉ tiêu cơ lý Ký hiệu Đơn vị Giá trị

Theo tiêu chuẩn kiến nghị:

- Cường độ chịu tải quy ước: RR 0 R = 0.8kg/cmP

2

P

- Mô đun tổng biến dạng: E = 60.0kg/cm2

Trang 25

c Lớp 2b (ký hiệu 2b trên hình trụ hố khoan)

Lớp này nằm dưới lớp 1 hoặc lớp 2a có mặt trong tất cả các hố khoan, có bề dày trung bình khoảng 2.0m Mặt lớp xuất hiện ở độ sâu từ 1.8 đến 4.6m Đáy lớp kết thúc ở độ sâu từ 2.5 đến 7.0m Đất thuộc loại sét pha màu xám đen, trạng thái dẻo chảy, đây là lớp đất có sức chịu tải yếu, biến dạng mạnh, khả năng thấm nước yếu Các chỉ tiêu cơ lý như bảng 1.12:

Bảng 1.12: Chỉ tiêu cơ lý của lớp đất 2b

STT Các chỉ tiêu cơ lý Ký hiệu Đơn vị Giá trị

Trang 26

14 Góc ma sát trong ϕ độ 5P P34

2

P/kg 0.117

Theo tiêu chuẩn kiến nghị:

- Cường độ chịu tải quy ước: RR 0 R = 0.5kg/cmP

2

P

- Mô đun tổng biến dạng: ER 0 R = 20.0kg/cmP

2

P

d Lớp 3 (ký hiệu 3 trên hình trụ hố khoan)

Lớp này nằm dưới lớp 2b có mặt trong tất cả các hố khoan, có bề dày trung bình khoảng 1.0m Mặt lớp xuất hiện ở độ sâu từ 2.5 đến 7.0m Đáy lớp kết thúc ở độ sâu

từ 3.3 đến 8.0m Đất thuộc loại sét pha xám đen xen kẹp cát, trạng thái dẻo mềm, đây là lớp đất có sức chịu tải trung bình, biến dạng trung bình, khả năng thấm nước trung bình yếu

Các chỉ tiêu cơ lý như bảng 1.13:

Bảng 1.13: Chỉ tiêu cơ lý của lớp đất 3

STT Các chỉ tiêu cơ lý Ký hiệu Đơn vị Giá trị

Trang 27

Theo tiêu chuẩn kiến nghị:

- Cường độ chịu tải quy ước: RR 0 R = 0.8kg/cmP

2

P

- Mô đun tổng biến dạng: ER 0 R = 60.0kg/cmP

2

P

e Lớp 4 (ký hiệu 4 trên hình trụ hố khoan)

Lớp này nằm dưới lớp 3 có mặt trong tất cả các hố khoan Mặt lớp xuất hiện ở

độ sâu từ 3,3 đến 8,0m, theo đề cương lập ra và địa tầng khu vực khảo sát các hố khoan chỉ có độ sâu là 10m, tại độ sâu này vẫn chưa khoan qua lớp này Đất thuộc loại cát hạt mịn màu xám đen, xám ghi, kết cấu xốp đến chặt vừa, đây là lớp đất có

sức chịu tải khá, biến dạng nhỏ, khả năng thấm nước rất mạnh

Các chỉ tiêu cơ lý như bảng 1.14:

Bảng 1.14: Chỉ tiêu cơ lý của lớp đất 4

STT Các chỉ tiêu cơ lý Ký hiệu Đơn vị Giá trị

Trang 28

Đất trung tính: Diện tích: 2.607ha Tỷ lệ: 32.0%

Đất chua ít mặn Diện tích: 1.996ha Tỷ lệ: 24.5%

Đất chua mặn Diện tích: 1.320ha Tỷ lệ: 16.2%

Đất mặn chua Diện tích: 798.7ha Tỷ lệ: 9.8%

Đất mặn Diện tích: 1.425ha Tỷ lệ: 17.5%

1.4.3 Đặc điểm sinh thái vùng nghiên cứu

Trên toàn bộ diện tích 17 ngàn ha, khu vực nghiên cứu có hệ sinh thái khá phong

phú, bao gồm hệ sinh thái nước ngọt và hệ sinh thái nước lợ

1.4.4 Sinh thái vùng nước ngọt

Mang tính chất của hệ sinh thái vùng đồng bằng Bắc Bộ: Lúa nước, các loại cây

ăn quả, rau màu có mặt ở đồng bằng Bắc bộ đều có mặt trên khu vực Thuốc lào

Trang 29

Tiên Lãng là đặc sản nổi tiếng hiện vẫn là cây trồng có thu nhập cao ở vùng đất chua mặn ( Bạch Đằng, Khởi Nghĩa, Cấp Tiến ) Ở trong đê khu vực phía Bắc dự án, các loại cá nước ngọt được nuôi trong ao, đầm: Cá chép, cá trôi, cá mè… Các loại chim:

Bồ câu, chim di, chim ngói, cu gáy…

1.4.5 Sinh thái vùng nước lợ

Các loại thực vật vùng nước lợ như cói, lác, rong câu mọc hoang và được trồng ở các bãi dọc sông Văn Úc, sông Thái Bình Rừng ngập mặn tự nhiên và rừng trồng ven biển gồm các loại Bần, Sú vẹt Ở các bãi cao cây phi lao được trồng, phát triển tốt Rừng phòng hộ hiện nay là nơi cư chú của các loại chim: Cò, Bồ nông, Vạc… Ngày nay đã hình thành khu vườn chim ở bãi ngoài khu vực B thuộc khu rừng

phòng hộ thanh niên xung phong Vinh Quang

Thuỷ sản nước lợ, nước mặn được nuôi trong các đầm ở khu vực Hùng Thắng, Vinh Quang, Tiên Hưng, Đông Hưng, Tây Hưng gồm có: Cua, tôm rảo, tôm sú, Rươi ở vùng bãi Nguồn thuỷ sản tự nhiên ở biển gồm các loại nhuyễn thể ( ngao,

don dắt, sò ) các loại cua, các loại cá

1.5 Điều kiện dân sinh, kinh tế, xã hội

1.5.1 Dân sinh kinh tế

1.5.1.1 Dân số

Dân số khu vực dự án là 138,094 người Khu vực nông nghiệp chiếm 90% dân

số, phi nông nghiệp 10% Giới tính: Nam 47,9%, nữ 52,1%; tỷ lệ tăng dân số bình quân 1,27% Lao động chiếm 50% dân số ( lao động được đào tạo 8,5%); giá trị

bình quân 1 lao động làm ra 4 -5 triệu đồng/người/năm

1.5.1 2 Kinh tế

Chính sách đổi mới kinh tế như luồng sinh khí thức dậy tiềm năng của huyện Tiên Lãng Trong nông nghiệp cơ chế khoán ra đời, người nông dân đã bước đầu gắn bó với ruộng đất, khai thác đất sống nhờ đất Sự chuyển đổi cơ cấu trong nông nghiệp đã mở ra con đường khai thác, sử dụng đất có hiệu quả hơn Hàng trăm ha đất lúa năng suất thấp đã được chuyển đổi sang nuôi chồng thuỷ sản, dịch vụ thương mại công nghiệp, du lịch… Diện tích bãi bồi cửa sông, ven biển suốt một

Trang 30

dải từ Dương Áo đến Đông Côn dã được đầu tư phát triển rừng, Nuôi trồng thuỷ sản Nguồn lực lao động, nguồn vốn đầu tư của mọi thành phần kinh tế đã được huy

động

Sản suất nông nghiệp, ngư nghiệp là hai nghành sản suất chính:

- Sản lượng lượng thực quy thóc : 71,00 T/năm

- Sản lượng thuỷ sản : 3,10 T/năm

- Năng suất lúa bình quân : 9,50 T/ha/năm

Những năm gần đây, nhiều nghề truyền thống được phục hồi như: Làng dệt chiếu Lật Dương, nghề đan tre mây, các cơ sở mộc, cơ sở chế biến nông sản đang có sự phát triển đáng kể Ngành công ngiệp tốc độ tăng trưởng 12,7%, du lịch dịch vụ bước đầu phát triển tốc độ tăng trưởng 14%

Cơ cấu kinh tế:

- Nông - lâm - ngư nghiệp : 69,9%

- Công nghiệp & Xây Dụng : 9,6%

1.5.2 Văn hoá xã hội - thông tin liên lạc

1.5.2 1 Tiên Lãng là vùng đất giàu truyền thống lịch sử văn hóa

Trong cuộc kháng chiến chống xâm lược: Tiên Lãng là căn cứ địa, nơi xuất phát,

nơi tập kết sau các chiến dịch, các trận đánh

Đạo phật chiếm (90,6%)và đạo thiên chúa (9,4% dân số) là hai tôn giáo chính trong khu vực Mọi người dân đoàn kết chung tay xây dựng quê hương Khu vực nghiên cứu có nhiều di tích văn hoá, lịch sử như: Đình Cựu Đôi, đền Gấm, đình Đốc Hậu… Nhiều lễ hội văn hoá vùng đồng bằng ven biển, thể hiện tinh thần thượng võ,

sức mạnh tập thể, văn hoá cộng đồng, sự khéo léo, ước nguyện quốc thái dân an

1.5.2 2 Du lịch dịch vụ

Tiên Lãng có tiềm năng về du lịch di tích, du lịch sinh thái Nguồn nước khoáng hiện đang được khai thác phục vụ, chữa bệnh, giải trí Từ rừng thông đi thuyền máy

Trang 31

đến khu du lịch Đồ Sơn chỉ mất nửa giờ, đây là điều kiện thuận lợi để mở ra tuor du lịch sinh thái: Cát Bà - Đồ Sơn - Rừng Thông Dịch vụ cung cấp thuỷ hải sản tươi

sống phục vụ khách du lịch đang hình thành và có nhiều cơ hội phát triển

1.5.2 3 Cơ sở hạ tầng

a Giao thông: h ệ thống giao thông nối vùng dự án với các khu vực khác nhau gồm:

- Đường bộ: Đường bộ nối vùng dự án với các xã huyện Tiên Lãng, với các quận huyện của thành phố, với các vùng lân cận của tỉnh Thái Bình bằng 3 trục đường

chính:

+ Đường 354: Từ An Dương đến Vĩnh Bảo, đoạn qua huyện dài 8km (từ bến phà

Khuể đến cầu phao Hàn)

+ Đưòng 25 từ thị trấn Cầu Mới đến Đại Thắng dài 10km

+ Đường 212 từ thị trấn đến đê biển III dài 18km

Ngoài các trục giao thông chính xã nào cũng có đường giải nhựa nối chung tâm

xã với các huyện lộ, tỉnh lộ Đường giao thông liên thôn được chủ yếu xây dựng

bằng bê tông, tổng chiều dài khoảng 100km

Hiện nay thành phố đã có chủ chương xây cầu Khuệ thay cho phà Khuệ

- Đường thuỷ: hệ thống giao thông thuỷ qua các sông Văn Úc, Sông Thái Bình, sông Mới nối liền Tiên Lãng với các tỉnh, thành phố trong cả nước Hệ thống kênh

chính, kênh cấp I là đường vận chuyển nông nghiệp trong các xã ven biển

c Bưu chính viễn thông

Trang 32

Huyện có một tổng đài cấp II, một tổng đài tự động DMS, bốn bưu điện cấp III

và hàng trăm hệ thống bưu điện Tuy nhiên ở các xã ven biển ( Vinh Quang, Tây Hưng, Tiên Hưng, Đông Hưng ) các hệ thống vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của

người dân

1.5.3 Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2015

Theo quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội, huyện Tiên Lãng phân thành 3 vùng: Vùng Bắc sông Mới, vùng trung tâm, vùng kinh tế ven biển Giá trị tổng sản phẩm GDP hàng năm 250 tỷ - 300 tỷ, mục tiêu đến 2015 đạt 2500 tỷ VNĐ Tốc độ tăng

Trang 33

CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN BỜ BIỂN

VÙNG NGHIÊN CỨU

2.1 Quá trình hình thành tuyến đê biển III

Cuộc chiến mở rộng lãnh thổ giữa một bên là con người được sự hỗ trợ phù sa của sông Văn Úc, sông Thái Bình, rừng ngập mặn với một bên là thiên tai, gió bão, sóng biển, thuỷ triều…kéo dài hàng ngàn năm đã tạo nên vùng đất có diện tích gần

17 nghìn ha và hàng năm vẫn được mở rộng Trong cuộc chiến đó, hệ thống đê là một trong những công trình vĩ đại nhất mà nhiều thế hệ người dân Hải Phòng đã xây dựng lên

Từ đầu thế kỷ 16, nhà Mạc đã huy động nhân dân khai hoang lấn biển và đắp thành tuyến đê Dương Áo, Tiên Thắng, Chấn Hưng ngày nay Trước đây tổ tiên ta đắp các tuyến đê biển bằng đất dựa theo các gân bồi lắng tự nhiên và bờ bao khoanh vùng do con người tạo ra từng năm Dấu vết để lại là các tuyến đê thường uốn lượn

đa dạng

Năm 1976, dự án quai đê lấn biển Vinh Quang được thực hiện, tuyến đê biển đã được đắp lấn ra ngoài bãi với quy mô lớn đã hình thành vùng kinh tế mới Đến nay vùng đất này đã trở thành một đơn vị hành chính cấp xã: Vinh Quang, Tiên Hưng, Đông Hưng, Tây Hưng , Bắc Hưng, Nam Hưng, Hùng Thắng

Từ năm 1994 đến nay, bằng nguồn vốn đầu tư của dự án PAM 5325, vốn tu bổ hàng năm của trung ương và địa phương một số tuyến đê đã được tu bổ và nâng cấp với mức độ khác nhau và tuyến đê mang một tên mới phù hợp với nhiệm vụ và vị trí quan trọng của nó: Tuyến đê biển III Đê biển III xuất phát từ cống Dương Á (xã

Hùng Thắng) đến cống Đông Côn (xã Tiên Minh) với tổng chiều dài là 21.162 m 2.2 Hiện trạng bờ biển và đê biển III

2.2.1 Hiện trạng tuyến đê biển III

Toàn bộ tuyến đê biển III dài khoảng 21,126 km xuất phát từ cống Dương Á đến cống Đông Côn được chia làm 3 đoạn nhỏ như sau:

Trang 34

Đoạn 1: Từ K0 đến K4,5 (Từ Dương Áo đến khoảng giữa cống Ba Gian và cống Thành Tre 1) Có chiều dài là 4500m Đây là đoạn đê nối tiếp giữa sông Văn Úc với biển, do không chịu sự tác động trực tiếp của sóng biển, lại có một dải cây chắn

sóng khá tốt ở phía ngoài nên rất ổn định

Đoạn 2: Từ K4,5 đến K16,5 (Từ khoảng giữa cống Ba Gian Và cống Thành Tre

1 đến qua cống C3) Có chiều đài là 1200m Đây là đoạn đê chịu tác dụng trực tiếp của sóng biển vì vậy ta sẽ tính toán và thiết kế cho đoạn đê này

Đoạn 3: Từ K16,5 đến K21,162 (Từ qua cống C3 đến cống Đông côn) Có chiều dài là 6100m

2.2 2 Đặc điểm chung tuyến đê

Tuyến đê biển III được xây dựng từ dự án PAM 5325 từ năm 1994, nhưng do kinh phí bảo dưỡng hàng năm không đủ nên nhiều đoạn đã bị hư hỏng khá nghiêm trọng Đầu tuyến đê tương đối cong và uốn lượn (đoạn từ km2 đến km6,88); Giữa

và cuối tuyến đê tương đối thẳng Cao trình đỉnh đê cho cả tuyến đê là không đồng đều, những đoạn đê có rừng phòng hộ phía trước cao trình đỉnh thường thấp hơn những đoạn đê tiếp xúc trực tiếp với biển và phổ biến từ khoảng (+3,9m ÷ +5,7m) Mặt đê rộng từ 4m ÷ 5m, nhưng là mặt đê đất chỉ có một số đoạn được gia cố bằng

bê tông Tường chắn sóng có kích thước 50x20cm được xây bằng đá, có nhiều đoạn

đã bị hư hỏng rất nghiêm trọng do người dân đập phá để làm lối đi xuống các đầm nuôi tôm Mái đê biển mR 1 R = 2,5 ÷ 3,5; chân kè được bảo vệ bằng tấm bê tông đúc sẵn 40x40 cm Đoạn phía trên trồng cỏ, hoặc đất trống Mái đê phía đồng mR 2 R = 1,5

÷ 2 Một số đoạn có cơ bằng đất phía đồng rộng 3m Hiện tại có rất nhiều cống trong thân đê và các đoạn kè được gia cố bằng bê tông đúc sẵn đang bị hư hỏng, do

rất nhiều nguyên nhân khác nhau

Đoạn 1: Từ K0 đến K4,5 (từ Dương Áo đến khoảng giữa cống Ba Gian và cống Thành Tre 1) có chiều dài là 4500m là đoạn đê chuyển tiếp đê hữu sông Văn Úc sang đê biển III, vẫn còn mang nhiều đặc tính của đê sông, ít chịu sự tác động trực tiếp của sóng và các điều kiện hải văn biển Đê cong gấp khúc nhiều đoạn (từ K1,5

÷ K4,5) với cao độ mặt đê tăng dần từ khoảng (+3,7 m) đến (+4,5 m) Các cống

Trang 35

dưới đê như cống Đồng Phiên, cống Ba Gian đã bị đã hư hỏng dàn cánh, tường cánh, tường quặt, xói sân hạ lưu… Mặt mái đê chưa được gia cố, đầm thuỷ sản ở sát chân đê

Đoạn 2: Từ Km 4,5 đến Km16,5 dài 12000m (Từ khoảng giữa cống Ba Gian và

cống Thành Tre 1 đến qua cống C3) Đây là đoạn đê chịu ảnh hưởng trực tiếp của sóng và bão biển Trong thân đê còn tồn tại 4 cống tiêu nước là Cống Thành Tre 1, cống Thành Tre 2, cống Rộc, cống C4, cống C3 Vì đoạn đê là khá dài nên có các tính chất và đặc điểm khác nhau, vì vậy ta có thể chia thành 4 đoạn nhỏ để xét riêng đặc điểm cho từng đoạn

Đoạn 2a: từ K4,5 đến K6,88 dài 2,38 km (từ khoảng giữa cống Ba Gian và cống Thành Tre 1 đến đường xuống rừng thông, đầu tường kè đá xây) Đoạn đê cong lõm, mặt mái đê chưa được gia cố; Cao độ mặt đê không đều từ khoảng (+4,2m) đến (+5,0m) Các cống dưới thân đê gồm Cống Thành Tre 1 xây dựng năm 1960, cống Thành Tre 2 xây dựng năm 1973 ở chổ lõm của tuyến đê vẫn được sử dụng

cho đến thời điểm hiện tại Trên tuyến đê có 3 đường xương cá xuống khu đầm thuỷ

sản (đường cống Thành Tre 1, đường cống Thành tre 2, đường xuống Rừng Thông)

Đoạn 2b: Từ K6,88 đến K7,77 dài 820m (Từ đầu đường đá xây xuống cống

Rộc) Đê tương đối thẳng, mái phía biển được kè bằng đá lát khan, có 40m sát cống Rộc được kè bằng tấm bê tông đúc sẵn Đỉnh đê phía biển có tường chắn sóng bằng

đá xây đến cao trình (+5,5m) Mặt đê được gia cố bằng lớp đá cấp phối nhựa đường

rộng 3,5m Cao độ đỉnh đê biến thiên từ (+4,8) đến (+5,5) Hiện tại nhiều đoạn kè

đá lát khan đã bị hư hỏng Trên đoạn đê có cống Rộc được xây dựng từ năm 1970

hiện tại bị hư hỏng nặng cần được nâng cấp sớm

Đoạn 2c: Từ K7,7 đến K10,4 dài 2,63 Km (Từ cống Rộc đến hết kè cũ) Đoạn đê khá thẳng, cao độ mặt đê dao động từ (+4,6 m) đến (+5.15 m) Mái đê phía biển được kè bằng các loại vật liệu khác nhau: Đá xây, đá xếp khan, tấm bê tông 40x40, tấm bê tông 80x40 trên các đoạn khác nhau, thậm chí trên một đoạn kè, dọc theo mái kè sử dụng cả 3 loại kè Tường chắn sóng bằng đá xây, nhiều chỗ bị phá rộng từ

Trang 36

1 đến 8 m để đi lại (khu A đầm thanh niên xung phong, công ty TNHH công nghệ Việt Mỹ) Từ K10 đến K10,4 tường chắn sóng không có mũi kè

Mặt đê được trải nhựa rộng khoảng 3,5 m, hiện vẫn chưa có dấu hiệu hư hỏng và vẫn đang được sử dụng trong mục đích giao thông rất tốt Trong phạm vi có 2 vị trí mặt đê rộng 6m, chiều dài 50 - 60m đễ làm bãi đỗ, quay đầu xe Trên đoạn đê phía biển có 3 đường xương cá: 2 đường xuống đầm A thanh niên xung phong, 1 đường xuống công ty Việt Mỹ, phía đồng có đường công vụ Thái Ninh

Đoạn 2d: Từ K10,4 đến K16,5 dài 6,1 km (từ cuối kè cũ đến cống C3) Cũng

giống như đoạn trên, đoạn đê này khá thẳng, đến K11+25 đê chuyển hướng lần thứ nhất tiệm cận dần về phía sông Thái Bình, đến K16+30 đê chuyển hướng 2 lần về phía sông Thái Bình Từ K10,4 đến K13 cao độ từ (+4,5 m) đến (+5,2 m) và từ K13 đến K16,5 mặt đê có cao trình (+4,4m) xuống (+4,6m) Từ khoảng K12 đến K14, mặt đê được gia cố bằng gạch vỡ, nên thường gây khó khăn việc giao thông nhất là trong trường hợp có thời tiết không tốt Mái đê phía sông không có kè Từ K10,4 đến K12 và từ K13 đến K16,5 hai bên đê đều là đầm nuôi trồng thuỷ sản

Đoạn 3: Từ K16,5 đến K21,162 dài 6,1km (Từ qua cống C3 đến cống Đông côn)

là đoạn chuyển tiếp từ đê biển sang đê tả sông Thái Bình, nên chịu ảnh hưởng và mang nhiều đặc tính của đê sông Không chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió bão, sóng biển Cao độ mặt khá thấp so với các đoạn đê khác (<+4,5) Từ K10,6 đến K20,8 đê tương đối thẳng, tại vị trí cách cống Đông Côn 360m đê ngoặt 80 độ, mái đê, mặt đê khá phẳng, cỏ phát triển tốt Các cống dưới đê gồm có: Cống C3, cống C1, cống

Cói, cống Đông Côn

2.2.3 Hiện trạng bãi triều và rừng phòng hộ

2.2.3 1 Hiện trạng bãi triều

Dọc theo tuyến đê biển III có thể chia bãi triều, rừng phòng hộ thành 3 khu vực:

a Khu vực bãi triều sông Văn Úc

Khu vực bãi hẹp phạm vi từ K0 (Dương Áo) đến K3, bãi uốn lượn theo dòng sông Văn Úc Chỗ rộng nhất 600m (cách cống Ba Gian 700m), chỗ hẹp nhất 60 đến

Trang 37

70m (gần cống Đông Phiên) Phạm vi bãi có bến phà Đông Áo, bãi vật liệu K0 và các đầm thuỷ sản thuộc xã Hồng Thắng

b Khu vực ven biển

Phạm vi bãi kéo dài từ K3 đến sát cống C4 (K14.5) Bãi hẹp nhất 150m (gần cốngC4), bãi rộng nhất khoảng 3500m thuộc xã Tiên Hưng, Đông Hưng Hiện tại bãi được sử dụng nuôi trồng thuỷ sản quy mô tập trung và trồng rừng phòng hộ (khu nuôi tôm xuất khẩu Thanh niên xung phong, khu nuôi tôm công nghiệp của công ty

kỹ nghệ Việt Mỹ)

c Khu bãi hẹp sông Thái Bình

Phạm vi từ cống C4 (K14,5) đến cống Đông Côn (K21,162) Nhìn chung bãi hẹp dần về thượng lưu sông Thái Bình nơi rộng nhất 300m thuộc đoạn (K14.5), nơi hẹp nhất 50m thuộc đoạn (K20 - K21) Hiện tại bãi được sử dụng nuôi trồng thuỷ sản quy mô gia đình

2.2.3.2 Hiện trạng rừng phòng hộ

Từ K0 đến K3,5 (bãi giứa sông Văn Úc) và từ K14 đến K21,126 (Bãi giữa của

sông Thái Bình) rừng không còn hoặc còn sót lại chỉ là các bãi rừng phi lao thưa và các gốc sú vẹt ở trong các đầm

Từ K3,5 đến K14 phía ngoài khu nuôi trồng thuỷ sản là rừng phòng hộ, từ K3,5 đến K7 chiều rộng rừng từ 100 đến 200m (địa phận xã Vinh Quang) Từ K7 đến K10 chiều rộng rừng khoảng 700m (địa phận xã Vinh Quang) Từ K10 đến K14 chiều rộng rừng khoảng 1200m (địa phận xã Tiên Hưng, xã Đông Hưng)

Tại vị trí khu rừng thông K6,8 thông đã bị đổ nhiều, khoảng 300km khu rừng thông là khoảng trống không có rừng cây

Rừng phòng hộ từ K7 đến K14: một nửa rừng phía ngoài là rừng mới trồng, hiệu quả của rừng còn rất kém Tại vị trí của lạch cống Rộc và lạch cống Ngựa, lạch tương đối rộng khoảng 150m, giữa lạch không có cây, hai bên lạch cây rất thưa

2.2.4 Nguyên nhân gây xói lở bờ biển

Trang 38

Xói lở bờ biển chính là hiện tượng biến đổi đường bờ, mất đất dưới sự tác dụng của các yếu tố tự mhiên như song, gió, dòng chảy ven bờ, và các tác động của con người

Hải Phòng nói chung và huyện Tiên Lãng nói riêng là vùng chịu ảnh hưởng rất

lớn do bão gây ra Hàng năm đều có từ 1 đến 2 cơn bão đổ vào đây không những

gây thiệt hại rất lớn về kinh tế, mà nó còn là nguyên nhân chính làm trượt sạt, gây xói lở, phá hoại rất nhiều tuyến đê và các công trình bảo vệ đê biển

Gần đây nhất, cơn bão số 2, số 6, số 7 năm 2005 đã phá hỏng, gây trượt sát một

số đoạn đê biển I, đê biển II và đê biển III Đảo Cát Hải ngập chìm trong nước, khu vực Đồ Sơn nước dâng, song tràn làm tê liệt giao thông, dịch vụ, du lịch Riêng khu vực đê biển III, hang trăm ha đầm thuỷ sản bị vỡ bờ, mất trắng, đoạn đê kè đá của K18+700 bị phá vỡ

Các cống dưới thân đê hầu hết đã được xây dựng từ rất lâu cho nên hầu hết đã bị

hư hỏng, dò dỉ, tạo thành nhiều hố xói ở cả sân trước và sân sau cống Những chỗ xung yếu đó khi chịu tác dụng trực tiếp của sóng, đất trong thân đê sẽ bị moi dần ra tạo thành hố xói ngày càng lớn và phá hoại đường bờ, đê và các công trình

Khả năng phòng chống lụt bão của tuyến đê còn thấp, vì hầu hết các đoạn đê đều đựơc thiết kế theo các tiêu chuẩn cũ của dự án PAM (chỉ chống được bão cấp 9, tần suất 5%, triều trung bình) Mặt khác toàn tuyến đê chủ yếu vẫn là đê đất, một vài đoạn đã có kè lát mái nhưng hầu hết đã bị hư hỏng hoặc không đảm bảo khả năng chịu lực (không đáp ứng được nhu cầu phòng chống lụt bão hiện tại) Chính vì vậy khi gặp phải những cơn bão lớn hơn cấp 9, với các diễn biến phức tạp đổ vào vùng

bờ sẽ gây ra hiện tượng xói lở, trượt sạt, làm hư hỏng tuyến đê

Việc khai thác bãi không hợp lý với các mục đích kinh tế khác nhau cũng cũng gây ra hiện tượng xói lở bờ biển, làm mất ổn định tuyến đê Sự khai thác không hợp

lý đó ở đây chủ yếu là việc chặt phá rừng ngập mặn, đắp đê quai để xây đầm nuôi tôm Việc làm đó không những làm mất cảnh quan, ô nhiễm môi trường, thay đổi hệ sinh thái nơi đây mà còn làm giảm khả năng chống lại sóng của rừng ngập mặn,

Trang 39

sóng tác động vào chân công trình sẽ có cường độ lớn hơn rất nhiều, đồng thời làm thay đổi dòng chảy ven bờ và gây ra hiện tượng xói lở bờ biển

Năm 1990 trở về trước, rừng phòng hộ được trồng từ sát chân đê đến mép nước

Từ năm 1995 trở lại đây, cùng với sự phát triển nghề nuôi trồng thuỷ sản, rừng phòng hộ bị thu hẹp dần, diện tích trồng thêm không đủ bù đắp diện tích mất đi nên tình trạng xói bãi xuất hiện

Theo số liệu điều tra đầu năm 2002 (trung tâm phát triển nông nghiệp) và số liệu điều tra năm 2005 như bảng 2.1

2.2.5 Diễn biến đường bờ theo tài liệu lịch sử

a Giai đoạn trước năm 1989

Trong khoảng thời gian từ năm 1965 đến 1989, vùng ven biển thuộc xã Vinh Quang (huyện Tiên Lãng) tiếp tục bị xói lở trên các tuyến dài 4,9 ÷ 5,7 km, chiều rộng 120÷300 m, tương đương tốc độ xói ngang 4,7÷14,3 m/năm Vùng được bồi tụ mạnh là vùng phía nam cửa Văn Úc thuộc xã Vinh Quang (huyện Tiên Lãng) và bãi triều hai bên cửa Thái Bình thuộc xã Đông Hưng (huyện Tiên Lãng), Ngoài ra, trên các bãi bồi thấp ven sông việc quai đê lấn đất tiếp tục diễn ra phục vụ canh tác và nuôi thủy sản, làm cho nhiều đoạn lòng dẫn bị thu hẹp Trong thời gian này, hiện

Trang 40

tượng bồi tụ chủ yếu diễn ra phía cửa Thái Bình, trong khi vùng ven biển cửa Văn

úc tiếp tục bị xói lở Hiện tượng xói lở bờ diễn ra trong nhiều năm đe doạ trực tiếp tới an toàn các tuyến đê biển vào mùa mưa bão ở cửa Văn Úc Lòng dẫn cửa sông bị thu hẹp do bồi tụ và quai đê bối lấn đất có ảnh hưởng lớn tới vai trò thoát nước lũ và các luồng giao thông thủy đi qua cửa sông

b Giai đoạn 1989-1995

So với vùng ven biển cửa Ba Lạt, hoạt động khai thác ven biển cửa Văn úc ít mạnh mẽ hơn, do bờ biển vẫn trong tình trạng xói lở, có ảnh hưởng tới an toàn các tuyến đê biển Ngành Thủy lợi Hải Phòng đã đầu tư củng cố các tuyến đê biển nằm trong vùng xói lở thuộc các xã Bằng La, Đại Hợp, Đoàn Xá (huyện Kiến Thụy), Đông Hưng, Vinh Quang (huyện Tiên Lãng) Bồi tụ ven biển chủ yếu diễn ra ở cửa sông Thái Bình Các đoạn bờ trong sông Văn úc và sông Thái Bình ít có những biến động lớn, tương đối ổn định hơn giai đoạn trước

c Giai đoạn 1995-2010

Vùng ven biển cửa Văn Úc - cửa Thái Bình chuyển sang giai đoạn bồi tụ mới Các bãi bồi ngầm trước cửa sông (bar) phát triển mở rộng và chia ra những nhánh chảy phụ bên cạnh lòng dẫn chính Quá trình bồi tụ ven bờ diễn ra nhanh nhờ việc phát triển trồng RNM phòng hộ ven biển bằng vốn đầu tư của Nhà nước và kinh phí

hỗ trợ của các tổ chức phi chính phủ của Nhật Bản; ngoài ra còn có điều kiện thuận lợi rất cơ bản là trong thời gian này vùng ven biển Hải Phòng nói riêng và ven biển ĐBSH nói chung rất ít chịu ảnh hưởng của bão và áp thấp nhiệt đới, ngoại trừ trận bão ngày 24/8/1996 gây ra mưa lớn ở ĐBSH và vỡ đê 6 xã phía đông nam huyện Thanh Hà (tỉnh Hải Dương) Bên cạnh việc trồng rừng ngập mặn, các hoạt động của con người chủ yếu phục vụ phát triển nghề nuôi thủy sản nước lợ và củng cố các tuyến đê biển Vùng nuôi thủy sản phát triển nhanh trên các bãi bồi nằm giữa tuyến

đê biển (ở phía trong) và rừng ngập mặn phòng hộ (phía ngoài biển) Đến năm

2003, nhờ đầu tư chăm sóc bảo vệ rừng ngập mặn phát triển khá tốt; các cây thân gỗ đạt chiều cao tới 5÷6 m Chính sự phát triểm tốt của rừng ngập mặn đã làm giảm

Ngày đăng: 15/03/2019, 12:02

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w