Với tác động ngày càng mạnh mẽ của biến đổi khí hậu hiện nay, Thái Bình đang phải đối mặt với hiện tượng xâm nhập mặn của nước biển, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng nguồn nước
Trang 1MỞ ĐẦU
I Tính cấp thiết của đề tài
Nước sạch và vệ sinh và vệ sinh môi trường là vấn đề cấp thiết trong đời sống hàng ngày của người dân Tuy nhiên, tại các vùng nông thôn của nước ta hiện nay vẫn còn hơn 60% dân số sử dụng nước không đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh, là nguyên nhân chính dẫn tới các bênh về đường tiêu hoá, đau mắt, sỏi thận
Với mục tiêu tăng nhanh tỷ lệ dân cư nông thôn được sử dụng nước sạch, cải thiện điều kiện sống và sức khoẻ của người dân, nhằm góp phần thực hiện công cuộc xoá đói giảm nghèo và từng bước thực hiện hiện đại hoá nông thôn, từ năm 1999 Việt Nam đã triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đô thị hoá ở Thái Bình hiện nay đang buộc tỉnh phải đối mặt với nguy cơ ô nhiễm môi trường, đặc biệt là
ô nhiễm nguồn tài nguyên nước hết sức nghiêm trọng Tại địa phận thành phố, tỉnh lỵ vẫn chưa có các nhà máy xử lý nước thải công nghiệp, nên hầu hết nước thải sinh hoạt, bệnh viện, nhà máy đều chưa được xử lý, đã đổ ra 5 con
sông trong thành phố, ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống sinh hoạt của người dân Tại khu vực nông thôn, việc sử dụng tài nguyên nước cũng còn nhiều khó khăn Mặc dù nguồn nước mặt tương đối phong phú, nhưng số công trình cấp nước lấy từ nguồn nước mặt còn thấp Nguồn nước sinh hoạt mà người dân Thái Bình sử dụng chủ yếu vẫn là nước ngầm Việc sử dụng nước ngầm ở khu vực này là hoàn toàn tự phát, nước chưa được xử lý theo đúng quy trình
đã đưa vào sử dụng trong sinh hoạt hàng ngày nên gây nhiều nguy hại tới sức khoẻ người dân
Trang 2Với tác động ngày càng mạnh mẽ của biến đổi khí hậu hiện nay, Thái Bình đang phải đối mặt với hiện tượng xâm nhập mặn của nước biển, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng nguồn nước ngầm, ảnh hưởng trực tiếp tới việc cung cấp nước sạch cho người dân nông thôn vùng ven biển
Mặt khác, cho đến nay, ở Thái Bình nhiều công trình cấp nước sinh hoạt được xây dựng nhưng chưa phát huy hết công suất, hiệu quả quản lý vận hành chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế của nhân dân
Từ những phân tích trên đây chúng ta thấy đối với cấp nước sinh hoạt
và vệ sinh nông thôn trên địa bàn tỉnh Thái Bình nổi cộm những vấn đề sau:
Ô nhiễm môi trường, nhất là môi trường nước, ngày càng nghiêm trọng Nhiều vùng nông thôn chưa được cung cấp nước sinh hoạt đảm bảo vệ sinh Nhiều công trình cấp nước được xây dựng nhưng hiệu quả hoạt động còn hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của nhân dân cả về
số lượng và chất lượng nước Năng lực quản lý vận hành các công trình cấp nước còn bất cập, tính bền vững của các công trình chưa cao
Do đó, việc nghiên cứu cơ sở khoa học và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và khai thác các công trình cấp nước tập trung nông thôn Thái Bình là một vấn đề cấp thiết hiện nay Việc nâng cao hiệu quả quản lý và khai thác các công trình này sẽ góp phần nâng cao tỷ lệ số người dân nông thôn được dùng nước sạch, giảm ô nhiễm môi trường, góp phần tích
cự thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về cấp nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn đến năm 2020 của nước ta
Trang 3II Mục tiêu nghiên cứu
1 Xây dựng được cơ sở khoa học cho việc đề xuất các giải pháp nâng cao
hiệu quả quản lý, khai thác các công trình cấp nước tập trung nông thôn
ở Thái Bình
2 Đề xuất được các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác các
công trình cấp nước tập trung nông thôn thích hợp với điều kiện của
tỉnh Thái Bình
III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1 Đối tượng nghiên cứu
Các công trình cấp nước tập trung nông thôn tỉnh Thái Bình
2 Phạm vi nghiên cứu
Tỉnh Thái Bình
IV N ội dung luận văn
1 Tình hình chung của khu vực nghiên cứu Phân tích những thuận lợi,
khó khăn của điều kiện tự nhiên, kinh tế − xã hội, thể chế chính sách tới
hiệu quả quản lý và khai thác các công trình cấp nước tập trung nông thôn trong tỉnh Thái Bình
2 Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc đề xuất các giải pháp nâng cao
hiệu quả quản lý và khai thác các công trình cấp nước tập trung nông thôn ở Thái Bình
3 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác các công
trình cấp nước tập trung nông thôn Thái Bình trong bối cảnh biến đổi khí hậu
Trang 4V P hương pháp nghiên cứu
1 Thu thập, tổng hợp, phân tích các tài liệu về cấp nước sạch và vệ sinh
môi trường nông thôn; tác động của biến đổi khí hậu tới nguồn nước
2 Nghiên cứu thực địa: Thu thập tài liệu và khảo sát đánh giá hiện trạng
3 Nghiên cứu lý thuyết
Trang 5CHƯƠNG 1:
TÌNH HÌNH CHUNG CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU
1 1 Đặc điểm tự nhiên tỉnh Thái Bình
0 P44’ vĩ độ Bắc và 106P
0 P06’ đến 106P
0 P39’ kinh độ Đông
Thái Bình tiếp giáp với 5 tỉnh, thành phố:
+ Phía Đông giáp vịnh Bắc Bộ;
+ Phía Tây giáp Hà Nam;
+ Phía Tây và Tây Nam giáp Nam Định;
+ Phía Tây Bắc giáp Hưng Yên;
+ Phía Bắc giáp Hải Dương;
+ Đông Bắc giáp Hải Phòng
Từ Tây sang Đông dài 54 km, từ Bắc xuống Nam dài 49 km, chiều dài bờ biển 52 km Diện tích tự nhiên 1546,54 kmP
2 P, nằm trong vùng ảnh hưởng trực tiếp của tam giác tăng trưởng kinh tế Bắc Bộ (Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh)
Trang 7.1.2 Đặc điểm địa hình
Là tỉnh đồng bằng châu thổ được bao bọc bởi hệ thống đê sông biển, địa hình tương đối bằng phẳng với độ dốc nhỏ hơn 1%, cao độ biến đổi từ 0,5÷3,0m; nhưng tập trung chủ yếu ở cốt đất 0,75÷2,0m Địa hình đi sâu vào
tiểu vùng cũng khá phức tạp, độ dốc có xu hướng thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam rồi lại cao dần ở những vùng ven biển như Tiền Hải và Thái Thuỵ,
ở đây có dạng sóng lượn hình thành do quá trình lấn biển Có những vùng địa hình nhấp nhô cấu tạo gần giống dạng bát úp như Đại Nẫm, Hệ, Đông Hoà (hệ thống Bắc Thái Bình), Nang, An Quốc, Ngũ Thôn (hệ thống Nam Thái Bình) Vùng này cũng có những dải đất thấp tập trung ven bờ sông Hồng, Trà
Lý, Luộc và dọc trục sông Tiên Hưng, Kiên Giang
1.1.3 Thổ nhưỡng
Đất đai của lưu vực được hình thành trong quá trình nâng dần do phù sa
bồi đắp, do vậy đất đai của hệ thống thuộc loại đất trẻ, giàu chất dinh dưỡng,
nhưng sự phân bố chất dinh dưỡng không đều, có vùng nghèo đạm nhưng giàu kali và ngược lại Các vùng cao thường bị rửa trôi, bạc màu, vùng thấp
trũng tầng đất canh tác được tăng dần chất dinh dưỡng nhưng độ chua lớn, đất canh tác bị ngập nước quanh năm, vùng ven biển thường là bãi đất cát cao,
lượng muối hoà tan trong đất còn khá lớn Hàng năm do tác dụng của xâm
thực của nước biển qua mạch nước ngầm hoặc do quản lý khai thác chưa tốt nên nước biển rò rỉ qua cống làm độ mặn tăng dần lên
Theo báo cáo quy hoạch tổng thể nông nghiệp, nông thôn tỉnh Thái Bình năm 2001 − 2010 thì trong tổng số 134.932 ha diện tích đất điều tra có:
+ Đất phù sa: 89.861 ha chiếm 66,5%;
+ Đất phèn : 16.048 ha chiếm 11,9%;
Trang 8+ Đất phù sa nhiễm mặn: 13.831 ha chiếm 10,3%;
+ Đất cát biển 15.192 ha chiếm 11,3%
Trên cơ sở quy luật phân bố của các loại đất, đã hình thành 6 vùng thổ
nhưỡng như sau :
+ Vùng đất phù sa mới ven sông Hồng, Thái Bình;
+ Vùng đất phù sa sông Hồng và đất cồn cát ven biển Vũ Thư;
+ Vùng đất phù sa sông Hồng thấp Glay trên nền phèn Kiến Xương,
Tiền Hải;
+ Vùng đất phèn Quỳnh Phụ, Thái Thuỵ;
+ Vùng đất phèn mặn và đất cồn cát duyên hải Thái Thuỵ;
+ Vùng đất phù sa nhiễm mặn Tiền Hải
1.1.4 Đặc điểm khí tượng, thuỷ văn
a Khí tượng
Thái Bình nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nóng, ẩm, bức xạ mặt trời lớn, nhiệt độ cao Mùa nóng, mưa nhiều từ tháng V đến tháng X; mùa lạnh, khô từ tháng XI năm trước đến tháng IV năm sau Lượng mưa trung bình hàng năm: 1.400÷1.800 mm Nhiệt độ trung bình trong năm 23,5P
0 P
C Số giờ nắng trong năm: 1.600÷1.800 giờ Độ ẩm trung bình nhiều năm: 85÷90%
Chế độ nhiệt: Lượng bức xạ tổng cộng trung bình nhiều năm khoảng
110÷118 Kcal/cmP
2 P Số giờ nắng thuộc loại trung bình ở nước ta, trong đó tháng VII có số giờ nắng nhiều nhất 190÷230 giờ/tháng và tháng II, III có số giờ nắng ít nhất khoảng 35÷47 giờ/tháng Chế độ nhiệt cũng phân hóa thành hai mùa khá rõ rệt: Mùa nóng từ tháng V đến tháng X với nhiệt độ trung bình
Trang 9(Nguồn: Tổng cục khí tượng Thủy văn) Gió: Mùa đông hướng gió thịnh hành từ Tây Bắc đến Đông Nam với tần suất 60÷70%, tập trung nhất hướng Bắc 25÷60% Ngay trong những tháng cuối mùa hè (tháng IX, tháng X) hướng gió từ hướng Bắc cũng chiếm 55÷70% Các tháng V, VI, VII hướng gió thịnh hành ổn định từ Đông đến Đông Nam 50÷70% Tháng VIII hướng gió phân tán, thịnh hành nhất chỉ 20% Vận tốc gió trung bình năm dao động từ 2÷5m/s, vào sâu trong đất liền
có xu hướng giảm dần
Độ ẩm không khí: Độ ẩm không khí trung bình tháng nhiều năm
khoảng 85÷90% Những tháng đầu mùa đông độ ẩm không khí xuống rất thấp, thấp nhất khoảng 42%, gây ra hiện tượng khô hanh Lượng bốc hơi
trung bình vào khoảng 750÷800mm/năm Mùa đông lượng bốc hơi trung bình 35÷65mm/tháng, mùa hè 70÷100mm
Trang 10Bốc hơi: Tổng lượng bốc hơi cả năm đo bằng ống Piche tại Thái Bình:
871 mm Tháng có lượng bốc hơi nhiều nhất là tháng VII đạt 116 mm Tháng
có lượng bốc hơi ít nhất là tháng III đạt 40 mm
L ượng mưa và phân bố mưa: Thái Bình nằm trong khu vực nhiệt đới
gió mùa lại ở vùng ven biển nên mưa nhiều và phân bố không đồng đều theo không gian và thời gian Mùa mưa kéo dài từ tháng V đến tháng X Lượng
mưa chiếm khoảng 80 % tổng lượng mưa cả năm, các tháng mưa nhiều nhất
là tháng 7, 8, 9 Mưa lớn nhất phía Đông, phía Nam của vùng Tổng lượng
mưa trung bình cả năm ở trạm Thái Bình đạt 1.805 mm
Số ngày mưa cả năm trung bình nhiều năm đạt 144 ngày, phân bố trong các tháng không đều Tháng có số ngày mưa ít nhất là tháng 12 Tháng 3 có
số ngày mưa phùn nhiều nhất năm nhưng lượng mưa rất nhỏ Các tháng trong mùa mưa có số ngày mưa không nhiều hơn các tháng chuyển tiếp xuân hè
nhưng tổng lượng mưa lại chiếm tới 80 % tổng lượng mưa cả năm
Bảng 1.3: Lượng mưa tháng ( mm )
Tháng
Yếu tố I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII TBNN 27 34 52 76 183 196 232 311 334 196 64 28 Max 142 131 116 187 599 550 560 631 790 489 246 160
( Nguồn: Tổng cục Khí tượng thuỷ văn)
Do vị trí địa lý của một tỉnh ven biển nên Thái Bình luôn chịu ảnh hưởng của giông, bão và áp thấp nhiệt đới Trung bình hàng năm có 30÷50 ngày, có giông, khi có giông thường kèm theo mưa to, gió lớn nhưng thời đoạn ngắn Bão và áp thấp nhiệt đới là hiện tượng nhiễu động thời tiết, trung bình hàng năm có 2÷3 cơn bão đổ bộ trực tiếp và thường xuất hiện từ tháng V
Trang 11đến tháng XI, nhiều nhất vào tháng VI đến tháng IX, gây ảnh hưởng đến đời sống xã hội và sản xuất nông nghiệp - công nghiệp trong tỉnh
b Thuỷ văn
Thái Bình được bao quanh bởi hệ thống sông biển khá dày, khép kín có 5 cửa sông lớn (Văn Úc, Diêm Điền, Ba Lạt, Trà Lý, Lân) Các sông bị uốn khúc nhiều, độ dốc nhỏ từ 0,02÷0,05 m/kmP
2 P, mật độ lưới sông lên tới 3,8km/kmP
2
P
Có 4 sông lớn chảy qua địa phận của tỉnh, phía Bắc và Đông Bắc
có sông Hoá, sông phân lưu của sông Luộc chảy qua địa phận biên giới dài 35,3 km Phía Bắc và Tây Bắc là sông Luộc chảy qua địa phận biên giới dài 53
km Phía Tây và Nam là đoạn hạ lưu của sông Hồng chảy qua địa phận biên giới tỉnh dài 67 km, tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu phát triển kinh tế
Mùa lũ trên các sông ở Thái Bình bắt đầu từ tháng (VI÷X) Mùa cạn bắt đầu tháng XI đến tháng V năm sau Lượng nước mùa lũ chiếm trên 70%,
có năm chiếm tới 90% tổng lượng nước cả năm Các tháng lũ lớn là tháng VII
và tháng IX, lượng nước chiếm (50÷70)% tổng lượng nước cả năm Chênh lệch giữa các tháng lượng nước nhiều nhất và lượng nước ít nhất tới 10 lần, có khi tới 55 lần Số lần lũ trong năm và hàng tháng biến động đáng kể, có thể gấp 2,5 lần Cường suất lũ lên cũng biến động mạnh mẽ, ở sông Hồng, sông Trà Lý bình quân 5 cm/h, thời gian kéo dài một trận lũ bình quân là 5÷20 ngày Theo tài liệu nhiều năm trên sông Hồng, Trà Lý, trung bình 4 năm có một trận lũ vượt trung bình, nếu tính những cơn lũ đặc biệt lớn thì khoảng 30 năm xuất hiện một lần Về mùa lũ lưu lượng lớn nhất trên sông Hồng đạt tới 10.400 mP
Trang 12Về mùa cạn lưu lượng trên sông Hồng là 1.000 mP
3 P/s, trên sông Trà Lý
3
P /s )
ngày biên độ triều trung bình khoảng (150÷180) cm, lớn nhất 270 cm, nhỏ
nhất khoảng (2÷5) cm Trong một năm biên độ triều lớn xuất hiện vào mùa
kiệt thường vào tháng 12 đến tháng 2
Bảng1.5: Mực nước cao nhất trong các sông (cm)
Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Sông Hồng 189 178 194 176 290 342 472 597 464 358 323 228 Sông Trà Lý 194 178 184 169 300 381 469 577 429 405 355 229
Độ mặn các cửa sông Thái Bình khá lớn có thể đạt xấp xỉ nước biển Ranh giới xâm nhập mặn thay đổi theo từng con triều, mùa và năm Có năm ranh giới xâm nhập mặn trên sông cách bờ biển 17÷23 km, ở đây độ mặn vẫn còn tới 0,3%÷0,4%
Lượng cát bùn trong sông chủ yếu từ cát bùn xói mòn mặt các lưu vực dưới tác dụng của ngoại lực (chủ yếu là mưa) Giá trị trung bình trong mùa lũ lớn hơn mùa kiệt từ (2÷14) lần Ba tháng có lượng cát bùn lớn nhất là VI, VII, VIII Ba tháng có lượng ngậm cát bùn và lưu lượng nhỏ nhất là I, II, III
Trang 13Trung bình một năm trên sông Trà Lý có khoảng 22,5 triệu tấn, trên sông Hồng có khoảng 29,9 triệu tấn phù sa chảy qua
U
Nhận xét:U Hệ thống sông ngòi trên địa bàn tỉnh Thái Bình có mật độ tương đối cao, chế độ thuỷ văn không điều hoà, lưu lượng dòng chảy thay đổi theo mùa và chịu sự chi phối của thuỷ triều Do đó khả năng khai thác nguồn nước mặt trong địa bàn tỉnh Thái Bình nhằm mục đích phục vụ cho sinh hoạt
là có khả năng đảm bảo, nhưng chỉ có khu vực đồng bằng châu thổ có sẵn vị trí thuận lợi để khai thác được nước đạt tiêu chuẩn chất lượng yêu cầu, còn vùng đồng bằng ven biển cần thiết phải dẫn nước từ xa về Ngoài ra, địa bàn tỉnh là điểm cuối của hệ thống sông Thái Bình nên đồng thời cũng là nơi tiếp nhận nước thải từ các khu công nghiệp, dân cư phía trên thượng nguồn, điều
đó có thể sẽ ảnh hưởng lớn tới chất lượng nước sông nói riêng và vệ sinh môi trường nói chung
1.1.5 Đặc điểm địa chất thuỷ văn
Trong phạm vi tỉnh Thái Bình, nước dưới đất tồn tại trong các trầm tích Kainozoi có tuổi từ Miocen đến Holocen phân bố rộng khắp trên toàn diện tích của tỉnh Chiều dày trầm tích rất lớn, hiện chưa có công trình nào khoan hết chiều dày này Đất đá chứa nước chủ yếu là các tập hạt thô, như các lớp cát kết trong Neogen, các lớp cuội, sỏi, sạn, cát trong Pleistocen Xen giữa các tập hạt thô là các lớp bột kết, sét kết, các lớp sét, sét bột khả năng chứa nước rất kém, được xem như các thực thể địa chất không chứa nước Cũng do tính nhân nhịp, xen kẹp giữa các tập đất đá có độ chứa nước khác nhau, mà hầu hết các tầng chứa nước đều có tính áp lực Mực nước trong các tầng chứa nước nằm cao hơn mái cách nước, nhiều nơi gặp nước phun cao hơn mặt đất
Về đặc tính thuỷ hoá trong các tầng chứa nước, nhìn chung khá phức tạp Phần diện tích phía đông và đông nam của tỉnh, nơi gần biển, các tầng
Trang 14chứa nước hầu hết bị nhiễm mặn, cả các tầng nằm sâu cũng như các tầng nằm gần mặt đất, tổng độ khoáng hoá có nơi lên đến vài chục g/l
Dựa vào dạng tồn tại và độ giầu nước trong các tầng nước dưới đất vùng Thái Bình, có thể phân chia ra các tầng chứa nước như sau:
Tầng chứa nước QP
3
PR IV Rtb gồm nhiều nguồn gốc khác nhau: sông − biển; biển − gió; biển − đầm lầy; sông và trong mỗi kiểu nguồn gốc có chiều dày, thành phần đất đá và khả năng chứa nước khác nhau, trong đó đáng quan tâm
là các trầm tích nguồn gốc biển, biển − gió và sông − biển Các trầm tích này, đất đá chủ yếu là các loại cát lẫn ít bột tạo thành các dải cát chạy vuông góc với các cửa sông, song song với đường bờ biển tạo thành các địa hình nổi cao hơn so với các khu vực xung quanh, có khả năng chứa nước phong phú Trong phạm vi tỉnh tầng chứa nước Thái Bình đã có rất nhiều lỗ khoan qua, kết quả cho thấy, tầng phát triển không đồng đều, rất mỏng ở phía bắc, tây bắc
và tăng dần chiều dày về phía nam, đông nam Chiều dày lớn nhất đạt tới 25m, trung bình 5÷10m Kết quả thí nghiệm thấm cho lưu lượng Q từ 0,1 đến 0,7 l/s Mực nước dao động từ 1 đến 2 m Tầng chứa nước Thái Bình bị ảnh hưởng trực tiếp bởi điều kiện khí tượng thuỷ văn, có quan hệ chặt chẽ với các nguồn nước mặt
Về chất lượng nước của tầng, có thể chia ra 3 vùng có tổng độ khoáng hoá M khác nhau: Vùng nước nhạt M<1 g/l bao gồm các huyện Vũ Thư và một phần huyện Kiến Xương, Tiền Hải, ven theo các sông lớn Vùng nước lợ
M = 1÷3 g/l nằm trong khoảng Hưng Hà, Quỳnh Phụ và các dải nhỏ xen lẫn
Trang 15với các vùng nước nhạt Vùng nước mặn M >3 g/l, nằm giáp biển và phía đông nam tỉnh, nơi có địa hình thấp, không đảm bảo chất lượng nước cấp cho sinh hoạt Còn những doi cát chạy gần như song song với bờ biển, nằm trên những địa hình cao, nước có chất lượng tốt đảm bảo các yêu cầu cấp nước cho sinh hoạt
Đánh giá chung: Tầng chứa nước Thái Bình trong phạm vi tỉnh có độ
chứa nước không đồng đều, thuộc tầng nghèo nước, điều kiện thuỷ hoá phức tạp Tuy nhiên đối với các dải nước nhạt trong các doi cát ven biển rất có ý nghĩa về cấp nước cho các hộ cư dân khai thác đơn lẻ, mỗi giếng có thể đạt
từ 40÷60 mP
3 P/ngày, mực nước tĩnh nằm nông gần mặt đất, chất lượng tương đối tốt
1-2
PR IV RhhR 2 R) Tầng phân bố khắp diện tích Thái Bình Chiều sâu gặp từ 2 đến 40m Đã có nhiều lỗ khoan qua, kết quả cho thấy, tầng chứa nước Hải Hưng có chiều dày phát triển không đều, dày từ 3m (lỗ khoan 2B − Hưng Hà) đến 32,5m (lỗ khoan 19 − Kiến Xương) Chiều dày trung bình 13,81m
Tầng được tạo thành bởi nhiều nguồn gốc trầm tích sông − biển; biển − đầm lầy; biển Đất đá chủ yếu gồm sét, bột cát, bột sét lẫn cát, nhiều vỏ sò, sinh vật biển
Kết quả hút nước thí nghiệm cho Q = 0,025l/s đến 0,59l/s, nhưng tất cả đều có tổng độ khoáng hoá M > 1g/l, từ 1,33 đến 16,77g/l Đặc biệt có lỗ khoan cho M = 27,42g/l (lỗ khoan 34 − Tiền Hải)
Dạng tổng quát công thức Kurlov của nước:
Trang 16MR 1,33-16,77 R
93 - 83
47 - 0 3 97 - 52
) K Na (
HCO Cl
c Tầng chứa nước Pleistocen (QURUI-IIIURU):
Tầng bao gồm các trầm tích sông, sông − biển của hệ tầng Vĩnh Phúc (aQP
2
PR III RvpR 1 R), hệ tầng Hà Nội (QR II-III Rhn) và hệ tầng Lệ Chi (QR I Rlc) Đây là tầng chứa nước chính của vùng, đồng thời cũng là tầng chứa nước chính của đồng bằng Bắc Bộ Trong phạm vi tỉnh Thái Bình, tầng phân bố đều khắp và nằm trực tiếp trên tầng chứa nước Neogen Tầng phát hiện trong các lỗ khoan, ở chiều sâu 22m (lỗ khoan 2 − Hưng Hà) đến 68,5m (lỗ khoan 19 − Kiến Xương) Chiều dầy tầng từ 29m (lỗ khoan 2B − Hưng Hà) đến 80m (lỗ khoan
5804 − Đông Hưng) Chiều dày trung bình 62,25m
Đất đá chủ yếu là cát hạt mịn − trung − thô lẫn sạn thạch anh, cuội cát sạn và dưới cùng là cuội sét đa khoáng Đặc tính trầm tích phân nhịp khá rõ, bắt đầu là các trầm tích hạt mịn kết thúc nhịp là lớp sạn thạch anh sắc cạnh sau đó chuyển sang nhịp khác
Tầng chứa nước Pleistocen trong phạm vi tỉnh đã được Cục Địa chất thí nghiệm trước kia tại 40 lỗ khoan, phân bố đều khắp tỉnh, trong đó có 11 lỗ khoan trong tầng Vĩnh Phúc (QP
Trang 17nước và mang tính áp lực Chiều cao cột nước áp lực trung bình 46m Mực nước trong tầng đều nằm xấp xỉ gần hoặc cao hơn mặt đất Trong 30 lỗ khoan thí nghiệm có 6 lỗ khoan mực nước cao hơn mặt đất từ +0,05 đến +0,65m
Kết quả quan trắc động thái nước trong tầng sau hơn một năm cho thấy mực nước trong tầng luôn nằm cao hơn mực nước biển từ 0,64m (lỗ khoan 28
− Diêm Điền) đến 2,28m (lỗ khoan 3 − Quỳnh Phụ) Biên độ dao động mực nước giữa 2 mùa trong tầng từ 0,15m đến 0,45m, trung bình 0,2 ÷ 0,3m
Về chất lượng nước của tầng QR I-III R, qua kết quả phân tích thành phần hoá ở các lỗ khoan cho thấy nước nhạt chiếm 60%, nước lợ 21% và nước mặn 19%, có thể thấy rõ 3 vùng thuỷ hoá:
Vùng nước nhạt M <1g/l, nằm về phía Bắc tỉnh, kéo dài ra gần ven biển với diện tích khoảng 602 kmP
2 P Vùng nước lợ M=1÷3g/l, nằm tiếp giáp giữa 2 vùng nước nhạt và nước mặn, diện tích 256 kmP
2 P Vùng nước mặn M >3g/l, nằm ở phía Nam, có diện tích 680 kmP
2 P Nhìn chung, quy luật tổng độ khoáng hoá M của tầng QR I-III R có chiều hướng tăng dần từ Bắc, Tây Bắc xuống phía Nam, Đông Nam, kiểu chất lượng nước chuyển từ dạng Bicacbonat đến hỗn hợp, cuối cùng là kiểu Clorua
Đánh giá chung: Tầng chứa nước Pleistocen là tầng giầu nước nhất của
tỉnh Thái Bình Mực nước trong tầng nằm gần mặt đất, rất thuận tiện cho việc khai thác nước Tuy nhiên quá trình khai thác nước cần phải chú ý cách ly với các tầng nhiễm mặn và có chế độ khai thác hợp lý, đảm bảo cho các công trình hoạt động lâu dài, tránh hiện tượng xâm nhập nước mặn
Trang 182 Nước khe nứt:
Tầng chứa nước Neogen (N): Tầng có diện tích phân bố đều khắp vùng và
bị các tầng chứa nước trong trầm tích đệ tứ phủ kín Chiều sâu gặp tầng này từ 88m (lỗ khoan 2B − Hưng Hà) đến 150m (lỗ khoan 19 − Kiến Xương) và 160m (lỗ khoan 82A − Tiền Hải) Đáy và chiều dày tầng chưa có cơ sở xác định
Nguồn gốc thành tạo chứa nước Neogen chủ yếu là các trầm tích biển, chúng có cấu tạo dạng nhịp, chiều dày mỗi nhịp 60 ÷ 80m Đất đá là các loại
cát kết, sạn kết, cuội kết, gắn kết yếu Đã có 10 lỗ khoan thí nghiệm trong tầng ở độ sâu 165m đến 270m, còn 3 lỗ khoan nghiên cứu ở độ sâu 399m (lỗ khoan 19C − Tiền Hải), 450m (lỗ khoan 82A − Tiền Hải) và 470m (lỗ khoan
16 − TX Thái bình)
Các kết quả thí nghiệm cho thấy tầng thuộc loại giầu nước, lưu lượng Q
từ 3,5÷19,5 l/s, trung bình 8÷10 l/s Tỉ lưu lượng đạt 0,96÷2,76 l/m.s Mực nước trong tầng dao động gần mặt đất Trong 10 lỗ khoan thí nghiệm có tới 4
lỗ khoan mực nước nằm cao hơn mặt đất 0,1÷0,36m
Kết quả phân tích nước của tầng kết hợp với tài liệu đo địa vật lý trong vùng cho thấy đường tổng độ khoáng hoá M=1 g/l của tầng gần trùng với đường M=1 g/l của tầng chứa nước Pleistocen Phía Bắc Thái Bình là vùng nước nhạt, phía Nam là vùng nước lợ đến mặn
Đánh giá chung: Tầng chứa nước Neogen tuy thuộc tầng giầu nước
nhưng điều kiện thuỷ hoá phức tạp Riêng đối với đứt gãy Vĩnh Ninh, các lỗ khoan thí nghiệm đều cho thấy chất lượng nước tốt đáp ứng tiêu chuẩn cấp nước cho sinh hoạt, độ tổng khoáng hoá M=0,37÷0,7g/l, pH=8,3÷8,5 đặc trưng cho kiểu nước Bicacbonat Nhiệt độ của nước cao 34 ÷ 53P
o
P nên rất có thể đứt gãy này là kênh dẫn đưa nước từ dưới sâu lên
Trang 193 Các thể địa chất nghèo nước:
Bao gồm các trầm tích hạt mịn, các lớp sét, sét bột, bột sét trong các hệ tầng Hải Hưng, Vĩnh Phúc và hệ tầng Neogen
Hệ tầng Neogen (N):
Bao gồm các trầm tích hạt mịn, các lớp sét kết, bột kết, nén ép mạnh, phân lớp mỏng, gắn kết yếu, là những nhịp trầm tích sau cùng của hệ tầng Neogen với trầm tích đệ tứ Các thể địa chất này có diện phân bố rộng khắp vùng Hầu hết các lỗ khoan vào trong Neogen đều gặp các trầm tích này
Chúng có chiều dày từ 7m (lỗ khoan 5803 − Đông Hưng) đến 32,8m (lỗ khoan 701A − Vũ Thư) Chiều dày trung bình 15,8m
Trang 201.2 Hiện trạng kinh tế − xã hội tỉnh Thái Bình
1.2.1 Dân số và lao động
a Dân số
Tính đến 31/12/2008 tổng dân số toàn tỉnh là 1.861.000 người Trong
đó dân số thành thị 172.000 người chiếm 9,24% tổng dân số , dân số nông thôn 1.689.000 người chiếm 90,76% tổng dân số , dân số trong lưu vực có nguồn sống chính là làm nông nghiệp Phân theo giới tính 889.000 nam giới, 972.000 là phụ nữ
Mật độ dân số bình quân 1.203 người/kmP
2 P cao hơn 4,5 lần so với mật
độ bình quân của cả nước (260 người/kmP
2 P), mật độ dân số cao nhất tập trung
ở thành phố Thái Bình 4.087 người/kmP
2 P, thấp nhất là huyện Tiền H ải 964 người/kmP
( Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Thái Bình năm 2008)
Như vậy mật độ dân số của tỉnh Thái Bình là rất cao so với cả nước và phân bổ khá đồng đều giữa các huyện, yếu tố này vừa có tác động tích cực
Trang 21vừa có tác động tiêu cực đến quá trình phát triển kinh tế xã hội nói chung và lĩnh vực cấp nước và vệ sinh môi trường nói riêng Vì vậy, cần quan tâm đến việc phân bố các cụm dân cư để bố trí các loại hình công trình phù hợp trong quá trình tính toán các giải pháp quy hoạch cấp nước sạch và vệ sinh môi
trường nông thôn
b Lao động
Tổng số người trong độ tuổi lao động 997.500 người chiếm 53,6% so với tổng dân số, từ năm 2005 đến nay số người trong độ tuổi lao động tăng bình quân mỗi năm 5.000 người đây là áp lực lớn về giải quyết việc làm Lao động khu vực nông lâm nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn 63,77%, trong công nghiệp − xây dựng 21,3% và khu vực dịch vụ 14,93% Cơ cấu sử dụng lao động có chiều hướng tăng tỷ trọng lao động trong các ngành công nghiệp xây dựng và giảm tương đối trong khu vực nông nghiệp
Đa số lực lượng lao động đã tốt nghiệp cấp II và cấp III , nhìn chung số lao động có trình độ văn hoá tương đối cao so với các tỉnh khác , nhưng đa số lại không được đào tạo nghề , lao động đã qua đào tạo chiếm 18,5% ở vào mức trung bình khá so với cả nước (Trong đó đại học 4%, trung học 5%, công nhân kỹ thuật và nghiệp vụ 9,5%), lao động chưa qua đào tạo chiếm 81,5% Với thực tế như trên tình trạng thiếu lao động kỹ thuật kể cả kỹ thuật giỏi ở các ngành nghề kinh tế , để áp dụng các công nghệ tiên tiến vào trong sản xuất, vấn đề đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật có trình độ là một yêu cầu cần thiết
Đời sống vật chất và tinh thần của dân cư trong tỉnh từng bước được cải thiện đáng kể , điều kiện ăn ở , đi lại, học hành, chữa bệnh , vui chơi giải trí, chất lượng giáo dục và dịch vụ y tế đã đượ c nâng lên một bước , nhất là
ở những xã có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ thuần nông sang phát triển
Trang 22đa dạng ngành nghề , lấy công nghiệp chế biến , tiểu thủ công nghiệp , ngành nghề truyền thống làm hạt nhân , bộ mặt nông thôn trong lưu vực có thay đổi lớn
Nhiều trung tâm văn hoá , mạng lưới dịch vụ , hệ thống đường giao thông nông thôn, mạng lưới điện thắp sáng có bước phát triển nhanh đã góp phần nâng cao dân trí và tinh thần cho người dân
1.2.2 Tình hình kinh tế - xã hội
1 Giao thông
Nhìn chung, mạng lưới giao thông nội tỉnh Thái Bình khá thuận lợi, đã tạo điều kiện tốt cho phát triển kinh tế Từ Thái Bình có thể đi tới các tỉnh
khác nhờ hệ thống giao thông đường bộ, đường thuỷ
* Hệ thống giao thông đường bộ
Những năm gần đây, bằng các dự án hỗ trợ phát triển kinh tế − xã hội của Trung ương cùng vốn huy động trong nhân dân, địa phương đã chú trọng đến việc sửa chữa, nâng cấp và mở các tuyến đường mới trên địa bàn toàn tỉnh
Tổng số km đường bộ là 5.614 km trong đó đường quốc lộ 98 km (chiếm 1,75%), tỉnh lộ 312 km (chiếm 5,7%), còn lại là đường giao thông nông thôn là vùng có mật độ lưới đường lớn nhất trong vùng đồng bằng sông Hồng (trừ Hà Nội) 1,65 km/kmP
2 Pgấp 5 lần mật độ lưới đường trung bình toàn quốc Các trục đường chính:
− Quốc lộ số 10 chạy dọc từ Bắc xuống Nam của lưu vực dài khoảng 41
km là trục giao thông chính nối liền Thái Bình với Hải Phòng, Nam Định, năm 2001 cầu Tân Đệ đưa vào hoạt động đây là tuyến vận chuyển hàng hoá
quan trọng từ cảng Hải Phòng về các tỉnh Bắc Trung Bộ
− Quốc lộ 39 nối liền cảng Diêm Điền vào mạng quốc lộ số 10 ở Gia Lễ
Trang 23− Tỉnh lộ 217 xuất phát từ ngã ba Đọ chạy qua thị trấn Quỳnh Côi rồi nối với quốc lộ 5
− Tỉnh lộ 39B từ Thành phố Thái Bình sang thành phố Hải Phòng
− Ngoài ra còn các mạng lưới đường liên huyện, liên xã khá dày đặc nối liền các khu dân cư với mạng lưới quốc lộ, tỉnh lộ
* Hệ thống giao thông đường thuỷ
Hệ thống sông ngòi tương đối thuận lợi cho phát triển giao thông đường thuỷ nội địa, nhất là sông Hồng, sông Trà Lý, sông Luộc Ngoài ra, hệ thống giao thông đường biển cũng có nhiều thuận lợi và cảng Diêm Điền có khả năng phát triển trở thành cảng quốc tế với năng lực bốc xếp 200.000 tấn vào năm 2005
Bốn cửa sông lớn thuộc hệ thống sông Hồng chảy ra biển: Cửa Ba Lạt, cửa Trà Lý, cửa Diêm Điền và cửa Thái Bình đều ở trên lãnh thổ của tỉnh Thái Bình, cửa ngõ của thủ đô Hà Nội đi bằng đường sông từ biển vào Như vậy, giao lưu của Thái Bình với các tỉnh trong nước và quốc tế bằng đường thuỷ khá dễ dàng
Tuy nhiên, Thái Bình chưa có hệ thống giao thông đường sắt và giao
thông hàng không, đây là một thiệt thòi lớn cho sự phát triển kinh tế của tỉnh
U
Nhận xét:U Thái Bình có một hệ thống giao thông phát triển, lưu thông thuận tiện, đang có xu thế kéo theo sự hình thành các khu dân cư tập trung dọc theo các trục đường, do đó việc giải quyết nguồn nước sạch và vệ sinh môi nông thôn cho dân cư sẽ phức tạp nhưng tập trung hơn
2 Hệ thống thuỷ lợi
Thái Bình có 2 hệ thống thuỷ lợi Bắc − Nam khá lớn với hệ thống thuỷ nông đa dạng với nhiều lưu vực tưới khác nhau Với hệ thống cơ sở vật chất
Trang 24đó, Thái Bình đã đưa diện tích sản xuất nông nghiệp từ (40.000÷50.000) ha năm 1960 lên gần 90.000 ha trong những năm gần đây trong đó có 83.000 ha lúa 2 vụ phục vụ đắc lực sự phát triển kinh tế nông nghiệp, nâng cao đời sống dân sinh, đưa năng suất từ (3÷ 4) tấn thóc/ha/năm lên (9÷10) tấn thóc/ha/năm Tổng sản lượng lương thực từ (250.000÷300.000) tấn lên 1 triệu tấn /năm, cải thiện và thay đổi đời sống xã hội nông thôn
3 Giáo dục
Được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng và Chính phủ cùng với sự nỗ lực của các cấp các ngành trong tỉnh, tình hình giáo dục của Thái Bình đã phát triển mạnh trong những năm qua Theo số liệu năm 2008, toàn tỉnh có
907 trường học bao gồm 299 trường mẫu giáo, 293 trường cấp I, 274 trường cấp II, 41 trường cấp III, học sinh các cấp tương ứng là 61.462 – 122.600 – 103.400 – 67.000 Thái Bình có 3 trường vào top 100 trường PTTH hàng đầu Việt Nam: trường Chuyên Thái Bình xếp hạng 21, trường Bắc Kiến Xương xếp hạng 38, trường Nguyễn Đức Cảnh xếp hạng 87
Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn có 3 trường trung học chuyên nghiệp; 2 trường đại học, 4 trường cao đẳng là những hạt nhân trong phong trào nâng cao dân trí của tỉnh
Các số liệu về tình hình giáo dục của tỉnh Thái Bình được thể hiện trong các bảng sau:
Trang 25Bảng 1.7: Bảng số liệu ở khối mẫu giáo mầm non
( Nguồn: niên giám thống kê tỉnh Thái Bình năm 2008)
Bảng 1.8: Bảng số liệu ở khối học phổ thông
Trang 26( Nguồn: niên giám thống kê tỉnh Thái Bình năm 2008)
Bảng 1.9: Bảng số liệu ở khối trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học
( Nguồn: niên giám thống kê tỉnh Thái Bình năm 2008)
Trang 274 Y tế
Mạng lưới y tế của tỉnh phát triển mạnh mẽ, rộng khắp, cơ sở vật chất tương đối đầy đủ tạo điều kiện thuận lợi cho công tác chăm sóc sức khoẻ cho cộng đồng, có điều kiện thuận lợi để lồng ghép các chương trình y tế với công tác cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
Tình hình y tế tỉnh Thái Bình đựơc thể hiện trong bảng 1.10
Bảng 1.10: Tình hình y tế tỉnh Thái Bình
Trang 28Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp khu vực ngoài quốc doanh chiếm tỷ trọng lớn, khu vực quốc doanh có tỷ trọng thấp, công nghiệp Trung ương còn nhỏ bé, công nghiệp liên doanh với nước ngoài phát triển kém hiệu quả
Cơ cấu kinh tế có xu hướng chuyển dịch sang phát triển ngành công nghiệp tuy nhiên vai trò của công nghiệp đối với nền kinh tế quốc dân còn nhỏ, tỷ trọng ngành công nghiệp trong cơ cấu kinh tế mới đạt 14,75 Tổng giá trị sản xuất ngành công nghiệp là 12.238 tỷ đồng
Trang 29Bảng 1.11: Sản phẩm chủ yếu của ngành công nghiệp
Trang 30Đầu tư nước ngoài ,, 10 549
3
11 775
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Thái Bình năm 2008
1.2.3 Phương hướng và các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội
Theo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh Thái Bình đến năm 2020 của UBND tỉnh, phấn đấu đưa kinh tế Thái Bình phát triển nhanh, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, có mạng lưới kết cấu hạ tầng kinh tế − xã hội từng bước hiện đại, hệ thống đô thị tương đối phát triển, các lĩnh vực văn
Trang 31hóa – xã hội tiên tiến, đưa Thái Bình trở thành một trong những tỉnh có trình độ phát triển ở mức trung bình của vùng đồng bằng sông Hồng và cả nước
1 Phương hướng phát triển kinh tế − xã hội
a Phát triển nông, lâm, thủy sản
Dự kiến giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp tăng bình quân 4,5%/năm giai đoạn 2011 – 2015 và 3,3%/năm giai đoạn 2016 – 2020 Trong
cơ cấu sản xuất nông nghiệp, tỷ trọng của ngành trồng trọt giảm, tăng dần tỷ trọng các ngành chăn nuôi, thủy sản
b Phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp có thị trường ổn định (trong nước và ngoài nước), hiệu quả cao, các ngành công nghiệp có thế mạnh về nguồn nguyên liệu, sử dụng nhiều lao động
Khuyến khích các doanh nghiệp tăng cường đầu tư chiều sâu nhằm trang bị công nghệ hiện đại, thiết bị đồng bộ
Phấn đấu nhịp độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011 – 2015 đạt 20%/năm, giai đoạn 2016 – 2020 đạt 17%/năm
Kết hợp phát triển công nghiệp tập trung ở các khu công nghiệp, cụm công nghiệp với phát triển công nghiệp, tiểu, thủ công nghiệp ở các làng nghề
c Phát triển dịch vụ
Đẩy mạnh phát triển thương mại – dịch vụ, đáp ứng nhu cầu đa dạng của sản xuất kinh doanh và đời sống Dự kiến tổng kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn tỉnh năm 2015 đạt 950 triệu USD, năm 2020 đạt 2.300 triệu USD
Trang 32Phát triển du lịch trở thành nghành kinh tế quan trọng của tỉnh Phát triển mạnh du lịch văn hóa gắn với các lễ hội …
Tăng cường công tác huy động vốn tại địa phương của các chi nhánh ngân hang thương mại quốc doanh và các tổ chức tín dụng khác; mở rộng đầu
tư vốn cho các thành phần kinh tế
d Văn hóa – xã hội
Thực hiện tốt chương trình dân số - kế hoạch hóa gia đình Xây dựng trung tâm đào tạo nghề quy mô vùng để đào tạo nghề cho Tỉnh và các địa phương lân cận Cơ cấu lao động được thay đổi mạnh theo hướng giảm mạnh lao động sản xuất nông nghiệp, tăng nhanh lao động công nghiệp – xây dựng, lao động dịch vụ Dự kiến đến năm 2020 tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động khoảng 67%;
Đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động giáo dục – đào tạo;
Tăng cường quản lý nhà nước về văn hóa thông tin
Tăng kim ngạch xuất khẩu từ 98 triệu USD năm 2005 lên 400 triệu USD năm 2015 và năm 2020 khoảng 800÷850 triệu USD;
Trang 33Tăng thu ngân sách nhằm đảm bảo các nhiệm vụ chi của Tỉnh và từng bước phấn đấu để có tích lũy Phấn đấu tỷ lệ thu ngân sách đạt khoảng 17% GDP vào năm 2015 và 19% năm 2020;
Tăng nhanh đầu tư toàn xã hội, thu hút mạnh các nguồn vốn bên ngoài, thời kỳ 2011 – 2020 tổng vốn đầu tư toàn xã hội dự kiến đạt khoảng 40÷41% GDP;
GDP bình quân đầu người đạt 28 triệu đồng năm 2015 và 51,2 triệu đồng năm 2020
b Về phát triển xã hội
Tỷ lệ tăng dân số chung đạt 0,78% thời kỳ 2006 – 2015; khoảng 0,65% thời kỳ 2016 – 2020 Nâng cao chất lượng nguồn lao động, giải quyết việc làm; giảm tỷ lệ thất nghiệp thành thị xuống 2,5% và tỷ lệ thời gian sử dụng lao động ở nông thôn khoảng 88 ÷ 89% vào năm 2020 Phấn đấu giảm tỷ lệ
hộ nghèo xuống dưới 3% vào năm 2020;
Đến năm 2020 tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 60%; trong đó qua đào tạo nghề là 42%; nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện;
Nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe nhân dân và các hoạt động văn hóa, thể dục thể thao, phát thanh và truyền hình trên toàn Tỉnh Phấn đấu đến năm 2020: 90% gia đình; 65% thôn, làng; 90% cơ quan, trường học đạt chuẩn văn hóa
c Về tài nguyên và môi trường
Có chính sách quản lý, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, nhất là đất đai, nguồn nước, khoáng sản, rừng ngập mặn; phòng ngừa, xử lý có hiệu quả các hành vi gây ô nhiễm môi trường, quan tâm đầu tư cho công tác thu
gom, tái chế và xử lý chất thải;
Trang 34Tăng cường giáo dục, đào tạo nhằm nâng cao nhận thức về quản lý và bảo vệ môi trường
U
Nhận xét: UVới tiềm năng phát triển kinh tế hiện có là điều kiện thuận lợi để tạo ra kinh phí đầu tư trong việc cải tạo môi trường nói chung, cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh nói riêng
1.3 Khái quát về các công trình cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn tỉnh Thái Bình
1.3.1 Giới thiệu khái quát về các công trình cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn ở tỉnh Thái Bình
Đến nay, sau nhiều năm thực hiện Chương trình nước sạch trong tỉnh
đã đạt được những thành công nhất định, tỷ lệ số dân tiếp cận và sử dụng nước sạch ngày càng tăng, tăng theo diện rộng, chiều sâu về cả lượng và chất Những nơi xây dựng trạm cấp nước tập trung đều được bà con nhân dân nhiệt tình hưởng ứng và đón nhận
Các công trình cấp nước tập trung hiện nay chủ yếu phục vụ cho nhu cầu sản xuất, dịch vụ và sinh hoạt của các thị trấn và khu tập trung dân cư do
Nhà nước và nhân dân đầu tư xây dựng Tổng số công trình cấp nước tập trung lớn nhỏ đang hoạt động tính đến hết năm 2010 là 51 hệ thống Mỗi công trình phục vụ khoảng 200÷5.000 người, đây là phương án cấp nước tiên tiến
và có hiệu quả cao nhất hiện nay
Các công trình cấp nước tập trung được phân bổ đều về các huyện trong tỉnh
− Huyện Quỳnh Phụ: 3 công trình;
− Huyện Hưng Hà: 4 công trình;
− Huyện Đông Hưng: 6 công trình;
Trang 35− Huyện Thái Thụy: 8 công trình;
− Huyện Tiền Hải: 11 công trình;
− Huyện Kiến Xương: 11 công trình;
− Huyện Vũ Thư: 8 công trình
Số lượng công trình, quy mô và hiện trạng các công trình cấp nước tập trung nông thôn của tỉnh Thái Bình được thể hiện trong phụ lục
1.3.2 Nhận xét chung về những hạn chế của công tác quản lý, khai thác các công trình cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn tỉnh Thái Bình
1 Những hạn chế trong quản lý khai thác
Công tác quản lý và vận hành các trạm cấp nước tập trung nông thôn tỉnh Thái Bình đến nay vẫn còn nhiều bất cập và chưa được thực hiện tốt, thể hiện ở những mặt sau:
− Với công trình cấp nước hộ gia đình: số lượng công trình cấp nước
hộ gia đình trong tỉnh là rất lớn, bao gồm giếng khoan, giếng khơi, bể nước mưa và hàng năm số lượng này tăng lên là rất đáng kể đặc biệt là giếng khoan Điều này chứng tỏ nhu cầu nước sạch của nhân dân là rất lớn Nhưng việc khoan giếng và sử dụng chưa được quản lý chặt chẽ gây lãng phí rất lớn nguồn nước ngầm chưa kể việc ô nhiễm nguồn nước này khi các hố khoan không sử dụng không được chôn lấp cẩn thận
− Với công trình cấp nước tập trung: Quản lý công trình sau đầu tư chưa thống nhất, do vậy hiệu quả khai thác sử dụng công trình chưa cao
− Công tác vệ sinh môi trường nông thôn chưa được quan tâm chú trọng đầu tư đúng mức, đầu tư cho công tác giám sát − đánh giá kết quả về tỷ
lệ cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn còn hạn chế Các công trình thu gom rác thải chưa được đầu tư
Trang 36− Công tác tuyên truyền còn nhiều hạn chế, chưa có được sự phối hợp với ban ngành liên quan Việc kết hợp giữa các ban ngành là thực sự cần thiết
mà ở đây trung tâm nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn là trọng tâm, trung tâm phát thanh và truyền hình, trung tâm Y tế dự phòng, Hội liên hiệp phụ nữ tỉnh, Sở Giáo dục, Tỉnh Đoàn, là cầu nối, đẩy mạnh tuyên truyền, tạo điều kiện cho nhân dân dễ dàng tiếp cận với mục đích Chương trình
2 Những hạn chế trong cơ chế chính sách:
− Với công trình cấp nước tập trung: Nguồn vốn hỗ trợ từ Chương trình mục tiêu Quốc gia hàng năm cho tỉnh còn ít, nguồn ngân sách này lại phân bổ cho nhiều đơn vị khác nhau sử dụng Những công trình đầu tư xây dựng phải chờ vốn trong vòng nhiều năm mới đủ tổng mức đầu tư theo thiết kế để xây dựng Công trình sẽ phải xây dựng từng hạng mục kế tiếp nhau trong nhiều năm khiến những phần xây dựng trước đó không được bảo dưỡng, tu sửa nên mau chóng xuống cấp, lỗi thời, không tương thích với phần xây lắp công nghệ mới Với sự biến động của thị trường, giá nguyên nhiên vật liệu cũng biến đổi theo, cùng với sự trượt giá của đồng nội tệ nên những công trình từ khi khởi công xây dựng đến khi đưa vào hoạt động phải nhiều lần thay đổi tổng mức đầu tư gây tốn kém ngân sách Nhà nước
− Thu nhập của đa số nông dân thấp, mức hỗ trợ của Nhà nước cho công trình cấp nước tập trung là 60% còn thấp, chưa hấp dẫn nông dân tham gia đóng góp và hưởng lợi, nên việc huy động vốn đối ứng trong dân để xây dựng các công trình cấp nước rất khó khăn
− Vốn đầu tư của nhà nước cho chương trình mục tiêu nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn hàng năm nhỏ (nhỏ hơn 8 tỷ đồng/năm), việc xây dựng các công trình cấp nước tập trung với quy mô xã tới trên 12 tỷ đồng, nên quy mô công trình manh mún, hiệu quả đầu tư không cao
Trang 37− Hiện nay tỉnh chưa có kinh phí hỗ trợ xây dựng các công trình cấp nước và vệ sinh nông thôn
− Kinh phí sự nghiệp quá thấp nên các hoạt động truyền thông và các hoạt động liên quan đến mục tiêu vệ sinh của Chương trình còn gặp nhiều khó khăn
Trang 38CHƯƠNG 2:
CƠ SỞ KHOA HỌC NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TRÌNH CẤP NƯỚC TẬP TRUNG NÔNG THÔN THÁI BÌNH 2.1 Tổng quan về tình hình khai thác sử dụng nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
2 1.1 Khái niệm về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
− Quan niệm về nước sạch
Theo quan niệm và tiêu chuẩn đánh giá của tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thì nước sạch là nước không mùi, không màu, không vị, không chứa các chất tan, các loại vi khuẩn không nhiều quá mức cho phép và tuyệt đối không có vi khuẩn gây bệnh Tiêu chuẩn Quốc tế là các tiêu chuẩn được WHO ban hành năm 1984 quy định về 4 yêu cầu là: Chất vô cơ tan, vi sinh vật, chất hữu cơ và vật lý
Ở Việt Nam nước sạch được định nghĩa và quy định tại điều 3 của Luật Tài nguyên nước đã được Quốc hội thông qua năm 1998 “Nước sạch là nước đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng nước sạch theo tiêu chuẩn chất lượng nước sạch Việt Nam” Tiêu chuẩn chất lượng nước Việt Nam phù hợp với tiêu chuẩn của tổ chức Y tế Thế giới năm 1984, được Bộ Y tế ban hành theo Quyết định số 1329/2002/BYT-QĐ ngày 18/04/2002 về tiêu chuẩn vệ sinh nước ăn uống với 112 chỉ tiêu của 4 nhóm gồm: Chỉ tiêu cảm quan và thành phần vô cơ; Hàm lượng các chất hữu cơ; Hoá chất bảo vệ thực vật và hóa chất khử trùng, sản phẩm phụ; Mức nhiễm xạ và vi sinh vật trong đó có 15 chỉ tiêu
ở cấp độ giám sát A, là những chỉ tiêu phải được kiểm tra thường xuyên
Trang 39Bảng 2.1: Các chỉ tiêu giám sát nước sạch cấp độ A
(Theo Quyết định 1329/2002/BYT-QĐ ngày 18/04/2002 của Bộ y tế về tiêu chuẩn vệ sinh nước sinh hoạt)
(Theo Tiêu chuần của WHO và các nước phát triển)
Trang 40STT Tên chỉ tiêu Đơn vị Tiêu chuẩn WHO phát Các nước triển