1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP TIÊU NƯỚC CỦA HỆ THỐNG THUỶ LỢI BẮC ĐUỐNG PHỤC VỤ ĐA MỤC TIÊU

151 148 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 151
Dung lượng 18,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính những chuyển biến trên đòi hỏi phải nghiên cứu giải pháp tiêu nước của hệ thống thuỷ lợi Bắc Đuống cho phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội để trở thành tỉnh công nghiệp

Trang 1

NGUYỄN LƯƠNG BẰNG

NGHIÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP TIÊU NƯỚC CỦA HỆ THỐNG THUỶ LỢI

BẮC ĐUỐNG PHỤC VỤ ĐA MỤC TIÊU

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT

Hà Nội – 2010

Trang 2

NGUYỄN LƯƠNG BẰNG

NGHIÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP TIÊU NƯỚC CỦA HỆ THỐNG THUỶ LỢI

BẮC ĐUỐNG PHỤC VỤ ĐA MỤC TIÊU

Chuyên ngành: Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước

Mã số: 60 – 62 - 30

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT

Hà Nội – 2010

Trang 3

Đuống phục vụ đa mục tiêu” được hoàn thành ngoài sự phấn đấu nỗ lực của bản

thân tác giả còn có sự chỉ bảo hướng dẫn nhiệt tình của các thầy giáo, cô giáo và các đồng nghiệp bạn bè

Trước hết, tôi xin được chân thành cảm ơn Trường Đại học Thủy lợi, các thầy giáo cô giáo trong khoa Kỹ thuật Tài nguyên nước và các thầy cô giáo trong

Bộ môn Kỹ thuật Tài nguyên nước đã truyền đạt những kiến thức chuyên môn trong thời gian học tập

Đắc biệt, tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo hướng dẫn PGS.TS

Phạm Việt Hòa đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Xin chân thành cảm ơn Công ty khai thác công trình thủy Bắc Đuống và các

cơ quan đơn vị khác đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian thu thập tài liệu và làm luận văn

Xin cảm ơn đến đồng nghiệp và bạn bè đã đóng góp những ý kiến quý báu cho tôi hoàn chỉnh luận văn

Cuối cùng xin cảm tạ tấm lòng của những người thân trong gia đình đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Người viết luận văn

Nguyễn Lương Bằng

Trang 4

I Tính cấp thiết của đề tài 1

III Nội dung và phương pháp nghiên cứu 2

1.1.3 Đặc điểm khí tượng thủy văn 6

1.2.3 Quá trình phát triển kinh tế 12

1.2.2 Hiện trạng công trình tiêu 24

1.4.1 Chất lượng nước hệ thống thủy nông Bắc Đuống 38 1.4.2 Chất lượng nước trên các kênh thải tại các khu công nghiệp, làng

1.4.3 Đánh giá hiện trạng chất lượng nước mặt trong tỉnh 39

Chương 2 Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn để đưa ra các giải pháp tiêu nước của hệ thống thuỷ lợi Bắc Đuống 41

2.1.1 Phương án sử dụng đất trong hệ thống thủy lợi Bắc Đuống 41 2.1.2 Phương hướng phát triển kinh tế - xã hội của vùng 42

Trang 5

1 Chọn trạm mưa tính toán tiêu 45

3 Các tài liệu cơ bản dùng trong tính toán tiêu 46 2.2.2 Xác định nhu cầu tiêu nước của các ngành kinh tế trong hệ thống

2.3.1 Đánh giá tồn tại của các công trình tiêu 52

2.3.3 Nguyên nhân chính chưa đáp ứng được yêu cầu tiêu theo quy hoạch

2.3.4 Hiện trạng quy trình vận hành một số công trình trên hệ thống

2.3.5 Yêu cầu phát triển của hệ thống 56

Chương 3 Nghiên cứu, lựa chọn giải pháp tiêu nước hợp lý cho các ngành kinh tế của hệ thống thuỷ lợi Bắc Đuống 69

3.1.1 Tổng quan về mô hình tính toán và lựa chọn mô hình nghiên cứu 69 3.1.2 Giới thiệu về mô hình MIKE 11 70

3.2.1 Xác định lĩnh vực và vùng nghiên cứu của mô hình thủy lực 77

Trang 6

3.2.6 Công trình trên sông 80

3.3.2 Tài liệu khí tượng thủy văn 83

3.6.1 Vùng Bắc Đuống thuộc Hà Nội 91 3.6.2 Vùng Bắc Đuống thuộc Bắc Ninh 95

3.3.1 Đánh giá hiệu quả kinh tế của phương án chọn 104 3.3.2 Đánh giá tác động của phương án chọn đến môi trường, kinh tế -

Tài liệu tham khảo Phụ lục

Trang 7

MỞ ĐẦU

Hệ thống thuỷ lợi Bắc Đuống nằm sát cửa ngõ phía bắc của TP Hà Nội, có TP Bắc Ninh và Thị xã Từ Sơn đang trong quá trình phát triển thành đô thị hiện đại Do vậy hệ thống này đã và đang chịu tác động rất mạnh của quá trình công nghiệp hoá và

đô thị hoá nên yêu cầu tiêu nước rất cao

Quá trình đô thị hoá tăng nhanh, dân số tăng, nhiều khu công nghiệp mới được xây dựng Sử dụng diện tích nông nghiệp có nhiều thay đổi, diện tích trồng lúa giảm, diện tích đồng trũng đã được chuyển sang nuôi trồng thuỷ sản Mức đảm bảo tiêu cho khu công nghiệp và đô thị cần phải cao hơn phục vụ sản xuất nông nghiệp Chính những chuyển biến trên đòi hỏi phải nghiên cứu giải pháp tiêu nước của hệ thống thuỷ lợi Bắc Đuống cho phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội để trở thành tỉnh công nghiệp vào năm 2020 Lợi dụng tổng hợp nguồn nước tối đa nhưng đồng thời vẫn phải đảm bảo phát triển nguồn nước một cách bền vững là tiêu chí được đặt lên hàng đầu

Mâu thuẫn giữa yêu cầu tiêu và khả năng đáp ứng yêu cầu tiêu trong hệ thống này ngày càng căng thẳng

Tình hình úng ngập của vùng nghiên cứu phụ thuộc vào lượng mưa vụ mùa kết hợp với lũ sông Mưa nội đồng lớn cộng với mực nước sông lên cao, ở mức nước lũ xấp xỉ hoặc trên báo động 3 sẽ xẩy ra tình trạng nước trong đồng dâng cao, việc tự chẩy

bị ngăn chặn, lúc này chỉ tiêu bằng động lực là chính, song năng lực tiêu lại hạn chế, nếu gặp năm mưa lớn, lũ cao sẽ gây úng ngập thường xuyên Xu thế của ngập úng là

do số ngày mưa lên tới 15 - 20 ngày, trong đó có tới 9, 10 ngày có mưa dông với tổng lương mưa đáng kể, thường gây úng và lượng mưa tập trung vào cuối tháng 7 lúc lúa mới cấy cây còn thấp Một số năm úng điển hình trong vùng là các năm 1994, 1996,

1997, 2001, 2003, 2004 và 2005

Trang 8

Từ những lý do trên cho thấy vấn đề: “Nghiên cứu các giải pháp tiêu nước của

hệ thống thuỷ lợi Bắc Đuống phục vụ đa mục tiêu” là rất cần thiết

Nghiên cứu đề xuất các giải pháp tiêu nước hợp lý cho hệ thống thủy lợi Bắc Đuống phục vụ cho các ngành kinh tế góp phần cải tạo môi trường và phát triển bền vững kinh tế xã hội, nâng cao đời sống nhân dân

U

Nội dung:

+ Nghiên cứu tổng quan về hệ thống thuỷ lợi Bắc Đuống

+ Nghiên cứu cơ sở khoa học, thực tiễn và để đề ra các giải pháp tiêu nước hợp lý của hệ thống thuỷ lợi Bắc Đuống

+ Sử dụng phương pháp và công cụ tiên tiến để lựa chọn giải pháp tiêu nước hợp

lý của hệ thống thủy lợi Bắc Đuống

+ Sơ bộ đánh giá hiệu quả kinh tế và tác động môi trường của phương án

- Tiếp cận trực tiếp ngay trên đối tượng nghiên cứu theo quan điểm của hệ thống

- Tiếp cận theo quan điểm tổng hợp đa mục tiêu

- Tiếp cận mục tiêu và chiến lược phát triển bền vững tài nguyên nước

- Tiếp cận có sự tham gia của cộng đồng trong phát triển nguồn nước

+ Phương pháp nghiên cứu

Trang 9

- Kế thừa áp dụng có chọn lọc các sản phẩm khoa học, công nghệ hiện có trên thế giới và ở Việt Nam

- Phương pháp chuyên gia

- Điều tra, thu thập số liệu về hiện trạng công trình thuỷ lợi thông qua các tài liệu, các niên giám

- Phân tích đánh giá khả tiêu nước của hệ thống thuỷ lợi Bắc Đuống

- Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn để đưa ra các giải pháp nâng cao khả năng tiêu nước của hệ thống Bắc Đuống

- Nghiên cứu lựa chọn các giải pháp tiêu nước cho các ngành kinh tế của hệ thống Bắc Đuống

- Sơ bộ đánh giá hiệu quả kinh tế và tác động môi trường của phương án được lựa chọn

Trang 10

Chương 1 NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG

THỦY LỢI BẮC ĐUỐNG

1.1.1 Vị trí giới hạn

Hệ thống thuỷ lợi Bắc Đuống thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ, nằm gọn trong châu thổ sông Hồng, có vị trí địa lý nằm kẹp giữa các con sông lớn như

+ Sông Hồng, sông Đuống ở phía Tây Nam và Nam

+ Sông Cầu ở phía Bắc và phía Đông

+ Sông Cà Lồ ở phía Tây

Vùng có toạ độ địa lý nằm trong khoảng:

Tính đến năm 2008, vùng Bắc Đuống có tổng diện tích tự nhiên là 71.363,1ha trong đó đất sản xuất nông nghiệp chiếm 36.870,5ha, diện tích đất canh tác là 36.458,7ha

Trang 11

Hình 1.1 BẢN ĐỒ KHU VỰC TIÊU BẮC ĐUỐNG

Trang 12

1 1.2 Đặc điểm địa hình

Nhìn chung địa hình vùng nghiên cứu thấp dần từ Tây sang Đông Từ Vĩnh Thanh đến Xuân Nộn (tức là dọc Quốc lộ 3 từ Hà Nội đi) hất về phía Tây của khu vực

có cao độ từ 7m đến trên 10m thuộc lưu vực Đầm Thiếp

Phần lưu vực sông Thiếp có cao độ từ +6m ÷ +11m, phổ biến ở cao độ +8m thuộc huyện Mê Linh, Đông Anh, Gia Lâm Dọc sông Thiếp cao độ địa hình biến thiên

từ +11m ÷ +6m trên chiều dài khoảng 18km Do có độ dốc lớn nên khi mưa lũ nước tập trung tiêu thoát nhanh và tiêu tự chảy khá thuận lợi, đổ về sông Ngũ Huyện Khê

Vùng có cao độ thấp hơn của hệ thống nằm trong địa bàn tỉnh Bắc Ninh, thuộc vùng sông Ngũ Huyện Khê từ Long Tửu tới Đặng Xá Trên chiều dài sông Ngũ Huyện Khê khoảng 33km, cao độ phổ biến từ +6m ÷ +2,5m, có độ dốc nhỏ, do đó trong mùa mưa lũ thì mực nước trong sông Ngũ Huyện Khê chênh lệch từ Long Tửu tới Đặng Xá

là không đáng kể, và mặt nước sông gần như phẳng và được bao bọc bởi 2 bờ đê sông tạo nên một hồ chứa nước điều tiết cho quá trình tiêu thoát lũ

1 Mạng lưới các trạm thủy văn

- Các trạm đo các yếu tố khí hậu và mưa trong hệ thống và khu vực lân cận có khá nhiều như: Đa Phúc, Đông Anh, Gia Lâm, Yên Phong và Đáp Cầu (Bắc Ninh), tham khảo thêm tài liệu của trạm Từ Sơn Hầu hết các trạm đều có tài liệu từ năm 1960 đến nay (một số trạm có tài liệu dài hơn từ năm 1936 đến nay)

- Các trạm đo mực nước trong hệ thống có Liên Mạc, Hà Nội, Xuân Quan, Thượng Cát, Bến Hồ, Phú Cường, Phúc Lộc Phương, Đáp Cầu, Hiền Lương với tài liệu từ năm 1957 đến nay

Trang 13

- Tổng số giờ nắng trung bình nhiều năm khá cao đạt từ 1561 ÷ 1660 giờ/năm Hai tháng V và VII là các tháng có số giờ nắng cao nhất trong năm, mỗi ngày có tới 6,5

÷ 6,9 giờ nắng Tháng có số giờ nắng ít nhất là tháng II và III, mỗi ngày có bình quân

từ 1,3 ÷ 1,5 giờ/ngày

- Tổng lượng bốc hơi trung bình nhiều năm xấp xỉ 1000mm/năm Tháng có lượng bốc hơi lớn nhất cũng chỉ đạt khoảng 100mm/tháng Lượng bốc hơi lớn nhất thường rơi vào từ tháng V ÷ VII, tháng II, III là thời kỳ có lượng bốc hơi nhỏ

- Độ ẩm không khí vùng nghiên cứu đạt từ 81 ÷ 82% Thấp nhất vào tháng XII và cao nhất thường vào tháng III, IV

- Hướng gió thịnh hành trong tỉnh vào mùa hè là gió Nam và Đông Nam, còn vào mùa đông hướng gió thịnh hành là gió mùa Đông Bắc Tốc độ gió trung bình toàn vùng đạt khoảng 1,5 ÷ 2,0 m/s Tốc độ gió lớn nhất quan trắc được tại trạm Bắc Ninh là 33 m/s, tại trạm Láng là 31m/s (xuất hiện trong nhiều năm)

- Mưa: Mùa mưa thường bắt đầu vào tháng V và kết thúc vào tháng X Lượng mưa trong 6 tháng mùa mưa chiếm đến 83 ÷ 86% tổng lượng mưa năm, các tháng còn lại chỉ còn từ 14 ÷ 17% tổng lượng mưa năm Tháng có lượng mưa lớn nhất là VII và VIII, tổng lượng mưa hai tháng này chiếm từ 35 ÷ 38% tổng lượng mưa năm Trong hai tháng này, lượng mưa tháng của các tháng này đều từ 200 ÷ 300mm/tháng, số ngày mưa lên tới 15 - 20 ngày, trong đó có tới 9, 10 ngày có mưa dông với tổng lương mưa đáng kể, thường gây úng Điển hình là tháng 8/1972 trên hầu hết các điểm đo đều có lượng mưa trên 600 mm/tháng như trạm Bắc Ninh 626,7 mm, Yên Phong 660,3 mm, Gia Lâm 733,4 mm, Đa Phúc 684,4 mm, Vĩnh Yên 609,5 mm gây ra ngập úng trong vùng Hai tháng ít mưa nhất là tháng XII, I Tổng lượng mưa hai tháng này chỉ chiếm 1,5 ÷ 2,5% tổng mưa năm, thậm chí có nhiều tháng không mưa gây ra tình trạng hạn hán nghiêm trọng

3 Mạng lưới sông ngòi và chế độ thủy văn nguồn nước mặt

Hệ thống thủy lợi Bắc Đuống có các sông lớn bao bọc xung quanh như: Sông Hồng, sông Đuống phía Tây Nam và Nam; Sông Cầu ở phía Bắc và Đông, Sông Cà Lồ

Trang 14

ở phía Tây, ngoài ra vùng nghiên cứu còn có một hệ thống sông nội đồng, bao gồm sông Ngũ Huyện Khê, ngòi Tào Khê, ngòi Kim Đôi

- Sông Hồng chảy quanh phía Tây Nam của hệ thống với chiều dài khoảng 10km Sông Hồng là còn sông lớn của Việt Nam, bắt nguồn từ cao nguyên Vân Nam - Trung Quốc Tổng diện tích lưu vực là 169.000 kmP

2

P

Đoạn từ cống Liên Mạc về Hà Nội mùa lũ mặt nước mở rộng đến trên 2000m, chỗ hẹp cũng phải tới hơn 1200m Độ dốc mặt nước lũ lớn nhất như trong trận lũ tháng VIII/1971 đo được từ Chèm đến Hà Nội là 0,06 m/km (0,06‰) Mùa mưa

lũ mực nước trên sông Hồng thường cao hơn cao độ đất canh tác trong đồng rất nhiều

- Sông Đuống: Là một phân lưu của sông Hồng, bắt đầu đầu làng Xuân Canh, dài

67 km, chảy theo hướng gần Tây - Đông và đổ vào sông Lục Đầu (sông Thái Bình) ở

Kênh Phố, Phả Lại (Chí Linh) hai bờ có đê bao khá vững chắc Đoạn đầu sông Đuống chỉ rộng 200 - 300m, đoạn cuối mở rộng dần từ 1.000 ÷ 2.500m Khi chảy qua khỏi huyện Gia Lâm, sông Đuống còn phân ra một nhánh bên hữu là sông Lang Tài, sông này chảy qua các huyện Thuận Thành, Gia Lương rồi đổ vào sông Lục Đầu ở phía Kênh Phố

- Sông Đuống là ranh giới của hệ thống Bắc Đuống ở phía Tây Nam, kéo dài khoảng 10km Trên đoạn sông này có trạm thủy văn Thượng Cát nằm ở cách ngã ba sông Hồng - sông Đuống khoảng 8km về phía hạ lưu Hàng năm sông Đuống chuyển tải từ sông Hồng sang sông Thái Bình một lượng nước khá lớn, ước tính khoảng 29 tỷ

- Sông Cầu: Bắt nguồn từ dãy núi Vạn On ở độ cao 1.175m thuộc Chợ Đồn, tỉnh Bắc Cạn Chiều dài sông tính tới Phả Lại là 290km, diện tích lưu vực 6.030km2 Đến Phả Lại sông Cầu hợp lưu với sông Thương và sông Lục Nam tạo thành hệ thống sông Thái Bình Sông Cầu là giới hạn phía Đông Bắc của hệ thống, từ Phúc Lộc Phương tới

Trang 15

Đáp Cầu có chiều dài khoảng 30 km Đoạn từ Phúc Lộc Phương tới Đáp Cầu lòng sông

có độ rộng trung bình 200 ÷ 300 m Mùa lũ trên sông Cầu bắt đầu vào tháng VI và kết thúc và tháng IX, sớm hơn mùa lũ sông Hồng khoảng 1 tháng

Hiện nay do rừng đầu nguồn suy giảm, lớp phủ thực vật thượng du sông Cầu rất

ít Khi có mưa lớn, lũ về nhanh, địa hình lòng dẫn hệ thống sông Thái Bình biến đổi nhiều, vùng bồi bãi bị lấn chiếm Có sự điều tiết của hồ Hoà Bình trong mùa lũ từ 15/6 đến 15/9 Bởi vậy mực nước lũ trên sông Cầu (tại Đáp Cầu) thường ở mức trên báo động 2 Vì vậy việc tiêu tự chảy của hệ thống Bắc Đuống ra sông Cầu qua cửa Đặng

Xá rất hạn chế

- Sông Cà Lồ: Là phụ lưu cấp I thứ 24 của sông Cầu, bắt nguồn từ dãy núi Tam Đảo, ở độ cao 300m, nhập vào bờ phải của sông Cầu tại Lương Phúc, chiều dài sông là 89km, diện tích lưu vực 881 kmP

2

P

, hệ số uốn khúc của sông lớn (3,7) Đoạn từ bến Đò

Lo về Lương Lỗ là ranh giới của Bắc Ninh với Sóc Sơn Hà Nội

Thượng nguồn sông có độ dốc lớn từ 2,5 ÷ 5,3‰, lòng sông hẹp, nên thời gian tập trung nước nhanh, dạng lũ nhọn, thời gian lũ ngắn Đoạn từ Đầm Vạc đến Phủ Lỗ lòng sông rộng chừng 40 ÷ 70m, từ Phủ Lỗ về Lương Lỗ lòng sông rộng hơn khoảng từ 70

÷ 100m Tại trạm Phú Cường đo được mực nước lớn nhất là 9,14m vào tháng VIII/1971, do có nước vật của sông Cầu về mùa lũ nước sông thường cao hơn nội đồng, việc tiêu úng ra sông Cà Lồ bằng tự chảy khó, vì vậy nước trong đồng có xu thế dồn về phía sông Cầu tiêu ra cống Vọng Nguyệt hoặc bơm ra Ngũ Huyện Khê rồi tiêu

ra sông Cầu qua trạm bơm Đặng Xá

- Ngoài ra còn có một số sông nội địa:

+ Sông Ngũ Huyện Khê

+ Sông Ngũ Huyện Khê (sông Thiếp): Là phụ lưu cấp I thứ 26 của sông Cầu, bắt nguồn từ Trịnh Xá đổ vào bờ phải sông Cầu tại Xuân Viên Sông có chiều dài 48,4km, diện tích lưu vực 145kmP

2

P

Phần thượng lưu của sông còn gọi là Đầm Thiếp, bắt nguồn

từ Mê Linh, chảy qua phía tây huyện Đông Anh, qua cống điều tiết Cổ Loa nhập vào sông Ngũ Huyện Khê tại cầu Dũng (xã Dục Tú)

Trang 16

Đáy sông Ngũ Huyện Khê có cao trình 1,7 ÷ 2,0m, độ rộng trung bình 30 ÷ 50m Sông có nhiệm vụ chuyển tải nước mưa từ lưu vực Đầm Thiếp và lưu lượng từ các trạm bơm của các khu tiêu nội đồng như các trạm bơm Xuân Canh, Đồng Dầu, Lộc Hà, Lại Đà, Liên Đàm rồi chuyển tải ra sông Cầu qua trạm bơm Đặng Xá Ngoài ra nó còn được sử dụng để dẫn nước sông Đuống tiếp sang sông Cầu để tưới lúa và hoa màu trong mùa cạn Mực nước sông Ngũ Huyện Khê vào mùa lũ từ Long Tửu về Đặng Xá chênh lệch nhau không đáng kể Do đê sông Ngũ Huyện Khê thấp, mỏng và yếu nên khi mực nước trong sông lên tới 6,8m thì các trạm bơm tiêu phải ngừng hoạt động, lúc này nó như một hồ chứa, đặc biệt khi nước sông Cầu tại Đặng Xá lên tới báo động 3 thì không được phép tiêu ra sông Cầu

+ Ngòi Kim Đôi bắt đầu từ Tiên Sơn (Bắc Ninh) cửa sông ở Kim Đôi và tiêu ra sông Cầu Chiều dài sông là 22,5km, rộng 10 ÷ 25m, bờ có cao trình 5 m ÷ 5,4m, cao trình đáy từ 0,3 ÷ 1,8m

+ Ngòi Tào Khê có chiều dài 37 km, bắt nguồn từ xã Ninh Hiệp, Gia Lâm, Hà Nội, chảy qua các huyện Từ Sơn, Tiên Du, Quế Võ Ngòi Tào Khê có lòng rộng từ 20 -

30 m bờ cao từ 5,7 ÷ 5,9m, đáy có cao trình 0,3 ÷ 2,3 m Đây là trục tiêu chính của trạm bơm tiêu Hiền Lương, có nhiệm vụ tiêu nước cho khoảng 32.000 ha

1.2 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI

1.2.1 Tổ chức hành chính

Đến năm 2008, trong khu vực có 7 đơn vị hành chính bao gồm thành phố Bắc Ninh, thị xã Từ Sơn và các huyện Yên Phong, Quế Võ, Tiên Du, Đông Anh và 7 xã của huyện Gia Lâm Tổng diện tích tự nhiên của toàn vùng là 71.363 ha với số dân là 1.049.547 người

Bảng 1.1 DIỆN TÍCH TỰ NHIÊN - DÂN SỐ - MẬT ĐỘ DÂN SỐ VÀ CÁC ĐƠN

VỊ HÀNH CHÍNH CỦA KHU VỰC NĂM 2008

TT Huyện, thị xã Diện tích tự nhiên

Trang 17

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bắc Ninh, TP Hà Nội năm 2008

1 Dân số

Theo niên giám thống kê của tỉnh Bắc Ninh, TP Hà Nội năm 2008 có 1.049.547 người, tăng 1,51% so với năm 2006

Bảng 1.2 BẢNG THỐNG KÊ DÂN SỐ KHU VỰC BẮC ĐUỐNG NĂM 2008

TT Huyện Dân số (người) tuổi lao động Dân số trong

(người)

Tỷ lệ tăng dân

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bắc Ninh, TP Hà Nội năm 2008

Dân số tăng đã đóng góp một lực lượng lao động dồi dào cho khu vực, làm nền tảng để phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Nhưng một thực trạng cần nhìn nhận là sự gia tăng dân số diễn ra trong bối cảnh nền kinh tế không đáp ứng kịp đã làm cho nhu cầu về đất ở, đất xây dựng, đất canh tác, lương thực, thực phẩm tăng theo tạo nên sức ép rất mạnh mẽ lên tài nguyên đất vốn đã hạn hẹp của khu

Trang 18

vực, kéo theo đó là vấn đề về an ninh, trật tự xã hội, văn hoá và môi trường cũng bị ảnh hưởng không nhỏ

2 Lao động

Theo niên giám thống kê tỉnh Bắc Ninh, TP Hà Nội năm 2008, số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế là 582.161 người, chiếm 56,58% dân số của khu vực, lao động nông - lâm nghiệp - thuỷ sản là 319.996 người, chiếm 55% dân số lao động và chiếm 31% dân số của tỉnh Lực lượng lao động công nghiệp và xây dựng tăng mạnh, đặc biệt là lực lượng lao động ngành công nghiệp chế biến đã tăng từ 26.858 người (chiếm 6,12% dân số lao động) năm 1996 lên 59.201 người (chiếm 11,26% dân số lao động) năm 2000 và tăng mạnh lên 159.310 (chiếm 27,36% dân số lao động) vào năm

2009 Ngành dịch vụ có 102.855 lao động năm 2009 chiếm tỷ trọng 17,64% tăng mạnh

so với năm 2000 (có 44.686 lao động chiếm tỷ trọng 8,5% dân số lao động)

Mặc dù tỷ lệ trong độ tuổi lao động lớn nhưng chất lượng lao động chưa cao, tỷ

lệ công nhân lành nghề, cán bộ kỹ thuật có chuyên môn còn ít, chưa đáp ứng đủ với nhu cầu phát triển kinh tế hiện tại và tương lai Tính đến nay, trong toàn tỉnh mới chỉ

có 4.934 cán bộ có trình độ đại học và công nhân lành nghề, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo mới chỉ chiếm 23% dân số lao động

1 Nền kinh tế chung

Khu vực nằm trong tỉnh Bắc Ninh đến năm 2008 là được 12 năm tái lập, nhìn lại chặng đường 12 năm xây dựng và phát triển, mặc dù còn nhiều khó khăn và thách thức, song tỉnh Bắc Ninh đã nỗ lực phấn đấu giành được những thành tựu quan trọng Tổng sản phẩm (GDP) tăng bình quân 13,68%/năm, giai đoạn 1996-2008 Trong đó, nông nghiệp tăng 4,49%, công nghiệp-xây dựng tăng 21,5%, dịch vụ tăng 14,3% Đây là mức tăng trưởng bình quân cao nhất từ trước tới nay, gấp 1,8 lần so với mức bình quân của cả nước, đứng thứ 2 trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Năm 2008, GDP đạt 13.068,6 tỷ đồng (theo giá thực tế), bình quân đầu người 12,7 triệu đồng Cơ cấu kinh

tế trong những năm qua có bước chuyển dịch mạnh theo hướng gia tăng tỷ trọng ngành công nghiệp – xây dựng, dịch vụ và giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp Theo đó, tỷ

Trang 19

trọng công nghiệp – xây dựng cơ bản trong tổng GDP đã tăng mạnh từ 35,6% năm

2000 lên 51% năm 2008, dịch vụ từ 26,4% năm 2000 lên 30,35% năm 2008 Tỷ trọng nông – lâm nghiệp từ 38% năm 2000 giảm xuống còn 18,65% năm 2008

Kết quả tăng trưởng kinh tế đạt mức cao đã góp phần cải thiện mọi mặt đời sống nhân dân trong khu vực GDP bình quân đầu người của tỉnh năm 2008 khoảng 700 USD/người, tăng hơn 1,33 lần so với năm 2005 và tăng gấp 2,9 lần so với năm 2000

2 Hiện trạng ngành Nông nghiệp

Những năm gần đây sản xuất nông nghiệp tuy gặp nhiều khó khăn do nhiều nguyên nhân như: Quá trình chuyển đổi đất nông nghiệp để phục vụ xây dựng các khu công nghiệp và khu đô thị, diễn biến thời tiết phức tạp, giá phân bón tăng và giữ ở mức cao làm ảnh hưởng đến quá trình thâm canh, tăng vụ… nhưng nhờ sự chỉ đạo của UBND tỉnh, TP HN, cùng sự phối hợp với các cấp chính quyền, các ngành chức năng, nhất là ngành Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã thực hiện một loạt các giải pháp hữu hiệu như: Huy động mọi nguồn lực để bơm nước, chủ động nạo vét kênh mương

để đảm bảo đủ nước tưới, tiếp tục trợ giá giống lúa cho nông dân để tiếp tục chuyển dịch cơ cấu mùa vụ và cơ cấu giống, thực hiện triệt để cơ cấu quản lý mới và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ cao để tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, đồng thời cùng với sự nỗ lực của nông dân nên nhìn chung sản xuất nông nghiệp vẫn thu được những kết quả quan trọng trong việc góp phần đảm bảo an ninh lương thực và tăng sản lượng hàng hoá

3 Hiện trạng ngành Thuỷ sản

Trong những năm qua, ngành Thuỷ sản được chú ý đầu tư phát triển nên đã đạt được hiệu quả kinh tế cao Trong thời kỳ này, do cơ chế chuyển đổi một phần đất nông nghiệp thành đất mặt nước nuôi trồng thuỷ sản làm cho diện tích nuôi trồng thuỷ sản tăng lên rất nhanh Năm 2008 diện tích nuôi trồng thuỷ sản của vùng đạt 4.986 ha tăng

138 ha so với năm 2006 và tăng gần gấp đôi so với năm 2000 Sản lượng thuỷ sản năm

2008 đạt 23.839 tấn, tăng 3.383 tấn so với năm 2006

4 Hiện trạng ngành Lâm nghiệp

Trang 20

Trong vùng có diện tích đất lâm nghiệp không lớn, chủ yếu là rừng trồng, tổng diện tích khoảng 626 ha (số liệu năm 2008) được phân bố chủ yếu ở Quế Võ (148 ha), Tiên Du (183 ha), thành phố Bắc Ninh (255 ha) Tổng trữ lượng gỗ ước tính 6.325mP

3

P

Trong những năm gần đây, trong khu vực đã và đang thực hiện chương trình trồng rừng cảnh quan môi trường văn hoá Giai đoạn năm 2001 – 2008 toàn tỉnh trồng được 417,6ha rừng tập trung bằng 83,5% mục tiêu đại hội XVI, chăm sóc 1.130,9ha rừng đạt 115,4%, trồng 7.012 triệu cây phân tán, bằng 87,6% so với kế hoạch, nhờ thế

mà giá trị sản xuất lâm nghiệp năm 2006 đã tăng 1.307 triệu đồng so với cùng kỳ năm trước

5 Hiện trạng ngành Công nghiệp

a Các ngành và cơ sở công nghiệp

Tính đến năm 2008 trên địa bàn khu vực có 6 doanh nghiệp trung ương, 2 doanh nghiệp địa phương, 117 doanh nghiệp tập thể, 519 doanh nghiệp tư nhân, 36 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và 28.313 hộ cá thể sản xuất nông nghiệp Trong đó, huyện Từ Sơn có số cơ sở ngành công nghiệp cao nhất (10.124 cơ sở, chiếm 34,92% số

cơ sở trong toàn tỉnh) Các cơ sở sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp phân bố trong các khu công nghiệp tập trung, khu công nghiệp - làng nghề, dọc theo trục QL1 và QL18 đó là các ngành nghề truyền thống của Bắc Ninh

+ Khu công nghiệp tập trung Tiên Sơn: thuộc các xã Đồng Nguyên, Tương Giang, Hoàn Sơn, Nội Duệ, cách Hà Nội 18 km, tổng diện tích khoảng 300ha

+ Khu công nghiệp tập trung Quế Võ I: thuộc các xã Phương Liễu, Vân Dương (Quế Võ), cách Bắc Ninh 6 km, nằm bên phải quốc lộ 18 (Bắc Ninh - Phả Lại) và gần điểm giao nhau giữa quốc lộ 18 và quốc lộ 1 mới, có quy mô 150 ha

+ Khu công nghiệp Yên Phong I: thuộc huyện Yên Phong, cách thủ đô Hà Nội 28km với tổng diện tích là 340,73ha

Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh cũng đang triển khai và xây dựng thêm một số khu công nghiệp như:

+ Khu công nghiệp Đại Đồng – Hoàn Sơn: có vị trí địa lý thuận lợi, phía Đông Bắc giáp tỉnh lộ 295 (tức tỉnh lộ 272 mới) và khu dân cư xã Hoàn Sơn, phía Tây Bắc

Trang 21

giáp quốc lộ 1A mới và Tây Nam giáp xã Đại Đồng, cách thủ đô Hà Nội 16km Theo quy hoạch, khu công nghiệp có tổng diện tích hơn 272ha

+ Khu công nghiệp Tân Hồng – Hoàn Sơn

+ Khu công nghiệp Quế Võ II, Yên Phong II

+ Huyện Đông Anh có 2 khu công nghiệp lớn: Khu công nghiệp Đông Anh và khu công nghiệp Thăng Long Ngoài ra, trên địa bàn Huyện còn có một số làng nghề truyền thống đang được đầu tư và phát triển mạnh tại các xã Liên Hà, Vân Hà, Dục Tú…

+ Khu công nghiệp Bắc Đuống - Hà Nội

b Tình hình phát triển

Trong năm năm qua, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp phát triển với tốc độ cao Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 26,1%/năm, trong đó khu vực quốc doanh Trung ương tăng 30,2% chủ yếu ở các doanh nghiệp may mặc, vật liệu xây dựng, thuốc lá Các sản phẩm chủ yếu của công nghiệp đạt tốc độ tăng khá là thức ăn gia súc (65,1%/năm), quần áo may sẵn (46,5%/năm), giấy các loại (132,2%/năm), thép cán (20,0%/năm), đồ gỗ các loại (8,2%/năm) Các địa phương có tốc độ tăng trưởng cao như thị xã Từ Sơn có giá trị sản xuất công nghiệp lớn nhất trong toàn tỉnh, luôn chiếm trên 50% giá trị sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh của tỉnh Sản xuất của khu vực này tăng nhanh là do tăng số cơ sở mới đi vào sản xuất, năng lực trình độ công nghệ của các doanh nghiệp cũng đã được nâng lên, một số sản phẩm đã có sức cạnh tranh và tăng trưởng khá như thức ăn gia súc, may mặc, giấy, gỗ, kính, phụ tùng cơ khí…Sản phẩm công nghiệp xuất khẩu chiếm 90% tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh

6 Hiện trạng ngành Điện năng

Nguồn điện của khu vực được cung cấp từ hệ thống điện chung qua các các đường dây tải điện 110 kV Đông Anh - Phả Lại, Đông Anh - Bắc Giang và các trạm

110 KV Võ Cường, Khắc Niệm

Mạng lưới điện của khu vực được hình thành từ năm 1945 và được phát triển mạnh từ đầu năm 1970, đến nay toàn tỉnh đã có:

Đường dây 110 kV 173,4 km

Trang 22

Đường dây 35 kV 465,3 km

Đường dây 6-10-22 kV 465,2 km

Đường dây 0,8 kV 2.117 km

Đến nay đã có 100% huyện, thành phố có lưới điện quốc gia, 100% số xã có điện,

tỷ lệ dùng điện đạt 100%, phát triển năng lượng góp phần quan trọng vào thúc đẩy kinh

tế - xã hội phát triển

7 Hiện trạng ngành Giao thông

a Đường bộ

Trong khu vực có các tuyến Quốc lộ như:

- Quốc lộ có 4 tuyến quan trọng chạy qua gồm: Quốc lộ 1A từ Đáp Cầu đến Đình Bảng dài 20,2 km, quốc lộ Bắc Ninh - Nội Bài từ Võ Cường đến Đò Lo dài 15,7

km, quốc lộ 18 Bắc Ninh - Phả Lại dài 26,4 km và đường quốc lộ 38 dài 22,4 km, với tổng chiều dài 4 tuyến là 84,7 km

- Quốc lộ 3 đi qua huyện Đông Anh

Nhìn tổng thể, hệ thống giao thông của khu vực có một số đặc điểm cơ bản sau:

b Đường sắt

Trên khu vực có một tuyến đường sắt: Tuyến Hà Nội - Lạng Sơn đi qua đất Bắc Đuống dài 20km Hiện tại, chất lượng đường và ga đều đã xuống cấp nghiêm trọng, khả năng sử dụng khai thác còn hạn chế, các ga chủ yếu tiếp nhận một số hàng vật liệu xây dựng, phân bón và hàng tiêu dùng, lượng hành khách qua lại ngày càng có xu hướng giảm Tuyến Hà Nội - Thái Nguyên 15 km

Huyện Đông Anh có 33 km đường sắt, 4 ga thuộc các tuyến Hà Nội đi Lào Cai;

Hà Nội - Thái Nguyên và có đường QL3, quốc lộ Thăng Long - Nội Bài, QL 23

c Đường sông

Trên khu vực có 3 con sông lớn chảy qua là sông Cầu dài 70km, sông Đuống 39km và sông Thái Bình 17km Cả 3 sông này đều có khả năng cho các phương tiện thủy có tải trọng 200 - 400 tấn đi qua, riêng sông Cầu còn 10 km thượng nguồn vào mùa khô chỉ có khả năng cho thuyền 50 tấn đi qua

Trang 23

8 Hiện trạng ngành Xây dựng và đô thị

Cùng với sự phát triển nhanh của nền kinh tế , hệ thống các đô thị cũng đã dần được hình thành và phát triển Hiện nay trong khu vực có 1 thành phố Bắc Ninh (đô thị loại III), 1 thị xã Từ sơn và 3 thị trấn là thị trấn Phố Mới (huyện Quế Võ), Lim (huyện Tiên Du ), Chờ (huyện Yên Phong ) Những năm qua tốc độ đô thị hoá diễn ra khá nhanh, đặc biệt là ở thành phố Bắc Ninh và Từ Sơn Ngày 9/4/2007 Thủ tướng Chính phủ đã ký nghị định số 60/2007/NĐ-CP về việc mở rộng địa giới hành chính Thành phố Bắc Ninh lên 8.028,19ha, dân số 150.331 người trên cơ sở sát nhập các xã Hòa Long, Vạn An, Khúc Xuyên, Phong Khê (huyện Yên Phong ), Kim Chân, Vân Dương, Nam Sơn (huyện Quyế Võ ) và Khắc Niệm , Hạp Lĩnh (huyện Tiên Du ) vào thành phố Bắc Ninh

9 Hiện trạng ngành Thương mại - dịch vụ

Các ngành thương mại , dịch vụ có bước phá t triển theo hướng đáp ứng tốt hơn các nhu cầu về sản xuất kinh doanh và phục vụ đời sống nhân dân Đến năm 2008, trên địa khu vực đã có 39.540 co sở kinh doanh thương mại , khách sạn, nhà hàng và dịch

vụ, đưa tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng xã hội tăng bình quân 22,4%/năm, đạt 6.680,4 tỷ đồng năm 2008, khối lượng vận chuyển hàng hóa tăng 21,2%/năm, đạt gần 19 triệu tấn năm 2008, vận chuyển hành khách tăng 9,25%/năm, đạt 5,886 triệu lượt người năm 2007 Đặc biệt ngành vận tải đã phối hợp với Hà Nội

mở 3 tuyến xe buýt phục vụ việc đi lại của nhân dân

10 Văn hoá, xã hội

Trong những năm qua cùng với sự đẩy mạnh phát triển kinh tế, ngành giáo dục đào tạo của tỉnh đã có những cố gắng lớn trong sự nghiệp nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực và đào tạo nhân tài

- Theo niên giám thống kê tỉnh Bắc Ninh năm 2008, trên khu vực hiện có 6 trường cao đẳng và đại học với 494 giáo viên và 6.754 sinh viên, 2 trường trung học chuyên nghiệp và dạy nghề, 36 trường phổ thông trung học phổ thông với 2.370 giáo viên, 53.028 học sinh, 133 trường trung học cơ sở với 3.877 giáo viên và 78.106 học

Trang 24

sinh, 150 trường tiểu học với 3.660 giáo viên và 82.702 học sinh, 2420 nhà trẻ và 1450 lớp mẫu giáo với khoảng 1.586 giáo viên và 40.668 em

- Cùng với việc nâng cao giáo dục, công tác y tế và chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân cũng ngày càng được quan tâm chỉ đạo, các chương trình y tế quốc gia được thực hiện tốt, trình độ được nâng cao, các bệnh viện, trạm xá phủ khắp ở hầu hết các huyện,

xã, thị trấn Tổng số giường bệnh năm 2000 mới chỉ có 1.460 giường, năm 2006 con số này đã tăng lên là 2.025 giường Số y bác sỹ năm 1998 là 1.257, năm 2000 là 1.929 và đến năm 2008 đã tăng lên là 2.625 người

- Các hoạt động văn hoá thông tin và thể dục thể thao trong tỉnh đã có những chuyển biến tích cực, góp phần đáng kể vào việc nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân Hàng năm tỉnh vẫn duy trì được các hoạt động văn hoá và sinh hoạt tín ngưỡng thông qua sinh hoạt văn hoá quan họ, các lễ hội truyền thống đậm đà bản sắc dân tộc vùng Kinh Bắc như lệ hội Chùa Dâu, hội Lim, hội Đền Đô…

- Công tác quốc phòng an ninh trong tỉnh cũng như với các địa phương lân cận được quan tâm đúng mức, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được ổn định, không có diễn biến phức tạp xảy ra

Trang 25

2.2.3 Đất sản xuất, kinh doanh PNN 4594,0

2.2.3.3 Đất cho hoạt động khoáng sản 0,0

bị ngăn chặn, lúc này chỉ tiêu bằng động lực là chính, song năng lực tiêu lại hạn chế, nếu gặp năm mưa lớn, lũ cao sẽ gây úng ngập thường xuyên Xu thế của ngập úng là

do số ngày mưa lên tới 15 - 20 ngày, trong đó có tới 9, 10 ngày có mưa dông với tổng lương mưa đáng kể, thường gây úng và lượng mưa tập trung vào cuối tháng 7 lúc lúa mới cấy cây còn thấp Một số năm úng điển hình trong vùng là các năm 1994, 1996,

1997, 2001, 2003, 2004 và 2005

Khi mực nước Ngũ huyện Khê (+7,00m đến +7,10m) thì toàn bộ công trình tiêu úng dọc 2 bên sông Ngũ huyên Khê sẽ không được bơm vào sông Ngũ Huyện Khê, khả năng tiêu rất hạn chế do mực nước sông Ngũ huyện Khê lớn, mực nước trong đồng thấp không thể tiêu ra được Đặc biệt khu vực thuộc lưu vực trạm bơm Vạn An

Trang 26

(khoảng 5.170 ha bị ảnh hưởng nặng) Trong những ngày mưa lớn, mực nước sông chảy qua Bắc Ninh rất cao như ngày 23/7/2004: Sông Cầu đỉnh lũ +6,37 cao hơn báo động 3 là 0,75 m; Sông Thái Bình đỉnh lũ +6,00 cao hơn báo động 3 là 0,5 m; Sông Đuống đỉnh lũ +8,31 cao hơn báo động 3 là 0,81 m nên ảnh hưởng rất lớn đến việc tiêu nội đồng

Thực trạng úng ngập 5 năm 2001 – 2005 là do lượng mưa phân phối không theo quy luật, mưa cũng rất thất thường, điều kiện khách quan do thiên nhiên tạo ra cộng với những nhược điểm của hệ thống công trình đầu mối, hệ thống kênh tiêu và tác động của yếu tố chủ quan con người là những yếu tố chính gây ra úng ngập

Bảng 1.4 DIỆN TÍCH ĐẤT THƯỜNG XUYÊN BỊ ÚNG KHI GẶP MƯA LỚN

Trang 27

TT Các địa phương thường xuyên úng Diện tích thường xuyên úng (ha)

Trang 28

Bảng 1.5 DIỆN TÍCH ÚNG TỪ NĂM 2000- 2008 HỆ THỐNG BẮC ĐUỐNG

Ngập trắng Tổng dt

Ngập trắng Tổng dt

Ngập trắng Tổng dt

Ngập trắng Tổng dt

Ngập trắng Tổng dt

Ngập trắng Tổng dt

Ngập trắng

Trang 29

1.4 HIỆN TRẠNG CÁC CÔNG TRÌNH TIÊU CỦA HỆ THỐNG BẮC ĐUỐNG 1.4.1 Các trục tiêu:

Hệ thống có 3 trục tiêu chính là: Ngũ Huyện Khê, ngòi Tào Khê, Ngòi Kim Đôi, trong đó:

+ Sông Ngũ Huyện Khê có chiều dài 48,4km từ cống Long Tửu đến cống Đặng

Xá chiều dài l = 33km, từ cống Cổ Loa đến cống Đặng Xá dài 27km Lòng kênh rộng

Ba trục tiêu trên đều là trục tiêu cổ, mặt cắt ngang đoạn lớn đoạn nhỏ, độ dốc không đều, nhiều đoạn cong gấp khúc uốn lượn, hiện tại bị bồi lắng nhiều, khả năng tải nước giảm, trận mưa (31/10-4/11) năm 2008 bình quân là 372mm các trục tiêu không còn đủ khả năng tải nước Hệ thống phải bơm 16 ngày mới hết nước

Các trục tiêu Tào Khê, Kim Đôi nhiều năm nay chưa được nạo vét, bị bồi lắng, sạt

lở, làm ao thả cá trong lòng kênh… làm giảm khả năng tải nước

*Các công trình chính trên trục tiêu Ngũ Huyện Khê:

1 Cống Long Tửu:

Là cống lấy nước tưới: Nước được lấy vào mùa kiệt qua đoạn kênh dài 12km vào trạm bơm Trịnh Xá

2 Cống Đặng Xá: Là cửa tiêu duy nhất của sông Ngũ Huyện Khê ra sông Cầu Cống

có 5 cửa, 3 cửa giữa có kích thước: 3cửa x 2,87m x 2,87m, 2 cửa bên có kích thước : 2 cửa x 1,9m x 2,3m Mỗi cửa có hai mặt cửa van, mặt hạ lưu là van tự động làm nhiệm

vụ ngăn nước sông Cầu về mùa mưa lũ, mặt thượng lưu là van quay bằng vitme để giữ nước tưới cho mùa kiệt

Trang 30

3 Cống Đầm Sắn (do xí nghiệp QLKTCT thuỷ lợi - Huyện Đông Anh quản lý), cống

được xây dựng năm 1995

- Cống có nhiệm vụ điều tiết nước tưới cho sản xuất nông nghiệp, quy định hiện tại cống được giữ mực nước ổn định tại thượng lưu là + 6,7m nhằm khai thác tưới triệt

để cho khu vực thượng nguồn lòng sông Thiếp

- Trường hợp có mưa rào đột xuất, lượng mưa lên tới 40mm cống phải được mở ngay để tiêu nước đến khi mực nước trong sông đạt cao trình từ +6,0 ÷ +6,7m thì được đóng lại

4 Cống Vực Dê: Là cống điều tiết hiện tại đã hư hỏng nặng

được xây dựng năm 1995

- Khi không có nhu cầu tiêu cống được đóng lại để giữ nước phục vụ bơm tưới

- Về mùa mưa (thời gian từ 1/5 đến 30/10) mực nước trong sông chỉ giữ cao nhất là + 5,0m, khi mực nước hơn + 5m phải mở cống tháo vợi nước đi Đặc biệt về mùa mưa khi cống đang đóng để trữ nước bình thường, đột xuất có mưa rào, lượng mưa đạt tới 50mm hoặc khi có tin bão khẩn cấp ảnh hưởng tới khu vực thì cống được

mở hết khẩu độ để thực hiện phương án tiêu nước đệm trước khi có mưa lớn xảy ra

Bảng 1.6 CÁC CỐNG CHÍNH TRÊN SÔNG NGŨ HUYỆN KHÊ

TT Công trình Sông Kích thước công trình

Ghi chú Khẩu độ(m) ∇ đáy (m)

1 Cống Long Tửu Sông Đuống 8,10 0,0 Lấy nước tưới

2 Cống Đặng Xá Ngũ Huyện Khê 12,4 -1,43 Tiêu nước

3 Cống Đầm Sắn S Thiếp 6,0 3,77 C Điều tiết

4 Cống Vực Đê S Thiếp 15,8 +4,09 C Điều tiết

Hệ thống Bắc Đuống có tổng diện tích cần tiêu là: 65.255ha trong đó tiêu tự chảy là: 7.580ha và tiêu động lực là: 57.675ha Số công trình tiêu phục vụ sản xuất hiện có bao gồm:

Trang 31

+ 52 trạm bơm do nhà nước quản lý, trong đó: Có 2 trạm bơm tiêu trực tiếp ra sông Cà Lồ, 1 trạm bơm tiêu trực tiếp ra sông Hồng, 23 trạm bơm tiêu trực tiếp ra sông Cầu; 9 trạm bơm tiêu ra sông Đuống; 16 trạm bơm tiêu vào Ngũ Huyện Khê hướng ra sông Cầu qua cống Đặng Xá Tổng số có 538 máy bơm các loại với tổng công suất tiêu lắp máy là 303,7 mP

/s, chủ yếu tiêu cho các khu trũng cục bộ nằm trong lưu

vực tiêu của các trạm bơm nhà nước

Khu tiêu bao gồm các xã phía Bắc của huyện Đông Anh Có diện tích cần tiêu 5.250ha, trong đó diện tích có khả năng tiêu tự chảy hoàn toàn ra sông Cà Lồ là 2.370ha, tiêu bằng bơm 2.880 ha gồm 2 trạm bơm Mạnh Tân và 19/5 Hiện nay khu vực trạm bơm Mạnh Tân khi có mưa lớn 200mm, thường bị ngập úng khoảng 260ha + Trạm bơm Mạnh Tân: quy mô 18 x 2300mP

3

P

/h, diện tích cần tiêu là 1.920ha các

xã Thụy Lâm, Vân Hà, Liên Hà, Việt Hùng, hiện tại tiêu được 1660ha

+ Trạm bơm 19/5: quy mô 14 máy 1.800mP

3

P

/h, được xây dựng năm 1986 đưa vào

sử dụng năm 1987 Diện cần tiêu là 960ha, diện tích tiêu thực tế 960ha, khu vực tiêu cao trình ruộng đất từ +6 ÷ +7m, của các xã Xuân Nộn, Uy Nỗ, Việt Hùng và khu dân

cư nhà máy phía đông đường quốc lộ 3

Lưu vực tiêu tự chảy ra sông Cà Lồ có công trình kênh và cống tiêu tự chảy Xuân Nộn Cống Xuân Nộn có kích thước 2φ100, HR đáy cống R= + 8,0m Diện tích tiêu là 710ha gồm một phần của xã Nguyên Khê, Xuân Nộn, có cao độ ruộng +8,0m đến +13m, nằm

ở phía Đông QL3

Lưu vực tiêu tự chảy qua đập Xuân Du: có diện tích tiêu là 1.660ha, đây là vùng cao nhất của huyện Đông Anh gồm các xã Bắc Hồng, Nguyên Khê nằm ở phía Tây QL3, có cao độ ruộng từ +10m đến +11m

2/ Khu tiêu ra sông Hồng

Trang 32

Hiện tại có trạm bơm Phương Trạch (huyện Đông Anh) quy mô 32 máy 800 mP

3

P

/h, trạm phụ trách bơm tiêu cho 1.700ha khu vực lòng chảo Việt Thắng - Thành Công thuộc địa phận các xã Võng La, Kim Chung, Hải Bối, Vĩnh Ngọc của huyện Đông Anh Qua các năm vận hành cho thấy trạm đã phát huy hiệu quả Tuy nhiên, trạm có một hạn chế là chỉ được phép bơm ra sông Hồng khi mực nước sông Hồng ở mức dưới báo động 3, khi này mức nước tại Phương Trạch là +11.80m

Khu này có diện tích cần tiêu là 9.690ha (8.875ha huyện Đông Anh, 815ha huyện Gia Lâm) trong đó diện tích có khả năng tiêu tự chảy là 5.210ha Vùng có khả năng tiêu tự chảy là khu vực đất đai của huyện Đông Anh và Bắc Gia Lâm gồm các xã Nam Hồng, Vân Nội, Kim Nổ, thị trấn Đông Anh, Tiên Dương ở phía tây quốc lộ 3 và các

xã miền đông Đông Anh gồm Uy Nỗ, Cổ Loa Nước mưa ở vùng này chủ yếu được tập trung vào trục tiêu chính là sông Thiếp, chảy ra đầm Vân Trì, từ đầm Vân Trì qua cống Vực Dê, qua cống Cổ Loa vào sông Ngũ Huyện Khê

Vùng phải tiêu bằng động lực có diện tích cần tiêu là 4.880ha hiện nay đã xây dựng được 7 trạm bơm tiêu là các trạm Đồng Dầu, Lại Đà (xã Lại Đà), Lộc Hà Đông, Lộc Hà Tây, Thạc Quả, Lại Đà (xã Xuân Trạch), Liên Đàm Thực tế tiêu được 3.860ha, đạt 86% so với diện tích cần tiêu

+ Trạm bơm Thạc Quả: tiêu cho diện tích 1.100ha thuộc các xã Liên Hà, Việt Hùng, Dục Tú Đầu mối có 4 máy lưu lượng 4.000mP

+ Trạm bơm Lộc Hà Tây: tiêu cho 400ha của khu vực Cổ Loa, Đông Hội Trạm

bố trí 3 máy lưu lượng 4000mP

Trang 33

+ Trạm bơm Lại Đà (xã Xuân Trạch): thực tế tiêu cho 475ha của khu vực Tầm

Xá, Xuân Canh, Đông Hội, gồm 7 máy lưu lượng 2.400mP

3

P

/h

+ Trạm bơm Liên Đàm tiêu cho 815ha thuộc xã Yên Thường – Yên Viên có cao

độ ruộng đất từ +4.5m đến +5.8m Trạm có 8 máy, lưu lượng mỗi máy là 1.900mP

3

P

/h Trong ngày mưa đầu tiên tranh thủ tiêu tự chảy qua cống Khi mực nước trong đồng và ngoài sông Ngũ Huyện Khê gần thăng bằng thì đóng cống qua đê và tiêu bằng động lực

Các trạm bơm ven kênh tiêu Long Tửu và Ngũ Huyện Khê vận hành theo quy chế tiêu tranh thủ bằng vận hành các cống tiêu tự chảy ở đầu mối, sau đó bằng bơm Theo quy định của hệ thống Bắc Đuống; khi mực nước Ngũ Huyện Khê tại Trịnh Xá là +5,80m, tại Liên Đàm là +6,33m, tại Cầu Lộc Hà là +6,8m thì các trạm bơm phải ngừng bơm ra để đảm bảo an toàn cho đê

Qua quản lý vận hành nhiều năm thấy rằng việc bố trí các trạm bơm như hiện nay, trong điều kiện khu vực chưa đô thị hóa nhiều thì các trạm bơm là phù hợp giữa quy mô và diện tích phụ trách, Diện tích úng hàng năm là không đáng kể

Khu tiêu có giới hạn: Ngòi Tó, sông Ngũ Huyện Khê, ranh giới là huyện Đông Anh với Từ Sơn Đây là khu tiêu độc lập với tổng diện tích cần tiêu là 1.022ha, hướng tiêu vào sông Ngũ Huyện Khê

+ Về đầu mối: Khu này trước đây có 5 trạm bơm do các Xí nghiệp thủy nông quản lý là trạm bơm Phù Khê 1, Phù Khê 2, Hương Mạc, Cầu Tó, Đa Hội với tổng lưu lượng thiết kế là 29.750 mP

3

P

/h + Về kênh mương: Trục tiêu chính đã được cải tạo nâng cấp năm 2004-2006 và đưa vào sử dụng năm 2007 Trục tiêu từ Phù Khê 1 sang Phù Khê 2 bị san lấp đoạn qua làng Tiến Bảo dài 200m Trục tiêu đoạn qua làng Phù Khê Đông, Kim Bảng ách tắc đoạn qua khu dân cư Hệ thống kênh mương nội đồng chưa được nâng cấp cải tạo, khu đồng trước làng Kim Thiều không có kênh tiêu

Tổng năng lực các trạm bơm tiêu đầu mối của khu Phù Khê – Hương Mạc đã bảo đảm tiêu cho toàn bộ diện tích yêu cầu tiêu với hệ số tiêu bình quân khoảng 7,3 l/s.ha

Trang 34

Để chủ động trong công tác tiêu úng cần tiếp tục cải tạo, khơi thông hoàn thiện hệ thống kênh trục tiêu

5/ Khu tiêu Trịnh Xá

Khu tiêu được giới hạn: Phía Bắc đường sắt Hà Nội- Lạng Sơn, đường vào khu công nghiệp giấy Phong Khê, sông Ngũ Huyện Khê, cộng thêm khu Ao Sen (Đình Bảng) Đây là khu tiêu liên hoàn với tổng diện tích tiêu là 4.810ha, tiêu ra sông Ngũ Huyện Khê

Hiện nay khu tiêu này do 5 trạm bơm do các XNTN quản lý gồm các trạm bơm Trịnh Xá, Phú Lâm 1, Phú Lâm 2, Đồng Chõ, Cống Đá Các trạm bơm này đều có hướng tiêu ra Ngũ Huyện Khê, trong đó có trạm bơm Đồng Chõ và Trịnh Xá thuộc thị

xã Từ Sơn, các trạm bơm còn lại đều thuộc huyện Tiên Du Tổng công suất thiết kế các trạm bơm là 109.000 mP

+ Các trạm bơm đều đã cũ chỉ bảo đảm 80% công suất bơm thiết kế Trong đó trạm bơm Trịnh Xá đảm nhận diện tích tiêu lớn nhất với 3.585 ha, tuy nhiên hiện nay trạm bơm này đã quá cũ (xây dựng từ năm 1964) nên hay bị sự cố bất thường, năng lực phục vụ kém, không đảm bảo phục vụ sản xuất

+ Trục tiêu chính nhiều đoạn bị bồi lắng sạt lở, không còn đủ theo mặt cắt thiết

kế Hệ thống kênh mương nội đồng bị bồi lắng nhiều, khả năng tải nước kém

Khu tiêu được giới hạn bởi: Sông Cà Lồ, đường 285, đường 295, phía Nam kênh Bắc Trịnh Xá, đường cái Váu, sông Cầu, sông Ngũ Huyện Khê, Ngòi Tó, địa giới tiếp giáp Đông Anh Đây là khu tiêu liên hoàn với tổng diện tích cần tiêu là 5.130ha, có hai hướng tiêu là tiêu vào sông Ngũ Huyện Khê và tiêu trực tiếp ra sông Cầu

+ Về đầu mối: Hiện nay trong khu tiêu này có 7 trạm bơm do các XNTN quản lý

là trạm bơm vợi Đặng Xá và trạm bơm Vạn An hướng tiêu ra sông Cầu, các trạm bơm

Trang 35

Ngô Khê, Bát Đàn, Trung Nghĩa, Đông Thọ 1, Đông Thọ 2 hướng tiêu ra sông Ngũ Huyện Khê Tổng công suất lắp đặt đầu mối thiết kế hiện tại là 110.400 mP

3

P

/h, tổng năng lực tiêu thực tế đạt 25 mP

Thực tế úng ngập hàng năm trong toàn khu còn khoảng 1.010 ha, tập trung chủ yếu ở các vùng Vạn An, Long Châu, Đông Phong

Nguyên nhân của việc diện tích tiêu không đạt theo thiết kế và diện tích ngập úng còn nhiều là do việc tiêu thoát nước của khu vực này phụ thuộc rất lớn vào khả năng tiêu vợi của trạm bơm Đặng Xá Hiện nay trạm bơm Đặng Xá với nhiệm vụ chính là tiêu vợi cho toàn hệ thống Ngũ Huyện Khê, việc tiêu trực tiếp cho toàn khu chỉ là nhiệm vụ kết hợp sau khi công trình ra đời, hiện tại công trình sau hơn 20 năm vận hành đã xuống cấp và thực tế chỉ bơm được khi mực nước ở trên +2,5 m Các xã Long Châu, Vạn An là những vùng rất trũng (cao trình mặt ruộng nhỏ hơn +2,5 m) trạm bơm Đặng Xá không bơm cho các vùng này được, trong khi trạm bơm Vạn An công suất lại nhỏ nên không thể tiêu kịp

Năng lực đầu mối của toàn vùng nếu không tính đến việc tiêu hỗ trợ của trạm bơm Đặng Xá thì mới đạt hệ số tiêu bình quân khoảng 2,75 l/s.ha Có thể thấy rằng trong khu tiêu Vạn An hiện nay hệ thống tiêu còn thiếu rất lớn cần được bổ sung

7/ Khu tiêu Vọng Nguyệt

Tổng diện tích lưu vực tiêu của trạm bơm Vọng Nguyệt là 1.940 ha, hướng tiêu ra sông Cầu

+ Về đầu mối: Trạm bơm Vọng Nguyệt - huyện Yên Phong được xây dựng năm

1971 với quy mô 24 x 1.000 mP

3

P

/h, hướng tiêu ra sông Cầu Hiện tại hệ thống máy móc, các trang thiết bị của trạm bơm này đã quá cũ và xuống cấp, lưu lượng bơm chỉ đạt khoảng 80% so với thiết kế ban đầu

Trang 36

+ Về kênh mương: Trục tiêu chính đã được cải tạo nâng cấp năm 2005-2007 và đưa vào sử dụng năm 2008 Trên trục tiêu chính cần phải có điều tiết bờ Mành (Trắc Bút) để rải nước, hiện tại khu vực đồng Chầm Lá là khu trũng nhất nước mưa dồn về gây úng khi có mưa to Hệ thống kênh tiêu nội đồng bị bồi lắng ít được nạo vét, gây ách tắc cục bộ

Trong lưu vực có khoảng 485 ha thường bị úng tại các xã Tam Giang, Hòa Tiến

Hệ số tiêu của toàn khu theo công trình đầu mối mới đạt 2,75 l/s.ha, so với hệ số tiêu của Quy hoạch 97 – 2010 là 4,9l/s.ha thì đầu mối Vọng Nguyệt còn thiếu khoảng 4,2

+ Về đầu mối: Toàn khu có 3 trạm bơm là trạm bơm Phấn Động, Thọ Đức, Phù Cầm với tổng lưu lượng thiết kế là 46.000 mP

Tổng năng lực của các trạm bơm đầu mối của toàn khu đã bảo đảm hệ số tiêu bình quân khoảng 4,9 l/s.ha tương đương với hệ số tiêu thiết kế trong quy hoạch 97 -

2010 Tuy nhiêu toàn khu vẫn tồn tại khoảng 300 ha thường xuyên xẩy ra úng ngập ở các xã Thụy Hòa, Tam Đa, Yên Trung (huyện Yên Phong) Nguyên nhân chủ yếu do còn 2 km trong tổng số 5 km đầu kênh tiêu chính Phấn Động và các kênh nhánh địa phương bị bồi lấp chưa khơi thông dòng chảy nên đã gây ra ngập úng cục bộ

Trang 37

Khu tiêu được giới hạn: Phía Bắc đường quốc lộ 1A, đường vào khu công nghiệp làng nghề Phong Khê, sông Ngũ Huyện Khê, sông Cầu Đây là khu tiêu độc lập với tổng diện tích cần tiêu là 1.951ha, có hai hướng tiêu là tiêu vào sông Ngũ Huyện Khê

và tiêu trực tiếp ra sông Cầu

+ Về đầu mối: Trong khu này hiện có 4 trạm bơm do các XNTN quản lý là các trạm Xuân Viên, Hữu Chấp, Cổ Mễ, Phong Khê với tổng lưu lượng thiết kế là 52.092

Thực tế toàn khu vẫn tồn tại khoảng 348 ha bị ảnh hưởng úng ngập tập trung ở các xã Khúc Xuyên, phường Kinh Bắc Nguyên nhân:

+ Trạm bơm đầu mối Hữu Chấp và trạm Xuân Viên đều đã quá cũ, hư hỏng nhiều năng lực phục vụ kém, không đảm bảo phục vụ sản xuất Bên cạnh đó, mức độ đô thị hóa của thành phố Bắc Ninh diễn ra nhanh nên lượng xả thải nước từ các hộ dùng nước cũng lớn, làm cho nước dồn nhanh về các khu vực trũng, gây úng ngập cục bộ

+ Kênh tiêu trạm bơm Phong Khê tuyến TR 2 R bờ kênh cũ nát, hợp tác xã Đào Xá cho đấu thầu thả cá đoạn giáp ranh đất Phong Khê - Võ Cường Kênh T1 bị bồi lắng nhiều, khả năng tải nước kém Trạm bơm Phong Khê thường thiếu nước bơm, chỉ bơm được 2-3 máy

Tổng diện tích cần tiêu của toàn khu là 6.496 ha, hướng tiêu ra sông Cầu

+ Đầu mối: Toàn khu có 2 trạm bơm chính là trạm bơm Kim Đôi 1, trạm bơm Kim Đôi 2 có vị trí thuộc thành phố Bắc Ninh hướng tiêu trực tiếp ra sông Cầu Tổng lưu lượng thiết kế là 105.200 mP

Trang 38

+ Hệ thống kênh mương: Trục tiêu chính từ Kim Đôi 1 đến Kim Đôi 2 đã được cứng hóa, hiện tại cống làng Kim khẩu độ hẹp, khó khăn khi trạm bơm Kim Đôi 2 cần tiêu hỗ trợ Kim Đôi 1

• Trục tiêu Kim Đôi 1: Kênh đất bị bồi lắng, nhiều năm nay không được nạo vét, nhất là đoạn xã Võ Cường đến trạm bơm Vũ Ninh dài 5km

• Trục tiêu Kim Đôi 2: Kênh cứng, sạt lở một số đoạn

• Kênh tiêu cấp 2 (Kênh tiêu Kim Đôi 9) chưa thông thoáng, nhiều đoạn bị ách tắc, nhất là đoạn qua khu công nghiệp

Thực tế toàn khu vẫn tồn tại khoảng 1.322 ha thường xuyên bị úng ngập, tập trung

ở các xã Nam Sơn, Vân Dương, xã Khắc Niệm (TP Bắc Ninh), xã Yên Giả, xã Việt Thống (huyện Quế Võ) Nguyên nhân là do kênh mương xuống cấp, vùng Nam Sơn, Vân Dương tiêu nước ra trạm bơm Kim Đôi bị úng do kênh Kim Đôi 9 bị bồi lắng Bên cạnh đó hiện nay 2 trạm bơm Kim Đôi 1 và Kim Đôi 2 các thiết bị điện kém hay bị sự

cố bất thường, phần cơ khí kém, máy bơm chạy rung động mạnh, không ổn định Đánh giá hiệu suất rất thấp, vận hành không an toàn, khó đảm bảo phục vụ sản xuất

Khu tiêu được giới hạn : Kênh tưới Kim Đôi, kênh H4, sông Cầu Đây là khu tiêu liên hoàn với diện tích cần tiêu là 1.010ha, hướng tiêu ra sông Cầu

+ Về đầu mối: Trong khu có 2 trạm bơm là Việt Thống và Nhân Hòa tiêu trực tiếp ra sông Cầu, với tổng lưu lượng thiết kế 22.330 mP

/s bảo đảm yêu cầu tiêu với hệ số tiêu 4,9 l/s.ha

+ Về kênh mương: Trục tiêu chính Việt Thống được nâng cấp cải tạo năm 2008, trục tiêu Nhân Hòa cải tạo năm 2002 Hệ thống kênh mương nội đồng: chưa được nâng cấp cải tạo

Toàn khu còn khoảng 30 ha thường xuyên bị ảnh hưởng úng, tập trung ở các xã Nhân Hòa, Bằng An Nguyên nhân một phần là do trạm bơm Nhân Hòa mới đầu tư đầu mối và một phần kênh tiêu chính, phần địa phương chưa đầu tư số kênh còn lại

12/ Khu tiêu Hiền Lương

Trang 39

Khu tiêu có giới hạn: Phía Đông đường 38 trở về Quế Võ, nằm giữa khu tiêu Kim Đôi và khu tiêu Châu Cầu Đây là khu tiêu liên hoàn với tổng diện tích cần tiêu là 8.428ha, có hai hướng tiêu là tiêu ra sông Cầu và tiêu ra sông Đuống

+ Về đầu mối: Khu do 2 trạm bơm Hiền Lương và Thái Hòa đảm nhiệm với tổng lưu lượng thiết kế của 2 trạm là 114.000 mP

3

P

/h Hai trạm bơm này đều thuộc huyện Quế

Võ, trong đó trạm bơm Hiền Lương tiêu ra sông Cầu, trạm bơm Thái Hòa tiêu ra sông Đuống Năng lực tiêu thực tế 25,3 mP

cư, sản xuất, nhiều đoạn kênh dẫn bị chia cắt để thả cá trong lòng kênh gây ảnh hưởng rất lớn khi vận hành tiêu

Hệ thống kênh cấp II:

• HL3: Lòng kênh bồi lắng cản trở dòng chảy nhiều đoạn

• HL6: Lòng kênh bồi lắng thu hẹp, dân vi phạm làm nhà, làm ao thả cá l=500m

• HL10: Ách tắc đoạn đầu kênh l=800m

• HL18: Kênh bồi lắng sạt lở ách tắc nhiều, cống qua kênh, khẩu độ hẹp

Hệ thống nội đồng: Bờ vùng bờ thửa kém nát, khả năng trữ nước kém

Do đầu mối chưa đủ năng lực tiêu theo yêu cầu hiện tại, hệ thống kênh mương bị lần chiếm không đủ khả năng dẫn nước cho các đầu mối, thực tế toàn khu chỉ có 6.362

ha được tiêu, còn khoảng 2.066 ha, thường bị úng ngập tập trung ở các xã Yên Giả, Quế Tân, Việt Hùng, Bằng An (huyện Quế Võ)

13/ Khu tiêu Quế Tân

Trang 40

Khu tiêu được giới hạn: Thuộc huyện Quế Võ, giáp ranh sông Cầu và khu tiêu Hiền Lương và Phù Lãng Đây là khu tiêu độc lập với tổng diện tích cần tiêu là 417ha, , hướng tiêu ra sông Cầu

+ Về đầu mối: Khu này do trạm bơm Quế Tân đảm nhiệm Trạm được xây dựng năm 1967 với 7 máy loại 1.000 mP

/s so với yêu cầu tiêu 4,9 l/s.ha

+ Về kênh mương: Trục tiêu chính kênh bị bồi lắng nhiều năm nay chưa nạo vét, khả năng tải nước giảm Trục tiêu nội đồng ít được tu sửa

Do đầu mối tiêu xuống cấp, kênh trục tiêu chưa hoàn chỉnh toàn khu hiện tại chỉ đáp ứng được 80 % yêu cầu tiêu, diện tích bị ảnh hưởng úng còn khoảng 83 ha

3

P

/h, trạm An Trạch được xây dựng năm 2000 với 2 máy loại 1.000mP

3

P

/h, hai trạm đều thuộc huyện Quế Võ, hướng tiêu ra sông Cầu Tổng lưu lượng tiêu đầu mối của toàn khu đạt 5,9 mP

3

P

/s bảo đảm tiêu cho toàn khu so với hệ số tiêu 4,9 l/s.ha

+ Về kênh mương: Kênh chưa có đầy đủ, nhiều đoạn kênh bị bồi lắng nhiều năm nay chưa được nạo vét nên khả năng tải nước kém

Do hệ thống kênh tiêu chưa hoàn chỉnh, khả năng tập trung dòng chảy khi tiêu kém vì vậy toàn khu hiện vẫn còn khoảng 300 ha của xã Phù Lãng bị ảnh hưởng úng hàng năm

15/ Khu tiêu Phả Lại

Khu tiêu được giới hạn: Đê Châu Cầu, nửa dãy núi Châu Phong, sông Cầu, sông Đuống Đây là khu tiêu liên hoàn với tổng diện tích cần tiêu là 1.117ha, hướng tiêu ra sông Cầu

Ngày đăng: 15/03/2019, 12:01

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm