ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊNTRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ĐINH TIẾN LONG Tên đề tài: NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN VÀ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH HẠI CHO GIỐNG QUÝT NGỌT KHÔNG HẠ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐINH TIẾN LONG
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN VÀ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH HẠI CHO GIỐNG QUÝT
NGỌT KHÔNG HẠT (Citrus unshiu Marc) TẠI THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Khoa học cây trồng Khoa : Nông học
Khóa học : 2014 - 2018
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐINH TIẾN LONG
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN VÀ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH HẠI CHO GIỐNG QUÝT
NGỌT KHÔNG HẠT (Citrus unshiu Marc) TẠI THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học cây trồng
Khoa : Nông học
Khóa học : 2014 – 2018
Giảng viên hướng dẫn : TS NGUYỄN MINH TUẤN
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là quá trình rất quan trọng giúp cho mỗi sinh viênhoàn thiện kiến thức, học hỏi kinh nghiệm, phương pháp làm việc, trau dồithêm kiến thức và kỹ năng thực tế vào trong công việc nhằm đáp ứng đượcyêu cầu của thực tiễn, nhu cầu nhân lực ngày càng cao của xã hội
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và được sự nhất trí của Banchủ nhiệm khoa Nông học - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và biện pháp kỹ thuật phòng trừ sâu bệnh hại cho giống quýt ngọt không hạt
(Citrus unshiu Marc) tại Thái Nguyên”, sau một thời gian làm việc nghiêm
túc và hiệu quả cho đến nay khóa luận của tôi đã hoàn thành
Để đạt được kết quả như ngày hôm nay tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâusắc đến các thầy, cô giáo đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá
trình học tập, đặc biệt là sự chỉ bảo nhiệt tình của thầy giáo TS Nguyễn Minh
Tuấn, người trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận này Đồng thời tôi
cũng xin chân thành cảm ơn đến gia đình và bạn bè, những người luôn hỗ trợ,giúp đỡ và ủng hộ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Do thời gian có hạn, kinh nghiệm và trình độ chuyên môn còn nhiềuhạn chế nên đề tài của tôi không tránh khỏi những thiếu sót Tôi kính mongnhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn sinh viên để đềtài của tôi có thể được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Đinh Tiến Long
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
DANH MUC CÁC CỤM TỪ, TỪ VIẾT TẮT vii
Phần I: MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu đề tài 2
1.2.1 Mục tiêu 2
1.2.2 Yêu cầu của đề tài 3
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
Phần II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
2.2 Nguồn gốc của quýt ngọt không hạt 5
2.3 Yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh của quýt 6
2.4 Tình hình sản xuất và tiêu thụ quýt trên thế giới và trong nước 9
2.4.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ quýt trên thế giới 9
2.4.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ quýt trong nước 12
2.5 Tình hình nghiên cứu cam, quýt trên thế giới và Việt Nam 15
2.5.1 Tình hình nghiên cứu cây có múi trên thế giới
15 2.5.1.1 Nghiên cứu về chọn tạo giống ở cam quýt 15
2.5.1.2 Nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng, phát triển của cây cam quýt 16
2.5.1.3 Nghiên cứu về phòng trừ sâu bệnh hại
21 2.5.2 Tình hình nghiên cứu cam quýt ở Việt Nam 21
Trang 52.5.2.1 Nghiên cứu và chọn tạo và thử nghiệm giống cam quýt 21
2.5.2.2 Nghiên cứu phương pháp phòng trừ sâu bệnh hại 24
PHẦN III: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 27
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 27
3.1.2 Vật liệu nghiên cứu 27
3.2 Phạm vi nghiên cứu 27
3.3 Nội dung nghiên cứu 27
3.4 Phương pháp nghiên cứu 28
3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 28
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 31
PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32
4.1 Kết quả nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của giống quýt ngọt không hạt tại Thái Nguyên 32
4.1.1 Đặc điểm hình thái giống quýt ngọt không hạt 32
4.1.2 Thời gian sinh trưởng lộc của 2 giống quýt trong thí nghiệm 33
4.1.3 Động thái tặng trưởng lộc của 2 giống quýt trong thí nghiệm 34
4.1.3.1 Động thái tăng trưởng của lộc xuân 34
4.1.3.2 Động thái tăng trưởng của lộc hè 36
4.1.4 Đặc điểm lộc của 2 giống quýt trong thí nghiệm 37
4.1.4 Thời gian ra hoa hình thành quả cả 2 giống quýt trong thí nghiệm 38
4.1.5 Tình hình sâu bệnh hại của 2 giống quýt 39
4.2 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật đến khả năng phòng trừ sâu bệnh hại cho giống quýt ngọt không hạt tại Thái Nguyên
39 4.2.1 Thành phần các loại sâu, bệnh hại trên giống quý thí nghiệm 39
Trang 64.2.2 Ảnh hưởng của thuốc BVTV đến chất lượng lộc giống quýt ngọt không
hạt 40
4.2.3 Ảnh hưởng của thuốc BVTV đến thời gian ra hoa hình thành quả giống quýt ngọt không hạt 41
4.2.4 Hiệu lực của thuốc BVTV đến tỷ lệ cây bị sâu vẽ bùa 42
4.2.5 Ảnh hưởng của thuốc BVTV đến tình hình sâu bệnh hại 43
PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 45
5.1 Kết luận 45
5.1.1 Khả năng sinh trưởng và phát triển của giống quýt ngọt không hạt 45
5.1.2 Ảnh hưởng của thuốc BVTV đến khả năng phòng trừ sâu bệnh hại cho giống quýt ngọt không hạt tài Thái Nguyên 45
5.2 Đề nghị 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2 1 Tình hình sản xuất cam quýt trên thế giới 10
Bảng 2 2 Tình hình sản xuất cây có múi ở một số nước vùng Châu Á 11
Bảng 2 3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ quýt ở các vùng năm 2014 13
Bảng 4 1 Đặc điểm hình thái của 2 giống quýt 32
Bảng 4 2 Thời gian sinh trưởng lộc của 2 giống quýt 33
Bảng 4 3 Đặc điểm lộc của 2 giống quýt 37
Bảng 4 4 Ảnh hưởng của giống quýt đến thời gian ra hoa giống quýt ngọt không hạt 38
Bảng 4 5 Ảnh hưởng của giống quýt đến số hoa và số quả hình thành/cây 38
Bảng 4 6 Mức độ nhiễm sâu bệnh hại chính 39
Bảng 4.7 Thành phần các loại sâu, bệnh hại trên giống quýt 39
Bảng 4 8 Ảnh hưởng của thuốc BVTV đến chất lượng lộc giống quýt ngọt không hạt 40
Bảng 4 9 Ảnh hưởng của thuốc BVTV đến thời gian ra hoa, quả giống quýt ngọt không hạt 41
Bảng 4 10 Hiệu lực của thuốc BVTV đến tỷ lệ cây bị sâu vẽ bùa 42
Bảng 4 11 Ảnh hưởng của thuốc BVTV đến tình hình sâu bệnh hại 44
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4 1 Động thái tăng trưởng chiều dài lộc xuân 34
Hình 4 2 Động thái tăng trưởng đường kính lộc xuân 35
Hình 4 3 Động thái tăng trưởng số lá/lộc xuân 35
Hình 4 4 Động thái tăng trưởng chiều dài lộc hè 36
Hình 4 5 Động thái tăng trưởng đường kính lộc hè 36
Hình 4 6 Động thái tăng trưởng số lá/lộc hè 37
Trang 10Cam quýt là một trong những cây ăn quả đặc sản lâu năm của Việt Nambởi giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao Trong thành phần thịt quả có chứa 6-12% đường, hàm lượng vitamin C từ 40-90 mg/100g tươi, các axit hữu cơ từ0,4-1,2% trong đó có nhiều loại axit có hoạt tính sinh học cao cùng các chấtkhoáng và dầu thơm, mặt khác quýt không hạt có thể dùng ăn tươi để giảikhát, chữa bệnh, chữa say tàu xe…
Hiện nay đã có rất nhiều các tiến bộ nghiên cứu và áp dụng vào sản xuất,tuy nhiên cho đến nay năng suất và chất lượng quả của nước ta hiện nay nhìnchung còn thấp hơn nhiều so với một số nước khu vực và trên thế giới Vềchất lượng còn nhiều hạn chế như: Quả vẫn còn nhiều hạt và mã chưa đẹp Dovậy việc nghiên cứu chọn tạo ra giống cây ăn quả có múi ít hạt và không hạt
là một trong những mục tiêu quan trọng hàng đầu của công tác giống cây ănquả có múi Xu hướng giống cam quýt trên thế giới ngoài việc chọn các giống
có năng suất, chất lượng cao, ổn định, chống chịu với điều kiện môi trường,
Trang 11sâu bệnh thì mục tiêu còn hướng tới chọn tạo ra các giống ít hạt hoặc khônghạt Mặc dù quýt ngọt không hạt là giống được trồng rất phổ biến ở các quốcgia trên thế giới, tuy nhiên ở Việt Nam thì lại chưa được phổ biến cho lắm Vìvây, việc nghiên cứu và đưa giống quýt ngọt này về trồng thử nghiệm và pháttriển mở rộng là rất cần thiết cho sản xuất cây có múi nói chung và cây quýtngọt nói riêng Ngoài đặc tính không hạt ra đây còn giống chín sơm rất thíchhợp cho trong rải vụ nâng cao hiệu quả kinh tế.
Huyện Đại Từ là huyện miền núi nằm ở phía Tây bắc của tỉnh TháiNguyên có quỹ đất rất lớn phục vụ cho phát triển sản xuất nông nghiệp, trong
đó tổng diện tích đất tự nhiên là 57,848ha, trong đó có tổng diện tích đất hiệnđang sử dụng vào mục đích là 93,8% còn lại là 6,2% diện tích đất chưa sửdụng Không những có quỹ đất dồi dào mà tại đây có lượng mưa nhiều nên
ẩm độ trung bình từ 70 – 80%, nhiệt độ trung bình dao động từ 22–270c đâychính là những điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất cây ăn quả có múinói chung và quýt ngọt không hạt nói riêng Xuất phát từ thực tiễn chúng tôi
tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu khả năng sinh trưởng phát triển
và biện pháp kỹ thuật phòng trừ sâu bệnh hại cho giống quýt ngọt không hạt (Citrus unshiu Marc) tại Thái Nguyên”.
1.2 Mục tiêu và yêu cầu đề tài
Trang 121.2.2 Yêu cầu của đề tài
- Nghiên cứu thời gian sinh trưởng các đợt lộc, chất lượng lộc, đặcđiểm hình thái cây và thời gian ra hoa, đậu quả, giống quýt ngọt không
- Nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc BVTV đến thời gian sinh trưởnglộc, chất lượng lộc, và thời gian ra hoa, đậu quả giống quýt ngọt không hạt
- Nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc BVTV đến tình hình sâu bệnh hại
và khả năng phòng trừ một số loại sâu bệnh hại quýt ngọt không hạt
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
đề cho sự phát triển sản xuất quýt ở giai đoạn kinh doanh cho các vùng trồngcam quýt ở Thái Nguyên nói riêng và các khu vực có khí hậu tương tự tỉnhThái Nguyên ở trên cả nước nói chung
Trang 13Phần II TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cõ sở khoa học của đề tài
Cây ăn quả được xem là cây trồng quan trọng trong việc chuyển đổi cơcấu cây trồng, nâng cao hiệu quả kinh tế, nhất là ở các tỉnh Trung du miền núiphía Bắc Trong đó, quýt đang được thị trường trong và ngoài nước ưachuộng Quýt không hạt hoặc ít hạt thường do giống trồng có nhiễm sắc thể làtam bội, do sự bất dục đực hoặc noãn bất dục hoặc do sự bất tương hợp trong
đó có sự bất tương hợp do tự thụ phấn
Đối với cuộc sống của bà con Thái Nguyên, cây cam quýt đã mang lại giátrị về kinh tế cao, vừa là cây xóa đói giảm nghèo, vừa là cây làm giàu của bàcon nơi đây Trong quá trình sản xuất bà con nông dân đã dần chủ độngchuyển nhiều diện tích cam, quýt từ trồng quảng canh và bán thâm canh sangthâm canh, tất cả các diện tích trồng mới hiện nay hầu hết cũng chú trọng vàophương thức thâm canh, nhưng do trình độ chưa đồng đều, việc trồng quýtchủ yếu do kinh nghiệm truyền lại Người dân trồng những giống quýt nhiềuhạt, chưa có các giống quýt ngọt không hạt nên mặc dù có năng suất, chấtlượng cao nhưng do đặc tính nhiều hạt nên không phát huy được hết vai trò vàgiá trị kinh tế của loại cây này Giống quýt ngọt không hạt có khả năng thíchứng trên nhiều vùng sinh thái khác nhau, việc nghiên cứu lựa chọn đượcgiống quýt thích hợp cho vùng sinh thái tại địa điểm nghiên cứu là cần thiết.Sâu bệnh hại là một trong yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởngphát triển của cây ngay cả giai đoạn kiến thiết và giai đoạn kinh doanh Sửdụng thuốc BVTV phun vào các thời điểm thích hợp có tác dụng làm giảm sựphát sinh phát triển sâu bệnh gây hại cho cây, giúp cho cây sinh trưởng pháttriển tốt
Trang 14Chính vì vậy giống quýt ngọt không hạt đã được đưa vào thử nghiệm đầutiên tại địa điểm là thị trấn Quân Chu, huyện Đại Từ nhằm mở ra một hướng
đi mới cho bà con nơi đây
2.2 Nguồn gốc của quýt ngọt không hạt
Cây có múi nói chung là những loài cây phân bố rất rộng, gần như có mặthầu hết các lục địa và ở mỗi vùng tùy theo điều kiện tự nhiên mà có nhữnggiống thích hợp, những đặc tính riêng Cam quýt có sự phân bố rộng là do khảnăng dễ thích nghi với nhiều môi trường sống khác nhau, do khả năng dễ laitạo giữa các chủng để tạo ra những chủng mới có khả năng thích nghi caohơn Nhiều kết quả nghiên cứu cho rằng cam quýt đang được trồng hiện nayđều có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Đông Nam Châu A.(Tanaka, 1979) [25] đã vạch đường ranh giới xuất xứ của giống thuộc chicitrus từ phía đông Ấn Độ (chân dãy Hymalya) qua Úc, miền Nam TrungQuốc, Nhật Bản
Một số báo cáo gần đây đã nhận định tỉnh Vân Nam Trung Quốc cóthể là nơi khởi nguyên của nhiều loài cam quýt quan trọng Tại đây còn tìm
thấy rất nhiều loài cam quýt hoang dại Loài chanh yên, phật thủ (Citrus medica) có nguồn gốc tại miền Nam Trung Quốc, là loài cây ăn quả được
mang đến trồng tại Địa Trung Hải và Bắc Phi rất sớm, trước thế kỷ I sau CôngNguyên Những tài liệu cổ xưa có ghi chép loài cây ăn quả này ở Bắc Phi làmnhiều người hiểu lầm chúng có nguồn gốc tại đây Các loài chanh vỏ mỏng
(Lime, C auranlifolia Swingle) được xác định có nguồn gốc ở miền Nam
Trung Quốc và miền Tây Ấn Độ, sau đó được các thuỷ thủ đi biển mang vềtrồng ở châu Phi, Địa Trung Hải và châu Âu, v.v
Các giống quýt cũng được xác định có nguồn gốc ở miền Nam châu
Á, gồm miền Nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, sau đó được những
người đi biển mang đến trồng ở Ấn Độ Quýt (Citrus reticulata) được trồng ở
Trang 15vùng Địa Trung Hải, châu Âu và châu Mỹ muộn hơn so với các loài quả cómúi khác, vào khoảng năm 1805.
Quýt ngọt (Citrus sinensis L.) được xác định có nguồn gốc ở miền Nam
Trung Quốc, Ấn Độ và miền Nam Indonecia, sau đó được mang về trồng ởchâu Âu, Địa Trung Hải, châu Phi từ thế kỷ 13 đến thế kỷ
Quýt ngọt không hạt (Citrus unshiu Marc) có nguồn gốc từ Nhật Bản.
Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng loại quả này có nguồn gốc từ Trung Quốc
và được trồng cách đây 2400 năm
2.3 Yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh của quýt
- Nhiệt độ
Do có nguồn gốc nhiệt đới và á nhiệt đới nên cây có đặc tính thích nghivới điều kiện khí hậu không có sự quá chênh lệch giữa mùa đông và mùa hè.Cho nên cam quýt thường thích ấm và chịu lạnh kém, nhiệt độ thích hợp nhất
từ 23- , cây ngừng sinh trưởng khi nhiệt độ dưới 13 và chết khi -5 (Vũ Mạnh Hải và cs, 1988) [7]
Cây cam, quýt, chanh, bưởi sinh trưởng được trong phạm vi nhiệt độ từ
12 - 39 , nhiệt độ thích hợp nhất từ 23-27 Tại nhiệt độ thấp -5 có một
số giống có thể chịu được trong thời gian rất ngắn khi nhiệt độ cao 40 , kéodài trong thời gian dài trong nhiều ngày cam quýt sẽ ngừng sinh trưởng, biểuhiện bên ngoài là lá rụng, cành khô héo (Trần Thế Tuc, 1980) [16]
Nhiệt độ đất và nhiệt độ không khí ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt độngsinh trưởng, phát triển của cam quýt như: Sự phát lộc, quá trình quang hợp, sựhoạt động của bộ rễ, sự lớn lên của quả.v.v Đối với những vùng mùa hè quánóng và mùa đông quá lạnh, nhiệt độ bình quân năm >15 , tổng tích ôn từ2.500 - 3.500 cũng có thể trồng cam quýt Ở các vùng lục địa xa biển có độcao từ 1.700 - 1.800m so với mực nước biển thì không nên trồng cam quýt, vìnhững vùng này mùa đông thường có tuyết rơi và nhiệt độ xuống tới
Trang 16Những giống có khả năng thích ứng với nhiệt độ thấp thường có phẩm vị ngon, mã quả đẹp, hấp dẫn, ngược lại những giống chịu nhiệt có phẩm chất kém hơn.
- Ánh sáng
Nhìn chung cam quýt cũng như các thực vật khác, để hoàn thành chu
kỳ phát dục Cây quang hợp để tích lũy chất khô dự trữ cho quá trình sinhtrưởng, cây cần một lượng ánh sáng nhất định, thiếu ánh sáng thì lá to vàmỏng, cành mềm yếu, cành vượt phát triển mạnh và vấn đề hình thành mầmhoa sẽ khó khăn
Vũ Công Hậu và một số tác giả khẳng định rằng; cam quýt là cây ưaánh sáng tán xạ, nơi có cường độ ánh sáng từ 10.000 - 15.000 lux, tương ứngvới 0,6 cal/ , ứng với ánh sáng lúc 8-9h sáng và 4-5h chiều hoặc nhữngngày trời quang mây mùa hè Tuy nhiên để có được lượng ánh sáng như vậycần bố trí mật độ hợp lý như không quá dày cũng không quá thưa, vườn camquýt nhất thiết phải bố trí nơi thoáng, có thể trồng cây chắn gió đồng thời cótác dụng che bớt ánh sáng để có ánh sáng trực xạ vào những ngày trời nắnggắt, khi đủ ánh sáng cây sinh trưởng, phát triển tốt, ít sâu bệnh Giống khácnhau thì nhu cầu ánh sáng cũng khác nhau; cam và bưởi cần nhiều ánh sánghơn so với chanh, chanh đòi hỏi ánh sáng ít hơn
- Nước và lượng mưa
Cam quýt có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới nóng và ẩm vì vậy cam quýt
là cây không những cần nhiệt độ cao mà còn cần ẩm độ cao, ẩm độ không khíthấp hoặc biến động nhiều sẽ ảnh hưởng đến quá trình thoát hơi nước của cây,cần nhiều nước nhất là thời kỳ nảy mầm, cây con, thời kỳ phân hóa mầm hoa,thời kỳ kết quả và quả đang phát triển Tuy ưa ẩm nhưng cam quýt rất sợ úngđất sẽ bị thiếu oxy, bộ rễ hoạt động sẽ kém vì vậy sẽ là cho cây rụng lá, hoa,quả theo (Bùi Huy Kiểm, 2000) [10], (Trần Thế Tục, 1980) [16], (Nitsch, J P,1963) [23] Cam quýt yêu cầu độ ẩm không khí 75% và độ ẩm đất 60%, độ
ẩm này không những đảm bảo cho cây sinh trưởng phát triển tốt mà còn cho
Trang 17năng suất cao, phẩm chất quả tốt, mẫu mã quả đẹp, quả to, vỏ mỏng Nếu độ
ẩm không khí quá cao hoặc quá thấp đều có hại cho cam quýt, ẩm độ khôngkhí quá cao và kèm theo nắng to vào tháng 8, tháng 9 hàng năm thường gâyhiện tượng rám nắng và nứt quả theo (Trần Thế Tục và cs, 2001) [17]
Nhìn chung lượng mưa ở các vùng sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam
đủ thỏa mãn nhu cầu nước của cây (1.400-2.500 mm/năm), nhưng do sự phân
bố không đồng đều giữa các tháng trong năm ảnh hưởng không nhỏ tới năngxuất, phẩm chất của quả Chính vì vậy việc đáp ứng nhu cầu nước cho câycam quýt là biện pháp kỹ thuật rất có hiệu quả Lượng mưa thích hợp cho cácvùng trồng cam quýt trên dưới 2.000mm, Cam cần 1.200 - 1.500mm, quýt cầnnhiều hơn từ 1.500 - 2.000mm, chanh cần ít nước hơn quýt, lượng nước trongđất có ảnh hưởng rõ rệt đến hoạt động của bộ rễ, lượng nước được coi là đủkhi nước tự do bằng 1% và độ đất bằng 60% độ ẩm bão hòa đồng ruộng(Hoàng Ngọc Thuận, 2000) [18]
-Gió
Quy luật hoạt động của gió bão là một hiện tượng cần lưu ý trong việc
bố trí các vùng trồng cam quýt Tốc độ gió vừa phải có ảnh hưởng tốt đếnviệc lưu thông không khí, điều hòa độ ẩm, giảm sâu bệnh hại, cây sinh trưởngtốt (Nguyễn Duy Lâm, Lương Thị Kim Oanh, Lê Hồng Sơn, 2001) [8] Ởnước ta vùng đồng bằng sông Hồng và ven biển miền Trung về mùa mưathường có gió bão gây đổ cây, gẫy cành, rụng quả làm cho khả năng sinhtrưởng và năng suất của cây giảm rõ rệt Do vậy cần chú ý đến việc trồng cácđai rừng chắn gió cho các vườn trồng cam quýt ở những vùng hay có bão lớn(Hoàng Ngọc Thuận, 2000) [18], (Bùi Huy Kiểm, 2000) [10]
Trang 18ngầm thấp dưới 0,8m Cây cam quýt có thể trồng trên nhiều loại đất khácnhau ở Việt Nam: đất thịt nặng ở đồng bằng, đất phù sa châu thổ, đất đồi núi,đất phù sa cổ, đất thịt nhẹ đất cát pha, đất bạc màu Tuy nhiên nếu trồng camquýt trên đất xấu, nghèo dinh dưỡng cần phải đầu tư thâm canh cao, hiệu quảkinh tế sẽ tốt hơn (Trần Thế Tục, 1980) [16].
Cam quýt có thể trồng được trên đất có độ PH từ 4 - 8 nhưng thíchhợp nhất là từ 5,5 - 6, điện thế oxy hóa khử > 300 mV ở độ PH này cácnguyên tố khoáng cần thiết cho cây cam quýt phần lớn ở dạng dễ tiêu, nếu làđất chua nhất thiết phải bón vôi để nâng cao độ PH cho đất đất trồng camquýt cần có độ thoáng cao, nồng độ oxy phải lớn hơn 4% cây mới sinh trưởng
và phát triển bình thường, nếu hàm lượng oxy nhỏ hơn 2% cây sẽ ngừng sinhtrưởng Đánh giá mức độ thích nghi của đất đối với cam quýt thì đất phù sa cổ
là tốt nhất, sau đó đến đất phù sa mới bồi hàng năm, đất Bazan, đất dốc tụ vàđất đá phiến sét Không nên trồng cam quýt trên đất thịt nặng, đất có tầngcanh tác mỏng, đất đá ong và đá lộ đầu hoặc những nơi có mực nước ngầmcao mà không thể thoát được nước
Tóm lại, cam quýt có thể sinh trưởng, phát triển tốt ở khắp các miềnsinh thái ở Việt Nam, nhưng lý tưởng nhất là khí hậu các tỉnh miền núi phíaBắc của Việt Nam
2.4 Tình hình sản xuất và tiêu thụ quýt trên thế giới và trong nước.
2.4.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ quýt trên thế giới.
Qua bảng số liệu cho thấy tình hình sản xuất cam quýt trên thế giới trongnhững năm gần đây có xu hướng tăng cả diện tích, năng suất và sản lượng
Năm 2012 diện tích quýt toàn thế giới là 2297,6 (nghìn ha), năng suấttrung bình đạt 12,1 (tấn/ha) và sản lượng đạt 27769,3 (nghìn tấn) Đến năm
2016 các chỉ tiêu đều tăng với diện tích là 2609,1 (nghìn ha) tăng lên 11,9%,năng suất đạt 12,5 (tấn /ha) tăng lên 3,3% và sản lượng đạt 32792,5 (nghìntấn) tăng lên 15,3%
Trang 19So sánh về tình hình sản xuất cam quýt của 5 châu lục vào năm 2016 cóthể sắp xếp theo thứ tự từ lớn đến nhỏ như sau: Châu Đại Dương (22,3 tấn/ha)
> Châu Phi (18,4 tấn/ha) > Châu Âu (18,1 tấn/ha) > Châu Mỹ (16,5 tấn/ha) >Châu Á (11 tấn/ha)
Bảng 2 1 Tình hình sản xuất cam quýt trên thế giới
Chỉ
Các châu lục trên thế giới
Thế giới Châu
Phi
Châu
Châu Âu
Châu Đại Dương
Nguồn: FAOSTAT/FAO Statistics - năm 2018 [21].
Vùng châu Mỹ: các nước sản xuất nhiều như Mỹ, Mêxico, CuBa,Costarica, Braxin, Achentina tuy vùng cam, quýt châu Mỹ được hình thành
Trang 20muộn hơn so với vùng khác, nhưng do điều kiện thiên nhiên thuận lợi, do nhucầu đòi hỏi của nên công nghiệp Hoa Kỳ đã thúc đẩy ngành cam quýt ở đâyphát triển mạnh Nhưng nhìn chung trong khoảng thời gian từ năm 2012-2016chỉ có sản lượng là tăng lên đáng kể còn năng suất và diện tích cũng tăngnhưng vẫn ở mức độ chậm.
Vùng châu Á được khẳng định là quê hương của quýt, hầu hết các nướcchâu Á đều sản xuất quýt Vùng lãnh thổ châu Á sản xuất cam, quýt gồm cácnước (Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônêxia, Philippin, Thái Lan…) đây là vùng códiện tích lớn nhất so với các châu lục khác trên thế giơi (năm 2016 có tổngdiện tích là 2005,9 nghìn ha), chiếm 76,87 % tổng diện tích toàn thế giới, tuynhiên năng suất bình quân qua các năm lại thấp nhất so với các châu lụckhác trên thế giới, năng suất bình quân từ năm 2012 đến năm 2016 chỉ đạtkhoảng từ
Năng suất (tấn/ha)
Diện tích (nghìn ha)
Năng suất (tấn/ha)
Diện tích (nghìn ha)
Năng suất (tấn/ha) Trung Quốc 545,90 12,58 565,60 12,83 576,00 12,97
Trang 21Tình hình sản xuất cây ăn quả có múi ở Châu Á trong khoảng thời gian từnăm 2014 – 2016 cho thấy Trung Quốc là nước dẫn đầu trong 2 năm liên tiếp
về diện tích lần lượt là 515,9 (nghìn ha) và 565,6 (nghìn ha) đến năm 2016 thì
Ấn Độ vươn lên một cách ngoại mục và vượt qua cả Trung Quốc với diện tích
là 643,4 (Nghìn ha) Nhưng nói đến năng suất đạt được thì Nhật Bản lại lànước đáng chú ý nhất trong khu vực Châu Á, tuy có diện tích quýt nhỏ nhấttrong khu vực nhưng là nước đâu tiên có thể khiến cho năng suất tăng gấp 3lần so với diện tích sản xuất, đến năm 2016 diện tích có giảm đi nhưng năngsuất thu về lại tăng gấp 4 lần và đây xứng đáng là quốc gia để cho các nướctrong khu vực châu Á học tập
2.4.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ quýt trong nước
Cam quýt được đưa vào Việt Nam từ thế kỷ XVI, cho đến nay đã đượcnhiều nhà khoa học quan tâm và đã chọn ra được nhiều giống cho năng suấtcao, phẩm chất tốt đem trồng ở một số vùng trên cả nước
Từ những năm hoà bình lập lại đến những năm 60 của thế kỷ 20 camquýt ở Việt Nam còn rất hiếm, cây cam mới chỉ tập trung ở một số vùngchuyên canh như Xã Đoài (Nghệ An), Bố Hạ (Bắc Giang) đây là 2 vùngchuyên canh cam lớn của Việt Nam mà nhiều người biết đến
Từ những năm 1960 ở miền Bắc thành lập một loạt các nông trườngquốc doanh, trong đó có rất nhiều các nông trường trồng cam quýt như Sông
Lô, Cao Phong, Sông Bôi, Thanh Hà, Sông Con đã hình thành một số vùngtrồng cam chính ở nước ta
Vùng Nghệ An khoảng 1.000 ha, vùng Tây Thanh Hoá 500 ha, vùngXuân Mai (Hoà Bình) 500 ha, vùng Việt Bắc 500 ha và các vùng còn lại khác
500 ha
Ở nước ta hiện nay, có nhiều vùng trồng cam quýt, song những vùng chonăng suất cao, phẩm chất tốt có tiếng trong nước phải kể đến vùng cam Đồng
Trang 22bằng sông Cửu Long, vùng cam Trung du miền núi phía Bắc với nhiều giốngcam đặc sản, chất lượng như: cam Yên Bái, cam Bắc Quang, quýt Bắc Sơn,cam sành Hàm Yên với tổng diện tích của cả nước năm 2014 là 75,600 ha.Phân bố ở 8 vùng sản xuất bao gồm Đồng bằng sông Hồng, vùng Đông Bắc,vùng Tây Bắc, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ,Đồng bằng sông Cửu Long Các vùng trồng cam có diện tích lớn là Đồngbằng sông Cửu Long 39,200 ha, vùng Trung du và miền núi phía bắc 15,700
ha và vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung 8,100 ha
Bảng 2 2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ quýt ở các vùng năm 2014
Diện tích trồng (nghìn ha)
Diện tích thu hoạch (nghìn ha)
Năng suất (nghìn ha)
Sản lượng (nghìn tấn)
Nguồn: Tổng cục thống kê - Source: General Statistics Office [20]
Số liệu bảng 2.3 cho thấy diện tích lớn nhất là vùng Đồng bằng sôngCửu Long chiếm 51,85% so với cả nước, vùng có diện tích thấp nhất là TâyNguyên 1,32% Như vậy có thể thấy diện tích phân bố cam quýt ở nước tachưa được đồng đều giữa vùng đứng đầu và vùng cuối có cách biệt rất lớn khi
Trang 23mà diện tích cam quýt ở Tây Nguyên chỉ bằng 2,55% so với đồng bằng sôngCửu Long.
Đến nay các vùng trồng cây ăn quả có múi lớn của nước ta đã hìnhthành như vùng Đồng bằng sông Cửu Long, vùng cam Phủ Quỳ - Nghệ An,vùng cam Cao Phong - Hoà Bình, vùng cam Tuyên Quang và Hà Giang.Vùng núi và cao nguyên Bắc Bộ, ở miền Bắc nước ta có thể thích hợp vớitrồng nhiều giống cây ăn quả có múi chất lượng cao, không hạt, ít hạt nhưValencia, Navel, Satsuma và Clementine So sánh tổng lượng nhiệt năm ở cácvùng trong nước với các vùng trồng cây có múi chính trên thế giới kết hợpvới tính toán nhu cầu về nhiệt của các giống ta thấy hầu hết các tỉnh miền núiphía Bắc như vùng núi và Trung du Nghệ An, Thanh Hóa, Hòa Bình, HàGiang, Yên Bái, Tuyên Quang có những điều kiện nhiệt độ tương tự như cácvùng trồng cam nổi tiếng trên thế giới như Florida, Arizona (Mỹ), Rio deJaneiro, Sao Paulo (Braxin) Vùng núi cao của ta có nhiệt độ thấp vào mùađông, đủ kích thích cây ra hoa, đồng thời không quá thấp gây chết cây nhưvùng ôn đới Mùa hè ở đây lại ấm áp, mưa nhiều, chênh lệch nhiệt độ ngàyđêm lớn thuận lợi cho cây sinh trưởng và phát triển Mùa thu-đông nhiệt độthấp tạo ra chất lượng quả và màu sắc quả đẹp (Đỗ Năng Vịnh, 2008) [19]
* Vùng Đồng bằng sông cửu long: gồm các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre,Đồng Tháp, Cần Thơ, Sóc Trăng có vị trí từ 9o15’ đến 10o30’ vĩ độ Bắc, địahình rất bằng phẳng, có độ cao từ 3 -5m so với mặt biển Các yếu tố khí hậunhư ánh sáng, nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm ở vùng này rất thích hợp cho việcphát triển sản xuất cây có múi Cam ở Nam Bộ thường là loại trái lớn, hương
vị thơm ngon, vượt xa các loại cam mang từ Trung Quốc vào cùng mùa Cácgiống được ưa chuộng và trồng nhiều ở khu vực này là cam sành, cam mật,quýt hồng, quýt xiêm, quýt đường, bưởi Năm roi Do có điều kiện khí hậu
Trang 24thích hợp nên năng suất của các giống kể trên tương đối cao (GurdwerHaicnic USA, 1967) [22].
* Vùng khu 4 cũ: Gồm các tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Tĩnh trải dài
từ 18o đến 20o30’ vĩ độ Bắc, trọng điểm trồng cam quýt vùng này là Phủ Nghệ An Các giống cam quýt ở khu vực này có khả năng sinh trưởng tốt vànăng suất luôn ổn định, trong đó giống Sunkiss và Xã Đoài là những giống có
Quỳ-ưu thế về tiềm năng năng suất, chất lượng và khả năng chống chịu (Trần ThếTục và Trần Đăng Kết, 1994) [12]
* Vùng miền núi phía Bắc: Đây là nơi có tập đoàn cam quýt đa dạng do
có địa hình sinh thái phong phú Các tỉnh có diện tích trồng cam lớn ở vùngnày gồm Tuyên Quang, Yên Bái, Lào Cai, Hà Giang, Bắc Kan, Cao Bằng,Lạng Sơn Tại đây, cam quýt trở thành thu nhập chính của hộ nông dân, đemlại hiệu quả kinh tế cao nhất so với các loại cây trồng khác trên cùng loại đất.Trong đó huyện Bắc Quang – Hà Giang là một vùng sản xuất cam quýt lớncủa miền Bắc có thể hình thành nên vùng trồng cam xuất khẩu, với giống camsành chất lượng ngon, màu sắc đẹp cung cấp một lượng cam lớn cho miền bắcvào dịp tết cổ truyền và sau tết
2.5 Tình hình nghiên cứu cam, quýt trên thế giới và Việt Nam
2.5.1 Tình hình nghiên cứu cây có múi trên thế giới
2.5.1.1 Nghiên cứu về chọn tạo giống ở cam quýt
Trên thế giới, các giống cam quýt chỉ có một tỉ lệ nhỏ là được tạo rabằng phương pháp lai tạo còn đâu hầu hết được chọn lọc từ những đột biếntrong tự nhiên Có một số loại cam quýt được chọn lọc bằng phương pháp tựnhiên như: Quýt satsuma (Vũ Công Hậu, 1996) [9] Đặc điểm không hạt màtrên cây ăn quả nói riêng và các giống cam quýt nói chung là đặc điểm vôcùng quý giá đối với thị trường trái cây tươi, ngay cả với nước ép Bởi thìtheo nghiên cứu của (Ollitrault và ctv, 2007) [24] đã chỉ ra là khi ép cam quýt
Trang 25kèm cả hột thì nước sẽ có vị đắng Theo như nghiên cứu của (Varoquaux và
cs, 2000) [26] những trái mà có số hạt nhỏ hơn năm thì được xem như làkhông hạt
2.5.1.2 Nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng, phát triển của cây cam quýt
- Nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng thân, cành:
Sinh trưởng cành của cây cam quýt phụ thuộc vào tuổi cây, điều kiệnmôi trường và kỹ thuật chăm sóc Nhìn chung, những cây trẻ chưa cho quảsinh trưởng của cành (phát sinh lộc) thường xảy ra quanh năm, nghĩa là mộtnăm thường có nhiều đợt cành xuất hiện Khi cây trưởng thành đã cho quả thìthường chỉ có 4 đợt lộc trong năm, đó là lộc xuân, lộc hè, lộc thu và lộc đông
Ở những vùng khô hạn, hoặc rét sớm thì chỉ có 3 đợt lộc xuân, hè và thu,không có lộc đông
- Lộc xuân: xuất hiện từ tháng 2 đến tháng 4 hàng năm Số lượng cànhxuân thường nhiều, chiều dài cành tương đối ngắn Thường cành xuân là cành
ra hoa và cho quả nên gọi là cành quả
- Lộc hè: xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 7 hàng năm, thường xuất hiệnkhông tập trung, sinh trưởng không đều, cành thường to, dài, đốt thưa Cành
hè là cành sinh dưỡng có nhiệm vụ cung cấp dinh dưỡng cho cành quả và làcành mẹ của cành thu Tuy nhiên, nếu cành mùa hè nhiều sẽ dẫn tới sự cạnhtranh dinh dưỡng đối với quả và có thể gây rụng quả nghiêm trọng, do vậycần phải cắt tỉa để lại một số lượng cành thích hợp
- Lộc thu: xuất hiện từ tháng 8 đến tháng 10 hàng năm, mọc đều vànhiều hơn cành mùa hè Cành thu thường mọc từ cành mùa xuân không mangquả và phần lớn từ cành mùa hè, có vai trò quan trọng trong việc mở rộng tán,tăng cường khả năng quang hợp của cây và là cành mẹ của cành xuân, do vậy
số lượng và chất lượng của cành thu có ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng vàchất lượng cành xuân, cành mang quả của năm sau
Trang 26- Lộc đông: xuất hiện vào tháng 11 và tháng 12 hàng năm, đợt cànhnày ít, cành ngắn, lá vàng xanh Nếu xuất hiện nhiều sẽ làm tiêu hao dinhdưỡng, ảnh hưởng đến sự phân hoá mầm hoa của cành quả.
- Nghiên cứu về đặc tính sinh lí ra hoa và đậu quả:
Hoa cam quýt là hoa chùm hoặc tự bông Nụ, hoa cam quýt nhỏ hơn
so với bưởi Tràng hoa có từ 3 - 5 cánh tách biệt, cánh hoa có từ 3 - 6 cánh,dày có màu trắng Nhị đực có từ 22 - 47 cái, nhụy cái có một do các bộ phậnđầu nhụy, vòi nhụy và bầu nhụy cấu tạo thành Đầu nhụy thường to, cao hơnbao phấn Với cấu tạo này bưởi được coi là cây thụ phấn, khai hoa dễ dàng.Hoa cam quýt từ khi nở đến khi tàn khoảng hơn một tháng, khả năng ra hoacủa bưởi rất cao, tuy nhiên tỷ lệ đậu quả lại thấp (1 - 2%) Thời điểm ra hoacủa mỗi giống là khác nhau và phụ thuộc vào thời tiết của từng năm Quátrình ra hoa của cam quýt trải qua các giai đoạn:
- Cảm ứng và phân hoá hoa: Ở một số cây trồng, một quang chu kỳ tớihạn hoặc xử lý xuân hoá hoặc là cả hai điều kiện trên sẽ tạo ra một chất kíchthích ra hoa giả định nào đó Cảm ứng ra hoa có thể bị chi phối bởi nhiều yếu
tố như: sự có mặt của một số chất kích thích ra hoa, sự tích luỹ sản phẩmquang hợp Có thể ở từng loài thực vật, quá trình ra hoa được kích thích bởimột yếu tố cảm ứng ra hoa khác nhau Với cây bưởi quá trình hình thành hoadiễn ra khi xuất hiện yếu tố hoạt hoá cho sự sinh trưởng của chồi đỉnh và sự
có mặt của yếu tố cảm ứng hình thành hoa Cảm ứng ra hoa bắt đầu với sựngừng sinh trưởng sinh dưỡng trong mùa đông - thời kỳ sinh trưởng không rõràng ở vùng á nhiệt đới hoặc thời kỳ khô ở vùng nhiệt đới Nhìn chung, trêncây trưởng thành, sự sinh trưởng chồi ngừng lại và tốc độ sinh trưởng rễ giảmkhi nhiệt độ giảm vào mùa đông mặc dù nhiệt độ không dưới C Trongthời kỳ này các lộc sinh dưỡng phát triển khả năng ra hoa Vì thế, sự cảm ứngliên quan đến việc định hướng chuyển từ sinh trưởng sinh dưỡng sang tạo các
Trang 27chùm hoa Trên đồng ruộng, cần có thời kỳ khô hạn kéo dài hơn 30 ngày đểmột số lượng lộc hoa có cảm ứng ra hoa đáng kể Hiện nay, việc gây hạn nhântạo đã được sử dụng như là một phương tiện để xúc tiến sự cảm ứng ra hoa ởcây cam quýt, ở nước ta vùng đồng bằng sông Cửu Long nông dân trồng cây
ăn quả cũng thường sử dụng biện pháp xiết nước để kích thích cho cây ra hoatheo ý muốn
- Sự ra hoa: Sự ra hoa xảy ra sau khi cảm ứng và phân hoá hoa khi cónhiệt độ và độ ẩm đất thích hợp Nhiệt độ ngưỡng tối thiểu cho ra hoa là
C hoặc thấp hơn đáng kể nhiệt độ tối thiểu cho sinh trưởng sinh dưỡng.Trên cây cam quýt thường có 5 loại cành hoa: (i) cành hoa không có lá mọc từchồi sinh trưởng từ vụ trước; (ii) cành hỗn hợp có một vài hoa và lá; (iii) cànhhỗn hợp có nhiều hoa và một vài lá; (iv) cành hỗn hợp có một vài hoa vànhiều lá; và (v) chồi sinh dưỡng chỉ có lá Những cành có tỷ lệ hoa, lá cao nhưloại (iv) có tỷ lệ đậu quả và giữ được tỷ lệ quả đến thu hoạch cao nhất Tuynhiên, lá mới hình thành 4 - 6 tuần sau ra hoa có thể làm giảm sự đậu quả.Hoa cam quýt mọc thành chùm kiểu sim, thường các hoa ở phía gốc chùm nởtrước sau đó lần lượt đến các hoa ở giữa và đỉnh chùm nở sau, hoa đỉnh chùm
sẽ nở cuối cùng Kích thước hoa nhìn chung giảm từ hoa nở đầu tiên đến hoacuối cùng Do vậy, hoa thứ hai tính từ đỉnh chùm hoa thường nhỏ nhất nhưnglại có tỷ lệ đậu quả cao nhất trên chùm hoa Hoa nở muộn sinh trưởng nhanhhơn và bền hơn hoa nở sớm Nhiều nghiên cứu đã được tiến hành để xác địnhcác yếu tố sinh lý nào điều khiển sự ra hoa ở cây cam quýt Các yếu tố có liênquan nhất đến sự nở hoa là hydrat cacbon, hormon, nhiệt độ, nước và dinhdưỡng Cơ sở của hydrat cacbon có tác động đến sự nở hoa là khi khoanh vỏlàm tăng cảm ứng ra hoa, tăng khả năng đậu quả Sự ảnh hưởng của hormontới ra hoa cam quýt cũng đã được nghiên cứu sâu trong nhiều năm Một sốnghiên cứu sử dụng hormon nội sinh với chồi cây bưởi và được đánh giá bằng
Trang 28mức độ ra hoa Dinh dưỡng của cây liên quan trực tiếp và gián tiếp đến sự rahoa của cây cam quýt Hàm lượng N trong lá cao, đặc biệt đối với cây nongây ra sự sinh trưởng sinh dưỡng mạnh và ức chế sự ra hoa Ngược lại, hàmlượng N trong lá thấp kích thích ra hoa sớm Tuy nhiên, cây thiếu N nghiêmtrọng thì ra ít hoa Người ta đã nghiên cứu thấy rằng, nên duy trì hàm lượng Ntrong lá ở mức tối ưu khoảng 2,5 - 2,7% sẽ tạo ra số hoa vừa phải và cho tỷ lệđậu quả và năng suất cao nhất Stress nước và nhiệt độ thấp làm tăng hàmlượng amôn trong lá và sự ra hoa.
- Quá trình thụ phấn và đậu quả: Nhiệt độ có ảnh hưởng đáng kể đếnhiệu quả thụ phấn do trực tiếp ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng của ốngphấn Tốc độ nảy mầm và sinh trưởng của ống phấn để chui vào vòi nhụy,đưa tinh tử vào thụ tinh cho tế bào trứng rất thích hợp trong khoảng nhiệt độ
từ 25 - C và bị giảm xuống hoặc ức chế hoàn toàn ở nhiệt độ thấp <
C Các giống cây cam quýt ra rất nhiều hoa khoảng 100.000 - 200.000hoa trên một cây trưởng thành, tuy nhiên chỉ 1 - 2% số hoa đậu quả cho thuhoạch, số còn lại bị rụng đi Ngoài những hoa, quả rụng do không được thụphấn, thụ tinh thì rất nhiều quả non khác phải rụng bớt đi, người ta gọi là rụngquả sinh lý Thường có 2 lần rụng quả sinh lý: lần rụng đầu tiên xảy ra từ khi
nở hoa cho đến 3 - 4 tuần sau nở hoa; lần hai xảy ra vào tháng 5 khi quả cóđường kính từ 0,5 - 2,0 cm Rụng quả sinh lý là sự rối loạn liên quan đến sựcạnh tranh hydrat cacbon, nước, hormon và các chất trao đổi chất khác giữacác quả non, tuy nhiên vấn đề này rõ nhất lại là do tác động của các stress, đặcbiệt là nhiệt độ cao và thiếu nước và người ta đã chứng minh được rằng, khinhiệt độ không khí tăng trên C và ẩm độ giảm xuống dưới 40% có thể gây
ra rụng quả hàng loạt Từ năm 1992 - 1993 người ta đã tiến hành quan sát sơ
bộ quy luật ra hoa, quả của cam quýt ghép trên gốc cam quýt chua có tuổi từ 9đến 10 tuổi Theo các tác giả thì số nụ rụng chiếm 21,6% tổng số hoa, số hoa
Trang 29rụng chiếm 78,6% tổng số hoa Thời gian rụng hoa tương đối ngắn, tập trungtrong giai đoạn từ khi hoa nở đến 13 ngày sau Giai đoạn rụng quả sinh lýtương đối dài Thời kì rụng quả sinh lý lần thứ nhất bắt đầu từ ngày 10 - 14sau khi hoa nở rộ Thời kì này, quả rụng mang theo cuống, đường kính cắtngang của quả nhỏ hơn 1cm Thời gian tuy ngắn song ở thời kì này số quảrụng lại rất lớn, ước tính khoảng 72% tổng số quả non rụng Rụng quả sinh lílần 2 bắt đầu sau rụng quả lần thứ nhất đến 60 ngày sau khi hoa nở rộ Quảrụng lần này không mang cuống Tỷ lệ rụng ước đạt 16,9% tổng số quả rụng,trong đó 9% quả có đường kính dưới 1cm rụng vào giai đoạn từ ngày thứ 14 -
20 sau khi hoa nở rộ, 5,2% số quả có đường kính từ 1 - 3cm rụng vào giaiđoạn từ ngày 21 đến ngay 25 sau hoa nở rộ, 2,7% số quả có đường kính từ 3 -5cm rụng vào giai đoạn từ ngày 30 - 60 ngày sau hoa nở rộ Từ nghiên cứutrên cho thấy, 81% quả non rụng lúc đường kính quả chưa đạt 1cm, vì vậy tácgiả cho rằng để giữ quả thì vấn đề then chốt là tác động vào giai đoạn rụngquả sinh lý lần thứ nhất Giữ được quả đạt tới đường kính 5 cm là có thể yêntâm Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, khả năng đậu quả của các giống khácnhau là khác nhau, có giống chỉ có thể đậu quả khi có sự thụ phấn chéo, cógiống có khả năng tự thụ phấn Nghiên cứu cây ăn quả ở Quảng Đông TrungQuốc đã chứng minh rằng, khi cam quýt giao phấn với cam quýt chua thì tỷ lệđậu quả nâng từ 1,99% lên 25% Nghiên cứu sự đậu quả của cam quýt ở TháiLan đã cho thấy rằng, tỷ lệ đậu quả khi tự thụ phấn rất thấp (từ 0 - 2,8%),nhưng khi giao phấn giữa các giống thì tỷ lệ đậu quả tăng từ 9 - 24% Vị tríkết quả cũng được các tác giả theo dõi Đối với cây trẻ, đại đa số quả thường
ở dưới tán cây, và ở bên trong tán trên các cành quả mùa xuân khi cây dần lớntuổi vị trí này được chuyển lên phía trên và ra ngoài tán Điều này đặc biệt có
ý nghĩa trong kĩ thuật cắt tỉa cho cây cam quýt
Trang 302.5.1.3 Nghiên cứu về phòng trừ sâu bệnh hại
Cây ăn quả có múi nói chung và cây cam quýt nói riêng có khá nhiều sâubệnh hại, đặc biệt có những bệnh rất nguy hiểm gây huỷ diệt hàng loạt nhưbệnh tristeza, greening ở Brasil, Tây Ban Nha và Venezuela
Ở Nhật Bản đã ghi nhận 240 loài côn trùng và nhện hại; tại 14 tỉnh miềnnam Trung Quốc ghi nhận 489 loài chân khớp gây hại trên cam quýt; ĐàiLoan có 167 loài, Malaysia có 174 loài, ở Ấn Độ có 250 loài
Kết hợp các biện pháp hoá học và sinh học tạo ra một hình thức gọi làquản lý phòng trừ tổng hợp (IPM) đang là xu hướng chung các nước hướngtới Ở Cu Ba áp dụng IPM trên cam quýt đã giảm được 50% lượng thuốc hoáhọc và làm tăng 20% lượng quả xuất khẩu Một số nước có kỹ thuật sản xuấtcây ăn quả có múi tiên tiến như: Úc, Hàn Quốc đã áp dụng IPM trên cây ănquả có múi trên cơ sở sử dụng dầu khoáng PSO để phòng trừ tập đoàn chíchhút, sâu vẽ bùa kết hợp với phòng trừ các loại bệnh hại khác, bảo vệ tậpđoàn thiên địch trên các vườn quả, hạn chế ô nhiễm môi trường
Tiến bộ đáng ghi nhận nhất trong phòng chống bệnh đó là kỹ thuật xétnghiệm chuẩn đoán các bệnh virus, siêu vi khuẩn bằng PCR và ELISA Hiệnnay những kỹ thuật này đã được sử dụng như là 1 phương tiện chủ yếu để xétnghiệm chuẩn đoán bệnh cũng như sàng lọc bệnh trong sản xuất cây sạchbệnh, đồng thời việc kết hợp các phương pháp vi ghép đỉnh sinh trưởng, nuôicấy mô phân sinh với xét nghiệm sàng lọc bệnh bằng PCR và ELISA đã trởthành một khâu bắt buộc trong sản xuất cây sạch bệnh ở các nước trồng camquýt trên thế giới
2.5.2 Tình hình nghiên cứu cam quýt ở Việt Nam
2.5.2.1 Nghiên cứu và chọn tạo và thử nghiệm giống cam quýt
Cây ăn quả có múi (cam, chanh, quýt, bưởi) là loại cây ăn quả quantrọng của nhiều nước trên thế giới và được sản xuất với khối lượng lớn nhất
Trang 31trong các loại cây ăn quả Ở nước ta cây ăn quả có múi cũng được coi là mộttrong những cây ăn quả chủ lực để phát triển một nền nông nghiệp hàng hóa.Tuy nhiên, sản xuất quả có múi ở nước ta nói chung và ở miền Bắc nói riêngcòn nhiều khó khăn, hạn chế cần được giải quyết, trong đó phải kể đến làgiống, kỹ thuật canh tác và phòng chống sâu, bệnh Hiện tại, việc áp dụng cáctiến bộ kỹ thuật trong sản xuất quả có múi như kỹ thuật cắt tỉa, tạo hình, kỹthuật bón phân và sử dụng phân bón, kỹ thuật tưới nước và quản lý độ ẩm đấtv.v ở các vùng trồng cam quýt còn rất hạn chế và rất ít kinh nghiệm; việcphòng chống và quản lý sâu, bệnh hại, đặc biệt là các bệnh virus và tương tựvirus còn gặp khá nhiều khó khăn.
Mặc dù có khá nhiều giống cây ăn quả có múi nhưng hầu hết là giốngđịa phương, năng suất và chất lượng kém, không ổn định, trong đó vấn đềnhiều hạt luôn được xem xét là một nhược điểm lớn nhất ảnh hưởng đến chấtlượng hàng hoa quả có múi ở nước ta Do vậy việc tuyển chọn hoặc tạo cácgiống năng suất, chất lượng cao, không hạt hoặc ít hạt, có thời vụ thu hoạchkhác nhau luôn là mục tiêu xuyên suốt của công tác chọn tạo giống cây cómúi nói chung và chọn tạo giống cam, quýt nói riêng Đây cũng là một trongnhững mục tiêu quan trọng của các nước trồng cây có múi trên thế giới
Việc chọn tạo ra được các giống cây ăn quả có múi không hạt có thể ápdụng rất nhiều phương pháp Tuy nhiên, với những phương pháp tiên tiến vàhiện đại đòi hỏi phải có thiết bị và trình độ khoa học công nghệ cao với thờigian thực hiện kéo dài, từ 10 đến 15 năm, do vậy, bên cạnh việc ứng dụng cácphương pháp chọn tạo giống hiện đại, việc nhập nội khảo nghiệm các giốngtốt từ nước ngoài và điều tra tuyển chọn các biến dị tốt trong tự nhiên, đặcbiệt là các biến dị tạo quả không hạt ở các dạng như: bất tự hòa hợp (self-incompatibility), bất dục đực (male sterile), bất dục cái (ovule sterile) vàParthenocarpy là con đường ngắn nhất, phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất
Trang 32kỹ thuật hiện có, nhất là trong bối cảnh cần phải có nhanh các giống tốt, ít hạthoặc không hạt phục vụ sản xuất.
Từ những lý do này, nhóm nghiên cứu do ThS Nguyễn Duy Hưng, Viện Nghiên cứu Rau quả đứng đầu đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu tuyển chọn và phát triển giống cam, quýt không hạt ở phía Bắc” Đây là
đề tài nghiên cứu thuộc Chương trình Nghiên cứu ứng dụng và phát triểncông nghệ phục vụ sản xuất các sản phẩm chủ lực
Sau 39 tháng (10/2012 - 12/2015) triển khai nghiên cứu, đề tài đã thu được kết quả như sau:
- Đã điều tra tuyển chọn được 4 dòng cam, quýt có đặc tính ít hạt Xácđịnh được nguyên nhân ít hạt của các cây tuyển chọn: Quýt ngọt (QN-1) là do
tự bất hòa hợp; các dòng Cam Xã Đoài (XM-2), Cam mật (H-1) và Quýt Cao(QC-1) là do bất dục đực
- Các giống cam, quýt nhập nội khảo nghiệm đều có khả năng sinhtrưởng phát triển, ra hoa đậu quả trong điều kiện miền Bắc Trong số 4 giốngcam: NO-1, NO-2, NO-3, RNO-1 và 3 giống quýt: SM-1, A-1, A-2 khảonghiệm đã chọn được 02 giống có khả năng sinh trưởng, phát triển, năng suất,chất lượng tốt nhất là giống cam NO-3 và giống quýt SM-1 Các giống đãđược Hội đồng công nhận giống Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận chosản xuất thử ở các tỉnh phía Bắc
+ Giống cam NO-3 có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt không mẫncảm với các loại sâu bệnh nguy hiểm Giống sớm cho thu hoạch bói quả (chỉsau 3 năm trồng) với năng suất đạt 5,1-6,0 kg/cây, đặc điểm ra hoa, đậu quả,thời vụ thu hoạch trùng với mùa vụ cây có múi ở phía Bắc Quả hình thuôngần cầu, khối lượng 320-350 g, màu sắc hấp dẫn, chất lượng tốt khi Brix đạt11,2-11,3, Đường TS 7,79-8,05 %, Axit 0,47- 0,55% và đặc biệt là không hạt
Trang 33+ Giống quýt SM-1: có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt không mẫncảm với các loại sâu bệnh nguy hiểm Giống sớm cho thu hoạch bói quả (chỉsau 3 năm trồng) với năng suất đạt 5,2-9,4 kg/cây, đặc điểm ra hoa, đậu quả,thời vụ thu hoạch trùng với mùa vụ cây có múi ở phía Bắc Quả hình cầu hơidẹt, khối lượng 83-85 g, màu sắc hấp dẫn, chất lượng tốt khi Brix đạt 11,3-11,5, Đường TS 7,29-7,62 %, Axit 0,47-0,60%, có trung bình 3,6-4,0 hạt/ quả.
2.5.2.2 Nghiên cứu phương pháp phòng trừ sâu bệnh hại
Việt Nam được ghi nhận cũng là một trong những địa danh nguồn gốccủa cam quýt Việt Nam có điều kiện sinh thái phù hợp đối với cam quýt sinhtrưởng, phát triển và cam quýt được trồng khắp mọi nơi trong cả nước, chính
vì vậy sâu bệnh hại cam quýt ở Việt Nam cũng rất phong phú và đa dạng,trong vài chục năm gần đây tình hình sâu bệnh hại đã và đang là mối đe doạ,thách thức nghiêm trọng trong nghiên cứu, ứng dụng và sản xuất
Với hàng loạt các dự án, đề tài được tài trợ bởi các cơ quan trong vàngoài nước, từ năm 1990 đến nay Viện Bảo vệ thực vật và Viện nghiên cứucây ăn quả miền Nam đã xác định được nguyên nhân và mô tả triệu chứngbệnh greening trên cây cam, quýt, bưởi Gần đây Viện nghiên cứu cây ăn quảmiền Nam đã nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn cây sạch bệnh và xây dựng môhình thâm canh và IPM vườn sạch bệnh tại một số địa phương ở Đồng bằngSông Cửu Long Ngoài ra, từ kết quả nghiên cứu các nhà khoa học cũng đãkhuyến cáo, nên sử dụng một số giống gốc ghép chịu được một số bệnh nguyhiểm như: Chấp Thái Bình, chanh sần, cam ba lá, cam chua Hải Dương, quýtCleopatre trong nhân giống cây ăn quả có múi Đây là những thành quả đángkhích lệ, góp phần thúc đẩy phát triển ổn định cây ăn quả có múi ở Việt Nam(Nguyễn Văn Cảm, 1999) [2]
Theo kết quả nghiên cứu về thành phần các loại sâu hại cây có múi từtrước đến nay ở nước ta đã ghi nhận được 169 loại sâu hại (N.T.T Cúc, 2000)
Trang 34[5] Các loại sâu hại trên cây ăn quả có múi chủ yếu được chia làm các nhómsau: Sâu chích hút nhựa ở lá và lộc: nhện đỏ cam, rầy chổng cánh, các loài rệpmuội, rệp sáp các loại, bọ phấn… Nhóm sâu ăn lá non: các loại phổ biến làsâu nhớt, sâu vẽ bùa Nhóm sâu hại quả và hoa: giòi đục nụ, các loài bọ trĩ,nhện rám vàng, bọ xít xanh vai nhọn, ruồi đục quả, ngài hút quả, rệp sáp cácloại Nhóm sâu đục thân và đục cành: các loài xén tóc.
Rầy chổng cánh phát sinh và phát triển liên quan chặt chẽ với các giai đoạnphát lộc của cây Rầy không chỉ gây hại trực tiếp cho cây cam mà nguy hiểmhơn chúng là môi giới truyền vi khuẩn gây bệnh vàng lá greening ở hầu hếtcác vùng trồng cam trong cả nước (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000) [5] Phòngtrừ rầy chổng cánh bằng việc chăm sóc cây cam ra lộc tập trung, dễ phòng trừ.Với rầy chổng cánh, cần loại bỏ các nguồn cây bị bệnh trong vườn là mộttrong biện pháp phòng trừ tổng hợp cho rầy chổng cánh Trồng cây giống sạchbệnh và chăm sóc hợp lý, tỉa cành tạo tán trồng hàng cây chắn gió Nuôi kiếnvàng ở đồng bằng sông Cửu Long là biện pháp sinh học hữu hiệu trừ rầychổng cánh, rệp muôi và một số sâu non bộ cánh vẩy (Vũ Công Hậu, 1999)[8]
Một số tác giả nghiên cứu về loài nhện nhỏ hại quýt như sau: NguyễnThị Thủy (2003) [15] đã tìm ra được 6 loại nhện hại trên quýt vùng ngoạithành Hà Nội Tuy nhiên trong đó chỉ có 2 loài gây hại trên quýt là nhện đỏ vànhện rỉ sắt Cũng theo tác giả trên nhện đỏ chú yếu hại ở lá già và lá bánh tẻ,khi mật độ cao chúng hại trên cả lá non và quả quýt Nếu bị hại hại năng trênquả quýt thì quả sẽ bị chuyển thành màu giám Nhện đỏ thích cư trú trên vềmặt lá và những nơi nhiều ánh sáng Nhện rỉ sắt gây hại trên tất cả các vùngcam trong cả nước đặc biệt là vùng Hà Nội, Hà Giang và Hòa Bình…(Nguyễn Văn Đĩnh, 1992) [6] Nhện có thời gian sinh trưởng rất ngắn nên khảnăng tích lũy quần thể nhanh Nhện thích sống ở mặt dưới lá và những nơi ítánh sáng
Trang 35Trong quá trình nghiên cứu ở Hà Giang (Trần Thị Bình, 2002) [1] đãtìm ra 66 loài sâu và nhện ở đây, chủ yếu là nhện đỏ, nhện trắng, rầy chổngcánh, sâu đục cành và sâu nhơt Theo (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000) [5], chobiết sâu vẽ bùa là nguyên nhân gây bệnh loét vi khuẩn Có thể sử dụng thuốchóa học một cách hợp lý để hạn chế sự gây hại của sâu vẽ bùa và bảo vệ thiênđịch bằng cách phun vào đầu các đợt lộc chồi mới nhú 2cm bằng Trebon,sherpa…và phun đợt 2 và 3 sau mỗi lần phun bảy ngày Cũng theo tác giả (VũCông Hậu, 1999) [8] việc tạo tán góp phần làm giảm mật độ nhện đỏ, giảmmật độ rầy chổng cánh, bên cạnh đó việc tưới nước cũng làm giảm đáng kểnhện đỏ.
Theo (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000) [5] thì rầy chổng cánh liên quan mậtthiết đến các giai đoạn phát lộc của cây Rầy không chỉ gây hại trực tiếp chocây quýt mà nguy hiểm hơn chúng là mô giới chuyện bệnh vàng lá greening ởhầu hết các vùng trồng quýt trên cả nước Phòng trừ rầy chổng cánh bằng việcchăm sóc cây cam ra lộc tập trung, dễ phòng trừ Với rầy chổng cánh, cần loại
bỏ các nguồn cây bị bệnh trong vườn là một trong biện pháp phòng trừ tổnghợp cho rầy chổng cánh Trồng cây giống sạch bệnh và chăm sóc hợp lý, tỉacành tạo tán trồng hàng cây chắn gió Nuôi kiến vàng ở đồng bằng sông CửuLong là biện pháp sinh học hữu hiệu trừ rầy chổng cánh, rệp muôi và một sốsâu non bộ cánh vẩy (Vũ Công Hậu, 1999) [8]
Một kết quả nghiên cứu khác của Nguyễn Thị Thu Cúc cho rằng sâu vẽbùa xuất hiện hầu hết các tỉnh trồng cam quýt và chúng có khả năng tấn công100% số cây trong vườn vào các giai đoạn ra lá non Trên cam quýt trồng ởmiền Bắc Viêt Nam sâu vẽ bùa là loại tiêu biểu và phổ biến, sâu vẽ bùa là mộtðối týợng gây hại rất nghiêm trọng trên cam tại nông trýờng Thanh Hà tỉnhHòa Bình Sâu vẽ bùa phân bố hầu hết tỉnh Hà Giang nơi trồng cây có múinhư: Cam, chanh, quýt, bưởi trong đó phổ biến nhất là huyện Bắc Quang, VịXuyên Tại Đồng bằng sông Cửu Long sâu vẽ bùa xuất hiện hầu hết trên địabàn trồng cam quýt như Bến Tre, Đồng Tháp, Cần Thơ, Kiên Giang…
Trang 36PHẦN III ÐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Giống quýt ngọt không hạt ở giai đoạn kiến thiết cơ bản cây 2 năm
tuổi
3.1.2 Vật liệu nghiên cứu
Trebon 10EC: Hoạt chất: Etofenprox 10% quy cách 100ml Là thuốc trừ sâu trên lúa, chè, vải, ngô, bông, cam, quýt dùng cho các loại sâu như: Sâucuốn lá, sâu vẽ bùa, sâu xanh, sâu khoang, rầy xanh, rầy nâu, bọ trĩ, bọ cánh
tơ, bọ xít muỗi và rệp
Newsgard 75WP: Thành phần: Cyromazine 75%ww, Phụ gia 25%
ww Là thuốc điều hòa sinh trưởng côn trùng, tác động tiếp xúc vị độc, và lưudẫn mạnh trong cây Diệt được cả trứng và ấu trùng, phòng trừ hữu hiệu sâu
vẽ bùa, dòi đục lá Newsgard 75 WP kéo dài hiệu quả tiêu diệt, phá vỡ quátrình lột xác và trứng đẻ ra bị ung không nở được Có tính chọn lọc cao, có độđộc thấp với thiên địch và an toàn với môi trường nên rất phù hợp với chươngtrình IPM và sản xuất rau quả sạch
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của giống, tình hình sâu bệnh hại và
kỹ thuật phòng trừ cho giống quýt ngọt không hạt tại thị trấn Quân Chu,huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
- Thời gian: Từ tháng 1 năm 2018 đến tháng 5 năm 2018
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu thời gian sinh trưởng lộc, khả năng ra hoa đậu quả củagiống quýt ngọt không hạt
Trang 37- Nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc BVTV đến sinh trưởng phát triểncủa cây và khả năng phòng trừ sâu bệnh hại cho giống quýt ngọt không hạt
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm 1: Đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển của giống
quýt ngọt không hạt tại Thái Nguyên
Phương pháp bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm gồm hai công thức được bố
trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh với ba lần nhắc lại, mỗi công thức 10 cây,tổng số cây trong thí nghiệm 60 cây
Công thức 1: Giống quýt địa phương
Công thức 2: Giống quýt ngọt không hạt
- Nền thí nghiệm:
- Phân nền: vôi bột 1 kg/cây, và Phân vô cơ: Urê: 0,5 kg/cây + Superlân Lâm Thao 0,5 kg/cây + Kali (KCl) 0,3 kg/cây, được chia đều làm 3 lần/năm
Bón phân khoáng: Rải phân xung quanh gốc tại hình chiếu mép tán.Chú ý khi bón phân đất phải đủ ẩm hoặc sau khi bón xong phải tưới chú ý khi
Trang 38bón phân đất phải đủ ẩm hoặc sau khi bón xong phải tưới nước Không bónkhi nhiệt độ quá cao trên 390C hoặc quá thấp dưới 150C.
* Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
- Chỉ tiêu về đặc điểm hình thái:
+ Chiều cao cây (cm): Đo từ mặt đất đến điểm cao nhất của tán cây, đotoàn bộ số cây theo
+ Đường kính tán (cm): Đo bằng thước dây, đo hình chiếu tán cây theohướng Đông-Tây-Nam-Bắc, sau đó lấy giá trị trung bình, đo toàn bộ số câytheo dõi
- Chỉ tiêu về thời gian sinh trưởng các đợt lộc:
+ Thời gian ra lộc (ngày): Được tính từ khi có 5% số cành/cây bật lộc,tính thời gian ngày xuất hiện lộc
+ Thời gian ra lộc rộ (ngày): Được tính khi 50% số cành/cây bật lộc,tính thời gian ngày ra lộc rộ
+ Thời gian kết thúc ra lộc (ngày): Được tính khi trên 80% số cành/câybật lộc, tính thời gian ngày kết thúc ra lộc
- Chỉ tiêu về số lượng lộc (lộc/cây): đếm số lượng lộc trên cây theo
+ Số lá/lộc (lá): đếm số lá trên lộc theo dõi
- Chỉ tiêu về động thái tăng trưởng các đợt lộc: đo 4 lộc/cây, 1 tuần đo
1 lần, làm với 3 lần nhắc lại
+ Chiều dài lộc (cm): Đo bằng thước, đo từ gốc cành đến mút cành
Trang 39+ Đường kính lộc (cm): Đo bằng thước kẹp palme, đo cách gốc cành 1
cm khi cành lộc đã thành thục
+ Số lá/lộc (lá): đếm số lá trên lộc theo dõi
- Chỉ tiêu về thời gian ra hoa
+ Thời gian bắt đầu ra hoa (ngày) Tính từ khi có 5% số hoa, quả xuấthiện
+ Thời kỳ nở hoa rộ (ngày): Khi có 75% hoa nở
+ Thời kỳ kết thúc nở hoa (ngày): Khi có >80% hoa rụng cánh
- Chỉ tiêu về sâu bệnh hại: Theo dõi thành phần, tần suất xuất hiện sâu
bệnh hại: điều tra theo 5 điểm trên đường chéo góc, 1 tháng đo 1 lần
Số lần bắt gặp của mỗi loài Tần xuất bắt gặp (%) =
Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại thuốc BVTV
đến khả năng phòng trừ sâu bệnh hại và sinh trưởng phát triển giống quýtngọt không hạt tại Thái Nguyên
Phương pháp bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm gồm 3 công thức được bốtrí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh với 3 lần nhắc lại, mỗi công thức 3 cây,tổng số cây trong thí nghiệm 27 cây
Công thức 1: Phun nước lã
Công thức 2: Phun Trebon 10EC
Công thức 3: Phun Newsgard 75WP
Phun thuốc khi sâu non mới xuất hiện theo các đợt lộc ra có độ dài từ 1,5-2
cm
Trang 40Chỉ tiêu theo dõi:
- Ảnh hưởng của thuốc BVTV đến số lượng lộc/cây: đếm số lượng lộc
trên cây sau khi phun thuốc BVTV theo từng đợt ra lộc
- Ảnh hưởng của thuốc BVTV đến đặc điểm hình thái lộc: đo 4
lộc/cây khi lộc thành thục, làm với 3 lần nhắc lại
+ Chiều dài lộc (cm): Đo bằng thước, đo từ gốc cành đến mút cành.+ Đường kính lộc (cm): Đo bằng thước kẹp palme, đo cách gốc cành 1
cm khi cành lộc đã thành thục
+ Số lá/lộc (lá): đếm số lá trên lộc theo dõi
- Chỉ tiêu về sâu bệnh hại: Phương pháp lấy mẫu, cách tiến hành thí nghiệm và chỉ tiêu đánh giá được tiến hành theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về Phương pháp điều tra phát hiện dịch hại cây trồng (QCVN 01-38:2010/BNNPTNT)
- Theo dõi thành phần, tần suất xuất hiện sâu bệnh hại: điều tra theo 5điểm trên đường chéo góc, 1 tuần điều tra 1 lần
Số lần bắt gặp của mỗi loàiTần suất bắt gặp (%) =