Phạm Kim ðăng, người đãđộng viên, hướng dẫn và chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt thời gian tôilàm luận văn tốt nghiệp.Tôi xin cảm ơn chân thành tới cán bộ Phòng thí nghiệm Trung tâm,cá
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
HỌC V ỆN NÔNG NGH ỆP V ỆT NAM
****
NGUYỄN ðĂNG THẾ HƯNG
ðÁNH G Á KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP EL SA
ðỂ PHÂN T CH CLENBUTEROL TRONG TH T
VÀ THỨC ĂN CHĂN NUÔ LỢN
LUẬN VĂN THẠC S
Hà Nộ – 2015
I I I - -
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
HỌC V ỆN NÔNG NGH ỆP V ỆT NAM
****
NGUYỄN ðĂNG THẾ HƯNG
ðÁNH G Á KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP EL SA
ðỂ PHÂN T CH CLENBUTEROL TRONG TH T
VÀ THỨC ĂN CHĂN NUÔ LỢN
Chuyên ngành CHĂN NUÔ
Mã ố 60 62 01 05
NGƯỜ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC TS PHẠM K M ðĂNG
Hà Nộ – 2015
I I I - -
Trang 3Page i
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này làtrung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả
Nguyễn ðăng Thế Hưng
Trang 4Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Phạm Kim ðăng, người đãđộng viên, hướng dẫn và chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt thời gian tôilàm luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin cảm ơn chân thành tới cán bộ Phòng thí nghiệm Trung tâm,các thầy giáo, cô giáo trong Bộ môn Sinh lý – Tập tính động vật, Khoa Chăn nuôi
& Nuôi trồng thủy sản, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã góp ý và chỉ bảo đểluận văn của tôi được hoàn thành
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới tập thể cán bộ Trung tâm Khuyếnnông tỉnh Hưng Yên, Sở Nông nghiệp&PTNT Chi cục Thú y, phòng nôngnghiệp, trạm thú y và các chủ cơ sở kinh doanh thức ăn chăn nuôi, các hộ chănnuôi lợn trên địa bàn các tỉnh Hưng Yên, Thái Bình, Hải Dương, nơi đã tạo điềukiện giúp đỡ tôi thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
ðể hoàn thành luận văn này, tôi còn nhận được sự động viên, khích lệcủa những người thân trong gia đình và bạn bè Tôi xin chân thành cảm ơnnhững
tình cảm cao quý đó
Tác giả
Nguyễn ðăng Thế Hưng
Trang 51 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Một số thông tin chung về Clenbuterol 4
1.2 Thông tin liên quan đến việc sử dụng Clenbuterol trong chăn nuôi 8
1.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 15
15
nước 16
1.4 Các phương pháp phân tích kiểm tra các chất kích thích sinh
trưởng trong thức ăn và sản phẩm chăn nuôi 17
Trang 6Page 4
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
chăn nuôi 21
2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 ðối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 24
Trang 7Page 4
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
2.2 Nguyên vật liệu, hóa chất và thiết bị 24
2.3 Nội dung nghiên cứu 25
2.3.1 Một số đặc điểm về hoạt động kinh doanh thức ăn chăn và thuốc thú y
tại một số tỉnh vùng ðồng bằng sông Hồng
25
2.3.2 Nghiên cứu đánh đánh giá khả năng phân tích phát hiện Clenbuterol
trong thịt lợn và thức ăn chăn nuôi bằng phương pháp ELISA
25
2.4 Phương pháp nghiên cứu 25
2.4.1 Phương pháp điều tra
3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 31
3.1 Một số đặc điểm về hoạt động kinh doanh thức ăn chăn nuôi và
thuốc thú y dùng trong chăn nuôi lợn tại một số tỉnh trên địa
Trang 83.2.5 Thử nghiệm phân tích các mẫu củng cố và mẫu thực đã khẳng định
bằng phương pháp sắc ký ở các nồng độ khác nhau
49
Trang 9Page 5
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
4 KẾT LUẬN VÀ ðỀ NGHỊ 52
4.1 Kết luận 52
4.1.1 Hoạt động kinh doanh thức ăn chăn nuôi và thuốc thú y tại tỉnh thuộc địa bàn Vùng ðồng bằng sông Hồng .52
4.1.2 Khả năng phát hiện Clenbuterol của phương pháp ELISA 52
4.2 ðề nghị 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
Trang 10Bảng 1.2 Kết quả kiểm tra giám sát sử dụng kháng sinh và chất cấm năm 2014 14
Bảng 1.3 Giới hạn tồn dư tối thiểu cho phép (MRPL) của phòng thí nghiệm
tham chiếu của ðức
Bảng 3.5 Kết quả phân tích mẫu trắng và mẫu củng cố để xác định khả năng
phát hiện (CCβ) của phương pháp 45
Bảng 3.6 Kết quả phân tích mẫu trắng và mẫu củng cố clenbuterol ở nồng độ 1
ppb đối với nền mẫu là thức ăn chăn nuôi lợn
48
Bảng 3.7 Kết quả phân tích mẫu trắng và mẫu củng cố clenbuterol ở nồng độ 1
Trang 11Page 7
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
ppb đối với nền mẫu là thịt
lợn 48
Bảng 3.8 Kết quả đánh giá các tham số của phương pháp trên các nên mẫu
khác nhau (%) 49
Bảng 3.9 Kết quả thử nghiệm phân tích các mẫu củng cố ở các nồng độ khác
nhau 50
Bảng 3.10 Kết quả thử nghiệm phân tích các mẫu thực ở các nồng độ khác nhau
51
Trang 12Sơ đồ 3.1 Mạng lưới phân phối thức ăn chăn
nuôi 32
Hình 3.1 Sản phẩm không có nhãn mác và hướng dẫn sử dụng 34
Sơ đồ 3.2 Mạng lưới phân phối thuốc thuốc thú y
35
Hình 3.2 ðường chuẩn biểu diễn tương quan giữa nồng độ clenbuterol và độ
hấp phụ
41
Hình 3.3 Kết quả xác định đường Cut-off và giá trị CCβ của phương pháp khi
phân tích clenbuterol trong thức ăn chăn nuôi
46
Hình 3.4 Kết quả xác định đường Cut-off và giá trị CCβ của phương pháp khi
phân tích clenbuterol trong thịt lợn
47
Trang 13ELISA Enzyme-Linked ImmunoSorbent Assay
ESI Bộ nguồn ion hóa phun điện tử
FAO Food Agricultural Organization
FDA Cơ quan quản lý thuốc và thực phẩm Mỹ
FSIS Cơ quan thanh tra và quản lý vệ sinh an toàn thực
phẩmHPLC Sắc ký lỏng hiệu năng cao HPTLC
Sắc ký lớp mỏng hiệu năng cao KHKTNN
Khoa học kỹ thuật nông nghiệp
LC/MS/MS Sắc ký lỏng khối phổ (Liquid Chromatography/Mass
Spectrometer)LOD Giới hạn phát hiện (Limit of Detection)
NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ppb
Phần tỷ (Parts per billion)
TĂCN Thức ăn chăn nuôi
UPLC Sắc ký lỏng siêu hiệu năng
Trang 14và giảm tích mỡ Chính vì những tác dụng đặc thù này nên nó đã được sửdụng trong chăn nuôi nhằm mục đích kích thích sinh trưởng và tăng tỷ lệ nạc.
Tuy nhiên, những phát hiện từ các nghiên cứu độc chất học cho thấychất này có tác dụng giãn phế quản, giãn cơ trơn cuống phổi, run cơ, rốiloạn nhịp tim, gây choáng váng và nếu sử dụng kéo dài có thể gây ung thư.ðặc biệt, khi sử dụng các hợp chất này trong chăn nuôi rất dễ gây tồn dư trongsản phẩm chăn nuôi, ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe người tiêu dùng Theocông bố của một nghiên cứu ở Anh, Clenbuterol là chất bền với nhiệt, hầu nhưkhông bị biến đổi,
mất đi trong khi nấu ở nhiệt độ sôi, chỉ bị phá hủy ở 2600C trong khoảng 5 phút.Chính vì thế, năm 1996 Ủy ban Châu Âu đã chính thức cấm sử dụngClenbuterol trong chăn nuôi tại các nước thành viên (EU, 1996)
Ở Việt Nam, vào ngày 20/06/2002 Bộ NN & PTNT đã ban hành quyếtđịnh số 54/2002/Qð – BNN nay vừa được thay thế bằng Thông tư 28/2014/TT-BNNPTNT ban hành ngày 04/09/2014 về việc cấm sản xuất, nhập khẩu, lưuthông và sử dụng 22 loại kháng sinh, hóa chất trong sản xuất kinh doanhthức ăn chăn nuôi trong đó có các chất thuộc nhóm Beta-Agonist Tuy nhiên,trong thực tế chăn nuôi vì chạy theo lợi nhuận người chăn nuôi vẫn sử dụng bấthợp pháp Clenbuterol để kích thích tăng trọng và tăng tỷ lệ nạc cho gia súc lấythịt (Bùi Thị Phương Hòa, 2008)
Chính vì vậy, từ khi có qui định cấm đến nay, vẫn liên tục có những cảnhbáo về sử dụng bất hợp pháp và tồn dư Clenbuterol trong thịt gây hoangmang dư luận và lo lắng cho các nhà quản lý ðặc biệt, trong chiến dịch tăng
Trang 15Page 2
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
cường kiểm tra Clenbuterol do Cục Chăn nuôi tổ chức, Viện KHKTNN MiềnNam
Trang 16Page 3
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
công bố 6,3% số mẫu thịt được xét nghiệm chứa Clenbuterol Trong khi đó, khikiểm tra các mẫu nghi ngờ, Chi cục Thú Y TP HCM phát hiện 16% mẫu thịtdương tính với Clenbuterol Gần đây, kết quả kiểm tra trong 3 tháng đầunăm
2012 của Cục Chăn nuôi khi kiểm tra 268 mẫu thức ăn, 179 mẫu thịt, gan lợn và
18 mẫu thuốc thú y nghi ngờ để kiểm tra đã phát hiện 4,8% mẫu thức ăn chănnuôi, 4,4% mẫu thịt và hơn 11% mẫu thuốc thú y dương tính với beta-agonist (Bộ NN&PTNT, 2012)
Trong quá trình kiểm tra, do năng lực của các phòng thí nghiệm còn nhiềuhạn chế, chưa đạt chuẩn nên gặp nhiều khó khăn, chưa đáp ứng yêu cầu thực
tế, đặc biệt do phương pháp, qui trình phân tích của các phòng thí nghiệmkhác nhau, kết quả phân tích chưa thống nhất và tin cậy nên nhiều công bố
đã gây thiệt hại đáng kể cho ngành chăn nuôi Việt Nam
Chính vì vậy, ngày 07/11/2012, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã ban hànhThông tư số 57/2012/BNNPTNT Ban hành Quy định việc kiểm tra, giám sát và
xử lý vi phạm các chất cấm thuộc nhóm Beta-agonist trong chăn nuôi, mộttrong các nội dung quan trọng nhất của phương pháp này liên quan đến quitrình phân tích, phương pháp thử nhanh và ELISA muốn được công nhận kếtquả phải có giới hạn phát hiện nhỏ hơn 0,2 ppb (Bộ NN&PTNT, 2012) Kể
từ đó nhiều phòng thí nghiệm đã được trang bị hệ thống ELISA, nhiều lớp tậphuấn về ký thuật phân tích nhưng việc sử dụng để phân tích, đặc biệt phân tíchcác chất cấm như Clenbuterol còn rất hạn chế ðặc biệt yêu cầu qui trình phântích từ sàng lọc đến khẳng định phải có khả năng phát hiện tối thiểu là 0,2ppb đã buộc các phòng thí nghiệm phải đánh giá lại các phương pháp đangđược áp dụng, trong đó có phương pháp EILSA
Xuất phát từ thực tế đó việc đánh giá thực trạng sử dụng thuốc và hóachất trong chăn nuôi và triển khai đánh giá các phương pháp có độ chính
Trang 17Page 4
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
xác, độ nhạy, độ đặc hiệu cao như phương pháp hóa miễn dịch enzyme(ELISA) để kiểm soát tình trạng tồn dư thuốc thú y nói chung và Clenbuterol nóiriêng trong
Trang 18Page 5
Học viện Nông nghiệp Việt Nam Ờ Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
thức ăn chăn nuôi theo qui định mới là hết sức cấp bách Không chỉ đảm bảoqui định trong thông tư 57/2012/BNNPTNT của Bộ NN&PTNT mà còn phục
vụ cho sự phát triển chăn nuôi bền vững, bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng
trong nước Trước yêu cầu đó, nghiên cứu tiến hành Ộđánh giá khả năng ứng
dụng của phương pháp ELISA để phát hiện Clenbuterol có trong thịt và thức
ăn chăn nuôi lợnỢ.
Trang 19Page 6
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số thông tin chung về Clenbuterol
β-agonists là nhóm các hormone tự nhiên, có nguồn gốc từ cácCatecholamines (Adrenaline, Noradrenaline và Dopamine), có tác dụng làmgiãn cơ cuống phổi, giãn cơ tử cung, đồng thời kích thích giải phóng insulin vàquá trình phân giải glucose nên được sử dụng để điều trị bệnh hen suyễn
ở người và động vật Nếu sử dụng kéo dài có tác dụng tăng cường tổnghợp protein, tăng tỷ lệ nạc, giảm tích mỡ Tuy nhiên, nếu thức ăn có nguồngốc từ động vật bị nhiễm các chất này có thể gây ra các biến chứng liên quanđến tim mạch, hệ thần kinh trung ương…
Mặc dù beta-agonist đã được phát hiện đã từ lâu, nhưng đến năm
1903, beta-agonist được tổng hợp lần đầu tiên và mới được công nhận nhưthuốc Từ những nghiên cứu phát hiện những tác dụng tích cực của beta-agonist, đặc biệt là Isoproterenol trong những năm 1940,Isoetharine năm 1951 và Metaproterenol năm 1961 mà các chất thuộcnhóm beta-agonist mới được sử dụng trong điều trị hen, suyễn ở người vàđộng vật
Công thức phân tử của Clenbuterol là C12H18N2Cl12(IUPAC): 3,5-dichloro-phenyl hay (tert-butylamino) ethanol Mol weight: 277.19 thường
4-amino-ở dạng tinh thể không màu, bền với nhiệt, có khả năng hòa tan trong nước vàmột số dung môi hữu cơ như aceton, methanol và ethanol (Bảng 1.1)
Trang 20Page 7
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Bảng 1.1 Một số đặc điểm cấu tạo và tính chất lý hóa của Clenbuterol
và salbutamol
1.1.1 Cơ chế tác dụng của β-agonist
Tác dụng chữa bệnh hen suyễn ở người và động vật do nhóm β-agonist cókhả năng làm tăng lượng AMP vòng do ức chế phosphodiesterase làm giãn cơtrơn khí quản ðồng thời ức chế adenosin tại điểm tiếp nhận do adenosin gây cothắt khí quản và tăng phóng thích histamin từ tế bào phổi, làm ổn định màng
tế bào nên giảm tiết các chất trung gian, tăng sự vận chuyển chất nhầy trênđường hô hấp
Trang 21Page 8
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
ðối với mô cơ: để phát huy tác dụng, nhóm β-agonist thường thôngqua các điểm tiếp nhận β nằm trong các loại tế bào trong cơ thể, bao gồm tế
bào thần kinh, đặc biệt tế bào cơ và tế bào mỡ Theo Beermann và cs (1984),
β-agonists là tác nhân phân phối mỡ, làm giảm sự tổng hợp và tích lũy mô mỡtrên cơ thể gia súc, gia cầm Tuy nhiên, để đạt được kết quả này, cần sử dụngliều gấp 5-10 lần so với liều điều trị thông thường
Kết quả một số nghiên cứu khác đã cho biết β - agonists là yếu tố cần
thiết trong việc mở đầu kích thích sự phát triển của cơ (Maltin và cs., 1987).
Dưới tác động của β - agonists, khả năng gia tăng protein trong cơ là do sự giảmthoái biến protein và đồng thời gia tăng tổng hợp protein
1.1.2 Dược động học của β-agonists
β-agonists hấp thu tốt khi cấp qua đường uống cho động vật thí nghiệm,người và các loài khác Ngoài ra, các hợp chất thuộc nhóm này còn có thểhấp thu qua đường hô hấp, đặc biệt salbutamol nên được ứng dụng để điều trịhen suyễn trên người Khi vào cơ thể bằng đường uống, beta-agonist đượchấp thu dọc theo đường tiêu hóa từ dạ dày đến ruột và một phần tái hấp thu ởthận
Ở hầu hết các loài động vật, khi thử nghiệm đều co thấy β-agonists vào
cơ thể bằng đường miệng có thể đạt nồng độ cao nhất trong máu sau 2-4giờ và phân bố khắp các mô Thử nghiệm trên chuột, chó, khỉ, bò cho thấyClenbutrol lưu lại lâu nhất ở gan, thận và một phần clenbuterol và salbutamolkhông chuyển hóa kịp sẽ được tích lũy trong một số mô với nhiều mức độ khácnhau như mật, mắt, sau đó giảm dần theo thời gian khi ngừng sử dụng
Ở hầu hết các loài động vật, khi thử nghiệm đều cho thấy clenbutrolđược bài tiết nhiều nhất qua phân và nước tiểu ở dạng nguyên chất Kết quảnghiên cứu cho thấy trong vòng 96 giờ có 74% thuốc đã được bài tiết, 30%trong nước tiểu và 44 % trong phân Ở gia súc, uống salbutamol với liều
Trang 22Page 9
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
1mg/kg thể trọng thì sau 8 giờ nó bài thải khoảng 40-70% qua nước tiểu.Trong đó, khoảng 48% liều ở dạng không hoạt tính và 24-33% ở dạng có hoạttính
Trang 2310
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Theo Lã Văn Kính (2010), sau khi cung cấp cho vật nuôi ở liều dùng đểkích thích tăng trưởng, ß-agonist sau khi ngừng sử dụng vẫn phát hiện tồn
dư trong nước tiểu của vật nuôi sau 5 ngày còn trong gan, thịt là 25-30 ngày vàđặc biệt trong võng mạc của mắt, beta-agonist có thể lưu lại đến 140 ngày saukhi ngừng sử dụng
Nhóm β 2 -agonist:
Gồm các chất làm giãn cơ, được dùng để điều trị hen phế quản, bệnhphổi tắc nghẽn mãn tính như: Salbutanol (Albuterol), clenbuterol,fenoterol, formoterol, isoproterenol, salmeterol, terbutaline, fenoterol,metaproterenol, terbutaline, isoetarine, pirbuterol, procaterol, ritodrine,broxaterol, cinaterol, denopamine, etilefrine, isoxsuprine, mabuterol,oxyfedrine, prenalterol, ractopamine, rimiterol, tulobuterol, zilpaterol, zinterol
Ngoài ra, một số tài liệu còn chia beta-agonist theo thời gian tác dụng(tác dụng ngắn hay tác dụng lâu dài) Khi dùng beta-agonist để điều trị có thểbằng nhiều đường khác nhau nhưng phổ biến nhất là đường thở
Theo Dương Thanh Liêm và cs (2002), trong số những chất kể trên đâythì clenbuterol, sabutamol, ractopamine, malbutamol, zilpatrol, cimaterol… lànhững chất thường được sử dụng trong chăn nuôi
Sabutamol (ventolin) là một thụ thể agonist β2 tác dụng nhanh tạoEpinephrine, được sử dụng để làm giảm co thắt phế quản trong các bệnh
Trang 2411
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
như hen suyễn, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, cắt cơn hen, giãn phế quản,giãn cơ trơn Sabutamol được bán lần đầu tiên trên thị trường vào năm 1968,bởi Allen
Trang 2512
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
và Hanburys dưới tên thương phẩm Ventolin Salbutamol sulfate thườngđược dùng qua đường hít có tác dụng trực tiếp đến cơ trơn phế quản, chủ yếu
để điều trị co thắc khí quản cũng như bệnh tắc nghẽn phổi mãn tính Ngoài
ra, Salbutamol cũng được sử dụng trong sản khoa, Salbutamol dạng dịch truyền
có thể được sử dụng như là thuốc chống sẩy thai do tác dụng làm giãn cơ, mềm
tử cung
Clenbuterol (spiropent, ventipulmin, clen) có tác dụng kích thích sinh
trưởng, kích thích tuyến thượng thận, điều tiết sinh trưởng động vật thôngqua việc thúc đẩy quá trình phát triển cơ bắp, làm tăng tỷ lệ nạc và thúc đẩynhanh việc phân giải mỡ, giảm tối đa lượng mỡ hình thành trong cơ thể Khi lợnđược nuôi bằng thức ăn có chứa Clenbuterol sẽ có tỷ lệ thịt nạc cao và cơbắp phát triển Chính vì vậy, Clenbuterol được trộn vào thức ăn gia súc nhằmkích thích sinh trưởng và tăng tỷ lệ nạc Mặc dù có tác dụng thúc đẩy nhanhquá trình đốt cháy mỡ, tăng cường phát triển cơ bắp nhưng nếu dùng quá liều
có thể gây độc, biến chứng và có thể chết
1.2 Thông tin liên quan đến việc sử dụng Clenbuterol trong chăn nuôi
Không chỉ được sử dụng để điều trị hen suyễn ở người, hiện nay ở một sốnước, đặc biệt các nước phát triển như các nước thành viên EU, beta-agonists nói chung và Clenbuterol nói riêng vẫn được sử dụng trong thú ynhưng theo qui định chỉ được phép dùng Clenbuterol để trị bệnh cho các loạiđộng vật không phục vụ cung cấp thực phẩm cho con người như chó, mèo,động vật cảnh, ngựa Trong thú y, với tác dụng làm giãn cơ đường hô hấp,Clenbuterol được sử dụng rộng rãi trong điều trị các dị ứng hô hấp ở ngựa, chó,mèo
Ở Mỹ và Canada, clenbuterol chỉ được sử dụng trong thú y để trị bệnhđường hô hấp cho ngựa ðại đa số các nước đều có qui định cấm trongchăn nuôi gia súc để sản xuất thực phẩm cho con người (bò, lợn, dê, cừu )
Trang 2613
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Mặc dù β-agonist là các chất hóa học được xếp vào loại chất độc và
bị cấm sử dụng trong chăn nuôi, nhưng do Beta-agonists nói chung vàClenbuterol nói riêng được biết đến là chất đồng hóa có hiệu quả, có tác dụngkích thích sinh
Trang 2714
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
trưởng, làm giảm tích lũy mỡ, tăng tỷ lệ nạc ở gia súc lấy thịt nên trên thực
tế vẫn có hiện tượng sử dụng bất hợp pháp Clenbuterol Theo Phạm Nho vàHuỳnh Hồng Quang (2012), chỉ cần thêm một lượng nhỏ Clenbuterol vào thức
ăn dùng cho lợn vỗ béo chỉ cần khoảng sau 3 tháng nuôi có thể đạt khốilượng 95 đến
100 kg, trong khi thông thường phải cần ít nhất 5 tháng Vấn đề cần quan tâm
và đáng lo ngại là khi sử dụng mục đích kích thích sinh trưởng và tăng tỷ lệ nạc,người chăn nuôi phải sử dụng liều cao, thường gấp trên 5 lần liều điều trị,chính vì thế nguy cơ gây tồn dư trong sản phẩm là rất cao
Tại Mỹ, Cơ quan quản lý thuốc và thực phẩm (FDA) và Cơ quan thanh tra
và quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm (FSIS: Food Safety and InspectionService) thuộc Bộ nông nghiệp Mỹ cho biết Clenbuterol có thể gây chết ngườinếu ăn thịt có chứa chất này Ngoài ra công bố của FDA cũng cho rằng khả nănggây hại cho hệ tim mạch khi vào cơ thể bằng đường tiêu hóa hơn nguy hiểmhơn đường hô hấp Chính vì vậy, Clenbuterol sau đó đã bị Cơ quan thuốc vàthực phẩm Mỹ cấm sử dụng kể cả trong điều trị cho người từ năm 2006
Các nhà khoa học Châu Âu cho rằng, ở liều cực thấp (trace) hormone vẫn
có thể gây ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng và đã xác nhận có mộtmối quan hệ giữa sự tiêu thụ thịt đỏ (thịt bò, lợn, cừu) và tỷ lệ ung thư ởngười Nhiều nghiên cứu về tình hình ngộ độc Clenbuterol xảy ra trên người đã
được công bố (G Van Vyncht và cs., 1996; Peter Batjoens và cs., 1996) Năm
1990, tại Tây Ban Nha 135 người nhập viện được nghi ngờ do ăn phải gan bò bịnhiễm độc Năm 1994, hội người tiêu dùng châu Âu đã tiến hành phân tíchmẫu gan lợn cho thấy tỷ lệ mẫu có chứa tồn dư Clenbuterol trong các nướcthành viên thuộc cộng đồng EU tương đối cao Tây Ban Nha 36%, Thụy Sĩ25%, Pháp
13%, Hà Lan 10% (Michael và O’Keeffe, 1999) Ở Italy đã có 16 người ngộ
Trang 2815
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
độc thực phẩm khi ăn thịt bò fillet và thịt có chứa trên 0,5 ppmClenbuterol
(Maistro và cs., 1995)
Trang 29Page 10
Học viện Nông nghiệp Việt Nam Ờ Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Tại Pháp, ngày 24-9-1990 có 22 bệnh nhân từ 8 gia đình tại các khu vựckhác nhau sau khi ăn thịt bê bị nhiễm Clenbuterol bị các triệu chứng như
cơ bắp run, đau đầu, tim đập nhanh
Ở Tây Ban Nha, vào năm 1994, 140 người đã nhập viện sau khi ăn phảithịt bò bị nhiễm Clenbuterol với các biểu hiện chóng mặt, tim đập nhanh,
khó thở, run tay và nhức đầu (Lê Quốc Thịnh, 2012).
Chắnh vì vậy, Châu Âu ban hành Quyết định 96/22/EC, chắnh thức cấm sửdụng các chất hormone kắch thắch sinh trưởng thuộc nhóm β-agonists từnăm
1996, tiếp đến ngày 23 tháng 7/2003 ban bố lệnh cấm sử dụng tất cả cácloại chất kắch thắch sinh trưởng trong thức ăn chăn nuôi và lệnh cấm này đã cóhiệu lực từ ngày 01/01/2006
Tuy nhiên, sau khi có lệnh cấm vẫn thấy có những ca ngộ độc do ăn phảithức ăn chứa hormone này điển hình vụ 4 người bị ngô độc cấp tắnh trong số
50 người ăn thịt bò và cừu tồn dư Clenbuterol tại Bồ đào Nha với các biểuhiện rung tứ chi, tim đập nhanh, buồn nôn, đau đầu và choáng váng(Taylor và Francis Issue, 2005)
Tại Châu Á, vụ ngộ độc liên quan đến Clenbuterol liên tục xảy ra nghiêmtrọng tại Trung Quốc Mặc dù Clenbuterol cũng đã bị cấm sử dụng trongchăn nuôi gia súc nhưng vẫn có hàng nghìn người dân đã bị ngộ độc do ăn thịtlợn có tồn dư Clenbuterol Tạp chắ chăn nuôi Trung Quốc kỳ 3, quyển 40 năm
2004 đã thông tin về chế phẩm "Shoù roù Jing" có tác dụng tăng tỷ lệ nạc chứaClenbuterol Tháng 5-1998 có 17 người Hong Kong bị trúng độc, chân tay runrẩy, đau đầu, tim đập nhanh, miệng khô được nghi là do ăn thịt lợnchứa Clenbuterol Trung tâm khống chế và dự phòng Triết Giang đã lấy mẫu thịttiến hành kiểm tra, phân tắch và phát hiện"Shoù roù Jing" chứa hàmlượng Clenbuterol trong các mẫu từ 80 - 1020 ộg/kg Tháng 9/2006, 336
Trang 30Page 11
Học viện Nông nghiệp Việt Nam Ờ Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
người ở Thượng Hãi bị ngộ độc do ăn thịt lợn chứa chất Clenbuterol Tháng2/2009, trên
70 người ở Quảng đông bị ngộ độc khi ăn lòng lợn có Clenbuterol
Trang 31Page 12
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Chính vì vậy, tháng 3/2011, Bộ Nông nghiệp Trung Quốc mở chiến dịchkéo dài 1 năm để truy quét thức ăn chăn nuôi có chứa Clenbuterol, sau khi pháthiện Clenbuterol trong thịt của một công ty con của tập đoàn Shuanghui(sản xuất thịt lớn nhất TQ), 72 người bị bắt vì bị cáo buộc sản xuất, bán hoặc sửdụng thịt lợn nhiễm Clenbuterol (Lê Tấn Lam Anh, 2012) Ngày 25/7/2011,Trung Quốc xét xử kẻ chủ mưu Lưu Tương phải chịu mức án tử hình, đồngphạm Hề Trung Kiệt bị kết án chung thân, các bị cáo còn lại lãnh án từ 9-15năm tù giam do bị cáo buộc sản xuất Clebuterol làm thức ăn chăn nuôi lợn siêuthịt
Ở nước ta, người chăn nuôi đã sử dụng hormone để kích thích sinhtrưởng từ lâu nhưng mãi đến năm 2000 mới được các nhà khoa học và nhàquản lý quan tâm Nhận thức được sự nguy hiểm đối với người tiêu dùng vàđặc biệt hội nhập tiêu chuẩn Quốc tế, tháng 06 năm 2002, Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn đã có văn bản chính thức cấm sử dụng các chất thuộcnhóm β-agonists nói chung và Clenbuterol nói riêng trong chăn nuôi (BộNông nghiệp & PTNT,
2002) Tuy nhiên, thực tế kiểm soát còn nhiều hạn chế nên người chănnuôi thậm chí một số công ty, doanh nghiệp vẫn sử dụng bất hợp pháp trongcác sản phẩm phục vụ chăn nuôi như trộn vào thức ăn, thuốc thú y, chế phẩm
Một số vụ việc điển hình liên quan đến hormone sinh trưởng như hiệntượng hơn 1000 gà một trang trại ở quận Cái Răng, Tp Cần Thơ bị chết sau khi
ăn phải thức ăn New Hope Sau khi kiểm tra mẫu thức ăn phát hiện hàm lượngClenbuterol rất cao 149,76 µg/kg (Báo tuổi trẻ, 2005) Một kết quả khác của Chicục thú y Tp Hồ Chí Minh công bố vào ngày 17.06.2006, trong 500 mẫu thịtlợn kiểm tra phát hiện gần 30% mẫu dương tính với Clenbuterol (Lê Thanh Hà,2006) Theo Phạm Thị Kiều Nga (2008), kết quả điều tra một số tỉnh cho thấyClenbuterol được sử dụng cả ở lợn, gà và
bò
Trang 32Page 13
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Năm 2006, kết quả kiểm tra 295 mẫu thức ăn của 114 đơn vị sảnxuất thức ăn gia súc trên 25 tỉnh thành trong cả nước để kiểm tra đã phát hiện
6 công
Trang 33Page 14
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
ty có sản phẩm TĂCN cho lợn có chất cấm Clenbuterol (chiếm 5%) (ðỗ NgọcChính, 2006)
Trước thực tế đó Chính Phủ, Bộ NN&PTNT đã ban hành Nghị định quản
lý chất lượng thức ăn chăn nuôi số 08/2010/Nð-CP về quản lý TĂCN, trong đóquy định rõ trách nhiệm của người sản xuất và kinh doanh TĂCN, đồng thờităng cường giám sát nhưng diễn biến vẫn rất phức tạp Ngày 10 tháng 03năm
2011, Quản lý thị trường ðồng Nai kiểm tra phát hiện Cty TNHH và Dịch vụnông nghiệp Thiên Hưng Phát (tại Thanh Bình, huyện Trảng Bom) có 220kgchất tạo nạc “Super weight 02 và Bcomles-C”, ghi công dụng giúp lợn bung đùi,tạo nạc, kích thích thèm ăn (Hình 1.2)
Hình 1.2 Bao chất tạo nạc Super Weight 02 được phát hiện
tại ðồng Nai ngày 10/3/2011
Sau đó, ngày 12/3/2011, ðội Quản lý thị trường cơ động (Chi cục Quản lýthị trường ðồng Nai) kiểm tra đột xuất Công ty TNHH Nhân Lộc, tại xã BìnhLợi, huyện Vĩnh Cửu (ðồng Nai) và phát hiện gần 2,5 tấn chất kích thích sinhtrưởng và tạo nạc trong chăn nuôi lợn với nhãn mác HT04, HT02 có ghi tácdụng tạo nạc, tạo màu nạc đỏ, giảm mỡ lưng, tăng tiết hormone sinh trưởng,cải thiện tăng trọng, giảm tiêu tốn thức ăn cho lợn
Trước tình hình đó Bộ NN&PTNT ban hành tiếp thông tư số BNN&PTNT ngày 16/01/2012 quy định cấm sản xuất, nhập khẩu, lưu thông và
Trang 3403/2012/TT-Page 15
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
sử dụng Salbutamol, Clenbuterol trong sản xuất và kinh doanh thức ănchăn nuôi, hay Thông tư số 57/2012/TT-BNNPTNT quy định việc kiểm tra, giámsát và xử lý vi phạm các chất cấm thuộc nhóm Beta-agonist trong chăn nuôi thếnhưng việc thực thi Nghị định và Thông tư trên còn rất hạn chế
Thông tin từ sở NN&PTNT TP Hà Nội, trong 227 mẫu gồm thức ăn chănnuôi, thịt lợn kiểm tra phát hiện 8 mẫu thịt dương tính với chất tạo nạc(gốc Beta- Agonits) (VTC News, 2012)
Kết quả kiểm tra 286 mẫu thức ăn chăn nuôi được lấy tại các tỉnh, thànhtrên cả nước phát hiện có 13 mẫu (chiếm tỷ lệ 4,8%) dương tính vớinhóm chất cấm Beta- agonist Riêng tại khu vực miền Bắc, phát hiện 3/150 mẫudương tính với nhóm chất này, trong đó có 2 mẫu thức ăn chăn nuôi đượclấy tại Hòa Bình và Hải Dương, 1 mẫu gan lợn ở Bắc Ninh Cũng theo kết quảnày, Cục Chăn nuôi đã phát hiện có 8/179 mẫu thịt, gan lợn dương tính vớiBeta- agonist (chiếm
4,4%) Việc xét nghiệm trên nước tiểu lợn cũng được tiến hành với 108mẫu, trong đó có 7 mẫu (6,4%) dương tính với Beta- agonist (Ngọc Lê, 2012)
Các tỉnh khu vực phía Nam, chất cấm phát hiện được chủ yếu ởðồng Nai, Bình Dương, Long An, TP.Hồ Chí Minh với tỷ lệ nhiễm gần 10%(Nguyễn Tâm, 2012) Tại thành phố Hồ Chí Minh, có tới 43% mẫu thịt và26% mẫu nước tiểu được kiểm nghiệm tại TP Hồ Chí Minh dương tínhvới Beta- agonist (Vương Xuân, 2012)
Gần đây nhất, kết quả giám sát của Cục Chăn nuôi, sau khi có thông tincủa Sở Nông nghiệp và PTNT TP HCM về tỷ lệ mẫu thịt và nước tiểu lợndương tính với các chất cấm nhóm beta agonist (Salbutamol, Clenbuterol,Ractopamine), Cục Chăn nuôi đã có văn bản chỉ đạo các địa phương lấy mẫukiểm tra Kết quả cho thấy có 4,73% mẫu TĂCN, 17,8% mẫu nước tiểu lợn và
Trang 35Page 16
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
1,2% mẫu thịt/gan lợn dương tính Mẫu dương tính bị phát hiện chủ yếutại ðồng Nai và Bình Dương Sau 5 tháng chỉ đạo quyết liệt, tình hình sử dụngchất cấm đã được kiểm soát, ngành chăn nuôi lợn được khôi phục trở lại (CụcChăn
Trang 36Page 17
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
nuôi, 2014) Năm 2013, đã phát hiện 02 mẫu thức ăn chăn nuôi dương tính với chất cấm trong chương trình thanh tra diện rộng của Bộ NN&PTNT
Năm 2014 tình hình sử dụng chất cấm và tồn dư kháng sinh có nhiều dấuhiệu vi phạm và diễn biến phức tạp, nhất là thời điểm giá lợn hơi tăng cao ðể
có biện pháp kiểm soát hiệu quả, làm cơ sở chỉ đạo diện rộng, Bộ trưởng đã chỉđạo Cục Chăn nuôi phối hợp với 6 tỉnh tiến hành kiểm tra trọng điểm TĂCN,trong đó tập trung vào chất cấm, tồn dư kháng sinh và thức ăn bổ sung.ðối tượng kiểm tra không chỉ Cơ sở sản xuất TĂCN hỗn hợp và đậm đặc, trong
đó tập trung kiểm tra chủ yếu đối với cở sở vừa hoặc nhỏ (công suất thiết kếdưới 15.000 tấn/năm); mà còn các Cơ sở sản xuất thức ăn bổ sung;các cơ sở giacông TĂCN không có địa chỉ rõ ràng; Cơ sở kinh doanh thức ăn, thuốc thú y, nhất
là các cơ sở xếp loại C và Cơ sở giết mổ, buôn bán thịt lợn, thịt gia cầm trên địabàn
Bảng 1.2 Kết quả kiểm tra giám sát sử dụng kháng sinh và chất cấm năm 2014 STT Tên mẫu Chỉ tiêu Số mẫu
kiểm tra
Số mẫu vi phạm
Tỷ lệ vi phạm (%)
1 TĂCN
Chất lượng 329 38 11,6Chất cấm 250 13 5,2Nước
Trang 371.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.3.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Những năm cuối của thập kỷ 1980 và thập kỷ 1990, người ta phát hiện
ra sự tồn dư Clenbuterol trong thịt và phủ tạng, đặc biệt là gan của những vậtnuôi được nuôi bằng thức ăn có chứa Clenbuterol đã ảnh hưởng đến sức khỏengười tiêu thụ Khi đó, nhiều bệnh nhân có biểu hiện run cơ, đau tim, tim đậpnhanh, tăng huyết áp, choáng váng, gây tổn hại hệ thần kinh, hệ tuần hoàn(Witkamp, 1996) và gây hiện tượng stress Kể từ đó đã có nhiều báo cáo về cáctrường hợp ngộ độc trên người sau khi tiêu thụ thực phẩm có chứa chất tồn dưClenbuterol
Năm 2000, tác giả Woodward K.N thuộc viện nghiên cứu về thuốc thú y
ở Anh đã nghiên cứu quá trình chuyển hóa và độc tính của Clenbuterol trênmột số loài động vật (chuột, khỉ, trâu, bò, ngựa)
Các tác giả Warriss P D và cộng sự (1990) đã nghiên cứu ảnh hưởng củasalbutamol lên thịt lợn, các chuyển hóa về mặt sinh học của gia súc khi sử dụnghợp chất này
Khi động vật ăn phải thức ăn gia súc có chứa Beta-agonist thì chúng sẽtích tụ tại các mô bao gồm gan và thịt Theo một số nghiên cứu trên một sốgia súc cho biết 100% dư lượng của thuốc này tồn dư ở trong cơ không biếnđổi và
60% dư lượng tồn dư ở gan ở dạng không biến đổi, thời gian tồn ở gan và thịt
cơ khoảng từ 25 – 30 ngày (Gianfranco Brambilla và cs., 2000).
Theo các tài liệu đã công bố, từ năm 1990 đến 2011, nhiều tác giả
đã nghiên cứu phương pháp phân tích clenbuterol, bằng LC-MS, LC-MS/MSvới các giá trị LOD cho clenbuterol trong nhiều nền mẫu khác nhau (thịt, gan,thận, thức ăn chăn nuôi, mẫu máu ) thường đạt từ 0,02 đến 9 ppb; với phươngpháp phân tích β-agonist trên các nền mẫu sinh học bằng sắc ký khí (GC-MS),
Trang 38các nghiên cứu được công bố cho giá trị LOD của clenbuterol < 0,5 ppb hoặckhông công bố giá trị LOD Riêng trong năm 1999, Guy Degand và cộng sựthuộc trung tâm nghiên cứu Nestlé - Switzerland đã thông báo phương phápphân tích
Trang 39clenbuterol trong thịt gia súc bằng phương pháp sắc ký lỏng ghép khối phổ ba
tứ cực (với qui trình chiết mẫu bằng acid HClO4) với LOD đạt 0,01 ppb, hiệu suấtthu hồi đạt 63-70%
1.3.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước
- Tại các phòng thí nghiệm ở Việt Nam, bắt đầu triển khai việc đánh giá,phân tích Clenbuterol, Salbutamol từ cuối năm 2005 nhưng chủ yếu dùngphương pháp hóa miễn dịch enzyme ELISA Tuy nhiên, do là kít nhập khẩu, quiđịnh về phân tích chưa được chú trọng nên chất lượng và độ chính xác củaphân tích còn nhiều hạn chế Hiện tượng kết quả các phòng thí nghiệm khôngthống nhất, đặc biệt do thiếu hiểu biết nên một số phòng thí nghiệm đã dùngkết quả phương pháp ELISA để công bố đã gây thiệt hại đáng kể cho ngành chănnuôi
Theo quyết định 2002/657/ EC của châu Âu, tất cả các phươngpháp muốn đưa vào phân tích cần phải được thẩm định và về nguyên tắc mộtphương pháp sàng lọc dù đã được thẩm định lại khi áp dụng vào thực tế nếu cókết quả dương tính với chất cần phân tích, trước khi công bố chính thức cầnphải được phân tích lại bằng phương pháp khẳng định có khả năng phát hiện vàđịnh lượng chính xác
- Năm 2007, Phạm Xuân Viết và cộng sự, Trường ðại Học Dược Hà Nội
đã nghiên cứu phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao, một tứ cực, đểđịnh lượng salbutamol trong huyết tương, hiệu suất chiết salbutamol ở cácnồng độ
10, 75, 200 ppb khoảng 80%
- Năm 2008, Trung Tâm Dịch Vụ Phân Tích Thí nghiệm TPHCM đãnghiên cứu và xây dựng qui trình phân tích clenbuterol bằng sắc ký khí ghépkhối phổ (GC/MS) đạt hiệu suất thu hồi từ 65- 88%; giá trị LOD đối với TĂCN là0,16 ppb (đối với Clenbuterol), 0,11 ppb (Salbutamol); giá trị LOD đối với thịt
Trang 40là 0,05 ppb (Clebuterol), 0,07 ppb (Salbutamol) báo cáo đề tài cấp thành phốnăm 2008.