Vìvậy, chúng ta cần có các chiến lược quản lý hiện đại ứng dụng công nghệ thôngtin như hệ thông tin địa lý, dịch vụ thông tin dựa trên internet, hiển thị 3D, côngnghệ mô phỏng nhằm hỗ tr
Trang 1MAI VĂN SỸ
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG MÔ HÌNH THÀNH PHỐ
ẢO PHỤC VỤ CÔNG TÁC QUY HOẠCH ĐÔ THỊ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KỸ THUẬT
Hà Nội, 2019
Trang 2MAI VĂN SỸ
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG MÔ HÌNH THÀNH PHỐ
ẢO PHỤC VỤ CÔNG TÁC QUY HOẠCH ĐÔ THỊ
Ngành: Kỹ thuật Trắc địa – Bản đồ
Mã số : 9 520503
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KỸ THUẬT
Người hướng dẫn Khoa học:
PGS.TS Nguyễn Trường Xuân
Hà Nội, 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu,kết quả trong luận án trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ côngtrình nào
Tác giả luận án
Mai Văn Sỹ
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 7
1.1 Tổng quan về công tác quy hoạch và quản lý đô thị ở nước ta 7
1.1.1 Tổng quan về quy hoạch không gian, quy hoạch đô thị 7
1.1.2 Yêu cầu của quy hoạch đô thị 9
1.1.3 Thực trạng công tác lập đồ án quy hoạch và quản lý đô thị ở nước ta 12
1.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu ứng dụng mô hình 3D trong công tác quy hoạch và quản lý đô thị trên thế giới 15
1.3 Tổng quan về tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 24
1.4 Hướng nghiên cứu của đề tài luận án 26
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ KHOA HỌC XÂY DỰNG THÀNH PHỐ ẢO 3D PHỤC VỤ QUY HOẠCH VÀ QUẢN LÝ ĐÔ THỊ 29
2.1 Thành phố ảo 3D 29
2.2 Nội dung dữ liệu không gian của mô hình thành phố 3D 30
2.2.1 Nhóm dữ liệu nền địa lý 3D 32
2.2.2 Nhóm dữ liệu địa vật trong không gian đô thị 33
2.2.3 Tích hợp từ các nguồn dữ liệu khác 39
2.3 Nghiên cứu đề xuất cơ sở dữ liệu thành phố ảo 3D 46
2.3.1 Khung tham chiếu không gian của dữ liệu 47
2.3.2 Cấu trúc đồ họa đối tượng 3D 47
2.3.4 Đề xuất cấp độ chi tiết trong mô hình thành phố ảo 3D 56
Trang 52.3.5 Đề xuất nội dung và cấu trúc dữ liệu 59
2.4 Đề xuất quy trình xây dựng thành phố ảo 3D phục vụ quy hoạch và quản lý đô thị 72
2.4.1 Quy trình tổng quát 72
2.4.2 Quy trình xây dựng bản đồ 3D từ ảnh viễn thám độ phân giải cao 72
2.4.3 Đề xuất quy trình xây dựng mô hình thành phố ảo 3D phục vụ quy hoạch đô thị 74
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM XÂY DỰNG MÔ HÌNH THÀNH PHỐ ẢO 3D KHU CÔNG NGHIỆP ĐÔ THỊ KIẾN THỤY, TP HẢI PHÒNG 79
3.1 Giới thiệu khu vực nghiên cứu 79
3.2 Xây dựng mô hình thành phố ảo 3D khu thử nghiệm 82
3.2.1 Lựa chọn phần mềm 82
3.2.2 Công tác chuẩn bị dữ liệu để xây dựng mô hình 3D 85
3.2.3 Xây dựng mô hình thành phố ảo 3D 88
3.3 Tích hợp phương án quy hoạch 90
3.3.1 Số hóa phương án 90
3.3.2 Chuẩn hóa dữ liệu không gian 3D phương án quy hoạch 91
3.3.3 Tích hợp phương án quy hoạch lên mô hình thành phố ảo 3D 96
3.4 Xây dựng một số “công cụ” phần mềm hỗ trợ 101
3.5 Giới thiệu một số kết quả ứng dụng mô hình thành phố ảo 3D khu thực nghiệm 115
3.5.1 Trình diễn các góc nhìn mô hình 115
3.5.2 Phân tích và Mô phỏng 116
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 122
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ 125
ĐÃ CÔNG BỘ CÓ LIÊN QUAN TỚI LUẬN ÁN 125
TÀI LIỆU THAM KHẢO 126
Trang 6có thể hoàn thành bản luận án NCS cũng xin chân thành cảm ơn sự động viên,khích lệ của gia đình và bạn bè trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thựchiện luận án này.
Hà Nội, tháng 3 năm 2019
NCS Mai Văn Sỹ
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Cơ sở dữ liệuComputer Graphics Science - Khoa học máy tinhCity Geography Mark-up language
Geography Markup Language - Ngôn ngữ đánh dấu địa lýDigital Catorghaphic Model – Mô hình số bản đồ
Digital Elevation Model - Mô hình số độ caoDigital Terrain Model – Mô hình số địa hìnhDigital Lanscape Model – Mô hình số cảnh quanGeographic Information System – Hệ thông tin địa lýGlobal Positioning System – Hệ thống định vị toàn cầuGeovirtual environments – Môi trường địa lý ảo
Level-of-detailLight Detection And Ranging – Công nghệ LiDaRUnmanned Air Vehicle – Máy bay không người láiIndustry Foundation Class
Quy hoạch không gianQuy hoạch phân khuOpen Geospatial ConsortiumSpatial Data Infrastructure - Hạ tầng dữ liệu không gianTriangular Irregular Network – Mạng lưới tam giác khônggian không đều
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Quy định về độ chính xác về độ cao đối tượng 3D 62Bảng 3.1: Cơ cấu sử dụng đất của đồ án thiết kế quy hoạch 81Bảng 3.2: Các gói dữ liệu trong CSDL nền địa lý 1:2000 87Bảng 3.3: Tỷ lệ đất tối thiểu trồng cây xanh trong các lô đất xây dựng công trình104
Bảng 3.4: Diện tích đất cây xanh sử dụng công cộng trong các đô thị 105Bảng 3.5: Tiêu chuẩn không gian trong thiết kế tương quan 111
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1.1: Một góc mô hình 3D thành phố Boston 19
Hình 1.2: Một góc mô hình 3D thành phố NewYork 19
Hình 1.3: Mô hình 3D khu vực đài tưởng niệm Lincoln tại Washington 20
Hình 1.4: Mô hình 3D khu vực tòa tháp 101 tầng, Đài Bắc, Đài Loan 20
Hình 1.5: Mô hình 3D thành phố SongDo, Hàn Quốc 21
Hình 1.6: Mô hình thành phố 3D của Berlin, Cộng hòa liên bang Đức 22
Hình 2.1: Ba thành phần cơ bản khung nhìn mô hình thành phố ảo 3D 30
Hình 2.2: Phương pháp tích hợp cho dữ liệu vector địa lý 39
Hình 2.3: Phương pháp Extrusion-based modeling được sử dụng để biểu diễn các sơ đồ tổng thể thông qua các mô hình khối và các cấu tạo bề mặt địa hình 41 Hình 2.4: Phương pháp tiếp cận mô hình 3D để tạo ra các biểu diễn quy hoạch như là mô hình 3D 42
Hình 2.5: Minh họa phương pháp mô hình hóa dựa trên CityGML 43
Hình 2.6: Đối tượng trên mô hình thành phố 3D 48
Hình 2.7: Mô tả dựng hình 3D từ 5 loại đối tượng cơ sở 49
Hình 2.8: Kiểu mô hình thành phố 3D của Shiode, dựa trên mức độ thực tế 55
Hình 2.9: Kiểu mô hình thành phố 3D của Shiode, dựa trên các chức năng phân tích 55
Hình 2.10: Kiểu mô hình thành phố 3D của Batty 56
Hình 2.11: Một số kiểu biến thể về mặt hình học của một mô hình 3D ở LoD1 57 Hình 2.12: Các cấp độ chi tiết (LoD) trong mô hình thành phố ảo 3D 59
Hình 2.13: Lược đồ cấu trúc của mô hình CSDL thành phố ảo 3D 63
Hình 2.14: Khung CSDL phương án quy hoạch 64
Hình 2.15: Lược đồ cấu trúc nhóm nội dung địa hình 65
Hình 2.16: Lược đồ cấu trúc nhóm nội dung nhà và khối nhà 67
Trang 10Hình 2.17: Khung CSDL nhóm nội mô hình ngầm 68
Hình 2.18: Khung CSDL nhóm nội mô hình cầu 68
Hình 2.19: Lược đồ cấu trúc nhóm nội dung mặt nước 69
Hình 2.20: Lược đồ cấu trúc nhóm nội dung giao thông 70
Hình 2.21: Lược đồ cấu trúc nhóm nội dung thực vật 71
Hình 2.22: Lược đồ cấu trúc nhóm nội dung sử dụng đất 71
Hình 2.23: Quy trình xử lý và thành lập mô hình 3D 72
Hình 2.24: Quy trình xây dựng mô hình thành phố ảo 3D bằng ảnh viễn thám độ phân giải cao 73
Hình 2.25: Mô hình thành phố ảo 3D được thành lập từ ảnh viễn thám độ phân giải cao 73
Hình 2.26: Quy trình xây dựng Mô hình thành phố ảo 3D phục vụ quy hoạch và quản lý đô thị 75
Hình 3.1: Sơ đồ vị trí mối liên hệ vùng 79
Hình 3.2: Cấu trúc hoạt động của Skyline 83
Hình 3.3: Sơ đồ thiết kế lưới khống chế ảnh 85
Hình 3.4: Bình đồ ảnh khu vực nghiên cứu được thành lập từ ảnh UAV 86
Hình 3.5: Mô hình số bề mặt (DSM) 86
Hình 3.6: Bản đồ địa hình tỷ lệ 1:2000 87
Hình 3.7: Cấu trúc cơ sở dữ liệu 88
Hình 3.8: Kết quả mô phỏng địa hình 88
Hình 3.9: Phương án quy hoạch được số hóa trên phần mềm ArcGIS 90
Hình 3.10: Thông tin lớp nhà cao tầng 91
Hình 3.11: Mô hình mẫu cột đèn và đèn báo hiệu giao thông 94
Hình 3.12: Thiết kế mô hình đối tượng trên phần mềm SketchUp 94
Hình 3.13: Ký hiệu hạ tầng kỹ thuật 95
Hình 3.14:Thư viện ký hiệu cây độc lập/thảm thực vật 95
Trang 11Hình 3.15: Ảnh cấu trúc sử dụng trong bản đồ 3D 96
Hình 3.16: Gán các cấp độ LoD cho đối tượng khối nhà 96
Hình 3.17: Mô hình 3D được thành lập từ CSDL 2D 97
Hình 3.18: Tích hợp mô hình nhà xưởng vào mô hình 3DCM 98
Hình 3.19:Tích hợp đường giao thông vào mô hình 3DCM 98
Hình 3.20: Mặt nước được tích hợp vào mô hình thành phố 3D 99
Hình 3.21: Cây xanh, công viên được tích hợp vào mô hình thành phố 3D 99
Hình 3.22: Tàu điện được tích hợp vào mô hình thành phố 3D 100
Hình 3.23:Mô phỏng các tuyến đường dây điện 100
Hình 3.24: Mô phỏng các công trình cấp thoát nước 101
Hình 3.25: Cơ sở dữ liệu mô hình 3DCM 101
Hình 3.26: Giao diện chính phần mềm Mô hình thành phố ảo 3D 102
Hình 3.27: Giao diện tiếng Việt, thân thiện với người dùng 102
Hình 3.28: Chức năng tính toán hệ số sử dụng đất đoạn code sau để tính toán hệ số sử dụng đất: 105
Hình 3.29: Thuộc tính đối tượng nhà và khối nhà 107
Hình 3.30: Kiểm tra thiết kế tòa nhà đoạn code sau kiểm tra thiết kế tòa nhà: 109 Hình 3.31: Kiểm tra khoảng lùi của công trình đoạn code chức năng kiểm tra khoảng lùi công trình: 112
Hình 3.32: Mô hình 3DCM phục vụ trình diễn và giới thiệu thành phố 116
Hình 3.33: Bản đồ về kiểm soát chiều cao của trung tâm thành phố 117
Hình 3.34: Tìm kiếm các đối tượng theo khoảng cách 118
Hình 3.35: Tìm kiếm các đối tượng theo khu vực 118
Hình 3.36: Phân tích tầm nhìn 119
Hình 3.37: Bóng tòa nhà 120
Hình 3.38: Mô hình khái quát của hệ thống 103
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Như chúng ta đã biết quy hoạch đô thị là tổ chức và xây dựng không gian
đô thị phục vụ các kế hoạch và chương trình phát triển đô thị của các cấp cácngành Quy hoạch đô thị được gọi là Quy hoạch xây dựng đô thị Quy hoạch xâydựng đô thị là một ngành khoa học kỹ thuật, xã hội, nhân văn, là nghệ thuật về
tổ chức không gian sống cho các đô thị và các khu vực đô thị Nó là nghệ thuậtsắp xếp tổ chức các không gian chức năng, khống chế hình thái kiến trúc trong
đô thị trên cơ sở điều tra, dự báo, tính toán sự phát triển, đặc điểm, vai trò, nhucầu và nguồn lực của đô thị, nhằm cụ thể hóa chính sách phát triển, giảm thiểucác tác động có hại phát sinh trong quá trình đô thị hóa, tận dụng tối đa mọinguồn lực, và hướng tới sự phát triển bền vững Các không gian đô thị, côngtrình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội đô thị cần được quy hoạch phùhợp với phát triển tổng thể kinh tế - xã hội- môi trường, an ninh - quốc phòng.Việc quy hoạch và quản lý đô thị đòi hỏi phải giải quyết tổng thể các yêu cầu vềthiết kế, quy hoạch cấu trúc không gian, môi trường sinh thái, kinh tế và xã hội.Tất cả đều cần một môi trường đa chiều, cụ thể là môi trường không gian 3Dthực hay không gian 4D (để xem xét sự thay đổi theo thời gian) Việc thực hiệnquy hoạch đô thị, thiết kế đô thị trong môi trường 3D là một bước tiến nhảy vọt
về công nghệ thay thế cho phương pháp quy hoạch đô thị truyền thống 2D, nó có
ý nghĩa to lớn đối với các nhà quản lý và thiết kế đô thị trong giai đoạn hiện nay
Thay vì được mô tả bằng văn bản, các sơ đồ thiết kế, quy hoạch thành phố
và các quy tắc có thể được trình bày và phân tích trong môi trường mô phỏng3D Việc thay đổi kết cấu đô thị và mật độ xây dựng có thể được phân tích thôngqua việc phân tích cấu trúc Môi trường tiếng ồn, tình trạng ánh sáng, môi
Trang 13trường nhiệt, điều kiện thông gió và tình trạng ô nhiễm môi trường có thể đượcphân tích thông qua việc tính các chỉ số không gian của đô thị Việc kiểm soátchiều cao, màu sắc và kiến trúc các tòa nhà và các đánh giá của môi trường xungquanh các tòa nhà và đường phố có sẵn dựa trên các phân tích trực quan bở dữliệu số Việc phân tích sự phân bố của các khu chức năng khác nhau và vị tríthích hợp của nó có thể thông qua phân tích tương quan trong không gian 3D Vìvậy, chúng ta cần có các chiến lược quản lý hiện đại ứng dụng công nghệ thôngtin như hệ thông tin địa lý, dịch vụ thông tin dựa trên internet, hiển thị 3D, côngnghệ mô phỏng nhằm hỗ trợ việc ra quyết định và cải thiện thông lượng truyềnthông giữa các cơ quan chức năng, người dân và các doanh nghiệp.
Cho đến nay ở nước ta, việc nghiên cứu và ứng dụng mô hình bản đồ 3Dbiểu diễn bề mặt đất mới chỉ dừng ở việc mô phỏng địa hình, địa vật, dựng hình
và gán các thuộc tính đơn giản mà chưa xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu cácđối tượng đô thị theo mô hình 3D, chưa có khung chuẩn thống nhất cơ sở dữ liệukhông gian và thuộc tính của đối tượng 3D những vấn đề này sẽ làm cho việcnghiên cứu ứng dụng mô hình 3D trong công tác quy hoạch đô thị ở nước tachưa tương ứng với ý nghĩa của nó và chưa đáp ứng được nhu cầu của thực tế.Chính vì vậy, việc xây dựng mô hình thành phố ảo 3D dựa trên một CSDL 3Dthống nhất về nội dung, cấu trúc sẽ đảm bảo cho công tác quy hoạch và quản lý
đô thị tiến thêm một bước mới trong trên con đường xây dựng thành phố thôngminh (SmartCity) và ở đó mô hình thành phố ảo 3D được thiết lập như một phầncủa cơ sở hạ tầng dữ liệu không gian địa lý
Trên thế giới, việc ứng dụng các mô hình thành phố ảo 3D trong công tácquy hoạch, thiết kế và quản lý đô thị, quản lý lãnh thổ đã và đang được nghiêncứu và đã trở thành một phương pháp hiện đại
Ở Việt Nam, một số nhà khoa học đã bắt đầu nghiên cứu áp dụng kỹ thuậtbản đồ số, GIS và công nghệ tin học… để xây dựng các mô hình 3D phục vụ
Trang 14cho một vài lĩnh vực Tuy nhiên do khối lượng công việc lớn, nhiều vấn đề kỹthuật còn vướng mắc và chuẩn dữ liệu 3D chưa được thống nhất nên đến nayviệc triển khai xây dựng các mô hình thành phố ảo 3D vẫn còn nhiều vấn đề cầnđược nghiên cứu Đặc biệt là việc nghiên cứu một cách có hệ thống và đưa ra cơ
sở khoa học và quy trình xây dựng các mô hình thành phố ảo 3D phục vụ côngtác quy hoạch và quản lý đô thị cần được triển khai
Vì vậy, việc nghiên cứu cơ sở khoa học cũng như ứng dụng và phát triểncác kỹ thuật, các công cụ và các phương pháp phù hợp để xây dựng mô hìnhthành phố ảo 3D phục vụ công tác quy hoạch và quản lý đô thị của đề tài luận án
là cần thiết, mang tính khoa học và có tính thực tiễn cao
2 Mục tiêu nghiên cứu
Xác lập cơ sở khoa học và quy trình xây dựng mô hình thành phố ảo 3Dphục vụ cho công tác quy hoạch và quản lý đô thị, minh chứng qua thực nghiệmtại Khu đô thị công nghiệp Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng
3 Đối tượng nghiên cứu
Theo mục tiêu nghiên cứu của đề tài, đối tượng nghiên cứu là Mô hìnhthành phố ảo 3D
4 Phạm vi nghiên cứu
- Mô hình thành phố ảo 3D phục vụ quy hoạch và quản lý đô thị
- Thực nghiệm tại Khu đô thị công nghiệp Kiến Thụy, TP Hải Phòng
5 Nội dung nghiên cứu
- Tổng quan tình hình nghiên cứu xây dựng mô hình thành phố ảo 3Dphục vụ công tác quy hoạch và quản lý đô thị trên thế giới và việt Nam
- Nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng thành phố ảo 3D, trong đó đề xuấtdanh mục nội dung, cấu trúc, cấp độ chi tiết của mô hình thành phố ảo 3D từ cơ
sở dữ liệu nền địa lý kết hợp với đồ án thiết kế quy hoạch và các tư liệu liênquan khác
Trang 15- Đề xuất quy trình công nghệ xây dựng mô hình thành phố ảo 3D phục
vụ công tác quy hoạch và quản lý đô thị ở nước ta
- Thực nghiệm xây dựng mô hình thành phố ảo 3D Khu đô thị công nghiệp Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng
6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích tổng hợp: Thu thập và nghiên cứu các đề tài đã
nghiên cứu trong và ngoài nước, trên Internet, sách, báo, tạp chí có liên quan đến
mô hình 3D, quy hoạch đô thị Từ đó đánh giá, phân tích, phân loại tài liệu theonguồn gốc, chủng loại, thời gian, tác giả, ngôn ngữ…thành các loại tài liệuchính, tài liệu tham khảo, tài liệu pháp lý, kế thừa có chọn lọc các kết quả đãnghiên cứu
Phương pháp mô hình hóa: Mô hình bản đồ, mô hình ảnh, mô hình cấu
trúc đối với dữ liệu số, biểu thị bản đồ số, biểu thị mô hình 3D tĩnh, động.…
Phương pháp GIS: phục vụ xây dựng cơ sở dữ liệu và phân tích không
gian địa lý
Phương pháp tin học: Phục vụ phát triển các Modul ứng dụng.
Phương pháp thực nghiệm: Tiến hành thực nghiệm tại Khu đô thị công
nghiệp Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng để chứng minh các kết quả nghiên cứucủa luận án
Phương pháp chuyên gia: Thông qua hội thảo, góp ý, xin ý kiến các
chuyên gia, các nhà khoa học trong lĩnh vực quy hoạch đô thị, trong lĩnh vựctrắc địa bản đồ, lĩnh vực công nghệ thông tin
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trang 16công nghệ thành phố ảo 3D và có ý nghĩa trong việc tạo tiền đề cho việc xây dựng và phát triển mô hình dữ liệu thành phố thông minh SmartCity.
Ý nghĩa thực tiễn:
- Mô hình thành phố ảo 3D được xây dựng là các thông tin có giá trị chocho các nhà quy hoạch và quản lý dự án khu công nghiệp Kiến Thụy thành phốHải Phòng
- Phương pháp và quy trình đã được nghiên cứu có thể phát triển áp dụngtrong công tác quy hoạch và quản lý đô thị ở nước ta
8 Luận điểm bảo vệ
Luận điểm 1: Cơ sở dữ liệu thành phố ảo 3D hoàn toàn đáp ứng cho trình
diễn phối cảnh, cung cấp thông tin không gian sáng tạo, trực quan, đảm bảo chophân tích và hỗ trợ ra quyết định trong quy hoạch và lý đô thị
Luận điểm 2: Quy trình công nghệ được đề xuất phù hợp với yêu cầu xây
dựng thành phố ảo 3D phục vụ quy hoạch và quản lý đô thị
9 Những điểm mới của đề tài
- Đề xuất được CSDL thành phố ảo 3D bao gồm nội dung, cấu trúc dữliệu, cấp độ chi tiết để áp dụng trong xây dựng quy hoạch và quản lý đô thị ởnước ta
- Đề xuất được quy trình công nghệ phù hợp trong xây dựng và khai thác
mô hình thành phố ảo 3D phục vụ công tác quy hoạch và quản lý đô thị
10 Cấu trúc của luận án
Luận án được trình bày trong 133 trang khổ giấy A4, trong đó có 6 bảng biểu,
70 hình vẽ và được cấu trúc thành:
Mở đầu
Chương 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở khoa học xây dựng thành phố ảo 3D trong quy hoạch vàquản lý đô thị
Trang 17Chương 3: Xây dựng mô hình thành phố ảo 3D phục vụ quy hoạch Khu
đô thị công nghiệp Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng
Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Trang 18CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan về công tác quy hoạch và quản lý đô thị ở nước ta 1.1.1 Tổng quan về quy hoạch không gian, quy hoạch đô thị
Quy hoạch không gian hay quy hoạch xây dựng là việc tổ chức và địnhhướng không gian vùng, không gian đô thị và dân cư, hệ thống công trình hạtầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, tạo lập môi trường sống thích hợp cho người dânsống tại các lãnh thổ đó, đảm bảo kết hợp hài hòa giữa lợi ích quốc gia và lợi íchcộng đồng, đáp ứng được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng -
an ninh và bảo vệ môi trường [1]
Như vậy, quy hoạch không gian (QHKG) là một hoạt động nhằm tạo ramột chuỗi có trật tự các hành động dẫn dắt tới việc thực hiện một hay nhiều mụctiêu đã dự kiến Các kỹ thuật chính của quy hoạch là các văn bản tường trìnhđược bổ sung theo nhu cầu những dự báo thống kê, những công thức toán,những đánh giá số lượng và những biểu bảng minh họa cho các quan hệ giữacác bộ phận khác nhau của dự án [2] Nó có thể, nhưng không nhất thiết phảibao gồm các bản vẽ không gian chính xác của các đối tượng
Quy hoạch không gian là một phương thức quy hoạch mới, được áp dụnghiệu quả ở các nước và nhiều thành phố trên thế giới trong nhiều năm qua.Tương tự như các loại hình quy hoạch khác, QHKG luôn đi trước các hoạt độngphát triển và đóng vai trò hỗ trợ kiểm soát phát triển các đô thị và lãnh thổ
Quy hoạch không gian và quản lý không gian đòi hỏi xác lập một cơ chếphối hợp liên ngành, liên cơ quan, liên vùng trong quản lý và giải quyết đồng bộcác quan hệ phát triển khác nhau, trong đó quan hệ giữa các mảng không gian và
tổ chức không gian hợp lý cho phát triển kinh tế bền vững là một trong nhữngnhiệm vụ quan trọng và cần đi trước một bước
Trang 19Nhu cầu phát triển kinh tế trong bối cảnh cạnh tranh và xung đột khônggian khai thác, sử dụng ở Việt Nam ngày càng gia tăng Vì vậy, việc áp dụngquy hoạch không gian đã trở thành nhu cầu thực tiễn cấp bách trong quản lý nhànước tổng hợp và thống nhất đối với Việt Nam trong thời gian tới.
Có thể nói, quy hoạch không gian và quản lý tổng hợp theo không gianđang còn là những vấn đề mới mẻ đối với không chỉ các nhà quản lý và hoạchđịnh chính sách, mà còn đối với ngay cả các nhà khoa học và quy hoạch ở ViệtNam
Quy hoạch đô thị là việc tổ chức không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị,
hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội và nhà ở để tạolập môi trường sống thích hợp, phù hợp với chiến lược phát triển tổng thể kinh
tế – xã hội, môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, sử dụng năng lượng tiếtkiệm, hiệu quả, đảm bảo an ninh – quốc phòng, được thể hiện thông qua đồ ánquy hoạch đô thị Theo đó, có một số mức quy hoạch như sau:
- Quy hoạch chung là việc tổ chức không gian, hệ thống các công trình hạtầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội và nhà ở cho một đô thị phù hợp với sựphát triển kinh tế – xã hội của đô thị, bảo đảm quốc phòng, an ninh và phát triểnbền vững
- Quy hoạch phân khu là việc phân chia và xác định chức năng, chỉ tiêu sửdụng đất quy hoạch đô thị của các khu đất, mạng lưới công trình hạ tầng kỹthuật, công trình hạ tầng xã hội trong một khu vực đô thị nhằm cụ thể hóa nộidung quy hoạch chung
- Quy hoạch chi tiết là việc phân chia và xác định chỉ tiêu sử dụng đất quyhoạch đô thị, yêu cầu quản lý kiến trúc, cảnh quan của từng lô đất; bố trí côngtrình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội nhằm cụ thể hóa nội dung củaquy hoạch phân khu hoặc quy hoạch chung
Bản chất và sự khác biệt giữa quy hoạch chung, quy hoạch phân khu, quy
Trang 20hoạch chi tiết đô thị nằm ở mức độ yêu cầu của nội dung nghiên cứu, cách thứcthể hiện (tỉ lệ bản đồ), thời gian quy hoạch, cấp phê duyệt của từng loại đồ án vàtính quan hệ, phụ thuộc giữa chúng (Quy hoạch chung/quy hoạch cấp trên; quyhoạch phân khu, quy hoạch chi tiết/quy hoạch cấp dưới).
1.1.2 Yêu cầu của quy hoạch đô thị
1.1.2.1 Nội dung của quy hoạch đô thị
Nội dung đồ án quy hoạch đô thị bao gồm việc xác định chỉ tiêu về dân
số, hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật và yêu cầu tổ chức không gian, kiến trúc chotoàn khu vực quy hoạch; bố trí công trình hạ tầng xã hội phù hợp với nhu cầu sửdụng; chỉ tiêu sử dụng đất và yêu cầu về kiến trúc công trình đối với từng lô đất;
bố trí mạng lưới các công trình hạ tầng kỹ thuật đến ranh giới lô đất [2] Trongnội dung thiết kế đô thị của đồ án quy hoạch đô thị bao gồm việc xác định cáccông trình điểm nhấn trong khu vực quy hoạch theo các hướng tầm nhìn, tầngcao xây dựng công trình cho từng lô đất và cho toàn khu vực; khoảng lùi củacông trình trên từng đường phố và ngã phố; xác định hình khối, màu sắc, hìnhthức kiến trúc chủ đạo của các công trình kiến trúc; hệ thống cây xanh, mặtnước, quảng trường Chất lượng, phương pháp và biểu thị không gian đô thị trên
mô hình bản đồ có ý nghĩa to lớn trong nội dung của đồ án quy hoạch đô thị.Đây là vấn đề có tính kỹ thuật cao với sự kết hợp giữa các nhà quy hoạch và cácnhà bản đồ, nhằm cung cấp cho cấp có thẩm quyền trong xét duyệt phương án vàđồng thời cho cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thực thi phương án quyhoạch một cách hiệu quả nhất Nội dung hồ sơ nhiệm vụ quy hoạch chung đô thị
đã được quy định tại Thông tư 12/2016/TT-BXD ngày 29/06/2016 bao gồm:
- Sơ đồ vị trí và liên hệ vùng: Xác định vị trí, ranh giới lập quy hoạch; thểhiện các mối quan hệ giữa đô thị và vùng, khu vực có liên quan về kinh tế - xãhội; điều kiện địa hình, địa vật, các vùng có ảnh hưởng lớn đến kiến trúc cảnh quan đô thị; hạ tầng kỹ thuật đầu mối và các vấn đề khác tác động đến phát triển
Trang 21đô thị Thể hiện trên nền bản đồ địa hình theo tỷ lệ thích hợp.
- Bản đồ hiện trạng: Sử dụng đất, kiến trúc cảnh quan, hệ thống hạ tầng xãhội (giáo dục, y tế, văn hóa, thương mại, cây xanh, nhà ở, ); hiện trạng giaothông, cấp điện và chiếu sáng đô thị, cấp nước, cao độ nền và thoát nước mưa,thoát nước bẩn; thu gom chất thải rắn, nghĩa trang, môi trường Thể hiện trênnền bản đồ địa hình tỷ lệ 1:2.000 hoặc 1:5.000
- Bản đồ đánh giá tổng hợp về đất xây dựng trên cơ sở từ thuyết minh cótiêu chí đánh giá phù hợp về địa hình, điều kiện hiện trạng, địa chất thủy văn;đánh giá về giá trị sử dụng đất: Xác định các khu vực thuận lợi, ít thuận lợi,không thuận lợi cho phát triển các chức năng đô thị; xác định các vùng cấm, hạnchế phát triển đô thị Thể hiện trên nền bản đồ địa hình tỷ lệ 1:2.000 hoặc
1:5.000
- Sơ đồ cơ cấu phát triển đô thị (các sơ đồ phân tích hiện trạng và đề xuấtcác phương án kèm theo thuyết minh nội dung về tiêu chí xem xét, lựa chọn cácphương án) Thể hiện theo tỷ lệ thích hợp
- Bản đồ định hướng phát triển không gian đô thị Thể hiện trên nền bản
Như vậy có thể thấy tầm quan trọng không thể thiếu của các sản phẩm bản
đồ (2D) trong công tác lập quy hoạch nói chung và lập quy hoạch đô thị nói
Trang 22riêng Chất lượng, phương pháp và biểu thị không gian đô thị trên mô hình bản
đồ có ý nghĩa to lớn trong nội dung của đồ án quy hoạch đô thị Đây là vấn đề cótính kỹ thuật cao với sự kết hợp giữa các nhà quy hoạch và các nhà bản đồ,nhằm cung cấp cho cấp có thẩm quyền trong xét duyệt phương án và đồng thờicho cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thực thi phương án quy hoạch mộtcách hiệu quả nhất
1.1.2.2 Chức năng của một số loại bản đồ trong đồ án quy hoạch
Bản đồ địa hình phục vụ lập đồ án quy hoạch đô thị do cơ quan quản lýnhà nước về bản đồ cấp hoặc do cơ quan chuyên môn khảo sát, đo đạc lập, bảođảm yêu cầu về chất lượng và kỹ thuật theo quy định về sản phẩm đo đạc bản
đồ Các thông tin, dữ liệu của bản đồ địa hình phải đáp ứng yêu cầu phục vụviệc lập quy hoạch đô thị phù hợp với từng loại đồ án quy hoạch đô thị Trườnghợp bản đồ địa hình không phù hợp với hiện trạng tại thời điểm lập quy hoạchthì thực hiện khảo sát đo đạc chỉnh lý, bổ sung
Bản đồ quy hoạch chung tỉ lệ 1:5.000 có giá trị xác định các khu vực chứcnăng, những định hướng tính giao thông, sẽ rõ ràng mốc giới, địa giới của cácphần đất dành để phát triển hạ tầng đường, cầu, cống, điện, trường học, khu dân
cư, cây xanh, hồ nước Có thể nói, bản đồ quy hoạch 1:5.000 là cơ sở gốc đểxác định mục tiêu phát triển, kêu gọi đầu tư cũng như vấn đề giải phóng mặtbằng, đền bù, di dân
Bản đồ quy hoạch phân khu tỉ lệ 1:2.000 nhằm phân chia và xác định chứcnăng sử dụng đất và mạng lưới công trình hạ tầng nhằm cụ thể hóa nội dung củaquy hoạch chung đô thị Nội dung của quy hoạch phân khu bao gồm: xác địnhphạm vi ranh giới, diện tích, tính chất khu vực lập quy hoạch, chỉ tiêu dự kiến vềdân số, sử dụng đất, hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật đối với từng ô phố và đấunối hạ tầng kỹ thuật chung; xác định chức năng sử dụng đất cho từng khu đất;nguyên tắc tổ chức không gian, kiến trúc cảnh quan và đánh giá tác môi trường
Trang 23chiến lược Mặt khác quy hoạch này có nhiều nội dung xác định vị trí công trình
kỹ thuật và ranh giới trên đất Do đó quy hoạch này liên quan mật thiết vớiquyền sờ hữu về đất đai (về quyền sử dụng đất), vì vậy nó có giá trị pháp lý cao,
nó là căn cứ để giải quyết tranh tụng
Bản đồ quy hoạch chi tiết tỉ lệ 1:500 cụ thể hóa nội dung quy hoạch phânkhu và quy hoạch chung Bản đồ quy hoạch chi tiết bố trí cụ thể tất cả các côngtrình trên đất Về hạ tầng kỹ thuật, quy hoạch chi tiết bố trí đến từng ranh giới lôđất Nói cách khác, bản đồ quy hoạch chi tiết 1:500 chính là quy hoạch tổng mặtbằng của các dự án dầu tư xây dựng, là cơ sở để định vị công trình, thiết kế cơ
sở, thiết kế kỹ thuật xây dụng công trình và thực hiện xây dựng
1.1.3 Thực trạng công tác lập đồ án quy hoạch và quản lý đô thị ở nước ta
Có thể khẳng định, quy hoạch đô thị đã mang lại hiệu quả to lớn, làm tiền
đề, cơ sở để triển khai các dự án đầu tư trên mọi lĩnh vực nhằm thúc đẩy kinh tế
- xã hội phát triển, nâng cấp nhiều đô thị, từng bước nâng cao chất lượng cuộcsống của nhân dân Tuy nhiên, thời gian qua, công tác quy hoạch đô thị còn khánhiều bất cập, hạn chế Hiện nay trên thế giới, việc áp dụng các công nghệ tiêntiến trong nghiên cứu và thiết kế quy hoạch đã trở nên rất phổ biến Đối vớinước ta, đây cũng là một yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng đồ án và tiếtkiệm thời gian Trong những năm gần đây, nhiều phần mềm vi tính cũng nhưcác công nghệ phụ trợ đã được khai thác sử dụng khá rộng rãi trong công tácquy hoạch, nhưng chủ yếu vẫn hạn chế ở mức độ thể hiện sản phẩm Việcnghiên cứu lựa chọn và chuyển giao công nghệ phần mềm để phục vụ quá trìnhnghiên cứu thiết kế các đồ án quy hoạch, nâng cao chất lượng trang thiết bị chophù hợp chưa được quan tâm và đầu tư thích đáng trong các tổ chức tư vấn vànghiên cứu thiết kế quy hoạch để quốc tế hoá sản phẩm, đáp ứng yêu cầu mởrộng quan hệ, giao lưu trong quá trình hội nhập của đất nước
Trang 24Về cơ bản, trình tự lập quy hoạch ở các nước trên thế giới là tương đốigiống nhau Tuy nhiên nội dung và phương pháp nghiên cứu cụ thể có những sựkhác nhau mà chúng phụ thuộc vàp thực tế của mỗi nước và nó được thống nhấttrong toàn bộ một quốc gia Ở nước ta hiện nay, phương pháp luận quy hoạchchưa được chuẩn hoá Việc triển khai các đồ án chủ yếu dựa vào một số văn bảnquy định và hướng dẫn của Chính phủ và của Bộ Xây dựng Việc vận dụng cácvăn bản chưa thống nhất trên cả nước, mỗi nơi mỗi khác Những văn bản nàyhiện nay có một số ưu điểm không còn phù hợp với tỉnh hình thực tế cả về nộidung cũng như về mức độ nghiên cứu, do đó nhiều đồ án đã lúng túng trong quátrình nghiên cứu triển khai Việc điều chỉnh sửa đổi các văn bản hiện hữu, đổimới nội dung và xây dựng phương pháp luận quy hoạch trên cơ sở các đề tàinghiên cứu khoa học là một việc cần thiết và cấp bách để tạo ra một hệ thốngcác quy định, tiêu chuẩn quy phạm phù hợp, nhằm nâng cao chất lượng và hiệuquả của các đồ án.
Bên cạnh nhiều thành tựu của công tác quy hoạch ở nước ta vẫn cònkhông ít những tồn tại, hạn chế:
- Chất lượng công tác quy hoạch chưa cao, chưa có tầm nhìn xa, công tácphân tích và dự báo về thị trường còn thiếu tin cậy; tính khả thi chưa cao, chưaphù hợp với khả năng huy động các nguồn lực để thực hiện Nhiều quy hoạchmang tính tình thế, thiếu tính khoa học, ảnh hưởng đến tiến trình chuyển đổi cơcấu kinh tế, hạn chế tăng trưởng kinh tế, gây lãng phí lớn tài nguyên thiên nhiên.Chất lượng của nhiều đồ án quy hoạch còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu;chất lượng dự báo thấp nên phải điều chỉnh trước thời hạn; một số đồ án quyhoạch xây dựng thiếu cập nhật các quy hoạch định hướng hạ tầng diện rộng củavùng, của quốc gia nên khi triển khai gặp vướng mắc phải điều chỉnh
- Các quy hoạch phát triển đô thị, khu dân cư, hạ tầng xã hội ở các tỉnh,thành phố thiếu đồng bộ, triển khai chậm, chưa theo kịp tốc độ đô thị hóa Hiện
Trang 25vẫn còn xảy ra tình trạng không ăn khớp giữa quy hoạch tổng thể và quy hoạchchi tiết, nhiều quy hoạch chi tiết triển khai trước khi có quy hoạch tổng thể hoặckhông căn cứ vào quy hoạch tổng thể, dẫn đến phải thay đổi nhiều lần.
- Hệ thống tổ chức cũng như đội ngũ cán bộ làm công tác quy hoạch từtrung ương đến địa phương còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng Công tácđào tạo cán bộ quy hoạch chưa đúng tầm Hiện nay cả nước chưa có cơ sởchuyên đào tạo chuyên gia cho công tác quy hoạch
- Việc lập và thực hiện các quy hoạch chuyên ngành trên cùng một địa bàncòn thiếu đồng bộ, dẫn đến các dự án ĐTXD chuyên ngành cũng không đồngbộ
- Việc công bố, công khai và cung cấp thông tin QHXD chưa được thựchiện nghiêm túc theo quy định tại Điều 32, 33 Luật Xây dựng; Điều 53, 54, 55Luật quy hoạch đô thị; Điều 38, 39 Nghị định số 08/2005/NĐ-CP Tham gia củacộng đồng dân cư trong quá trình lập quy hoạch theo quy định tại các Điều 20,
21 Luật QHĐT chưa được thực hiện có hiệu quả, nhiều khi mang tính hình thức
- Quản lý QHXD và quản lý đầu tư theo QHXD (Điều 34 Luật Xây dựng,Điều 69 Luật Quy hoạch đô thị) còn nhiều yếu kém, để xảy ra tình trạng nhiều
dự án không tuân theo QHXD vì lợi ích cục bộ (như chuyển đổi đất từ quy
hoạch là đất dành cho công trình công cộng thành đất để xây dựng công trìnhdịch vụ ) làm ảnh hưởng đến chất lượng sử dụng lâu dài không chỉ đối với một
dự án mà là của cả một khu vực Công tác kiểm tra, thanh tra thực hiện theo quyhoạch đã duyệt nhìn chung còn buông lỏng
Từ những vấn đề đặt ra và yêu cầu của thực tiễn quy hoạch đô thị, xuhướng ứng dụng công nghệ 3D về mô hình hóa không gian đã được đặt ra khôngnhững đối với nhiều ngành mà đối với lĩnh vực quy hoạch xây dựng đô thị lại cómột tầm quan trọng đặc biệt
Trước đây, công tác thiết kế, quy hoạch và quản lý đô thị thường được
Trang 26thực hiện trên cơ sở các bản đồ 2D và hơn nữa là GIS 2D Các loại bản đồ nàykhông thể hiện được không gian 3 chiều của các khu đô thị và rất khó hiểu nếuchúng ta không phải là những nhà chuyên môn Với sự phát triển của công nghệthông tin và các công nghệ đồ họa có liên quan, công nghệ 3D tiên tiến thôngqua việc sử dụng mô hình thành phố ảo 3D đã khắc phục được các nhược điểmcủa công nghệ 2D Mô hình thành phố ảo 3D cho phép các nhà quy hoạch vàcông chúng hiểu được các không gian đô thị phức tạp và thấu hiểu được tácđộng của những phát triển trong tương lai Mô hình 3D như vậy không chỉ giúpcác nhà quy hoạch đô thị thực hiện phân tích nâng cao, lập kế hoạch và ra quyếtđịnh, mà còn giúp củng cố tính minh bạch trong quy hoạch bằng cách phổ biếnhiệu quả thông tin quy hoạch với cộng đồng Hiện nay, công nghệ 3D nói chung,
mô hình thành phố ảo 3D nói riêng đang được nghiên cứu ứng dụng rộng rãitrong công tác thiết kế, quy hoạch và quản lý đô thị ở các nước phát triển vàbước đầu ở nước ta Điều này một lần nữa khẳng định tính cấp thiết của đề tàiluận án
1.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu ứng dụng mô hình 3D trong công tác quy hoạch và quản lý đô thị trên thế giới
Từ khi GIS phát triển từ biểu diễn 2D sang biểu diễn 3D từ năm 1960,GIS 3D thường được xem là một chủ đề kỹ thuật, nơi mà cấu trúc dữ liệu 3D, xử
lý và hiển thị được thực hiện Việc hiển thị hiệu quả của môi trường xây dựng3D phức tạp vẫn là một thách thức đối với các nhà quy hoạch đô thị Với nhữngtiến bộ mới nhất trong công nghệ GIS về lập kế hoạch và phân tích đô thị địnhlượng [80], tồn tại nhu cầu lớn về việc tích hợp hiệu quả và hiệu lực GIS 3D chomục đích quy hoạch đô thị để tăng cường phân tích, lập kế hoạch và ra quyếtđịnh [50] Đặc điểm chính của GIS 3D là phát triển kịch bản dựa trên các phântích và tạo ra các kịch bản [71] GIS 3D hỗ trợ phân tích không gian, lập kếhoạch và ra quyết định theo hai cách: Trước tiên, sử dụng khả năng lưu trữ và
Trang 27truy xuất dữ liệu, cung cấp khả năng truy xuất và chia sẻ dữ liệu nhanh chóng vàhiệu quả để hỗ trợ các quyết định lập kế hoạch Thứ hai, bằng khả năng phântích đô thị 3D tích hợp của nó, cho phép các phương án khác nhau được mô hìnhhóa [71], [51] Có nhiều phương pháp tạo ra các mô hình thành phố 3D mà chủyếu phụ thuộc vào số liệu GIS [39] Công cụ mô hình hình học thông thườngnhư CAD, thường được sử dụng trong hệ thống lập kế hoạch của Ấn Độ, không
đủ năng lực để hiển thị các không gian đô thị lớn [55] Phương pháp mô hìnhhình học được ưa thích nhất của thành phố là kỹ thuật đùn trong GIS cho cáckhối thể tích sinh khối Kết hợp công cụ hình ảnh 3D và hiển thị 3D có thể làcông cụ quy hoạch đô thị hiệu quả và mạnh mẽ hơn [71]
Việc ứng dụng GIS 3D đã bắt đầu ảnh hưởng đến lĩnh vực quy hoạch.GIS 3D hiện đang được sử dụng để mô hình hóa môi trường đô thị và khám phácác kịch bản phát triển, hình dung các kế hoạch sử dụng đất thay thế và tác độngcủa chúng đối với môi trường đô thị [75] Các mô hình GIS 3D có thể liên hệquá khứ, hiện tại và phát triển có thể trong tương lai của môi trường xây dựng,phản ánh chặt chẽ thế giới thực [79] Yin và Hastings [80] đã chứng minh cácứng dụng của GIS 3D trong phân tích hiển thị và mô hình được tạo ra đã được
sử dụng để đánh giá quy định trong quy hoạch liên quan đến hạn chế chiều caoxây dựng ở thành phố New York, [72] đã sử dụng 3D GIS để mô phỏng quátrình phát triển của đô thị từ năm 1927 đến năm 2000 Các cơ quan phát triểntrên khắp thế giới đã tạo ra các mô hình thành phố ảo để kiểm soát và quản lý sựphát triển đô thị, đảm bảo đúng quy hoạch, đúng tiêu chuẩn kiến trúc, kiểm soátquyền và hạn chế quyền trong xây dựng, các hành lang an toàn về chiều cao vàphạm vi Nhiều mô hình đã lồng ghép các quy định quy hoạch vào mô hình môphỏng [22], [35] Mô hình GIS 3D, với các chức năng hiển thị và phân tích sẽcho phép các nhà quy hoạch đô thị truyền đạt hiệu quả các kế hoạch phát triểntrong tương lai [71], [79] Với bản đồ GIS 2D thì một loạt các phân tích không
Trang 28gian chỉ mang lại hiệu quả về mặt bằng [23], sử dụng dữ liệu 3D đã làm tăng cácứng dụng, đặc biệt là các phân tích theo chiều cao và cả chiều sâu dưới đất Bềmặt ảo của địa hình đô thị 3D có thể hỗ trợ tốt cho các thiết kế về đường cốngthoát nước, hệ thống công trình ngầm, bố trí giao thông, hồ ao nhân tạo… [81].
Kể từ đó, GIS 3D được xây dựng trên cơ sở dữ liệu GIS 2D, một loạt các phântích không gian được thực hiện, chẳng hạn như, xem phân tích không gian, truyvấn không gian và mô phỏng 2D, 3D [80]
Hiện nay, trên thế giới, mô hình 3D ứng dụng trong công tác quy hoạch
và quản lý đô thị đã được quan tâm nghiên cứu ở nhiều nước như Úc, Nhật,Đức, Anh, Trung Quốc, Đài Loan,… [84], [69], [58], [43], [59] Ngay từ thời kỳđầu của lịch sử phát triển bản đồ học, các nhà bản đồ đã tìm ra nhiều phươngpháp mô hình hóa bề mặt trái đất lên mặt phẳng bản đồ Với các mô hình 3D cácnhà bản đồ học đã mô hình hóa bề mặt lãnh thổ một cách trực quan, sinh độnggiúp cho quá trình nhận thức về lãnh thổ nhanh hơn, trực quan hơn Các mô hình3D đã được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau như: thủy văn, giao thông,quy hoạch, quân sự,… [43], [44], [68] Đặc biệt, ý tưởng ứng dụng công nghệ3D là trong công tác quy hoạch đã được Saarinen đưa ra từ nửa đầu thế kỷ 20[40] Tuy nhiên, chỉ đến khi công nghệ tin học phát triển thì việc hiện thực hóa ýtưởng của Saarinen mới có thể thực hiện được [36], [83]
Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ đã làm thay đổi nhanh chóng cácphương pháp mô hình hóa bề mặt và ứng dụng của nó Với sự trợ giúp của côngnghệ tin học các hệ thống 3D GIS đã được nghiên cứu, xây dựng và phát triển.Các hệ thống 3D GIS này thường mô hình hóa bề mặt lãnh thổ thông qua DEMkết hợp với các ký hiệu mô phỏng đối tượng trên bề mặt trái đất với các cấp độchi tiết khác nhau đã làm cho việc ứng dụng 3D GIS trong công tác quy hoạchngày càng trở lên phổ biến hơn Đặc biệt, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệtin học đã tạo ra những bước đột phá trong công tác quy hoạch, việc triển khai
Trang 29xây dựng các hệ thống CyberCity (thành phố ảo) hay SmartCity (thành phốthông minh) đã và đang được nghiên cứu và ứng dụng trong công tác quy hoạchcủa nhiều tác giả trên thế giới [44], [58], [42], [59], [56], [74].
Các nước phát triển đã và đang nghiên cứu thành lập mô hình 3D cho 100thành phố ở Châu Âu và Bắc Mỹ do hãng BlomInfo xây dựng để cung cấp dữliệu cho tập đoàn TeleAtlas Nguồn dữ liệu này đã được sử dụng trong quyhoạch, viễn thông, điều hành quản lý thành phố rất hữu hiện Hãng Microsoft đãtiến hành xây dựng mô hình 3D cho các khu trung tâm thành phố, các nhà caotầng trọng điểm, các khu du lịch nổi tiếng trên toàn thế giới để cung cấp choGoogle Earth, Virtual Earth hay Bing Map trong các dịch vụ Web
Tại Thụy Sỹ, cơ quan quản lý dữ liệu địa hình quốc gia Swiss Topo từnăm 2008 đã tiến hành nghiên cứu và xây dựng mô hình cảnh quan địa hình trên
cả nước Đây là mô hình dữ liệu bản đồ 3D được thành lập ở mức chi tiết cao,được dùng làm dữ liệu nền cơ bản trong cơ sở dữ liệu không gian quốc gia củaThụy Sỹ Đan Mạch cũng là nước đầu tư xây dựng mô hình 3D các khu vực đôthị từ năm 2004, đến 2008 đã xây dựng mô hình 3D cho 2,2 triệu ngôi nhà trêntoàn quốc, tiến tới hoàn thiện xây dựng CSDL không gian địa lý quốc gia môhình 3D cho tất cả các đối tượng nhà và công trình kiến trúc
Tại Vương quốc Anh, tổng Công ty Ordnance Survey và các hãng sảnxuất đã tiến hành nghiên cứu, xây dựng hạ tầng dữ liệu không gian quốc gia(dưới sự điều hành của chính phủ Anh), tromng đó xây dựng CSDL mô hình 3Dcho các đối tượng là công trình xây dựng, cơ sở hạ tầng văn hóa cho tất cả cácthành phố lớn tại Anh theo chuẩn dữ liệu CityGML
Tại Nhật Bản, nhiều giải pháp khác nhau được đề xuất cho công tác quyhoạch, trong các đề xuất này thì mô hình thành phố 3D được cho là có tính ưuviệt hơn cả bởi nó mang lại cái nhìn trực quan nhất và có khả năng phân tíchnhờ các công cụ phân tích của GIS
Trang 30Hình 1.1: Một góc mô hình 3D thành phố Boston (Nguồn:
https://www.turbosquid.com/3d-models/3d-model-boston-city/
Tại Mỹ, nhiều thành phố đã ứng dụng công nghệ Cyber City trong xâydựng mô hình đô thị 3D mang lại nhiều lợi ích như Boston, NewYork, San-Francisco, Chicago, Washington DC, Các mô hình này có tính trực quan cao
và được lưu trữ trong server, người dùng có thể xem và tương tác thông quamạng internet với phần mềm Skyline,…
Hình 1.2: Một góc mô hình 3D thành phố NewYork (Nguồn:
https://www.3dcadbrowser.com/3d-model/new-york-city-manhattan)
Trang 31Hình 1.3: Mô hình 3D khu vực đài tưởng niệm Lincoln tại Washington
(Nguồn: Google map/WashingtonDC/)
Tại Đài Loan (Trung Quốc), cũng đã sớm đưa công nghệ 3D vào xâydựng các thành phố ảo phục vụ quy hoạch cơ sở hạ tầng và phát triển kinh tế vàvăn hóa - xã hội
Hình 1.4: Mô hình 3D khu vực tòa tháp 101 tầng, Đài Bắc, Đài Loan
(Nguồn: https://www.gearthblog.com/blog/archives/)
Trang 32Hình 1.5: Mô hình 3D thành phố SongDo, Hàn Quốc
(Nguồn: https://www.gearthblog.com/blog/archives/)
Trong dự án "Hệ thống thông tin đất đai dựa trên các mô hình thành phố3D" là sự hợp tác một công ty liên doanh của Viện Hasso-Plattner-Potsdam, Đạihọc Kỹ thuật Berlin và Công ty trách nhiệm hữu hạn 3DGeo GmbH Nhằm mụcđích phát triển một hệ thống thông tin và truyền thông để quản lý đất đai dựatrên các môi trường địa lý ảo Cụ thể hơn, công trình nghiên cứu đề cập đến sựphát triển của các kỹ thuật, công cụ và phương pháp cần thiết để triển khai thànhcông các mô hình thành phố ảo 3D nhằm hỗ trợ quyết định trong quản lý đất đôthị Nó được xây dựng dựa trên các mô hình và công nghệ mô hình 3D ảo (Hình1.7) và chuyên môn cao của các đối tác với việc thiết lập và sử dụng GeoVEtrong quy hoạch môi trường và đô thị, quản lý bất động sản và tư vấn của cácnhà đầu tư
Trang 33Hình 1.6: Mô hình thành phố 3D của Berlin, Cộng hòa liên bang Đức
(Nguồn: A Krügera, T H Kolbea 2012)
Cho đến nay, quan điểm về quy hoạch và quản lý đô thị đã thay đổi đáng
kể Mặc dù trong quá trình hoạch định và quản lý đô thị trong thời gian qua chỉ
là một vài tổ chức và chuyên gia làm việc trong các lĩnh vực riêng của mình,nhưng việc lập kế hoạch và quản lý hiện nay ngày càng được quan tâm bởi sựtham gia và hợp tác giữa các nhóm các đơn vị liên quan khác nhau và bởi sự hộinhập chặt chẽ hơn trong các lĩnh vực chuyên môn Trong nhu cầu phối hợp tốthơn giữa các nhóm các đơn vị liên quan khác nhau và để có sự phối hợp tốt hơn
và trao đổi thông tin giữa các ngành nghề, các khái niệm quản lý đất đai đô thịtrong thời đại hiện nay là các phương pháp tiếp cận tổng hợp Tích hợp thôngqua các yếu tố và khái niệm có sự tham gia, hợp tác và đưa ra các yêu cầu về xãhội, kinh tế và môi trường vào quá trình lập kế hoạch và quản lý, và các hoạtđộng xây dựng được điều phối tốt hơn và dữ liệu (không gian) sử dụng hiệu quảhơn và bình đẳng đối với các bên liên quan đến nhân dân và có thể tiếp cậnđược Các khái niệm và mục tiêu như vậy được tóm tắt trong thuật ngữ "Quản lý
đô thị trong thời đại 3D/4D" như đã thảo luận trong "Chiến dịch Toàn cầu vềQuản lý Đô thị" của Liên Hợp Quốc [77] Đơn vị UN-HABITAT cũng cung cấpmột mô tả về thuật ngữ quản lý đô thị phản ánh một khái niệm toàn diện: "Quản
Trang 34lý đô thị là tổng hợp của nhiều cá nhân và tổ chức, công cộng và nhân dân, lên
kế hoạch và quản lý công việc chung của thành phố [77]
Việc con người đưa lợi ích vào các quá trình ra quyết định về không gian
và môi trường và nói chung trong quản lý đất đai đô thị cũng như việc hội nhậpchặt chẽ hơn giữa các nguyên tắc đặt ra thách thức thông tin và truyền thông:Các bên liên quan, các tổ chức quan trọng và cá nhân tất cả đều làm theo, và cáclợi ích phức tạp, có những kỹ năng, kiến thức và nguồn gốc khác nhau Vì vậy,không đảm bảo được các bên liên quan hiểu được nhu cầu và lập luận của nhau.Trong trường hợp này, động lực chính của luận án bắt nguồn từ: Hiển thị - cho
dù đó là phác thảo vẽ tay để minh hoạ ý tưởng, kế hoạch xây dựng chi tiết, kỹthuật kết xuất ảnh chụp thực, bản đồ chuyên đề hoặc mô hình vật lý 3D thườngxuyên phục vụ trong quy hoạch không gian và môi trường (SEP), trong ngànhKiến trúc, Xây dựng và Kỹ thuật (ACE) để chia sẻ thông tin không gian, cáckhái niệm thiết kế và tăng cường sự hiểu biết giữa các nhóm người Trên thực tế,hình ảnh trực quan cho các công cụ cơ bản của các nhà lập kế hoạch, kỹ sư vàkiến trúc Điều đáng chú ý là nghệ thuật của ảnh trực quan trong SEP và trongngành công nghiệp ACE đã trở nên hoàn toàn bằng kỹ thuật số Tùy thuộc vàonhiệm vụ của một kế hoạch hoặc một loạt dự án dựa vào máy tính, bao gồm Hệthông tin địa lý (GIS), các công cụ thiết kế và lập mô hình máy tính(CAD/CAM), phần mềm xử lý hình ảnh, phần mềm ảnh động và thông tin dựatrên web và hệ thống truyền thông là những thành phần phổ biến trong quy trìnhquản lý đo thị và quy hoạch đô thị
Nhận thức rõ về khả năng của các ảnh trực quan, các dữ liệu liên tục sốhóa và tiến trình công việc trong SEP, ACE, ý tưởng sử dụng mô hình GeoVE(utilizing geovirtual environments - GeoVE) đưa ra nghiên cứu hiện tượngkhông gian, các khái niệm không gian, tăng cường hiểu biết về chức năng khônggian và nâng cao nhận thức về vấn đề đã được phát triển từ khoảng hai thập kỷ
Trang 35Thuật ngữ GeoVE được sử dụng như một phép ẩn dụ thống nhất cho các phươngpháp đa dạng để tạo môi trường ảo tương tác trên máy tính của các cảnh quanhoặc thành phố thực để khám phá và truyền thông dữ liệu không gian, các kháiniệm, quá trình và hiện tượng Nó bao gồm các khái niệm về thành phố ảo, cácmôi trường địa lý ảo (virtual geographic environments -VGE), hình ảnh 3Dtương tác trực quan và thực tế ảo (virtual reality -VR) Ý tưởng cơ bản và tiềm
ẩn trong bối cảnh lập kế hoạch và quản lý môi trường là nếu có thể tạo mô hình
kỹ thuật số 3D cho môi trường thực tế, chúng có thể là "sandboxes " để tích hợp
và truy cập vào các thiết kế, thử nghiệm các giải pháp thay thế và các kịch bảntrong tương lai, phân tích 3D và cuối cùng hỗ trợ phát triển các giải pháp tối ưucho các nhiệm vụ đang diễn ra Nói tóm lại, đó là tầm nhìn của một mô hình tínhtoán của thế giới thực, cho phép chúng ta hiểu rõ không gian và tối ưu hóa việc
sử dụng
1.3 Tổng quan về tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, trong vài năm trở lại đây, 3D GIS và bản đồ ba chiều cũng
đã được quan tâm nghiên cứu Có thể liệt kê ra đây một số nghiên cứu tiêu biểunhư: công trình “biểu diễn bản đồ ba chiều và ứng dụng” [16] Công trình tậptrung nghiên cứu các phương pháp biểu diễn bản đồ ba chiều, qua đó đã chỉ rarằng mô hình mạng các tam giác không đều (TIN) phù hợp để biểu diễn bản đồ
ba chiều Nghiên cứu này đã tập trung vào các khái niệm cơ bản, cơ sở toán họccủa bản đồ địa hình ba chiều, trên cơ sở đó đề xuất thử nghiệm phương pháp xâydựng, biểu diễn bản đồ địa hình ba chiều dựa trên công nghệ ArcGIS của hãngESRI (Mỹ) Năm 2008, tại Hà Nội, Bộ Xây dựng đã tổ chức hội thảo “Hội thảoứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) trong phát triển đô thị”, trong đó nhấnmạnh đến vai trò quan trọng và khả năng ứng dụng của 3D GIS đối với việc hỗtrợ quy hoạch và kiến trúc cho thành phố cũng như các vấn đề về giao thông.Hiện nay, ở nước ta cũng đã ứng dụng nhiều công nghệ mới trong thể thu thập
Trang 36dữ liệu không gian ba chiều như bay quét địa hình sử dụng công nghệ lazer(LiDAR), đo vẽ lập thể, radar trực giao, …Những dữ liệu này là đầu vào rất tốtcho việc mô hình hóa bản đồ ba chiều, nhưng hiện tại các dữ liệu này mới đượclưu trữ dưới dạng file văn bản (text) tập các tọa độ xyz, mô hình lưới đều (grid)
…Ngành tài nguyên và môi trường đang cần các nghiên cứu cụ thể ứng dụngcho các đối tượng dữ liệu quan trắc được để xây dựng và quản lý các loại bản đồ
ba chiều
Công nghệ GIS đã được ứng dụng trong công tác quy hoạch ở nước ta từnhững năm cuối của thế kỷ 20 [6] Một số công trình nghiên cứu, ứng dụng GIStrong công tác quy hoạch cũng đã được tiến hành triển khai theo những khíacạnh khác nhau và đã được áp dụng thí điểm cho một số tỉnh, thành phố như HàNội, Đà Lạt, Hạ Long,…[3], [4] Ngày nay, công tác nghiên cứu và ứng dụng
mô hình 3D trong quy hoạch ngày càng được nhiều người làm quy hoạch quantâm nghiên cứu Cùng với sự phát triển của công nghệ tin học, công nghệ GIS đãtạo ra một công nghệ mới (công nghệ 3D GIS) hỗ trợ cho lĩnh vực quy hoạchkhông gian [7], [11] Đối với các dạng 3D GIS hiện nay chủ yếu được xây dựngtrên các phần mềm GIS như 3D Studio Max Design; ArcSence, City Engine củahãng ESRI (Mỹ), Skyline,… Một số công trình nghiên cứu đã thực hiện như:
“Nghiên cứu ứng dụng dữ liệu LIDAR và ảnh viễn thám độ phân giải cao để xâydựng bản đồ 3D phục vụ quản lý đô thị” (Trung tâm viễn thám quốc gia, 2011),đây là dạng đề tài thử nghiệm trong sản xuất, chưa quan tâm đến xây dựng cơ sở
dữ liệu không gian; “Nghiên cứu cơ sở sở khoa học, đề xuất nội dung quy trình
kỹ thuật thành lập bản đồ địa hình 3D tỷ lệ 1:2000 và tỷ lệ 1:5000” (Cục Đo đạc
và bản đồ Việt Nam, 2013), đề tài tập trung vào nghiên cứu phát triển, kế thừaCSDL nền địa lý 2D theo hướng hiển thị trực quan bản đồ 3D mà không theohướng thành lập CSDL không gian địa lý; “Nghiên cứu ứng dụng công nghệLIDAR kết hợp chụp ảnh số thành lập bình đồ trực ảnh phục vụ xây dựng bản
Trang 37đồ 3D khu vực thành phố Hà Nội’’(Cục Đo đạc và bản đồ Việt Nam, 2014), nộidung chủ yếu là thành lập bản đồ trực ảnh; (Anh, N.T.T, 2013, “Bản đồ 3D từ
dữ liệu lidar cho các ứng dụng đô thị”, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ (BộTài nguyên và Môi trường); [7], “Nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu thông tinđịa hình 3D phục vụ công tác quy hoạch đô thị-nông thôn”, Đề tài nghiên cứukhoa học cấp cơ sở T11-23, Trường đại học Mỏ-Địa chất, 2011; Bùi Ngọc Quý,
“Nghiên cứu ứng dụng ArcScense trong xây dựng cơ sở dữ liệu 3D GIS Thànhphố Lạng Sơn, Tạp chí Tài nguyên và Môi trường, số 9 năm 2008 [9], Bùi NgọcQuý, “Nghiên cứu xây dựng mô hình Cyber City phục vụ cho việc mô hình hóa
bề mặt và định hướng quy hoạch không gian”, đề tài nghiên cứu khoa học cấp
bộ (2015)[10] với kết quả thực nghiệm là xây dựng mô hình Cyber City thựcnghiệm cho hai khu vực là Trường đại học Mỏ - Địa chất và Khu chung cư caocấp The Major, Mễ Trì, Nam Từ Liêm, Hà Nội NCS cũng là thành viên của cơquan phối hợp thực hiện đề tài nghiên cứu này Năm 2014, nghiên cứu sinh đãnghiên cứu và bảo vệ thành công luận văn thạc sỹ tại Trường Đại học Mỏ-Địa
chất với đề tài “Xây dựng cơ sở dữ liệu địa hình theo công nghệ 3D phục vụ công tác quản lý và quy hoạch đô thị khu vực thành phố Hải Phòng” Đây cũng
là một trong những cơ sở khoa học giúp nghiên cứu sinh hình thành và phát triển
đề tài nghiên cứu trong luận án tiến sỹ
1.4 Hướng nghiên cứu của đề tài luận án
Qua nghiên cứu và tìm hiểu quá trình phát triển của công nghệ và cáccông trình nghiên cứu ở trên thế giới và ở nước ta, chúng tôi nhận thấy rằng:Một số nước phát triển trên thế giới đã bước đầu nghiên cứu và ứng dụng thànhcông các mô hình thành phố ảo 3D trong quy hoạch và quản lý đô thị Nội dungnghiên cứu của họ tập trung vào ba vấn đề là: kỹ thuật xây dựng mô hình thànhphố ảo 3D, phát triển công cụ (phần cứng và phần mềm) và xây dựng hệ thốngthông tin dựa trên mô hình thành phố ảo và liên kết với mô hình chính phủ điện
Trang 38Còn ở trong nước, mặc dù đã được một số cơ quan, đơn vị quan tâmnghiên cứu, tuy nhiên các công trình nghiên cứu về bản đồ 3D cho công tác môhình hóa bề mặt và định hướng quy hoạch không gian ở nước ta vẫn còn mangtính nhỏ lẻ chưa được thực hiện nhiều, dữ liệu còn thô sơ, chưa đi sâu vào môhình hóa chi tiết các đối tượng trên bề mặt,… Đặc biệt, chưa triển khai xâydựng mô hình thành phố ảo 3D dựa trên CSDL 3D phục vụ cho công tác địnhhướng quy hoạch không gian, các khái niệm về mô hình thành phố ảo ở dạng môphỏng không gian mới được một số tác giả tiếp cận ở một số công trình nghiêncứu, việc xây dựng mô hình thành phố ảo 3D dựa trên CSDL 3D như một hướngtiếp cận từ 2D GIS lên 3D GIS gần như rất ít nghiên cứu ở Việt Nam
Do đó, với mong muốn góp phần cho việc sớm ứng dụng mô hình thànhphố ảo 3D trong công tác quy hoạch và quản lý đô thị ở nước ta, nghiên cứu sinh
đã định hướng nghiên cứu như sau: Trên cơ sở tham khảo và kế thừa một sốthành quả nghiên cứu trên thế giới và một số kết quả nghiên cứu bước đầu ởnước ta, sẽ nghiên cứu có hệ thống về cơ sở khoa học của công nghệ, trong đó
đề xuất danh mục nội dung, cấu trúc, cấp độ chi tiết của mô hình thành phố ảo3D, đề xuất quy trình xây dựng mô hình thành phố ảo 3D, và nghiên cứu ứngdụng thử nghiệm xây dựng mô hình 3D quy hoạch khu vực Khu đô thị côngnghiệp Kiến Thụy với diện tích khoảng 912,83ha thuộc Thành phố Hải Phòng đểkiểm chứng
Kết luận chương 1
Cho đến nay, quan điểm về quy hoạch và quản lý đô thị đã thay đổi đáng
kể Mặc dù trong quá trình hoạch định và quản lý đô thị trong thời gian qua chỉ
là một vài tổ chức và chuyên gia làm việc trong các lĩnh vực riêng của mình,nhưng việc lập kế hoạch và quản lý hiện nay ngày càng được quan tâm bởi sựtham gia và hợp tác giữa các nhóm các đơn vị liên quan khác nhau và bởi sự hội
Trang 39nhập chặt chẽ hơn trong các lĩnh vực chuyên môn.
Đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu đặc biệt, chưa triển khai xâydựng mô hình thành phố ảo 3D dựa trên CSDL 3D phục vụ cho công tác địnhhướng quy hoạch không gian, các khái niệm về mô hình thành phố ảo ở dạng môphỏng không gian mới được một số tác giả tiếp cận ở một số công trình nghiên cứu,việc xây dựng mô hình thành phố ảo 3D dựa trên CSDL 3D như một hướng tiếpcận từ 2D GIS lên 3D GIS gần như rất ít nghiên cứu ở Việt Nam
Trên cơ sở tham khảo và kế thừa một số thành quả nghiên cứu trên thếgiới và một số kết quả nghiên cứu bước đầu ở nước ta, Luận án sẽ nghiên cứu có
hệ thống về cơ sở khoa học của công nghệ, trong đó đề xuất danh mục nội dung,cấu trúc, cấp độ chi tiết của mô hình thành phố ảo 3D, đề xuất quy trình xâydựng mô hình thành phố ảo 3D
Trang 40CHƯƠNG 2
CƠ SỞ KHOA HỌC XÂY DỰNG THÀNH PHỐ ẢO 3D
PHỤC VỤ QUY HOẠCH VÀ QUẢN LÝ ĐÔ THỊ
2.1 Thành phố ảo 3D
Mô hình thành phố ảo 3D (3D geovirtual viết tắt là GeoVEs) được hiểu là
sự biểu diễn kỹ thuật số của các thành phố thực, có thể nhìn thành phố ở bất kỳđiểm nào và khám phá tương tác bởi người dùng trên máy tính dựa trên dữ liệukhông gian địa lý Định nghĩa này nhấn mạnh vào ba khía cạnh quan trọng:
1 Mô hình thành phố ảo 3D cung cấp một phương tiện truyền thôngtương tác, một không gian ảo, cho phép người dùng khám phá mô hình hóa môitrường đô thị thực sự thu nhỏ
2 Mô hình thành phố ảo 3D bao gồm ba thành phần cơ bản: Dữ liệukhông gian địa lý, các hệ thống trực quan biến đổi dữ liệu thành các mô hình 3Dtương tác, phần mềm và phần cứng máy tính
3 Mô hình thành phố ảo 3D là không gian địa lý, tức là vị trí thực của bất
kỳ đối tượng nào được mô tả trong mô hình dữ liệu và được hiển thị là đối tượng3D
Theo khái niệm này, các mô hình thành phố ảo 3D được hình thành như làbiểu diễn số của môi trường đô thị thực dựa trên ba thành phần hệ thống cơ bản nhưnêu ở trên Hơn nữa, điều rất quan trọng là phải chú ý và hiểu sự khác biệt giữa môhình hóa tương tác và dễ thấy là thành phố ảo và biểu diễn dữ liệu mô hình thànhphố 3D có liên quan với nhau thông qua trực quan hóa hệ thống Trong thực tế, sựkhác biệt này dẫn đến kết luận rằng ba khung nhìn trên các mô hình thành phố ảo3D tồn tại phải được kiểm tra riêng biệt: khung nhìn dữ liệu, khung nhìn hệ thống
và phương tiện hoặc người dùng được mô tả trong Hình 2.1