Hiện nay trên 40% ngôi nhà của làng Cựu được xây dựng sau năm 2000. Các công trình này tập trung ở đường dẫn vào làng, khu vực phía Bắc ngay đầu làng, và bám sát đường chính khu vực cuối làng, đăc biệt ở phía Tây Bắc của làng hình thành một khu vực dân cư mới.Các ngôi nhà đầu làng được xây hai tầng, còn lại là nhà một tầng. Các công trình mới được xây dựng chưa ăn khớp với phong cách kiến trúc cổ của làng, và bắt đầu có những ảnh hưởng tiêu cực đến không gian kiến trúc cảnh quan truyền thống.
Trang 1CHƯƠNG 3: SỰ BIẾN ĐỔI KHÔNG GIAN KIẾN TRÚC CẢNH QUAN
LÀNG CỰU
3.1 Thực trạng không gian kiến trúc cảnh quan làng Cựu
3.1.1 Thực trạng nhà ở trong làng Cựu
Sự xuất hiện các công trình mới
Hiện nay trên 40% ngôi nhà của làng Cựu được xây dựng sau năm 2000 Các công trình này tập trung ở đường dẫn vào làng, khu vực phía Bắc ngay đầu làng, và bám sát đường chính khu vực cuối làng, đăc biệt ở phía Tây Bắc của làng hình thành một khu vực dân cư mới.Các ngôi nhà đầu làng được xây hai tầng, còn lại là nhà một tầng Các công trình mới được xây dựng chưa ăn khớp với phong cách kiến trúc cổ của làng, và bắt đầu có những ảnh hưởng tiêu cực đến không gian kiến trúc cảnh quan truyền thống
H-3.1: Bản đồ niên đại công trình trong làng Cựu
Trang 2H – 3.2: Kiến trúc các ngôi nhà mới không hòa nhập với kiến trúc cổ của làng Cựu
Các công trình mới được xây dựng trên đất ruộng trước kia của làng hoặc trên nền sân khuôn viên nhà củ Với các công trình mới được xây dựng trong khuôn viên nhà cũ, chủ nhà lựa chọn phương án xây nhà mới cạnh hoặc phía trước ngôi nhà cũ
H-3.3: Mở rộng không gian ở bằng việc xây dựng nhà mới bên cạnh nhà cổ
Trang 3H-3.4: Mở rộng không gian ở bằng việc xây thêm phía trước công trình cũ Nhà xuống cấp: Bên cạnh đó nhiều nhà trong làng đã bị xuống cấp, trong
đó chủ yếu là nhà cổ xây dựng trong giai đoạn từ 1929- 1945 Các ngôi nhà bị xuống cấp do bị bỏ hoang hoặc do điều kiện kinh tế khó khăn của gia chủ
H-3.5: Sự xuống cấp của nhà cổ trong làng Cựu
3.1.2 Hiện trạng nhà trống
Làng Cựu hiện có hơn 100 hộ với khoảng 500 nhân khẩu.Điểm khởi đầu cho sự phát triển kinh tế của những người dân làng Cựu là chuyển đổi từ nghề nông sang nghề may vào những năm 1920 Khách hàng chủ yếu là người Pháp
và lớp người giàu ở Hà Nội, nhiều người dân làng Cựu nhanh chóng trở thành tầng lớp tiểu tư sản Sau năm 1975, gần 2/3 dân làng chuyển đi nơi khác, vào Sài Gòn, Hà Nội và ra nước ngoài Nhiều gia đình chỉ để lại một người con để
Trang 4giữ đất, thờ cúng tổ tiên Do đó ở làng Cựu số lượng nhà trống chiếm tỷ lệ khá lớn
Trong làng Cựu, hiện nay, theo số liệu khảo sát, nhà trống hoàn toàn là 25 nhà chiếm tỷ lệ 12,56%, chủ nhà đã chuyển đi sinh sống nơi khác Các nhà trống chủ yếu nằm ở phía Bắc trục đường chính và nằm ở khoảng giữa làng, gần trục đường chính Trong các nhà trống có 22 nhà là nhà cổ xây trước năm 1945 (chiếm 44,8% quỹ nhà cổ), đây là quỹ di sản không sử dụng đang bị lãng phí và đứng trước nguy cơ bị thời gian phá hủy.Ngoài ra còn có các ngôi nhà ít sử dụng là 3 nhà, chiếm tỷ lệ 1,5% Chủ sở hữu định cư ở các thành phố lớn, thỉnh thoảng có người về dọn dẹp lau chùi.Các ngôi nhà này thường chỉ sử dụng vào dịp cúng giỗ hoặc ngày lễ Tết
H-3.6: Bản đồ vị trí nhà trống (Nguồn: tác giả, 2012)
H-3.7: Nhà trống tại làng Cựu
Trang 53.1.3 Hiện trạng sở hữu nhà
H-3.8:Tỷ lệ sở hữu nhà (theo số liệu khảo sát) (Nguồn: tác giả, 2012)
Số nhà mua lại chiếm tỷ trọng khá lớn (40%), trong đó đa phần là những người dân mới chuyển đến sau năm 1970 Đất một phần do Ủy ban nhân dân cấp, một phần mua lại của người dân Hậu quả là hiện nay, sở hữu của các ngôi nhà trước chỉ dành cho 1 gia đình, ngày nay có thể là nơi ở của 3-5 hộ gia đình, dẫn đến sự phức tạp trong vấn đề sử dụng, cải tạo, nâng cấp nhà
H-3.9: Sự biến đổi sở hữu nhà tại làng Cựu
Trang 63.1.4 Biến đổi vật liệu lỏt đường
Hiện nay tại làng Cựu đang cú xu hướng bờ tụng húa vật liệu lỏt Đối với dõn làng, đỏ xanh được nhận diện như loại vật liệu trơn trượt, đặc biệt khụng an toàn trong những ngày mưa Một vớ dụ tiờu biểu cho sự thay đổi vật liệu lỏt đường là sự biến đổi đường làng chớnh.Trong những năm 1940, đường làng được lỏt đỏ 4 hàng Sau năm 1986, để thuận tiện cho cỏc phương tiện giao thụng
đi lại trong làng, người dõn đó búc 2 hàng đỏ ở giữa, để lại đỏ 2 bờn đường Sau năm 2000, toàn bộ vật liệu đá xanh bị bóc lên, đỏ được chuyển ra lỏt sõn đỡnh.Đờng chính hiện nay được rải bờ tụng, cao hơn đờng cũ từ 60
- 80 cm
H- 3.10: Bờ tụng húa đường chớnh (Nguồn: tỏc giả, 2012)
Trang 7H-3.11 : Biến đổi vật liệu đường làng chính
3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự biến đổi không gian kiến trúc cảnh quan truyền thống làng Cựu
3.2.1. Thành phần dân cư - Dân gốc/ Dân mới chuyển đến:
H-3.12 :Thành phần dân cư trong làng- dân gốc/dân mới đến
(Nguồn: tác giả, 2012)
Dân gốc của làng chiếm ưu thế về số lượng (62,5%); sự gắn bó, cùng trải qua biết bao thăng trầm của người làng với ngôi làng đã tạo nên “ tình làng”, tạo nên hồn của ngôi làng cổ Người dân nhập cư vào làng chiếm tỷ lệ 37,5%,chưa
có sự gắn bó chặt chẽ với cộng đồng làng, với không gian kiến trúc cảnh quan
có giá trị của làng Đây là một trong những nguyên nhân khiến các ngôi nhà cổ
ở làng Cựu đứng trước nguy cơ bị phá hủy, biến đổi hình thức kiến trúc chuyển quyền sở hữu sang chủ mới
3.2.2. Thành phần dân cư - độ tuổi:
Trang 8H-3.13: Biểu đồ dân cưtheo độ tuổi (Nguồn: tác giả, 2012)
Lực lượng lao động chiếm phần đông (55%), tuy nhiên số đông thanh niên
từ độ tuổi 19- 30 ban ngày vào trung tâm Hà Nội làm việc Đến với làng Cựu, phần lớn ta thấy trẻ em, người cao tuổi.Người dân trong độ tuổi lao động làm việc ở trung tâm Hà Nội, được tiếp cận với phong cách kiến trúc hiện đại Do tâm lý thích tiếp nhận cái mới, người dân có xu hướng sao chép các mẫu nhà ở
đô thị không phù hợp với cảnh quan truyền thống làng Cựu
3.2.3 Ngành nghề
H-3.14: Biểu đồ ngành nghề (Nguồn: tác giả, 2012)
Trang 9H-3.15: Lao động tại làng Cựu (Nguồn: tác giả, 2012)
Phần lớn nguồn thu từ các hoạt động nông nghiệp (30%), ngoài ra người dân cũng kết hợp các hoạt động phụ để gia tăng thu nhập Đứng thứ 2 là nguồn thu từ lương hưu (25%) Lương hưu của người làng theo điều tra chủ yếu là lương hưu từ nghề giáo viên Với phân lớn là những người làm nghề nông và người về hưu cho thấy cơ hội để tiếp cận các thông tin còn hạn chế
3.2.4 Thu nhập:
H-3.16: Mức thu nhập của người dân (Nguồn: tác giả, 2012)
Trang 10Thu nhập bình quân của người làng Cựu thấp, hơn một nửa số gia đình tham gia đợt khảo sát có thu nhập dưới 2triệu/ tháng, mức thu không đủ chi trả cho nhu cầu ăn ở và sinh hoạt hàng ngày của cả gia đình.Chi phí để cải tạo nhà
cổ là khá cao nên những người dân nơi đây tiếp tục duy trì cuộc sống trong những ngôi nhà đã bị xuống cấp.Đây là một trong những nguyên nhân chính khiến cho các công trình cổ đứng trước nguy cơ bị phá hủy
3.2.5 Trình độ học vấn
Trình độ học vấn Số người ( người) Tỷ lệ ( %)
H-3.17: Biểu đồ trình độ học vấn của người dân (Nguồn: tác giả, 2012)
Dân làng Cựu xưa nổi tiếng với tầng lớp trí thức nhưng theo thời gian, nền giáo dục của làng Cựu đang trên đà đi xuống Hiện nay, trình độ học vấn của dân làng thấp, chiếm đa số là trình độ cấp 1, cấp 2 (71,6%).Điều này ảnh hưởng đến nhận thức của người dân về việc gìn giữ bảo tồn nhà cổ, bảo tồn các không gian truyền thống của làng
3.2.6 Di dân
Trong 80 hộ dân điều tra chỉ 3 hộ có ý định dời làng chiếm 3.75%
Trang 11Hầu hết các hộ gia đình không muốn dời khỏi làng do 2 lý do Một là các
hộ dân mới chuyển đến hài lòng về môi trường sống tại đây.Hai là do điều kiện kinh tế không cho phép 3 hộ gia đình có ý định chuyển đi do họ đã có điều kiện
về kinh tế và muốn tìm một khu vực khác có điều kiện sống và làm việc tốt hơn Đây là điều thuận lợi với việc bảo tồn kiến trúc cảnh quan làng Cựu
3.2.7 Ý kiến, quan điểm của người dân trong đề xuất hoạt động du lịch tại làng:
Ý kiến người dân Số người (người) Tỷ lệ (%)
H-3.18:Ý kiến của người dân về hoạt động du lịch
(Nguồn: tác giả, 2012)
Trang 12H-3.19:Nguyện vọng phát triển dịch vụ du lịch của người dân
(Nguồn: tác giả, 2012)
Rất nhiều ý kiến của người dân mong muốn có hoạt động du lịch tại làng (75,9%), tuy nhiên cũng có không ít những ý kiến trái chiều Những ý kiến trái chiều đưa ra chủ yếu là của những gia đình đã làm chủ được kinh tế của mình Ngược lại, những hộ gia đình mong muốn có phương án bảo tồn để có thêm nguồn thu từ các hoạt động du lịch hầu hết là những gia đình có hoàn cảnh khó khăn, thu nhập thấp Nhiều người già trong làng có lập trường không rõ ràng:
“có hoạt động du lịch cũng được, không có không sao Có thì lớp trẻ có thêm công ăn việc làm, không thì người dân lại có cuộc sống bình yên.” Nhưng đa phần ý kiến người dân mong muốn có hoạt động du lịch.Kết quả điều tra xã hội này là một thuận lợi lớn cho việc bảo tồn làng cổ bởi người dân đã nhận thức về khả năng phát triển kinh tế qua du lịch bao tồn làng cổ
Kết quả điều tra cho thấy đa số người dân mong muốn phát triển dịch vụ
ăn uống để phục vụ khách du lịch (chiếm 55%), tiếp đến là dịch vụ may mặc (17%) và đồ lưu niệm (17%), chỉ 11% số người được hỏi muốn làm công việc hướng dẫn viên du lịch Dường như nghề may truyền thống bị mất đi nhưng nó vẫn mang dáng dấp, linh hồn trong tâm trí người dân để họ muốn “khoe” với khách tứ phương khi có dịp Như vậy nếu có thể kết hợp những nhà bỏ trống với việc phát triển dịch vụ ở làng thì vừa thuận lợi cho việc phát triển du lịch và hợp với mong muốn của người dân, hơn thế nữa còn góp phần gìn giữ, bảo vệ
Trang 13cũng như quảng bá các ngôi nhà cổ với kiến trúc độc đáo nhưng đang bị bỏ hoang phí của làng
3.3 Định hướng bảo tồn
Giá trị không gian kiến trúc cảnh quan của làng Cựu được nhận diện ở cấu trúc và không gian cảnh quan truyền thống làng quê vùng đồng bằng Bắc Bộ và giá trị giao thoa giữa kiến trúc bản địa và kiến trúc ảnh hưởng phong cách Châu
Âu Đây là 2 giá trị cốt lõi cần bảo tồn và phát triển sau này
Trong tương lai không thể phủ nhận việc phát triển làng Cựu nhằm cải thiện điều kiện sống và tăng thu nhập của người dân Tuy nhiên cần cân bằng giữa bảo tồn và phát triển Cụ thể, về mặt vật thể, cần duy trì cấu trúc 3 lớp không gian: không gian ngoài làng, không gian vùng biên, không gian trong làng
Cần duy trì không gian ngoài làng là không gian xanh, mảng xanh đóng vai trò như không gian đệm, ranh giới mềm giữa làng Cựu và khu vực xung quanh, làm nổi bật nên không gian làng Cựu
Đối với không gian vùng biên, cần có các quy định về thiết kế đô thị, thiết
kế cảnh quan nhằm gìn giữ cổng làng như một điểm nhấn trong kiến trúc, nhận diện ranh giới giữa không gian trong và ngoài làng
Đối với không gian trong làng:
- Không gian giao thông: tôn trọng cấu trúc đường hình xương cá Bảo tồn và tái tạo vật liệu lát đá xanh và gạch đỏ Đối với vật liệu lát đá xanh, cần có những xử lý kỹ thuật nhằm đảm bảo an toàn cho người tham gia giao thông Phục dựng hệ thống cột đèn treo dọc trục đường làng chính, khôi phục và tạo dựng hiệu ứng ánh sáng trong những ngày
lễ hội Duy trì cảnh quan các tuyến đường trong làng với hình ảnh các bức tường thấp 2 bên, thấp thoáng là ngôi nhà chính và khuôn viên sân vườn
- Không gian cộng đồng: đây là những không gian quan trọng cả về mặt hình thái và chức năng Về mặt hình thái, bảo tồn tổ hợp công trình và
Trang 14các không gian tự nhiên xung quanh Về mặt chức năng, tăng cường hoạt động cộng đồng tại các không gian này bằng việc tổ chức các hoạt động tăng cường sự gắn kết cộng đồng và nâng cao hiểu biết về giá trị cảnh quan truyền thống
- Không gian ở: cải tạo các ngôi nhà đang xuống cấp Việc bổ sung công trình mới cần tôn trọng cảnh quan của các công trình xung quanh và cảnh quan tổng thể của cả làng
Một trong những vấn đề nổi cộm tại làng Cựu la quỹ nhà cổ bỏ hoang Đồng thời, mức thu nhập của người dân làng Cựu hiện nay đang duy trì ở mức thu nhập thấp, công tác bảo tồn cần có chiến lược thích hợp để tăng thu nhập cho người dân Quan tâm đến 2 khía cạnh trên, du lịch di sản, sử dụng thích nghi quỹ nhà cổ có thể được coi là 1 lựa chọn Khoảng cách giữa làng Cựu và trung tâm Hà nội là 40km, là khoảng cách thích hợp cho các chuyến du lịch trong ngày, đây là mô hình du lịch cần được phát triển Các dịch vụ du lịch thích hợp có thể là tái sử dụng các nhà trống thành quán ăn, điểm thăm quan – kết hợp thăm quan công trình có giá trị kiến trúc, tìm hiểu lịch sử ngôi làng, tìm hiểu về nghề may Các dịch vụ du lịch này vừa hỗ trợ cho công tác bảo tồn, vừa tăng thu nhập cho người dân
3.4 Kết luận chương 3
Đặc điểm dân cư của làng như sau: phần lớn là dân gốc (chiếm khoảng 60%), người dân mới chuyển đến chiếm khoảng 40%, chủ yếu là người dân chuyển đến sau thống nhất đất nước Thu nhập chính trong làng từ nghề nông, tiếp đến là lương hưu, bộ phận trí thức trong làng chủ yếu là giáo viên các trường phổ thông Mức thu nhập của các hộ gia đình rất thấp, đa số các hộ dân được hỏi có mức thu nhập dưới 2 triệu/tháng Về độ tuổi, số lượng dân cư trong
độ tuổi lao động chiếm trên 50%; nhưng do vị trí ở cách trung tâm Hà nội tầm 40km, nên người lao động có xu hướng làm việc tại trung tâm thành phố; họ về làng vào buổi tối hoặc chỉ ngày cuối tuần; do đó thường trực trong làng là người
Trang 15già và trẻ em.Trình độ dân trí của làng thấp, trên 70% người dân được hỏi có trình độ cấp 1, cấp 2
Có ba vấn đề về bảo tồn mà làng Cựu đang đối mặt:
(1) Các ngôi nhà cổ đã bị xuống cấp nặng nề (số lượng nhà xuống cấp chiếm 69% trên tổng số nhà trong làng) Do thu nhập thấp nên người dân không
có điều kiện tu sửa nhà Một ví dụ cụ thể là bà Huyến 77 tuổi sống ở làng Cựu
đã lâu, ngôi nhà của bà bị dột nát trầm trọng Bà tâm sự:” Nhà hỏng tôi tiếc lắm, con cái thì nó không muốn sửa, muốn xây mới, tôi thì muốn giữ lại để thờ cúng cha mẹ mình, nhưng già rồi không có tiền sửa thì biết làm sao.”
(2) Số lượng lớn các ngôi nhà trống Theo khảo sát của nhóm tác giả, hơn 50% quỹ nhà cổ hiện nay bị bỏ hoang hoàn toàn, chủ nhà hiện đang định cư tại các thành phố lớn và không có ý định về làng
(3) Sự biến đổi của các giá trị kiến trúc cảnh quan do nhận thức của người dân cũng như chính quyền địa phương Ví dụ tiêu biểu là việc bê tông hóa các con đường, bóc đi lớp đá xanh là đặc điểm kiến trúc rất riêng biệt của làng Ngoài ra, hệ thống hạ tầng thoát nước, di sản từ thời Pháp, cũng dần bị thay bằng hệ thống cống nước hiện đại Hệ thống cột đèn treo cũng bị dỡ bỏ, thay thế bằng các cột điện thông thường
Trong thời gian sắp tới, 3 vấn đề đề nêu trên sẽ tiếp tục tiếp diễn và trở thành mối quan ngại lớn cho công tác bảo tồn
Một đề xuất nhằm làm sống lại các di sản của làng Cựu, đồng thời tăng thu nhập của người dân là phát triển du lịch kết hợp với bảo tồn Đối với vấn đề này, có nhiều ý kiến trái chiều từ phía người dân, phần đông muốn diễn ra các hoạt động du lịch tại làng để kiếm thêm thu nhập, trang trải cho cuộc sống, để thế hệ thanh niên trong làng không phải “bỏ làng mà đi” Nhưng cũng nhiều ý kiến phản bác, hầu hết họ là những người nắm được kinh tế của mình, đủ trang trải cho cuộc sống Cô Chu Thị Kim Liên, 57 tuổi, giáo viên về hưu cho ý kiến:”Bảo tồn nhà cổ là một điều đáng quý, nhưng tôi cũng nghe đài báo nhiều nên biết, giống như làng cổ Đường Lâm, nếu bảo tồn thì gia chủ không được
Trang 16quyền tự quyết đối với ngôi nhà của mình, làm gì cũng phải xin ý kiến, thủ tục lằng nhằng, con cái lấy vợ, gả chồng muốn cơi nới thêm không gian cũng gặp nhiều khó khăn, tôi không thích hoạt động bảo tồn vì nếu thế tôi sẽ bị mất quyền
tự do” Ngoài ra, công tác bảo tồn phát triển du lịch cũng không được người già ủng hộ,họ yêu làng bởi cái vẻ yên bình ấy, cũng vì lẽ ấy mà họ không muốn có các hoạt động làm xáo trộn cuộc sống yên ả lúc tuổi già