Vì vậy, dễ dàng gây sự tùy tiện, mỗi thẩm phán có cách giải quyết khác nhau.Ngoài ra, BLTTDS đã quy định cụ thể về thủ tục giải quyết yêu cẩu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
CHỦ NHIỆM ĐỂ TÀI: TS BÙI THỊ HUYỂN THƯ KÝ ĐỂ TÀI: ThS NGUYỄN t h ị t h u h à
HÀ NỘI - 2008
Trang 3DANH SÁCII NHỮNG NGƯỜI T llự c IIIỆN
Giảng viên Trường Đại học Luật Hà Nội
Thẩm phán Tòa án quậnĐống Đa Hà Nội
Thẩm phán Tòa án quậnNgô Quyền Hải PhòngGiảng viên Trường Đại học Luật Hà Nội
Giảng viên Trường Đại học Luật Hà Nội
Thẩm tra viên Tòa dân sự TANDTC
Giảng viên Trường Đại học Luật Hà Nội
Chánh án Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm
Giảng viên Trường Đại học Luật Hà Nội
Giảng viên Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 4Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
Luật Luật sư
Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự
Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế
Pháp lệnh Thủ lục giải quyết các tranh chấp lao động
Pháp lệnh Trọng tài thương mại
Tòa án án nhân dân tối cao
Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Trang 5MỤC LUCẽ •
1 Tổng thuật kết quả nghiên cứu đề tài
2 Những quy định chung về thủ tục giải quyết việc dân sự
3 Cơ sở xác định các việc dân sự và thủ tục tố tụng áp dụng
41515
4 Những điểm khác biệt giữa thủ tục giải quyết việc dân sự và thủ 63
tục giải quyết vụ án dân sự theo quv định của BLTTDS
7 Vấn đề giải quyết yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại 97
nơi cư trú theo quy định của BLTTDS
8 Việc giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất tích và yêu cầu 110
hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích tại Tòa án nhân dân
9 Việc giải quyết yêu cầu tuyên bố một người là đã chết và yêu cầu 125
hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết theo quy định của
BLTTDS
10 Vấn đề giải quyết việc thuận tình ly hôn tại Tòa án nhân dân và 138phương hướng hoàn thiện pháp luật về thủ tục giải quyết việc
thuận tình ly hôn
11 Giải quyết việc hủy việc kết hôn trái pháp luật tại Tòa án nhân dân 155
và phương hướng hoàn thiện pháp luật về thủ tục giải quyết việc
hủy việc kết hôn trái pháp luật
12 Thủ tục giải quyết một số yêu cẩu về hôn nhân gia đình theo quy 161định của BLTTDS
13 Thủ tục giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật tố tụng 174
dân sự một số nước trên thế giới
14 Đánh giá kết quả điều tra về việc dân sự và thủ tục giải quyết việc 191
dân sự
5 Đương sự trong việc dân sự
6 Thủ tục xác định năng lực hành vi dân sự của cá nhân
71
86
Trang 6TỔNG THUẬT K ẾT QUẢ NGHIÊN c ứ u ĐỂ t à i
1 PHẦN MỞ ĐẨU
1.1 T ín h cấ p t h iế t c ủ a đ ề tài
Cùng với việc ban hành BLTTDS, việc dân sự và thủ tục giải quyết việc dán sự lần đầu tiên được quy định riêng, tách ra khỏi thủ tục tố tụng thông thường Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua, việc nghiên cứu về việc dân sự và thủ tục giải quyết việc dân sự chưa được quan tâm, chưa có một công trình nghiên cứu khoa học nào đề cập đến vấn đề này ngoại trừ một số bài viết đăng trên các tạp chí Toà
án nhân dân, tạp chí Dân chủ và pháp luật Ngoài ra, để thi hành BLTTDS, Hội đồng thẩm phán TANDTC đã ban hành năm Nghị quyết hướng dẫn thi hành BLTTDS nhưng vẫn chưa ban hành Nghị quyết hướng dẫn thi hành phần thủ tục giải quyết việc dân sự Trong khi đó, các quy định của BLTTDS về vấn đề này rất
cô đọng và có nhiều điểm chưa rõ ràng, thậm chí còn nhiều vấn đề BLTTDS không quy định Vì vậy việc nghiên cứu đề tài “VIỆC DÂN sự VÀ THỦ TỤC GIẢI
QUYẾT VIỆC DÂN Sự TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN” là hết sức cần thiết Việc nghiên cứu
đề tài thành công không những giải quyết được những vướng mắc về lý luận về thủ tục giải quyết việc dân sự, phục vụ cho công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học pháp lý mà còn góp phần hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự, đóng góp ý kiến để TANDTC xây dựng Nghị quyết hướng dãn thi hành phần thủ tục giải quyết việc dân sự, góp phần đưa BLTTDS đi vào cuộc sống
1.2 Đ ối tư ợ n g n g h iê n cứ u và m ụ c đ íc h n g h iê n cứ u
Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề lý luận về việc dân sự và thủ tục giải quyết việc dân sự; các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành
về việc dân sự và thủ tục giải quyết việc dân sự và thực tiễn áp dụng chúng của các Tòa án Việt Nam trong những năm gần đây Ngoài ra, để làm rõ thêm vấn đề
lý luận về việc dân sự và thủ tục giải quyết việc dân sự quá trình nghiên cứu cũng được tiến hành đối với một số qui định của pháp luật tố tụng dân sự nước ngoài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là làm rõ được những vấn đề lý luận
về việc dân sự và thủ tục giải quyết việc dân sự, như khái niệm, bản chất việc dân
Trang 7sự, cơ sở x.ác định việc dân sự và Ihủ tục tố tụng áp dụng, đánh giá đúng thực trạng các qiuy định của pháp luật tố tụng dân sự về việc dân sự và thủ tục giải quyết việc (dân sự và việc áp dụng chúng trong thực tiễn xét xử của Tòa án Từ đó
đề xuất giảii pháp cụ thể để hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự về việc dân sự và thủ tục giải quyết việc dân sự
1.3 ]Nhu c ầ u k in h t ế x ã h ộ i, đ ịa c h ỉ áp d ụ n g
Kết q u ả của việc nghiên cứu để tài có giá trị sau:
- Góp phần làm rõ các quy định của BLTTDS về thủ tục giải quyết việc dân
sự, tháo gỡ được những vướng mắc trong thực tiễn xét xử hiện nay về thủ tục giải quyết việc dân sự; hoàn thiện pháp luật về việc dân sự và thủ tục giải quyết yiệc dân sự mà trước mắt là đóng góp ý kiến để TANDTC xây dựng Nghị quyết hướng dẫn thi hành phần thủ tục giải quyết việc dân sự
- Làm căn cứ xác định nội dung chương trinh, giáo trình và phương pháp
giảng dạy môn học “Thủ tục tố tụng dân sự đặc biệt” trong Trường Đại học Luật;
bổ sung tư liệu cho việc giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học pháp lý
1.4 P h ạ m v i n g h iê n cứ u
Trong giới hạn về thời gian và cấp độ của đề tài, việc nghiên cứu chỉ tập trung vào những vấn đề chủ yếu sau:
- Các quy định của BLTTDS Việt Nam về việc giải quyết các việc về dân sự
và hôn nhân gia đình.
- Thực tiễn áp dụng các quy định của BLTTDS về việc giải quyết các việc
về dân sự và hôn nhân gia đình tại một số Toà án ở Hà Nội và Hải Phòng.
- Cơ sở, ý nghĩa của việc xác định việc dân sự và thủ tục giải quyết việc dân sự
1.5.2, N ội d u n g các quy đ ịn h của p h á p luật tô tụng d ân sự Việt N am hiện h a n h về th ủ tục giải quyết việc dân sự và thực tiễn thực hiện
- Quv định chung về thủ tục giải quyết việc'dân sự và thực tiễn thực hiện
- Các quy định về thủ tục giải quyết các việc dân sự cụ thể và thực tiễn thực hiện
Trang 81.5.3 Yêu cầu, nội dun g ưà giải ph á p hoàn thiện p h á p luật tố tụng dân
sự về việc dân sự và thủ tục giải quyết việc d â n sự
- Yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự về việc dân sự và thủ tục giải quyết việc dân sự
- Những vấn đề cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự về việc dân sự và thủ
tục giải quyết việc dân sự cần hoàn thiện bao gồm quy định chung về việc dân sự
và thủ tục giải quyết việc dân sự, các quy định về thủ tục giải quyết các việc dân
sự cụ thể
- Những giải pháp của việc hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự về việc dân
sự vặ thủ tục giải quyết việc dân sự gồm các giải pháp cụ thể về bổ sung các quy
định của pháp luật tố tụng dân sự về việc dân sự và thủ tục giải quyết việc dân sự
1.6 P h ư ơ n g p h á p n g h iê n cứu
Việc nghiên cứu được tiến hành dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác Lê nin, quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, đường lối,
chính sách cùa Đảng, Nhà nước và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp
luật Để giải quyết các vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài, trong quá
trình nghiên cứu đề tài các tác giả cũng sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu
khoa học như phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp phân tích, phương
pháp thống kè, phương pháp so sánh và phương pháp tổng hợp.
2 PHẨN NỘI DUNG
2.1 N hững v ấ n đề lý lu ậ n v ề v iệ c d â n sự v à th ủ tụ c g iả i q u y ế t
v iê c d â n su • •
Khái niệm, bản chất, cơ sở, ý nghĩa của việc xác định việc dân sự và thủ tục
giải quyết viéc dân sự là những vấn đề lý luận cơ bản Xác định đúng những vấn
đề này là tiềr đề quan trọng để hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự về việc dân sự
và thủ tục giá quyết việc dân sự
2 1.1 K h á i n iê m viêc d â n sư, th ủ tu e g i ả i q u y ế t v iê c d à n sư
V iệc cân sự là việc các cá nhân, cơ quan, tổ chức không có tranh chấp,
nhưng có yêi cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý là căn cứ làm piát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương m ại 'à lao động của minh hoặc của cá nhân, cơ quan, tổ chức khác; yêu
cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động; yêu cầu Toà án công nhận sự thoả
Trang 9thuận của các đương sự về quan hệ pháp luật dân sự, kinh doanh, thương mại và lao động.
Do đó, để xác định việc dân sự chúng ta cần dựa vào một trong các tiêu chí sau đây:
- Cấc đương sự không có tranh chấp về quyền, lợi ích hợp pháp do các
đương sự đã tự thoả thuận được với nhau về các tình tiết cãa sự việc cũng như những quyền và lợi ích giữa các đương sự và họ cùng yêu cầu Toà án công nhận
sự thỏa thuận đó Dựa vào tiêu chí này chúng ta có thể xác định các việc dân sự
này bao gồm yêu cầu cống nhận thuận tình ly hồn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; yêu cầu công nhận sự thỏa thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con; các bên cùng thỏa thuận chấm dứt quan hệ hôn nhân trái pháp luật và thỏa thuận được phân chia tài sân và nuôi co n
- Các đương sự không có tranh chấp về quyền và lợi ích hợp pháp nhưng do
tính chất đặc thù của loại việc và chỉ có một bên đương sự yêu cầu Tòa án xác định một sự kiện pháp lý, công nhận hoặc không công nhận quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động Dựa vào tiêu chí này
chúng ta có thể xác định các việc dân sự này bao gồm yêu cầu xác định tình trạng của một cá nhấn do sự vắng mặt của họ tại nơi cư trú; yêu cầu xác định năng lực hành vi dân sự của một cá nhân, yêu cầu Toà án tuyên bố chấm dứt một quan hệ pháp lý đang íSn tại; yêu cầu Toà án hỗ trợ cho việc bảo vệ quyền lợi của mình
trong quá trình Trọng tài thương mại giải quyết tranh chấp
Như vậy, ihủ tục giải quyết việc dân sự là thủ tục của tố tụng dân sự, được Tòa án áp dụn£ để giải quyết các việc dân sự do pháp luật quy định theo một trình
tự đơn giản, nhanh gọn, do một hoặc một tập thể thẩm phán tiến hành
So với thủ tục giải quyết vụ án dân sự thì thủ tục giải quyết việc dân sự đơn giản và ít phức tạp hơn, thời hạn giải quyết việc dân sự ngắn hơn; Tòa án không phải mở phiên tòa xét xử với Hội đồng xét xử là một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân (trưừi£ hợp đặc biệt là hai Thẩm phán và ba Hội thẩm nhân dân) mà chỉ cần mở phiên họp dưới sự điều khiển của một Thẩm phán hoặc ba Thẩm phán; đối với đa số các oại việc Toà án không tiến hành hòa giải; thủ tục phiên họp giải quyết việc dâr sự thường đơn giản hơn so với phiên tòa sơ thẩm dân sự đó là không có thủ ục tranh luận, không có thủ tục nghị án trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Viện kiểm sát phải tham gia 100% các phiên họp giải quyết việc dân sự còn phiâĩ tòa giải quyết vụ án dân sự thì viện kiểm sát chỉ tham gia trong
Trang 10trường hợp pháp luật có quy định; thời hạn kháng cáo, kháng nghị quyết (tịnh giải quyêt việc dân sự ngắn hơn so với thời hạn kháng cáo, kháng nghị bản án sơ thẩm; thủ tục phúc thẩm các quyết định giải quyết việc dân sự cũng đơn giản.
2.1.2 B ả n c h ấ t việc d â n sư • •
Bản chất của việc dân sự là không có tranh chấp về quyền và lợi ích hợp pháp giữa các đương sự do các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết quyền và lợi ích hợp pháp và yêu cầu Tòa án công nhận giá trị pháp lý của
sự thỏa thuận đó hoặc do tính chất đặc thù của loại việc và chỉ có một bên đương
sự yêu cầu Tòa án xác định một sự kiện pháp lý, công nhận hoặc không công nhận quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động
Do đó, pháp luật tố tụng dân sự cần quy định cụ thể, rõ ràng trình tự, thủ tục giải quyết các việc dân sự cho phù hợp với bản chất việc dân sự
2.1.3 Cơ sở x á c đỉn h vỉêc d â n sư và th ủ tu c g iả i qu yết viêc d â n sư
- Quy định việc dân sự và thủ tục giải quyết việc dân sự nhằm đáp ứng yểu cầu cải cách tư pháp
Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương khoá VIII khẳng
định “Hoạt động tư pháp phải bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công
dân Nghiên cícu áp dụng thủ tục rút gọn đ ể xét xử kịp thời một số vụ án dơn giản, rõ ràng” Thực hiện chủ trương đó của Đảng, công cuộc cải cách tư pháp
từng bước được thực hiện Nghị quyết số 08 - NQ/TƯ ngày 02/01/^002 của Bộ
chính trị 'V ế một s ố nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” tiếp tục khẳng định: “Nghiên cứu đ ể quy định và thực hiện thủ tục rút gọn dối với
những vụ án đơn giản, chứng cứ rõ ràng ” Như vậy, từ những yêu cầu cụ thể
này của cải cách tư pháp đòi hỏi pháp luật tố tụng dân sự phải xây dựng một cơ chế xét xử linh hoạt, đơn giản, gọn nhẹ; giải quyết các yêu cầu của đương sự một cách nhanh chóng, tiết kiệm thời gian, chi phí tố tụng của Nhà nước và của các đương sụ đồng thời bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự
- Ouy định việc dân sự và thủ tục giải quyết việc dân sự là đ ể nhằm đáp
ứng sự phát triển nền kinh t ế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong điêu kiện hội nhập kinh t ế quốc tế
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã khẳng định rõ chủ trương:
“Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, tạo môi trường pháp lý thuận lợi, bình đẫnq cho các doanh nghiệp cạnh tranh và hợp tác phát triển, thu hút mạnh
Trang 11nguồn lực của các nhà đầu tư nước ngoài ” Nền kinh tế thị trường đã và đang
phát huy những mặt tích cực của nó nhưng mặt khác cơ chế thị trường cũng làm gia tăng các tranh chấp dân sự đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi chúng ta đã là thành viên của APEC và WTO Vì vậy, để tạo ra sự ổn định của các giao lưu dân
sự đồng thời vừa tạo điều kiện thúc đẩy các quan hệ đó phát triển thì cần có cơ chế giải quyết các tranh chấp, mâu thuẫn đó một cách nhanh chóng, đơn giản; kịp thời bảo vệ những quyền và lợi ích bị xâm hại đồng thời tạo điều kiện cho các đương sự không bỏ lỡ những cơ hội làm ăn của mình hoặc cơ hội tham gia vào những quan hệ khác
- Quỵ định việc dân sự và thủ tục giải quyết việc dân sự xuất phát từ việc
tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự
Điều 4 BLDS quy định: “Quyền tự do, cam kết thỏa thuận trong việc xác
lập quyền, nghĩa vụ dân sự được pháp luật bảo đảm, nếu cam kết, thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức x ã hội” Như vậy, các
chủ thể của quan hệ dân sự có quyền tự do tự nguyện, bình đẳng trong việc thiết lập các quyền và nghĩa vụ dân sự phục vụ cho lợi ích của mình phù hợp với lợi ích chung của xã hội Các chủ thể có quyền tự do quyết định việc tham gia vào quan
hệ pháp luật dân sự? quyết định nội dung của quan hệ (các quyền và nghĩa vụ của các bên), quyết định các phương thức thực hiện các quyền và nghĩa vụ, quyết định cách thức, biện pháp để giải quyết tranh chấp Trong trường hợp các chủ thể đã giải quyết được tranh chấp bằng con đường thỏa thuận và muốn sự thỏa thuận đó
có giá trị về mặt pháp lý nên đã yêu cầu Tòa án công nhận sự thỏa thuận Khi giải quyết yêu cầu này, Tòa án thực chất chỉ kiểm tra tính hợp pháp của sự thỏa thuận
và ghi nhận sự thỏa thuận đó bằng một quyết định có hiệu lực pháp luật Như vậy, việc giải quyết không mất nhiều thời gian và có thể kết thúc bằng một thủ tục đơn giản, nhanh gọn
- Quy định việc dân sự và thủ tục giải quyết việc dân sự xuất phát từ thực
tiễn giải quyết các vụ việc dân sự
Trước khi BLTTDS có hiệu lực thi hành, PLTTGQCVADS được áp dụng để giải quyết mọi vụ án dù có tranh chấp hay không có tranh chấp theo một thủ tục
tố tụng chung thống nhất Có nghĩa là việc giải quyết mọi vụ án bắt buộc phải tuân theo một trình tự, thủ tục nhất định với một khoảng thời gian do pháp luật quy định, không được rút ngắn thời gian hoặc bất cứ một thủ tục nào Điều này là
Trang 12hoàn toài không hợp lý, gây mất thời gian, tiền của Nhà nước và của các đương sự
và không bảo vệ được kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự cũng
như khôrg phát huy được tính chủ động của thẩm phán Ngoài ra, việc giải quyết
mọi vụ ái theo một thủ tục chung dẫn đến việc số lượng án bị tồn đọng chưa được
Toà án giíi quyết là rất lớn Theo báo cáo tổng kết của ngành Toà án số vụ án dân
sự, hôn mân và gia đình, kinh tế và lao động chưa được giải quyết năm 2001 là
17.145 VI; năm 2002 là 25.117 vụ; năm 2003 là 17.245 vụ; năm 2004 là 17.391
vụ; năm 1005 là 20.694 vụ; năm 2006 là 18.065 vụ (1)
Nhi vậy, thực tiễn xét xử đòi hỏi phải có một thủ tục đơn giản, gọn nhẹ để
giải quyê: một số loại việc nhất định Thực tiễn chính là cơ sở để chúng ta xây
dựng thủ ục giải quyết việc dân sự trong BLTTDS Việt Nam
Vậ/ việc pháp luật tố tụng dân sự quy định việc dân sự và thủ tục giải quyết
việc dân ỉự là hoàn toàn hợp lý.
2.1.4 Ý n g h ĩa c ủ a viêc x á c đ in h v iệ c d â n sư và th ủ tu c g i ả i
q u y ế t viìc d â n sư
Cốc quy định của pháp luật tố tụng dân sự về việc dân sự và thủ tục giải
quyết việc dân sự là cơ sở pháp lý để Toà án tiến hành giải quyết việc dân sự, bảo
đảm cho việc giải quyết việc dân sự được thuận lợi, đúng đắn, nhanh chóng, bảo
vệ kịp thòi quyền và lợi ích hợp phấp của các đương sự trước Tòa án
Bằng việc quy định rõ căn cứ, thẩm quyền, trình tự và thủ tục giải quyết
việc dân sự, pháp luật tố tụng dân sự về việc dân sự và thủ tục giải quyết việc dân
sự đã tạo ra hành lang pháp lý bảo đảm cho các cơ quan tiến hành tố tụng thực
hiện đúng chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình trong việc giải quyết việc
dân sự, những người tham gia tố tụng thực hiện đúng và đầy đủ các quyền và
nghĩa vụ của mình làm cho việc giải quyết việc dân sự được chính xác và đúng đắn
Việc pháp luật tố tụng dân sự quy định về việc dân sự và thủ tục giải quyết
việc dân sự sẽ đem lại hiệu quả về mặt kinh tế cho cả Nhà nước và đương sự đó là
tiết kiệm thời gian, công sức, tiền của Nhà nước và của các đương sự Hơn thế nữa
việc giải quyết nhanh chóng, dứt điểm còn đem lại hiệu quả cao cho việc xét xử,
đạt được mục đích của xét xử là bảo vệ kịp thời các quyền và lợi ích hợp pháp của
các đương sự và Toà án có điều kiện tập trung thời gian, công sức cho việc giải
quyết các vụ án dân sự khác
(l)Nguồn số liệu thống kề từTANDTC.
Trang 13Ngoài ra, việc giải quyết việc dân sự được trao cho một thẩm phán giải
quyết sẽ nâng cao tinh thần trách nhiệm cá nhân của thẩm phán, giúp thẩm phán
chủ động hơn trong việc ra các quyết định Đồng thời sẽ giảm được áp lực về việc
tồn đọng án ở các Toà án, tập trung được nhân lực vào giải quyết các vụ án dân sự
2.2 N ội d u n g c á c q u y đ ịn h củ a p h á p lu ậ t t ố tụ n g d ân sự V iệt
N am h iện h àn h v ề th ủ tụ c giải q uyết v iệ c dân sự và th ự c tiễ n thực h iệ n
2.2.1 Q u y đ ịn h c h u n g v ề việc d â n sự, th ủ tụ c g iả i q u y ế t việc
d â n sự và th ự c tiễ n th ự c h iên• • • •
2.2.1.1 V ề những loại việc áp dụng thủ tục giải quyết việc dân sự
Theo quy định tại Điều 311 BLTTDS thì việc dân sự là việc cá nhân, cơ
quan, tổ chức không có tranh chấp, nhưng có yêu cầu Toà án công nhận hoặc
không công nhận một sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân
sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của mình hoặc của cá
nhân, cơ quan, tổ chức khác; yêu cầu Toà án công nhận cho mình quyền về dân
sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động
Các loại việc dân sự được quy định tương đối đầy đủ tại các Điều 26, 28, 30
và 32 BLTTDS, bao gồm các loại việc sau đây:
- Những yêu cầu phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự:
+ Việc xác đinh năng lực hành vi dân sự của cá nhân gồm yêu cầu tuyên bố
một ngưci mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và
yêu cầu huỷ bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, hạn
chế năng lực hành vi dân sự
+ Các việc liên quan đến sự vắng mặt của cá nhân tại nơi cư trú gồm yêu
cầu thôn£ báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người
đó; yêu cìu tuyên bố một người mất tích hoặc đã chết; huỷ bỏ quyết định tuyên bố
một ngưd mất tích hoặc đã chết
- ỉĩhững yêu cầu phát sinh từ quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình:
4- v êu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật;
+ vêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn;
+ vêu cầu công nhận sự thoả thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau
khi ly hôi;
+ Têu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc
Trang 14quyền thăm nom con sau khi ]y hôn;
+ Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi;
- Những yêu cầu liên quan đến việc trọng tài thương mại Việt Nam như yêu cầu chỉ định, thay đổi trọng tài viên; yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong quá trình hội đồng trọng tài giải quyết vụ tranh chấp; yêu cầu huỷ quyết định trọng tài V V
- Yêu cầu công nhận hoặc không công nhận các bản án, quyết định của toà
án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài
BLTTDS quy định tương đối đầy đủ về các ioại việc dân sự Tuy nhiên, thực tiễn xét xử của Tòa án cho thấy có những loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhưng lại chưa được BLTTDS quy định là việc dân sự như yêu cầu
tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng, cha mẹ nuôi và con nuôi đã thành
niên thỏa thuận chấm dứt việc nuôi con nuôi; các đương sự thỏa thuận chấm dứt quan hệ hôn nhân trái pháp lu ậ t
2.2.1.2 Nguyên tắc áp dụng pháp luật giải quyết việc dân sự
Theo Điều 311 BLTTDS, việc giải quyết các việc dân sự được thực hiện theo các quy định tại Chương XX của BLTTDS và các quy định khác của Bộ luật này, nếu không trái với quy định của Chương này Theo đó, khi giải quyết việc dân sự trước hết Toà án áp dụng các quy định của Chương XX BLTTDS Bên cạnh
đó, những quy định tại phần thứ nhất "Những quy định chung" của BLTTDS cũng
được áp dụng để giải quyết việc dân sự như các quy định về thành phần giải quyết việc dân sự, chứng cứ và chứng minh, thời hiệu giải quyết yêu cầu, cấp, thông báo, tống đạt các văn bản tố tụng V.V Đối với những vấn đề mà Chương XX và
"Những quy định chung" của BLTTDS không quy định thì Toà án sẽ áp dụng các
quy định khác của BLTTDS, nếu không trái với quy định của Chương XX Tuy nhiên, có những quy định của BLTTDS chưa minh bạch nên thực tiễn áp dụng có những cách hiểu khác nhau như vấn đề xác định tư cách của các đương sự, sự tham gia tố tụng của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, việc áp dụng thủ tục giám đốc thẩm dân sự
2.2.1.3 Thành phần giải quyết việc dân sự
Điều 54 BLTTDS quy định, thành phần giải quyết việc dân sự có thể do một hoặc ba thẩm phán tiến hành
Việc dân sự về bản chất của việc dân sự là không có tranh chấp mà chỉ là
Trang 15yêu cầu Toà án xác định một sự kiện pháp lý, công nhận hoặc không công nhận quyền về dân sự, kinh doanh, thương mại và lao động, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự và Toà án chỉ áp dụng pháp luật để công nhận hay không công nhận yêu cầu của các đương sự đưa ra Vì vậy, BLTTDS quy định việc dân sự do một thẩm phán tiến hành Quy định này là để nâng cao trách nhiệm cá nhân của thẩm phán, giúp thẩm phán có thể chủ động trong công việc của mình.
Ngoài ra, đối với việc giải quyết yêu cầu huỷ quyết định của trọng tài thương mại, yêu cầu công nhận hoặc không công nhận các bản án, quyết định của toà án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài do một tập thể gồm ba thẩm phán giải quyết Bởi khác với các loại việc dân sự khác, tính chất của loại việc này phức tạp hơn, toà án không phải giải quyết về mặt nội dung các yêu cầu dân sự, mà là xem xét để công nhận hay huỷ quyết định của một cơ quan tài phán khác; công nhận hay không công nhận bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài
Do đó, loại việc này đòi hỏi phải được xem xét bằng một hội đồng gồm ba thẩm phán
2.2.1.4 Thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự
Theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 159 BLTTDS thì trong trường hợp pháp luật không có quy định khác về thời hiệu yêu cầu thì thời hiệu yêu cầu để Tòa án giải quyết việc dân sự là một năm, kể từ ngày phát sinh quyền yêu cẩu Tuy nhiên, có phải tất cả các việc dân sự đều áp dụng thời hiệu yêu cầu hay không? hay chỉ có một số loại việc dân sự áp dụng thời hiệu yêu cầu? Và ngày phát sinh quyền yêu cầu là ngày nào? Vấn đề này hiện nay có những quan điểm khác nhau
Quan điểm thứ nhất cho rằng dựa trên quy định tại điểm b khoản 3 Điều
159 BLTTDS thì tất cả các việc dân sự đều phải áp dụng thời hiệu yêu cầu Quan điểm thứ hai cho rằng đối với những loại việc dân sự liên quan đến quyền nhân thân của con người thì phải áp dụng quy định Điều 160 BLDS về những trường hợp không áp dụng thời hiệu yêu cầu
2.2.1.5 Những người tham gia tố tụng trong việc dân sự
- Đương sự trong việc dân sự
Mục 1 Chương VI BLTTDS chỉ quy định về đương sự trong vụ án dân sự không quy định về đương sự trong việc dân sự Tuy nhiên, tại các Điều 312, 313 BLTTDS lại có các quy định về sự tham gia của người yêu cầu và người có liên quan Chính quy định không nhất quán này của BLTTDS đã dẫn đến các quan điểm khác nhau về đương sự trong việc dân sự
Trang 16Có quan điểm cho rằng đương sự trong việc dân sự bao gồm: người yêu cầu, người bị yêu cầu và người có liên quan Người yêu cầu là người tham gia tố tụng đưa ra yêu cầu toà án giải quyết việc dân sự Người bị yêu cầu trong việc dân
sự là người tham gia tố tụng để trả lời về các yêu cầu của việc dân sự Thông thường trong các việc dân sự đều có người bị yêu cầu, nhưng trong một số trường hợp cá biệt thì chỉ có người yêu cầu mà không có người bị yêu cầu như việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, yêu cầu công nhận thoả thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con v.v Người có liên quan trong việc dân sự là người tham gia tố tụng vào việc dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc trả lời về những những vấn đề liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ Quan điểm khác lại cho rằng đương sự trong việc dân sự chỉ bao gồm người yêu cầu -và người có liên quan đến yêu cầu bởi vì bản chất của việc giải quyết việc dân sự là việc xác định một sự kiện pháp lý chứ không phải là việc giải quyết tranh chấp giữa các bên đương sự Khi sự kiện pháp lý được xác định sẽ dãn đến việc phát sinh, thay đổi, chấm dứt một quan hộ pháp luật mới
Điều 58 BLTTDS đã quy định về quyền và nghĩa vụ chung của đương sự khá chi tiết, cụ thể bằng việc liệt kê từng quyền và nghĩa vụ của đương sự, nhưng quy định của Điều 58 chỉ là quy định về quyền, nghĩa vụ của đương sự trong vụ
án dân sự mà không quy định để xác định quyền, nghĩa vụ của đương sự trong việc dân sự
Ngoài ra, khi đương sự trong việc dân sự không có mặt khi được Toà án triệu tập hợp lệ chưa được quy định cụ thể, mới chỉ quy định người yêu cầu vắng mặt lần thứ nhất thì hoãn phiên họp, nếu người yêu cầu vắng mặt lẩn thứ hai thì bị coi là từ bỏ quyền yêu cầu và toà án ra quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự Tuy nhiên, BLTTDS chưa quy định về trường hợp người liên quan vắng mặt tại phiên họp
- Người bảo vệ quỷền và lợi ích hợp phấp trong việc dân sự
BLTTDS không quy định cụ thể về sự tham gia tố tụng của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong việc giải quyết việc dân sự Tuy nhiên, PLTTTM năm 2003 và LLS năm 2006 lại quy định về việc tham gia tố tụng của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong việc dân sự Điều
22 LLS năm 2006 về phạm vi hành nghề luật sư quy định, luật sư “tham gia tố
tụng với tư cách là người đại diện hoặc là người bảo vệ quyên và lợi ích của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong các việc vê yêu
Trang 17cầu dàn sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và các vụ việc kiác theo quy định của pháp luật” Đối với việc giải quyết các việc liên quan
đến hoạt động của trọng tài thương mại Việt nam như: chỉ định, thay đổi trọng tài viên; áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời; xem xét lại thỏa thuận trọng tài; hủy quyết định của trọng tài, PLTTTM năm 2003 cũng quy định
về sự '.ham gia tố tụng của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong những trường hợp này
2.2.1.6 Vê hòa giải
Về nguyên tắc, hoạt động hòa giải chỉ đặt ra khi các bên đương sự có tranh chấp hoặc mâu thuẫn với nhau, do đó hoạt động hòa giải không thể thực hiện được trong các việc dân sự Mặt khác, hòa giải là sự thỏa thuận của các bên đương sự về việc giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn giữa họ nên hòa giải chỉ có thể tiến hành được khi có các bên đương sự trong khi đó, việc dân sự hầu như chỉ một bên đương sự tham gia tố tụng nên đối với việc dân sự Tòa án không tiến hành hòa giải mà giải quyết theo quy định của pháp luật
Song, Điều 10 BLTTDS quy định: ‘Tờứ án có trách nhiệm tiến hành hòa
giải và tạo điều kiện thuận lợi đ ể các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của pháp luật” Theo quy định này, rõ ràng
việc dân sự Tòa án cũng phải tiến hành hòa giải nhưng Tòa án hòa giải đối với những loại việc dân sự nào? và không hòa giải đối với những loại việc dân sự nào? Vấn đề này, hiện nay BLTTDS chưa có quy định rõ ràng và TANDTC cũng chưa
có văn bản hướng dẫn cụ thể.
2.2.1.7 V ề việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thòi
Hiện nay, theo quy định tại Điều 99 BLTTDS thì biện pháp khẩn cấp tạm
thời mới chỉ được áp dụng trong quá trình giải quyết vụ án dân sự mà chưa được
áp dụng trong quá trình giải quyết việc dân sự Vậy có cần thiết phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong quá trình giải quyết việc dân sự hay không?
Việc BLTTDS không quy định việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong quá trình giải quyết việc dân sự là chưa hợp lý bởi xuất phát từ ý nghĩa của biện pháp khẩn cấp tạm thời là nhằm đáp ứng nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo
vệ bằng chứng hoặc đảm bảo cho việc thi hành án, thì bất kể đó là vụ án dân sự hay việc dân sự đều cần thiết phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo vệ quyền lợi cho đương sự Tuy nhiên, có cần phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tất cả các việc dân sự hay không? Có quan điểm cho rằng cần phải áp
Trang 18dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong quá trình giải quyết tất cả các việc dân sự Quan điểm khác lại cho rằng biện pháp khẩn cấp tạm thời chỉ áp dụng trong quá trình giải quyết một số loại việc dân sự mà thôi.
2.2.1.8 Về sự tham gia tô' tụng của Viện kiểm sát nhân dân trong việc dân sự
Theo quy định tại Điều 24 BLTTDS thì đại diện Viện kiểm sát phải tham gia 100% các phiên họp giải quyết việc dân sự Quy định này xuất phát từ việc trong các việc dân sự thông thường chỉ có một bên đương sự và thành phần giải quyết việc dân sự chỉ có một Thẩm phán, cho nên để tránh khả năng lạm quyền của Thẩm phán và bảo vệ quyền lợi của người bị yêu cầu, đòi hỏi phải có sự kiểm sát chặt chẽ của Viện kiểm sát
Tuy nhiên, có quan điểm cho rằng đại diện Viện kiểm sát không bắt buộc phải tham gia các phiên họp giải quyết việc dân sự vì việc dân sự là của các đương
sự nên cần phải tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự.
2.2.1.9 Vê thời hạn và thủ tục giải quyết việc dân sự
- Về thời hạn giải quyết việc dân sự:
Do tính chất của việc dân sự thường đơn giản hơn so với vụ án dân sự nên thời hạn giải quyết việc dân sự phải ngắn hơn thời hạn thủ tục giải quyết vụ án dân sự Theo quy định tại Điều 320, 325, 331, 336 BLTTDS thì thời hạn giải quyết tuyên bố một người là mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự của cá nhân, yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt, tuyên bố một người là mất tích hoặc đã chết đều ngắn hơn thời hạn giải quyết các vụ án dân sự Tuy nhiên, BLTTDS lại không quy định về thời hạn giải quyết đối với các loại việc về hôn
nhân và gia đình - những việc dân sự chiếm phần lớn các việc về dân sự trong thực
tế giải quyết việc dân sự hiện nay tại Toà án dân đến việc áp dụng không thống nhất giữa các Toà án Điều này sẽ trái với mục đích của thủ tục giải quyết việc dân sự là đơn giản, nhanh chóng hơn so với thủ tục tố tụng thông thường
-V ề thủ tục giải quyết việc dân sự:
+ BLTTDS quy định cụ thể về thủ tục nộp đơn yêu cầu giải quyết việc dân
sự, phiên họp giải quyết việc dân sự và quyết định giải quyết việc dân sự tại các Điều 312, 314, 315 BLTTDS nhưng lại không quy định cụ thể về thời hạn gửi đơn yêu cầu, thủ tục nhận đơn yêu cầu, trả lại đơn, yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu, khiêu nại và giải quyết khiếu nại về việc trả lại đơn yêu cầu, thụ lý, phân
Trang 19công thẩm phán giải quyết, thủ tục chuẩn bị giải quyết việc dân sự Vì vậy, dễ dàng gây sự tùy tiện, mỗi thẩm phán có cách giải quyết khác nhau.
Ngoài ra, BLTTDS đã quy định cụ thể về thủ tục giải quyết yêu cẩu tuyên
bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân
sự, thủ tục giải quyết yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú, thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người là mất tích hoặc đã chết, thủ tục giải quyết các việc dân sự liên quan đến hoạt động của trọng tài thương mại Việt Nam nhưng lại không quy định về thủ tục giải quyết các việc về hôn nhân và gia đình Việc không quy định cụ thể thủ tục giải quyết các việc về hôn nhân và gia đình đã gây không ít khó khăn cho các thẩm phán
+ Theo Điều 316, 317 và 318 BLTTDS, người có yêu cầu, người có liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo, viện kiểm sát cùng cấp, viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc
thẩm dân sự đối với quyết định giải quyết việc dân sự trừ quyết định công nhận
thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn và quyết định công nhận sự thoả thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn Thời hạn kháng cáo của các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ là bảy ngày, kể từ ngày toà
án ra quyết định Trong trường hợp họ không có mặt tại phiên họp thì thời hạn đó tính từ ngày họ nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết đinh đó được thông báo, niêm yết Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là bảy ngày Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là mười lăm ngày, kể từ ngày toà án ra quyết định
Toà an có thẩm quyền xem xét giải quyết kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm là toà án cấp trên trực tiếp Thủ tục phúc thẩm quyết định giải quyết việc dân sự bị kháng cáo, kháng nghị được thực hiện giống như thủ tục phúc thẩm quyết định giải quyết vụ án dân sự của toà án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị
4- BLTTDS không quy định cụ thể về thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với quyết dnh giải quyết việc dân sự nên có các ý kiến khác nhau về vấn đề này
Ý kiến thứ ìhất cho rằng, việc BLTTDS phân biệt hai loại thủ tục giải quyết vụ án dân sự và thủ tục giải quyết việc dân sự nhằm mục đích đon giản và giải quyết nhanh chórg việc dân sự, buộc Thẩm phán phải thận trọng khi giải quyết việc dân
sự Ngoài la, do tính chất của việc dân sự đơn giản, chứng cứ rõ ràng, các bên không c ó t anh chấp nên quyết định giải quyết việc dân sự không bị xem xét lại
Trang 20theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm Ý kiến thứ hai cho rằng không phải trong
mọi trường hợp quyết định giải quyết việc dân sự đều hoàn toàn đúng và theo
nguyên tắc áp dụng pháp luật tại Điều 311 BLTTDS thì khi quyết định giải quyết
việc dân sự đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có sai lầm hoặc tình tiết mới thì
quyết định đó sẽ bị xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm Ý kiến thứ
ba cho rằng quyết định giải quyết việc dân sự có thể bị kháng nghị giám đốc
thẩm, tái thẩm nhưng chỉ có quyết định giải quyết một số loại việc dân sự là bị
kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm
2.2.2 C ác q u y đ ịn h vê th ủ tu c g iả i q u y ế t c á c v iệ c d â n s ự cụ t h ể
v à th ự c tiễ n th ự c h iệ n• • •
2.2.2.1 Thủ tục xác định năng lực hành vi dân sự của cá nhân
- Thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên b ố một người mất năng lực hành vi dân
sự hoặc bị hạn c h ế năng lực hành vi dân sự
+ Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế
năng lực hành vi dân sự: Theo quy định tại Điều 319 BLTTDS, người có quyền,
lợi ích liên quan, cơ quan tổ chức hữu quan có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố
một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự
theo quy định của BLDS
Đơn yêu cầu toà án tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc
bị hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có đủ những nội dung của đơn yêu cầu
nói chung được quy định tại khoản 2 Điều 312 BLTTDS Kèm theo đơn yêu cầu
Toà án tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự phải có kết luận của cơ
quan chuyên môn và các chứng cứ khác để chứng minh người đó bị bệnh tâm thần
hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình
Kèm theo đơn yêu cầu Toà án tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi
dân sự phải có chứng cứ để chứng minh người đó nghiện ma tuý hoặc nghiện các
chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình
+ Xét đơn yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị
hạn chế năng lực hành vi dân sự: Điều 320 quy định thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu
cầu Toà án tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng
lực hành vi dân sự không quá ba mươi ngày, kể từ ngày Toà án thụ lý đơn yêu cầu
Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, theo đề nghị của đương sự, Toà án có
thể trưng cầu giám định sức khoẻ, bệnh tật của người bị yêu cầu tuyên bố mất
Trang 21năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự Trong thời gian
này, nếu người yêu cầu rút đơn yêu cầu thì Toà án ra quyết định đình chỉ việc xét
đơn yêu cầu
Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày ra quyết định mở phiên họp,
thẩm phán phải mở phiên họp xét đơn yêu cầu Toà án có thể chấp nhận hoặc
không chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự
hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự Trong trường hợp chấp nhận đơn yêu cầu
thì toà án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế
năng lực hành vi dân sự Trong quyết định tuyên bố một người bị hạn chế năng
lực hành vi dân sự, toà án phải quyết định người đó bị hạn chế năng lực hành vi
dân sự đối với những lĩnh vực cụ thể nào, đồng thời toà án phải quyết định người
đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và phạm vi
đại diện đối với lĩnh vực người đó bị hạn chế (Điều 321 BLTTDS)
- Thủ tục giải quyết yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên b ố một người mất năng lực hành vỉ dân sự hoặc bị hạn ch ế năng lực hành vi dân sự:
4- Yêu cầu huỷ bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân
sự hoặc bị hạn chế nãng lực hành vi dân sự: Theo quy định tại Điều 322 BLTTDS
khi người bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng
lực hành vi dân sự không còn ở trong tình trạng đã bị tuyên bố thì chính người đó
hoặc người có quyền, lợi ích liên quan hoặc cơ quan, tổ chức hữu quan có quyén
yêu cầu Toà án ra quyết định huỷ bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi
dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự Đơn yêu cầu Toà án huỷ bỏ quyết
định tuyèn bố mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân
sự phải có đủ các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 312 BLTTDS
Co quan điểm cho rằng, việc pháp luật quy định người đã bị tuyên bố mất
hoặc bị aạn chế năng lực hành vi dân sự có quyền yêu cầu huỷ bỏ quyết định
tuyên bc họ mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự là không hợp lý vì về
mặt pháp lý họ vẫn là người không có năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế
năng lực hành vi dân sự Quan điểm khác cho rằng, mặc dù về mặt pháp lý họ là
người không có năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự
nhưng tò n thực tế họ đã có khả năng nhận thức và làm chủ hành vi của mình nên
để bảo cảm quyền lợi của người bị tuyên bố mất hoặc hạn chế năng lực hành vi
dân sự thi những người liên quan không yêu cầu hủy quyết định tuyên bố một
người m ít hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự thì họ phải có quyền yêu cầu
Trang 22Ngoài ra, pháp luật quy định cơ quan, tổ chức hữu quan có quyền yêu cầu
Toà án xác năng lực hành vi dân sự của cá nhân cũng chưa được rõ ràng, cụ thể
Các cơ quan, tổ chức hữu quan là những cơ quan, tổ chức nào và trong trường hợp
nào thì họ có quyền yêu cầu Toà án xác năng lực hành vi dân sự của cá nhân
4- Việc xét đơn yêu cầu huỷ bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực
hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự: Điều 323 BLTTDS quy
định thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu toà án huỷ bỏ quyết định tuyên bố một
người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự cũng
là ba mươi ngày, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu Toà án có thể chấp nhận hoặc
không chấp nhận đơn yêu cầu huỷ bỏ quyết, định tuyên bố mất năng lực hành vi
dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự Trong trường hợp chấp nhận đơn
yêu cầu thì toà án ra quyết định huỷ bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi
dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự
2.2 2 2 Thủ tục giải quyết yêu cầu thông báo tìm kiếm ngưòi vắng mặt, tuyên b ố một người mất tích hoặc là đã chết
- Thẩm quyền giải quyết yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi
cư trú, tuyên b ố một người mất tích hoặc là đ ã chết: Theo điểm b khoản 2 Điều 35
BLTTDS, Tòa án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu thông báo tìm kiếm người
vắng mặt tại nơi cư trú, tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết là Tòa án cấp
huyện nơi cư trú cuối cùng của người bị yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng
mặt tại nơi cư trú, bị yêu cầu tuyên bố mất tích hoặc là đã chết Tuy nhiên, hiểu
như thế nào là ‘T ò a án nơi người bị yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt
tại nơi cư trú, bị yêu cầu tuyên b ố mất tích hoặc là đã chết có nơi cư trú cuối cùng”!
Ngoài ra, Điểm a khoản 2 Điều 36 BLTTDS quy định người yêu cầu thông
báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú, tuyên bố một người là mất tích có thể
yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc hoặc có trụ sở giải quyết \Tuy nhiên,
quy định này là chưa đầy đủ bởi khi đương sự yêu cầu thông báo tìm kiếm người
vắng mặt tại nơi cư trú, tuyên bố một người mất tích thì có quyền yêu cầu Tòa án
áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người vắng mặt Để áp dụng biện pháp quản
lý tài sản của người vắng mặt thì Tòa án phải xác minh được số lượng, chủng loại,
đặc điểm tài sản của người đó, việc quản lý tài sản hiện có và danh sách những
người thân thích của người đó Điều này chỉ có Tòa án nơi có tài sản mới có điều
kiện để thực hiện
Trang 23- Thủ tục giải quyết yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú:
+Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú: Điều 324 BLTTDS quy định người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Toà án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú khi người đó biệt tích trong sáu tháng liền trở lên và đồng thời có thể yêu cầu Toà án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người vắng mặt đó theo quy định của Bộ luật dân sự Đơn yêu cầu Tòa
án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú phải có đủ các nội dung như một đơn yêu cầu nói chung quy định tại khoản 2 Điều 312 BLTTDS Gửi kèm theo đơn yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú phải có chứng cứ để chứng minh là người đó biệt tích trong 6 tháng liền trở lên như: thời gian bắt đầu vắng mặt tại nơi cư trú, xác nhận của cơ quan quản lý hộ tịch, của những người sống cùng nơi cư trú trước khi vắng mặt, của người láng giềng, của
tổ dân phố về sự vắng mặt của người này Trong trường hợp có yêu cầu Tòa án
áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người vắng mặt thì phải cung cấp tài liệu về
số lượng, chủng loại, đặc điểm tài sản của người đó, việc quản lý tài sản hiện có
và danh sách những người thân thích của người đó
+ Việc xét đơn yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú: Khoản 1 Điều 325 BLTTDS quy định, thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú là hai mươi ngày, kể từ ngày Tòa án thu lý đơn yêu cầu Trong thời han xét đơn yêu cầu, thẩm phán cần đưa một hoặc một số trong những người thân thích của người bị yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú vào tham gia tố tụng để có thể xác minh các thông tin liên quan đến tài sản, sự vắng mặt của người vắng mặt tại nơi cư trú Đồng thời, khi có yêu cầu quản lý tài sản của người vắng mặt thì họ có thể sẽ là người quản lý tài sản của người vắng mặt Theo yêu cầu của đương sự, thẩm phán cũng
có thể xác minh các thông tin liên quan đến người vắng mặt tại cơ quan, tổ chức nơi người đó cư trú, làm việc hoặc có tài sản Tòa án sẽ ra' quyết định đình chỉ xét đơn yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú, nếu người yêu cầu rút đơn yêu cầu hoặc người bị yêu cầu thông báo tìm kiếm trở về và yêu cầu Tòa
án đình chỉ việc xét đơn yêu cầu
Khi hết thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, Tòa án phải ra quyết định mở phiên họp để xét đơn yêu cầu Quyết định này được gửi cho viện kiểm sát cùng cấp, người có yêu cầu và những người có liên quan Trong thời hạn mười ngày, kể
từ ngày ra quyết định mở phiên họp, thẩm phán phải mở phiên họp xét đớn yêu cầu.
Trang 24Tòa án có thể chấp nhận hoặc khổng chấp nhận đơn yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú Trong trường hợp chấp nhận đơn yêu cầu thì Tòa án ra quyết định chấp nhận đơn yêu cầu và ra thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú phải có nội dung quy định tại Điều 327 BLTTDS Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi
cư trú phải được đăng trên báo hàng ngày của trang ương trong ba số liên tiếp và phát sóng trên đài phát thanh hoặc đài truyền hình của trung ương ba lần trong ba ngày liên tiếp Theo quy định tại Điều 329 BLTTDS quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đương nhiên hết hiệu lực trong trường hợp người cần tìm kiếm trở về Chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú do người yêu cầu chịu Hậu quả về mặt tài sản của người bị tuyên bố vắng mặt được giải quyết theo quy định tại Điều 75 BLDS
- Thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên b ố m ột người mất tích:
+ Yêu cầu tuyên bố một người mất tích: khoản 1 Điều 330 BLTTDS quy định những người có quyền, lợi ích liên quan đến người biệt tích có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích khi một người biệt tích đã hai năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết Đồng thời, người yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích có thể yêu cầu Tòa án áp dụng biên pháp quản lý tài sản của người vắng mặt Đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích phải có đủ các nội dung của đon yêu cầu giải quyết việc dân sự quy định tại khoản 2 Điều 312 BLTTDS Người yêu cầu phải gửi kèm theo đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích các tài liệu, chứng cứ về thời gian người đó vắng mặt tại nơi cư trú; giấy xác nhận của cơ quan báo chí, phát thanh hoặc truyền hình về việc đã đăng, phát tin tìm người vắng
m ặt Việc giải quyết yêu cầu tuyên bố một người là mất tích không nhất thiết trước đó phải có quyết định của Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi
cư trú Trong trường hợp trước đó đã có quyết định của Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú thì phải có bản sao quyết định đó Nếu có yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người vắng mặt thì người yêu cầu tuyên bố một người mất tích phải cung cấp các chứng cứ để chứng minh tình trạng tài sản của người vắng mặt
+ Việc xét đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích: Điều 331 BLTTDS quy định, trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố một nguời mất tích, Tòa án ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu
Trang 25tuyên bố mất tích Thông báo phải có nội dung theo quy định tại Điều 327 BLTTDS Việc công bố thông báo được thực hiện theo quy định tại Điều 328 BLTTDS Tuy nhiên, nhận thức về quy định này có nhiều quan điểm khác nhau Quan điểm thứ nhất cho rằng thủ tục thực hiện việc thông báo phải tuân theo thủ tục thông báo tìm người vắng mặt, có nghĩa Tòa án phải mở phiên họp để ra quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt, sau đó sẽ mở phiên họp giải quyết yêu cầu tuyên bố mất tích Quan điểm thứ hai cho rằng Tòa án không phải mở phiên họp để ra quyết định thông báo tìm người vắng mặt mà việc thông báo chỉ là một trong các biện pháp để Tòa án thu thập chứng cứ nhưng đây là biện pháp bắt buộc Tuy nhiên, Tòa án chỉ ra quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt khi đương sự có yêu cầu.
Thời hạn thông báo là bốn tháng, kể từ ngày đăng phát thông báo lần đầu tiên Trong thời hạn công bố, niêm yết thông báo, nếu người yêu cầu rút đơn yêu cầu hoặc người bị yêu cầu tuyên bố mất tích trở về yêu cẩu Tòa án đình chỉ việc xét đơn yêu cầu thì Tòa án ra quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích
Theo Điều 332 BLTTDS, trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày hết thời hạn công bố thông báo Tòa án phải mở phiên họp xét đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích Tòa án có thể chấp nhận đơn yêu cầu nếu hết thời hạn thông báo
mà không có tin tức của người này hoặc không chấp nhận đơn yêu cầu, nếu có tin
tức xác thực là người đó còn sống hoặc đã trở về Nếu chấp nhận đơn yêu cầu thì Tòa án ra quyết định tuyên bố mất tích; trường hợp có yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích và được chấp nhận thì trong quyết định Tòa án còn phải quyết định áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người đó theo quy định của BLDS
Trước khi BLTTDS ra đời, trong suốt một thời gian dài căn cứ vào hướng dẫn tại Nghị quyết số 03/HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TANDTC ngày 19/10/1990, các Toà án đã vận dụng để thụ lý giải quyết các yêu cầu xác định một công dân mất tích và xin ly hôn với người đó trong cùng một vụ án Nay theo BLTTDS thì yêu cầu tuyên bố một công dân mất tích được giải quyết theo thủ tục độc lập là thủ tục giải quyết việc dân sự Còn yêu cầu ly hôn được giải quyết theo thủ tục giải quyết vụ án dân sự Do vậy, các yêu cầu xác định một công dân mất tích và xin ly hôn với người đó không được giải quyết trong cùng một vụ việc Đương sự phải yêu cầu Toà án tuyên bố người chồng (hoặc vợ) của mình mất tích trước và phải chờ sau khi quyết định tuyên bố mất tích của Toà án có hiệu lực
Trang 26pháp luật mới có thể yêu cầu Toà án thụ lý yêu cầu ly hôn với người mất tích Như vậy, việc vận dụng các quy định về thủ tục giải quyết việc dân sự theo hướng này
dường như đã gây khó khăn hơn cho đương sự trong việc yêu cầu xác định vợ
hoặc chồng mình mất tích và xin ly hôn với người mất tích, thời gian giải quyết các yêu cầu rõ ràng bị kéo dài hơn so với các quy định trước khi có BLTTDS
- Thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên b ố một người là đã chết:
+ Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết: Điều 335 BLTTDS quy định người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố một người là
đã chết theo quy định của BLDS Để xác định một người là đã chết không nhất thiết phải qua thủ tục xác nhận một người mất tích Đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố một người là đã chết được thực hiện tương tự như trường hợp yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích theo quy định tại Điều 312 BLTTDS Người yêu cầu phải gửi kèm theo đan yêu cầu tuyên bố một người đã chết các tài liệu, chứng cứ
về thời gian người đó vắng mặt tại nơi cư trú; giấy xác nhận của cơ quan báo chí, phát thanh hoặc truyền hình về việc đăng, phát tin tìm người vắng mặt; giấy tờ xác nhận việc người đó có mặt trong các sự kiện thiên tai, hỏa hoạn, chiến tranh; quyết định của Tòa án về việc tuyên bố người đó là mất tích
+ Việc xét đơn yêu cầu tuyên bố một người là đã chết: Theo khoản 1 Điều
336 BLTTDS, thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu tuyên bố một người là đã chết không quá ba mươi ngày, kể từ ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu BLTTDS không quy định về thủ tục thông báo tìm kiếm người trên các phương tiện thông tin đại chúng trong trường hợp giải quyết yêu cầu tuyên bố một người là đã chết Tuy nhiên, cc quan điểm cho rằng khi giải quyết yêu cầu này bắt buộc phải thông báo tìm kiếm người vắng mặt trên các phương tiện thông tin đại chúng vì xuất phát từ
ý nghĩa của việc thông báo tìm kiếm, nên nó là thủ tục bắt buộc khi giải quyết yêu cầu tuyêi bố một người là mất tích Vì vậy, đương nhiên khi giải quyết yêu cầu tuyên bê một người là đã chết mà chưa qua thủ tục tuyên bố người đó mất tích (đối với :ác trường hợp theo điểm b, c, d khoản 1 Điều 81 BLDS) thì thông báo tìm kiếrr cũng là thủ tục bắt buộc Đối với trường hợp người bị tuyên bố mất tích, nhưng S2U ba năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luậ mà vẫn không có tin tức là người đó còn sống (điểm a khoản 1 Điều 81 BLDS) Vi có yêu cầu tuyên bố người đó là đã chết thì vẫn phải tiến hành thủ tục thông bá} tìm kiếm Trong khoảng thời gian 3 năm đó cũng có thể người bị tuyên
bố mất tch đã xuất hiện nhưng họ và những người liên quan không yêu cầu hủy quyết địth tuyên bố mất tích của Tòa án Cho nên, để đảm bảo tính chính xác của
Trang 27quyết định tuyên bố người đó đã chết, Tòa án phải xác định một lần nữa về tin tức
của họ bằng việc thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng
Việc xác minh tin tức của người bị yêu cầu tuyên bố đã chết và việc đình
chỉ việc xét đơn yêu cầu hay chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người là đã chết
được thực hiện tương tự như ờ thủ tục xét đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố một người
mất tích Trong trường hợp chấp nhận đơn yêu cầu thì Tòa án ra quyết định tuyên
bố một người là đã chết Trong quyết định này, Tòa án phải xác định ngày chết
của người đó và hậu quả pháp lý của việc tuyên bố một người là đã chết theo quy
định của BLDS Khi quyết định tuyên bố một người là đã chết có hiệu lực pháp
luật, thì các quan hệ về nhân thân, hôn nhân gia đình được giải quyết như đối với
những người đã chết; tài sản của người bị tuyên bố là đã chết được giải quyết theo
pháp luật thừa kế
- Thủ tục giải quyết yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên b ố một người mất tích hoặc là đã chết
+ Yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết:
Điều 333 và Điều 338 BLTTDS quy định người bị tuyên bố mất tích hoặc là đã
chết hoặc người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án đã ra quyết
định tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết hủy bỏ quyết định tuyên bố một
người mất tích hoặc là đã chết Đơn yêu cầu Tòa án hủy bỏ quyết định một người
là mất tích hoặc là đã chết có nội dung quy định tại Điều 312 BLTTDS Người có
đơn yêu cầu phải gửi kèm theo đơn là quyết định tuyên bố một người mất tích
hoặc là đã chết của Toà án và chứng cứ để chứng minh người bị tuyên bố mất tích
hoặc là đã chết trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống
Tuy nhiên, nếu người đã bị tuyên bố là đã chết có quyền yêu cầu hủy quyết
định tuyên bố họ đã chết là không hợp lý bởi khi họ bị tuyên bố là đã chết, thì kể
từ thời điểm quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật năng lực chủ thể của họ
đã chấm dứt Nếu họ trở về hoặc có tin tức xác thực họ còn sống vẫn cần phải xác
định lại
Ngoài ra, BLTTDS chỉ quy định quyền yêu cầu tuyên bố một người là đã
chết cho những người có quyền, lợi ích liên quan, còn cơ quan, tổ chức hữu quan
không có quyền yêu cầu Tuy nhiên, sự kiện một người bị tuyên bố là đã chết trở
về không chỉ ảnh hưởng đến quyền, lợi ích, nghĩa vụ của những người có liên
quan với người trở về mà còn ảnh hưởng đến nghĩa vụ của người bị tuyên bố là đã
chết với người khác, với xã hội Ví dụ: người bị tuyên bố là đã chết trở về phải
Trang 28thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội
mà họ đã gây ra, phải thực hiện nghĩa vụ thi hành án Nhưng thông thường, nếu người bị tuyên bố là đã chết trở về là người phải thực hiện nghĩa vụ thì họ thường
có tâm lý lẩn trốn pháp luật nên họ và những người thân thích của họ sẽ không yêu cầu Tòa án hủy quyết định tuyên bố đã chết Để bảo vệ lợi ích chung của xã hội, theo chúng tôi trong trường hợp này các cơ quan, tổ chức hữu quan như Uỷ ban nhân dân nơi cư trú của người đó, cơ quan tiến hành tố tụng hình sự phải có quyền yêu cầu hủy quyết định tuyên bố người đó là đã chết trong trường hợp người đó đang bị khởi tố về hình sự
+ Việc xét đơn yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết: Điều 334 và 339 BLTTDS quy định,’ trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết, Tòa án phải mở phiên họp để xét đơn yêu cầu Trong trường hợp, không có căn cứ để chứng minh người đó là còn sống hoặc đã trở về thì Tòa
án không chấp nhận đơn yêu cầu Nếu có tin tức xác thực là người đó còn sống hoặc đã trở về thì Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu và Toà án ra quyết định huỷ bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết; trong đó Toà án phải quyết định về hậu quả pháp lý của việc huỷ bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết
Theo quy định của BLDS, khi quyết đinh hủy bỏ quyết định tuyên bố một
người mất tích có hiệu lực pháp luật thì trong trường hợp vợ hoặc chồng của người
bị tuyên bố mất tích đã được ly hôn thì dù người bị tuyên bố mất tích trở về hoặc
có tin tức xác thực là người đó còn sống, quyết định cho ly hôn vãn có hiệu lực pháp luật Về tài sản, người bị tuyên bố mất tích trở về được nhận lại tài sản do người quản lý tài sản do người quản lý tài sản chuyển giao sau khi đã thanh toán chi phí quản lý Khi quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết
có hiệu lực phấp luật thì quan hệ nhân thân của người bị tuyên bố là đã chết được khôi phục, trừ trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố là đã chết đã được Tòa án cho ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 78 BLDS thì quyết định cho ly hôn vẫn có hiệu lực pháp luật; vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố là đã chết đã kết hôn với người khác thì việc kết hôn đó vẫn có hiệu lực pháp luật, v ề tài sản, người bị tuyên bố là đã chết mà còn sống có quyền yêu cầu những người nhận tài sản thừa kế trả lại giá trị tài sản hiện còn Trong trường hợp người thừa kế của người bị tuyên bố là đã chết biết người này vẫn còn sống mà cố tình dấu giếm
Trang 29nhằm hưởng tài sản thừa kế thì người đó phải hoàn trả toàn bộ tài sản đã nhận kể
cả hoa lợi lợi tức, nếu gậy thiệt hại thì phải bổi thường Tuy nhiên, việc giải quyết hậu quả về tài sản khi người bị tuyên bố mất tích hoặc đã chết trở về sẽ được giải quyết cùng yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích hoặc đã chết hay phải tách riêng giải quyết trong vụ việc khác là vấn đề còn có các quan điểm khác nhau Có quan điểm cho rằng, theo quy định của BLDS thì khi hủy quyết định tuyên bố một người mất tích hoặc đã chết thì phải giải quyết các hậu quả về nhân thân và tài sản liên quan đến người đó nên Tòa án phải giải quyết và quyết định các vấn đề về tài sản liên quan đến họ trong quyết định hủy quyết định tuyên
bố một người mất tích hoặc đã chết Quan điểm khác lại cho rằng BLDS chỉ quy định về mặt nội dung là khi hủy quyết định tuyên bố một người mất tích hoặc là
đã chết thì phải giải quyết các hậu quả về nhân thân và tài sản liên quan đến người
đó Còn thủ tục giải quyết hậu quả đó như thế nào do pháp luật tố tụng dân sự quy định Vì vậy, nếu các đữơng sự không tranh chấp về việc giải quyết hậu quả tài sản thì Tòa án sẽ quyết định luôn trong quyết định hủy quyết định tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết Còn nếu các đương sự không thỏa thuận được mà tranh chấp về việc giải quyết hậu quả về tài sản thì trong quyết định hủy quyết định tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết Tòa án chỉ tuyên cho người bị tuyên bố mất tích hoặc là đã chết mà còn sống có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết Khi đương sự khởi kiện về việc giải quyết hậu quả về tài sản Tòa án sẽ thụ lý giải quyết theo thủ tục giải quyết vụ án dân sự
2.22.3 Thủ tục giải quyết các yêu cầu về hôn nhân và gia đình
BLTDS không có các quy định cụ thể về thủ tục giải quyết các yêu cầu về hôn nhân và gia đình trong khi trên thực tế những loại việc này chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số các loại việc dân sự phát sinh tại Toà án Trước khi có BLTTDS, tất
cả các vụ việc về hôn nhân và gia đình dù có tranh chấp hay không có tranh chấp đều được giải quyết theo một thủ tục chung thống nhất Nay theo BLTTDS thủ tục giải quyết yêu cầu về hôn nhân và gia đình được tách ra và khác hoàn toàn so với thủ tục giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình Trong khi đó, do tính chất
và đặc điểm của những việc phát sinh từ quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình, trong quá trình giải quyết có thể có sự chuyển hóa từ việc dân sự sang vụ án dân
sự hoặc ngược lại và khi đó sẽ áp dụng thủ tục nào để giải quyết là những vấn đề
vô cùng khó khăn cho các thẩm phán khi giải quyết các yêu cầu về hôn nhân và gia đình Những vướng mắc đó cụ thể như sau:
Trang 30- Vê thủ tục giải quyết việc ìiuỷ việc kết hôn trái pháp luật:
Yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật được đặt ra trong trường họp vợ chồng chung sống với nhau có đăng ký kết hôn nhưng vi phạm một trong các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 9 LHN & GĐ đó là điều kiện về độ tuổi, điều kiện về sự tự nguyện, các điều cấm kết hôn Khi một hoặc các bên yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật thì Toà án thụ lý và giải quyết theo thủ tục giải quyết việc dân sự
Vấn đề đặt ra là khi đương sự yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật đồng thời có tranh chấp về tài sản chung hoặc nuôi con, cấp dưỡng nuôi con thì hai quan hệ này có được giải quyết trong việc hủy việc kết hôn trái pháp luật hay không hay phải tách ra để giải quyết bằng việc dân sự và vụ án dân sự riêng biệt? Nếu yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật và yêu cầu giải quyết tranh chấp tài sản chung, nuôi con được giải quyết theo hai thủ tục khác nhau thì Toà án có thể đổng thời thụ lý và giải quyết song song hai vụ việc hay không? Phải chăng đương
sự phải chờ Toà án giải quyết xong yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật mới có thể làm đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp về tài sản, nuôi con Điều này thực sự gây phiền phức cho người dân và lãng phí thời gian, tiền của Nhà nước và của các đương sự và trái với mục đích của việc xây dựng thủ tục giải quyết việc dân sự
- Về thủ tục giải quyết việc thuận tình ly hôn:
Theo quy định tại Điều 90 LHN & GĐ thì thuận tình ly hôn là việc cả hai
vợ chổng cùng có yêu cầu chấm dứt quan hệ hôn nhân trong đó thỏa thuận được
về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con Khi cả hai vợ chồng yêu cầu thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản thì theo khoản 2 Điều 28 BLTTDS Toà án thụ lý và giải quyết theo thủ tục giải quyết việc dân sự Tuy nhiên, nếu sau khi thụ lý yêu cầu thuận tình ly hôn, hai vợ chồng lại không
thoả thuận được với nhau về một trong ba mối quan hệ trên, có thể có sự thay đổi
một phần hoặc toàn bộ nội dung cần giải quyết trong vụ việc Trong trường hợp này, các đương sự đã thay đổi phương thức giải quyết mâu thuẫn từ thỏa thuận sang tranh chấp Đây là một vấn đề phức tạp không được dự liệu trong các quy định củaBLTTDS Tại Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP hướng dãn thi hành một
số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung của BLTTDS" tại mục I, điểm 7.2, quy định: Trường hợp các bên yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 28 của BLTTDS nhưng sau khi Tòa án thụ lý và trong quá trình giải quyết việc dân sự các bên có
Trang 31sự thay đổi về thỏa thuận thì cẩn phân biệt như sau:
a Nếu các bên thay đổi sự thỏa thuận (một phần hoặc toàn bộ) bằng một sự thỏa thuận mới thì Tòa án tiếp tục giải quyết việc dân sự theo Ihủ tục chung
b Nếu một hoặc các bên thay đổi sự thỏa thuận (một phần hoặc toàn bộ) nhưng không thỏa thuận được về vấn đề đã thỏa thuận trước đó và có tranh chấp, thì được coi như đương sự rút đơn yêu cầu Tòa án căn cứ vào Điều 311 và điểm c khoản 1 Điều 192 BLTTDS ra quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự Trong trường hợp này, Tòa án cần giải thích cho đương sự biết nếu họ vẫn có yêu cầu Tòa án giải quyết, thì phải khởi kiên vụ án theo thủ tục chung
Việc hướng dãn này của TANDTC chưa thực sự hợp lý, bởi vì để ra quyết định đình chỉ giải quyết việc thuận tình ly hôn, Tòa án phải giải thích để đương sự rút đơn yêu cầu đồng thời hướng dẫn họ khởi kiện vụ án nếu có yêu cầu Đây là một việc làm không đơn giản đối với các đương sự khó tính Người dân không thể hiểu nổi tại sao chỉ mỗi yêu cầu chấm dứt quan hệ hôn nhân phải làm nhiều thủ tục lòng vòng như vậy Chưa kể việc mất tiền tạm ứng án phí một lần nữa đối với thủ tục khởi kiện mới không phải lúc nào người dân cũng chấp nhận, v ề phía đương sự nếu họ kiên quyết không rút đơn thì Tòa án cũng không thể đình chỉ giải quyết việc thuận tình ly hôn được Ngoài ra, trong trường hợp này đương sự chỉ thay đổi ycu cầu chứ không rút toàn bộ ycu cầu, đối tượng của vụ việc mà Toà án đang xem xét không thể bị triệt tiêu, do vậy, không thể làm phức tạp thêm thủ tục bằng cách ra quyết định đình chỉ việc giải quyết việc dân sự và buộc đương sự khởi kiện lại từ đẩu theo thủ tục giải quyết vụ án dân sự Bên cạnh đó, theo quy định tại Điều 311 BLTTDS thì về nguyên tắc quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự vẫn có thể bị kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm như quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự Vậy nếu quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự bị kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm thì các đương sự có thể thực hiện quyền khởi kiện vụ án ngay không hay phải chờ Toằ án cấp phúc thẩm giải quyết xong kháng cáo, kháng nghị mới có thể thực hiện quyền khởi kiện của mình?
Tương tự như trên, đối với trường hợp các bên yêu cầu công nhận thuận tình
ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn nhưng lại có tranh chấp với người thứ ba
về khoản nợ chung của vợ chồng nếu Toà án tách ra để giải quyết bằng hai thủ tục riêng biệt là việc dân sự về yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài
Trang 32sản khi ly hôn và vụ án dân sự về đòi nợ thì cũng không đảm bảo được quyền, lợi ích hợp pháp của chủ nợ.
- Thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận sự thỏa thuận về thay đổi người trực
tiếp nuôi con sau khi ly hôn
Đày là một yêu cầu phát sinh từ hậu quả của việc ly hôn mà trong bản án ly hôn, tòa án có giải quyết cả vấn đề nuôi con Điều này có nghĩa trong bản án ly hôn, quyền nuôi con thuộc về người cha hay người mẹ đã được tòa án xác định cụ thể Tuy nhiên, sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, người cha, người mẹ
lại thỏa thuận lại về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con nên họ làm đơn đến tòa
án yêu cầu tòa án công nhận sự thỏa thuận đó Quyền yêu cầu tòa án công nhận sự thỏa thuận của các bên đã ly hôn về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con là hoàn toàn chính đáng bởi lẽ việc ly hôn chỉ chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa vợ và chồng, còn quan hệ giữa cha, mẹ và con vẫn tồn tại, không thể chấm dứt Sau khi
ly hôn, người không trực tiếp nuôi con vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc con đã thành niên nhưng bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động, không thể tự nuôi sống mình Nếu sau này điều kiện kinh tế, sinh hoạt của người cha, người mẹ thay đổi, mặt khác xuất phát từ quyền lợi và nguyện vọng của người con, người cha, người
mẹ đã ly hôn có quyền thỏa thuận với nhau về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con
Mặc dù trong BLTTDS có ghi nhận yêu cầu công nhận sự thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án nhưng BLTTDS lại không quy định cụ thể về thủ tục tố tụng để giải quyết yêu cầu này Vì vậy trong thực tiễn tố tụng, các thẩm phán rất lúng túng vì chưa có những cơ sở pháp lý cụ thể để giải quyết Hiện tại, thủ tục giải quyết loại việc này trước hết được áp dụng các quy định chung của BLTTDS về thủ tục giải quyết việc dân sự
- Thủ tục giải quyết yêu cầu hạn c h ế quyền của cha, mẹ đối với con chưa
thành niên hoặc quyền thăm nom con chung sau khi ly hôn
Khi người cha, người mẹ có một trong những hành vi trái pháp luật được quy định tại Điều 41 LHN & GĐ thì người cha, người mẹ, người thân thích của con chưa thành niên, cơ quan dân số, gia đình và trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ có
Trang 33quyền yêu cầu tòa án có thẩm quyền hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.
Khi người đang trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn bị người đến thăm con có hành vi nhằm cản trở, phá hoại hạnh phúc mới của bên trực tiếp nuôi con hoặc có những hành vi nhằm gây ảnh hưởng xấu đến việc trồng nom, chăm sóc nuôi dưỡng con thì họ có quyền yêu cầu tòa án hạn chế quyền của người đến thăm nom con
Trong BLTTDS cũng thừa nhận hai loại việc này thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án tại khoản 4 Điều 28 BLTTDS Tuy nhiên, cũng giống như việc công nhận sự thỏa thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con, BLTTDS chỉ quy định loại việc này thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án chứ không quy định cụ thể thủ tục giải quyết loại việc này Hiện tại, thủ tục giải quyết yêu cầu hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên hoặc quyền thăm nom con trước hết được áp dụng các quy định chung của BLTTDS về thủ tục giải quyết việc dân sự
- Thủ tục giải quyết yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi
Cũng giống như các yêu cầu khác về hôn nhân và gia đình BLTTDS chỉ quy định yếu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà
án mà không quy định cụ thể về thủ tục giải quyết yêu cầu này Tuy nhiên, có phải tất cả các yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi đều giải quyết theo thủ tục giải quyết việc dân sự hay không? Trong trường hợp cha mẹ nuôi và con nuôi đã thành niên tự nguyện thỏa thuận chấm dứt việc nuôi con nuôi thì Toà án có thụ lý
và giải quyết theo thủ tục giải quyết việc dân sự không? Hoặc trong trường hợp một bên cha mẹ nuôi, người giám hộ của người con nuôi chưa thành niên hoặc con nuôi đã thành niên yêu cầu Toà án chấm dứt việc nuôi con nuôi còn bên kia không yêu cầu thì Toà án sẽ thụ lý và giải quyết theo thủ tục việc dân sự hay thủ tục giải quyết vụ án dân sự? Nếu áp dụng thủ tục giải quyết việc dân sự thì phải đảm bảo loại việc đó không có tranh chấp Nhưng nếu áp dụng thủ tục giải quyết
vụ án dân sự thì loại vụ án này lại không được liệt kê thuộc thẩm quyền giải quyết
của tòa án theo quy định tại Điều 27 BLTTDS
Như vậy, đã đến lúc TANDTC phải có văn bản hướng dẫn cụ thể về thủ tục giải quyết các việc về hôn nhân và gia đình để tạo ra sự thống nhất cho các tòa trong việc áp dụng pháp luật giải quyết các loại việc này
Trang 342.3 Yêu cầ u , n ộ i d u n g v à g iả i p h á p h o à n th iệ n p h á p lu ậ t tô
tụ n g d ân sự v ề v iệ c d â n sự và th ủ tụ c g iả i q u y ế t v iê c d â n sự
2.3.1 Yêu c ầ u c ủ a v iệ c h o à n th iê n p h á p lu ậ t tô tu n g d â n sư vê viê c d â n sư và th ủ tu c g i ả i q u y ế t viêc d â n s ư
Trên cơ sở việc nghiên cứu những vấn đề lý luận về việc dân sự và thủ tục
giải quyết việc dân sự, pháp luật hiện hành và thực tiễn thực hiện pháp luật về việc
dân sự và thủ tục giải quyết việc dân sự trong những năm gần đây, cũng như qua
tham khảo pháp luật một số nước trên thế giới cho thấy việc hoàn thiện pháp luật
và thực hiện tốt hơn nữa pháp luật về việc dân sự và thủ tục giải quyết việc dân sự
là nhu cầu tất yếu khách quan của việc phát triển kinh tế - xã hội, quá trình xây
dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN và thực hiện nghị quyết của Đảng
về chiến lược cải cách tư pháp Vì vậy, việc hoàn thiện pháp luật về việc dân sự và
thủ tục giải quyết việc dân sự phải đáp ứng được các yêu cầu cụ thể sau:
- Khắc phục được những điểm bất cập của pháp luật hiện hành về việc dân
sự và thủ tục giải quyết việc dân sự, cụ thể: các quy định của pháp luật về việc dân
sự và thủ tục giải quyết việc dân sự còn khái quát, chưa cụ thể, chưa có tính hệ
thống Ngoài quy định của BLTTDS, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chưa ban
hành vãn bản hướng dẫn nên nhiều vấn đề còn bỏ ngỏ chưa có quy định gây
không ít khó khăn cho quá trình giải quyết việc dân sự như chưa có quy định về
thời hạn và thử tục giải quyết các việc về hôn nhân và gia đinh, chưa có cơ chế
hợp lý trong việc chuyển hóa giữa thủ tục giải quyết việc dân sự sang thủ tục giải
quyết việc dân sự Nhiều vấn đề BLTTDS quy định không rõ ràng cụ thể như
đương sự trong việc dân sự, thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm việc dân sự, hòa giải
việc dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự
- Khắc phục được những hạn chế cơ bản của thực tiễn áp dụng các quy định
của pháp luật hiện hành về việc dân sự và thủ tục giải quyết /việc dân sự như chưa
tuân thủ triệt để pháp luật tố tụng dân sự về việc dân sự và thủ tục giải quyết việc
dân sự, nhầm lẫn giữa việc dân sự và vụ án dân sự dẫn đến áp dụng sai luật tố tụng
dân sự, nhiều trường hợp Toà án xác định sai đương sự dẫn đến việc triệu tập thiếu
hoặc triệu tập cả những người không phải là đương sự tham gia vào quá trình giải
quyết việc dân sự, đã làm cho quá trình giải quyết việc không đúng đắn, quá trình
giải quyết việc bị kéo dài, quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự không được tôn
trọng và bảo vệ
Trang 35- Đáp ứng hơn nữa yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam
XHCN là tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự và bảo vệ kịp thời các quyền
và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức
- Kịp thời thể chế hóa nghị quyết của Đảng về "Chiến lược cải cách tư
pháp" đó là xây dựng một cơ chế xét xử linh hoạt, đơn giản, gọn nhẹ; giải quyết
các yêu cầu của đương sự một cách nhanh chóng và bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của các cá nhân, cơ quuan, tổ chức
- Đáp ứng sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN trong
điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế là thủ tục tố tụng cần phải đảm bảo tính khách
quan, công khai, minh bạch, nhanh gọn và chặt chẽ
2.3.2 N h ữ n g giải p h á p nhằm hoàn thiện p h á p lu ậ t t ố tụng dân sự về việc dân sự và th ủ tục giải quyết việc dân sự
2.3.2.1 Về quy định chung về việc dãn sự và thủ tục giải quyết việc dân sự
- Về những loại việc áp dụng thủ tục giải quyết việc dân sự: Cần xác định
các loại việc dân sự dựa vào một trong các tiêu chí sau:
+ Các đương sự không có tranh chấp về quyền, lợi ích hợp pháp do các
đương sự đã tự thoả thuận được với nhau về các tình tiết của sự việc cũng như
những quyền và lợi ích giữa các đương sự và họ cùng yêu cầu Toà án công nhận
sự thỏa thuận đó Do đó, trong BLTTDS cần bổ sung thêm một số loại việc dân sự
như yêu cầu công nhận sự thỏa thuận chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa người con
nuôi đã thành niên và cha mẹ nuôi; yêu cầu công nhận sự thỏa thuận chấm dứt
quan hệ hôn nhân trái pháp luật và thỏa thuận được về chia tài sản và nuôi con,
yêu cầu công nhận sự thỏa thuận về quyền, lợi ích hợp pháp phát sinh từ quan hệ
pháp luật dân sự, kinh doanh thưong mại và lao động
+ Các đương sự không có tranh chấp về quyền và lợi ích hợp pháp nhưng đo
tính chất đặc thù của loại việc và chỉ có một bên đương sự yêu cầu Tòa án xác
định một sự kiện pháp lý, công nhận hoặc không công nhận quyền về dân sự, hôn
nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động Do đó, trong BLTTDS cần
bổ sung thêm loại việc dân sự là yêu cầu xác nhận cha mẹ cho con hoặc xác định
con cho cha mẹ, yêu cầu tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng
- Về thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự: cần hướng dẫn cụ thể những
loại việc dân sự không áp dụng thời hiệu yêu cầu đó là các yêu cầu liên quan
quyền nhân thân của cá nhân Cụ thể:
Trang 364- Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế
năng lực hành vi dân sự, -huỷ bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành
vi dân sự hoặc quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự;
4- Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó;
4- Yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc đã chết, huỷ bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích hoặc đã chết;
+Yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật;
+ Yêu cầu hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên hoặc quyền thăm nom con sau khi ly hôn;
+ Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi;
+ Yêu cầu xác nhận cha mẹ cho con hoặc xác nhận con cho cha mẹ
+ Yêu cẩu tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng;
+ Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn;+ Yêu cầu công nhận sự thỏa thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con;+ Yêu cầu công nhận sự thỏa thuận chấm dứt quan hệ hôn nhân trái pháp luật và thỏa thuận được về chia tài sản và nuôi con;
+ Yêu cầu công nhân sư thỏa thuân chấm dứt viêc nuôi con nuôi giữa người con nuôi đã thành niên và cha mẹ nuôi;
- V ề đương sự trong việc dân sự:
+ Cần bổ sung vào Mục 1 Chương VI phần về đương sự trong việc dân sự
Theo đó, đương sự trong việc dân sự bao gồm người yêu cầu và người có liên quan đến yêu cầu Người yêu cầu trong việc dân sự là người đưa ra yêu cầu Tòa án công nhận hay không công nhận một sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự, kinh doanh, thương mại và lao động, công nhận hoặc không công nhận quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại
và lao động Người có liên quan trong việc dân sự là người tham gia tố tụng vào việc dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc trả lời về những vấn đề lên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ
+ Cần quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc dân sự; quyền và nghĩa vụ của người yêu cầu và người có liên quan đến yêu cầu
Trang 37- V ê người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong việc dân
sự Cần bổ sung quy định về sự tham gia tố tụng của người bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của đương sự trong việc dân sự để phù hợp với LLS năm 2006 và
PLTTTMVN năm 2003
-V ê' hòa giải trong việc dân sự: Cần hướng dẫn cụ thể những loại việc dân
sự nào Toà án được tiến hành hòa giải và những loại việc dân sự nào Toà án không
được hòa giải Cụ thể, Toà án không được hòa giải đối với các việc dân sự trừ yêu
cầu công nhận thuận tình ly hôn
- V ề việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời: Cần bổ sung vào
Chương VIII quy định việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm
thời trong quá trình giải quyết tất cả các loại việc dân sự
- V ề thời hạn giải quyết việc dân sự: Cần quy định thời hạn giải quyết việc
về dân sự là ba mươi ngày, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu Trong thời hạn mười
lăm ngày kể từ ngày ra quyết định mở phiên họp, Toà án phải mở phiên họp để
xét đơn yêu cầu
- V ề thủ tục giải quyết việc dân sự:
+ Cần quy định cụ thể về thủ tục thụ lý việc dân sự và việc chuẩn bị giải
quyết việc dân sự Cụ thể:
Về thủ tục thu lý viêc dân sư: sau khi nhận đươc đơn yêu cầu toà án sẽ
kiểm tra đơn yêu cầu về cả nội dung và hình thức Toà án phải kiểm tra các điều
kiện về nội dung yêu cầu như quyền yêu cầu của người có yêu cầu, năng lực hành
vi tố tụng dân sự của họ, thời hiệu yêu cẩu, thẩm quyền giải quyết yêu cầu, yêu
cầu đó đã được toà án xem xét, giải quyết hay chưa, yêu cầu giải quyết việc dân
sự có phải do cơ quan liên quan xem xét giải quyết trước hay không? Trong
trường hợp, nội dung đơn yêu cầu vi phạm các điều kiện trên toà án sẽ ra quyết
định trả lại đơn yêu cầu Các đương sự cũng có quyền khiếu nại với chánh án toà
án về việc trả lại đơn yêu cầu Trong trường hợp nội dung đơn yêu cầu thuộc thẩm
quyền giải quyết của toà án khác, toà án sẽ chuyển đơn yêu cầu đến toà án có
thẩm quyền giải quyết Cùng với việc kiểm tra các điều kiện về nội dung đơn yêu
cầu, toà án đồng thời phải kiểm tra hình thức đơn yêu cầu Nếu hình thức đơn yêu
cầu chưa rõ ràng, đầy đủ toà án sẽ yêu cầu người yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn
theo quy định tại Điều 312 BLTTDS Trong trường hợp, đơn yêu cầu đã đúng và
đầy đủ các điều kiện về nội dung và hình thức thì toà án sẽ xác định tiền tạm ứng
lệ phí và thông báo cho người có yêu cầu phải nộp số tiền đó tại cơ quan thi hành
Trang 38án cùng cấp, trừ trường hợp được miễn lệ phí hoặc miễn nộp tiền tạm ứng lệ phí Khi người yêu cầu xuất trình biên lai nộp tạm ứng lệ phí, toà án sẽ ra quyết định thụ lý đơn yêu cầu Nếu người yêu cầu được miễn nộp tiền tạm ứng lệ phí hoặc miễn nộp lệ phí thì toà án sẽ thụ lý đơn yêu cầu, kể từ ngày chấp nhận đơn yêu cầu.
Về việc chuẩn bị giải quyết việc dân sự: Sau khi ra quyết định thụ lý đơn yêu cầu, chánh án toà án phân công thẩm phán hoặc hội đồng phụ trách việc giải quyết đơn yêu cầu Thẩm phán phụ trách việc giải quyết đơn yêu cầu hoặc một ĩhẩm phán trong hội đồng sẽ tiến hành các công việc như thông báo việc thụ lý; nghiên cứu đơn yêu cầu'và các chứng cứ, tài liệu do đương sự gửi kèm theo; yêu cầu các đương sự giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ; thực hiện một hoặc một số biện pháp thu thập chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều 85 BLTTDS theo yêu cầu các đương sự; bảo quản, nghiên cứu, đánh giá, sử dụng chứng cứ.v.v Sau khi chuẩn bị đủ điều kiện đưa việc dân sự ra giải quyết thì toà án ra quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự Trong quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự phải xác định rõ thời gian, địa điểm mở phiên họp, họ, tên những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng Sau khi ra quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự toà án phải gửi ngay quyết định này cho người có yêu cầu, người có liên quan, viện kiểm sát cùng cấp để viện kiểm sát nghiên cứu tham gia phiên họp Thời hạn tối đa để viện kiểm sát nghiên cứu hồ sơ là bảy ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ Trong quá trình chuẩn bị giải quyết việc dân
sự, tuỳ từng trường hợp khi có các căn cứ do pháp luật quy định thẩm phán sẽ ra các quyết định khác nhau như tạm đình chỉ, đình chỉ việc giải quyết việc dân sự,
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.v.v
+ Cần quy định cơ chế chuyển tiếp giữa thủ tục giải quyết việc dân sự với thủ tục giải quyết vụ án dân sự, theo đó trong quá trình Toà án giải quyết việc dân
sự mà một hoặc các bên thay đổi sự thoả thuận theo hướng có tranh chấp thì Toà
án sơ thẩm sẽ yêu cầu đương sự nộp bổ sung tiền tạm ứng án phí theo vụ án dân
sự và sau đó ra quyết định áp dụng thủ tục giải quyết vụ án dân sự để giải quyết
yêu cầu có tranh chấp Sau khi ra quyết định này, Thẩm phán căn cứ vào các quy định của BLTTDS để tiếp tục tiến hành các thủ tục xác minh, thu thập chứng cứ đối với yêu cầu có tranh chấp, nếu hoà giải không thành thì Thẩm phán ra quyêt định đưa vụ án ra xét xử tại phiên toà sơ thẩm
+ Cần quy định quyết định giải quyết việc dân sự không bị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm để phù hợp với mục đích của việc xây dựng thủ tục giải
Trang 39quyết việc dân sự là đơn giản hóa thủ tục tố tụng và giải quyết nhanh chóng, chính xác việc dân sự.
2.3.2.2 Các quy định vê thủ tục giải quyết các việc dân sự cụ thể
- Về thủ tục xác định năng lực hành vi dân sự của cá nhân:
+ Bỏ quy định người bị tuyên bố mất năng lực hành vi dàn sự hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự có quyền yêu cầu Toà án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự
+ Cần quy định trong trường hợp cá nhân không còn trong tình trạng mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì người đại diện của họ, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, cơ quan về dân số, gia đình, trẻ em có quyền, nghĩa vụ yêu cầu Toà án xác định lại năng, lực hành vi dân sự của cá nhân
+ Cần sửa đổi lại các quy định tại Điều 320, Điều 321 và Điều 323 BLTTDS theo hướng dẫn chiếu việc áp dụng các quy định về thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, những người tham gia phiên họp, quyết định giải quyết yêu cầu V V
sang Điều 313, Điều 315 BLTTDS
- Vê thủ tục giải quyết yêu cẩu thông báo tìm kiếm người vắng mặt, tuyên
b ố một người mất tích hoặc là đã chết:
+ Về thẩm quyền giải quyết yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt,
tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết: Cần sửa đồi điểm b khoản 2 Điều 35 BLTTDS theo hướng Toà án nơi cư trú cuối cùng của người bị yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú, bị yêu cầu tuyên bố mất tích hoặc là đã chết trước khi người đó biệt tích hoặc trước khi không có tin tức xác thực về việc
người đó còn sống có thẩm quyền giải quyết yêu cầu thông báo tìm kiếm người
vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó, yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết
Ngoài ra, bổ sung vào điểm a khoản 2 Điều 36 BLTTDS quy định đối với yêu cầu về dân sự quy định tại khoản 2, 3 Điều 26 BLTTDS thì người yêu cầu có thể yêu cầu Toà án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc có tài sản giải quyết
+ Cần hướng dẫn cụ thể khi Toà án chuẩn bị xét đơn yêu cầu tuyên bố một người là mất tích thì Toà án bắt buộc phải ra quyết định thông báo tìm kiếm người
bị yêu cầu tuyên bố mất tích nhưng Toà án không phải mở phiên họp để ra quyết định đó
Trang 40+ Cần quy định trong trường hợp nếu đương sự chỉ yêu cầu xác định một người là mất tích thì Toà án giải quyết yêu cầu theo thủ tục giải quyết việc dân sự; nếu đương sự yêu cầu xác định một người mất tích và đồng thời yêu cầu xin ly hôn đối với người đó thì Toà án có thể giải quyết cả hai yêu cầu này trong cùng một vụ án và theo thủ tục giải quyết vụ án dân sự.
+ Bổ sung vào Điều 336 BLTTDS quy định trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố một người là đã chết, Toà án phải ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết Nội dung thông báo và công bố thông báo được thực hiện theo quy định tại Điều 327 và Điều 328 BLTTDS Thời hạn thông báo là 4 tháng, kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên
- V ề thủ tục giải quyết yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên b ố một người mất
tích hoặc là đã chết:
+ Bỏ quy định người bị tuyên bố là đã chết trở về hoặc có tin tức xác thực
là người đó còn sống có quyền yêu cầu Toà án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết
+ Cần quy định cơ quan, tổ chức hữu quan như ủy ban nhân dân nơi cư trú của người bị tuyên bố là đã chết, cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có quyền yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết
+ Cần hướng dẫn cụ thể việc giải quyết hậu quả về tài sản khi người bị tuyên bố là mất tích hoặc đã chết trở về Cụ thể, nếu các đương sự không tranh chấp về việc giải quyết hậu quả tài sản thì Tòa án sẽ quyết định luôn trong quyết định hủy quyết định tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết Còn nếu các đương sự không thỏa thuận được mà tranh chấp về việc giải quyết hậu quả về tài
sản thì trong quyết định hủy quyết định tuyên bố một người mất tích hoặc là đã
chết Tòa án chỉ tuyên cho người bị tuyên bố mất tích hoặc là đã chết mà còn sống
có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết Khi đương sự khởi kiện về việc giải quyết hậu quả về tài sản Tòa án sẽ thụ lý giải quyết theo thủ tục giải quyết vụ án dân sự
- V ề thủ tục giải quyết việc hủy việc kết hôn trái pháp luật: cần quy định
trong trường hợp nếu đương sự chỉ yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật hoặc yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật và đồng thời yêu cầu công nhận sự thỏa thuận về phân chia tài sản, nuôi con thì Toà án giải quyết yêu cầu theo thủ tục giải quyết việc dân sự; nếu đương sự yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật và đồng thời yêu cầu giải quyết tranh chấp tài sản chung, nuôi con thì Toà án có thể giải