1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng dân sự việt nam và thực tiễn thực hiện tại tòa án

100 175 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 2,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có những nghĩa vụ mà đương sự phải thực hiện theo văn bản tố tụng của Tòa án như nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án chấp hành quyết định của Tòa án trong quá trình Tòa án giả

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN HỮU NAM

NGHĨA VỤ CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI TÒA ÁN

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN HỮU NAM

NGHĨA VỤ CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI TÒA ÁN

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật Dân sự và tố tụng dân sự

Mã số: 60380103

Hà Nội - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của cá nhân tôi được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và khảo sát tình hình thực tiễn dưới sự hướng

dẫn khoa học của PGS TS Trần Anh Tuấn

Các thông tin, số liệu, các luận điểm kế thừa được trích dẫn rõ ràng Kết quả nghiên cứu của luận văn là trung thực

Tác giả của luận văn

Nguyễn Hữu Nam

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài 3

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài 4

5 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài 4

6 Những đóng góp mới của luận văn 5

7 Ý nghĩa khoa học của luận văn 5

NỘI DUNG 8

Chương 1KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGHĨA VỤ CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM 8

1.1 Khái niệm, đặc điểm nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng dân sự 8

1.1.1 Khái niệm nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng dân sự 8

1.1.2 Đặc điểm của nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng dân sự 10

1.2 Cơ sở của việc quy định và thực hiện nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng dân sự……… 14

1.2.1 Cơ sở lý luận 14

1.2.2 Cơ sở thực tiễn 16

Kết luận Chương 1 19

Chương 2THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ NGHĨA VỤ CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 20

2.1 Thực trạng quy định về nghĩa vụ cung cấp chứng cứ,chứng minh cho Tòa án và gửi cho các đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của họ bản sao tài liệu, chứng cứ 20

Trang 5

2.3 Thực trạng quy định về nghĩa vụ tôn trọng Tòa án và chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên tòa 36 2.4 Thực trạng quy định về nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí, án phí,

lệ phí và chi phí tố tụng khác 38 2.5 Thực trạng quy định về xử lý hành vi vi phạm nghĩa vụ của đương sự gây cản trở hoạt động tố tụng dân sự 41 Kết luận Chương 2 44 Chương 3THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ NGHĨA VỤ TỐ TỤNG CỦA ĐƯƠNG SỰ VÀ KIẾN NGHỊ 45 3.1 Thực tiễn thực hiện các quy định về nghĩa vụ tố tụng của đương sự 45

3.1.1 Tổng quan tình hình thực hiện các quy định về nghĩa vụ tố tụng của đương sự

45 3.1.2 Những vướng mắc, bất cập cụ thể từ thực tiễn thực hiện các quy định về nghĩa

vụ tố tụng của đương sự 46

3.1.2.1 Đương sự không cung cấp chứng cứ,chứng minh và gửi cho các đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của họ bản sao tài liệu, chứng cứ 46

3.1.2.3 Đương sự không tôn trọng Tòa án, vi phạm nội quy phiên tòa 57

3.1.2.4 Đương sự không nộp tiền tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí, án phí, lệ phí và chi phí tố tụng khác 61

3.1.2.5 h ng h h n vư ng m c ất cập trong thực tiễn ử nh ng hành vi cản trở hoạt động tố tụng của a án 62 3.2 Một số kiến nghị về nghĩa vụ tố tụng của đương sự 63 3.2.1 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ tố tụng của đương sự 63

3.2.1.1 Cần tách các quy định quyền và nghĩa vụ của đương sự riêng thành từng khoản: 63

3.2.1.2 Về nghĩa vụ giao nộp chứng cứ, gửi cho các đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của họ bản sao tài liệu, chứng cứ và biện pháp xử lý hành vi vi phạm:

64

3.2.1.3 Về thủ tục tố tụng trong trường hợp đương sự v ng mặt hoặc đến muộn: 65

Trang 6

3.2.1.5 Về biện pháp xử lý hành vi không tôn trọng Tòa án, vi phạm nội quy, trật tự

phiên tòa, phiên họp: 68

3.2.1.6 Về nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí, chi phí tố tụng khác: 69

3.2.1.7 Về việc xử lý các hành vi không thực hiện nghĩa vụ của đương sự: 69

3.2.2 Giải pháp thực hiện quy định về nghĩa vụ của đương sự 71

3.2.2.1 Đẩy mạnh công tác công tác tuyên truyền, phổ biển và giáo dục pháp luật: 71 3.2.2.2 Đảm bảo sự ình đẳng gi a các đương sự trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự: 71

3.2.2.3 Bảo đảm sự tuân thủ pháp luật trong tố tụng dân sự: 72

Kết luận Chương 3 74

KẾT LUẬN CHUNG 75

Trang 7

- TAND: Tòa án nhân dân

- TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao

-TƯAP: Tạm ứng án phí

- UBTVQH: Ủy ban Thường vụ Quốc hội

- VADS: Vụ án dân sự

- VVDS: Vụ việc dân sự

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Đương sự trong vụ án dân sự (VADS) là một trong những chủ thể không thể thiếu trong quá trình giải quyết VADS Không có đương sự thì cũng không thể phát sinh VADS tại Tòa án.Bởi vì lợi ích của họ là nguyên nhân và mục đích của quá trình tố tụng Do đó đương sự có vai trò đặc biệt quan trọng trong tố tụng dân sự(TTDS) Để bảo đảm cho các đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình cũng như bảo đảm cho Tòa án có thể thuận lợi trong việc thực hiện quyền lực Nhà nước về tư pháp dân sự thì các đương sự cần thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ của mình Việc Toà án tiến hành các hoạt động tố tụng

để giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền có được bảo đảm về thời hạn, chất lượng, hiệu quả hay không cũng phụ thuộc vào sự hợp tác của đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan Trên thực tế, không phải lúc nào các hoạt động tố tụng của Toà án cũngthuận lợi và nhận được sự hợp tác tích cực từ đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức mà nhiều trường hợp Toà án gặp phải sự cản trở, chống đối, không hợp tác của đương sự, cá nhân,

cơ quan, tổ chức như triệu tập nhưng đương sự không đến Toà án; Tòa án yêu cầu cung cấp cho Toà án tài liệu, chứng cứ nhưng đương sự không cung cấp hoặc cung cấp không đầy đủ, kịp thời; đương sự, người nhà của đương sự cản trở việc xác minh, thu thập chứng

cứ, gây rối trật tự tại Toà án, tại phiên toà.v.v dẫn đến ảnh hưởng đến thời hạn, chất lượng, hiệu quả giải quyết các vụ việc và uy tín, sự tôn nghiêm của Toà án Mặt khác, dù

đã có các quy định về xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án, xử lý các hành vi vi phạm nội quy phiên toà nhưng các quy định này còn tản mạn ở nhiều văn bản

và chưa cụ thể nên Toà án chỉ xử lý một số trường hợp vi phạm nội quy phiên toà, còn hầu hết các trường hợp cản trở hoạt động tố tụng của Toà án không bị xử lý Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm giảm chất lượng giải quyết các vụ việc, dẫn đến tình trạng nhiều vụ việc bị quá hạn giải quyết theo quy định của pháp luật

Thực hiện đúng tinh thần của Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/05/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lực xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm

2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính Trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Quốc hội khóa XIII đã ban hành

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS 2015) tại kỳ họp thứ 10 đã thông qua ngày

Trang 9

25 tháng 11 năm 2015, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016 đã khắc phục được đáng kể những bất cập, hạn chế của các quy định về nghĩa vụ của đương sự trong TTDS trong các văn bản trước đó BLTTDS 2015 về cơ bản đã có những quy định nhằm bảo đảm cho các đương sự thực hiện quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong các quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh – thương mại, lao động đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế khu vực và thế giới

Xuất phát từ thực trạng trên, việc nghiên cứu về nghĩa vụ của đương sự trong TTDS là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn đặc biệt quan trọng Qua việc tìm hiểu về nghĩa vụ của đương sự trong TTDS giúp chúng ta có cái nhìn tổng quát, cụ thể hơn về nghĩa vụ của đương sự trong TTDS, đồng thời có ý nghĩa trong việc tìm ra các biện pháp nhằm bảo đảm thực hiện tốt nghĩa vụ của đương sự phục vụ cho quá trình giải quyết vụ việc dân sự(VVDS), bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Từ đó, tìm ra những điểm còn hạn chế, thiếu sót, bất cập trong việc áp dụng pháp luật để đưa ra một số kiến nghị để khắc phục vướng mắc và hoàn thiện pháp luật về vấn đề này cũng như để thực hiện trên thực tế đạt hiệu quả tốt

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Có thể thấy BLTTDS 2015 đã được Quốc hội thông qua và ghi nhận những điểm sửa đổi, bổ sung quan trọng về nghĩa vụ tố tụng của đương sự mà cho đến nay chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách đầy đủ và chi tiết về nghĩa vụ của đương sự trong TTDS Hơn nữa đây là công trình nghiên cứu khoa học theo định hướng ứng dụng đầu tiên đi sâu vào thực tiễn thực hiện về nghĩa vụ tố tụng của đương sự tại Tòa

án

Nghĩa vụ của đương sự trong TTDS tuy đã được được đề cập đến trong một số bài viết, đề tài nghiên cứu về đương sự nhưng chỉ là nghiên cứu về một nghĩa vụ cụ thể nào

đó của đương sự có thể kể đến như: nghĩa vụ chứng minh của đương sự có Khóa luận tốt

nghiệp năm 1997 với đề tài “ ghĩa vụ chứng minh của đương sự trong tố tụng dân sự”

của tác giả Lê Tiến Tý.v.v… hay chỉ nghiên cứu về bảo đảm sự có mặt của bị đơn như bài

viết “Bảo đảm sự có mặt của bị đơn và nh ng vấn đề liên quan khi giải quyết vụ án dân sự” của tác giả Lê Xuân Trì đăng trên Tạp trí Tòa án nhân dân (TAND) số 1 năm

Trang 10

1998.v.v… Hay chỉ được đề cập tới một phần trong Khóa luận tốt nghiệp năm 2010 với

đề tài “Đương sự trong tố tụng dân sự” của tác giả Lê Thị Phượng; Luận văn thạc sỹ Luật học năm 2006, Luận án tiến sỹ luật học năm 2010 với đề tài “Đương sự trong tố tụng dân sự - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Nguyễn Triều Dương; bài viết “ gười tham gia tố tụng dân sự” của Tác giả Nguyễn Việt Cường đăng trên Tạp chí

Tòa án nhân dân, số 8/2015, tr 14 – 20.v.v…Tất cả đều nghiên cứu về khái niệm, thành phần, năng lực hành vi TTDS của đương sự, quyền và nghĩa vụ của đương sự và thực tiễn đương sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng nhưng cũng chủ yếu nói về quyền của đương sự, còn nghĩa vụ của đương sự thì chỉ nói về nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập và hậu quả pháp lý của sự vắng mặt Và phải tới năm 2013 nghĩa vụ của đương sự trong TTDS mới được tác giả Phạm Thị Hoàng Phúc viết trong Luận văn thạc sỹ Luật học năm

2013 với đề tài: “ ghĩa vụ của đương sự trong tố tụng dân sự Việt am” Tuy nhiên, đây

là đề tài được viết theo BLTTDS 2004 sửa đổi, bổ sung 2011 và theo định hướng nghiên cứu mà BLTTDS 2015 đã có những nội dung mới, do đó phần nào đã khắc phục được một số bất cập và kiến nghị của tác giả Mặt khác, BLTTDS hiện hành cũng có những bất cập mới chưa được giải quyết, rất cần bổ sung những đề tài nghiên cứu thực tiễn về việc thực hiện nghĩa vụ tố tụng của đương sự để từ đó chỉ ra được những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn cũng như quy định của pháp luật tố tụng dân sự(PLTTDS) hiện hành.Trên

cơ sở đó đề xuất ra những giải pháp, kiến nghị mang tính khả thi, kịp thời hoàn thiện giúp PLTTDS được thực hiện có hiệu quả trên thực tế về nghĩa vụ tố tụng của đương sự

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận cơ bản về nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam và thực tiễn thực hiện tại Tòa án Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự tại Tòa án thì đương sự có nghĩa vụ dân sự đối với đương

sự có quyền và có nghĩa vụ tố tụng đối với Tòa án do luật TTDS điều chỉnh (hay còn gọi

là nghĩa vụ tố tụng), đề tài nghiên cứu về nghĩa vụ tố tụng của đương sự Trong số tất cả những nghĩa vụ tố tụng (NVTT) của đương sự thì đề tài chỉ đi sâu nghiên cứu về các nghĩa vụ quan trọng mà việc không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa

vụ đó của đương sự sẽảnh hưởng đến thời hạn cũng như chất lượng, hiệu quả giải quyết

các vụ án;uy tín, sự tôn nghiêm của Toà án

Trang 11

Do giới hạn luận văn không cho phép và muốn đề tài đi sâu hơn vào thực tiễn thực hiện nghĩa vụ của đương sự trong TTDS nênphạm vi nghiên cứu của đề tài là nghĩa vụ của đương sự trong TTDS và thực tiễn thực hiện nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết VADS tại Tòa án cấp sơ thẩm

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Đề tài nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin Quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Ngoài ra, quá trình nghiên cứu

đề tài luận văn, các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành khác cũng được sử dụng như: phân tích, chứng minh, tổng hợp, so sánh, thống kê, diễn giải, quy nạp.v.v… Trong đó, phương pháp được sử dụng chủ yếu là phương pháp phân tích, diễn giải, quy

nạp

5 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài

Qua việc tìm hiểu về nghĩa vụ của đương sự trong TTDS giúp chúng ta có cái nhìn tổng quát, cụ thể hơn về nghĩa vụ của đương sự trong TTDS, đồng thời có ý nghĩa trong việc tìm ra các biện pháp nhằm bảo đảm thực hiện tốt nghĩa vụ của đương sự phục vụ cho quá trình giải quyết VVDS, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Từ đó, tìm

ra những điểm còn hạn chế, thiếu sót, bất cập trong việc áp dụng pháp luật để đưa ra một

số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và thực hiện pháp luật về NVTT của đương sự

Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là tìm hiểu những vấn đề lý luận cơ bản về NVTT của đương sự, phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật TTDS Việt Nam hiện hành

về NVTT của đương sự và thực tiễn thực hiện NVTT của đương sự tại Tòa án; đề tài nghiên cứu về các biện pháp xử lý đối với trường hợp vi phạm nghĩa vụ TTDS nhằm đảm bảo cho việc thực hiện nghiêm chỉnh nghĩa vụ của đương sự, trên cơ sở đó tìm ra những điểm còn hạn chế, thiếu sót, bất cập trong việc áp dụng pháp luật để đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện giúp tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong tố tụng, giáo dục mọi người chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, phòng ngừa những vi phạm có thể xảy ra và nâng cao uy tín của Tòa án

Trang 12

Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu được xác định trên những khía cạnh sau:

Tìm hiểu khái niệm, đặc điểm nghĩa vụ của đương sự trong TTDS, cơ sở lý luận và thực tiễn quy định nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng dân sự

Phân tích, đánh giá thực trạng của pháp luật TTDS Việt Nam hiện hành về nghĩa

vụ của đương sự cũng như thực tiễn thực hiện chúng để tìm ra những hạn chế, thiếu sót và vướng mắc.Từ đó, đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và thực hiện pháp luật về vấn đề này

6 Những đóng góp mới của luận văn

Trên cơ sở nghiên cứu toàn diện, hệ thống các vấn đề chung và thực tiễn thực hiện

về NVTT của đương sự tại Tòa án, luận văn có những đóng góp mới sau:

- Xây dựng được khái niệm nghĩa vụ tố tụng của đương sự

- Phân tích, đánh giá và chỉ những điểm bất cập của các quy định pháp luật TTDS Việt Nam hiện hành về NVTT của đương sự

- Đánh giá thực tiễn việc thực hiện NVTT của đương sự tại các Tòa án, chỉ ra những vướng mắc, bất cập cụ thể từ thực tiễn thực hiện các quy định về nghĩa vụ tố tụng của đương sự

- Đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật TTDS Việt Nam hiện hành cũng như kiến nghị thực hiện pháp luật về nghĩa vụ của đương sự và các biện pháp xử lý hành vi không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ NVTT của đương sự

7 Ý nghĩa khoa học của luận văn

Luận văn là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu theo định hướng ứng dụng, đi sâu vào thực tiễn thực hiện nghĩa vụ của đương sự trong TTDS Việt Nam tại Tòa án Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần bổ sung và hoàn thiện những tri thức chung về nghĩa vụ của đương sự trong TTDS, qua đó có cơ sở để phân tích, đánh giá những thiếu sót, bất cập, hạn chế của các quy định pháp luật TTDS hiện hành, đánh giá thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật TTDS về nghĩa vụ của đương sự để làm cơ sở thực tiễn cho việc hoàn thiện quy định của pháp luật TTDS và thực hiện pháp luật TTDS trên thực tế có hiệu quả

Trang 13

Luận văn có thể được sử dụng để làm tài liệu tham khảo cho Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên trong công tác thực tiễn và có thể được sử dụng để đóng góp vào việc sửa đổi, bổ sung các quy định của BLTTDS về nghĩa vụ của đương sự và các biện pháp xử lý đương sự khi họ không thực hiện, thực hiện không đúng và đầy đủ NVTT của mình

Trang 14

Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát chung về nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam

Chương 2: Thực trạng pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng dân sự

Chương 3: Thực tiễn thực hiện các quy định về nghĩa vụ tố tụng của đương sự và kiến nghị

Trang 15

NỘI DUNG

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGHĨA VỤ CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN

SỰ VIỆT NAM 1.1 Khái niệm, đặc điểm nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng dân sự

1.1.1 Khái niệm nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng dân sự

Thuật ngữ “nghĩa vụ” đã được định nghĩa rất nhiều trong khoa học pháp lý có thể

kể đến như: “ ghĩa vụ là một quan hệ pháp luật được xác lập gi a hai chủ thể theo đ một chủ thể (chủ thể có quyền – người có quyền) có quyền yêu cầu chủ thể kia (chủ thể nghĩa vụ - người c nghĩa vụ) phải hoàn thành một yêu cầu nhất định”1 Cuốn từ điển

pháp luật của Pháp mang tên “Petit Dictionnaire de Droit” định nghĩa: “ ghĩa vụ là một mối quan hệ pháp theo đ một người được gọi là trái chủ, có thể sử dụng phương cách cưỡng chế của quyền lực công theo sự lựa chọn của anh ta để buộc người hác người thụ trái ác định, chuyển giao tài sản, làm hoặc không làm việc gì đ ”2.Điều 676 Bộ luật dân sự(BLDS) Trung kỳ 1936 và Điều thứ 641 BLDS Bắc kỳ đã định nghĩa: Nghĩa vụ là cái dây liên lạc về luật thực tế hay luật thiên nhiên, bó buộc một hay nhiều người phải làm hay đừng làm gì đối với một hay nhiều người nào đó.Trong luật La-tinh, nghĩa vụ được hình dung như một mối liên hệ pháp lý mà theo đó, một người, người có quyền, có thể đòi hỏi ở một người khác, người có nghĩa vụ, chuyển giao một quyền, làm một việc hoặc không làm một việc.3

Theo từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh thì “ ố tụng” là việc thưa kiện, còn “tố

tụng pháp lý” là việc pháp luật quy định những thủ tục về cách tố tụng4 Trong sách Tiếng nói nôm na của Lê Gia, dẫn giải 30.000 từ Tiếng Việt thường dùng có liên quan đến từ

Hán Việt (NXB Văn Nghệ TPHCM, 1999) tại trang 1027 – 1028, giải thích rõ ràng hơn

“tố tụng” là vạch tội và đưa ra cửa công để phân giải phải trái do chữ“tố” là vạch tội, chữ

“tụng” là thưa kiện ở cửa công để xin phân phải trái

1

Cornne Renautl – Brahinsky (2002), Đại cương về pháp luật hợp đồng, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội tr 11

2 Roger Resau, Jean Rondepierre, esdouard Bourrel, Michel Lerolle, Maurice Esmein, Paul Sumien (1951), Petit Dictionnaire de Droit, Librairie Dalloz, Paris

năm 2017

4 Đào Duy Anh (1957), Từ điển Hán Việt, Trường Thi xuất bản, Sài Gòn, tr 302

Trang 16

Như vậy có thể hiểu “tố tụng” là việc thưa kiện ở Tòa án và được Tòa án chấp nhận việc thưa kiện đó để giải quyết “ ố tụng dân sự” là một trình tự hoạt động do pháp

luật quy định cho việc xem xét giải quyết vụ án dân sự và thi hành án dân sự Mục đích của tố tụng dân sự là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan tổ chức và lợi ích của Nhà nước5 Một định nghĩa tương tự đã được TS Nguyễn Công Bình khẳng định tại trang 10 của Giáo trình luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân năm

2012 Tuy nhiên, nếu xét theo nghĩa hẹp thì trình tự tố tụng là việc thực hiện các hành vi

tố tụng trước Tòa án, từ khi bắt đầu có yêu cầu khởi kiện đến khi Tòa án ra phán quyết cuối cùng về vụ việc và đương sự phải thực hiện NVTT trong suốt quá trình giải quyết VADS

Như chúng ta đã biết, nghĩa vụ dân sự của một người bắt đầu có từ khi người đó tham gia vào một giao dịch dân sự và kết thúc khi người đó thực hiện xong nghĩa vụ của mình đối với người có quyền dân sự Nhưng khi có tranh chấp về quyền và nghĩa vụ dân

sự xảy ra và được giải quyết tại Tòa án thì chỉ khi có phán quyết của Tòa án bằng một bản

án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật thì mới xác định được đương sự nào có quyền và đương sự nào có nghĩa vụ dân sự Lúc này, đương sự có nghĩa vụ dân sự mới phải thực hiện nghĩa vụ dân sự của mình Nhưng để có được phán quyết của Tòa án một cách nhanh chóng, đúng đắn thì việc giải quyết tranh chấp phải diễn ra trong một quá trình TTDS mà

ở đó đương sự vừa có quyền lại vừa có NVTT Chỉ khi có VADS phát sinh tại Tòa án thì khi đó đương sự mới có NVTT Việc giải quyết VADS được bắt đầu từ khi có đơn khởi kiện cho đến khi có phán quyết của Tòa án và đương sự phải thực hiện NVTT trong suốt quá trình giải quyết VADS.6

Thuật ngữ “nghĩa vụ tố tụng”được sử dụng tại các Điều 8, 69, 74, 86, 214, 217,

326, 437, 457, 465 BLTTDS 2015 Tuy nhiên, BLTTDS 2015 cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành không đưa ra khái niệm nghĩa vụ của đương sự trong TTDS hay NVTT Do đó, từ các phân tích trên ta có thể đưa ra khái niệm NVTT khái quát như sau:

ghĩa vụ của đương sự trong tố tụng dân sự (gọi t t là NVTT của đương sự) là việc b t buộc đương sự phải thực hiện bổn phận của mình đối v i hà nư c, v i cơ quan

Trang 17

tiến hành tố tụng dân sự, v i đương sự khác và v i cơ quan tổ chức, cá nhân khác, nếu không thực hiện thì sẽ bị áp dụng chế tài theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các chủ thể tham gia tố tụng và bảo đảm cho việc giải quyết các

vụ việc dân sự được nhanh ch ng chính ác công minh đúng pháp uật

1.1.2 Đặc điểm của nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng dân sự

- ghĩa vụ tố tụng của đương sự có mối liên hệ mật thiết v i nhiệm vụ và quá trình giải quyết vụ án dân sự của Tòa án

Các chủ thể của hoạt động TTDS rất đa dạng, bao gồm: Các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng, người liên quan Tùy theo mục đích, vai trò tham gia tố tụng (TGTT) dân sự của các chủ thể này mà pháp luật quy định các quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định Căn cứ vào mục đích tham gia tố tụng và địa vị pháp lý của các chủ thể này có thể phân chia các chủ thể thành ba nhóm: Nhóm thứ nhất bao gồm các chủ thể có nhiệm vụ, quyền hạn giải quyết vụ việc dân sự, tổ chức thi hành án dân sự, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình tố tụng như tòa án, viện kiểm sát.v.v… Nhóm thứ hai bao gồm các chủ thể tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác như đương sự, người đại diện của đương sự.v.v… Nhóm thứ ba bao gồm các chủ thể tham gia tố tụng để hỗ trợ tòa án trong việc giải quyết VVDS như người làm chứng, người giám định.v.v… và người liên quan7 Trong các chủ thể đó thì đương sự có một vai trò hết sức quan trọng trong TTDS vì lợi ích của đương sự là nguyên nhân và mục đích của quá trình tố tụng Khi đương sự thực hiện nghĩa vụ của mình là cơ sở làm phát sinh quyền, nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể khác như Tòa án, Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng khác Ví dụ như việc đương sự có nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ, chứng minh cho yêu cầu của mình là hợp pháp và có căn cứthì Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ và chỉ tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ trong những trường hợp pháp luật quy định Do đó ta có thể thấy được mối quan hệ rất rõ giữa nghĩa vụ tố tụng của đương

sự có mối liên hệ mật thiết với nhiệm vụ và quá trình giải quyết vụ án dân sự của Tòa án Trong quá trình giải quyết VADS, chủ yếuNVTT của đương sự là phải thực hiện đối với các yêu cầu của Tòa án.Bên cạnh đó, đương sự cũng phải thực hiện NVTT đối với các

7

Giáo trình luật Tố tụng dân sự Việt Nam (2017), Trường Đại học luật Hà Nội, Nxb CAND tr 33

Trang 18

chủ thể khác như việc gửi cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của họ bản sao đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải Vì vậy, NVTT của đương sự là nghĩa vụ đối với Nhà nước, với Tòa án, với đương sự khác và trong một số trường hợp là đối với Viện kiểm sát và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác

Tòa án là chủ thể đặc biệt duy nhất được thực hiện quyền lực của Nhà nước để xét xử VADS Để thực hiện chức năng xét xử của mình, Tòa án có quyền yêu cầu đương sự và những người TGTT khác phải thực hiện NVTT Các đương sự có những nghĩa vụ chung

mà bất cứ một đương sự nào khi đến Tòa án cũng đều phải thực hiện như nghĩa vụ tôn trọng Tòa án, nghĩa vụ chấp hành nội quy phiên tòa, phiên họp Có những nghĩa vụ mà đương sự phải thực hiện theo văn bản tố tụng của Tòa án như nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án chấp hành quyết định của Tòa án trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc, nghĩa vụ tham gia phiên tòa, phiên họp.v.v…Có những nghĩa vụ đương sự vừa có thể chủ động thực hiện, vừa có thể phải thực hiện theo yêu cầu của Tòa án như nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ, chứng minh để bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình.v.v…

Tòa án với vai trò là cơ quan tiến hành tố tụng phải có trách nhiệmbảo đảm để cho các đương sự thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình Các đương sự thực hiện nghiêm chỉnh các NVTT của mình đúng theo quy định của pháp luật thì việc giải quyết các VADS sẽ được nhanh chóng và đúng đắn Trường hợp đương sự chống đối, không hợp tác, gây cản trở cho hoạt động tố tụng của Tòa án thì ảnh hưởng đến thời hạn, chất lượng, hiệu quả giải quyết các vụ việc và uy tín, sự tôn nghiêm của Toà án

- ghĩa vụ tố tụng của đương sự mang tính b t buộc và đương sự phải chịu hậu quả pháp lý nếu không thực hiện

NVTT của đương sự là do PLTTDS quy định, bắt buộc các đương sự phải thực hiện khi tham gia vào quá trình giải quyết VADS Các đương sự đều phải thực hiện NVTT bình đẳng như nhau, không phân biệt tư cách TGTT, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, địa vị xã hội Cho

dù đương sự là nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì đều có NVTT chung phải thực hiện như nhau như đều có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng

Trang 19

minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đều phải tôn trọng Tòa án và chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên tòa v.v… 8Nhưng khi giải quyết từng yêu cầu cụ thể của từng đương sự và dựa vào từng kết quả giải quyết yêu cầu đó mà các đương sự lại có nghĩa vụ tố tụng khác nhau như nếu kết quả giám định chứng minh yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ thì nguyên đơn không phải chịu chi phí giám định, còn bị đơn phải chịu chi phí giám định.v.v…Chế tài áp dụng đối với các đương sự khi không thực hiện nghĩa

vụ tố tụng là khác nhau, phụ thuộc vào tư cách tham gia tố tụngcủa từng đương sự đó như Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà nguyên đơn không có mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì Tòa án sẽ đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, còn bị đơnkhông có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ.v.v…

- ghĩa vụ tố tụng của đương sự có mối liên hệ mật thiết v i nghĩa vụ dân sự của đương sự và quyền tố tụng của đương sự

NVTT của đương sự có mối liên hệ mật thiết với NVDS của đương sự Trước khi tham gia vào một quan hệ TTDS cụ thể thì các đương sự chính là chủ thể của quan hệ pháp luật nội dung (quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động) Trong các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng này thì các chủ thể có các quyền dân sự nhất định và chỉ khi một trong các quyền dân sự của chủ thể bị xâm phạm thì chủ thể đó mới

có quyền tự bảo vệ hoặc yêu cầu Tòa án bảo vệ Như vậy, chỉ có người có quyền dân sự

và NVDS có liên quan đến tranh chấp tại Tòa án thì người đó mới trở thành đương sự, họ

sẽ có quyền và NVTT Khi chủ thể của quan hệ pháp luật nội dung khởi kiện, yêu cầu Tòa

án giải quyết tranh chấp và được Tòa án thụ lý giải quyết thì họ trở thành đương sự - chủ thể của quan hệ pháp luật TTDS và họ có quyền và NVTT Việc thực hiện NVTT của đương sự góp phần bảo đảm cho việc bảo vệ quyền và lợi ích về dân sự của mình

Khi TGTT tại Tòa án, cùng với việc được hưởng các quyền tố tụng, đương sự cũng phải thực hiện các NVTT Đặc trưng cơ bản của quan hệ pháp luật TTDS là các đương sự

có quyền bình đẳng về quyền và NVTT Mọi quyền và nghĩa vụ của đương sự đều có mối quan hệ mật thiết với nhau Thông thường, quyền tố tụng có trước, NVTT có sau Ví dụ

8

Phạm Thị Hoàng Phúc (2013), Nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam, Luận văn thạc sỹ Luật học năm 2013 tr 9

Trang 20

như nguyên đơn có quyền khởi kiện khi cho rằng quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm nên khi khởi kiện nguyên đơn phải có nghĩa vụ chứng minh rằng quyền và lợi ích của nguyên đơn bị xâm phạm Bị đơn là người bị nguyên đơn khởi kiện nhưng cũng có quyền

tố tụng trước là quyền được Tòa án thông báo về việc bị khởi kiện rồi mới phải thực hiện NVTT là phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo (Điều 70, 71, 72, 196 BLTTDS 2015) Việc đương sự không thực hiện NVTT ảnh hưởng đến chính đương sự đó và những chủ thể khác Đối với bản thân họ sẽ phải chịu hậu quả pháp lý như bị Tòa án đình chỉ giải quyết yêu cầu của đương sự.v.v…Đối với cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng thì gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án, cản trở quá trình tìm ra sự thật vụ án của Tòa

án Đối với các đương sự khác thì gây mất thời gian, chi phí, công sức đi lại hoặc gây khó khăn trong quá trình chứng minh của người đó Trên thực tế, quyền tố tụng là vấn đề các đương sự quan tâm hơn là NVTT và nếu có quan tâm thì đương sự bên này chỉ quan tâm đến NVTT của đương sự bên kia Cơ quan tiến hành tố tụng hay người tiến hành tố tụng thì quan tâm đến việc chấp hành NVTT của các đương sự, còn các đương sự chỉ quan tâm đến quyền của mình khi TGTT Bên cạnh đó, có một số nghĩa vụ của đương sự cũng là quyền của đương sự khi tham gia TTDS như quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh.9

- ghĩa vụ tố tụng của đương sự có thể được thực hiện thông qua người đại diện

và có thể được chuyển giao cho người khác

Trong TTDS, để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình các đương sự thường

tự mình thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình Tuy vậy, trong một số trường hợp người khác có thể tham gia tố tụng thực hiện các NVTT của đương sự Vấn đề này phụ thuộc vào NVDS, có những NVDS được chuyển giao cho người khác(như NVDS về tài sản) thì NVTT của người đó mới được chuyển giao Trong quá trình Tòa án giải quyết VADS, đương sự có thể trực tiếp hoặc thông qua người đại diện hợp pháp tham gia vào bất kỳ giai đoạn nào của quá trình này để thực hiện các NVTT Xuất phát từ tính đa dạng của các quan hệ pháp luật tố tụng dân sự nên người đại diện của đương sự trong TTDS cũng rất đa dạng bao gồm: Người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy

9

Phạm Thị Hoàng Phúc (2013), Nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam, Luận văn thạc sỹ Luật học năm 2013 tr.10

Trang 21

quyền Người đại diện theo pháp luật có phạm vi tố tụng không bị hạn chế trong các loại việc do đó có đầy đủ tất cả các NVTT của đương sự, trừ quyền hòa giải trong vụ án ly hôn, còn người đại diện theo ủy quyền chỉ phải thực hiện NVTT trong phạm vi được ủy quyền và đối với việc ly hôn, đương sự không được ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng

Trong quá trình Tòa án đang giải quyết VADS có thể có một trong các đương sự là

cá nhân chết hoặc đương sự là cơ quan tổ chức đang TGTT phải chấm dứt hoạt động, bị giải thể, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức thì NVTT của đương sự sẽ được chuyển giao cho những cá nhân, cơ quan, tổ chức kế thừa NVDS về tài sản theo quy định của pháp luật Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ việc giải quyết VADS nếunguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế; cơ quan, tổ chức đã bị giải thể, phá sản mà không có cơ quan, tổ chức, cá nhân nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó

Từ các kết quả nghiên cứu trên, có thể đưa ra khái niệm cụ thể hơn về NVTT của đương sự như sau:

Nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng dân sự (gọi tắt là NVTT của đương sự) là quan hệ pháp luật tố tụng dân sự, trong đó đương sự bắt buộc phải thực hiện các bổn phận của mình theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự đối với cơ quan tiến hành tố tụng dân

sự, với đương sự khác và với cơ quan, tổ chức, cá nhân khác trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự tại Tòa án, nếu không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ thì sẽ bị

áp dụng chế tài theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các chủ thể tham gia tố tụng và bảo đảm cho việc giải quyết các vụ việc dân sự của Tòa án được nhanh chóng, chính xác, đúng pháp luật

1.2 Cơ sở của việc quy định và thực hiện nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng dân sự

Trang 22

quy định cho các chủ thể này các quyền và NVTT khi TGTT trong việc giải quyết VADS Các quyền và nghĩa vụ TTDS của đương sự, trong đó, quyền và NVDS của đương sự và nhiệm vụ, quyền hạn giải quyết VADS của Tòa án là nền tảng để ghi nhận các quyền và nghĩa vụ TTDS của đương sự.Đồng thời việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ TTDS của đương sự là bảo đảm cho việc bảo vệ quyền và lợi ích về dân sự Vì vậy, xét về mặt lý luận việc ghi nhận nghĩa vụ TTDS của đương sự phải dựa trên cơ sở, phù hợp với quyềnNVDS và nhiệm vụ, quyền hạn giải quyết VADS của Tòa án và VKS, cụ thể được thể hiện như sau10:

- Khi TGTT tại Tòa án để giải quyết VADS, đương sự có quyền về dân sự phải có NVTT là chứng minh rằng họ là chủ thể có quyền, lợi ích về dân sự bị xâm phạm Đồng thời họ có nghĩa vụ chứng minh đương sự kia là người có nghĩa vụ về dân sự

- Các chủ thể trong quan hệ dân sựbình đẳng với nhau về địa vị pháp lý, tức là bình đẳng trong việc hưởng quyền và bình đẳng trong việc thực hiện nghĩa vụ, cũng như chịu trách nhiệm trong các quan hệ dân sự mà mình tham gia Các đương sự có vị trí tố tụng như nhau có quyền, nghĩa vụ tố tụng như nhau Trường hợp các đương sự có vị trí tố tụng khác nhau (chẳng hạn như vị trí nguyên đơn và vị trí bị đơn), các đương sự vẫn có cơ hội

và khả năng bình đẳng như nhau trong việc thực hiện các quyền tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước Toà án, như quyền đưa ra yêu cầu, quyền phản đối yêu cầu, quyền kháng cáo, khiếu nại, xuất trình chứng cứ, tranh luận, quyền tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ.v.v… Đồng thời, các đương sự cũng bình đẳng với nhau trong việc thực hiện các nghĩa vụ tố tụng, như nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, nghĩa vụ tôn trọng Toà án, chấp hành các quyết định của Toà án trong thời gian giải quyết vụ án.v.v…Xét một cách tổng thể thì các đương sự TGTT với tư cách khác nhau nhưng bình đẳng với nhau về điều kiện để TGTT, điều kiện thực hiện NVTT

- Việc quy định NVTT của đương sự phải dựa trên cơ sở giải quyết hài hòa giữa việc ghi nhận NVTT của đương sự với nhiệm vụ, quyền hạn giải quyết VADS của Tòa án

và Viện kiểm sát như quyền và NVTT của các chủ thể tố tụng khác như người làm chứng, người giám định, người phiên dịch.v.v…đúng với vai trò của mỗi chủ thể này trong TTDS Bởi vì, cùng với việc quy định quyền của đương sự thì đồng thời phải xác định

10

Phạm Thị Hoàng Phúc (2013), Nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam, Luận văn thạc sỹ Luật học năm 2013 tr 12

Trang 23

nghĩa vụ của các chủ thể khác trong việc bảo đảm quyền của đương sự và ngược lại, khi các chủ thể trong TTDS có các quyền tố tụng thì đồng thời xác định NVTT của chủ thể khác nhằm bảo đảm cho việc giải quyết VADS được nhanh chóng và đúng đắn Trong mối quan hệ trung tâm giữa Tòa án với đương sự, việc ghi nhận các NVTT của đương sự phải bảo đảm sự tôn trọng của đương sự đối với Tòa án, không gây khó khăn và cản trở Tòa án thực hiện quyền lực Nhà nước, bảo đảm cho Tòa án giải quyết VADS một cách kịp thời và đúng đắn nhưng Tòa án cũng phải có nghĩa vụ bảo đảm cho đương sự thực hiện được quyền và NVTT của mình

Trên thực tế không phải lúc nào các hoạt động tố tụng của Tòa án cũng được thuận lợi, được sự hợp tác tích cực từ đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức mà nhiều trường hợp Tòa án gặp phải sự cản trở, chống đối, không hợp tác như triệu tập nhưng đương sự không đến Tòa án, yêu cầu cung cấp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ nhưng cá nhân, cơ quan, tổ chức đang lưu giữ không cung cấp hoặc cung cấp không đầy đủ, kịp thời; cản trở việc xác minh, thu thập chứng cứ, gây rối trật tự tại Tòa án, tại phiên tòa.v.v làm ảnh hưởng đến thời hạn, chất lượng, hiệu quả giải quyết các vụ việc và uy tín, sự tôn nghiêm của Tòa án

Một trong những nguyên nhân đó là trình độ dân trí của người dân vẫn còn thấp, sự chênh lệch giữa các vùng miền, ở một số nơi thì người dân đã có kiến thức về pháp luật nhưng một số nơi thì pháp luật còn là một điều gì đó xa vời, không gắn với thực tiễn cuộc sống, họ thờ ờ trước pháp luật và vì lợi ích riêng cho mình mà có nhiều hành động trái với pháp luật ảnh hưởng tới hoạt động của đương sự khác cũng như Tòa án nên đã xảy ra tình trạng đương sự không thực hiện NVTT, có hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án Với tình trạng đó, đòi hỏi PLTTDS phải quy định rõ ràng NVTT của đương sự như phải quy định rõ đâu là quyền, đâu là nghĩa vụ tố tụng của đương sự khi TGTT tại Tòa án, để

Trang 24

họ dễ nhận biết và thực hiện, đồng thời phải có chế tài xử lý nghiêm khắc và kịp thời những hành vi vi phạm NVTT của đương sự gây cản trở cho hoạt động tố tụng của Tòa

án

Bên cạnh đó, tình trạng sai lầm trong quá trình giải quyết VADS dẫn đến án bị hủy

đi hủy lại nhiều lần làm mất lòng tin của đương sự, dẫn đến sự chống đối của họ gây cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án trong việc giải quyết VADS Sự sai lầm xuất phát từ nhiều nguyên nhân có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan.Sự độc lập, khách quan và tinh thần trách nhiệm của Tòa án là một trong những điều kiện quan trọng đảm bảo thực hiện quyền tố tụng của đương sự Trên thực tế có nhiều trường hợp những người tiến hành tố tụng đã chịu sự tác động, chi phối từ nhiều phía, có thể từ cơ quan, tổ chức hữu quan ở địa phương, từ cơ quan quản lý cấp trên, từ những người thân thích hoặc quen biết

họ dẫn đến sự không công tâm khi giải quyết VADS Hơn nữa,lãnh đạo của một số Tòa

án nhân dân địa phương chưa phát huy đầy đủ tinh thần trách nhiệm; năng lực quản lý và điều hành trong công tác còn hạn chế nên phần nào cũng ảnh hưởng tới hiệu quả công tác của đơn vị Vẫn còn một số Thẩm phán, cán bộ Toà án hạn chế về năng lực, trình độ, thiếu nhiệt huyết; tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ nhân dân và việc chấp hành kỷ luật công vụ chưa tốt nên hiệu quả công tác thấp, thậm chí có trường hợp sa sút về phẩm chất đạo đức, vi phạm pháp luật, làm ảnh hưởng tới hình ảnh của Tòa án Còn có Tòa án chưa chủ động nghiên cứu đề xuất và triển khai các giải pháp hữu hiệu để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, Thẩm phán; chưa chủ động, tích cực trong xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng Phương pháp, lề lối làm việc và thủ tục hành chính- tư pháp tại các Tòa án mặc dù đã có những đổi mới, nhưng do phương tiện, điều kiện làm việc của các Tòa án còn nhiều khó khăn nên hiệu quả chưa được như mong muốn.Trong bối cảnh số lượng các loại vụ án mà Tòa án phải thụ lý, giải quyết tiếp tục có xu hướng gia tăng; thẩm quyền của Tòa án được mở rộng theo quy định của Luật đất đai (sửa đổi), Luật xử lý vi phạm hành chính và một số luật khác, trong khi đó số lượng cán bộ, Thẩm phán của các Tòa án được Ủy ban thường vụ Quốc hội phân bổ như hiện nay chưa đáp ứng đủ yêu cầu giải quyết công việc của Tòa án Mặt khác, chế độ chính sách đối với cán bộ, Thẩm phán Tòa

án các cấp hiện còn nhiều bất cập, chưa giúp thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao vào công tác tại các Tòa án cũng như góp phần phòng ngừa vi phạm của cán bộ, công chức Trong công tác giải quyết, xét xử các loại vụ án, một số vụ án bị kéo dài do các cơ quan,

tổ chức chưa phối hợp chặt chẽ với Toà án, thậm chí chưa làm hết trách nhiệm của mình

Trang 25

theo quy định của pháp luật trong việc cung cấp đầy đủ, kịp thời các tài liệu chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án, giám định, tham gia định giá tài sản, thực hiện uỷ thác tư pháp… làm ảnh hưởng đến tiến độ giải quyết vụ án.Một số quy định của pháp luật chưa đầy đủ, chưa thực sự phù hợp, thậm chí có xung đột nhưng chậm được sửa đổi, bổ sung hoặc hướng dẫn kịp thời, đặc biệt là các quy định liên quan tới công tác quản lý đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai; việc giám định, định giá và trách nhiệm trong việc cung cấp tài liệu, chứng cứ trong các vụ án từ phía các cơ quan, tổ chức.v.v…

Chính những nguyên nhân trên làm mất lòng tin của đương sự, dẫn đến sự chống đối của họ đối với quá trình hoạt động tố tụng của Tòa án trong việc giải quyết VADS

Việc pháp luật quy định các NVTT của đương sự nhằm đảm bảo điều kiện thuận lợi cho các bên đương sự thực hiện quyền TTDS của mình; giúp cho việc giải quyết

VADS được nhanh chóng, hiệu quả và đúng đắn Việc các đương sự thực hiện NVTT như thế nào sẽ có ý nghĩa nhất định đối với quá trình giải quyết VADS Do vậy, trong quá trình tố tụng các đương sự phải thực hiện nghiêm chỉnh NVTT của mình theo quy định của pháp luật

Trang 26

Kết luận Chương 1

Kết quả nghiên cứu Chương 1 đã làm rõ được khái niệm, đặc điểm của nghĩa vụ tố tụng của đương sự Theo đó, nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng dân sự là quan hệ pháp luật tố tụng dân sự, trong đó đương sự bắt buộc phải thực hiện các bổn phận của mình theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự đối với cơ quan tiến hành tố tụng dân sự, với đương sự khác và với cơ quan, tổ chức, cá nhân khác trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự tại Tòa án, nếu không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ thì sẽ bị áp dụng chế tài theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các chủ thể tham gia tố tụng và bảo đảm cho việc giải quyết các vụ việc dân sự của Tòa án được nhanh chóng, chính xác, đúng pháp luật

NVTT của đương sự mang tính bắt buộc và đương sự phải chịu hậu quả pháp lý nếu không thực hiện, có mối liên hệ mật thiết với nhiệm vụ và quá trình giải quyết VADS của Tòa án, với NVDS của đương sự và quyền tố tụng của đương sự và có thể thực hiện thông qua người đại diện và có thể được chuyển giao cho người khác.Việc xây dựng và thực hiện các quy định về NVTT của đương sự được dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn tố tụng tại Tòa án

Các kết quả nghiên cứu tại Chương 1 sẽ là tiền đề quan trọng để đánh giá về thực trạng pháp luật về nghĩa vụ tố tụng của đương sự và thực tiễn thực hiện chúng tại các Tòa

án

Trang 27

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ

NGHĨA VỤ CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

Mỗi một đương sự tham gia tố tụng có tư cách khác nhau,do vậy mà BLTTDS

2015 còn quy định quyền và nghĩa vụ riêng, đặc thù của từng đương sự như quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn (Điều 71), của bị đơn (Điều 72), của người có quyền lợi nghĩa

vụ liên quan (Điều 73), kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng (Điều 74) Tuy nhiên, nghiên cứu nội dung tại các Điều 71, Điều 72 BLTTDS năm 2015 thì đều không đề cập đến các nghĩa vụ cụ thể của từng đương sự mà chủ yếu quy định bổ sung về các quyền tố tụng cụ thể của từng đương sự Như vậy, theo quy định hiện hành thì dường như tất cả các đương

sự đều không có nghĩa vụ riêng mà chỉ có nghĩa vụ chung được quy định tại Điều 70 BLTTDS năm 2015 Tuy nhiên, khi không thực hiện nghĩa vụ tố tụng thì ở mỗi tư cách tham gia tố tụng thì đương sự lại phải chịu những biện pháp chế tài khác nhau áp dụng cho từng đương sự

2.1.Thực trạng quy định về nghĩa vụ cung cấp chứng cứ,chứng minh cho Tòa

án và gửi cho các đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của họ bản sao tài liệu, chứng cứ

Hoạt động cung cấp chứng cứ và chứng minh trong TTDS là một hoạt động đặc biệt quan trọng trong TTDS Vì vậy, việc cung cấp chứng cứ và chứng minh đã được ghi nhận thành nguyên tắc cơ bản và đặc trưng của luật TTDS – nguyên tắc cung cấp chứng

cứ và chứng minh trong TTDS (Điều 6 BLTTDS 2015) chủ yếu thuộc về đương sự

Pháp luật tố tụng dân sự đặt ra nghĩa vụ chứng minh cho đương sự do quan hệ dân

sự là quan hệ cá nhân riêng tư của các bên, do các bên tự quyết định, tự giải quyết là chủ yếu và chỉ khi các bên không tự giải quyết được, họ mới yêu Tòa án hỗ trợ Đương sự là người biết được để chứng minh cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì cần cung cấp những tài liệu chứng cứ gì để chứng minh cho quyền lợi đó, đồng thời biết được những người biết về tình tiết, sự kiện thực tiễn của VADS, biết được các cơ quan, tổ chức, cá nhân nào đang lưu giữ các tài liệu, chứng cứ có thể cung cấp cho họ hoặc cho Tòa án làm

cơ sở cho việc giải quyết VADS Vì vậy, khi họ không quản lý trực tiếp, lưu giữ các chứng cứ đó thì họ có thể yêu cầu các cá nhân, cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ cung cấp cho họ Tuy nhiên, nếu bản thân đương sự không tự cung cấp được những chứng

Trang 28

cứ quan trọng mà việc đó phải do các cơ quan có thẩm quyền thực hiện thì đương sự có thể yêu cầu các cơ quan đó thực hiện11 Khoản 2 Điều 6 quy định Tòa án có trách nhiệm

hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ và chỉ tiến hành thu thập, xác minh chứng

cứ trong những trường hợp do BLTTDS 2015 quy định

Theo Điều 68 và các điều từ Điều 91 đến Điều 110 BLTTDS 2015 thì về cơ bản việc thu thập chứng cứ và chứng minh thuộc về đương sự, Tòa án chỉ thực hiện việc thu thập chứng cứ khi đương sự không thể tự mình thu thập và khi có yêu cầu của đương sự Điều này là hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh trong TTDS

Nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để thực hiện nghĩa vụ chứng minh Vậy, để thực hiện nghĩa vụ chứng minh thì đương sự phải xuất trình chứng cứ Đương sự cung cấp chứng cứ cho Tòa án bằng hoạt động giao nộp chứng cứ vào hồ sơ vụ án Điều 91 BLTTDS 2015

quy định: “Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đ

à c c n cứ và hợp pháp” Đương sự giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ bằng tiếng

dân tộc thiểu số, tiếng nước ngoài phải kèm theo bản dịch sang tiếng Việt, được công chứng, chứng thực hợp pháp (khoản 3 Điều 96 BLTTDS 2015)

Đối với đương sự là nguyên đơn phải thực hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện cho Tòa án theo quy định tại khoản 5 Điều 189 BLTTDS 2015 Người khởi kiện nộp kèm theo đơn khởi kiện phải có tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm Trường hợp vì lý do khách quan mà người khởi kiện không thể nộp đầy đủ tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện thì họ phải nộp tài liệu, chứng cứ hiện có để chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm Người khởi kiện bổ sung hoặc giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ khác theo yêu cầu của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án

Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền cung cấp chứng cứ khi Tòa án thông báo về việc khởi kiện của nguyên đơn Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày

11 Nguyễn Triều Dương (2010), Đương sự trong tố tụng dân sự - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án Tiến sĩ luật học tr 114

Trang 29

nhận được thông báo, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và tài liệu, chứng cứ kèm theo, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập (nếu có)

Trường hợp cần gia hạn thì bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải có đơn đề nghị gia hạn gửi cho Tòa án nêu rõ lý do; nếu việc đề nghị gia hạn là có căn cứ thì Tòa án phải gia hạn nhưng không quá 15 ngày Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền yêu cầu Tòa án cho xem, ghi chép, sao chụp đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện, trừ tài liệu, chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều 109 của Bộ luật này (Điều 199 BLTTDS 2015)

Tuy nhiên, không phải lúc nào đương sự cũng cung cấp được đầy đủ tài liệu chứng

cứ cần thiết để thực hiện việc chứng minh Trường hợp đương sự đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập tài liệu, chứng cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập được thì

có thể đề nghị Tòa án ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản

lý tài liệu, chứng cứ cung cấp cho mình hoặc đề nghị Tòa án tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự đúng đắn Đương sự yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ phải làm đơn ghi rõ vấn đề cần chứng minh; tài liệu, chứng cứ cần thu thập; lý do mình không tự thu thập được; họ, tên, địa chỉ của cá nhân, tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ cần thu thập.Trường hợp có yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Tòa án ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án

Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ có trách nhiệm cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu; hết thời hạn này mà không cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án thì cơ quan, tổ chức, cá nhân được yêu cầu phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thực hiện yêu cầu của Tòa án mà không có lý do chính đáng thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật Việc xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân không phải là lý do miễn nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án (Điều 106 BLTTDS 2015)

Trang 30

Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, việc đương sự giao nộp tài liệu, chứng

cứ cho Tòa án là quyền nhưng đồng thời là nghĩa vụ Điều đó có nghĩa là, khi một cá nhân, cơ quan, tổ chức xét thấy quyền lợi của mình bị vi phạm, họ có quyền làm đơn khởi kiện đến Tòa án, song cùng với đó là có nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án Người bị kiện có quyền phản đối yêu cầu của người khởi kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có quyền đưa ra yêu cầu, nhưng đồng thời có nghĩa

vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập là có căn cứ và cần được bảo vệ.12

Như vậy, việc giao nộp chứng cứ vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của các đương sự

Điều 96 BLTTDS 2015 đã quy định: “Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp tài liệu, chứng cứ cho a án rường hợp tài liệu, chứng cứ đã được giao nộp chưa ảo đảm đủ cơ sở để giải quyết vụ việc thì Thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ Nếu đương sự không giao nộp hoặc giao nộp hông đầy đủ tài liệu, chứng cứ do Tòa án yêu cầu mà không có lý do chính đáng thì a án c n cứ vào tài liệu, chứng cứ mà đương sự đã giao nộp và Tòa án

đã thu thập theo quy định tại Điều 97 của Bộ luật này để giải quyết vụ việc dân sự”

Cung cấp chứng cứ là một nghĩa vụ của đương sự, do vậy khiđưa ra các yêu cầu nhưng lại không cung cấp đầy đủ các chứng cứ cho Tòa án thì họ sẽ phải chịu hậu quả bất lợi do bản án, quyết định của Tòa án sẽ căn cứ vào các chứng cứ do đương sự khác cung cấp hoặc do tự Tòa án thu thập được Sở dĩ pháp luật quy định như vậy là vì nếu không quy định thì trên thực tế có rất nhiều trường hợp đương sự từ chối thực hiện quyền của mình nhưng việc không cung cấp chứng cứ của họ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích chung hoặc gây phương hại đến người khác Vì thế, buộc các đương sự phải có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh trong TTDS là một điều không thể thiếu Do đó, nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của đương sự được quy định trong phần các nguyên tắc của BLTTDS 2015 Đương sự cung cấp chứng cứ có thể do sự chủ động của họ hoặc do thực hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án Trong quá trình cung cấp chứng cứ, nếu đương sự có hành vi làm giả, hủy hoại những chứng cứ quan trọng gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án của Tòa án; khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật; từ chối

12 http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/thi-hanh-phap-luat.aspx?ItemID=277 truy cập vào ngày 20 tháng 5 năm

2017

Trang 31

khai báo, từ chối cung cấp tài liệu thì tùy theo mức độ vi phạm mà có thể bị Tòa án quyết định phạt cảnh cáo, phạt tiền, tạm giữ hành chính hoặc khởi tố vụ án hình sự theo quy định của pháp luật (Điều 489 BLTTDS 2015)

Một điểm mới quan trọng về cung cấp chứng cứ đã được BLTTDS 2015 quy định

là về thời hạn cung cấp chứng cứ Theo đó thời hạn cung cấp chứng cứ được quy định:

“ hời hạn giao nộp tài liệu, chứng cứ do Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc

ấn định nhưng hông được vượt quá thời hạn chuẩn bị xét xử theo thủ tục sơ thẩm, thời hạn chuẩn bị giải quyết việc dân sự theo quy định của Bộ luật này”

Trường hợp sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm, quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự, đương sự mới cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ mà Tòa án đã yêu cầu giao nộp nhưng đương sự không giao nộp được vì có lý

do chính đáng thì đương sự phải chứng minh lý do của việc chậm giao nộp tài liệu, chứng

cứ đó Đối với tài liệu, chứng cứ mà trước đó Tòa án không yêu cầu đương sự giao nộp hoặc tài liệu, chứng cứ mà đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ việc theo thủ tục sơ thẩm thì đương sự có quyền giao nộp, trình bày tại phiên tòa sơ thẩm, phiên họp giải quyết việc dân sự hoặc các giai đoạn tố tụng tiếp theo của việc giải quyết

vụ việc dân sự

Như vậy, với việc bổ sung quy định này của BLTTDS 2015 đã tháo gỡ vướng mắc của BLTTDS 2004 sửa đổi, bổ sung 2011 về trường hợp các đương sự không bị giới hạn thời gian giao nộp chứng cứ mà có quyền giao nộp chứng cứ vào bất kỳ thời điểm, giai đoạn nào trong quá trình giải quyết vụ án Do đó, thực tiễn giải quyết vụ việc dân sự có tình trạng ở giai đoạn xét xử sơ thẩm, đương sự giữ chứng cứ, cố tình che giấu chứng cứ, chấp nhận có thể bị Tòa án bác yêu cầu, đến giai đoạn xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm mới giao nộp nhưng Tòa án vẫn phải chấp nhận chứng cứ đó, dẫn đến việc phải hủy, sửa bản án đã ban hành Việc thiếu quy định này trong thời gian trước đây đã dẫn đến việc đương sự lợi dụng kéo dài việc giải quyết vụ án, làm giảm tính ổn định của bản án, quyết định của Tòa án, gây tốn kém thời gian, công sức cho cả Tòa án và các đương sự trong vụ

án, tăng chi phí tố tụng, không bảo đảm điều kiện để các đương sự thực hiện tranh tụng công khai tại phiên tòa.v.v… Hơn nữa, việc PLTTDS Việt Nam không quy định thời hạn giao nộp, cung cấp chứng cứ là không phù hợp với nguyên tắc giao nộp, cung cấp chứng

cứ ở nhiều nước trên thế giới

Trang 32

Việc quy định thời hạn giao nộp chứng cứ do Thẩm phán xác định là phù hợp với thông lệ của nhiều nước trên thế giới và thông thường sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, đương sự không có quyền cung cấp chứng cứ mới Việc giới hạn thời hạn cung cấp chứng cứ của đương sự sẽ buộc đương sự phải có trách nhiệm hơn nữa trong việc thu thập, cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của mình; đồng thời, tránh trường hợp đương sự lợi dụng quy định có quyền cung cấp chứng cứ ở bất kỳ giai đoạn nào của quá trình tố tụng để kéo dài vụ kiện, Tòa cấp sơ thẩm phải hoãn phiên tòa để thu thập chứng cứ, Tòa án cấp trên hủy án của Tòa án cấp dưới do đương sự xuất trình chứng

do chính đáng thì đương sự phải chứng minh lý do của việc chậm giao nộp tài liệu, chứng

cứ đó Đối với tài liệu, chứng cứ mà trước đó Tòa án không yêu cầu đương sự giao nộp hoặc tài liệu, chứng cứ mà đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ việc theo thủ tục sơ thẩm thì đương sự có quyền giao nộp, trình bày tại phiên tòa sơ thẩm, phiên họp giải quyết việc dân sự hoặc các giai đoạn tố tụng tiếp theo của việc giải quyết

vụ việc dân sự là chưa hợp lý, bởi trong tố tụng dân sự nghĩa vụ chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp thuộc về các đương sự, Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ và chỉ tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ trong một số trường hợp.14

Nghĩa vụ chứng minh của đương sự cần được hiểu là đương sự phải có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, đưa ra các căn cứ pháp lý, lý lẽ, lập luận để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Điều đó có nghĩa, khi đương sự không thể tự thu thập được chứng cứ và có đơn yêu cầu hoặc các trường hợp Tòa án buộc phải chủ động thu

13

http://www.kiemsat.vn/thoi-han-giao-nop-chung-cu-cua-duong-su.html ngày truy cập 21 tháng 5 năm 2017

14 Bùi Thị Huyền (2016) Thời hạn giao nộp chứng cứ của đương sự và phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ theo quy định của BLTTDS năm 2015,TCKS số 10/2016

Trang 33

thập chứng cứ mới có thể giải quyết được vụ án thì Tòa án mới xác minh, thu thập chứng

cứ Mức độ hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động chứng minh của các đương sự phụ thuộc rất nhiều vào trình độ hiểu biết pháp luật của đương sự, mức độ tham gia tố tụng của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, cơ chế tố tụng và các điều kiện kinh tế xã hội khác Vì vậy, tùy theo truyền thống tố tụng, điều kiện kinh tế xã hội, trình

độ hiểu biết pháp luật của người dân mà pháp luật của mỗi nước quy định mức độ hỗ trợ của Tòa án đối với việc thực hiện nghĩa vụ chứng minh của đương sự là khác nhau Theo quy định tại Điều 6 BLTTDS 2015, với tư cách là cơ quan xét xử, Tòa án có trách nhiệm

hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ và chỉ tiến hành thu thập, xác minh chứng

cứ trong các trường hợp khi họ không thể tự mình thu thập được chứng cứ và có yêu cầu hoặc các trường hợp do pháp luật quy định

Như vậy, sự hỗ trợ của Toà án đối với việc thực hiện nghĩa vụ chứng minh của đương sự nhằm bảo đảm tìm ra chân lý, có thể làm giảm những hậu quả bất lợi cho đương

sự trong trường hợp họ không thực hiện được nghĩa vụ chứng minh của mình, không phải Tòa án làm thay đương sự

Do đó, với quy định tại khoản 4 Điều 96 BLTTDS 2015 theo hướng Tòa án có trách nhiệm xác định các chứng cứ đương sự cần giao nộp là không hợp lý Điều đó sẽ dẫn đến hậu quả đối với các trường hợp, mặc dù đương sự đã có chứng cứ nhưng họ cố tình không giao nộp và nếu Tòa án không yêu cầu họ giao nộp thì tại phiên tòa sơ thẩm hoặc phúc thẩm đương sự vẫn có quyền cung cấp chứng cứ mới Quy định này là mâu thuẫn với Điều 6 BLTTDS 2015 và không phân định rõ ràng nghĩa vụ chứng minh của các đương sự và trách nhiệm hỗ trợ của Tòa án đối với việc thực hiện nghĩa vụ chứng minh của đương sự

Đương sự phải gửi cho các đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của

họ bản sao tài liệu, chứng cứ

Để khắc phục những bất cập của BLTTDS 2004 sửa đổi, bổ sung 2011 về việc tiếp cận chứng cứ của các đương sự trước khi vụ việc được Tòa án xét xử Do vậy, trong nhiều trường hợp bên đương sự này chỉ biết được chứng cứ, tài liệu của bên đương sự khác khi họ xuất trình tại phiên tòa, chưa có các quy định về chế tài xử lý để hạn chế việc thiếu hợp tác của một bên đương sự trong việc cung cấp chứng cứ Những hạn chế này

Trang 34

dẫn tới sự bị động và khó khăn cho một bên đương sự trong việc bảo vệ quyền của mình trước Tòa án.Do đó BLTTDS 2015 đã quy định đương sự có nghĩa vụ gửi cho các đương

sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của họ bản sao tài liệu, chứng cứ (khoản 9 Điều 70 BLTTDS 2015)

Khi đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án thì họ phải sao gửi tài liệu, chứng cứ đó cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự khác; đối với tài liệu, chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều 109 của BLTTDS 2015 hoặc tài liệu, chứng

cứ không thể sao gửi được thì phải thông báo bằng văn bản cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự khác (khoản 5 Điều 96 BLTTDS 2015)

Như vậy, xác định nghĩa vụ của đương sự khi giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa

án thì phải sao gửi tài liệu, chứng cứ đó cho đương sự khác hoặc người đại diện của đương sự khác Tuy vậy, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã loại trừ những tài liệu, chứng cứ mà đương sự không thể sao gửi được thì phải thông báo bằng văn bản cho đương sự và người đại diện của đương sự

Bổ sung quy định về thủ tục trao đổi, chuyển giao chứng cứ giữa các đương sự để mọi chứng cứ đều công khai nhằm bảo đảm thực hiện tranh tụng trong quá trình giải quyết vụ án Tuy nhiên, cũng có một số vấn đề đặt ra là vậy đương sự phải gửi tài liệu, chứng cứ vào thời điểm nào? Cách thức gửi như thế nào? Đương sự có phải chứng minh với Tòa án về việc đã sao gửi tài liệu, chứng cứ không? Trường hợp đương sự không thực hiện việc sao gửi thì giải quyết thế nào?

Vấn đề này hiện đã được hướng dẫn tại Công văn số 01/2017/GĐ-TANDTC của Tòa án nhân dân tối cao Giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ ngày 07/4/2017, cụ thể như sau:

– Việc quy định đương sự có nghĩa vụ gửi cho đương sự khác bản sao tài liệu, chứng cứ tại khoản 9 Điều 70, khoản 5 Điều 96 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 là nhằm đảm bảo việc tiếp cận chứng cứ để thực hiện quyền tranh tụng của đương sự trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án Do vậy, nguyên đơn phải gửi bản sao đơn khởi kiện, tài liệu chứng cứ cho đương sự khác trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải

Trang 35

– Về phương thức đương sự sao gửi tài liệu, chứng cứ cho đương sự khác, do Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 không quy định nên đương sự có quyền lựa chọn phương thức sao gửi tài liệu, chứng cứ cho đương sự khác (gửi trực tiếp, gửi qua đường bưu điện…) và đương sự phải chứng minh với Tòa án đã sao gửi tài liệu, chứng cứ cho đương

sự khác

Đây là một trong những quy định mới được quy định trong BLTTDS 2015 nhằm bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử Do vậy, trong quá trình tố tụng, Tòa án phải giải thích, hướng dẫn cho đương sự để họ thực hiện nghĩa vụ sao gửi tài liệu, chứng cứ cho đương sự khác

Trường hợp đương sự không thực hiện việc sao gửi tài liệu, chứng cứ cho đương

sự khác thì Tòa án yêu cầu đương sự phải thực hiện Tuy nhiên, trong trường hợp Tòa án

đã yêu cầu đương sự phải thực hiện nhưng đương sự vẫn không thực hiện thì pháp luật chưa quy định chế tài trong trường hợp này

Trường hợp vì lý do chính đáng, không thể sao gửi tài liệu, chứng cứ cho đương sự khác thì đương sự có quyền yêu cầu Tòa án hỗ trợ theo quy định tại khoản 3 Điều 196 BLTTDS 2015 là trường hợp nguyên đơn có đơn yêu cầu Tòa án hỗ trợ trong việc gửi tài liệu, chứng cứ thì kèm theo thông báo về việc thụ lý vụ án, Tòa án gửi cho bị đơn, người

có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bản sao tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp

2.2 Thực trạng quy định về nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án và chấp hành các quyết định của Tòa án trong thời gian giải quyết vụ án

Để đương sự có thể thực hiện nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án thì trước hết đương sự có quyền được nhận hoặc biết nội dung các văn bản tố tụng Đương sự

có thể nhận được thông báo hợp lệ thông qua hoạt động cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng do cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện Do đó, Tòa án phải có trách nhiệm tiến hành triệu tập hợp lệ đương sự để đương sự có mặt, khi đó Tòa án có thể tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành

án thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho đương sự, những người tham gia tố tụng khác và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan theo quy định của Bộ luật này và pháp luật có liên quan ( Điều 170 BLTTDS 2015)

Trang 36

Đương sự được triệu tập mà vắng mặt có thể vì nhiều nguyên nhân khác nhau cụ thể là: đương sự vắng mặt do việc triệu tập của Tòa án không hợp lệ, đương sự được Tòa

án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt có lý do chính đáng như do sự kiện bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan mà họ không thể có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án hoặc

do có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt, đương sự được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn cố tình vắng mặt để trốn tránh nghĩa vụ.v.v… Nếu đương sự không có mặt theo giấy triệu tập dù là có lý do hay không có lý do, thì đều phải chấp nhận hậu quả pháp lý do sự vắng mặt của mình

BLTTDS2015 đã bổ sung 4 điều luật về “Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ” Theo đó, BLTTDS 2015 đã quy định về thông báo, thành

phần, trình tự và biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ Song, khác với pháp luật của các nước trên thế giới, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ theo BLTTDS 2015 được tiến hành cùng với phiên hòa giải Kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ (từ Điều 208 đến Điều 211 BLTTDS 2015) là nội dung mới của BLTTDS 2015 nhằm bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử quy định tại khoản 5 Điều 103 của Hiến pháp năm 2013 và Điều 25 của BLTTDS sự 2015, bảo đảm việc thụ lý vụ việc được công khai, minh bạch, đúng pháp luật.15

Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ được tổ chức trong trường hợp Tòa án đã hòa giải nhưng không thành hoặc trường hợp không được hòa giảitrước khi quyết định đưa vụ án ra xét xử để kiểm tra, xác định chứng cứ và giải quyết

đề nghị, yêu cầu của đương sự về chứng cứ Khi Tòa án tiến hành hòa giải trong vụ án có nhiều đương sự mà có đương sự vắng mặt, nhưng các đương sự có mặt vẫn đồng ý tiến hành phiên họp và việc tiến hành phiên họp đó không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì Thẩm phán tiến hành phiên họp giữa các đương sự có mặt; nếu các đương sự đề nghị hoãn phiên hòa giải để có mặt tất cả các đương sự trong vụ án thì Thẩm phán phải hoãn phiên họp Thẩm phán phải thông báo việc hoãn phiên họp và việc mở lại phiên họp cho đương sự (khoản 3 Điều 209 BLTTDS 2015) Trong trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 210 của BLTTDS 2015 mà các đương sự có mặt thỏa thuận được với

15

5 năm 2017

Trang 37

nhau về việc giải quyết vụ án thì thỏa thuận đó chỉ có giá trị đối với những người có mặt

và được Thẩm phán ra quyết định công nhận nếu không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt Trường hợp thỏa thuận của họ có ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì thỏa thuận này chỉ có giá trị và được Thẩm phán ra quyết định công nhận nếu được đương sự vắng mặt tại phiên hòa giải đồng ý bằng văn bản (khoản 3 Điều 187 BLTTDS 2015)

PLTTDS không quy định phải mở bao nhiêu phiên hòa giải, tuy nhiên trên thực tế,

để giải quyết vụ án dân sự, Tòa án có thể tiến hành nhiều phiên hòa giải ít nhất là 2 lần (nếu thời hạn chuẩn bị xét xử còn) Trong khi đó, khoản 3 Điều 200 và khoản 2 Điều 201 BLTTDS năm 2015 quy định: Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có quyền đưa ra yêu cầu độc lập trước thời điểm

mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải Tuy nhiên, nếu có nhiều phiên hòa giải thì bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền đưa ra yêu cầu độc lập trước thời điểm phiên hòa giải lần nào

Hơn nữa, BLTTDS 2015 vẫn còn chưa quy định chặt chẽ ở chỗ: theo quy định khoản 3 Điều 209 BLTTDS 2015 thì trong vụ án có nhiều đương sự mà có đương sự vắng mặt, nhưng các đương sự có mặt vẫn đồng ý tiến hành phiên họp và việc tiến hành phiên họp đó không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì Thẩm phán tiến hành phiên họp giữa các đương sự có mặt; nếu các đương sự đề nghị hoãn phiên hòa giải

để có mặt tất cả các đương sự trong vụ án thì Thẩm phán phải hoãn phiên họp Thẩm phán phải thông báo việc hoãn phiên họp và việc mở lại phiên họp cho đương sự Nhưng tại phiên họp lần hai cũng như các lần tiếp theo mà vẫn có đương sự vắng mặt, các đương sự

có mặt vẫn đề nghị chỉ hòa giải khi có mặt tất cả các đương sự trong vụ án thì giải quyết

ra sao thì BLTTDS 2015 chưa quy định

Đối với phiên tòa, theo quy định tại Điều 227 BLTTDS 2015 thì Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa; nếu có người vắng mặt thì Hội đồng xét

xử phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt Tòa án phải thông báo cho đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự về việc hoãn phiên tòa

Trang 38

Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa, trừ trường hợp

họ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; nếu vắng mặt vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì Tòa án có thể hoãn phiên tòa, nếu không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì tùy từng tư cách tham gia tố tụng xử lý như sau:

Nghĩa vụ của nguyên đơn phải có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án:

Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, trường hợp đương sự là nguyên đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt (trừ trường hợp có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan) thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện đối với yêu cầu khởi kiện của người đó Nguyên đơn có quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp luật Khi đó, Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết VADS theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 BLTTDS 2015 Trong trường hợp này nguyên đơn có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại VADS đó nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn nhưng tiền tạm ứng án phí mà đương sự đã nộp được sung vào công quỹ nhà nước (khoản 2 Điều 219 BLTTDS 2015)

Có thể thấy rằng, các quy định của BLTTDS 2015 đã xác định khá cụ thể việc xử

lý khi nguyên đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, cụ thể đã bổ sung trường hợp vì trở ngại khách quan là lý do chính đáng cho nguyên đơn

Hơn nữa, tại khoản 2 Điều 217 BLTTDS 2015 đã có sự bổ sung cách xử lý đối với trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, không đề nghị xét xử vắng mặt và trong vụ án đó có bị đơn yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập thì giải quyết như sau:

- Bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan rút toàn bộ yêu cầu độc lập thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án;

- Bị đơn không rút hoặc chỉ rút một phần yêu cầu phản tố thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; bị đơn trở thành nguyên đơn, nguyên đơn trở thành bị đơn;

Trang 39

- Bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không rút hoặc chỉ rút một phần yêu cầu độc lập thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trở thành nguyên đơn, người nào bị khởi kiện theo yêu cầu độc lập trở thành bị đơn

Và họ sẽ phải chịu hậu quả pháp lý theo quy định tại Điều 218 BLTTDS 2015:

“Khi c quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự đ nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác v i vụ án trư c về nguyên đơn ị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 192 điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này và các trường hợp hác theo quy định của pháp luật”

Trường hợp Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 217 hoặc vì lý do nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này thì tiền tạm ứng án phí mà đương sự đã nộp được sung vào công quỹ nhà nước

Tuy nhiên, tại điểm a khoản 2 Điều 227 BLTTDS 2015 có quy định về nguyên đơn vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện

và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.v.v Nhà làm luật đã sử dụng

sai thuật ngữ “đình chỉ giải quyết vụ án” vì đình chỉ giải quyết vụ án là không xem xét,

giải quyết bất cứ yêu cầu nào nữa Mà trong một vụ án có nhiều yêu cầu thì chỉ được đình chỉ giải quyết yêu cầu đó chứ không thể đình chỉ giải quyết vụ án đối với tất cả yêu cầu được

Nghĩa vụ của bị đơn phải có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án:

Điều 207 BLTTDS 2015 quy định về những vụ án dân sự không tiến hành hòa giải được, trong đó khoản 1 quy định trường hợp: Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt Quy định như vậy của điều luật không rõ ràng dẫn đến sẽ có nhiều cách hiểu khác nhau ở chỗ: Bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ đến giải quyết hay đến để hòa giải lần thứ hai nhưng vẫn cố tình vắng mặt Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt thì Tòa án sẽ không tiến hành hòa

Trang 40

giải mà để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án (khoản 1 Điều 207 BLTTDS 2015) và sẽ tiến hành giải quyết vụ án vắng mặt bị đơn Khi đó, bị đơn sẽ không

có cơ hội để trình bày, nêu quan điểm bảo vệ quyền lợi cho mình hoặc có yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn

Bị đơn không có yêu cầu phản tố vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ (điểm b khoản 2 Điều 227 BLTTDS 2015)

Để khắc phục hạn chế của BLTTDS sửa đổi, bổ sung 2011 về thiếu quy định về trường hợp Tòa án triệu tập phiên tòa hợp lệ lần thứ hai, bị đơn có yêu cầu phản tố vắng mặt thì tại điểm c khoản 2 Điều 227 BLTTDS 2015 đã bổ sung quy định về cách thức xử

lý trường hợp này như sau: “Bị đơn c yêu cầu phản tố v ng mặt mà hông c người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ yêu cầu phản tố và Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết đối v i yêu cầu phản tố, trừ trường hợp bị đơn c đơn đề nghị xét xử v ng mặt

Bị đơn c quyền khởi kiện lại đối v i yêu cầu phản tố đ theo quy định của pháp luật”

Nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người có liên quan phải

có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án:

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khi TGTT có thể có yêu cầu độc lập hoặc TGTT với bên nguyên đơn hoặc với bên bị đơn theo quy định tại Điều 73 BLTTDS 2015 Nếu họ có yêu cầu độc lập hoặc TGTT với bên nguyên đơn hoặc chỉ có quyền lợi thì có nghĩa vụ của nguyên đơn quy định tại Điều 71 của BLTTDS 2015 Nếu họ TGTT với bên

bị đơn hoặc chỉ có nghĩa vụ thì có nghĩa vụ của bị đơn quy định tại Điều 72 của BLTTDS

2015

BLTTDS 2015 đã bổ sung thêm trường hợp vụ án dân sự không tiến hành hòa giải được do người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt (khoản 1 Điều 207 BLTTDS 2015)

Khi Tòa án triệu tập phiên tòa hợp lệ lần thứ hai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ (điểm b khoản 2 Điều 224 BLTTDS 2015) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người

Ngày đăng: 14/03/2019, 21:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
24. Cornne Renautl – Brahinsky (2002), Đại cương về pháp luật hợp đồng, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương về pháp luật hợp đồng
Tác giả: Cornne Renautl – Brahinsky
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 2002
25. Đào Duy Anh (1957), Từ điển Hán Việt, Trường Thi xuất bản, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hán Việt
Tác giả: Đào Duy Anh
Năm: 1957
26. Roger Resau, Jean Rondepierre, esdouardBourrel, Michel Lerolle, Maurice Esmein, Paul Sumien (1951), Petit Dictionnaire de Droit, LibrairieDalloz, Paris Sách, tạp chí
Tiêu đề: Petit Dictionnaire de Droit
Tác giả: Roger Resau, Jean Rondepierre, esdouardBourrel, Michel Lerolle, Maurice Esmein, Paul Sumien
Năm: 1951
27. Nguyễn Công Bình (2012), Giáo trình luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, HàNội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật tố tụng dân sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Công Bình
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2012
28. Trường Đại học luật Hà Nội (2017), Giáo trình luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb CAND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật Tố tụng dân sự Việt Nam
Tác giả: Trường Đại học luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb CAND
Năm: 2017
29. Viện nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ Tƣ pháp (2006), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách khoa – Nxb Tƣ pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Luật học
Tác giả: Viện nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ Tƣ pháp
Nhà XB: Nxb Từ điển Bách khoa – Nxb Tƣ pháp
Năm: 2006
30. Nguyễn Triều Dương (2010), Đương sự trong tố tụng dân sự - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án Tiến sĩ luật học, HàNội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đương sự trong tố tụng dân sự - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Triều Dương
Năm: 2010
31. Nghiêm Thị Ngoan (2012), ghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự Việt Nam
Tác giả: Nghiêm Thị Ngoan
Năm: 2012
32. Nguyễn Thị Hòa (2012), Nguyên t c cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tốtụng dân sự, Khoá luận tốt nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên t c cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tốtụng dân sự
Tác giả: Nguyễn Thị Hòa
Năm: 2012
33. Tăng Hoàng My (2012), Nguyên t c cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự, Luận văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên t c cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự
Tác giả: Tăng Hoàng My
Năm: 2012
34. Phạm Thị Hoàng Phúc (2013), ghĩa vụ của đương sự trong tố tụng dân sự Việ t Nam, Luận văn thạc sỹ Luật học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ghĩa vụ của đương sự trong tố tụng dân sự Việ t Nam
Tác giả: Phạm Thị Hoàng Phúc
Năm: 2013
35. Bùi Thị Huyền (2016), Thời hạn giao nộp chứng cứ của đương sự và phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ theo quy định của BLTTDS n m 2015, TCKS số 10/2016, Hà Nội.Website Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thời hạn giao nộp chứng cứ của đương sự và phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ theo quy định của BLTTDS n m 2015
Tác giả: Bùi Thị Huyền
Năm: 2016
6. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về hướng dẫn mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án Khác
10. Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án Khác
11. Công văn số 01/2017/GĐ-TANDTC của Tòa án nhân dân tối cao Giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ ngày 07/4/2017 Khác
12. (TANDTC 2017) Nghị quyết số 01/ 2017/NQ-HĐTP ngày 13 tháng 01 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành một số biểu mẫu trong tố tụng dân sự Khác
13. TANDTC (2011), Báo cáo tổng kết công tác công tác năm 2011 và phương hướng nhiệm vụ công tác năm 2012 ngành Tòa án nhân dân Khác
14. TANDTC (2012), Báo cáo tổng kết công tác công tác năm 2012 và phương hướng nhiệm vụ công tác năm 2013 ngành Tòa án nhân dân Khác
15. TANDTC (2013), Báo cáo tổng kết công tác công tác năm 2013 và phương hướng nhiệm vụ công tác năm 2014 ngành Tòa án nhân dân Khác
16. TANDTC (2014), Báo cáo tổng kết công tác công tác năm 2011 và nhiệm vụ trọng tâm công tác năm 2010 của các Tòa án nhân dân Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w