1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật điều chỉnh chế độ lao động của thuyền viên việt nam làm việc trên tàu biển hoạt động tuyến quốc tế

101 143 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 7,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó, thuyền viên làm việc trên tàu biển còn phải chịu sự điều chỉnh của các điều ước quốc tế về chế độ làm việc đảm bảo an toàn hàng hải và bảo vệ môi trường biển; Chính vì vậy,

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

PHẠM ĐỨC QUÂN

PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH CHẾ ĐỘ LAO ĐỘNG CỦA THUYỀN VIÊN VIỆT NAM LÀM VIỆC TRÊN TÀU BIỂN HOẠT ĐỘNG TUYẾN QUỐC TẾ

Chuyên ngành: Luật Quốc tế

Mã số: 60380108

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS VŨ THỊ PHƯƠNG LAN

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

MỤC LỤC Chương 1 Một số vấn đề pháp lý cơ bản về pháp luật điều chỉnh

mối quan hệ lao động của thuyền viên làm việc trên tàu biển hoạt

Chương 2: Thực tiễn chế độ làm việc của thuyền viên làm việc trên

tàu biển theo pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế

34

2.1 Các quy định của Công ước lao động hàng hải 2006 (MLC 2006) mà Việt Nam là thành viên

34

2.2 Thực trạng pháp luật Việt Nam về chế độ lao động của thuyền viên Việt Nam làm việc trên tàu biển hoạt động tuyến quốc tế

Chương 3: Phương hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam về chế độ

3.1 Một số nguyên tắc cơ bản trong hoàn thiện pháp luật 71

3.1.1 Bảo đảm sự phù hợp giữa các quy phạm pháp luật trong nước với các quy định của luật hàng hải quốc tế

72

Trang 3

3.1.2 Bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ giữa hệ thống quy phạm pháp

luật lao động chung với hệ thống quy phạm pháp luật chuyên ngành

hàng hải

72

3.2 Đề xuất hoàn thiện pháp luật về chế độ lao động của thuyền viên

73

3.2.1 Hợp đồng lao động thuyền viên nên được cơ quan quản lý nhà

3.2.4 Bổ sung quy định bồi thường cho thuyền viên khi tàu bị đắm

hoặc mất tích

77

3.3 Các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý đội tàu biển, thuyền viên của doanh nghiệp trong điều kiện áp dụng Công ƣớc MLC

81

3.3.2 Đổi mới chính sách, hệ thống quản lý chất lượng tại các doanh nghiệp

82

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là một trong những quốc gia có diện tích biển so với lãnh thổ đất liền khá lớn trên thế giới, là quốc gia cửa ngõ cho các hoạt động trung chuyển vận tải biển quốc tế từ Ấn Độ Dương sang Thái Bình Dương Các hội nghị Trung ương đảng luôn nhấn mạnh rằng cần đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong việc tìm kiếm thị trường xuất khẩu thuyền viên, sĩ quan hàng hải trên cơ

sở nghiên cứu thị trường bài bản, dài hạn; xây dựng chương trình đào tạo và xuất khẩu lao động hàng hải, đồng thời tranh thủ hợp tác với các tổ chức hàng hải quốc tế để tận dụng sự trợ giúp đào tạo nhân lực cho ngành hàng hải Việt Nam nói chung Theo thống kê vào tháng 7/2017, Việt Nam đang có khoảng 50.000 nghìn thuyền viên, trong đó có khoảng 20.000 thuyền viên làm việc trên tàu biển Việt Nam và tàu biển nước ngoài; trong đó, số lượng thuyền viên

có chuyên môn cao được cung cấp và làm việc trên các đội tàu tiên tiến trên thế giới theo tiêu chuẩn thuyền viên quốc tế như Hiệp hội chủ tàu Nauy, Hà Lan, Đức, Đan mạch, Thụy Điển, Anh và các nước Châu Á

Việt Nam hiện nay là thành viên đầy đủ của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Tổ chức Lao động Thế giới (ILO), Tổ chức Hàng hải Thế giới (IMO) cũng như là thành viên của nhiều tổ chức liên chính phủ và phi chính phủ quan trọng khác Chính vì vậy, trong bố cảnh toàn cầu hóa hiện nay, những yếu tố đó là những điều kiện quan trọng cho sự phát triển kinh tế của đất nước nói chung và ngành hàng hải quốc gia nói riêng Việt Nam cũng được biết đến với nguồn nhân lực khá dồi dào để đi lao động ở nước ngoài, mặc dù hiện tại chủ yếu là xuất khẩu lao động giản đơn, chưa có nhiều tính cạnh tranh nên giá trị hợp đồng cho từng cá nhân là không cao

Thực tế hiện nay cho thấy, khi làm việc trên tàu biển nước ngoài hoặc tàu biển Việt Nam hoạt động tuyến quốc, do thuyền viên phải làm việc trong

Trang 5

điều kiện, môi trường khác so với chế độ làm việc trên tàu biển hoạt động tuyến nội địa nên việc quản lý, giám sát, hỗ trợ, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các cơ quan chức năng của Việt Nam đối với thuyền viên gặp nhiều khó khăn Nhìn từ góc độ pháp luật, thuyền viên Việt Nam làm việc trên tàu biển của nhiều quốc gia khác, do đó có nhiều hệ thống pháp luật cùng điều chỉnh nên xung đột pháp luật trong quan hệ pháp luật là điều không tránh khỏi Thuyền viên có thể cùng một lúc phải chịu sự điều chỉnh của các hệ thống pháp luật như: hệ thống pháp luật của quốc gia sở tại, quốc gia ven biển, quốc gia tàu mang cờ Bên cạnh đó, thuyền viên làm việc trên tàu biển còn phải chịu sự điều chỉnh của các điều ước quốc tế về chế độ làm việc đảm bảo an toàn hàng hải và bảo vệ môi trường biển; Chính vì vậy, thuyền viên phải đối mặt với nhiều nguy cơ như bị lạm dụng sức lao động, bị các tai nạn lao động do các điều kiện làm việc không đảm bảo tiêu chuẩn chung, bị người

sử dụng lao động đối xử về chế độ tiền lương, bảo hiểm xã hội…

Những quy định của pháp luật lao động hiện tại tuy đã ngày càng hoàn thiện, góp phần không nhỏ giúp các cơ quan nhà nước quản lý chế độ lao động của thuyền viên nhưng vẫn chưa bao quát, toàn diện và xuất hiện một số điểm hạn chế, bất cập Mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và toàn cầu hóa đã gia tăng sự phức tạp, biến động của vấn đề thuyền viên Việt Nam làm việc trên tàu biển Đặc biệt là trong bối cảnh Việt Nam đã tham gia, ký kết các Hiệp định hợp tác thương mại thế hệ mới, việc hoàn thiện, sửa đổi các quy định pháp luật lao động trong nước để phù hợp với các cam kết quốc tế là điều cần thiết hiện nay để bảo vệ thuyền viên Việt Nam hoạt động trên tàu biển nước ngoài

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề người lao động Việt Nam làm việc tại nước ngoài là vấn đề đã nhận được sự quan tâm lớn của những chuyên gia pháp lý, chuyên gia kinh tế

Trang 6

trong bối cảnh người Việt Nam có xu hướng ra nước ngoài làm việc ngày càng nhiều hơn Tuy nhiên, vấn đề thuyền viên Việt Nam làm việc trên tàu biển nước ngoài hoặc tàu biển Việt Nam hoạt động tuyến quốc tế vẫn chưa có nhiều tài liệu hay công trình nghiên cứu khoa học cũng như các bài viết liên quan đến vấn đề này, hoặc có những cũng chỉ đề cập ở khía cạnh kinh tế, chưa đề cập đến khía cạnh pháp lý Đã có một số đề tài thạc sĩ, tiến sĩ nghiên cứu về các mối quan hệ của người lao động Việt Nam trong lĩnh vực tư pháp quốc tế, nổi bật như:

Ở cấp độ các bài viết trên các tạp chí nghiên cứu: “Xuất khẩu thuyền viên - cơ hội và thách thức” trên Tạp chí Tạp chí Hàng hải, số tháng 3 năm 2008; “Một số vấn đề cơ bản của pháp luật lao động quốc tế” của Ths Phạm Trọng Nghĩa trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 9/2008; “Khoảng trống trong Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài” trên báo Lao động tháng 7/2015; “Chất lượng thuyền viên đưa đi xuất khẩu: thực trạng và kiến nghị” của Đào Quang Dân đăng trên tạp chí khoa học và công nghệ hàng hải số tháng 3/2016; “Những hạn chế và nguyên nhân trong công tác xuất khẩu thuyền viên” trên tạp chí giao thông tháng 11/2016; “Đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài: cần thiết và đúng hướng” trên Báo tạp chí tài chính 3/2017…

Ở cấp độ luận văn thạc sỹ luật học có một số công trình tiêu biểu như Luận văn thạc sỹ “Biện pháp nâng cao hiệu quả công tác xuất khẩu thuyền viên Việt Nam” của Nguyễn Mạnh Cường năm 1999; Luận văn thạc sỹ “Pháp luật về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam-Thực trạng và giải pháp hoàn thiện” của Đào Thị Lệ Thu năm 2012; Luận văn “Giải pháp nâng cao hiệu quả của xuất khẩu thuyền viên Việt Nam đến năm 2010” của Phạm Viết Cường năm 2003 …

Trang 7

Các công trình trên đã có nhiều thành tựu và kết quả nhất định khi nghiên cứu về vấn đề lao động nước ngoài tại Việt Nam Tuy nhiên hiện nay, chưa có công trình nào đề cập đến pháp luật điều chỉnh vấn đề chế độ làm việc của thuyền viên trên tàu biển nước ngoài, đặc biệt là thời điểm hiện tại Việt Nam đã ký kết gia nhập Công ước về lao động hàng hải quốc tế (MLC 2006) Vì vậy, kế thừa những thành tựu đã đạt được của các công trình nghiên cứu đi trước, luận văn này tiếp tục nghiên cứu toàn diện về pháp luật điều chỉnh vấn đề chế độ làm việc của thuyền viên Việt Nam trên tàu biển nước ngoài

3 Đối tƣợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề pháp lý cơ bản về chế độ lao động của thuyền viên trên tàu biển hoạt động tuyến quốc tế Tuy nhiên, do thuyền viên Việt Nam hiện nay làm việc trên tàu biển rất nhiều hình thức khác nhau, phạm vi nghiên cứu của luận văn sẽ tập trung phân tích, đánh giá các quy định pháp luật Việt Nam, quốc tế điều chỉnh vấn đề thuyền viên Việt Nam làm việc tại tàu biển hoạt động tuyến quốc tế theo hình thức hợp đồng lao động Ngoài ra, tàu biển hoạt động tuyến quốc tế có thể hiểu là tàu biển nước ngoài hoạt động tại cảng biển Việt Nam, tàu biển Việt Nam hoạt động tuyến quốc tế Từ những đánh giá đó, tác giả đề xuất một vài giải pháp

để hoàn thiện quy định về thuyền viên Việt Nam làm việc trên tàu biển hoạt động tuyến quốc tế

4 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn

Luận văn có mục tiêu nghiên cứu tổng quát là làm sáng tỏ các vấn đề pháp lý về chế độ lao động của thuyền viên Việt Nam làm việc trên tàu biển hoạt động tuyến quốc tế

Trang 8

Bên cạnh việc nghiên cứu những vấn đề pháp lý về chế độ làm việc của thuyền viên Việt Nam làm việc trên các tàu biển nước ngoài, tàu biển Việt Nam hoạt động tuyến quốc tế theo quy định của pháp luật Việt Nam, luận văn còn tiến hành phân tích những ưu điểm và hạn chế của pháp luật Việt Nam hiện hành về lao động thuyền viên Thông qua đó, hướng tới việc đề xuất một

số ý kiến đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn cho việc hoàn thiện pháp luật của Việt Nam về vấn đề này

5 Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn

Những phân tích, kết quả của Luận văn này trả lời cho các câu hỏi: Những điều ước quốc tế Việt Nam tham gia, những văn bản pháp luật quốc gia điều chỉnh vấn đề chế độ lao động của thuyền viên thế nào? Pháp luật quốc tế, pháp luật Việt Nam điều chỉnh chế độ lao động của thuyền viên như thế nào? Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, Việt Nam cần sửa đổi, bổ sung những quy định nào để bảo vệ thuyền viên khi tham gia và quan hệ lao động có yếu tố nước ngoài?

6 Phương pháp nghiên cứu

Về phương pháp luận, để làm rõ các vấn đề nghiên cứu, luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin Đây là phương pháp khoa học vận dụng nghiên cứu trong toàn bộ luận văn để đánh giá các quy định pháp luật về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam một cách khách quan

Về phương pháp nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như: Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp lịch sử… Ngoài ra, luận văn còn sử dụng phương pháp so sánh để làm rõ các vấn đề liên quan trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, những quy định của pháp luật hiện hành và

Trang 9

những quy định đã được sửa đổi bổ sung thay thế Qua đó, thấy được điểm mới và điểm chưa phù hợp của pháp luật hiện hành, làm căn cứ xác thực cho việc đưa ra những giải pháp khắc phục, sửa đổi bổ sung

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Luận văn đã phân tích và làm sáng tỏ một số vấn đề vấn đề pháp lý về chế độ lao động của thuyền viên Việt Nam làm việc trên tàu biển hoạt động tuyến quốc tế Từ những phân tích của luận văn có thể rút ra những kết luận cần thiết, những ý kiến đề xuất nhằm góp phần hoàn thiện quy định pháp luật

về lao động thuyền viên Việt Nam, các biện pháp khác để quản lý tốt hơn lực lượng lao động thuyền viên và áp dụng có hiệu quả các quy định pháp luật trong thực tiễn đời sống

8 Bố cục của luận văn

Ngoài mục lục, lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu thành ba chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về pháp luật điều chỉnh mối quan hệ lao động của thuyền viên

Chương 2: Thực tiễn chế độ làm việc của thuyền viên làm việc trên tàu biển theo pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế

Chương 3: Phương hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam về chế độ lao động của thuyền viên

Trang 10

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH

MỐI QUAN HỆ LAO ĐỘNG CỦA THUYỀN VIÊN

1.1 Khái niệm chung về pháp luật điều chỉnh quan hệ lao động thuyền viên có yếu tố nước ngoài

1.1.1 Khái niệm tàu biển, thuyền viên

1.1.1.1 Tàu biển

Theo quy định tại Điều 14 Bộ Luật Hàng hải Việt Nam 2015: Tàu biển là phương tiện nổi di động chuyên dùng hoạt động trên biển Tàu biển không bao gồm tàu quân sự, tàu công vụ, tàu cá, phương tiện thủy nội địa, tàu ngầm, tàu lặn, thủy phi cơ, kho chứa nổi, giàn di động, ụ nổi

Theo quy định tại Điều 3 Luật biển Việt Nam 2012: Tàu thuyền là phương tiện hoạt động trên mặt nước hoặc dưới mặt nước bao gồm tàu, thuyền và các phương tiện khác có động cơ hoặc không có động cơ

Tàu biển hoạt động tuyến quốc tế là những tàu vận tải hàng hóa, hành khách từ quốc gia này sang quốc gia khác Tàu biển hoạt động tuyến quốc tế phải tuân thủ các quy định pháp luật quốc tế tại các Công ước mà quốc gia đó

là thành viên Khác với tàu biển hoạt động tuyến nội địa, tàu biển hoạt động tuyến quốc tế phải đạt được những tiêu chuẩn an toàn nhất định (hệ thống điều khiển, hệ thống máy móc, bằng cấp chứng chỉ thuyền viên…) nếu không muốn bị bắt giữ tại nước ngoài

Theo quan điểm của luật hàng hải quốc tế thì mỗi tàu biển phải có một quốc tịch, phải tuân theo luật lệ nước đó về tổ chức nội bộ hoạt động của tàu Tàu mang quốc tịch nước nào thì được phép mang cờ nước đó để hoạt động Tất cả tàu biển hoạt động tuyến quốc tế phải có một quốc tịch nhất định và

Trang 11

mang một cờ tương ứng, đây là biện pháp quan trọng để đảm bảo chế độ pháp

lý của tàu biển trên biển cả Theo quy định thì một tàu chỉ đc mang một quốc tịch Nếu một tàu nào đó trong cùng một lúc lại sử dụng hai quốc tịch tùy theo

sự thuận lợi của mình thì sẽ không được công nhận bất cứ quốc tịch nào trong

đó và xem như không có quốc tịch, có thể bị bắt giữ

Các loại tàu biển có thể hoạt động tuyến quốc tế:

- T

Chủ yếu dùng để chở các loại hàng tạp hóa Hàng tạp hóa là loại hàng được đóng trong thùng (hộp, bao tải ) hoặc được xếp riêng ở chỗ cố định ( máy móc, thiết bị công nghiệp, tấm kim loại…) Tàu bách hóa không chuyên vận tải một loại hàng hóa nhất định nào cho nên không tận dụng được hết khả năng chuyên chở của mình Vì lí do đó, vài thập niên gần đây, người ta đã thiết kế và đưa vào sử dụng rộng rải các loại tàu hàng chuyên dụng, mang lại hiệu quả vận chuyển cao và giảm đáng kể thời gian bốc xếp hàng ở cảng

- T

Trang 12

Dùng để vận chuyển các loại hàng rời thể rắn gồm tàu hàng rời thể rắn nói chung (bulk carrier), tàu chở than (bulk coal carrier), tàu chở cát (sand carrier), tàu hàng hạt ( grain carrier), tàu chở xi măng (cement carrier), tàu chở bô-xít (bauxite carrier)…

Tàu hàng rời thường không có hệ thống bốc d , việc này được thực hiện nhờ các thiết bị cẩu hàng tại cảng Nắp của hầm hàng trên tàu được làm với kích thước lớn giúp cho việc cơ động trong quá trình bốc d

- T t t

Tàu có vận tốc tương đối lớn, dùng để vận chuyển các loại hàng hóa khác nhau được đóng trong các container tiêu chuẩn Các container hàng được xếp vào hệ thống chứa ở thân tàu, một phần được xếp trên boong tàu Hệ thống hàng được thiết kế phù hợp với mục đích cố định các các container trong quá trình vận chuyển đồng thời tân dụng tối đa khoảng không gian trên tàu

Trang 13

- T R

Roro là từ viết tắt từ cụm từ tiếng anh Roll on/Roll of Tàu được thiết kế

để vận chuyển các loại hàng hóa có bánh như xe ô tô, rơ móc, toa tàu hỏa Với các cầu dẫn thường được trang bị ở đuôi và bên mạn tàu, hàng hóa là các phương tiện tự hành có thể lên và xuống một cách dễ dàng Đặc điểm đặc trưng của các loại tàu RoRo là tàu có dạng hình khối đồ sộ, thượng tầng chạy suốt bịt kín cả chiều dài lẫn chiều rộng của tàu

Trang 14

- T t t

Là loại tàu được thiết kế để vận chuyển hàng hóa ở dạng chất lỏng, điển hình là tàu chở dầu thô (crude oil tankers), tàu chở hóa chất (chemical tankers), tàu chở khí đôt hóa lỏng (LPG-Liquefied Petroleum Gas carriers), tàu chở khí tự nhiên hóa lỏng (LNG-Liquefied Natural Gas carriers) ngoài ra còn có tàu chở rượu, nước…

Thân tàu có kết cấu vững chắc, được chia thành nhiều khoang riêng biệt

để chứa hàng lỏng Việc bơm và hút chất lỏng chủ yếu được thực hiện bởi hệ thống máy bơm và đường ống lắp trên mặt boong và trong khoang chứa

Trang 15

- T t

Dùng để vận chuyển các loại gỗ nguyên cây hoặc gỗ xẻ hi vận chuyển, một số lượng lớn gỗ được xếp trên mặt boong tàu, do đó thành mạn tàu phải đảm bảo độ chắc chắc cao, đồng thời phải có kết cấu chuyên dụng để giữ cho các khối gỗ không bị xê dịch trong quá trình vận chuyển

- T đ ạ R

Tàu có tốc độ tương đối lớn, phục vụ cho việc vận tải các loại hàng hóa

dễ hư hỏng, chủ yếu là thực phẩm Nắp hầm hàng có kích thước nhỏ, hầm hàng được cách nhiệt và trang bị hệ thống làm lạnh nhằm bảo quản thực phẩm

ở nhiệt độ thích hợp

Trang 16

- T

Tàu được thiết kế với mục đích vận tải hành khách nên phải đảm bảo được tính ổn định, tiện nghi, tốc độ cao cũng như tính an toàn tốt, đặc biệt là các hệ thống cứu hộ cứu nạn phải được trang bị đầy đủ và kiểm tra nghiêm ngoặt, đáp ứng đúng theo quy định của các công ước quốc tế

Trang 17

1.1.1.2 Thuyền bộ

Theo quy định Điều 50 Bộ luật HHVN 2015: Thuyền bộ là thuyền viên thuộc định biên của tàu bao gồm thuyền trưởng, các sĩ quan và các chức danh khác được bố trí làm việc trên tàu biển

Theo quy định tại Nghị định số 121/2014/NĐ-CP ngày 24/12/2014 quy định chi tiết một số điều của Công ước lao động hàng hải năm 2006 và chế độ lao động của thuyền viên làm việc trên biển: Thuyền viên là người được tuyển dụng hoặc thuê làm việc trên tàu biển đáp ứng đủ điều kiện, tiêu chuẩn và đảm nhiệm chức danh theo quy định của pháp luật

Theo quy định của luật hàng hải quốc tế thì mỗi tàu biển phải bố trí thuyền viên đảm bảo đầy đủ về số lượng và chất lượng chuyên môn ngành nghề để đảm bảo an toàn hàng hải và khai thác kinh tế con tàu, phù hợp với mục đích sử dụng của nó Luật hàng hải quốc tế cũng cho phép quốc gia mà tàu mang quốc tịch được quy định số lượng thuyền viên làm việc trên một con tàu, số lượng định biên đó phụ thuộc vào c tàu và mức độ hiện đại của tàu Tuy nhiên, số lượng đó không được vượt quá số người mà một xuồng cứu sinh có thể chứa được Luật hàng hải quốc tế cũng cho phép quốc gia có cảng kiểm tra bất cứ tàu nào liên quan đến định biên an toàn, cũng như giấy chứng nhận chuyên môn của thuyền viên, nếu tàu vi phạm sẽ không được rời cảng Theo Công ước SCTW 78/95 (Công ước về tiêu chuẩn đào tạo và huấn luyện thuyền viên) thì thuyền viên có thể được chia thành các mức trách nhiệm bao gồm:

- Mức quản lý (management level): là mức độ trách nhiệm có liên quan đến việc phân công làm việc với chức danh thuyền trưởng, đại phó, máy trưởng, máy hai trên tàu hoạt động tuyến quốc tế và đảm bảo rằng mọi chức

Trang 18

năng trong lĩnh vực thuộc trách nhiệm được giao thực hiện một cách chính xác và đầy đủ;

- Mức vận hành (Operation level): là mức độ trách nhiệm có liên quan đến việc phân công làm việc với chức danh sỹ quan trực ca boong, sỹ quan trực ca buồng máy, sỹ quan vô tuyến điện, trực tiếp duy trì các chức năng trong phạm vi trách nhiệm dưới sự chỉ dẫn của cá nhân ở mức trách nhiệm quản lý;

- Mức trợ giúp (Support level): là mức độ trách nhiệm có liên quan đến việc hoàn thành các công việc, nhiệm vụ hoặc trách nhiệm được giao dưới sự hướng dẫn của cơ quan cấp trên

Việc quy định về thuyền viên và phân công nhiệm vụ cho từng người ở trên tàu của các nước cũng có sự khác nhau, nhưng về cơ bàn là giống nhau

và được chia thành hai bộ phận cơ bản gồm:

- Bộ phận sỹ quan: bao gồm những chức danh cao nhất của các bộ phận như thuyền trưởng, máy trưởng, đại phó, máy hai, sỹ quan trực ca…

- Bộ phận thuyền viên: bao gồm thủy thủ, thợ máy, thợ điện, phục vụ viên…

Thuyền viên là những người được đào tạo và huấn luyện theo tiêu chuẩn STCW95, với từng chức danh khác nhau thì có các tiêu chuẩn chuyên môn tương ứng Ở Việt Nam, nếu muốn trở thành Thuyền trưởng, phải trải qua các giai đoạn: tốt nghiệp đại học chuyên ngành hàng hải (4,5 năm); làm việc trên tàu với chức danh thực tập hay tương đương thủy thủ thường (ít nhất là 12 tháng); làm hồ sơ xin dự thi Sỹ quan mức vận hành sau khi cập nhật thêm một

số chứng chỉ theo quy định Khi có bằng chuyên môn là sĩ quan vận hành, bạn

có thể xuống tàu công tác với chức danh là Sĩ quan boong (Thuyền phó 3, Thuyền phó 2) ít nhất là 2 năm mới được về đăng ký học và thi lên Sĩ quan

Trang 19

quản lý Sau khi có bằng Sĩ quan quản lý, thuyền viên đó có thể được điều động đảm nhiệm chức danh Thuyền phó nhất trên tàu Nếu công tác tốt và có khả năng đảm đương được chức danh Thuyền trưởng thì cơ quan chủ khoản

sẽ làm công văn đề nghị cục hàng hải đổi từ bằng Sĩ quan mức quản lý lên bằng Thuyền trưởng

Dưới đây là định biên thông thường trên 1 tàu biển:

Thuyền trưởng

Bộ phận boong Bộ phận máy Bộ phận cấp dưỡng

Có thể nói trong các đối tượng lao động thì thuyền viên cùng một lúc chịu chi phối của nhiều bộ luật, nhiều công ước, nhiều quy định của quốc tế, của quốc gia mà tàu mang cờ, của quốc gia cảng biển mà tàu ghé tới nên họ rất căng thẳng, thụ động và rất dễ bị lạm dụng về sức lao động, lạm dụng về tiền công… Tổ chức lao động quốc tế (ILO) ngay từ khi mới thành lập đã xác định rõ rằng thuyền viên là một loại lao động đặc biệt và cần phải có quy định quốc tế nhằm bảo vệ và động viên phát triển Cho tới nay riêng tổ chức ILO

Trang 20

đã thông qua ít nhất là 33 công ước quốc tế liên quan tới thuyền viên MLC

2006 là công ước mới nhất mang tính đột phá cao và được gọi là “Bản tuyên

1.1.2 Quan hệ lao động thuyền viên trong lĩnh vực hàng hải

Để điều chỉnh quan hệ lao động là thuyền viên Việt Nam làm việc trên các tàu biển hoạt động tuyến quốc tế, xuất phát từ tính đa dạng trong quan

hệ này là nhiều pháp luật có thể được áp dụng như luật nhân thân của người lao động, luật nơi thực hiện hành vi lao động, luật mà phương tiện vận tải mang quốc tịch, nên tư pháp quốc tế Việt Nam đưa ra hướng chọn luật áp dụng khi có hai hay nhiều hệ thống pháp luật cùng điều chỉnh quan hệ lao động này như sau:

- Xác định luật áp dụng theo luật của quốc gia mà tàu mang cờ (nguyên tắc Lex Loci Laboris): Theo quy định của Bộ luật Hàng hải, khi có

có xung đột pháp luật liên quan đến hợp đồng thuê thuyền viên… thì áp dụng pháp luật của quốc gia mà tàu mang cờ Về mặt lý luận và thực tiễn, hầu hết các nước trên thế giới áp dụng luật của nước mà phương tiện vận tải mang cờ Theo đó, quyền và nghĩa vụ của thuyền viên Việt Nam sẽ được pháp luật nước mà phương tiện vận tải mang cờ điều chỉnh Như vậy, có thể hiểu hợp đồng lao động ở đây được tuân thủ về hình thức và nội dung pháp luật của quốc gia mà tàu mang cờ

- Xác định luật áp dụng là luật lựa chọn (Lex Voluntais): Quyền và nghĩa vụ của thuyền viên làm việc trên tàu biển nước ngoài có thể được áp dụng là luật lựa chọn của các bên và được thể hiện trong hợp đồng nếu pháp luật của một hai bên đều cho phép Trong trường hợp này, các bên có thể thoả thuận luật của bất cứ nước nào để đem áp dụng trong quan hệ hợp đồng

1

Bài viết “Sỹ quan thuyền viên tại Việt Nam – có được xem là lao động đặc thù” – Th.s Bùi Trọng Hùng – 01/2012

Trang 21

lao động Tuy nhiên, nếu các bên không thỏa thuận áp dụng khi xác lập hợp đồng thì luật nơi thực hiện hợp đồng (luật mà tàu mang quốc tịch) sẽ được

ưu tiên áp dụng

Pháp luật chuyên ngành hàng hải điều chỉnh rất nhiều quan hệ phát sinh trong quá trình vận tải biển như các hoạt động liên quan đến khai thác tàu biển, hàng hải thương mại, thuyền viên, cảng biển, dịch vụ hàng hải, an toàn và an ninh hàng hải, bảo vệ môi trường biển…

Lao động thuyền viên trên tàu biển là một trong những đối tượng quan trọng và liên quan đến hầu hết đến các hoạt động trong lĩnh vực hàng hải, liên quan đến nhiều quyền lợi (như chủ tàu, chủ hàng, người bảo hiểm, quốc gia có cảng), mặt khác họ phải làm việc trong môi trường chứa đựng nhiều rủi ro ảnh hưởng đến sức khỏe, tinh thần và tính mạng nên được Tổ chức Lao động thế giới, Tổ chức hàng hải thế giới, các quốc gia mà thuyền viên mang quốc tịch và các chủ tàu quan tâm đến điều kiện làm việc, chế độ tiền lương và chế độ an sinh, nhất là đối với các thuyền viên làm việc trên các tàu biển nước ngoài Bằng hệ thống các quy phạm pháp luật, các chủ thể quản lý thuyền viên thường quy định chế độ tối thiểu về điều kiện làm việc, lương, bảo hiểm… nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng cho thuyền viên

Thuyền viên Việt Nam khi làm việc trên tàu biển nước ngoài, thông thường tuân thủ theo hợp đồng lao động được ký kết giữa thuyền viên với người sử dụng lao động nước ngoài hoặc khi tàu biển mang quốc tịch nước ngoài Trong quan hệ này, thuyền viên Việt Nam khi làm việc trên tàu biển nước ngoài theo hợp đồng được hưởng các quyền và gánh vác các nghĩa vụ theo quy định của hợp đồng lao động đã ký với người sử dụng lao động nước ngoài hoặc quy định của quốc gia có tàu biển mà người lao động làm việc và các điều ước quốc tế mà quốc gia này là thành viên hoặc quy định

Trang 22

của pháp luật Việt Nam, trong đó người lao động được quyền thỏa thuận một số điều khoản như các chế độ về tiền lương, tiền thưởng, phụ cấp, phí môi giới… nhưng không được quyền thỏa thuận về mức tiền lương dưới mức tối thiểu hay về an toàn lao động, vệ sinh lao động, chế độ bảo hiểm theo quy định của luật quốc tế, tập quán hàng hải và pháp luật của Việt Nam Trong xu thế hội nhập và phát triển toàn diện của các quốc gia trên thế giới, vấn đề lao động có yếu tố nước ngoài nói chung được hình thành và phát triển do nhu cầu tự nhiên của các loại hình lao động với những lợi thế so sánh về trình độ chuyên môn, điều kiện làm việc, tiền lương và các chế độ phúc lợi xã hội khác, nên dẫn tới quan hệ lao động được hình thành giữa các chủ thể có quốc tịch khác nhau, hoặc nơi làm việc khác với quốc gia mà người lao động mang quốc tịch Do đó đã hình thành nên sự giao thoa, đan xen trong việc điều chỉnh quan hệ pháp luật lao động có yếu tố nước ngoài

1.2 Cơ sở pháp lý điều chỉnh mối quan hệ lao động của thuyền viên

làm việc trên tàu biển hoạt động tuyến quốc tế

1.2.1 Nguyên tắ đ ều chỉnh

Quan hệ lao động của thuyền viên Việt Nam làm việc trên tàu biển nước ngoài là một quan hệ lao động chịu sự điều chỉnh của pháp luật lao động Ngoài ra, do có sự tham gia của một bên là người lao động nước ngoài (chủ tàu) nên đây còn là một quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài chịu sự điều chỉnh của tư pháp quốc tế Việt Nam Do vậy, pháp luật điều chỉnh quan hệ lao động của người lao động nước ngoài tại Việt Nam phải tuân theo những nguyên tắc cơ bản của pháp luật lao động cũng như nguyên tắc điều chỉnh của

tư pháp quốc tế

Cụ thể, các nguyên tắc cơ bản của luật lao động điều chỉnh các quan hệ lao động trong đó có quan hệ lao động của thuyền viên Việt Nam làm việc trên tàu biển nước ngoài là:

Trang 23

- Nguyên tắc bảo vệ người lao động: Bảo vệ người lao động trong quan

hệ lao động là ngăn chặn mọi sự xâm hại có thể xảy ra với họ khi tham gia quan hệ lao động Nguyên tắc này bao gồm các nội dung chủ yếu như bảo vệ việc làm cho người lao động, bảo vệ thu nhập và đời sống cho người lao động, bảo vệ các quyền nhân thân của người lao động trong lĩnh vực lao động Để thể hiện những nội dung của nguyên tắc này, Bộ luật Lao động 2012

đã quy định rằng Nhà nước phải “bả đảm quyền và lợi ích chính đ ủa

ư động” (Điều 4); người lao động có quyền “ ư ươ ù ợp

vớ t ì độ kỹ ă ề t ê ơ thoả thuận vớ ư i sử dụ động; được bảo hộ động, làm việ t đ ều kiện bả đảm về t động,

vệ động; nghỉ theo chế độ, nghỉ hằ ă ươ đượ ư ng phúc lợi tập thể” (Điều 5), “N ướ , ư i sử dụ động và xã hội có trách nhiệm tham gia giải quyết việc làm, bả đảm cho mọ ư i có khả

ă độ đề ơ ội có việc làm” (Điều 9),…

- Nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động: Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động là đảm bảo các quyền và lợi ích mà pháp luật đã quy định cho người sử dụng lao động được thực hiện mà không bị các chủ thể khác xâm hại Điều này thể hiện qua Điều 4 của Bộ luật Lao động 2012 về chính sách của Nhà nước:

“Bả đảm quyền và lợi ích hợp pháp củ ư i sử dụ động, quản lý lao

độ đú ật, dân chủ, công bằ , ă â t ệm

xã hội” và các quy định của Bộ luật Lao động về quyền của người sử dụng lao

động (Điều 6) Sở dĩ pháp luật lao động phải bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động vì họ là một bên không thể thiếu để hình thành và duy trì quan hệ lao động Thông qua việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động, quan hệ pháp luật lao động có thể phát triển bền vững

Trang 24

- Nguyên tắc đảm bảo và tôn trọng sự thỏa thuận hợp pháp của các bên trong lĩnh vực lao động: Thỏa thuận hợp pháp của các bên là những thỏa thuận bình đẳng, tự nguyện, trên cơ sở tương quan lao động, điều kiện thực tế

và không trái pháp luật và các giá trị xã hội…về quyền, nghĩa vụ, lợi ích, trách nhiệm của mỗi bên tham gia quan hệ lao động Quyền tự do thỏa thuận của các bên được pháp luật lao động ghi nhận rộng rãi đối với hầu hết các quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của luật lao động Chẳng hạn như Điều 17

Bộ luật Lao động 2012 quy định về nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động là

“tự do giao kết hợ đồ độ ư được trái pháp luật, th ước

động tập thể đạ đức xã hội”

- Nguyên tắc đảm bảo phù hợp với các tiêu chuẩn lao động quốc tế: Là thành viên của Tổ chức lao động quốc tế, vì vậy, Việt Nam có trách nhiệm thực hiện những quy định của tổ chức này trong phạm vi điều kiện kinh tế, xã hội để đảm bảo phù hợp các tiêu chuẩn lao động quốc tế trong các công ước

và khuyến nghị của ILO, như tuổi lao động tối thiểu, an toàn vệ sinh lao động,

sử dụng lao động nữ và trẻ em, bình đẳng nam nữ trong lao động,… Hiện nay,

mới nhất là Công ước về hung chính sách thúc đẩy an toàn vệ sinh lao động

Bình Dương (TPP) gần đây, Việt Nam sẽ phải tôn trọng, thực hiện các tiêu chuẩn về lao động trong TPP Các tiêu chuẩn về lao động được đề cập trong TPP chính là các tiêu chuẩn lao động được nêu trong Tuyên bố năm 1998 của ILO, bao gồm: Quyền tự do liên kết và thương lượng tập thể của người lao động và người sử dụng lao động (theo Công ước số 87 và số 98 của ILO);

Trang 25

Xóa bỏ lao động cư ng bức và lao động bắt buộc (theo Công ước số 29 và số

105 của ILO); Cấm sử dụng lao động trẻ em, xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất (theo Công ước số 138 và Công ước số 182 của ILO); xóa

bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử về việc làm và nghề nghiệp (theo Công ước

số 100 và số 111 của ILO) Theo Tuyên bố năm 1998 của ILO, các nước thành viên ILO dù phê chuẩn hay chưa phê chuẩn các công ước cơ bản nêu trên đều có nghĩa vụ tôn trọng, thúc đẩy và thực hiện các tiêu chuẩn lao động được đề cập trong các công ước cơ bản của ILO như trên

Bên cạnh đó, là quan hệ lao động có yếu tố nước ngoài nên các quan hệ pháp luật của thuyền viên Việt Nam còn phải tuân theo các nguyên tắc đặc thù của Tư pháp quốc tế, một trong số đó là nguyên tắc đối xử quốc gia (National Treatment) Đây là một nguyên tắc rất quan trọng, phổ biến trong pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới Với nguyên tắc này, người nước ngoài được hưởng các quyền và nghĩa vụ lao động ngang bằng hoặc tương đương với các quyền và nghĩa vụ của công dân nước sở tại đang và sẽ được hưởng trong tương lai, trừ trường hợp ngoại lệ được quy định trong một số

Nếu người nước ngoài làm việc trong doanh nghiệp nước ngoài, ngoài việc hưởng các quyền và nghĩa vụ giống như công dân nước sở tại, họ còn phải tuân thủ các quyền và nghĩa vụ lao động theo quy định của nước mà tàu đó mang cờ quốc tịch

Nguyên tắc đối xử quốc gia được thể hiện tại Điều 41 Hiến pháp năm

2013: “N ư ướ ư t ú Việt Nam phải tuân theo Hiến pháp và

pháp luật Việt N ; được bảo hộ tính mạng, tài sản và các quyền, lợi ích

í đ t ật Việt Nam” Như vậy, nước ta cho phép người lao

động nước ngoài làm việc tại Việt Nam được hưởng các quyền tự do lao động

4 Khoản 2 Điều 673 Bộ luật Dân sự 2015: “Người nước ngoài tại Việt Nam có năng lực pháp luật dân sự như công dân Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác”

Trang 26

trong khuôn khổ quy định của pháp luật và được nhà nước bảo hộ các quyền

- Quan hệ lao động giữa người sử dụng lao động nước ngoài với tổ chức cung ứng thuyền viên Việt Nam (cho thuê thuyền viên) hoặc ngược lại

- Quan hệ giữa người lao động và/hoặc người sử dụng lao động với các cơ quan nhà nước và tổ chức công đoàn khi các chủ thể này tham gia vào quan

hệ lao động nhằm giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền, lợi ích của người lao động và người sử dụng lao động theo quy định của pháp luật

Trong quan hệ lao động có yếu tố nước ngoài nói chung, không chỉ tư pháp quốc tế Việt Nam điều chỉnh mà pháp luật lao động - bằng các quy phạm khi quy định mang tính bắt buộc, nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động trong quá trình làm việc ở nước ngoài Ví dụ như pháp luật lao động Việt Nam quy định về việc người sử dụng lao động (kể cả tổ chức cung ứng lao động) phải đảm bảo điều kiện làm việc tối thiểu, chế độ tiền lương, chế độ sinh hoạt, đào tạo và hướng dẫn người lao động về chuyên môn, các kỹ năng khác để người lao động có thể thực hiện tốt các điều

Trang 27

khoản của hợp đồng, bên cạnh đó còn yêu cầu và người lao động phải tuân thủ theo quy định khác do pháp luật quy định đối với người Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài

Cũng như nhiều quốc gia đang phát triển khác, xuất khẩu lao động là lĩnh vực được Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, coi đây là một hoạt động kinh

tế xã hội, góp phần phát triển nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, tạo thu nhập và tăng cường hợp tác quốc tế Theo quy định của Bộ luật Lao động: Nhà nước khuyến khích các chủ thể mở rộng thị trường lao động nhằm tìm kiếm việc làm ở nước ngoài cho người lao động Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam, phù hợp với pháp luật nước sở tại và điều ước quốc tế

mà Việt Nam là thành viên Công dân Việt Nam đủ 18 tuổi trở lên, có khả năng lao động, tự nguyện và có đủ các tiêu chuẩn, điều kiện khác theo pháp luật Việt Nam, phù hợp với pháp luật và yêu cầu của bên nước ngoài thì được

đi làm việc ở nước ngoài Về nguyên tắc của tư pháp quốc tế, người lao động Việt Nam khi đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, phải tuân thủ theo các quy định của hợp đồng lao động đã ký với bên nước ngoài và theo quy định của pháp luật của quốc gia đó về chế độ lao động, về quyền và nghĩa vụ,

về chế độ phúc lợi chung và các quyền và nghĩa vụ khác liên quan mà người lao động nước ngoài được hưởng theo quy định của pháp luật nước sở tại Lao động thuyền viên trên tàu biển là loại hình lao động đặc thù và khá phức tạp do môi trường lao động chịu ảnh hưởng của sóng gió, bão tố và rủi ro hàng hải, đòi hỏi phải có sức khỏe tốt, ý thức tổ chức kỷ luật lao động cao, có trình độ kỹ thuật nghiệp vụ và trình độ ngoại ngữ cơ bản Xét về khía cạnh pháp luật, thuyền viên làm việc trên tàu biển nước ngoài chịu sự điều chỉnh của nhiều hệ thống pháp luật như: luật của nước mà tàu mang cờ (chủ yếu về chế độ lao động, nội quy lao động), nước có cảng mà tàu neo đậu (các nghĩa vụ lao động liên quan đến môi trường biển và an toàn hàng hải),

Trang 28

nước mà thuyền viên mang quốc tịch (quyền và nghĩa vụ chung của người lao động), cũng như chịu sự điều chỉnh của các điều ước quốc tế về thuyền viên, các quy định của chủ tàu và các tổ chức cung ứng thuyền viên

Vì vậy, thuyền viên phải đối mặt với nhiều khó khăn như môi trường làm việc, thời giờ làm việc, chế độ tiền lương, bảo vệ sức khỏe, chế độ an sinh

xã hội cho thuyền viên không đảm bảo và pháp luật bảo vệ từ quốc gia mà thuyền viên mang quốc tịch còn hạn chế

Để vận hành và khai thác con tàu an toàn và kinh tế, phù hợp với mục đích sử dụng, luật hàng hải quốc tế cho phép quốc gia mà tàu mang cờ được quy định số lượng thuyền viên cho một thuyền bộ nhưng không vượt quá số người mà một xuồng cứu sinh có thể chứa được (đối với tàu nhỏ là bè cứu sinh) Thực tế đòi hỏi pháp luật của quốc gia mà thuyền viên mang quốc tịch phải có những quy định cụ thể, phù hợp với luật pháp quốc tế để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho thuyền viên của quốc gia mình khi làm việc trên các tàu biển nước ngoài

Dưới giác độ pháp luật, người lao động luôn được pháp luật đặt trên cơ

sở hài hòa giữa quyền và lợi ích của người sử dụng lao động với người sử dụng lao động và với nhà nước Theo quy định của pháp luật, người lao động ký hợp đồng với người sử dụng lao động để đảm nhiệm và hoàn thành một hoặc một số công việc nhất định, và nhận được những quyền lợi liên quan Đối với những công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thì pháp luật luôn yêu cầu người sử dụng lao động phải đảm bảo các điều kiện làm việc tối thiểu nhằm bảo vệ tính mạng, sức khỏe của người lao động, đồng thời cũng yêu cầucó những chính sách xã hội hợp lý như chế độ lương, phụ cấp hay bảo hiểm ở mức cao hơn so với những loại hình lao động khác Đồng thời cũng đòi hỏi người lao động phải được đào tạo chuyên môn ở một trình độ nhất định

Trang 29

Với lao động trong lĩnh vực hàng hải - một trong những lĩnh vực lao động gắn liền với nhiều rủi ro và hiểm họa từ thiên nhiên, cũng như có ít sự trợ giúp từ đất liền khi có sự cố xảy ra, do đó đòi hỏi người lao động phải

có trình độ chuyên môn, với độ tuổi nhất định và có sức khỏe tốt Cũng chính

vì vậy mà lao động thuyền viên được đào tạo trình độ chuyên môn theo tiêu chuẩn quốc tế, được đảm bảo các điều kiện làm việc an toàn trong quá trình làm việc, được hưởng chế độ tiền lương, bảo hiểm và an sinh tối thiểu cũng như các quyền và lợi ích khác liên quan Mặc dù ngành vận tải biển của Việt Nam vẫn còn non trẻ và còn có những hạn chế trên thị trường vận tải quốc tế và lao động thuyền viên Việt Nam làm việc trên tàu biển nước ngoài cũng mới đang trên đà phát triển, nhưng trong tương lai, với chủ trương và chính sách của Đảng và Nhà nước, các hoạt động này sẽ ngày càng phát triển Hệ thống quy phạm pháp luật lao động điều chỉnh vấn đề lao động thuyền viên có yếu tố nước ngoài nói chung và lao động thuyền viên Việt Nam làm việc trên tàu biển nước ngoài nói riêng đã cơ bản phù hợp với luật pháp và tập quán quốc tế, đáp ứng được đòi hỏi về quản lý, giám sát và bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của thuyền viên Việt Nam làm việc trên các tàu biển nước ngoài Tuy nhiên, hệ thống quy phạm điều chỉnh quan hệ lao động này còn thiếu, tản mạn và chưa có tính pháp điển cao, thường được thể hiện thông qua hệ thống quy phạm thực chất mà rất ít quy phạm xung đột nên chưa điều chỉnh được một cách bao quát và toàn

diện các quan hệ pháp luật lao động có yếu tố nước ngoài

1.2.3 P ươ đ ều chỉnh

Trong tư pháp quốc tế, xung đột pháp luật là hiện tượng pháp lí xảy ra khi hai hay nhiều hệ thống pháp luật khác nhau đồng thời có thể áp dụng để điều chỉnh một quan hệ pháp luật dân sự có yếu tố nước ngoài Xung đột pháp luật xảy ra do có yếu tố nước ngoài trong quan hệ tư pháp quốc tế và do sự khác

Trang 30

nhau giữa pháp luật các nước trên thế giới Có hai phương pháp giải quyết xung đột pháp luật là phương pháp thực chất và phương pháp xung đột

Xuất phát từ đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế Việt Nam về lao động thuyền viên có yếu tố nước ngoài, tư pháp quốc tế Việt Nam quy định giải quyết bằng hai phương pháp chủ yếu, đó là phương pháp thực chất - áp dụng các quy phạm thực chất và phương pháp xung đột - áp dụng các quy phạm pháp luật xung đột

P ươ t ực ch t là việc xây dựng và áp dụng các quy phạm thực

chất để giải quyết xung đột pháp luật Quy phạm thực chất luôn bao gồm quyền và nghĩa vụ được áp dụng trực tiếp cho các bên tham gia quan hệ mà không cần phải dẫn chiếu đến một hệ thống pháp luật nhất định như quy phạm xung đột Trong lĩnh vực lao động có yếu tố nước ngoài, số lượng các quy phạm thực chất trong pháp luật Việt Nam khá nhiều, những quy phạm đó quy định rõ ràng, cụ thể về quyền và nghĩa vụ, điều kiện tuyển dụng của người lao động nước ngoài, chẳng hạn như các quy định tại Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006

Phương pháp xung đột là phương pháp sử dụng quy phạm xung đột nhằm xác định hệ thống pháp luật nào sẽ được áp dụng để giải quyết hiện tượng xung đột pháp luật Trong đó, quy phạm xung đột là quy phạm pháp luật chỉ

ra hệ thống pháp luật nước nào sẽ được áp dụng để điều chỉnh một quan hệ pháp luật tư pháp quốc tế Theo quy định tại Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2015: khi giải quyết xung đột pháp luật trong quan hệ lao động của người lao động Việt Nam (hợp đồng thuê thuyền viên, hợp đồng vận chuyển hành khách), phải áp dụng luật của quốc gia mà tàu biển mang cờ quốc tích nếu tàu

5

Khoản 1 Điều 3 Bộ luật HHVN 2015: “T ư ng hợp quan hệ pháp luật ê q đến quyền s hữu tài sản trên tàu biển, hợ đồng thuê tàu biển, hợ đồng thuê thuyền viên, hợ đồng vận chuyển hành

Trang 31

Cũng theo quan điểm của một số nhà khoa học, xung đột pháp luật trong tư pháp quốc tế là xung đột giữa các hệ thống luật của các quốc gia (chủ thể của luật quốc tế), mà không thừa nhận xung đột với hệ thống pháp luật của các bang trong nhà nước liên bang, nghĩa là luật của bang trong nhà nước liên bang không có tư cách để dẫn chiếu nhằm xung đột với luật của quốc

gia khác

1.2.4 Nguồn pháp luật đ ều chỉnh

Nguồn pháp luật điều chỉnh quan hệ lao động là thuyền viên Việt Nam làm việc trên tàu biển nước ngoài bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật bao gồm các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, pháp luật quốc gia, các tập quán quốc tế và các điều ước quốc tế, các tập quán quốc tế mà Việt Nam chưa là thành viên và pháp luật nước ngoài phù hợp với các nguyên tắc

của pháp luật Việt Nam

* Các điều ƣớc quốc tế

- Các điều ước quốc tế đa phương: bao gồm những điều ước quốc tế do các Tổ chức liên chính phủ ban hành liên quan đến lao động thuyền viên (các điều ước quốc tế của UN, ILO, IMO)

Các điều ước quốc tế đa phương mà Việt Nam là thành viên: Công ước Luật biển của Liên hiệp quốc năm 1982;

+ Các điều ước quốc tế của Tổ chức Hàng hải quốc tế;

+ Các điều ước quốc tế của tổ chức Lao động thế giới;

+ Các điều ước quốc tế đa phương mà Việt Nam chưa là thành viên: + Tổ chức lao động quốc tế đã ban hành gần 70 công ước và khuyến

khách và hành lý, phân chia tiền công cứu hộ giữa chủ tàu cứu hộ và thuyền bộ của tàu cứu hộ, trục vớt tài sả ì đắm vùng biển quốc tế, các vụ việc xảy ra trên tàu biể t đ vùng biển quốc tế thì áp dụng pháp luật của quốc gia mà tàu biển mang c quốc tịch”.

Trang 32

nghị để điều chỉnh hoặc tư vấn về các quan hệ lao động thuyền viên, trong đó bao gồm các công ước chính như: Công ước số 108 về giấy căn cước của thuyền viên 1958; Công ước số 147 về vận chuyển hàng hóa trên biển (các tiêu chuẩn tối thiểu), 1976 (sửa đổi 1996); Công ước số 163 về phúc lợi của thuyền viên, 1987; Công ước 164 về bảo vệ sức khỏe và chăm sóc y tế (thuyền viên), 1987; Công ước số 165 về an sinh xã hội cho thuyền viên, 1987…

- Các hiệp định song phương giữa Việt Nam với các quốc gia khác Các hiệp định song phương về lao động;

Các hiệp định song phương về thương mại và hàng hải;

Các hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam ký với các quốc gia khác (gần 20 hiệp định) cũng là nguồn quan trọng để áp dụng đối với quan hệ lao động có yếu tố nước ngoài nói chung như với Bungari (năm 1986), Ba Lan

(năm 1993), Bêlarut (năm 2000), Mông Cổ (năm 2000)…

* Các tập quán lao động hàng hải

Những tập quán đã được hình thành và áp dụng bởi nhiều quốc gia về lao động hàng hải, được dẫn chiếu áp dụng trong các hợp đồng lao động và khi có tranh chấp xảy ra Trong lĩnh vực lao động hàng hải của Việt Nam, ngoài các tập quán mang tính địa phương thì những công ước quốc tế được áp dụng phổ biến mà Việt Nam chưa là thành viên (như Công ước số 147 về các tiêu chuẩn tối thiểu vận chuyển hàng hóa trên biển, 1976), hay các khuyến nghị của các tổ chức nghề nghiệp phi chính phủ (BIMCO/ISF, ITF) được dẫn chiếu đến trong hợp đồng lao động của thuyền viên cũng được coi là tập quán

về lao động trong lĩnh vực hàng hải

* Các văn bản pháp luật trong nước

- Hiến pháp 2013;

Trang 33

- Các văn bản pháp luật lao động chung, bao gồm: Bộ luật Lao động

2012, Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/1/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động, nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 10/5/2013 quy định chi tiết một số điều của Bộ luật lao động về hợp đồng lao động; Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006;

- Các văn bản pháp luật hàng hải chuyên ngành về lao động thuyền viên, bao gồm: Bộ luật Hàng hải 2015, Nghị định số 121/2014/NĐ-CP ngày 24/12/2014 quy định chi tiết một số điều của Công ước lao động hàng hải năm 2006 và chế độ lao động của thuyền viên làm việc trên biển, Thông tư số 45/2013/TT-BGTVT ngày 19/11/2013 của Bộ Giao thông vận tải quy định thủ tục cấp, phê duyệt, thu hồi bản công bố phù hợp lao động hàng hải và giấy chứng nhận lao động hàng hải

Bên cạnh các văn bản pháp luật chủ yếu trên, còn có một số văn bản pháp luật quan trọng khác do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành

để điều chỉnh một số khía cạnh về quản lý, tạo điều kiện cho lao động thuyền viên Việt Nam trên các tàu biển nước ngoài như: Luật Quốc tịch năm 2008, Luật Công đoàn năm 2012, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014…

1.3 Pháp luật của một số nước điều chỉnh mối quan hệ lao động của thuyền viên

*Pháp luật động về thuyền viên của Anh

Về nguyên tắc chung, pháp luật của Anh không quy định một tiêu chuẩn cứng trong việc chọn hệ thuộc luật áp dụng đối với quan hệ lao động có yếu

tố nước ngoài Trong thực tiễn xét xử, cũng không có sự hạn chế về việc chọn luật áp dụng theo quốc gia nào mà theo ý chí chọn luật của các bên Pháp luật

về hàng hải nói chung và pháp luật về lao động thuyền viên nói riêng của Anh

Trang 34

được coi là luật mang tính tiêu chuẩn mà các quốc gia, kể cả các quốc gia theo hệ thống Common Law (luật chung) hay Continental Law (luật châu Âu lục địa) cũng tham khảo và áp dụng Tuy nhiên, lao động hàng hải về cơ bản cũng áp dụng theo các công ước quốc tế đã được thừa nhận chung của ILO, IMO như tiêu chuẩn về đào tạo, huấn luyện, cấp chứng chỉ trực ca; quy định

về sức khỏe của thuyền viên

*Pháp luật động về thuyền viên của Nhật Bản

Trong lĩnh vực hàng hải, Nhật Bản là một trong những quốc gia có trình

độ về hàng hải tốt nhất trên thế giới và áp dụng các chính sách quản lý tàu biển và thuyền viên theo chuẩn quốc tế Chính phủ Nhật Bản đã chú trọng xây dựng hệ thống pháp luật và cơ quan quản lý nhà nước về thuyền viên được làm việc trong điều kiện tiêu chuẩn, chế độ lương và phúc lợi đảm bảo nhằm đảm bảo an toàn hàng hải và bảo vệ môi trường biển

Thông thường, các tiêu chuẩn và điều kiện làm việc của thuyền viên nước ngoài làm việc trên các tàu biển của Nhật Bản thường phải đạt trình độ nhất định về chuyên môn, độ tuổi, ngoại ngữ và trước đó phải có những kinh nghiệm đi biển nhất định, nhưng các thuyền viên nước ngoài này được hưởng chế độ tiền lương và phụ cấp tốt, được đảm bảo về chế độ lao động, điều kiện

về an toàn lao động, vệ sinh lao động, đời sống, chăm sóc sức khỏe, bảo hiểm

và phúc lợi xã hội

*Pháp luật động của Philippine

Với chính sách thông thoáng, thực dụng đối với đào tạo, huấn luyện thuyền viên, pháp luật của Philippin quy định theo hướng có lợi cho người lao động và thuận tiện cho người sử dụng lao động nước ngoài Philippin đã ban hành "Đạo luật về lao động di cư và người Philippin ở nước ngoài" nhằm quản lý toàn diện công tác xuất khẩu lao động nói chung Về chính sách,

Trang 35

Philippin tăng cường sức cạnh tranh cho nguồn nhân lực về thuyền viên như tăng cường đầu tư cơ sở đào tạo phục vụ xuất khẩu lao động; tăng cường hợp tác với các tổ chức quốc tế IMO, ILO và các tổ chức phi chính phủ khác để góp phần nâng cao chất lượng và quản lý số lượng thuyền viên Quản lý nhà nước về lao động của Philippin tập trung vào một cơ quan của Chính phủ là

Bộ Lao động Cơ quan quản lý nhà nước về lao động quản lý chặt chẽ đến từng thuyền viên bằng nhiều hình thức, đặc biệt là hình thức thông qua con đường ngoại giao, đề cao vai trò của Cơ quan đại diện ngoại giao của Philippin tại nước ngoài

Trang 36

Kết luận Chương I

Chương 1 đã đưa ra khái niệm về tàu biển, thuyền viên để người đọc

có cái nhìn khái quát về lĩnh vực hành hải, đồng thời khái quát những vấn

đề lý luận cơ bản về quan hệ lao động có yếu tố nước ngoài trong tư pháp quốc tế Việt Nam, từ đó đi đến một số kết luận cơ bản rằng: Đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế Việt Nam đối với thuyền viên làm việc trên tàu biển hoạt động tuyến quốc tế là các quan hệ pháp luật phát sinh giữa thuyền viên Việt Nam với chủ tàu để làm việc trên tàu biển nước ngoài hoặc tàu biển Việt Nam hoạt động tuyến quốc tế Quan hệ lao động này chịu sự điều chỉnh của tư pháp quốc tế Việt Nam cũng như của hệ thống quy phạm pháp luật lao động của Việt Nam, pháp luật của quốc gia mà tàu mang cờ, pháp luật của nước có cảng mà tàu biển hoạt động

Trang 37

Chương 2 THỰC TIỄN CHẾ ĐỘ LÀM VIỆC CỦA THUYỀN VIÊN

LÀM VIỆC TRÊN TÀU BIỂN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ

PHÁP LUẬT QUỐC TẾ

2.1 Các quy định của Công ước lao động hàng hải 2006 (MLC 2006)

mà Việt Nam là thành viên

2.1.1 Các quy định cơ bản của Công ước MLC 2006

Công ước Lao động Hàng hải 2006 (MLC) của Tổ chức Lao động Quốc

tế (ILO) chính thức có hiệu lực từ ngày 20/8/2013, mở ra một giai đoạn mới, đảm bảo việc làm bền vững cho thuyền viên và cạnh tranh bình đẳng giữa các chủ tàu hoạt động trong ngành vận tải biển toàn cầu Việt Nam trở thành nước thứ 37 phê duyệt công ước vào tháng 5/2013

Công ước Lao động Hàng hải 2006 sẽ có hiệu lực sau 12 tháng kể từ ngày có ít nhất 30 quốc gia chiếm 33% tổng dung tích đội tàu thế giới đăng ký phê chuẩn Ngày 20/8/2012, Philippines đã trở thành thành viên thứ 30 chính thức phê chuẩn Công ước này, đánh dấu một mốc quan trọng của ngành Hàng hải toàn cầu Như vậy, Công ước Lao động Hàng hải năm 2006 sẽ chính thức

có hiệu lực kể từ ngày 20/8/2013 Đến nay, hơn 45 nước thành viên ILO đã phê duyệt Công ước; những nước này ước tính vận chuyển khoảng 75% tổng lượng hàng hóa vận tải biển toàn cầu

Công ước MLC 2006 nhận được sự đồng thuận cao từ Liên đoàn Lao động Vận tải Quốc tế (ITF) là tổ chức đại diện cho thuyền viên, và Hiệp hội Chủ tàu Quốc tế (ISF) Cả hai tổ chức đã đóng vai trò quan trọng trong năm năm phát triển, xây dựng và đưa Công ước này ra trước Hội nghị Lao động Quốc tế của ILO năm 2006

Trang 38

Công ước MLC 2006 cũng được Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO) – đại diện cho ngành vận tải biển toàn cầu, chiếm khoảng 90% khối lượng hàng hóa vận chuyển toàn cầu ủng hộ mạnh mẽ Liên minh Châu Âu cũng đã phê duyệt một số hướng dẫn thúc đẩy việc hiệu lực hóa Công ước này Trong khi đó, các tổ chức khu vực về kiểm tra của chính quyền cảng (port State control) là Paris-MOU và Tokyo-MOU cũng đã phê duyệt các nguyên tắc được đưa ra trong Công ước MLC 2006 nhằm tăng cường kiểm tra và giám sát của các chính quyền tại bến cảng

Công ước MLC 2006, một mặt tập hợp những tiêu chuẩn quốc tế tối thiểu nhằm đảm bảo việc làm bền vững cho thuyền viên, mặt khác giúp tạo ra một sân chơi bình đẳng cho các chủ tàu đạt chuẩn mang cờ của các nước đã phê duyệt Công ước, thúc đẩy cạnh tranh thông qua việc đảm bảo hiệu quả và tăng độ tin cậy trong vận tải biển Mục tiêu bao trùm của Công ước là đảm bảo điều kiện làm việc song song với cạnh tranh bình đẳng

Việt Nam trở thành nước thứ 37 phê duyệt công ước vào tháng 5 năm

2013 Ngày 25/7/2013, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã thông qua kế hoạch thực hiện Công ước MLC Thủ tướng yêu cầu đến năm 2015, phải hoàn thiện luật pháp về lao động hàng hải; kiểm tra và cấp giấy chứng nhận cho đội tàu của Việt Nam và thiết lập một cơ chế tham vấn ba bên có đại diện của chính phủ, chủ tàu và thuyền viên trong năm nay Đồng thời, việc đầu tư xây dựng

cơ sở hạ tầng phúc lợi, thông tin và giải trí ở cảng biển cũng cần được hoàn thành từ nay đến năm 2020 Ông cũng cam kết ILO sẽ đồng hành với Việt Nam, giúp nâng cao năng lực và hỗ trợ kỹ thuật để Công ước có thể đi vào

Trang 39

Nội dung Công ước lao động hàng hải về điều kiện sống và làm việc của thuyền viên trên tàu biển Công ước áp dụng đối với những tàu từ 500GT trở lên, hoạt động tuyến quốc tế, cho phép Chính quyền cảng tại các quốc gia kiểm tra việc tuân thủ MLC của các tàu Những tàu thuộc quốc gia chưa phê chuẩn Công ước, cũng là đối tượng bị kiểm tra Những tàu tuân thủ không đầy

đủ yêu cầu Công ước hoặc tàu có thuyền viên khiếu nại về điều kiện sống và làm việc của họ trên tàu, đều bị chính quyền cảng lưu giữ để kiểm tra

Đối với thuyền viên, Công ước này áp dụng cho tất cả các thuyền viên là

những người thuộc thuyền bộ hoặc được thuê làm việc trên tàu biển thuộc phạm vi điều chỉnh của MLC, không phân biệt quốc tịch mà tàu mang cờ Trong trường hợp không xác định được người nào là thuyền viên thuộc phạm

vi quy định của Công ước này hay không thì các cơ quan chức năng của những nước thành viên Công ước sẽ là người đưa ra quyết định cuối cùng sau khi đã tham khảo ý kiến của các hiệp hội chủ tàu và thuyền viên

Đối với tàu biển, Công ước này cũng áp dụng cho mọi tàu biển, dù thuộc

sở hữu Nhà nước hay tư nhân hay phục vụ cho các hoạt động thương mại hay không, trừ tàu cá hoặc tàu tương tự tàu cá, thuyền buồm Công ước này không

áp dụng cho các loại tàu quân sự hoặc tàu chiến Trường hợp không xác định được một con tàu nào đó có thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước này hay không thì các cơ quan chức năng của những nước thành viên Công ước sẽ là người đưa ra quyết định cuối cùng sau khi đã tham khảo ý kiến của hiệp hội chủ tàu và thuyền viên

Muốn thỏa mãn các yêu cầu của Công ước MLC-2006, Chính quyền quốc gia tàu treo cờ cần rà soát các quy định và luật lệ hiện hành của mình liên quan đến thuyền viên Cụ thể, các tàu trước khi rời cảng để sang cảng ở quốc gia khác phải bổ sung các quy định về thuyền viên trên tàu sao cho phù hợp với yêu cầu tối thiểu đã nêu trong MLC-2006 Chính quyền quốc gia tàu

Trang 40

treo cờ phải tập trung rà soát tối thiểu 14 yêu cầu trong 5 lĩnh vực liên quan

- T ổ ệ tố t ể ủ t yề ê M A : MLC cấm

thuyền viên dưới 16 tuổi làm việc trên tàu Thuyền viên dưới 18 tuổi không được làm việc ban đêm và làm những công việc nặng nhọc, độc hại ảnh hưởng đến sức khỏe trẻ em Trường hợp cho phép, Chính phủ tàu treo cờ sẽ nêu rõ trong DMLC-I (bản công bố phù hợp lao động hàng hải)

- G y ứ ậ ứ t yề ê M d C t t : MLC

yêu cầu mỗi thuyền viên làm việc trên tàu phải có giấy khám sức khỏe phù hợp với công việc được giao và còn hiệu lực Phạm vi và kết quả kiểm tra sức khỏe phải phù hợp với yêu cầu đã nêu trong DMLC-I của chính quyền tàu treo cờ Nếu chính phủ tàu treo cờ chỉ định cụ thể địa điểm kiểm tra sức khỏe, tên bác sĩ kiểm tra thì danh sách địa điểm và tên các bác sĩ phải được lưu giữ trên tàu Thời hạn giấy khám sức khỏe của thuyền viên trên 18 tuổi không quá

2 năm Thời hạn giấy khám sức khỏe của thuyền viên dưới 18 tuổi không quá

1 năm.Thời hạn giấy chứng nhận khả năng phân biệt màu (nếu áp dụng) không được quá 6 năm Tuy nhiên, sẽ phải tuân thủ quy định của chính phủ tàu treo cờ nếu những thời gian hiệu lực nêu trên bị rút ngắn hơn

- K ả ă yê t yề ê Q t S : MLC

yêu cầu thuyền viên làm việc trên tàu phải có giấy chứng nhận an toàn cơ bản

và giấy chứng nhận khả năng chuyên môn có hiệu lực, phù hợp với tiêu chuẩn STCW 78/95 (Công ước về tiêu chuẩn đào tạo huấn luyện thuyền viên)

Ngày đăng: 14/03/2019, 20:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w