1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hòa giải vụ án dân sự theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và thực tiễn thực hiện tại tòa án nhân dân huyện gia bình, bắc ninh

91 448 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 1,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm hòa giải vụ án dân sự Sau khi thụ lý VADS, trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS Tòa án tổ chức phiên họp, giải thích pháp luật, giúp đỡ các đương sự giải quyết mâu thuẫ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

- -

NGUYỄN VĂN TUYẾN

HÒA GIẢI VỤ ÁN DÂN SỰ THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT

TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2015 VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA BÌNH, BẮC NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

- -

NGUYỄN VĂN TUYẾN

HÒA GIẢI VỤ ÁN DÂN SỰ THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT

TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2015 VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA BÌNH, BẮC NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự

Mã số: 60380103

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Công Bình

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của

riêng tôi

Các kết quả nêu trong Luận văn chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, đƣợc trích dẫn đúng theo quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận

văn này

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Tuyến

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BLTTDS BLDS HĐTPTANDTC TAND

TANDTC

: Bộ luật tố tụng dân sự : Bộ luật dân sự

: Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

: Tòa án nhân dân : Tòa án nhân dân tối cao

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài 5

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài 5

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 5

7 Kết cấu của luận văn 6

Chương 1.NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HÒA GIẢI VỤ ÁN DÂN SỰ 7 1.1 Những vấn đề lý luận cơ bản về hòa giải vụ án dân sự 7

1.1.1 Khái niệm hòa giải vụ án dân sự 7

1.1.2 Đặc điểm của hòa giải vụ án dân sự 10

1.1.3 Ý nghĩa của hòa giải vụ án dân sự 12

1.1.4 Cơ sở của việc pháp luật quy định hòa giải vụ án dân sự 13

1.1.5 Các yếu tố quyết định hiệu quả hòa giải vụ án dân sự 17

1.2 Nội dung các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về hòa giải vụ án dân sự 19

1.2.1 Các quy định về nguyên tắc tiến hành hòa giải vụ án dân sự 19

1.2.2 Các quy định về các chủ thể trong hòa giải vụ án dân sự 20

1.2.3 Các quy định về phạm vi hòa giải vụ án dân sự 21

1.2.4 Các quy định về thủ tục hòa giải vụ án dân sự 25

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 31

Chương 2.THỰC TIỄN HÒA GIẢI VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA BÌNH, BẮC NINH VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 32

Trang 6

2.1 Tình hình kinh tế xã hội và giải quyết các vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân huyện Gia Bình, Bắc Ninh 32

2.1.1 Tình hình kinh tế xã hội của huyện Gia Bình, Bắc Ninh 32 2.1.2 Tình hình giải quyết các vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân huyện Gia Bình, Bắc Ninh 34

2.2 Những kết quả, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong việc hòa giải vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân huyện Gia Bình, Bắc Ninh

34 2.2.1 Những kết quả trong việc hòa giải vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân huyện Gia Bình, Bắc Ninh 34 2.2.2 Những hạn chế trong việc hòa giải vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân huyện Gia Bình, Bắc Ninh 50 2.2.3 Nguyên nhân của những hạn chế trong việc hòa giải vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân huyện Gia Bình, Bắc Ninh 53

2.3 Các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hòa giải vụ án dân sự 60

2.3.1 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hòa giải vụ án dân sự 60 2.3.2 Kiến nghị về thực hiện pháp luật tại TAND huyện Gia Bình, Bắc Ninh 70 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 72

KẾT LUẬN CHUNG 74 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Hòa giải là phương thức giải quyết tranh chấp có nhiều ưu điểm, bởi thông qua hòa giải rút ngắn được quá trình tố tụng, giảm thiểu chi phí tố tụng, đồng thời còn có ý nghĩa xã hội sâu sắc trong việc củng cố tình tương thân, tương ái, giữ gìn khối đoàn kết cộng đồng Vì vậy, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự (VADS), Tòa án có trách nhiệm hòa giải đối với hầu hết các VADS để giúp các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án

Từ trước tới nay, hòa giải VADS đã được quy định trong nhiều văn bản pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam như Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng, Thông tư số 25/TATC ngày 30/11/1974 của Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) hướng dẫn về công tác hòa giải trong tố tụng dân sự (TTDS), Pháp lệnh thủ tục giải quyết các VADS năm 1989, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996, Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2004, BLTTDS năm 2015 v.v Các quy định về hòa giải VADS trong BLTTDS năm 2015 đã kế thừa các quy định trước đây, đặc biệt các quy định của BLTTDS năm 2004 Bên cạnh đó, BLTTDS năm 2015 còn

bổ sung một số quy định mới về hòa giải bảo đảm sự tương thích giữa quy định của pháp luật TTDS với quy định của pháp luật nội dung và phù hợp với thực tiễn hơn nên đã tạo được những điều kiện thuận lợi cho việc hòa giải VADS, đặc biệt là đối với các Tòa án nhân dân (TAND) cấp huyện Tuy vậy, qua một năm thực hiện các quy định của BLTTDS năm 2015 về hòa giải VADS cho thấy việc áp dụng các quy định của BLTTDS năm 2015 về hòa giải VADS vẫn còn có những bất cập làm hạn chế hiệu quả hòa giải VADS

Do đó, việc tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu về hòa giải VADS có ý nghĩa rất

quan trọng Với lý do đó, Học viên chọn đề tài: “Hòa giải vụ án dân sự theo

Trang 8

quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và thực tiễn thực hiện tại Tòa án nhân dân huyện Gia Bình, Bắc Ninh” nghiên cứu làm luận văn thạc

sỹ luật học

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Hòa giải VADS là một trong những vấn đề quan trọng của TTDS Vì vậy, trước và sau khi BLTTDS năm 2015 được ban hành đã có nhiều nhiều công trình nghiên cứu khoa học pháp lý được công bố có nghiên cứu về vấn

đề này Tiêu biểu trong số các công trình nghiên cứu khoa học pháp lý đó phải kể đến các công trình sau đây:

- Luận án tiến sỹ luật học đề tài: “Chế định hòa giải trong pháp luật

TTDS Việt Nam – Cơ sở lý luận và thực tiễn” của tác giả Trần Văn Quảng,

bảo vệ tại Đại học Luật Hà Nội năm 2004;

- Luận văn thạc sỹ luật học đề tài: “Hòa giải trong TTDS - thực tiễn và

hướng hoàn thiện” của tác giả Bùi Đăng Huy, bảo vệ tại Trường Đại học Luật

Hà Nội năm 1996;

- Luận văn thạc sỹ luật học đề tài: “Hòa giải vụ việc dân sự” của tác

giả Lê Thị Bích, bảo vệ tại Khoa luật, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2013;

- Luận văn thạc sỹ luật học đề tài: “Hoàn thiện chế định hòa giải trong

pháp luật TTDS Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Thúy, bảo vệ tại Khoa

luật, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2014;

- Luận văn thạc sỹ luật học đề tài: “Hòa giải trong giải quyết tranh

chấp đất đai” của tác giả Nguyễn Thị Hảo, bảo vệ tại Khoa luật, Đại học

Quốc gia Hà Nội năm 2014;

- Luận văn thạc sỹ luật học đề tài: “Hòa giải vụ án dân sự và thực tiễn

thực hiện tại tỉnh Điện Biên” của tác giả Hà Thị Thanh Thủy, bảo vệ tại

Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2016;

Trang 9

- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở: “Nguyên tắc quyền tự định

đoạt của đương sự trong TTDS”, chủ nhiệm đề tài TS Nguyễn Bích Thảo,

chủ trì thực hiện Khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2014;

- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở: “Cơ chế bảo đảm quyền tự

định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự đáp ứng tiến trình cải cách tư pháp ở Việt Nam”, chủ nhiệm đề tài TS Nguyễn Triều Dương, chủ trì thực

hiện Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2015;

- Giáo trình Luật TTDS Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nhà

xuất bản Công an nhân dân, năm 2017;

- Giáo trình Luật TTDS Việt Nam, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà

Nội, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia, năm 2014

- Giáo trình Luật TTDS Việt Nam, Trung tâm Đào tạo từ xa, Đại học

Huế, Nhà xuất bản Công an nhân dân, năm 2015;

- Sách chuyên khảo, Luật TTDS Việt Nam nghiên cứu so sánh, ThS

Tống Công Cường, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, năm 2007

Ngoài ra, còn có một số bài viết về hòa giải VADS đăng trên tạp chí chuyên ngành pháp lý như:

- “Một số vấn đề nâng cao hiệu quả của biện pháp hòa giải” của tác

giả Trương Kim Oanh, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 6/1997;

- “Hoàn thiện chế định hòa giải trong TTDS” của tác giả Đào Thị Mai

Hường, Tạp chí TAND, số 1/1998;

- “Hòa giải và sự tự thỏa thuận của trong tố tụng TTDS, kinh tế và lao

động” của tác giả Phan Hữu Thư, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 2/1999;

- “ Vai trò và thủ tục hòa giải trong xét xử các tranh chấp lao động”

của tác giả Lê Văn Luật, Tạp chí TAND, số 16/2004;

- “Việc áp dụng quy định về hòa giải trong TTDS” của tác giả Nguyễn

Thị Thanh Hương, Tạp chí Kiểm sát, số 5/2006;

Trang 10

- “Hòa giải trong TTDS Việt Nam và Nhật bản nhìn từ góc độ so sánh”

của tác giả Dương Quỳnh Hoa, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 2/2008;

- Bùi Thị Huyền, “Những điểm mới của Bộ luật TTDS năm 2015 về

hòa giải VADS”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 8/2016 v.v

Tuy vậy, các công trình trên đây phần lớn được tiến hành trước khi ban hành BLTTDS năm 2015 ban hành và tiếp cận vấn đề hòa giải VADS dưới góc độ lý luận là chủ yếu mà chưa nghiên cứu chuyên sâu về thực tiễn hòa giải VADS tại các TAND Vì vậy, cho đến nay chưa có một công trình khoa học pháp lý nào nghiên cứu một cách chuyên sâu về thực tiễn hòa giải VADS tại các TAND

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về hòa giải VADS; quy định của BLTTDS năm 2015 về hòa giải VADS và vấn đề vận dụng quy định của BLTTDS năm 2015 về hòa giải VADS trong hòa giải VADS tại TAND huyện Gia Bình, Bắc Ninh; tìm ra hạn chế, nguyên nhân hạn chế và đề xuất kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hòa giải VADS

Để đạt được mục đích nghiên cứu đề tài nêu trên, việc nghiên cứu đề tài

có các nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về hòa giải VADS;

- Nghiên cứu, phân tích nội dung các quy định của BLTTDS năm 2015

về hòa giải VADS;

- Khảo sát, tìm hiểu, đánh giá thực tiễn thực hiện các quy định của BLTTDS năm 2015 về hòa giải VADS tại TAND huyện Gia Bình, Bắc Ninh;

- Nhận diện được những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong việc hòa giải vụ án dân sự tại TAND huyện Gia Bình, Bắc Ninh;

- Đề xuất các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hòa giải VADS của Tòa án

Trang 11

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

Đối tượng nghiên cứu đề tài là những vấn đề lý luận về hòa giải VADS, các quy định của BLTTDS năm 2015 về hòa giải VADS và thực tiễn hòa giải VADS tại TAND huyện Gia Bình, Bắc Ninh

Trong khuôn khổ của đề tài luận văn thạc sỹ ứng dụng, phạm vi nghiên cứu đề tài tập trung vào khảo sát, phân tích và giải quyết những vấn đề đặt ra

từ thực tiễn hòa giải VADS tại TAND huyện Gia Bình, Bắc Ninh Đối với các nội dung khác của đề tài, việc nghiên cứu chỉ tiến hành đối với những vấn đề

cơ bản nhất có ý nghĩa dẫn dắt, định hướng, bổ sung cho việc nghiên cứu vấn

đề chính như vấn đề lý luận thì nghiên cứu khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, cơ

sở pháp luật quy định hòa giải VADS và các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả hòa giải VADS; các quy định của BLTTDS năm 2015 về hòa giải VADS thì nghiên cứu các quy định về nguyên tắc, chủ thể, phạm vi, thủ tục hòa giải VADS

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Việc nghiên cứu đề tài được tiến hành trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; đường lối của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam Ngoài ra, việc nghiên cứu đề tài còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học truyền thống và hiện đại như phương pháp phân tích, phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp và phương pháp so sánh

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Luận văn chuyên sâu về vấn đề hòa giải VADS trong thực tiễn hoạt động của TAND nên là tài liệu có giá trị tham khảo cho việc giảng dạy, nghiên cứu khoa học pháp lý và đặc biệt là việc vận dụng các quy định của BLTTDS năm 2015 vào thực tiễn hòa giải VADS Những điểm mới về khoa học của Luận văn thể hiện ở những điểm sau đây:

Trang 12

- Hoàn thiện khái niệm hòa giải VADS; phân tích làm rõ thêm đặc điểm, ý nghĩa và cơ sở của việc pháp luật quy định hòa giải VADS;

- Phân tích làm rõ được nội dung các quy định của BLTTDS năm 2015

về hòa giải VADS;

- Đánh giá được thực trạng các quy định của BLTTDS năm 2015 về hòa giải VADS và thực tiễn hòa giải VADS tại TAND huyện Gia Bình, Bắc Ninh;

- Tìm ra những nguyên nhân của hạn chế trong việc thực hiện các quy định của BLTTDS năm 2015 về hòa giải vụ án dân sự tại TAND huyện Gia Bình, Bắc Ninh và đề xuất được các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hòa giải VADS

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 2 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung về hòa giải VADS;

Chương 2: Thực tiễn hòa giải VADS tại TAND huyện Gia Bình,

Bắc Ninh và một số kiến nghị

Trang 13

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HÒA GIẢI VỤ ÁN DÂN SỰ 1.1 Những vấn đề lý luận cơ bản về hòa giải vụ án dân sự

1.1.1 Khái niệm hòa giải vụ án dân sự

Sau khi thụ lý VADS, trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS Tòa án tổ chức phiên họp, giải thích pháp luật, giúp đỡ các đương sự giải quyết mâu thuẫn, thỏa thuận với nhau về việc giải quyết các vấn đề của VADS có tranh chấp Hoạt động này của Tòa án được gọi là hòa giải VADS Tuy vậy, trong pháp luật TTDS Việt Nam hiện hành chưa có quy định nào định nghĩa về hòa giải VADS Trong các công trình nghiên cứu khoa học pháp lý đã được công bố thì còn có nhiều quan niệm khác nhau về hòa giải VADS, hòa giải

Theo các tác giả Nguyễn Ngọc Điệp, Lê Thị Kim Nga và Vũ Mạnh

Thông thì “hòa giải là một chế định quan trọng của Luật tố tụng dân sự, là

phương pháp giải quyết vụ án bằng chính sự thỏa thuận, thương lượng của các đương sự." (01) Quan điểm này nêu được hòa giải VADS là một trong những phương pháp để Tòa án giải quyết VADS nhưng có hạn chế là chưa thể hiện được bản chất, đặc điểm của hòa giải VADS như chưa nêu được hòa giải VADS thực chất là gì, ai là chủ thể của hòa giải, ai là chủ thể tham gia hòa giải, nội dung của hòa giải VADS, thủ tục hòa giải VADS v.v Theo TS

Đoàn Đức Lương, thì “hòa giải trong TTDS là một giai đoạn tố tụng, trong

đó Tòa án là người trung gian có vai trò đề xuất các cách giải quyết để hai bên thỏa thuận, đồng thời công nhận giá trị pháp lý và đảm bảo thi hành

Quan điểm này nêu được một phần nội hàm của khái niệm hòa giải VADS là về thủ tục

Trang 14

hòa giải VADS nhưng cũng như định nghĩa trên có hạn chế là chưa nêu được bản chất của hòa giải VADS Mặt khác, việc cho rằng trong hòa giải VADS

Tòa án “có vai trò đề xuất các cách giải quyết để hai bên thỏa thuận” là

không đúng Bởi, việc thỏa thuận trong hòa giải VADS là phải xuất phát chính từ sự tự nguyện của đương sự, Tòa án chỉ được giải thích pháp luật luật, phân tích đúng sai của các bên, lợi ích của việc các đương sự thảo thuận được với nhau về giải quyết VADS để các bên đương sự thỏa thuận quyết định

Việc Tòa án “đề xuất các cách giải quyết để hai bên thỏa thuận” sẽ dẫn đến

việc hòa giải gò bó, ép buộc đương sự vi phạm quyền tự định đoạt của đương

sự Theo ThS Tống Công Cường, thì “hòa giải là việc Tòa án hướng dẫn các

đương sự tự nguyện thỏa thuận giải quyết vụ án.” (03)

Quan điểm này cũng như các quan điểm trên nêu được hòa giải VADS là một trong những phương pháp để Tòa án giải quyết VADS nhưng có hạn chế là chưa thể hiện được bản

chất, đặc điểm của hòa giải VADS Theo TS Nguyễn Bích Thảo, thì “hòa

giải VADS là hoạt động tố tụng do Tòa án tiến hành nhằm giúp đỡ các đương

Theo TS Hoàng Ngọc

Thỉnh, thì “hòa giải VADS là hoạt động tố tụng do Tòa án tiến hành nhằm

này của hai tác giả đều có điểm chung là đã làm rõ được phần nào bản chất của hòa giải VADS như hòa giải là hoạt động TTDS, chủ thể tiến hành hòa giải VADS là Tòa án, các chủ thể tham gia hòa giải VADS là các bên đương

sự, mục đích của hòa giải VADS là giúp các đương sự thỏa thuận giải quyết VADS Tuy vậy, quan điểm này của các tác giả có hạn chế là chưa chỉ rõ được hòa giải được tiến hành ở giai đoạn nào của TTDS, hòa giải được thực

Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, tr.306

Hà Nội, tr.248

tr.261

Trang 15

hiện theo quy định nào của pháp luật Theo học viên Hà Thị Thanh Thủy, thì

“hòa giải VADS là hoạt động tố tụng do Tòa án trực tiếp tiến hành theo trình

tự, thủ tục do pháp luật TTDS quy định trước khi xét xử sơ thẩm nhằm giúp các bên đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ hiểu rõ quyền, nghĩa

vụ của mình, của đương sự mà họ đại diện, hướng dẫn, động viên các bên tự

Quan điểm này đã nêu

được bản chất, đặc điểm, mục đích của hòa giải VADS Tuy nhiên, việc định nghĩa hòa giải VADS của quan điểm này còn khá lủng củng, chưa rõ ý dẫn đến khó hiểu

Qua nghiên cứu cho thấy, hòa giải VADS trước hết là hoạt động TTDS của Tòa án, bởi khi hòa giải VADS thì Tòa án tiến hành các hoạt động TTDS cần thiết như giải thích pháp luật, hướng dẫn các đương sự giải quyết những vướng mắc trong quan hệ giữa họ, giúp đương sự nhận thức đúng quyền lợi

và nghĩa vụ của họ trong VADS, từ đó tự nguyện thỏa thuận giải quyết các vấn đề của VADS v.v Hòa giải VADS được thực hiện trong giai đoạn chuẩn

bị xét xử sơ thẩm (trước khi xét xử sơ thẩm), tại phiên tòa sơ thẩm, ở thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm Tòa án không tiến hành hòa giải VADS Đồng thời theo nguyên tắc tuân thủ pháp luật trong TTDS, thì hoạt động hòa giải VADS của Tòa án và hoạt động TTDS của những người tham gia TTDS trong hòa giải VADS phải được tiến hành trên cơ sở quy định của pháp luật TTDS, nghĩa là phải theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật TTDS quy định Ngoài ra, nội dung sự thỏa thuận của đương sự cũng không được vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội

Từ những vấn đề phân tích ở trên có thể đi đến kết luận: “Hòa giải

VADS là hoạt động tố tụng do Tòa án tiến hành trước khi xét xử sơ thẩm, theo trình tự, thủ tục do pháp luật TTDS quy định nhằm giúp đỡ các bên đương sự

(06)

Hà Thị Thanh Thủy (2016), “Hòa giải vụ án dân sự và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Điện Biên,” Luận văn thạc sỹ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.9;

Trang 16

tự nguyện thỏa thuận với nhau về giải quyết VADS không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội.”

1.1.2 Đặc điểm của hòa giải vụ án dân sự

Hòa giải giúp Tòa án giải quyết VADS mà không phải đưa VADS ra xét xử Từ những phân tích và định nghĩa hòa giải VADS nêu trên cho thấy, hòa giải VADS có những đặc điểm cơ bản sau đây:

Thứ nhất, hòa giải VADS được pháp luật quy định là một nguyên tắc

cơ bản của TTDS

Hòa giải VADS là một trong những vấn đề cơ bản của TTDS, có ý nghĩa quan trọng đối với việc giải quyết VADS Vì vậy, trong các văn bản pháp luật TTDS Việt Nam được ban hành từ trước tới nay như Pháp lệnh thủ tục giải quyết VADS (Điều 5), Pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án kinh tế (Điều 5), BLTTDS năm 2004 (Điều 10), BLTTDS năm 2015 (Điều 10)… đều quy định hòa giải VADS là một nguyên tắc cơ bản của TTDS Theo quy định của các văn bản pháp luật này thì Tòa án có trách nhiệm hòa giải VADS và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau giải quyết VADS, trừ những trường hợp không hoà giải được hoặc pháp luật quy định không được hoà giải

Thứ hai, Tòa án là chủ thể chủ trì việc hòa giải VADS, bảo đảm hiệu

quả của việc hòa giải VADS

Với tư cách cơ quan xét xử của Nhà nước, Tòa án phải chủ động trong việc hòa giải VADS để giúp đỡ các đương sự thỏa thuận với nhau Điều này được thể hiện qua việc, sau khi thụ lý vụ án Tòa án chủ động triệu tập các đương sự đến để hòa giải Khi hòa giải VADS, Tòa án chủ động giải thích pháp luật để các đương sự hiểu pháp luật về vấn đề họ tranh chấp, giải quyết vướng mắc giữa họ để thỏa thuận với nhau giải quyết các vấn đề của VADS Như vậy, Tòa án chính là chủ thể chủ trì, bảo đảm hiệu quả của hòa giải VADS

Trang 17

Thứ ba, các đương sự là chủ thể tham gia hòa giải VADS, có quyền

thương lượng, thỏa thuận giải quyết các vấn đề của VADS

Trong hòa giải VADS, Tòa án chỉ đóng vai trò trung gian, giúp đỡ các bên đương sự thương lượng, thỏa thuận với nhau về giải quyết VADS Nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau việc giải quyết VADS bảo đảm các yêu cầu của pháp luật, thì Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự làm cơ sở cho việc thi hành Như vậy, các đương sự là chủ thể tham gia hòa giải VADS, có quyền thương lượng, thỏa thuận giải quyết các vấn đề của VADS Việc giải quyết VADS trong quá trình hòa giải VADS là do đương sự thương lượng, thỏa thuận quyết định Đây là điểm khác biệt giữa hòa giải VADS với xét xử VADS Khi xét xử VADS, Tòa án sẽ căn cứ vào pháp luật để ra phán quyết và đương sự phải tuân thủ nghiêm chỉnh phán quyết mặc dù phán quyết đó có thể trái với ý chí của họ

Thứ tư, hòa giải VADS được tiến hành trước khi xét xử sơ thẩm và

theo quy định của pháp luật

Để giải quyết nhanh chóng VADS, pháp luật TTDS quy định việc hòa giải VADS chỉ được tiến hành trước khi xét xử sơ thẩm Tại phiên tòa sơ thẩm, tại thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm dân sự pháp luật không quy định việc hòa giải VADS, bởi trước đó Tòa án đã tiến hành hòa giải VADS Mặt khác, đối với những VADS sau khi hòa giải không thành phải đưa ra xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm thường rất phức tạp, việc hòa giải VADS trên thực tế cho thấy rất ít thành công

Việc pháp luật TTDS quy định nguyên tắc, phạm vi, trình tự, thủ tục hòa giải VADS v.v…là nhằm bảo đảm tính khách quan, công bằng, bình đẳng trong quá trình giải quyết VADS, bảo đảm hiệu quả của hòa giải VADS Vì thế, các quy định của pháp luật TTDS về hòa giải VADS là cơ sở để tiến hành các hoạt động TTDS trong hòa giải VADS, bắt buộc Tòa án và những người tham gia TTDS phải tuân thủ trong quá trình hòa giải VADS Các quy định

Trang 18

này bao gồm: Quy định về thành phần phiên hòa giải, thủ tục triệu tập các đương sự tham gia hòa giải, thông báo về phiên hòa giải, trình tự tiến hành hòa giải và thủ tục ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự v.v…Ngoài ra, trong hòa giải VADS tuy các đương sự có quyền thỏa thuận về giải quyết VADS nhưng nội dung sự thỏa thuận của họ không được vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội như không được thỏa thuận xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người bị hạn chế hoặc mất năng lực hành về dân sự v.v… Vì vậy, việc hòa giải VADS phải được Tòa án tiến hành trên cơ sở quy định của pháp luật

1.1.3 Ý nghĩa của hòa giải vụ án dân sự

Hòa giải VADS là một trong những phương thức giải quyết tranh chấp của Tòa án Qua nghiên cứu cho thấy, hòa giải VADS có những ý nghĩa cơ bản sau đây:

Thứ nhất, hòa giải VADS có ý nghĩa quan trọng về mặt tố tụng

Việc hòa giải VADS có thể giúp Tòa án sớm kết thúc việc giải quyết VADS, tránh được những phức tạp trong giải quyết VADS Qua hòa giải VADS, Tòa án giúp các đương sự thỏa thuận giải quyết các vấn đề của VADS Đối với các VADS hòa giải thành thì Tòa án sẽ kết thúc sớm việc giải quyết VADS, giúp giải quyết triệt để, hiệu quả các các tranh chấp mà không phải mở phiên tòa xét xử VADS, tránh được việc kháng cáo, kháng nghị, khiếu nại, góp phần giảm bớt việc giải quyết VADS bị kéo dài hoặc những phức tạp khi tiến hành thủ tục phúc thẩm, tái thẩm, giám đốc thẩm Bên cạnh

đó, việc hòa giải VADS thành còn giúp cho việc thi hành án được thuận lợi Đối với những VADS được đưa ra xét xử, thì những phán quyết của Tòa án không phải là những cam kết tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, do đó

họ có thể chống đối, kéo dài việc thi hành án Tuy nhiên, đối với những VADS hòa giải thành, thì các điều phải thi hành án trong quyết định của Tòa

Trang 19

án chính là sự thỏa thuận tự nguyện về giải quyết vụ án của đương sự nên họ

sẽ tự giác thi hành nhiều khi không cần có sự tác động từ cơ quan Nhà nước

có thẩm quyền

Ngoài ra, trong trường hợp hòa giải VADS không thành thì qua hòa giải VADS Thẩm phán cũng nắm vững hơn yêu cầu, quan hệ tranh chấp giữa các đương sự, tình tiết của VADS, hiểu rõ hơn tâm tư, nguyện vọng, tình cảm

và những khúc mắc của đương sự, từ đó có thể đưa ra định hướng giải quyết VADS được đúng đắn

Thứ hai, hòa giải VADS có ý nghĩa lớn về mặt kinh tế

Đối với việc xét xử VADS, thời gian, kinh phí tổ chức việc xét xử của Tòa án và tham gia TTDS của đương sự, những người tham gia TTDS là rất lớn Việc hòa giải thành VADS sẽ giúp cho Tòa án kết thúc sớm việc giải quyết VADS, tiết kiệm được thời gian, công sức giải quyết VADS, tiền của của Tòa án Đối với các đương sự, việc hòa giải thành VADS sẽ tiết kiệm cho

họ thời gian và những chi phí không cần thiết, nhất là đối với những đương sự

ở xa trụ sở Tòa án, việc đi lại có khó khăn và tốn kém

Việc hòa giải VADS không chỉ giúp Tòa án sớm kết thúc được việc quyết VADS, tạo thuận lợi cho việc giải quyết VADS của Tòa án và tiết kiệm thời gian, công sức, tiền của của Tòa án, của đương sự và những người tham gia TTDS mà còn giúp Tòa án giải quyết VADS thấu tình, đạt lý củng cố niềm tin của nhân dân vào hoạt động xét xử, giải quyết VADS của Tòa án Đặc biệt, thông qua hòa giải VADS Tòa án giúp đương sự hiểu biết hơn về pháp luật, về quyền và nghĩa vụ của mình; biết thông cảm, sẻ chia cho nhau, cùng nhau tháo gỡ những mâu thuẫn, bất đồng giữa họ, khôi phục lại tình đoàn kết giữa họ hoặc ít nhất cũng giúp họ giải quyết tranh chấp giữa họ với tinh thần cởi mở hơn, ngăn ngừa được những hành vi vi phạm pháp luật khác

có thể phát sinh từ VADS

1.1.4 Cơ sở của việc pháp luật quy định hòa giải vụ án dân sự

Trang 20

1.1.4.1 Cơ sở lý luận của việc pháp luật quy định hòa giải vụ án dân

sự

Việc pháp luật quy định hòa giải VADS dựa trên cơ sở khoa học lý luận và thực tiễn Xét trên phương diện lý luận, thì pháp luật quy định hòa giải VADS là dựa trên các cơ sở sau đây:

Thứ nhất, trong TTDS các đương sự có quyền tự định đoạt

Các quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại và lao động, các chủ thể bình đẳng, tự nguyện, tự thỏa thuận và tự chịu trách nhiệm về việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình; không chủ thể nào được lừa dối, đe dọa, cưỡng ép chủ thể khác trong việc xác lập, thực hiện các quyền, nghĩa vụ của họ Việc một chủ thể hoặc người thứ ba lừa dối, đe dọa, cưỡng ép chủ thể khác trong việc xác lập, thực hiện các quyền, nghĩa vụ khi tham gia quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại và lao động là làm mất đi sự bình đẳng, tự nguyện, tự thỏa thuận giữa họ, trái ý chí của họ và vi phạm quy định của pháp luật Trường hợp quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại hoặc lao động có tranh chấp được Tòa án thụ lý giải quyết thì các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật này là đương sự trong VADS có quyền tự định đoạt trong quá trình Tòa án giải quyết tranh chấp Theo đó, đương sự có quyền tự định đoạt trong việc khởi kiện VADS yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, có quyền chấm dứt, thay đổi yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau giải quyết các vấn đề của VADS một cách tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội Trong TTDS, các đương sự có quyền tự định đoạt, có quyền thỏa thuận với nhau giải quyết các vấn đề của VADS một cách tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội Vì vậy, pháp luật TTDS đã quy định hòa giải VADS là hoàn toàn phù hợp và bảo đảm cho đương sự thực hiện quyền tự định đoạt trong TTDS

Trang 21

Thứ hai, hòa giải VADS là biện pháp giải quyết VADS có nhiều ưu

việt.

Theo tác giả Nguyễn Thị Thúy, thì “hòa giải là một biện pháp giải

quyết tranh chấp, theo đó, với sự giúp đỡ của bên thứ ba độc lập giữ vai trò trung gian, các bên tranh chấp tự nguyện thỏa thuận giải quyết tranh chấp

Xét

trên phương diện tố tụng, thì hòa giải VADS sẽ giúp cho Tòa án sớm kết thúc được quá trình tố tụng giải quyết VADS, tránh được những phiền phức có thể xảy ra khi xét xử VADS Ngay cả trong trường hợp Tòa án hòa giải VADS không thành thì việc giải quyết VADS của Tòa án cũng có những thuận lợi nhất định do thông qua hòa giải Tòa án đã nắm vững được các tình tiết của VADS Xét trên phương diện kinh tế, thì hòa giải VADS sẽ giúp cho Tòa án

và đương sự tiết kiệm thời gian, tiền của so với việc đưa VADS ra xét xử Xét trên phương diện chính trị, thì hòa giải VADS sẽ giúp cho việc giải quyết mâu thuẫn giữa các đương sự góp phần xây dựng khối đoàn kết toàn dân Từ những ưu việt trên, pháp luật TTDS quy định hòa giải VADS là hoàn toàn phù hợp và phát huy được tính ưu việt của phương thức giải quyết VADS này

Thứ ba, yêu cầu đa dạng biện pháp giải quyết VADS, bảo đảm tính

linh hoạt của TTDS.

Các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động phát sinh trong đời sống xã hội khá đa dạng và phong phú Mỗi tranh chấp có nguyên nhân, nội dung khác nhau, nhận thức của đương sự khác nhau, pháp luật quy định khác nhau v.v Tương ứng với chúng cũng phải có những biện pháp giải quyết thích hợp Do đó, cần phải linh hoạt, đa dạng các biện pháp giải quyết tranh chấp để sớm giải quyết được tranh chấp, ổn định an

sỹ luật học, Khoa luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.9

Trang 22

ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Trong trường hợp tranh chấp đã được Tòa án thụ lý giải quyết thì việc áp dụng các biện pháp khác nhau như hòa giải, xét xử trong quá trình giải quyết là cần thiết Vì vậy, pháp luật TTDS đã quy định hòa giải VADS là hoàn toàn phù hợp và đáp ứng được yêu cầu đa dạng biện pháp giải quyết VADS, bảo đảm tính linh hoạt của TTDS

1.1.4.2 Cơ sở thực tiễn của việc pháp luật quy định hòa giải vụ án dân

sự

Pháp luật có tính phản ánh, những quy tắc xử sự trong xã hội có tính ưu việt sẽ được pháp luật ghi nhận và trở thành các quy phạm pháp luật Xét trên phương diện thực tiễn, thì pháp luật quy định hòa giải VADS là dựa trên các

cơ sở sau đây:

Thứ nhất, truyền thống giải quyết tranh chấp của nhân dân ta

Nhân dân Việt Nam có truyền thống đoàn kết, lá lành đùm lá rách

Những câu ca dao: “Bầu ơi thương lấy bí cùng”; “Người trong một nước

phải thương nhau cùng” đã ăn sâu vào trái tim, khối óc của mỗi người dân

Việt Nam Nhờ đó, sự đoàn kết dân tộc trước bao khó khăn, kẻ thù xâm lược nhân dân ta chưa bao giờ khuất phục Đối với các tranh chấp xảy ra trong đời sống xã hội thì được giải quyết theo phương châm là phải có lý, có tình Theo

đó, việc giải quyết tranh chấp không chỉ coi trọng yếu tố “lý” mà coi trọng cả yếu tố “tình.” Yếu tố “lý” bảo đảm việc giải quyết tranh chấp đúng pháp luật Yếu tố “tình” bảo đảm cho các đương sự thỏa thuận, quyết định giải quyết

tranh chấp nhanh chóng và không gây thêm mâu thuẫn giữa họ Hòa giải VADS giúp đương sự thương lượng, thỏa thuận giải quyết tranh chấp giữa họ

Vì vậy, việc pháp luật TTDS quy định hòa giải VADS là hoàn toàn phù hợp với truyền thống của đan tộc ta và đáp ứng được yêu cầu giải quyết VADS

Thứ hai, thực tiễn giải quyết các VADS của các TAND

Thực tiễn giải quyết các VADS tại Tòa án cho thấy hàng năm các TAND đã phải thụ lý giải quyết một số lượng lớn các vụ án và các vụ việc

Trang 23

khác thuộc thẩm quyền, năm sau thường nhiều hơn năm trước Theo quy định của TANDTC thì trung bình mỗi Thẩm phán phải giải quyết 05 vụ việc/1 tháng nhưng hiện nay không ít các Tòa án trung bình mỗi Thẩm phán phải giải quyết từ 07 đến 08 vụ việc/1 tháng Nếu tất cả các VADS đều phải đưa ra xét xử thì các Tòa án sẽ không thể giải quyết hết các VADS đã thụ lý Tuy vậy, theo thống kê của TANDTC hàng năm thì số vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động hòa giải thành chiếm tỷ lệ khá cao, đạt tỷ lệ từ 45% đến 54% số vụ án đã thụ lý Điều này đã giúp các TAND

có thuận lợi rất nhiều trong việc giải quyết các VADS Nhờ đó mà tỷ lệ giải quyết các VADS của các Tòa án hàng năm cũng đạt cao, đạt tỷ lệ từ 90% đến 92% các VADS đã thụ lý Do vậy, việc pháp luật TTDS quy định hòa giải VADS là hoàn toàn phù hợp với thực tiễn giải quyết các VADS của các Tòa

án và tạo các điều kiện cần thiết cho các Tòa án giải quyết được hầu hết các VADS đã thụ lý

1.1.5 Các yếu tố quyết định hiệu quả hòa giải vụ án dân sự

1.1.5.1 Các quy định của pháp luật về hòa giải vụ án dân sự

Pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội bằng việc quy định quyền, nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ ấy, trình tự, thủ tục các chủ thể quan hệ xã hội thực quyền, nghĩa vụ của họ, trách nhiệm pháp lý của các chủ thể quan hệ xã hội v.v…Từ đó, bảo đảm cho các hoạt động của các chủ thể quan hệ xã hội được thực hiện trong một khuôn khổ nhất định, không xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể khác, giữ gìn an ninh, trật tự xã hội Vì thế, các quy định của pháp luật chính là hành lang pháp lý của các hoạt động xã hội Hòa giải VADS là hoạt động TTDS của Tòa án và có sự tham gia của nhiều chủ thể Bởi vậy, để việc hòa giải VADS có hiệu quả thì pháp luật TTDS phải quy định đầy đủ, khoa học các vấn đề liên quan đến hòa giải VADS, bao gồm: Nguyên tắc, phạm vi, trình tự, thủ hòa giải VADS; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của Tòa án trong hòa giải VADS; quyền,

Trang 24

nghĩa vụ và trách nhiệm của đương sự trong hòa giải VADS v.v…Các quy định này chính là kim chỉ nam cho các hoạt động TTDS trong hòa giải VADS, bảo đảm cho hòa giải VADS có hiệu quả và đúng pháp luật

1.1.5.2 Trình độ, kinh nghiệm chuyên môn nghiệp vụ và trách nhiệm của Thẩm phán

Trong hòa giải VADS Thẩm phán giữ vai trò đặc biệt quan trọng, chủ trì phiên hòa giải Mọi hoạt động của Thẩm phán trong quá trình hòa giải VADS đều có ảnh hưởng đến hiệu quả của hòa giải VADS Do vậy, hiệu quả của hòa giải VADS phụ thuộc rất lớn vào trình độ, kinh nghiệm chuyên môn nghiệp vụ và trách nhiệm của Thẩm phán Trường hợp, Thẩm phán có trình

độ, kinh nghiệm chuyên môn thì sẽ dễ dàng nắm vững các quy định của pháp luật liên quan đến VADS, xác minh nắm vững được các tình tiết của VADS, hướng dẫn đương sự thương lượng, thỏa thuận giải quyết VADS một cách linh hoạt, bảo đảm được quyền, lợi ích của các bên nên dễ dàng được các đương sự chấp nhận Trường hợp Thẩm phán không có trình độ, kinh nghiệm chuyên môn thì không thể dễ dàng nắm vững các quy định của pháp luật liên quan đến VADS, xác minh nắm vững được các tình tiết của VADS, nhất là những VADS phức tạp, việc hướng dẫn đương sự thương lượng, thỏa thuận giải quyết VADS thường không linh hoạt, không bảo đảm được quyền, lợi ích của các bên nên không được các đương sự chấp nhận Những Thẩm phán có trách nhiệm thì việc hòa giải VADS của họ sẽ tích cực, kiên trì, đúng quy định của pháp luật và thường có kết quả tốt hơn Những Thẩm phán không có trách nhiệm thì việc hòa giải VADS của họ thường phiến diện, chiếu lệ, không đúng quy định của pháp luật và thường có kết quả không tốt

1.1.5.3 Nhận thức pháp luật và thái độ của đương sự đối với việc giải

quyết vụ án dân sự

Trang 25

Trong hòa giải VADS các đương sự mới là người có quyền thương lượng, điều đình giải quyết VADS Vì vậy, hiệu quả hòa giải VADS phụ thuộc một phần rất lớn vào họ Trường hợp, đương sự là người hiểu biết pháp luật, có thái độ thiện chí trong việc giải quyết mâu thuẫn giữa họ thì họ sẽ cộng tác tốt với Tòa án trong quá trình giải quyết VADS Khi Thẩm phán giải thích pháp luật, quyền và nghĩa vụ của họ thì họ sẽ lắng nghe Khi Thẩm phán hướng dẫn họ thương lượng, thỏa thuận giải quyết VADS thì họ sẽ thương lượng, thỏa thuận giải quyết VADS với một thái độ tích cực Vì thế, việc hòa giải VADS sẽ có nhiều thuận lợi và có hiệu quả cao Trường hợp, đương sự là người kém hiểu biết pháp luật, không có thái độ thiện chí trong việc giải quyết mâu thuẫn giữa họ thì họ sẽ cộng tác không tốt với Tòa án trong quá trình giải quyết VADS Khi Thẩm phán giải thích pháp luật, quyền và nghĩa

vụ của họ thì họ sẽ không lắng nghe Khi Thẩm phán hướng dẫn họ thương lượng, thỏa thuận giải quyết VADS thì họ sẽ thương lượng, thỏa thuận giải quyết VADS với một thái độ tiêu cực Vì thế, việc hòa giải VADS không có nhiều thuận lợi và không có hiệu quả

1.2 Nội dung các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về hòa giải vụ án dân sự

1.2.1 Các quy định về nguyên tắc tiến hành hòa giải vụ án dân sự

Nguyên tắc tiến hành hòa giải được quy định tại Điều 205 BLTTDS năm 2015 Mục đích của hòa giải VADS là nhằm giúp các đương sự thỏa thuận được với nhau về giải quyết VADS Bản chất thỏa thuận của đương sự

về giải quyết VADS là một dạng giao dịch dân sự nên Điều luật này quy định khi hòa giải, Tòa án phải tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, không được dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thỏa thuận không phù hợp với ý chí của mình; nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không vị phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội Việc tiến hành hòa giải

Trang 26

phải đảm bảo nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội Quy định này nhằm đảm bảo sự tương thích với quy định về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo Điều

117 Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2015 Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 117 BLDS năm 2015, thì một trong những điều kiện để giao dịch dân sự

có hiệu lực pháp luật là: “Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội” Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành

vi nhất định Điều này một mặt sẽ mở rộng các quyền tố tụng của đương sự, mặt khác, tạo ra sự phù hợp giữa luật TTDS với luật dân sự

Tuy vậy, Điều luật này còn hạn chế là chưa quy định chưa đầy đủ các nội dung của nguyên tắc tiến hành hòa giải như vấn đề cần phải tôn trọng và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự, của các chủ thể khác và lợi ích của Nhà nước, việc hòa giải phải tích cực, kiên trì để đề cao trách nhiệm của Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải

1.2.2 Các quy định về các chủ thể trong hòa giải vụ án dân sự

1.2.2.1 Về chủ thể tiến hành hòa giải

Điều 209 BLTTDS năm 2015 đã quy định thành phần phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải Theo quy định tại điểm a và b khoản 1 Điều luật này, thì những người tiến hành hòa giải bao gồm: Thẩm phán chủ trì phiên họp; Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp

- Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải

Theo quy định tại khoản 7 Điều 48 của BLTTDS năm 2015, Thẩm phán tiến

hành phiên hòa giải, ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự theo quy định của Bộ luật này

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên hòa giải

Trang 27

Thư ký Tòa án phải ghi biên bản hòa giải theo đúng quy định tại Điều 211 BLTTDS năm 2015 và phải chịu trách nhiệm về việc ghi biên bản hòa giải của mình

1.2.2.2 Về chủ thể tham gia hòa giải

Theo quy định tại điểm c, d, đ và e khoản 1 và khoản 2 Điều 209 của BLTTDS năm 2015 thì những người tham gia hòa giải bao gồm:

- Các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của các đương sự (theo khoản 1 Điều 68 BLTTDS năm 2015, đương sự trong VADS là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan);

- Đại diện tổ chức đại diện tập thể lao động đối với vụ án lao động khi

có yêu cầu của người lao động, trừ vụ án lao động đã có tổ chức đại diện tập thể lao động là người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho tập thể người lao động, người lao động Trường hợp đại diện tổ chức đại diện tập thể lao động không tham gia hòa giải thì phải có ý kiến bằng văn bản;

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (nếu có);

- Người phiên dịch (nếu có);

- Trường hợp cần thiết, Thẩm phán yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức

có liên quan tham gia phiên họp; đối với vụ án về hôn nhân và gia đình, Thẩm phán yêu cầu đại diện cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ Việt nam tham gia phiên họp; nếu

họ vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành phiên họp

1.2.3 Các quy định về phạm vi hòa giải vụ án dân sự

1.2.3.1 Những vụ án dân sự phải tiến hành hòa giải

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, Tòa án có trách nhiệm hòa giải đối với hầu hết các VADS để giúp các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án BLTTDS năm 2015 không liệt kê những vụ việc phải tiến hành hòa giải mà quy định theo phương pháp loại trừ Theo đó, phạm vi

Trang 28

hòa giải VADS rất rộng, đó là những tranh chấp được quy định tại các Điều

26, 28, 30 và 32 BLTTDS, trừ những vụ án không được hòa giải theo quy định tại Điều 206 và Điều 207 của BLTTDS hoặc vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn

Điều 205 BLTTDS năm 2015 quy định: Trong thời hạn chuẩn bị xét xử

sơ thẩm vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau

về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được quy định tại Điều 206 và Điều 207 của Bộ luật này hoặc vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn

Như vậy, hoạt động hòa giải được tiến hành trước khi xét xử sơ thẩm VADS và là thủ tục bắt buộc, trừ những vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được quy định tại Điều 206 và Điều 207 của Bộ luật này hoặc vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn Ngoài ra, theo các Điều

246, Điều 300 BLTTDS năm 2015 thì tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm Tòa

án cũng hỏi các đương sự có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ

án hay không

1.2.3.2 Những vụ án dân sự không được hòa giải

Những VADS không được hòa giải là những vụ án mà pháp luật cấm hòa giải, vì nếu hòa giải sẽ đồng nghĩa với việc tao điều kiện cho các bên vi phạm pháp luật hoặc xâm phạm tài sản của Nhà nước Theo Điều 206 BLTTDS năm 2015, những vụ án không được hòa giải bao gồm: Yêu cầu đòi bồi thường gây thiệt hai đến tài sản của Nhà nước và những VADS phát sinh

từ giao dịch trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội

BLTTDS năm 2015 quy định đối với yêu cầu đòi bồi thường do gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước thì không được hòa giải nhằm phòng ngừa trường hợp lợi dụng việc hòa giải để thỏa thuận, thương lượng gây thiệt hại, thất thoát tài sản của Nhà nước Tuy vậy, hiện nay BLDS năm 2015 không quy định về hình thức sở hữu Nhà nước mà quy định hình thức sỡ hữu toàn

Trang 29

dân Vì thế, quy định của Điều 206 BLTTDS năm 2015 chưa tương thích với quy đinh tại Điều 197 BLDS năm 2015 Mặt khác, Điều 206 BLTTDS năm

2015 cũng còn hạn chế là chưa quy định cụ thể, chưa phân biệt trường hợp tài sản đã được đầu tư vào doanh nghiệp với trường hợp tài sản giao cho các cơ quan nhà nước, đơn vụ vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị -

xã hội v.v…mà Nhà nước thực hiện quyền của chủ sở hữu thông qua cơ quan

có thẩm quyền

1.2.3.3 Những vụ án dân sự không tiến hành hòa giải được

Những VADS không tiến hành hòa giải được là những vụ án mà pháp luật quy định phải hòa giải nhưng thực tế có những trở ngại khách quan dẫn đến việc không hòa giải được Theo Điều 207 BLTTDS năm 2015, những VADS không tiến hành hòa giải được bao gồm: Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt; đương sự không thể tham gia hòa giải được vì có lý do chính đáng; đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự; một trong các đương sự đề nghị không tiến hành hòa giải Điều luật này bổ sung thêm trường hợp, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt Việc bổ sung này là cần thiết, phù hợp với thực tế, bởi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền hoặc nghĩa vụ liên quan đến VADS Tuy nhiên, quy định này lại chưa thật sự hợp lý, bởi chưa phân biệt trường hợp người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập vắng mặt với trường hợp người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có quyền yêu cầu độc lập vắng mặt Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập là người tham gia tố tụng đứng về phía nguyên đơn hoặc bị đơn, họ không đưa ra yêu cầu độc lập nên Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà họ vẫn cố tình vắng mặt thì thuộc trường hợp vụ án không tiến hành hòa giải được là hợp lý Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là người tham

Trang 30

gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính mình, họ có thể chống lại cả nguyên đơn và bị đơn Bản chất của vụ án có yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là Tòa án đã nhập yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để giải quyết trong cùng một vụ án Do đó, Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà họ vẫn cố tình vắng mặt thì phải coi như họ đã

từ bỏ yêu cầu độc lập và Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu độc lập của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt hoặc có người đại diện hợp pháp tham gia

Đối với trường hợp đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự Tòa án cũng không tiến hành hòa giải được Bởi, hòa giải là sự thỏa thuận của chính các đương sự, cho nên khi một bên đương sự mất năng lực hành vi dân sự mà ly hôn là quan hệ gắn liền với nhân thân của đương sự đó thì sẽ không thể hòa giải được Tuy vậy, Điều 23 BLDS năm 2015 có quy định trường hợp người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là người thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của người này, người có quyền, lợi ích liên quan hoặc cơ quan, tổ chức hữu quan trên cơ sở kết luận giám định pháp

y tâm thần, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định người giám hộ Vì vậy, việc Điều 207 BLTTDS năm 2015 chưa quy định không hòa giải đối với trường hợp đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người có khó khăn trong nhận thức làm chủ hành vi là chưa tương thích với quy định của Điều 23 BLDS năm 2015

Bên cạnh đó, BLTTDS năm 2015 còn bổ sung thêm trường hợp không hòa giải được là một trong các đương sự đề nghị không tiến hành hòa giải Trước đây, theo quy định tại Điều 182 BLTTDS năm 2004, Tòa án vẫn phải

Trang 31

triệu tập đương sự đến lần thứ hai, nếu họ vắng mặt thì mới được đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm dẫn đến thời gian giải quyết vụ án bị kéo dài Vì vậy, việc bổ sung trường hợp không hòa giải được này là hợp lí nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tế, hạn chế việc kéo dài thời gian giải quyết vụ án

1.2.4 Các quy định về thủ tục hòa giải vụ án dân sự

1.2.4.1 Thủ tục thông báo về phiên hòa giải

Điều 208 BLTTDS năm 2015 quy định việc thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải Theo Điều luật này thì Thẩm phán tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải giữa các đương sự Trước khi tiến hành phiên họp, Thẩm phán phải thông báo cho đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự về thời gian, địa điểm tiến hành phiên họp và nội dung của phiên họp

Việc thông báo này có ý nghĩa để các đương sự chuẩn bị những phương

án mà họ có thể đưa ra thỏa thuận với nhau và họ có thể tham khảo trước ý kiến của những người hiểu biết về pháp luật để giúp cho việc thương lượng giữa các đương sự được thuận lợi hơn

1.2.4.2 Thành phần tham gia phiên hòa giải vụ án dân sự

- Điều 209 BLTTDSnăm 2015 quy định thành phần phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải gồm có:

+ Thẩm phán chủ trì phiên họp;

+ Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp;

+ Các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của các đương sự;

+ Đại diện tổ chức đại diện tập thể lao động đối với vụ án lao động khi

có yêu cầu của người lao động, trừ vụ án lao động đã có tổ chức đại diện tập thể lao động là người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho tập thể người lao động, người lao động Trường hợp đại diện tổ chức đại diện tập thể lao động không tham gia hòa giải thì phải có ý kiến bằng văn bản;

Trang 32

+ Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (nếu có); + Người phiên dịch (nếu có)

+ Trường hợp cần thiết, Thẩm phán yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức

có liên quan tham gia phiên họp; đối với vụ án về hôn nhân và gia đình, Thẩm phán yêu cầu đại diện cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ Việt nam tham gia phiên họp; nếu

họ vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành phiên họp

- Trong vụ án có nhiều đương sự mà có đương sự vắng mặt, nhưng các đương sự có mặt vẫn đồng ý tiến hành phiên họp và việc tiến hành phiên họp

đó không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì Thẩm phán tiến hành phiên họp giữa các đương sự có mặt; nếu các đương sự đề nghị hoãn phiên hòa giải để có mặt tất cả các đương sự trong vụ án thì Thẩm phán phải hoãn phiên họp Thẩm phán phải thông báo việc hoãn phiên họp và việc mở lại phiên họp cho đương sự

1.2.4.3 Trình tự phiên hòa giải

Điều 210 BLTTDS năm 2015 quy định trình tự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải như sau:

- Trước khi tiến hành phiên họp, Thư ký Tòa án báo cáo Thẩm phán về

sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên họp đã được Tòa án thông báo Thẩm phán chủ trì phiên họp kiểm tra lại sự có mặt và căn cước của những người tham gia, phổ biến cho các đương sự về quyền và nghĩa vụ của họ theo quy định của Bộ luật này

- Thủ tục tiến hành hòa giải được thực hiện như sau:

+ Thẩm phán phổ biến cho các đương sự về các quy định của pháp luật

có liên quan đến việc giải quyết vụ án để các đương sự liên hệ đến quyền, nghĩa vụ của mình, phân tích hậu quả pháp lý của việc hòa giải thành để họ tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án;

Trang 33

+ Nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trình bày nội dung tranh chấp, bổ sung yêu cầu khởi kiện; những căn cứ để bảo vệ yêu cầu khởi kiện và đề xuất quan điểm về những vấn đề cần hòa giải, hướng giải quyết vụ án (nếu có);

+ Bị đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, yêu cầu phản tố (nếu có); những căn cứ để phản đối yêu cầu của nguyên đơn; những căn cứ để bảo vệ yêu cầu phản tố của mình và đề xuất quan điểm về những vấn đề cần hòa giải, hướng giải quyết vụ án (nếu có);

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn; trình bày yêu cầu độc lập của mình (nếu có); những căn cứ để phản đối yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn; những căn cứ để bảo vệ yêu cầu độc lập của mình và đề xuất quan điểm về những vấn đề cần hòa giải, hướng giải quyết vụ án (nếu có);

+ Người khác tham gia phiên họp hòa giải (nếu có) phát biểu ý kiến; + Sau khi các đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trình bày hết ý kiến của mình, Thẩm phán xác định những vấn đề các đương

sự đã thống nhất, chưa thống nhất và yêu cầu các đương sự trình bày bổ sung

về những nội dung chưa rõ, chưa thống nhất;

+ Thẩm phán kết luận về những vấn đề các đương sự đã thống nhất, chưa thống nhất

1.2.4.4 Biên bản phiên hòa giải

Điều 211 BLTTDS năm 2015 quy định biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải Theo Điều luật này, việc lập biên bản hòa giải như sau:

- Thư ký Tòa án phải lập biên bản về việc hòa giải

- Biên bản về việc hòa giải phải có các nội dung chính sau đây:

Trang 34

+ Ngày, tháng, năm tiến hành phiên họp;

+ Địa điểm tiến hành phiên họp;

+ Thành phần tham gia phiên họp;

+ Ý kiến của các đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự;

+ Những nội dung đã được các đương sự thống nhất, không thống nhất

- Biên bản phải có đầy đủ chữ ký hoặc điểm chỉ của những người tham gia phiên họp, chữ ký của Thư ký Tòa án ghi biên bản và của Thẩm phán chủ trì phiên họp Những người tham gia phiên họp có quyền được xem biên bản ngay sau khi kết thúc phiên họp, yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản và ký xác nhận hoặc điểm chỉ

- Trường hợp các đương sự thỏa thuận được với nhau về vấn đề phải giải quyết trong VADS thì Tòa án lập biên bản hòa giải thành Biên bản này được gửi ngay cho các đương sự tham gia hòa giải

1.2.4.5 Thủ tục áp dụng trong trường hợp hòa giải thành

- Thủ tục ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự

Điều 212 BLTTDS năm 2015 quy định:

+ Hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó thì thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công phải

ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự;

+ Thẩm phán chỉ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương

sự nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án;

+ Trong trường hợp vụ án có nhiều đương sự mà các đương sự có mặt thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thì thỏa thuận đó chỉ có giá trị đối với những người có mặt và được Thẩm phán ra quyết định công nhận nếu không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt Trường

Trang 35

hợp thỏa thuận của họ có ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng

mặt thì thỏa thuận này chỉ có giá trị và được Thẩm phán ra quyết định công

nhận nếu được đương sự vắng mặt tại phiên hòa giải đồng ý bằng văn bản

Tuy nhiên, vấn đề thời hạn lấy ý kiến của đương sự vắng mặt trong

trường hợp này chưa được khoản 3 Điều 212 BLTTDS năm 2015 quy định

dẫn đến có các cách hiểu và áp dụng khác nhau

- Thủ tục trong trường hợp đương sự thay đổi ý kiến sau khi lập biên

bản hòa giải thành

BLTTDS năm 2015 không có quy định cụ thể về trường hợp đương sự

thay đổi ý kiến sau khi lập biên bản hòa giải thành Tuy nhiên, căn cứ vào

Điều 212 BLTTDS năm 2015 thì có thể suy luận là trong thời hạn 07 ngày, kể

từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà có đương sự thay đổi ý kiến về sự thỏa

thuận đó thì Tòa án sẽ tiến hành ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy

định của pháp luật

- Thủ tục áp dụng trong trường hợp Tòa án hòa giải thành và nguyên

đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện

Theo Điều 217 BLTTDS năm 2015, trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ

yêu cầu khởi kiện và trong vụ án đó có bị đơn yêu cầu phản tố, người có

quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập thì giải quyết như sau:

+ Bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên

quan rút toàn bộ yêu cầu độc lập thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết

vụ án;

+ Bị đơn không rút hoặc chỉ rút một phần yêu cầu phản tố thì Tòa án ra

quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; bị

đơn trở thành nguyên đơn, nguyên đơn trở thành bị đơn;

+ Bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên

quan không rút hoặc chỉ rút một phần yêu cầu độc lập thì Tòa án ra quyết định

đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tố

Trang 36

của bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trở thành nguyên đơn, người nào bị khởi kiện theo yêu cầu độc lập trở thành bị đơn

1.2.4.6 Thủ tục áp dụng trong trường hợp hòa giải không thành

Đối với những VADS không được hòa giải hay những VADS không tiến hành hòa giải được hoặc những VADS mà việc hòa giải vụ án không đạt được kết quả và không có căn cứ để tạm đình chỉ hoặc đình chỉ giải quyết vụ

án thì Tòa án lập biên bản hòa giải không thành và sẽ tiến hành ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật

Trang 37

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Hòa giải VADS là hoạt động tố tụng do Tòa án tiến hành trước khi xét

xử sơ thẩm, theo trình tự, thủ tục do pháp luật TTDS quy định nhằm giúp đỡ các bên đương sự tự nguyện thỏa thuận với nhau về giải quyết VADS không

vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội Trong hòa giải VADS Tòa án là chủ thể chủ trì, bảo đảm hiệu quả của việc hòa giải VADS; các đương sự là chủ thể tham gia hòa giải VADS Hòa giải VADS được tiến hành trước khi xét xử sơ thẩm và theo quy định của pháp luật Sở dĩ pháp luật TTDS Việt Nam quy định hòa giải VADS trong TTDS xuất từ trong TTDS các đương sự có quyền tự định đoạt; hòa giải VADS là biện pháp giải quyết VADS có nhiều ưu việt; truyền thống giải quyết tranh chấp của nhân dân ta

và thực tiễn giải quyết các VADS của các TAND

Hòa giải VADS có nhiều ý nghĩa Về mặt tố tụng, hòa giải VADS giúp Tòa án sớm kết thúc được việc giải quyết VADS Về mặt kinh tế, VADS được hòa giải thành sẽ tiết kiệm được thời gian, công sức, tiền của của Tòa án

và những người tham gia TTDS Về mặt xã hội, hòa giải VADS giúp các đương sự giải quyết mâu thuẫn, khôi phục lại quan hệ đoàn kết giữa họ Tuy vậy, hiệu quả hòa giải VADS còn phụ thuộc vào các quy định của pháp luật

về hòa giải vụ án dân sự; trình độ, kinh nghiệm chuyên môn nghiệp vụ và trách nhiệm của Thẩm phán và nhận thức pháp luật và thái độ của đương sự đối với việc giải quyết vụ án dân sự

Kế thừa các quy định của pháp luật TTDS Việt Nam trước đây, BLTTDS năm 2015 đã quy định tương đối đầy đủ, cụ thể những vấn đề liên quan đến hòa giải VADS Tuy vậy, vẫn còn một số quy định của BLTTDS năm 2015 về hòa giải chưa cụ thể hoặc chưa tương thích với quy định của pháp luật dân sự làm hạn chế đến hiệu quả của hòa giải VADS như quy định

về nguyên tắc tiến hành hòa giải VADS, phạm vi hòa giải VADS v.v… cần tiếp tục hoàn thiện

Trang 38

Chương 2 THỰC TIỄN HÒA GIẢI VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA BÌNH, BẮC NINH VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

2.1 Tình hình kinh tế xã hội và giải quyết các vụ án dân sự tại Tòa

án nhân dân huyện Gia Bình, Bắc Ninh

2.1.1 Tình hình kinh tế xã hội của huyện Gia Bình, Bắc Ninh

Gia Bình là huyện nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Bắc Ninh với diện tích tự nhiên 10752,8 ha, dân số 93242 người và 28192 hộ gia đình Các đơn

vị hành chính của huyện Gia Bình gồm 1 thị trấn và 13 xã, trung tâm huyện lỵ

là thị trấn Gia Bình; phía Bắc giáp huyện Quế Võ; phía Nam giáp huyện Lương Tài; phía Tây giáp huyện Thuận Thành

Trong lịch sử, Gia Bình vốn là vùng đất “địa linh nhân kiệt”, nơi sinh thành nhiều bậc hiền tài từng làm “rường cột” của quốc gia, dân tộc, như: thời Thục An Dương Vương có tướng quân Cao Lỗ chế tạo “nỏ thần” đánh lui quân xâm lược; Trạng nguyên khai khoa, Thái sư Lê Văn Thịnh tài cao đức trọng, thày dạy của minh vương Lý Nhân Tông; Trạng nguyên, Thiền sư Huyền Quang - một trong ba vị Tam Tổ của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử; Thám hoa Nguyễn Văn Thực văn chương cái thế như rồng cuốn gấm thêu; Quận công Nguyễn Công Hiệp văn võ toàn tài, đức dày như núi, tâm sáng tựa ngọc đã hưng dựng nên nhiều công trình, danh lam, cổ tự nổi tiếng xứ Bắc Ninh - Kinh Bắc…Nơi đây còn nổi tiếng với những làng nghề như: gò đồng Đại Bái, tre trúc Xuân Lai

Gia Bình là vùng đồng bằng chiêm trũng song lại có núi, có sông “sơn thuỷ hữu tình” Dãy núi Thiên Thai trải dài ở phía Tây Bắc của huyện tựa như con Rồng đang vươn mình ra sông Đuống và những mỏm núi được các làng

xã đặt những tên cổ kính với các hình ảnh khác nhau Bên cạnh núi còn có các con sông lớn nhỏ chảy qua huyện Cũng chính các con sông này từ ngàn đời

Trang 39

xưa đã bồi đắp lượng phù sa lớn cho các dân cư bên bờ sông làm nên vùng đất trù phú, màu mỡ của huyện Gia Bình

Cùng với xu thế phát triển trung của đất nước, Gia Bình vốn là huyện thuần nông, nhưng đã quan tâm đầu tư phát triển kinh tế công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, từ chỗ trắng về công nghiệp thì đến nay toàn huyện đã có trên 100 doanh nghiệp, hơn 10 HTX và hơn 5.000 hộ cá thể hoạt động trên lĩnh vực công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, giải quyết việc làm cho hơn 10.000 lao động Giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp của huyện năm 2016 đạt hơn 2.000 tỷ đồng Bên cạnh các các làng nghề truyền thống như: tre trúc Xuân Lai, đúc đồng Đại Bái… vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng cao và bền vững, trên địa bàn đã hình thành một số nghề mới như may mặc, thêu ren, đan lát thu hút một số lượng lớn lao động nông thôn tham gia, hình thành lên những làng nghề mới như may gia công Ngăm Lương, Xuân Lai, Cổ Thiết

hạ tầng cơ sở Từ chỗ cả huyện chưa có một mét đường bê tông thì trong thời gian qua huyện đã đầu tư kinh phí đầu tư xây dựng hơn 2.000 tỷ đồng xây dựng các tuyến huyện lộ, đường liên xã, thôn có chiều dài trên 500 km, đã bê tông hoá đến từng ngõ xóm, từng khu dân cư Huyện Gia Bình đã vinh dự được nhận cờ thi đua của Chính phủ về phong trào làm đường giao thông nông thôn Đặc biệt được sự quan tâm của tỉnh, đường nối TL282 - cầu qua Sông Đuống với Quốc lộ 18 được đầu tư xây dựng, đã hoàn thành vào năm

2015 đã mở ra cơ hội, triển vọng phát triển mới của huyện trong tương lai

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được về kinh tế - xã hội trên thì do ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường cũng như lối sống ngoại lai

du nhập, huyện Gia Bình cũng không tránh khỏi những tệ nạn xã hội, đặc biệt

là tệ nạn ma túy, cờ bạc, ; ngoài ra, tình hình ly hôn, tranh chấp đất đai, vay

nợ, có chiều hướng gia tăng và phức tạp

Trang 40

2.1.2 Tình hình giải quyết các vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân huyện Gia Bình, Bắc Ninh

TAND huyện Gia Bình, Bắc Ninh hiện có 03 Thẩm phán, trong đó có

02 Thẩm phán là lãnh đạo (01 Chánh án và 01 phó Chánh án) Tuy vậy, hàng năm các TAND huyện Gia Bình đã phải thụ lý giải quyết một số lượng lớn các VADS

Theo Báo cáo số 259/2016/BC-TA ngày 06/4/2016 tóm tắt kết quả hoạt động của TAND huyện Gia Bình (thời gian báo cáo từ năm 2011 đến năm 2016), 598/2016/BC-TA ngày 13/12/2016 kết quả công tác Tòa án năm 2016

và phương hướng, nhiệm vụ công tác năm 2017 và Báo cáo số

76/2017/BC-TA ngày 19/6/2017 kết quả hoạt động của 76/2017/BC-TAND huyện Gia Bình (thời gian báo cáo từ tháng 01/2017 đến tháng 6/2017), thì từ năm 2011 đến tháng 6 năm 2017 tại TAND huyện Gia Bình đã phải thụ lý thụ lý giải quyết 975 VADS Tuy vậy, TAND huyện Gia Bình đã cố gắng giải quyết được hầu hết các VADS đã thụ lý: 927 vụ; chiếm tỷ lệ: 95,07 % Trong đó, có nhiều VADS được TAND huyện Gia Bình giải quyết thông qua việc hòa giải VADS

2.2 Những kết quả, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong việc hòa giải vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân huyện Gia Bình, Bắc Ninh

2.2.1 Những kết quả trong việc hòa giải vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân huyện Gia Bình, Bắc Ninh

Nhận thức sâu sắc được ý nghĩa to lớn của hòa giải VADS, TAND huyện Gia Bình, Bắc Ninh đã rất chú trọng đến công tác hòa giải VADS trong quá trình giải quyết các VADS, coi hòa giải VADS là biện pháp chính để giải quyết VADS Nhờ đó, trong thời gian qua (từ năm 2011 đến tháng 6 năm 2017), các VADS được TAND huyện Gia Bình, Bắc Ninh hòa giải thành chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng số các VADS sơ thẩm đã được giải quyết (bình quân chiếm tỷ lệ 62,76%) Từ đó, rút ngắn quá trình tố tụng, giảm thiểu chi

Ngày đăng: 14/03/2019, 20:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm