1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án về tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh nam định

107 174 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 4,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

được thực hiện ngay từ giai đoạn đầu của vụ án, Kiểm sát viên thiếu chủ động trong việc đề ra yêu cầu điều tra, chưa thường xuyên trao đổi nắm bắt thông tin về hoạt động điều tra nên còn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

- -

NGUYỄN THỊ NGUYÊN

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU

TRA CÁC VỤ ÁN VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi

Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này

TÁC GIẢ

Nguyễn Thị Nguyên

Trang 3

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN

Trang Bảng 1: Tổng số vụ án, bị can tội trộm cắp tài sản VKSND tỉnh Nam

định đã thụ lý kiểm sát điều tra việc khởi tố giai đoạn 2012 – 2016

46

Bảng 2: Tỷ lệ các vụ án về tội trộm cắp tài sản so với tổng số các

vụ án nói chung trên địa bàn tỉnh Nam Định mà VKS đã thụ lý,

kiểm sát điều tra từ năm 2012 – 2016

47

Bảng 3: Số liệu về việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn tạm giam

trong các tội trộm cắp tài sản giai đoạn 2012 – 2016

52

Bảng 4: Số vụ án, bị can tội trộm cắp tài sản đình chỉ, tạm đình chỉ

giai đoạn 2012 – 2016

53

Trang 5

vụán trộm cắp tài sản 81.2.Đặc điểm của hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tratra các vụán trộm cắp tài sản 201.3 Nội dung của thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ ántrộm cắp tài sản 23

Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM

2003, NĂM 2015 VÀ THỰC TIỄN THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ÐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN TRỘM CẮP TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH 302.1 Quy định của Bộluật tố tụng hình sự năm 2003, năm 2015 về thực hànhquyền công tốtrong giai đoạn điều tra các vụán hình sự 302.2 Thực tiễn thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ ántrộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Nam Định 442.2.1 Những kết quả đạt được trong công tác thực hành quyền công tố tronggiai đoạn điều tra các vụ án trộm cắp tài sản của Viện kiểm sát nhân dân tỉnhNam Định 452.2.2 Những hạn chế trong thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều trađối với các vụ án vềtội trộm cắp tài sản của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh NamĐịnhvà nguyên nhâncủa hạn chế 55

Trang 6

Chương 3 YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN TRỘM CẮP TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH

66

3.1 Yêu cầu 66

3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Nam Định 68

3.2.1 Giải pháp về pháp luật 68

3.2.2 Những giải pháp khác 72

KẾT LUẬN 81 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay đã và đang đem lại sự chuyển biến tích cực trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội tại Việt Nam Bên cạnh những mặt tích cực, nền kinh tế thị trường cũng đã làm nảy sinh nhiều vấn đề tiêu cực, trong đó có tình hình tội phạm diễn biến ngày càng phức tạp Các vụ án xảy ra nhiều với mức độ nghiêm trọng và tính chất ngày càng nguy hiểm Đấu tranh phòng chống tội phạm, ổn định trật tự xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân là nhiệm

vô tội hay bỏ lọt tội phạm

Trước những yêu cầu của tình hình mới, Viện kiểm sát nhân dân cần tiếp tục thực hiện đổi mới toàn diện cả về tổ chức và hoạt động thì mới hoàn thành được nhiệm vụ của mình Việc đổi mới của VKSND đã được Nghị quyết số 08- NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ

trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới xác định: “Viện kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp Hoạt động công tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án trong suốt quá trình tố tụng nhằm đảm bảo không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, xử lý kịp thời những trường hợp sai phạm của những người tiến hành tố tụng khi thi hành nhiệm vụ…”

Trang 8

Với mục tiêu xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý… Nghị quyết số 49 - NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam (khoá X) về chiến lược cải cách đến năm 2020 đã thẳng thắn chỉ ra những hạn chế

của các cơ quan tư pháp trong đó có Viện kiểm sát nhân dân : “Tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, cơ chế hoạt động của các cơ quan tư pháp còn bất hợp lý Đội ngũ cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp còn thiếu, trình độ nghiệp vụ

và bản lĩnh chính trị của một bộ phận cán bộ còn yếu, thậm chí có một số cán

bộ sa sút về phẩm chất, đạo đức và trách nhiệm nghề nghiệp Vẫn còn tình trạng oan, sai trong điều tra, bắt giam giữ, truy tố xét xử Cơ sở vật chất, phương tiện làm việc của các cơ quan tư pháp còn thiếu thốn, lạc hậu…”

Trong hơn ba mươi năm đổi mới, tỉnh Nam Định đã có bước phát triển mạnh về nhiều mặt, kinh tế tăng trưởng, đời sống các tầng lớp nhân dân không ngừng được cải thiện, trật tự an toàn xã hội được giữ vững Tuy nhiên, không nằm ngoài ảnh hưởng tác động tiêu cực của phát triển kinh tế thị trường, địa bàn rộng, dân số đông, tốc độ đô thị hóa nhanh đã làm cho Nam Định gặp không ít khó khăn trong quản lý xã hội, tệ nạn xã hội và tội phạm, trong đó có vấn đề đấu tranh phòng và chống tội phạm nói chung, phòng chống tội phạm xâm phạm sở hữu nói riêng, đặc biệt là tội trộm cắp tài sản chiếm tỷ lệ lớn và đang có chiều hướng gia tăng Loại tội phạm này đã và đang diễn biến phức tạp với tính chất, thủ đoạn ngày càng tinh vi hơn gây không ít khó khăn cho công tác điều tra, giải quyết vụ án

Công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án về tội trộm cắp tài sản của Viện kiểm sát nhân dân ở tỉnh Nam Định trong những năm gần đây đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần không nhỏ vào công tác đấu tranh phòng, chống vi phạm và tội phạm Tuy nhiên, qua tổng kết thực tiễn cho thấy công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án về tội trộm cắp tài sản của Viện kiểm sát nhân dân ở tỉnh Nam Định còn bộc lộ nhiều hạn chế như: Hoạt động thực hành quyền công tố chưa

Trang 9

được thực hiện ngay từ giai đoạn đầu của vụ án, Kiểm sát viên thiếu chủ động trong việc đề ra yêu cầu điều tra, chưa thường xuyên trao đổi nắm bắt thông tin về hoạt động điều tra nên còn bị động trong quá trình giải quyết vụ án, kỹ năng thực hành quyền công tố của nhiều kiểm sát viên còn hạn chế… Điều này dẫn đến nhiều vụ án bị kéo dài, phải gia hạn thời hạn điều tra, thời hạn tạm giam, còn bỏ lọt tội phạm…Những tồn tại nêu trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, tuy nhiên nguyên nhân cơ bản là do nhận thức pháp luật và áp dụng pháp luật trong quá trình giải quyết các vụ án trộm cắp tài sản của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát còn chưa thống nhất Thực tiễn hoạt động Thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra các

vụ án hình sự nói chung và các vụ án trộm cắp tài sản nói riêng chưa được quan tâm, nghiên cứu, tổng kết thường xuyên

Với mong muốn góp phần làm sáng tỏ hơn một số vấn đề lý luận và thực tiễn hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ

án về tội trộm cắp tài sản, đồng thời đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng của hoạt động này trong xu hướng cải cách tư pháp, tác giả chọn đề tài

"Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án về tội trộm

cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Nam Định" làm luận văn thạc sĩ luật học

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Hoạt động Thực hành quyền công tố là một chức năng quan trọng của Viện kiểm sát nhân dân, cho nên thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra là chủ đề đã được nhiều học giả nghiên cứu dưới góc độ lý luận và từ nhiều phương diện khác nhau, trong đó phải kể đến một số công trình điển hình như sau:

- Lê Cảm (2001), "Những vấn đề lý luận về chế định quyền công tố",

Kỷ yếu đề tài khoa học cấp Bộ: Những vấn đề lý luận về quyền công tố và việc tổ chức thực hiện quyền công tố ở Việt Nam, Viện kiểm sát nhân dân tối

cao, Hà Nội

Trang 10

- Lê Hữu Thể (Chủ biên) (2005), Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra, Nxb Tư pháp, Hà Nội

- Nguyễn Hải Phong (Chủ biên) (2014) Một số vấn đề về tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

- Trịnh Duy Tám (2005), áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra của Viện kiểm sát nhân dân ở Việt nam hiện nay,

Luận văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội

- Hà Thị Minh Hạnh (2011), Chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ

Luật học, Hà Nội

- Bùi Mạnh Cường (2012), Gắn công tố với hoạt động điều tra trong

tố tụng hình sự theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội

- Nguyễn Ngọc Ánh (2016) “Thực hành quyền công tố và Kiểm sát

điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu trên địa bàn thành phố Hà Nội”, Luận

văn thạc sỹ Luật học, Hà Nội

- Nguyễn Công Cường (2016) “Thực hành quyền công tố trong giai

đoạn điều tra vụ án hình sự”, Luận văn thạc sỹ Luật học, Hà Nội

Bên cạnh đó còn có các bài viết của nhiều tác giả khác với các ý kiến,

quan điểm khác nhau được đăng tải trên các báo, tạp chí như: Tổ chức bộ máy

và chức năng, nhiệm vụ của Viện Kiểm sát trong tiến trình cải cách tư pháp của tác giả Lê Hữu Thể, Tạp chí Kiểm sát số 14 – 16, 2008; Bàn về mô hình Viện kiểm sát theo yêu cầu cải cách tư pháp của tác giả Lại Hợp Việt, Tạp chí Kiểm sát số 14 – 16, 2008; Thể chế chủ trương “Tăng cường trách nhiệm

Trang 11

của công tố trong hoạt động điều tra” trong Bộ luật tố tụng hình sự của tác giả Nguyễn Tiến Sơn, Tạp chí Kiểm sát số 09, 2015…

Mặc dù các công trình nghiên cứu các bài viết nêu trên đã đề cập các góc độ khác nhau của hoạt động Thực hành quyền công tố các vụ án hình sự Tuy nhiên, chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu hoạt động thực hành công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án về tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Nam Định Hơn nữa, Nam Định là một tỉnh mà tình hình tội phạm trộm cắp tài sản diễn ra hết sức phức tạp, hoạt động ngày càng tinh vi, xảo quyệt Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài "Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án về tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Nam Định" là một đòi hỏi cấp thiết, có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc

3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các vấn đề lý luận, quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự và hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án về tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Nam Định

- Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu lý luận về thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra và thực tiễn thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án về tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Nam Định

Về thời gian: Luận văn nghiên cứu thực trạng thực hành quyền công

tố trong giai đoạn điều tra các vụ án về tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Nam Định trong 05 năm (2012 - 2016)

Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Nam Định

4 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Luận văn nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn thực hành quyền công tố các vụ án trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Nam Định

Trang 12

Qua đó đưa ra một số đề xuất, phương hướng nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án về tội trộm cắp tài sản theo tinh thần cải cách tư pháp mà Nghị quyết số 49/NQ/TW của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) đề ra

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn có những nhiệm vụ sau: + Phân tích cơ sở lý luận về thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án về tội trộm cắp tài sản

+ Phân tích quy định của pháp luật tố tụng hình sự năm 2005, năm

2015 và thực tiễn thực hành quyền công tố các vụ án trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Nam Định, những khó khăn, vướng mắc gặp phải, nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó

+ Yêu cầu và đưa ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật về thực hành quyền công tố

+ Đưa ra được những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra nói chung, chất lượng thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án về tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Nam Định

5.Các phương pháp nghiên cứu sử dụng để thực hiện luận văn

Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng mác-xít, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền, về chính sách tố tụng hình sự và hình sự, về vấn đề nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố trong cải cách tư pháp mà Nghị quyết Đại hội Đảng VIII, IX, X và các Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 26/5/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn đã sử dụng các phương pháp cụ thể và đặc thù của khoa học luật tố tụng hình sự, khoa học điều tra hình sự và các phương pháp, kỹ năng khác, như: phương pháp phân

Trang 13

tích và tổng hợp; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp diễn dịch; phương pháp quy nạp; phương pháp thống kê, điều tra xã hội học để tổng hợp các tri thức khoa học luật tố tụng hình sự và luận chứng các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong luận văn

6 Ý nghĩa của khoa học và thực tiễn của luận văn

- Ý nghĩa khoa học của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm sáng tỏ và phong phú thêm lý luận về hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án về tội trộm cắp tài sản

- Ý nghĩa thực tiễn của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn được sử dụng trong thực tiễn nhằm góp phần giúp Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định cũng như Viện kiểm sát nhân dân các địa phương trong cả nước nâng cao được chất lượng thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra đối với các vụ án trộm cắp tài sản Đồng thời còn được sử dụng như một tài liệu tham khảo phục vụ cho việc nghiên cứu giảng dạy và học tập tại các trường đào tạo luật và Trường Đại học Kiểm sát

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố trong

giai đoạn điều tra các vụ án trộm cắp tài sản

Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự năm 2003, năm

2015 và thực tiễn thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án

về tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Nam Định

Chương 3: Yêu cầu và giải pháp nâng cao chất lượng công tác thực

hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án về tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Nam Định

Trang 14

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN TRỘM CẮP TÀI SẢN 1.1 Khái niệm, đặc điểm thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án trộm cắp tài sản

- Quyền công tố

Quyền công tố và thực hành quyền công tố là những khái niệm được nhắc đến nhiều trong luật tố tụng hình sự nước ta khi đề cập chức năng của viện kiểm sát các cấp Nhưng dưới góc độ lập pháp thì Hiến pháp 1980 là văn bản pháp lý đầu tiên đưa ra thuật ngữ “Thực hành quyền công tố” khi đề cập đến chức năng của VKSND (Điều 138) Thuật ngữ này được nhắc lại ở Điều

1 và Điều 3 Luật Tổ chức VKSND năm 1981 Như vậy, hoạt động của VKSND bên cạnh khái niệm truyền thống “kiểm sát việc tuân theo pháp luật”

đã xuất hiện khái niệm “quyền công tố” và “Thực hành quyền công tố” Từ đó đến nay đã có nhiều tài liệu giảng dạy, nhiều bài viết trên các tạp chí khoa học

đề cập đến khái niệm này Song cho đến nay vẫn chưa đạt được sự thống nhất cao trên phương diện nhận thức về nó

Xét về mặt thuật ngữ, “công tố” là một từ ghép Hán – Việt Theo Đại

từ điển tiếng Việt thì “công” có nghĩa “thuộc về nhà nước chung, cho mọi người, khác với tư” còn “tố” có nghĩa “nói công khai cho mọi người biết việc

làm sai trái, phạm pháp của người khác”; "công tố" có nghĩa là "điều tra, truy

tố, buộc tội kẻ phạm pháp và phát biểu ý kiến trước Tòa án" 1 Như vậy, theo từ

điển tiếng Việt thì công tố được hiểu với các nội dung khác nhau bao gồm:

Điều tra, truy tố, buộc tội kẻ phạm pháp và phát biểu ý kiến trước Tòa án

Ở nước ta, trong thời gian qua đang tồn tại nhiều quan điểm khác nhau

về khái niệm thế nào là quyền công tố, có thể khái quát một số quan điểm sau:

1

Nguyễn Như Ý (2007), Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh.

Trang 15

Quan điểm thứ nhất: Cho rằng tất cả các hoạt động kiểm sát việc tuân

theo pháp luật của VKS đều là quyền công tố Những người theo quan điểm này đã đồng nhất khái niệm quyền công tố với hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKSND Họ cho rằng tất cả các hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật đều là THQCT Điều đó có nghĩa là ngay cả khi Viện kiểm sát kiến nghị yêu cầu các cơ quan nhà nước sửa chữa những vi phạm của mình trên lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội cũng là THQCT Theo quan điểm này, công tố không phải là một chức năng độc lập của VKS mà chỉ là một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS.2

Quan điểm thứ hai: Quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà nước

đưa các vụ việc vi phạm pháp luật nói chung ra trước Tòa án để xét xử nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, bảo vệ trật tự pháp luật; ở Việt Nam, quyền này được giao cho VKSND.3

Theo quan điểm này thì quyền công tố không chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự (TTHS) mà còn có cả trong các lĩnh vực tố tụng khác như dân sự, kinh tế và các lĩnh vực tố tụng tư pháp khác

Quan điểm thứ ba: Cho rằng quyền công tố chỉ tồn tại trong lĩnh vực

hình sự, là quyền của Nhà nước nhân danh công quyền truy tố kẻ phạm tội ra trước Tòa án để xét xử và bảo vệ sự buộc tội đó tại phiên tòa hình sự sơ thẩm (duy trì quyền công tố); ở Việt Nam quyền này được Nhà nước giao cho VKSND Theo quan điểm này thì chỉ có duy nhất một chủ thể có quyền công

tố - đó là VKS; việc thực hiện quyền công tố chỉ diễn ra ở một lĩnh vực duy nhất là Tố tụng hình sự (TTHS) và cũng chỉ có ở một giai đoạn duy nhất của TTHS là giai đoạn xét xử sơ thẩm.4

2

Võ Quang Nhạn (1984), “Bàn về quyền công tố”, Tập san kiểm sát, (2)

3

Trần Văn Độ (1999), "Một số vấn về quyền công tố", Kỷ yếu đề tài khoa học cấp bộ: Những vấn đề lý luận về quyền

công tố và việc tổ chức thực hiện quyền công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hà

Nội

4

Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2002), "Những vấn đề lý luận về quyền công tố và thực hành quyền công tố ở Việt

Nam từ năm 1945 đến nay", Thông tin khoa học pháp lý, Số chuyên đề, (1)

Trang 16

Quan điểm thứ tư: Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho các

cơ quan tiến hành tố tụng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.5

Theo quan điểm này thì chủ thể thực hành quyền công tố không chỉ có VKS mà còn có các cơ quan tiến hành tố tụng khác (Cơ quan điều tra, Tòa án, Thi hành án) và như vậy quyền công tố có trong tất cả các giai đoạn từ điều tra, truy tố, xét xử đến thi hành án

Do các quan niệm khác nhau như trên về quyền công tố cho nên dẫn đến cách lí giải khác nhau về phạm vi thời gian cũng như không gian của quyền công tố Về không gian, đa số các quan điểm cho rằng quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực duy nhất là TTHS nhưng cũng có quan điểm cho rằng quyền công tố được thực hiện trong cả các lĩnh vực hoạt động tư pháp như TTHS, tố tụng dân sự, kinh tế, lao động Về thời điểm bắt đầu và kết thúc của quyền công tố cũng chưa được nhận thức thống nhất Ngay trong TTHS cũng

có người cho rằng quyền công tố có trong cả giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử; người khác lại cho rằng quyền công tố chỉ có trong giai đoạn xét xử sơ thẩm mà thôi

Như vậy có thể thấy, về khái niệm quyền công tố có rất nhiều quan điểm khác nhau Mỗi quan điểm trong số đó đều có những hạt nhân hợp lý của nó Tuy vậy, xuất phát từ căn cứ khoa học, các quy định của pháp luật, thực tiễn hoạt động của các cơ quan tư pháp kinh nghiệm tổ chức và hoạt động của các cơ quan

tư pháp cũng như kinh nghiệm tổ chức và hoạt động công tố ở các nước khác cho thấy các quan điểm nêu trên đã bộc lộ một số bất cập như:

+ Hoặc là thể hiện sự phụ thuộc của chức năng thực hành quyền công

tố vào kiểm sát việc tuân theo pháp luật của viện kiểm sát; coi thực hành quyền công tố chỉ là hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo

5

Lê Thị Tuyết Hoa (2001), “Bàn về quyền công tố”, Nhà nước và pháp luật (10)

Trang 17

pháp luật trong TTHS Vì vậy, dẫn đến xem nhẹ bản chất của quyền công tố như là hoạt động độc lập của viện kiểm sát được nhà nước uỷ quyền;

+ Hoặc là đánh đồng thực hành quyền công tố với kiểm sát việc tuân theo pháp luật Vì vậy, dẫn đến mở rộng phạm vi quyền công tố sang cả các lĩnh vực tư pháp khác như dân sự, kinh tế

+ Hoặc là thu hẹp phạm vi quyền công tố, chỉ bó gọn quyền công tố trong giai đoạn truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Từ đó hạn chế quyền hạn cũng như trách nhiệm của viện kiểm sát như là cơ quan có trách nhiệm chính trong truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội

Có thể thấy rằng, điểm hạn chế chung nhất của hầu hết các công trình nghiên cứu về quyền công tố là không phân định rõ khái niệm, bản chất, nội dung, phạm vi quyền công tố, hoạt động thực hành quyền công tố và hoạt động kiểm sát tuân theo pháp luật Đa số đều cho rằng hai chức năng của VKS (Chức năng công tố và chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật) như pháp luật trước đây quy định vừa có tính độc lập tương đối, vừa liên hệ chặt chẽ, tác động qua lại, bổ sung cho nhau, giữa chúng có những nội dung hòa nhập với nhau, đan xen lẫn nhau không thể tách rời, tạo nên sự thống nhất trong chức năng của VKS

Dù muốn hay không, chúng ta không thể không thừa nhận Nhà nước

ra đời và tồn tại luôn luôn là đại diện chính thức cho xã hội (xét về mọi phương diện) Trong xã hội có giai cấp, bất kể là xã hội nào, có nhiều loại quan hệ còn tồn tại, nhưng chung quy lại có hai nhóm quan hệ xã hội cơ bản: nhóm quan hệ xã hội thể hiện lợi ích công cộng và nhóm quan hệ xã hội thể hiện lợi ích của từng công dân Nhà nước nói chung luôn luôn có trách nhiệm bảo vệ các quan hệ xã hội liên quan đến lợi ích chung, đến trật tự xã hội chung và trừng trị những hành vi vi phạm các quan hệ xã hội này Nhà nước bảo vệ các quan hệ xã hội loại này bằng cách quy định phạm vi những hành vi

Trang 18

nguy hiểm cho xã hội là tội phạm và hình phạt với các tội phạm Nhà nước thông qua cơ quan chuyên môn của mình là VKS có quyền truy tố kẻ phạm tội ra trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội trước phiên tòa Quyền công tố là quyền của VKS thay thế Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi phạm tội Quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực duy nhất đó

là lĩnh vực TTHS Ở nước ta, quyền công tố được Nhà nước giao cho một cơ quan duy nhất là VKS, không có bất cứ cơ quan nào có thể thay thế được Điều này thể hiện qua các quy định của pháp luật, các kiến, tư tưởng chỉ đạo của Đảng và Nhà nước:

+ Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị Ban Chấp

hành Trung ương Đảng nêu rõ: "Viện kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp".6

+ Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về

“Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” chỉ rõ: “Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra”; Nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng tiếp tục khẳng định: “Tăng cường trách nhiệm công

tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra”.7

+ Kết luận tại Hội nghị của ngành kiểm sát nhân dân quán triệt những nội dung cơ bản của Luật Tổ chức VKSND năm 2002 và những công tác trọng tâm của VKSND nhằm thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị được tổ chức tháng 6/2002, đồng chí Hà Mạnh Trí - Viện trưởng

VKSNDTC đã khẳng định: "Việc thực hành quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực hình sự và chỉ trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử"

+ Hiến pháp 2013 (Điều 107) quy định: "Viện kiểm sát nhân dân thực

hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp" Quy dịnh này cũng được

6Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công

tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội.

7 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sdđ, tr.251

Trang 19

cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật của Nhà nước ta (Điều 2 Luật Tổ chức VKSND năm 2014, Điều 23 BLTTHS năm 2003)

Như vậy có thể thấy quyền công tố ở nước ta được giao cho một chủ thể duy nhất đó là Viện kiểm sát Quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực TTHS

và có ở các giai đoạn tố tụng từ khởi tố, điều tra, truy tố đến xét xử

Từ những nội dung được trình bày trên, tác giả cho rằng: Quyền công

tố là quyền lực của Nhà nước giao cho VKSND thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong quá trình khởi tố, điều tra, truy

tố, xét xử và bảo vệ việc truy tố trước Tòa án

- Thực hành quyền công tố

Khái niệm quyền công tố và THQCT có quan hệ mật thiết với nhau, giải quyết chính xác, rõ ràng, rành mạch những vấn đề liên quan đến khái niệm quyền công tố và THQCT sẽ giúp cho chúng ta nhận thức đầy đủ, chính xác vị trí, vai trò của VKSND trong hệ thống cơ quan nhà nước nói chung, trong mối quan hệ với các cơ quan tư pháp nói riêng cũng như chức năng, nhiệm vụ của VKS, đặc biệt là trong TTHS Điều này có nghĩa đặc biệt quan trọng trong giai đoạn hiện nay khi chúng ta tích cực triển khai thực hiện các Nghị quyết của Đảng về cải cách bộ máy Nhà nước, cải cách cơ quan tư pháp

Cũng như khái niệm quyền công tố, khái niệm THQCT cũng ít được

đề cập đến trong các tài liệu pháp l ý ở nước ta và cũng còn nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này

Theo từ điển tiếng Việt thì “thực hành” có nghĩa là “làm để áp dụng lý thuyết vào thực tế”, “thực hành” cũng đồng nghĩa với “thực hiện”8 Đối với khoa học pháp lý, chúng ta có thể hiểu thực hành là thực hiện việc áp dụng các lý luận vào thực tiễn

Trang 20

Từ điển Luật học giải thích “Thực hành quyền công tố là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử” 9

Như phân tích trên, quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi phạm tội Đây là quyền của Nhà nước nhưng được giao cho cơ quan duy nhất là VKS, điều này đã được tổng

kết và khẳng định một lần trong Nội san công tác kiểm sát số 3/1968: “Không có

cơ quan nhà nước nào có thể thay thế ngành Kiểm sát để sử dụng quyền công tố; bắt giam, điều tra, tha, truy tố, xét xử có đúng người, đúng tội, đúng pháp luật hay không, có đúng đường lối chính sách của Đảng hay không, điều đó chính là Viện kiểm sát phải trông nom, đảm bảo làm tốt”10

Do vậy, có thể hiểu: Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và buộc tội họ trước Tòa án

- Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án trộm cắp tài sản

Theo tố tụng hình sự Việt Nam thì quá trình giải quyết vụ án hình sự nói chung và vụ án trộm cắp tài sản nói riêng được chia thành 5 giai đoạn: giai đoạn khởi tố, giai đoạn điều tra, giai đoạn truy tố, giai đoạn xét xử, giai đoạn thi hành

án Trong đó, mỗi giai đoạn đề thực hiện những nhiệm vụ khác nhau, giai đoạn trước làm căn cứ để thực hiện giai đoạn sau Đại đa số các quan điển đều cho rằng Viện kiểm sát là cơ quan phải chịu trách nhiệm đối với mỗi hoạt động của

Cơ quan điều tra trong các giai đoạn khởi tố, điều tra Trong 5 giai đoạn đó thì giai đoạn điều tra là giai đoạn góp phần quan trong thực hiện mục tiêu phát hiện chính xác, kịp thời mọi hành vi phạm tội và người phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Do giai đoạn điều tra có vị trí, vai trò như

Trang 21

vậy, nên việc xác định đúng phạm vi tố tụng hình sự của Viện kiểm sát ở giai đoạn điều tra vụ án trộm cắp tài sản là hết sức cần thiết

Theo từ điển tiếng Việt, điều tra là “tìm hỏi, xem xét để biết rõ sự thật”11 Từ điển Luật học thì giải thích: “Điều tra là công tác trong tố tụng hình sự được tiến hành nhằm xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ”12

* Về tội trộm cắp tài sản: Điều 138 Bộ luật hình sự quy định về tội

trộm cắp tài sản Tuy nhiên, điều luật không mô tả hành vi trộm cắp tài sản được thực hiện như thế nào, nhưng căn cứ vào lý luận và thực tiễn xét xử thì trộm cắp tài sản là hành vi lén lút lấy tài sản của chủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm quản lý tài sản mà không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực hoặc bất cứ một thủ đoạn nào nhằm uy hiếp tinh thần của người quản lý tài sản Thông thường người phạm tội lợi dụng sự mất cảnh giác của người quản

lý tài sản để lấy tài sản mà người quản lý tài sản không hề hay biết Đặc điểm nổi bật của tội trộm cắp tài sản là người phạm tội lén lút lấy tài sản mà chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản không hề biết mình bị mất tài sản, chỉ sau đó

họ mới biết bị mất tài sản Tính chất lén lút của hành vi trộm cắp tài sản thể hiện ở chỗ người phạm tội giấu diếm hành vi phạm tội.13 Tuy nhiên, lén lút không phải là đặc trưng duy nhất của tội trộm cắp tài sản mà là phải đi kèm với mục đích chiếm đoạt tài sản Có thể nói trộm cắp tài sản là chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn lén lút

Chúng ta có thể hiểu giai đoạn điều tra tội trộm cắp tài sản cũng như điều tra các tội phạm khác là giai đoạn phát hiện, thu thập chứng cứ theo trình tự, thủ tục do Bộ luật hình sự quy định nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án, tội phạm và người thực hiện tội phạm Các nhiệm vụ thu thập chứng cứ này thường

Trang 22

do Cơ quan điều tra thực hiện và Viện kiểm sát có trách nhiệm giám sát việc thực hiện này Cũng chính vì đó mà gây ra sự nhầm lẫn rằng trong quá trình điều tra Viện kiểm sát chỉ thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp hoặc nhầm lẫn giữa hoạt động thực hành quyền công tố và hoạt động kiểm sát hoạt động tư pháp Hoạt động thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát là hoạt động nhằm vào việc buộc tội và các biện pháp tác động vào quyền nhân thân của người phạm tội như hạn chế hoặc tước bỏ một số quyền của người phạm tôi còn hoạt động kiểm sát tư pháp trong giai đoạn điều tra là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan,

tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp

Vì vậy, có thể hiểu: Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án trộm cắp tài sản là hoạt động của Viện kiểm sát thực hiện việc buộc tội đối với người có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác, bảo đảm mọi hành vi phạm tội được phát hiện đều phải được khởi tố, điều tra, không để lọt người phạm tội, không làm oan người vô tội

Từ khái niệm trên có thể rút ra một số điểm chung về THQCT trong giai đoạn điều tra các vụ án trộm cắp tài sản như sau:

+ Đối tượng thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ

án trộm cắp tài sản

Đối tượng của quyền công tố là yếu tố mà quyền công tố tác động tới nhằm thực hiện mục đích truy cứu trách nhiệm hình sự Với cách hiểu này, đối tượng của thực hành quyền công tố không gì có thể khác hơn là tội phạm

và người phạm tội Do đối tượng tác động của thực hành quyền công tố cũng chính là đối tượng của quyền công tố, nên đối tượng tác động của thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án trộm cắp tài sản cũng chính

là tội phạm và người phạm tội

+ Phạm vi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án trộm cắp tài sản

Trang 23

Phạm vi quyền công tố bắt đầu từ khi có tội phạm xảy ra và kết thúc khi bản án đã có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị Để đảm bảo thực hiện quyền công tố thì Nhà nước ban hành các văn bản pháp luật, trong đó quy định các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố Các quyền năng đó được giao cho VKS thực hiện để phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội

Còn phạm vi thực hành quyền công tố thì chỉ phát sinh kể từ thời điểm vụ án được khởi tố bằng quyết định chính thức của cơ quan có thẩm quyền - tức là khi cơ quan tố tụng đã áp dụng một trong các biện pháp thực hành quyền công tố Tuy nhiên, trên thực tế có không ít những trường hợp mặc dù có tội phạm xảy ra nhưng không được khởi tố; điều này do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong khoa học pháp lý gọi là "tội phạm ẩn" (tức là những tội phạm trên thực tế đã xảy ra nhưng chưa được khởi tố để điều tra)14cho nên cơ quan tố tụng không áp dụng được bất cứ một biện pháp thực hành quyền công tố nào Qua đây, có thể thấy rằng phạm vi của thực hành quyền công tố hẹp hơn so với phạm vi của quyền công tố, nó chỉ bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố vụ án và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật (trừ trường hợp vụ án bị tạm đình chỉ, đình chỉ)

Tại Điều 3 Luật Tổ chức VKSND năm 2014 cũng đã có quy định cụ thể

về THQCT: “ Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét

xử vụ án hình sự” Theo quy định này thì thực hành quyền công tố từ khi giải

quyết tin báo tội phạm đến điều tra, truy tố đến xét xử (bao gồm cả xét xử sơ

Trang 24

Về phạm vi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra:

Có quan điểm cho rằng: Phạm vi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra bắt đầu từ khi tội phạm xảy ra và kết thúc khi việc điều tra kết thúc hoặc đình chỉ vụ án.15

Theo quan điểm này thì phạm vi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra bắt đầu từ khi giải quyết tin báo tố giác tội phạm

Khởi tố vụ án là giai đoạn tố tụng mở đầu của TTHS, trong đó cơ quan

có thẩm quyền xác định có hay không dấu hiệu tội phạm để ra quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án Còn điều tra là giai đoạn tố tụng hình sự, trong đó cơ quan có thẩm quyền áp dụng mọi biện pháp do BLTTHS quy định để xác định tội phạm và người thực hiện hiện hành vi phạm tội làm

cơ sở cho việc giải quyết vụ án.16

Khởi tố vụ án là giai đoạn tố tụng mở đầu cho các hoạt động điều tra, chưa khởi tố vụ án thì không được tiến hành các hoạt động điều tra, trừ một số trường hợp đặc biệt Do đó, không thể xem khởi tố vụ án hình sự như một hoạt động trong giai đoạn điều tra Hoạt động điều tra chỉ được tiến hành sau khi đã có quyết định khởi tố vụ án Vì vậy, theo quan điểm của tác giả, phạm vi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra bắt đầu từ thời điểm sau khi khởi tố vụ án đến khi kết thúc điều tra hoặc đình chỉ vụ án

Theo cách hiểu như vậy, thì phạm vi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án trộm cắp tài sản cũng bắt đầu từ thời điểm sau khi khởi tố vụ án đến khi kết thúc điều tra hoặc đình chỉ vụ án

+ Chủ thể thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án trộm cắp tài sản

gắn công tố với hoạt động điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.13.

tr.233,265.

Trang 25

Việc Cơ quan điều tra và Tòa án thực hiện việc khởi tố vụ án hình sự, cơ quan điều tra bắt giữ người phạm tội, điều tra thu thập chứng cứ thực chất chỉ là những hoạt động hỗ trợ, phục vụ cho thực hành quyền công tố Các quyết định khởi tố của các cơ quan đó chỉ thực sự có ý nghĩa phát động công tố quyền sau khi được Viện kiểm sát xem xét; nếu quyết định khởi tố hoặc không khởi

tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra trái pháp luật thì Viện kiểm sát có quyền hủy bỏ Tòa án có quyền khởi tố vụ án hình sự, nếu qua việc xét xử phát hiện có tội phạm bị bỏ lọt, nhưng các quyết định khởi tố vụ án hình sự của Tòa án đều phải được gửi cho Viện kiểm sát xem xét, nếu có vi phạm pháp luật thì Viện kiểm sát sẽ kháng nghị Như vậy, về mặt pháp lý chỉ có Viện kiểm sát là cơ quan có quyền độc lập phát động quyền công tố mà không chịu sự can thiệp của bất cứ cơ quan nhà nước nào

Trong giai đoạn điều tra, cơ quan điều tra chỉ có quyền đề nghị áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn, còn việc quyết định là

do Viện kiểm sát; Cơ quan điều tra có quyền độc lập thu thập tài liệu chứng

cứ, nhưng việc bảo đảm cho các tài liệu chứng cứ ấy có đủ cơ sở để truy tố bị can hay không là do Viện kiểm sát chịu trách nhiệm Khi có đủ tài liệu chứng

cứ chứng minh hành vi phạm tội và xét thấy cần xử lý người đó trước Tòa án thì Viện kiểm sát quyết định truy tố bị can ra Tòa BLTTHS nước ta đã quy định thẩm quyền công tố của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự rất lớn là

“được áp dụng các biện pháp do BLTTHS để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội” (Điều 23 BLTTHS 2003)

Thực hành quyền công tố là chức năng hiến định của Viện kiểm sát trong việc thực thi quyền lực nhà nước để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Căn cứ vào các quy định của Hiến pháp và pháp luật và thực tiễn thì từ trước đến nay quyền này được giao cho duy nhất VKS Do vậy, Viện kiểm sát là chủ thể duy nhất được giao nhiệm vụ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, nên Viện kiểm sát phải được trao đầy

Trang 26

đủ quyền năng của mình để bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội.17 Vì vậy, có thể thấy chủ thể thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án trộm cắp tài sản chỉ có thể là Viện kiểm sát, hay cụ thể hơn đó là kiểm sát viên và Viện trưởng, Phó Viện trưởng có thẩm quyền Hoạt động này gắn chặt với hoạt động điều tra của CQĐT và đòi hỏi sự phối hợp cũng như chế ước đối với hoạt động của CQĐT

1.2 Đặc điểm của hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra tra các vụ án trộm cắp tài sản

Từ nhận thức chung về hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án trộm cắp tài sản, ta có thể rút ra đặc điểm như sau:

- Đặc điểm về thu thập chứng cứ đề ra yêu cầu điều tra

Hoạt động đánh giá chứng cứ khi THQCT trong giai đoạn điều tra về

tội trộm cắp tài sản phải xem xét toàn diện các vấn đề đặc biệt là các tình tiết

mang tính chất định tội như số tiền, giá trị tài sản chiếm đoạt, động cơ, mục đích, thời điểm nảy sinh ý định chiếm đoạt Ngoài ra trong đó cần đánh giá

cả các yếu tố từ phía người bị hại để đảm bảo việc khởi tố, điều tra đúng tội danh, đúng người phạm tội

Hoạt động THQCT trong giai đoạn điều tra về tội trộm cắp tài sản

thường phải chú ‎ý công tác kiểm sát khám nghiệm hiện trường Nếu thực hiện

tốt công tác điều tra tại hiện trường sẽ nhanh chóng thu thập được các chứng

cứ, dấu vết nóng, vật chứng có giá trị quan trọng chứng minh tội phạm Tuy nhiên, hiện trường thường vụ án trộm cắp tài sản hay bị xáo trộn vì khi sự việc xảy ra, người phạm tội thường trốn tránh, chạy thoát, còn người bị hại thì hoang mang và thường muốn tiếp cận hiện trường để xác định xem tài sản của mình bị chiếm đoạt, mất mát là bao nhiêu Do đó, công tác khám nghiệm hiện

điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,

tr.14

Trang 27

trường và kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường càng cần phải diễn ra nhanh chóng, tỉ mỉ và chính xác nhằm đảm bảo việc thu thập các chứng cứ tài liệu đầy

đủ nhất phục vụ cho hoạt động điều tra vụ án hình sự về xâm phạm sở hữu Đối với các vụ án trộm cắp tài sản thì kết quả định giá tài sản bị chiếm đoạt của cơ quan chuyên môn có ý nghĩa quan trọng, nhằm xác định hành vi

đó có phải là tội phạm hay không, tính chất mức độ của hành vi đó như thế nào Thế nên việc yêu cầu định giá tài sản của Cơ quan điều tra đối với tài sản

bị chiếm đoạt là rất quan trọng Bởi lẽ đây là chứng cứ định lượng để có thể xác định tội phạm

-Về đối tượng phạm tội

Như đã phân tích ở trên, đối tượng của THQCT trong giai đoạn điều tra tội trộm cắp tài sản là tội phạm và người phạm tội

Đối tượng phạm tội trộm cắp tài sản là cá nhân và cá nhân đó phải có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự

Qua nghiên cứu cho thấy đối tượng phạm tội trộm cắp tài sản đa số đều

là nam giới, đã thành niên và trong độ tuổi lao động Tuy nhiên, những năm gần đây, tỷ lệ tội trộm cắp tài sản do người chưa thành niên thực hiện đang gia tăng nhanh chóng Điều này chủ yếu là do người phạm tội tội trộm cắp tài sản có nhận thức lệch lạc về nhu cầu cá nhân và cách thức thỏa mãn nhu cầu đó; có lối sống không lành mạnh và quan hệ xã hội xấu, có trình độ học vấn thấp, nhận thức pháp luật hạn chế, người phạm tội lười lao động, không

có việc làm ổn định…

- Hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ

án trộm cắp tài sản của VKS có tính bắt buộc đối với đối tượng áp dụng, với các chủ thể có liên quan và được Nhà nước đảm bảo thi hành

Khi THQCT ở giai đoạn điều tra các vụ án trộm cắp tài sản, VKS luôn

có thể nhân danh quyền lực nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước theo quy đinh của pháp luật để ra những mệnh lệnh, quyết định mang tính bắt buộc và

Trang 28

phải được tôn trọng và thực hiện đối với tất cả các tổ chức và cá nhân có liên quan Các quyết định đó thể hiện ý chí đơn phương của VKS mà không phụ thuộc vào ý chí của đối tượng bị áp dụng Ví dụ khi VKS quyết định phê chuẩn bắt bị can để tạm giam, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can trong vụ án trộm cắp tài sản…

Họat động thực hành quyền công tố có mục đích là tìm đến sự thật, đảm bảo công lý, công bằng và lẽ phải Để thực hiện hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đọan điều tra tội trộm cắp tài sản, pháp luật đã quy định hàng loạt các họat động tố tụng (khởi tố vụ án, khởi tố bị can, yêu cầu điều tra…) để làm chứng cứ chứng minh việc buộc tội cũng như gỡ tội đối với người phạm tội Các quyết định của VKS khi THQCT ở giai đoạn điều tra các vụ án về tội trộm cắp tài sản (Quyết định phê chuẩn khởi tố bị can, phê chuẩn lệnh tạm giam….) được đảm bảo thực hiện bằng nhiều biện pháp Tuy nhiên, biện pháp mạnh nhất là bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà Nước và hầu hết được đảm bảo thực hiện bởi CQĐT

- Hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ

án trộm cắp tài sản mang tính cá biệt cao

Đây là hoạt động của VKS nhằm cụ thể hóa quy định của BLTTHS, Điều 138 Bộ luật hình sự hiện hành vào trường hợp cụ thể, đối với những cá nhân cụ thể Ví dụ như VKS phải xác định chính xác thời gian nảy sinh ý định trộm cắp, địa điểm xảy ra sự việc, hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản, nội dung

sự việc, những ai tham gia, hậu quả thiệt hại, mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả thiệt hại, nhân thân…có đủ yếu tố cấu thành tội phạm không? có căn cứ pháp luật không? khi đó VKS mới ra quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố

bị can đối với cá nhân đó và về hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản đó Như vậy, vừa đảm bảo đúng quy định pháp luật trong thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án trộm cắp tài sản vừa thể hiện tính đặc thù,

cá biệt riêng

- Thực hành quyền công tố tuân theo các thủ tục tố tụng hình sự

Trang 29

Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các tội trộm cắp tài sản mang tính công khai và được thực hiện theo trình tự thủ tục tố tụng do pháp luật quy định Điều này nhằm bảo đảm cho hoạt động của Viện kiểm sát được thực hiện chặt chẽ, khách quan, độc lập và chỉ tuân theo pháp luật không

có bất cứ sự can thiệp nào vào hoạt động của Viện kiểm sát, nhưng đồng thời hoạt động của Viện kiểm sát cũng được giám sát bởi nhiều chủ thể khác nhau

Việc tuân thủ đúng các quy định về trình tự, thủ tục tố tụng hình sự trong THQCT trong giai đoạn điều tra các tội trộm cắp tài sản là hoạt động hết sức phức tạp, đòi hỏi chủ thể tiến hành tố tụng phải có kiến thức chuyên sâu, tinh thông về pháp luật, sự phối hợp nhịp nhàng giữa các quá trình như: Kiểm sát tin báo tố giác tội phạm trộm cắp tài sản, đến việc nghiên cứu hồ sơ

vụ án, phê chuẩn các quyết định tố tụng của cơ quan điều tra (Dựa trên đầy đủ chứng cứ của vụ án như: hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản, hâu quả thiệt hại, nhân thân đối tượng…) , qua đó đề ra yêu cầu điều tra, nghiên cứu hồ sơ trước khi kết thúc điều tra chuyển sang giai đoạn truy tố… Để thực hiện hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra về tội trộm cắp tài sản, kiểm sát viên chỉ được áp dụng các biện pháp theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự và tuân theo chức năng, quyền hạn của ngành Kiểm sát nhân dân theo quy định của pháp luật

Hoạt động THQCT trong giai đoạn điều tra về tội trộm cắp tài sản được diễn ra trực tiếp, đồng thời và đề cập một cách toàn diện mọi hành vi tố tụng của giai đoạn điều tra Nhằm hướng tới mục đích bảo đảm tuân thủ pháp luật trong giai đoạn điều tra, tìm kiếm mọi chứng cứ chứng minh tội phạm, tạo tiền đề cho giai đoạn truy tố, xét xử sau này Nếu Kiểm sát viên trong khi thực hiện họat động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các tội trộm cắp tài sản không thực hiện đúng, đủ các trình tự, thủ tục do pháp luật quy định dễ dẫn đến việc oan sai, bỏ lọt tội phạm

1.3 Nội dung của thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án trộm cắp tài sản

Trang 30

Hoạt động thực hành quyền công tố của VKS rất dễ bị nhầm với hoạt động kiểm sát tư pháp Vì vậy, việc xác định nội dụng của thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định hoạt động nào là hoạt động THQCT, hoạt động nào là hoạt động kiểm sát điều tra Nội dung thực hành quyền công tố là việc Viện kiểm sát nhân dân sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội nhằm bảo đảm việc truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án đến khi bản án có hiệu lực pháp luật

Về nội dung của THQCT trong giai đoạn điều tra, có quan điểm cho rằng nội dung THQCT trong giai đoạn điều tra bao gồm cả hoạt động khởi tố

vụ án, khởi tố bị can, các hoạt động bắt, tạm giữ…., quyết định truy tố bị can.18 Với quan điểm này thì nội dung của THQCT trong giai đoạn điều tra đã lấn sang một phần của giai đoạn khởi tố vụ án và giai đoạn truy tố Vì vậy, các hoạt động liên quan đến khởi tố vụ án, khởi tố bị can, quyết định truy tố thì thuộc giai đoạn khởi tố và giai đoạn truy tố chứ không nằm trong giai đoạn điều tra Trong giai đoạn điều tra, VKS chỉ xem xét quyết định khởi tố vụ án chứ không phải là xem xét quá trình khởi tố vụ án Theo đó, nội dung thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra bao gồm: Khởi tố bị can, yêu cầu

Cơ quan điều tra khởi tố hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án, khởi

tố bị can trong các trường hợp pháp luật quy định; đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu cơ quan điều tra tiến hành điều tra; khi cần thiết, trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra; Yêu cầu thủ trưởng cơ quan điều tra thay đổi điều tra viên nếu thuộc một trong những trường hợp quy định của BLTTHS năm 2003; quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; phê chuẩn,

18 Lê Hữu Thể, Đỗ Văn Đương, Nông Xuân Trường (2005) “Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra” Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 66

Trang 31

không phê chuẩn các quyết định của cơ quan điều tra; hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của cơ quan điều tra

Trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu tôi xin chú trọng trình bày nội dung thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:

+ Khởi tố bị can, yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can trong các trường hợp pháp luật quy định; quyết định phê chuẩn, quyết định không phê chuẩn khởi tố bị can, thay đổi quyết định khởi tố bị can:

VKS là cơ quan duy nhất trong TTHS có quyền quyết định việc có hay không khởi tố bị can để điều tra: Có quyền phê chuẩn các quyết định khởi

tố bị can, các quyết định thay đổi và bổ sung quyết định khởi tố vụ án, bị can của Cơ quan điều tra… Các quyết định khởi tố bị can của các chủ thể khác được pháp luật giao cho thẩm quyền khởi tố vụ án, khởi tố bị can đều phải chịu sự giám sát và phụ thuộc vào quyết định của VKS: Sau khi có quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, các quyết định khởi tố của các cơ quan đó phải được gửi đến VKS cùng các tài liệu có liên quan để VKS xem xét quyết định phê chuẩn hay không phê chuẩn; trong trường hợp không được sự phê chuẩn của VKS thì các quyết định đó bị triệt tiêu về hiệu lực

Ngoài ra, VKS còn có quyền yêu cầu cơ quan điều tra khởi tố vụ án, khi có dấu hiệu của tội phạm, yêu cầu khởi tố bị can trong trường hợp phát hiện người đã thực hiện hành vi phạm tội chưa bị khởi tố; khi thấy có căn cứ xác định tội phạm đã khởi tố không đúng với hành vi phạm tội xảy ra thì yêu cầu cơ quan điều tra thay đổi quyết định khởi tố vụ án, nếu có căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị can không phạm vào tội đã bị khởi tố thì yêu cầu cơ quan điều tra thay đổi quyết định khởi tố bị can

Trang 32

+ Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu cơ quan điều tra tiến hành điều tra, trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra:

Trong TTHS, Cơ quan điều tra được giao trách nhiệm điều tra tội phạm, có quyền áp dụng tất cả các biện pháp theo quy định của pháp luật để điều tra làm rõ vụ án, làm rõ hành vi phạm tội cũng như các tình tiết có liên quan như động cơ, mục đích của tội phạm, nhân thân của người phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, các thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra… Nhưng bởi việc đưa một con người vào vòng tố tụng và xử lý họ về hình sự là vấn đề không hề đơn giản, động chạm đến rất nhiều quyền cơ bản của công dân được pháp luật bảo hộ cho nên cần phải đảm bảo tính thận trọng và chính xác cho nên cần phải có sự chế ước giữa các cơ quan nhà nước với nhau trong TTHS nhằm đảm bảo tất cả mọi hành vi phạm tội đã được phát hiện phải được khởi tố, xử lý kịp thời và nghiêm minh nhưng phải có căn cứ và đúng pháp luật Vì vậy, pháp luật quy định giao cho một cơ quan nhà nước trách nhiệm kiểm tra, giám sát, đảm bảo cho các tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc chứng minh hành vi phạm tội và nhân thân của người phạm tội phải được thu thập đầy đủ, toàn diện, khách quan và hợp pháp - Cơ quan đó là VKS VKS là cơ quan duy nhất có quyền can thiệp trực tiếp vào quá trình điều tra,

đề ra yêu cầu điều tra để Cơ quan điều tra tiến hành điều tra Việc đề ra yêu cầu điều tra kịp thời giúp cho hoạt động điều tra tội trộm cắp tài sản được đúng hướng, tránh bỏ sót các chứng cứ quan trọng của vụ án không được thu thập Cơ quan điều tra mà cụ thể là các Điều tra viên có trách nhiệm phải thực hiện tất cả các yêu cầu của VKS; trường hợp không nhất trí, Cơ quan điều tra

có quyền được kiến nghị đến VKS cấp trên nhưng trong thời gian chờ đợi kết quả vẫn phải thực hiện nghiêm chỉnh các yêu cầu đó Ngoài ra, VKS còn có quyền tự mình trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra nếu xét thấy cần thiết như ghi lời khai của bị hại, nhân chứng, thực nghiệm điều tra, hỏi cung

bị can…

Trang 33

+ Yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra thay đổi Điều tra viên theo quy định của BLTTHS, nếu hành vi có dấu hiệu tội phạm thì khởi tố hình sự

Để bảo đảm việc điều tra vụ án trộm cắp tài sản được khách quan, toàn diện và đầy đủ, Viện kiểm sát có quyền yêu cầu thủ trưởng cơ quan điều tra thay đổi Điều tra viên khi có căn cứ cho rằng Điều tra viên đó không vô tư trong quá trình tiến hành tố tụng Trong trường hợp hành vi của Điều tra viên

có dấu hiệu tội phạm như tiêu hủy, đánh tráo vật chứng của vụ án, làm sai lệch hồ sơ vụ án đang điều tra thì Viện kiểm sát có quyền khởi tố vụ án hình

sự và khởi tố bị can đối với Điều tra viên đó Nếu như Điều tra viên không vô

tư trong quá trình tiến hành tố tụng mà VKS không kịp thời yêu cầu thay đổi Điều tra viên thì sẽ dẫn đến hậu quả là kết quả điều tra không khách quan, đầy

đủ và còn có thể dẫn đến việc bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội

+ Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam và các biện pháp ngăn chặn khác; quyết định phê chuẩn, quyết định không phê chuẩn các quyết định của cơ quan điều tra

Trong quá trình điều tra, pháp luật tố tụng đã quy định cho cơ quan điều tra có quyền ra các quyết định bắt, tạm giữ, ra lệnh tạm giam hoặc đề nghị áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác hạn chế một số quyền của người phạm tội nhằm phục vụ cho việc điều tra thu thập tài liệu chứng cứ, ngăn chặn người phạm tội tiếp tục phạm tội hoặc tiêu hủy chứng cứ Nhưng cơ quan điều tra không được áp dụng các biện pháp ngăn chặn, nhất là các biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam hạn chế quyền tự do của con người khi không có xét phê chuẩn của Viện kiểm sát Trong mọi trường hợp, khi thực hiện các quyền năng này pháp luật cũng yêu cầu Viện kiểm sát cần quán triệt tư tưởng nhanh chóng, chính xác và khách quan để đáp ứng được các yêu cầu đối với quá trình điều tra vụ án hình sự tránh oan, sai, lọt tội phạm, nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội phạm và bảo vệ quyền tự do dân chủ của

Trang 34

công dân Khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn đặc biệt là các biện pháp ngăn chặn hạn chế quyền tự do (bắt, tạm giữ, tạm giam) là trực tiếp ảnh hưởng đến quyền tự do của con người được ghi nhận trong Hiến pháp Vì vậy, việc quy định áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam cần có sự phê chuẩn của VKS có ý nghĩa lớn trong việc đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, bảo đảm cho hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng được thuận lợi, đồng thời bảo đảm sự dân chủ, tôn trọng các quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp quy định

+ Hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật

VKS có quyền hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của cơ quan điều tra như quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra của cơ quan điều tra không có căn cứ Điều này này đòi hỏi VKS phải kiểm sát chặt chẽ các quyết định của cơ quan điều tra, đồng thời phải nghiên cứu, xem xét tính có căn cứ

và tính hợp pháp các quyết định của cơ quan điều tra; kịp thời hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của cơ quan điều tra

Trong quá trình điều tra các vụ án trộm cắp tài sản, Viện kiểm sát phải chủ động bám sát các hoạt động điều tra của cơ quan điều tra như trực tiếp kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, hỏi cung bị can, khám xét Phải kiểm sát chặt chẽ các hoạt động thu thập, bảo quản, đánh giá các chứng cứ của vụ án; kiểm sát chặt chẽ ngay từ đầu việc khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và các quyết định khác của cơ quan điều tra như quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra, quyết định phục hồi điều tra vụ án thông qua công tác kiểm sát, Viện kiểm sát ra được các quyết định công tố kịp thời, chính xác như hủy các quyết định không có căn cứ của cơ quan điều tra

Trang 35

Như vậy, VKS thực hiện hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án trộm cắp tài sản, nhằm bảo đảm việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị can có căn cứ và đúng pháp luật Hoạt động này của Viện kiểm sát chỉ đúng đắn khi kết quả điều tra của cơ quan điều tra được bảo đảm bởi hoạt động THQCT của Viện kiểm sát một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ

Kết luận chuơng 1

Ở chương 1, Luận văn tập trung phân tích một số vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án trộm cắp tài sản Từ lý luận chung, đi đến phân tích khái niệm quyền công tố, thực hành quyền công

tố trong giai đoạn điều tra các vụ án trộn cắp tài sản, đối tượng, phạm vi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra và chủ thể thực hành quyền công

tố trong giai đoạn điều tra; tập trung phân tích khái niệm, nội dung và đặc điểm của hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ

án trộm cắp tài sản Với các quyền năng của mình trong thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra, VKS đảm bảo mọi tội phạm trộm cắp tài sản đều được phát hiện, khởi tố, điều tra và truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm và không làm oan người vô tội Vì vậy, cơ

sở lý luận thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án trộm cắp tài sản là hết sức cần thiết nhằm đảm bảo và nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống các tội phạm trộm cắp tài sản ở Việt Nam nói chung

và trên địa bàn tỉnh Nam Định nói riêng trong giai đoạn hiện nay

Trang 36

Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2003, NĂM

2015 VÀ THỰC TIỄN THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ÐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN TRỘM CẮP TÀI SẢN TRÊN

ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH 2.1 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, năm 2015 về thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự

Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra được quy định tại Điều 13 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và Điều 112 BLTTHS 2003, trong đó Điều 112 BLTTHS năm 2003 quy định chung về các nhiệm vụ, quyền hạn và cũng là trách nhiệm thực hành quyền công tố của VKS trong hoạt động điều tra, gồm:

1 Khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can; yêu cầu Cơ quan điều tra khởi

tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can theo quy định của Bộ luật này;

2 Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành điều tra; khi xét thấy cần thiết, trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của Bộ luật này;

3 Yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra thay đổi Điều tra viên theo quy định của Bộ luật này; nếu hành vi của Điều tra viên có dấu hiệu tội phạm thì khởi tố về hình sự;

4 Quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam và các biện pháp ngăn chặn khác; quyết định phê chuẩn, quyết định không phê chuẩn các quyết định của Cơ quan điều tra theo quy định của Bộ luật này Trong trường hợp không phê chuẩn thì trong quyết định không phê chuẩn phải nêu rõ lý do;

5 Huỷ bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Cơ quan điều tra; yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can;

Trang 37

6 Quyết định việc truy tố bị can; quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ

vụ án

Thứ nhất, khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can; yêu cầu CQĐT khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự;

Khởi tố vụ án hình sự là hoạt động mở đầu của quá trình tố tụng hình

sự, được thực hiện kể từ khi Cơ quan điều tra tiếp nhận và kiểm tra, xác minh nguồn tin để ra quyết định khởi tố hoặc ra quyết định không khởi tố vụ án hinh sự Trong trường hơp chưa có quyết định khởi tố vụ án thì các biện pháp điều tra chưa được tiến hành, trừ những biện pháp khẩn cấp không thể trì hoãn như: Khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, xem xét dấu vết trên thân thể Toàn bộ những thủ tục, thẩm quyền liên quan đến khởi tố vụ án hình sự được quy định từ Điều 100 đến Điều 109 BLTTHS 2003, theo đó có những đặc điểm cơ bản sau:

- Cơ quan điều tra có trách nhiệm tiếp nhận đầy đủ mọi tố giác, tin báo

về tội phạm và kiến nghị khởi tố, đồng thời quản lý xác minh toàn bộ các tố giác, tin báo về tội phạm Cơ quan điều tra có trách nhiệm thông báo cho VKS về kết quả giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm

- Căn cứ để khởi tố vụ án là có sự kiện phạm tội xảy ra hoặc đã xác định có dấu hiệu tội phạm Để có cơ sở cho việc khởi tố hay không khởi tố vụ

án hinh sự, CQĐT phải xác minh, làm rõ xem có hay không hành vi nguy hiểm cho xã hội được coi là tội phạm, nếu có thì hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định tại đâu, để khởi tố điều tra cho phù hợp

Theo quy định của BLTTHS 2003 thì việc khởi tố vụ án hình sự do Cơ quan điều tra thực hiện là chủ yếu Viện kiểm sát chỉ trực tiếp khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp Viện kiểm sát huỷ bỏ quyết định không khởi tố vụ

án hình sự của Cơ quan điều tra và trong trường hợp Hội đồng xét xử yêu cầu khởi tố vụ án (Khoản 1 Điều 104, Khoản 2 Điều 109 BLTTHS năm 2003)

Trang 38

Trách nhiệm của VKS trong thủ tục khởi tố vụ án hình sự không chỉ ở việc tự mình ra quyết định mà chủ yếu là việc VKS phải kiểm tra, thẩm định tính có căn cứ và hợp pháp của quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án của Cơ quan điều tra và chịu trách nhiệm quyết định cuối cùng về việc này, bảo đảm mọi tội phạm phải được phát hiện khởi tố, điều tra đảm bảo có căn

cứ pháp luật

Theo quy định của BLTTHS năm 2003, khi có đủ căn cứ để xác định một người đã thực hiện hành vi phạm tội thì Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can (Điều 126) Khởi tố bị can là thủ tục tố tụng áp dụng đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội để tiến hành điều tra, nhằm sáng tỏ lỗi của người đó trong việc thực hiện tội phạm và các tình tiết theo luật định để truy cứu trách nhiệm hình sự Đối với việc khởi tố bị can thì Viện kiểm sát chỉ trực tiếp khởi tố bị can trong trường hợp sau khi nhận hồ sơ vụ án và kết luận điều tra mà Viện kiểm sát phát hiện có người khác đã thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án nhưng chưa bị khởi tố, trong các trường hợp khác, việc khởi tố bị can do Cơ quan điều tra thực hiện và Viện kiểm sát có trách nhiệm phê chuẩn việc khởi tố Thực tế trong vụ án trộm cắp tài sản cho thấy Viện kiểm sát trực tiếp khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can chỉ trong một số ít trường hợp, khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự Viện kiểm sát chủ yếu yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố vụ án, khởi tố

bị can hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can

- Về yêu cầu CQĐT khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình

sự, khởi tố bị can theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự: Theo quy định tại Điều 114 BLTTHS năm 2003 về trách nhiện của CQĐT trong việc thực hiện

yêu cầu của VKS thì chỉ “Đối với những yêu cầu và quyết định quy định tại các điểm 4,5,6 Điều 112 của Bộ luật này nếu không nhất trí, CQĐT vẫn phải chấp hành, nhưng có quyền kiến nghị với VKS cấp trên trực tiếp” Như vậy

thì có thể thấy khi VKS yêu cầu CQĐT khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi

tố vụ án hình sự, khởi tố bị can theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự,

Trang 39

không phải là yêu cầy bắt buộc và nếu CQĐT không nhất trí thì có thể không chấp hành

Thứ hai, đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu CQĐT tiến hành điều tra; khi xét thấy cần thiết, trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra theo qui định của Bộ luật tố tụng hình sự

- Theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 37, Khoản 2 Điều 112 BLTTHS năm 2003 và Khoản 2 Điều 165 BLTTHS năm 2015 quy định về nhiệm vụ của VKS khi THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự thì VKS có quyền đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu CQĐT tiến hành điều tra Yêu cầu điều tra của VKS là một nội dung quan trọng của thực hành quyền công tố, nhằm đảm bảo việc điều tra được khách quan, toàn diện và đầy đủ, tạo cơ sở vững chắc để VKS xét phê chuẩn, ra các quyết định tố tụng thuộc thẩm quyền, đảm bảo có căn cứ và hợp pháp Để bảo đảm hoạt động điều tra

có kết quả thì Viện kiểm sát với vai trò là cơ quan được giao nhiệm vụ thực hành quyền công tố phải đề ra yêu cầu điều tra ngay từ khi có quyết định khởi

tố vụ án và trong từng giai đoạn của quá trình điều tra, Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra phải bám sát việc điều tra vụ án của Cơ quan điều tra để kịp thời đề ra các yêu cầu điều tra một cách cụ thể, toàn diện nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật

Nội dung yêu cầu điều tra có thể là nêu định hướng điều tra, nêu yêu cầu thu thập, củng cố chứng cứ để làm rõ sự thật của vụ án, làm rõ hành vi phạm tội của bị can, mở rộng điều tra nhằm chống bỏ lọt tội phạm và người phạm tội

- VKS trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra VKS tiến hảnh một

số hoạt động điều tra khác với CQĐT tiến hành điều tra toàn bộ vụ án Việc tiến hành một số hoạt động điều tra của VKS như: Hỏi người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng, lời khai

Trang 40

người bị hại, đối chất cũng nhằm mục đích chứng minh tội phạm, nhưng chủ yếu là để kiểm tra, thẩm định và củng cố tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ

vụ án xem có đủ căn cứ cho việc ra các quyết định tố tụng thuộc thẩm quyền của VKS Do đó, khi tiến hành một số hoạt động điều tra mà phát hiện có tội phạm mới, người phạm tội chưa được khởi tố, thì VKS phải yêu cầu CQĐT khởi tố và điều tra

VKS có thể tiến hành một số hoạt động điều tra bất kỳ thời điểm nào của giai đoạn điều tra hoặc sau khi nghiên cứu hồ sơ do CQĐT chuyển sang

đề nghị truy tố

Thứ ba, yêu cầu Thủ trưởng CQĐT thay đổi Điều tra viên theo quy định của pháp luật, nếu hành vi của Điều tra viên có dấu hiệu tội phạm thì khởi tố về hình sự

ĐTV là người trực tiếp tiến hành các hoạt động điều tra, là nhân vật trung tâm có vai trò rất quan trọng trong việc xác định sự thật khách quan của

vụ án ĐTV tiến hành những hoạt động điều tra, các thủ thuật điều tra có phải

vụ án hình sự hay không; bị can phạm tội hay không phạm tội, những tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Do đó, để đảm bảo việc điều tra vụ án được khách quan, toàn diện và đầy đủ thì khi phát hiện thấy điều tra viên thuộc một trong những trường hợp quy định tại Điều 42 BLTTHS 2003

về những trường hợp phải thay đổi người tiến hành tố tụng và Điều 44 BLTTHS về trường hợp thay đổi điều tra viên, thì VKS phải có ý kiến để ĐTV từ chối tiến hành tố tụng; hoặc yêu cầu thủ trưởng CQĐT thay đổi ĐTV nếu hành vi của ĐTV có dấu hiệu phạm tội thì VKS phải xem xét khởi tố vụ

án hình sự và chuyển cho CQĐT có thẩm quyền thụ lý, giải quyết

Ngoài những trường hợp trên, ĐTV còn bị thay đổi nếu có căn cứ rõ ràng khác để có thể cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ như: có căn cứ rõ ràng để cho rằng họ bị mua chuộc, bị đe dọa hoặc có những quan hệ ràng buộc khác với những người tham gia tố tụng…

Ngày đăng: 14/03/2019, 20:23

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm