1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÁO CÁO THỰC TRẠNG ĐÔ LA HOÁ TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM HIỆN NAY

36 274 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 2,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm đôla hoá Đô-la hóa dollarization là việc sử dụng một ngoại tệ để thực hiện một số hay tất cả các chức năng của tiền tệ, quá trình một nước bỏ hoàn toàn đồng nội tệ và thayvào đ

Trang 1

TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ TPHCM

KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH LỚP CQT 10/1- NHÓM 9

HỌC PHẦN: TÀI CHÍNH TÍN DỤNG

ĐỀ TÀI THUYẾT TRÌNH:

THỰC TRẠNG ĐÔ LA HOÁ TRÊN THẾ GIỚI

VÀ VIỆT NAM HIỆN NAY

Người thực hiện: Giảng viên hướng dẫn:

Nguyễn Thị Hồng Nhí Dương Ngọc Kiều Diễm Nguyễn Thanh Trúc

Nguyễn Ngọc Tuyền

Nguyễn Hồ Thu Thảo

Nguyễn Ngọc Tố Quyên

Ngày 3 tháng 11 năm 2015

Trang 2

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

………

………

………

………

………

… ………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 3

MỤC LỤC

I Cơ sở lý luận 2

1 Khái niệm đôla hoá 2

2 Phân loại 3

a Đô-la hoá không chính thức 3

b Đô-la hoá bán chính thức 4

c Đô-la hoá chính thức 5

3 Nguồn gốc của đô-la hoá 5

4 Tác động của đô-la hoá với nền kinh tế 7

a Tác động tích cực 7

b Tác động tiêu cực 8

II Thực trạng đô-la hoá trên thế giới 10

1 Thực trạng 10

2 Nguyên nhân 11

3 Hai mặt của đôla hóa 11

4 Kinh nghiệm kiểm soát "đô la hoá" ở một số nước trên thế giới 13

5 Đô-la hoá ở Campuchia 15

a Thực trạng 15

b Tác đ ng của đô la hóa đối với Campuchia ô 16

c Campuchia tăng cường chống đôla hóa 17

III Thực trạng đô-la hoá ở Việt Nam 19

1 Nguyên nhân của đô-la hoá ở Việt Nam 19

a Biến động lạm phát và thay đổi tỷ giá 19

b Thu nhập bằng USD của tầng lớp dân cư 20

c Buôn lậu qua biên giới 23

d Tâm lý người dân 23

2 Thực trạng đô-la hoá ở Việt Nam 23

a Năm 1998-2005 23

b Năm 2006 25

c Năm 2007 25

d Năm 2008-quýI/2010 25

e QuýII/2010-2011 26

Trang 4

f Năm 2012 26

g Năm 2013 26

h Năm 2014 27

i Tháng 5 năm 2015 29

3 Giải pháp hạn chế đô-la hoá ở Việt Nam 31

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

Trong những năm gần đây, Việt Nam đã không ngừng nỗ lực thu hút các nguồnngoại tệ, đặc biệt là USD Đây là nguồn lực quan trọng giúp chúng ta giải quyếtđược phần lớn các nhu cầu về vốn, xây dựng cơ sở hạ tầng Nhưng điều gì cũng cóhai mặt của nó Chính lượng USD ồ ạt đổ vào Việt Nam nếu không được kiểm soáttốt cũng sẽ gây ra hậu quả to lớn, đó là tình trạng đô la hóa nền kinh tế

Về lý thuyết, đô-la hóa cũng là điều tốt khi chính phủ không thể tài trợ thâm hụtngân sách bằng việc in tiền Điều này hạn chế được tình trạng lạm phát cũng như sự

ỷ lại dẫn đến vung tay quá trán của chính phủ nhiều quốc gia Hơn nữa, đô-la hóatoàn phần sẽ giúp tỉ giá ổn định hơn do cố định theo USD Tuy nhiên, việc đô-la hóacũng có nhiều mặt trái Đầu tiên, sử dụng ngoại tệ làm đồng tiền chính sẽ khiến chochính sách tiền tệ không được chủ động Quá trình đô-la hóa làm giảm hiệu quả củacác công cụ ổn định kinh tế vĩ mô, nhất là chính sách tiền tệ và tỉ giá Và tất nhiên,khi xảy ra khủng hoảng ngân hàng, nếu quốc gia bị đô-la hóa cao, ngân hàng nhànước sẽ khó thực hiện chức năng người cho vay cuối cùng để giải quyết khủnghoảng do không thể in thêm tiền Thậm chí, có thể tạo cơ hội đầu cơ chống lại đồngnội tệ, gây ra tình trạng khủng hoảng tiền tệ Thêm vào đó, tình trạng đô-la hóa cao

sẽ dẫn đến việc quốc gia không có khả năng phá giá đồng tiền hay điều chỉnh lãisuất, có nghĩa là tăng trưởng kinh tế có thể chậm hơn

Vì vậy khi nghiên cứu về “thực trạng đô la hoá trên thế giới và Việt Nam hiện nay”

sẽ làm rõ hơn về đô la hoá và những nguyên nhân dẫn đến đô-la hoá Để từ đó cóchính sách cụ thể nhằm kiềm hãm đô la hoá ở mức độ phù hợp

Trang 6

I Cơ sở lý luận

1 Khái niệm đôla hoá

Đô-la hóa (dollarization) là việc sử dụng một ngoại tệ để thực hiện một số hay tất

cả các chức năng của tiền tệ, quá trình một nước bỏ hoàn toàn đồng nội tệ và thayvào đó sử dụng đồng tiền của nước khác ổn định hơn làm phương tiện thanh toán.Nói cách khác, đô-la hóa xảy ra khi dân chúng trong một nước sử dụng rộng rãingoại tệ, song song hoặc thay thế cho đồng tiền nội tệ của mình Tuy khái niệm nàyđược gắn liền với đồng đô-la Mỹ, việc chuyển đổi ra bất kỳ ngoại tệ có tính ổn địnhnào khác, ví dụ như đồng Euro Châu Âu, đồng Yên Nhật, đồng Mác Đức - đềuthường được gọi là đô-la hóa

Ngoài đồng USD còn một số đồng tiền của các quốc gia khác cũng được sử dụngrộng rãi trong giao dịch nhưng giá trị của các đồng tiền này trong lưu thông quốc tếkhông lớn, chỉ có đồng USD là chiếm tỷtrọng cao nhất (khoảng 70% kim ngạch giaothương mại thế giới) cho nên người ta thường gọi hiện tượng ngoại tệ hóa là “đô lahóa”

Tỷ lệ đôla hoá được tính theo công thức: (hay )

Theo tiêu chí của IMF nếu tỷ lệ này vượt quá 50% thì mức độ đô la hóa nền kinh tếđược coi là ở mức cao, trung bình là từ 15% - 30% còn nếu tỷ lệ này ở mức dưới15% thì coi là "đô la hóa" thấp

Theo đánh giá của IMF năm 1998 trường hợp đô-la hóa cao có

19 nước, trường hợp đô-la hóa cao vừa phải với tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ/M2 khoảng16,4% có 35 nước Tính đến đầu năm 2000 đã có trên 60 nước thực hiện đô-la hóa(chính thức hoặc không chính thức) dù mức độ của mỗi nước là có khác nhau

Những nước có tỉ lệ đô la hoá cao( IMF)

Trang 7

Những nước có tỉ lệ đô-la hoá cao vừa phải (IMF)

Việc xác định tỷ lệ "đô la hóa" theo công thức FCD/M2 chỉ chính xác đối với nhữngnước phần lớn giao dịch thanh toán thực hiện qua ngân hàng còn ở Việt Nam, nơi có

tỷ lệ sử dụng tiền mặt lớn, tỷ lệ FCD/M2 sẽ khó phản đầy đủ về thực trạng "đô lahoá" Hơn nữa, "đô la hóa" được đánh giá là tỷ trọng tiền gửi bằng ngoại tệ trongtổng khối lượng tiền mở rộng, bao gồm: tiền mặt trong lưu thông, tiền gửi không kỳhạn, tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi ngoại tệ Ở Việt Nam, việc xác định lượng ngoại

tệ càng khó hơn khi tình trạng buôn lậu và tham nhũng vẫn chưa được kiểm soát,nên chỉ có thể căn cứ vào nguồn ngoại tệ từ nước ngoài chuyển vào trong nước theocác hình thức như: kiều hối, buôn bán tiểu ngạch, thu nhập từ buôn lậu, quà biếu,quà tặng bằng ngoại tệ, các giao dịch có giá trị lớn như mua bán bất động sản, xehơi… Không chỉ vậy, tâm lý cất trữ ngoại tệ, sử dụng ngoại tệ trong thanh toán khimua hàng hóa, dịch vụ trong dân hiện vẫn còn rất lớn và phổ biến Do đó, để đánhgiá chính xác tình hình "đô la hóa" cần phải dựa trên nhiều yếu tố, trong đó chủ yếu

là lượng ngoại tệ thực sự được sử dụng trong giao dịch, thanh toán

2 Phân loại

Căn cứ vào hình thức và mức độ đô-la hóa, người ta chia ra làm ba loại: không chínhthức, bán chính thức và chính thức

a Đô-la hoá không chính thức

Đô-la hoá không chính thức là việc đồng nội tệ được công nhận chính thức dùng chonhiều việc như: trả lương, đóng thuế, chi trả hàng hoá tiêu dùng, Và đồng ngoại tệtuy không được công nhận chính thức nhưng được sử dụng rộng rãi như là mộtphương tiện cất trữ hay chi trả hàng hoá đắt tiền,…

Đô-la hóa không chính thức xảy ra khi giá trị của đồng nội tệ dao động quá nhiều

vì vậy đồng đô-la được sử dụng để giao dịch mua bán, tiết kiệm cá nhân và khi vaytiền vì nó đáng tin hơn Do đó người dân cất trữ phần lớn tài sản của mình bằng

Trang 8

ngoại tệ ngay cả khi ngoại tệ đó không phải là đồng tiền pháp định của nước mình.Hình thức đơn giản nhất của đô-la hóa không chính thức là việc dân chúng có thể gửi tiền ở ngân hàng bằng ngoại tệ hoặc cất trữ đô-la tiền mặt nhưng vẫn tiếp tụcdùng đồng tiền nội tệ trong hoạt động mua bán hàng ngày Giai đoạn này thườngđược gọi là “thay thế tài sản” bởi vì hành động này của dân chúng là nhắm đến việcbảo đảm an toàn tài sản của mình khi có lạm phát xảy ra với đồng tiền trong nước Ởgiai đoạn cao hơn, thường được gọi là “thay thế tiền tệ” đó là lúc người ta dùng đô-

la trong các giao dịch có giá trị lớn như mua xe, mua nhà và sử dụng đô-la mặt nhưmột phương tiện thanh toán và phương tiện cất trữ Chỉ những giao dịch thông dụng,

có giá trị nhỏ như tiền điện, nước, mua sắm các vật dụng hàng ngày hoặc những giaodịch mà chính phủ bắt buộc như nộp thuế, chi trả tiền lương mới sử dụng bằng nội

tệ Giai đoạn cuối của tiến trình đô-la hóa không chính thức là lúc dân chúng thườngsuy nghĩ và tính toán theo đô-la, giá của đồng tiền trong nước luôn được quy ra theođô-la

Như vậy, nhìn chung đô-la hóa không chính thức là việc dân chúng cất giữ các tài sản dưới những hình thức sau :Chứng khóan nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nàokhác (không phải là tiền tệ) của nước ngoài, tiền gửi bằng ngoại tệ ở nước ngoài,tiền gửi bằng ngoại tệ ở ngân hàng trong nước, ngoại tệ mặt.Việc đo lường mức độ đô-la hóa không chính thức rất khó khăn vì người ta không thể thống kê chính xác được lượng đô-la mặt mà dân chúng nắm giữ, số dư tiền gửibằng ngoại tệ ở trong nước và nước ngoài, giá trị của các tài sản nước ngoài do dânchúng nắm giữ do đó người ta chỉ có thể ước đoán mức độ lưu hành của đồng đô-la

Mỹ và một số tiền tệ khác để đưa ra hình ảnh sơ bộ về sự phổ biến của việc đô-lahóa không chính thức

Về ưu điểm, đô-la hóa không chính thức sẽ giúp chống được hiện tượng lạm phát đối với đồng nội tệ đồng thời góp phần làm cho hệ thống ngân hàng hoạt động bềnvững hơn Khi chính phủ cho phép ngân hàng trong nước nhận tiền gửi bằng ngoại

tệ sẽ góp phần hạn chế được hiện tượng dân chúng đem tiền gửi ở nước ngoài và dovậy sẽ ít có nguy cơ dân chúng đổ xô đến ngân hàng rút tiền khi đồng nội tệ mấtgiá Tuy nhiên, điều này sẽ dẫn đến bất lợi là rất dễ tạo nên tình trạng đồng nội tệmất giá đột ngột khi dân chúng đồng loạt quay sang dùng ngoại tệ và điều này cũng

sẽ gây khó khăn cho ngân hàng trung ương trong việc điều hành chính sách tiền tệcủa mình

b Đô-la hoá bán chính thức

Đô-la hoá bán chính thức là việc lưu hành hai đồng tiền song song và đồng ngoại tệ được sử dụng chính thức

Trang 9

Đô-la hóa bán chính thức xảy ra khi một nước sử dụng đồng ngoại tệ như là đồng tiền pháp định nhưng đóng vai trò thứ hai sau đồng nội tệ trong việc chi trả tiềnlương, thuế và các chi tiêu hàng ngày như tiền đi chợ, tiền điện, nước,… Khônggiống như các nước thực hiện đô-la hóa chính thức, những nước có đô-la hóa bánchính thức vẫn giữ một ngân hàng trung ương trong nước hoặc một hệ thống tiền tệkhác và có một khu vực riêng để thực hiện chính sách tiền tệ của mình.

c Đô-la hoá chính thức

Đô-la hóa chính thức (hay còn gọi là đô-la hóa hoàn toàn) xảy ra khi đồng ngoại tệ

là đồng tiền hợp pháp duy nhất được lưu hành Quá trình này diễn ra khi chính phủcủa một nước không phát hành nội tệ mà thay vào đó sử dụng đô-la Mỹ hoặc mộtngoại tệ khác như một tiền tệ chính thức (một số ít các nước đô-la hóa chính thức cóphát hành tiền xu nhưng vì tiền xu có mệnh giá thấp và thường là một phần phụtrong cung tiền tệ nên có không ảnh hưởng đến đô-la hóa) Như vậy, ở những nướcnày, ngoại tệ không chỉ sử dụng trong trao đổi mua bán giữa các cá nhân mà còn làphương tiện thanh toán của chính phủ Thông thường các nước chỉ áp dụng đô-lahóa chính thức sau khi đã thất bại trong việc thực thi các chương trình ổn định kinhtế

Khi một nước thực hiện đô-la hóa chính thức thì mặc nhiên nó sẽ trở thành một bộ phận trong khu vực tiền tệ thống nhất cùng với nước có đồng tiền mà nó đang sửdụng Và như vậy, nước đô-la hóa chính thức sẽ từ bỏ chính sách tiền tệ độc lập củamình và áp dụng những chính sách tiền tệ của nước mà nó đang sử dụng đồng tiền

Vì vậy, nước thực hiện đô-la hóa chính thức sẽ không thể phản ứng lại những cú sốckinh tế bằng cách thay đổi chính sách tỉ giá hối đoái của nước mình Tuy nhiên,nước này vẫn có thể sử dụng những phương cách khác như điều chỉnh dòng vốnvào/ra, thay đổi chính sách giá, chính sách kinh tế

3 Nguồn gốc của đô-la hoá

Thứ nhất, do địa vị kinh tế chung của các nước có đồng tiền mạnh: xuất phát từ nhu

cầu sử dụng một “đồng tiền quốc tế” trong giao dịch thương mại Từ đó một số nướcdựa vào lợi thế kinh tế chủ trương đưa đồng tiền của mình ra thế giới Dưới hìnhthức hỗ trợ vốn ODA từ đó nguồn ngoại tệ sẽ đi vào lưu thông Làm cho nguồnngoại tệ khó kiểm soát

Thứ hai, do đồng nội tệ có giá trị thấp và không ổn định: nhiều nước đang phát triển

phải đối mặt với nhiều thách thức lớn như toàn cầu hoá, dịch bệnh, thiên tai, …làmcho nền kinh tế kém phát triển dẫn đến đồng nội tệ bị suy yếu

Trang 10

Thứ ba, một số quốc gia quyết định đô-la hóa một phần là do đất nước đang

phải đối đầu với tỉ lệ lạm phát không thể kiểm soát nổi và phá giá đồng nội tệ sẽ đedoạ toàn bộ nền kinh tế Những người đang có trong tay đồng nội tệ sẽ đòi một lãisuất rất cao để bù vào khoản trượt giá Ngân hàng trung ương sẽ tăng lãi suất để bảo

vệ đồng nội tệ khỏi bị trượt giá quá nhanh Trong hoàn cảnh nghiêm trọng như vậy,rất nhiều nhà kinh doanh sẽ vay bằng ngoại tệ để được lãi suất thấp Việc người dânmất niềm tin vào đồng nội tệ và đổ xô mua đô-la sẽ làm cho đồng nội tệ càng mấtgiá hơn Bất chấp lãi suất cao, người dân vẫn giảm gửi tiền tiết kiệm bằng nội tệ vànhiều nhà kinh doanh sẽ chuyển vốn của họ ra nước ngoài

Thứ tư, mức độ đô-la hóa ở mỗi nước khác nhau phụ thuộc vào trình độ phát triển

nền kinh tế, trình độ dân trí và tâm lý người dân, trình độ phát triển của hệ thốngngân hàng, chính sách tiền tệ và cơ chế quản lý ngoại hối, khả năng chuyển đổi củađồng tiền quốc gia Những yếu tố nói trên ở mức độ càng thấp thì quốc gia đó sẽ cómức độ đô-la hóa càng cao

Thứ năm, do trình độ quản lý nhà nước và chính sách tiền tệ quốc gia hoạt động

không hiểu quả Thực tế cho thấy, ở những nước có đô-la hóa hay đô-la hóa ở mức

độ cao thì nhìn chung là ngân hàng trung ương hoạt động kém hiệu quả hơn so vớingân hàng trung ương ở những nước không có đô-la hóa hoặc đô-la hóa mứcthấp: lạm phát cao hơn, quản lý ngoại hối chặt chẽ hơn, phá giá đồng tiền hơn vàquốc hữu hóa tài sản của dân chúng nhiều hơn Có thể nói rằng, bất kỳ một nước nào

có đồng tiền ít nhất là không hoạt động mạnh bằng đô-la Mỹ thì có khả năng xảy ra

Trang 11

đô-la hóa và đô-la hóa càng dễ dàng xuất hiện ở một nước khi lạm phát ở nước đócao liên tục trong nhiều năm hoặc thực hiện chính sách quản lý ngoại hối quá chặtchẽ.

4 Tác động của đô-la hoá với nền kinh tế

a Tác động tích cực

Tạo một cái van giảm áp lực đối với nền kinh tế trong những thời kỳ lạm phát cao, bị mất cân đối và các điều kiện kinh tế vĩ mô không ổn định Do có một lượnglớn đô-la Mỹ trong hệ thống ngân hàng, sẽ là một công cụ tự bảo vệ chống lại lạmphát và là phương tiện để mua hàng hóa ở thị trường phi chính thức.Ở các nước đô-

la hóa chính thức, bằng việc sử dụng đồng ngoại tệ, sẽ giúp duy trì được tỷ lệ lạmphát gần với mức lạm phát thấp, làm tăng sự an toàn đối với tài sản tư nhân, khuyếnkhích tiết kiệm và cho vay dài hạn Hơn nữa, ở những nước này ngân hàng trungương sẽ không còn khả năng phát hành nhiều tiền và gây ra lạm phát, đồngthời ngân sách nhà nước sẽ không thể trông chờ vào nguồn phát hành này để trangtrải thâm hụt ngân sách, kỷ luật về tiền tệ và ngân sách được thắt chặt Do vậy, cácchương trình ngân sách sẽ mang tính tích cực hơn.Tăng cường khả năng cho vay của ngân hàng và khả năng hội nhập quốc tế Với một lượng lớn ngoại tệ thu được từ tiền gửi tại ngân hàng, các ngân hàng sẽ có điềukiện cho vay nền kinh tế bằng ngoại tệ, qua đó hạn chế việc phải vay nợ nước ngoài,

và tăng cường khả năng kiểm soát của ngân hàng trung ương đối với luồng ngoại tệ.Đồng thời, các ngân hàng sẽ có điều kiện mở rộng các hoạt động đối ngoại, thúc đẩyquá trình hội nhập của thị trường trong nước với thị trường quốc tế Đô-la hóa sẽgiúp cho một nước có lạm phát thấp và ít biến động và từ đó sẽ giúp giảm được lãi

Trang 12

suất thực do vậy sẽ góp phần thúc đẩy phát triển tín dụng trung và dài hạn.

Hạ thấp chi phí giao dịch Ở những nước đô-la hóa chính thức, các chi phí như chênh lệch giữa tỷ giá mua và bán khi chuyển từ đồng tiền này sang đồng tiền khácđược xoá bỏ Các chi phí dự phòng cho rủi ro tỷ giá cũng không cần thiết, các ngânhàng có thể hạ thấp lượng dự trữ, vì thế giảm được chi phí kinh doanh

Đô-la hóa sẽ có thể giúp tạo ra đồng tiền có thể chuyển đổi hoàn toàn ở những nước mà tiền tệ chưa có khả năng chuyển đổi Khi đô-la hóa kết hợp với một hệthống ngân hàng quốc tế hóa tức là hoà nhập vào thị trường tài chính thế giới thì đô-

la hóa sẽ giúp các nước chỉ cần dự trữ ngoại tệ thấp hơn các hệ thống tiền tệ khác.Không có rủi ro ngoại hối cũng sẽ giúp cho các ngân hàng hiện đang thiếu dự trữ cóthể vay quỹ của thế giới với cùng một mức phí hoặc thấp hơn

Thúc đẩy thương mại và đầu tư Các nước thực hiện đô-la hóa chính thức có thể loại bỏ rủi ro cán cân thanh toán và những kiểm soát mua ngoại tệ, khuyến khích

tự do thương mại và đầu tư quốc tế Các nền kinh tế đô-la hóa có thể được, chênhlệch lãi suất đối với vay nợ nước ngoài thấp hơn, chi ngân sách giảm xuống và thúcđẩy tăng trưởng và đầu tư Đô-la hóa sẽ giúp thu hút đầu tư nước ngoài, một khi họbiết là giá trị tài sản quy ra tiền của họ sẽ không thay đổi, những điều này sẽ đưa đếntốc độ phát triển nhanh và đầu tư tăng Về mặt tâm lý, đô-la hóa sẽ làm giảm các nỗi

lo về nền kinh tế

Thu hẹp chênh lệch tỷ giá trên hai thị trường chính thức và phi chính thức Tỷ

giá chính thức càng sát với thị trường phi chính thức, tạo ra động cơ để chuyển các hoạt động từ thị trường phi chính thức (bất hợp pháp) sang thị trường chính thức (thịtrường hợp pháp)

b Tác động tiêu cực

Đô-la hóa có thể gây ra hàng loạt các bất lợi và những hệ lụy phức tạp mà các nước có đô-la hóa sẽ phải đối mặt Đô-la hóa dù là không chính thức sẽ làm suygiảm nghiêm trọng chủ quyền quốc gia về tiền tệ, gây khó khăn cho ngân hàng trungương trong việc điều hành và thực thi chính sách tiền tệ của mình thông qua việchạn chế và có thể “vô hiệu hóa” vai trò của lãi suất đồng nội tệ, tỉ giá hối đoái, đặcquyền phát hành tiền của ngân hàng trung ương đồng thời cũng sẽ khiến cho ngânhàng trung ương “đánh mất” vai trò là người cho vay sau cùng

Đô-la hóa ảnh hưởng đến việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô Trong một nền kinh tế có tỷ trọng ngoại tệ lớn, việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ

mô, đặc biệt là chính sách tiền tệ sẽ bị mất tính độc lập mà chịu nhiều ảnh hưởng bởidiễn biến kinh tế quốc tế, nhất là khi xẩy ra các cuộc khủng hoảng kinh tế.Làm giảm hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ Chính sách tiền tệ của ngân hàng

Trang 13

trung ương không phát huy hiệu quả, bị mất tính độc lập và chịu ảnh hưởng từ diễnbiến kinh tế quốc tế, nhất là khi xảy ra khủng hoảng kinh tế Cụ thể là :

• Gây khó khăn trong việc dự đoán diễn biến tổng phương tiện thanh toán, do đó dẫn đến việc đưa ra các quyết định về việc tăng hoặc giảm lượng tiền trong lưu thông kém chính xác và kịp thời

• Làm cho đồng nội tệ nhậy cảm hơn đối với các thay đổi từ bên ngoài, do đó những cố gắng của chính sách tiền tệ nhằm tác động đến tổng cầu nền kinh tế thông qua việc điều chỉnh lãi suất cho vay trở nên kém hiệu quả

• Tác động đến việc hoạch định và thực thi chính sách tỷ giá Đô-la hóa có thể thực thi chính sách tỷ giá Đô-la hóa có thể làm cho cầu tiền trong nước không

ổn định, do người dân có xu hướng chuyển từ đồng nội tệ sang đô-la Mỹ, làm cho cầu của đồng đô-la Mỹ tăng mạnh gây sức ép đến tỷ giá Khi các đối thủ cạnh tranh trên thị trường thế giới thực hiện phá giá đồng tiền, thì quốc gia bị

đô la hóa sẽ không còn khả năng để bảo vệ sức cạnh tranh của khu vực xuất khẩu thông qua việc điều chỉnh lại tỷ giá hối đoái

• Ở trong các nước đô-la hóa không chính thức, nhu cầu về nội tệ không ổn định Trong trường hợp có biến động, mọi người bất ngờ chuyển sang ngoại tệ có thể làm cho đồng nội tệ mất giá và bắt đầu một chu kỳ lạm phát Khi người dân giữ một khối lượng lớn tiền gửi bằng ngoại tệ, những thay đổi về lãi suất trong nước hay nước ngoài có thể gây ra sự chuyển dịch lớn từ đồng tiền này sang đồng tiền khác (hoạt động đầu cơ tỷ giá) Những thay đổi này sẽ gây khó khăn cho ngân hàng trung ương trong việc đặt mục tiêu cung tiền trong nước và có thể gây ra những bất ổn định trong hệ thống ngân hàng

• Trường hợp tiền gửi của dân cư bằng ngoại tệ cao, nếu khi có biến động làm cho người dân đổ xô đi rút ngoại tệ, trong khi số ngoại tệ này đã được ngân hàng cho vay, đặc biệt là cho vay dài hạn, khi đó ngân hàng nhà nước của nước

bị đô-la hóa cũng không thể hỗ trợ được vì không có chức năng phát hành đô-la Mỹ

Đô-la hóa chính thức sẽ làm mất đi chức năng của ngân hàng trung ương là người cho vay cuối cùng của các ngân hàng Trong các nước đang phát triển chưa bịđô-la hóa hoàn toàn, mặc dù các ngân hàng có vốn tự có thấp, song người dân vẫntin tưởng vào sự an toàn đối với các khoản tiền gửi của họ tại các ngân hàng.Nguyên nhân là do có sự bảo lãnh ngầm của Nhà nước đối với các khoản tiền này.Điều này chỉ có thể làm được đối với đồng tiền nội tệ, chứ không thể áp dụng đượcđối với đô-la Mỹ Đối với vác nước đô-la hóa hoàn toàn, khu vực ngân hàng sẽ trởnên bất ổn hơn trong trường hợp ngân hàng thương mại bị phá sản và sẽ phải đóngcửa khi chức năng người cho vay cuối cùng của ngân hàng trung ương đã bị mất

Trang 14

II Thực trạng đô-la hoá trên thế giới

1 Thực trạng

Theo đánh giá của IMF năm 1998, 19 nước có mức độ đô la hoá cao với tỷ lệtiền gửi ngoại tệ/M2 lớn hơn 30% bao gồm các nước: Argentina, Azerbaijiam,Belarus, Bolivia, Cambodia, Costa Rica, Croatia, Georgia, Guinea – Bissau,Laos, Latvia, Mozambique, Nicaragua, Peru, Sao Tome, Principe, Tajikistan,Turkey và Uruguay 35 nước có mức độ đô la hoá vừa phải với tỷ lệ tiền gửi/M2khoảng 16,4% bao gồm các nước: Albania, Armenia, Bulgaria, Cộng hoà Czech,Dominica, Hondurá, Hungary, Jamaica, Jordan, Lithuania, Macedonia, Malawi,Mexico, Moldova, Mongolia, Pakistan, Philippines, Poland, Romania, Russia,Sierra Leone, Cộng hoà Slovak, Trinidad, Tobago, Uganda, Ukraine, Uzbekistan,Việt Nam, Yemen và Zambia Theo nghiên cứu của Hệ thống dự trữ Liên bang

Mỹ, hiện tại người nước ngoài nắm giữ từ 55% đến 70% tổng số đô la Mỹ đanglưu hành trên thế giới Những nước đã tiến hành đô la hoá: Panama: là nước đầutiên tiến hành đô la hoá toàn phần Từ năm 1904, sau khi tách ra khỏi Colombia,Panama đã dùng đồng xanh Việc này ảnh hưởng rất tốt đến nền kinh tế củaPanama Trong suốt những năm 1990 lạm phát hầu như không vượt quá 1% mộtnăm Nhưng đông thời đô la hoá vẫn không giúp Panama được hoàn toàn độc lậpvới trợ giúp các tổ chức bên ngoài Từ năm 1973, Panama tiếp nhận hơn 15chương trình của Quỹ tiền tệ quốc tế và đô la hoá cũng không ngăn được việcPanama mất khả năng trả nợ nước ngoài vào giữa những năm 1980 Ecuador: bắtđầu chuyển đổi vào đầu năm 2000 Đô la hoá là phương cách cuối cùng củaEcuador khi nước này cố vượt qua một cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng, vớimột hệ thống ngân hàng suy sụp, đồng nội tệ mất giá và sự chống đối của ngườidân bản xứ Khi Tổng thống Ecuador thông cáo ý định đô la hoá vào tháng 1 năm

2000, quá trình này đã bắt đầu được tiến hành, đất nước đã đang dẫn đến mộtcuộc đảo chính và tổng thống đã phải từ chức Trước khi đổi hệ thống tiền sang

đô la, Ecuador đã thử tiến hành nhiều biện pháp hối đoái khác nhau Tất cả cácbiện pháp đều không có hiệu quả và đến nay quyết định đô la hoá vẫn được coi làhợp lý đối với Ecuador El Salvador: Cuối tháng 11 năm 2000, nghị viện ElSalvador thông qua luật thực hiện đô la hoá toàn phần trong cả nước Bắt đầu từmùng 1 tháng 1 năm 2001 các máy đếm tiền tự động đầu được nạp chương trình

để phát ra đồng đô la và tất cả các khoản ngân hàng đều chuyển sang đô la Sựthay đổi này không hẳn do nguyên nhân khủng hoảng kinh tế trầm trọng Trênthực tế, lạm phát ở El Salvador thấp, chỉ khoảng 1,3% trong vòng 1 thập kỷtrước Đô la hoá thật ra là để thu hút đầu tư nước ngoài vào El Salvador Vài nămtrước đây, Mỹ thông báo là đô la sẽ được coi là đồng tiền chính thức của ĐôngTimor, nước vừa tuyên bố độc lập khỏi Indonesia Tháng 12 năm 2000,Guatemala thông qua luật cho phép được sử dụng đô la rộng rãi, tuy không tuyên

bố hẳn là sẽ đô la hoá toàn phần Một loạt các nước khác cũng đã cân nhắc vềquyết định đô la hoá: Costa Rica, Honduras, Nicaragua

Trang 15

2 Nguyên nhân

USD là ngoại tệ mạnh và được chấp nhận rộng rãi nên người dân muốn nắm giữ để thuận tiện trong việc thanh toán, thu nhập của người dân ngày càng tăng và nhiều trường hợp được tính bằng USD hơn

Nhưng một trong những nguyên nhân lớn nhất chính là việc mất lòng tin vào chính sách tiền tệ trong nước Cụ thể, khi tỉ lệ lạm phát luôn cao và đồng tiền mất giá, chi phí nắm giữ nội tệ sẽ tăng lên và ai cũng muốn mua USD (ngoại tệ mạnh và dễ sử dụng tại hầu hết các quốc gia) nên tình trạng đô-la hóa càng xảy ra mạnh hơn Hiện tượng này có thể thấy rõ ở Ecuador từ những năm 2000

Lúc ấy, khi đứng trước bờ vực khủng hoảng kinh tế trầm trọng với toàn bộ hệ thống ngân hàng suy sụp, cộng với sự chống đối của người dân bản xứ và việc đồng nội tệ Sucre bị mất giá, Chính phủ Ecuador đã tiến hành nhiều biện pháp nhưng đều thất bại Cuối cùng, nước này quyết định đô-la hóa nền kinh tế

3 Hai mặt của đôla hóa

Trong khi cả thế giới đang ‘đồng tâm hiệp lực’ chống lại nền kinh tế đô la hóa thì không ít nước lại sử dụng đồng tiền này như một công cụ hữu ích để ghìm lạm phát

và hút vốn đầu tư

Siêu lạm phát lùi bước trước ‘đô la hóa’

Tổng cục Thống kê Zimbabwe công bố chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 1/2011 đã tăng 0,9% so với tháng trước Điều này cho thấy, Chính phủ Zimbabwe đã thành công trong việc kiềm chế lạm phát kể từ mức kỷ lục tăng 23.000.000% trong tháng 7/2008 Sau khi có mức tăng kỷ lục trên, Chính phủ Zimbabwe đã ngừng tính lạm phát cho đến hết năm đó Tuy nhiên chỉ sau hai năm, Zimbabwe đã khống chế thành công siêu lạm phát

Ngoài những nỗ lực của Chính phủ Zimbabwe trong việc cải thiện nền kinh tế như tái cấu trúc nền kinh tế, chống tham nhũng… thì việc đô la hóa toàn bộ nền kinh tế đóng vai trò quan trọng trong việc chống siêu lạm phát

Kể từ tháng 2/2009, Chính phủ mới của Zimbabwe đã thiết lập hệ thống giao thương

đa tiền tệ trong đó đồng đô la Mỹ được sử dụng phổ biến nhất Phân bổ ngân sách quốc gia năm 2009, dự toán ngân sách 2010 đều sử dụng USD làm đơn vị tiền tệ Đối với các giao dịch dân sự, theo ước tính của các ngân hàng, 4/5 các giao dịch kể

cả các giao dịch hàng hóa sản xuất trong nước hay việc trả lương cho công nhân và các giao dịch chứng khoán đều sử dụng đồng tiền này

Trên thị trường, tất cả các cửa hàng đều niêm yết giá cả hàng hóa của họ bằng đô la

Mỹ, dẫn tới việc thiếu hụt các đồng xu Mỹ trong thanh toán và Cục Dữ trữ Liên

Trang 16

bang Mỹ (FED) đã chính thức đồng ý cung cấp đồng xu cho Zimbabwe để khắc phục sự thiếu hụt này.

Để thu hút thêm nhiều ngoại tệ, Zimbabwe cần thực thi chính sách thặng dư thương mại vốn đang được thuận lợi nhờ việc giá vàng và platium, hai mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Zimbabwe, đang ở mức cao trong thời gian qua

Qua kinh nghiệm đô la hóa nền kinh tế của các nước trước đó như Argentina,

Bolivia, Brazil, Peru, Ecuador và sự phân tích của các chuyên gia thì kinh tế

Zimbabwe vẫn còn nhiều vấn đề lớn cần cải cách, nhưng việc đô la hóa toàn bộ nền kinh tế cũng đánh bại được siêu lạm phát, giúp cho nền kinh tế hoạt động tốt như đánh giá của Kramarenko, trưởng đoàn công tác của IMF trong chuyến khảo sát hỗ trợ Chính phủ Zimbabwe vào cuối tháng 3 vừa qua

Tuy nhiên, việc đô-la hóa cũng có nhiều mặt trái Đầu tiên, sử dụng ngoại tệ làm

đồng tiền chính sẽ khiến cho chính sách tiền tệ không được chủ động Chuyên gia kinh tế cao cấp của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), ông Jayant Menon đã đánhgiá rằng “quá trình đô-la hóa làm giảm hiệu quả của các công cụ ổn định kinh tế vĩ

mô, nhất là chính sách tiền tệ và tỉ giá”

Và tất nhiên, khi xảy ra khủng hoảng ngân hàng, nếu quốc gia bị đô-la hóa cao, ngânhàng nhà nước sẽ khó thực hiện chức năng người cho vay cuối cùng để giải quyết khủng hoảng do không thể in thêm tiền, tức chính sách tiền tệ không độc lập Thậm chí, có thể tạo cơ hội đầu cơ chống lại đồng nội tệ, gây ra tình trạng khủng hoảng tiền tệ Thêm vào đó, tình trạng đô-la hóa cao sẽ dẫn đến việc quốc gia không có khảnăng phá giá đồng tiền hay điều chỉnh lãi suất, có nghĩa là tăng trưởng kinh tế có thểchậm hơn

Trên thế giới, các quốc gia cũng kiểm soát đô-la hóa bằng nhiều cách khác nhau Chẳng hạn, Singapore chọn cải cách hệ thống ngân hàng và giám sát tài chính hiệu quả Philippines thì hạn chế bán và khuyến khích mua đồng Peso, kiểm soát chặt chẽcác giao dịch ngoại hối, nhất là các giao dịch tiềm ẩn nguy cơ đầu cơ Còn Trung Quốc hạn chế tối đa các giao dịch trong nước sử dụng ngoại tệ, trừ các cửa hàng miễn thuế

Dù vậy, Tiến sĩ Jonathan R Pincus, nguyên Giám đốc Đào tạo Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright, cho rằng cấm giao dịch bằng đô-la không phải là lựa chọn khả thi Theo ông, cách này chỉ đơn giản là giảm số lượng trung gian tài chính xảy rathông qua hệ thống ngân hàng chính thức, đẩy hộ gia đình và doanh nghiệp vào khu vực phi chính thức, mà không làm giảm đi tầm quan trọng của đô-la

4 Kinh nghiệm kiểm soát "đô la hoá" ở một số nước trên thế giới

Trang 17

• Singapore: Các đồng tiền có khả năng chuyển đổi vẫn được chấp nhận thanh toán nhưng bao giờ cũng có hai bút toán (mua ngoại tệ và bút toán bán nội tệ) Ngoài ra,

để thực hiện tự do hóa tài khoản vốn, cần đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, nước này triệt để cải cách hệ thống ngân hàng, có hệ thống tài chính đủ mạnh và có hệ thống giám sát tài chính hiệu quả Đồng thời, việc tự do hóa tài khoản vốn luôn phù hợp với sự phát triển của thị trường chứng khoán Hệ thống thông tin được xây dựng và

cơ sở dữ liệu chính xác về các giao dịch vốn, tập hợp số liệu và đánh giá, phân tích hoạt động giao dịch vốn

• Thái Lan: Quy định cấm giao dịch, thanh toán hàng hóa, dịch vụ bằng ngoại tệ diễn

ra rất nghiêm túc Khách hàng chỉ được giao dịch bằng đồng USD duy nhất tại cửa hàng miễn thuế nhưng phải niêm yết bằng nội tệ Tại nước này, khi khách hàng đề nghị trả 20 USD cho một món hàng trị giá 15 USD (đỡ mất thời gian đổi USD ra đồng Baht) thì người bán cũng không chấp nhận Nếu bị phát hiện vi phạm pháp luậtngoại hối, chủ cửa hàng sẽ bị xử phạt rất nặng và có thể bị rút giấy phép kinh doanh.Những năm gần đây, Thái Lan đã dần ổn định tỷ giá mặc dù giao dịch hàng ngày củanước này bằng ngoại tệ trong thương mại, đầu tư, du lịch với khối lượng lớn nhưng tất cả đều được thực hiện qua mạng lưới rộng khắp thuận tiện, với tỷ giá thống nhất cộng với một khoản phí dịch vụ Giao dịch về ngoại tệ của người dân và doanh nghiệp đã đáp ứng được tính lợi ích và tiện ích

• Malaysia: cùng với việc thả nổi đồng Ringit năm 1973, Malaysia thực hiện tự do hóa chế độ quản lý đối với các giao dịch cán cân vốn và cán cân vãng lai Các biện pháp quản lý ngoại hối áp dụng sau năm 1973 chủ yếu theo hướng thận trọng và dựatrên 5 nguyên tắc:

(i) toàn bộ nguồn ngoại tệ thu được từ xuất khẩu phải được bán cho các ngân hàng trong nước trong vòng 6 tháng

(ii) mọi công dân vay nước ngoài vượt quá mức quy định của pháp luật phải xin phép cơ quan quản lý nợ nước ngoài, ưu tiên cho các dự án có khả năng tạo nguồn thu ngoại tệ hoặc tiết kiệm ngoại hối

Trang 18

(iii) công ty nước ngoài tại Malaysia khi vay nước ngoài trên mức quy định cũng phải có giấy phép.

(iv) đối với các khoản thanh toán nước ngoài, cả công dân Malaysia và người nước ngoài được chuyển tiền của họ ra nước ngoài Riêng đối với các dự án đầu tư lớn phải xin phép để khuyến khích các nguồn lực tài chính đầu tư trong nước

(v) một số biện pháp quản lý ngoại hối bao gồm những chính sách được sử dụng tạmthời một cách thận trọng cùng với các biện pháp vĩ mô khác nhằm chấm dứt ảnh hưởng tiêu cực của luồng vốn ngắn hạn đối với nền kinh tế Khi đạt được mục đích, các chính sách này sẽ phải xóa bỏ

• Philippines: Việc kiểm soát ngoại hối được thực hiện thông qua các biện pháp sau:

Một là, kiểm soát các giao dịch ngoại hối, đặc biệt là những giao dịch tiềm ẩn nguy

cơ đầu cơ

Hai là, hạn chế bán và khuyến khích mua đồng Peso thông qua các biện pháp như: yêu cầu phải bán hết các hợp đồng kỳ hạn không có khả năng chuyển nhượng, thắt chặt trạng thái ngoại hối do mua quá mức của các ngân hàng, tăng trạng thái ngoại hối do bán quá mức của các ngân hàng, hạn mức bán USD qua thị trường giao dịch qua quầy (OTC), cấm các ngân hàng thương mại cấp tín dụng bằng đồng Peso cho người không cư trú

Ba là, để mở rộng phạm vi kiểm soát các giao dịch ngoại hối, ngân hàng trung ương yêu cầu các ngân hàng thương mại phải nộp tất cả báo cáo về tài chính của công ty con và chi nhánh phụ, các ngân hàng có các công ty ngoại hối cho ngân hàng trung ương chi tiết các giao dịch mua bán ngoại hối

Bốn là, quy định chống rửa tiền được ban hành, các ngân hàng được yêu cầu báo cáonhững giao dịch lớn có nghi ngờ hoặc có giao dịch bất thường

Ngày đăng: 14/03/2019, 16:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w