Luận văn thực hiện việc xây dựng cơ sở dữ liệu hệ thống thông tin địa lý phục vụ đánh giá quy hoạch sử dụng đất tại thành phố Ninh Bình với 5 gói dữ liệu được thiết kế trên phần mềm Visi
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
Trang 3CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
Cán bộ hướng dẫn chính: TS Trịnh Thị Hoài Thu
Cán bộ chấm phản biện 1: PGS TS Doãn Hà Phong
Cán bộ chấm phản biện 2: TS Trần Trung Anh
Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại:
HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN THẠC SĨ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
Ngày 19 tháng 01 năm 2019
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là hoàn
toàn trung thực, của tôi, không vi phạm bất cứ điều gì trong luật sở hữu trí tuệ và pháp luật Việt Nam Nếu sai, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật
Hà Nội, ngày 16 tháng 01 năm 2019
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Đức Bình
Trang 5MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN I MỤC LỤC II TÓM TẮT LUẬN VĂN IV DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT V DANH MỤC CÁC BẢNG VI DANH MỤC HÌNH VII
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu 2
3 Nội dung nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU HỆ THÔNG TIN ĐỊA LÝ PHỤC VỤ ĐÁNH GIÁ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT 3
1.1 Tổng quan về đánh giá quy hoạch sử dụng đất 3
1.1.1 Khái quát về quy hoạch sử dụng đất 3
1.1.2 Đánh giá về quy hoạch sử dụng đất 10
1.2 Tổng quan về cơ sở dữ liệu đất đai 12
1.2.1 Khái quát chung về cơ sở dữ liệu đất đai 12
1.2.2 Hiện trạng xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai 13
1.2.3 Nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai 15
1.3 Tổng quan về GIS trong đánh giá quy hoạch sử dụng đất 17
1.3.1 Tầm quan trọng của GIS 17
1.3.2 Định nghĩa 17
1.3.3 Khai thác cơ sở dữ liệu phục vụ đánh giá quy hoạch sử dụng đất 18
1.4 Vấn đề nghiên cứu của đề tài 19
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ KHOA HỌC XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU PHỤC VỤ ĐÁNH GIÁ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT 20
2.1 Khái quát về cơ sở dữ liệu thông tin địa lý 20
2.2 Thiết kế mô hình cơ sở dữ liệu đất đai phục vụ đánh giá quy hoạch sử dụng đất 24
2.3 Thu thập dữ liệu 27
2.4 Chuẩn hóa cơ sở dữ liệu 27
2.4.1 Chuẩn mô hình cấu trúc dữ liệu địa lý 28
2.4.2 Chuẩn mô hình khái niệm dữ liệu không gian 30
2.4.3 Chuẩn mô hình khái niệm dữ liệu thời gian 31
2.4.4 Chuẩn phương pháp lập danh mục đối tượng địa lý 31
2.4.5 Chuẩn hệ quy chiếu tọa độ 32
Trang 62.4.6 Chuẩn siêu dữ liệu địa lý 33
2.4.7 Chuẩn chất lượng dữ liệu địa lý 35
2.4.8 Chuẩn trình bày dữ liệu địa lý 35
2.4.9 Chuẩn mã hóa trong trao đổi dữ liệu địa lý 36
CHƯƠNG 3 XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU HỆ THÔNG TIN ĐỊA LÝ PHỤC VỤ ĐÁNH GIÁ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT TẠI THÀNH PHỐ
NINH BÌNH 38
3.1 Giới thiệu khu vực nghiên cứu 38
3.1.1 Vị trí địa lý 38
3.1.2 Tài nguyên đất 38
3.1.3 Các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong kỳ quy hoạch 2010 - 2020 38
3.2 Thu thập và đánh giá hiện trạng dữ liệu 38
3.2.1 Thu thập dữ liệu 42
3.2.2 Đánh giá thực trạng dữ liệu 42
3.3 Xây dựng cơ sở dữ liệu địa lý phục vụ đánh giá quy hoạch sử dụng đất tại thành phố Ninh Bình 44
3.3.1 Mô hình cấu trúc cơ sở dữ liệu 44
3.3.2 Các bước xây dựng cơ sở dữ liệu 48
3.4 Đánh giá về tình hình quy hoạch sử dụng đất tại thành phố Ninh Bình 55
3.4.1 Đánh giá tình hình sử dụng đất năm 2010 55
3.4.2 Đánh giá tình hình sử dụng đất năm 2014 57
3.4.3 Đánh giá biến động sử dụng đất giữa năm 2010 và 2014 58
3.4.4 Đánh giá về QHSDĐ đến năm 2020 60
3.4.5 Đánh giá việc thực hiện QHSDĐ đến 2014 61
1 Kết luận 64
2 Kiến nghị 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
Trang 7TÓM TẮT LUẬN VĂN
Họ tên học viên: Nguyễn Đức Bình
Cán bộ hướng dẫn: TS Trịnh Thị Hoài Thu
Tên đề tài: Xây dựng cơ sở dữ liệu hệ thông tin địa lý phục vụ đánh giá quy hoạch sử dụng đất tại thành phố Ninh Bình
Tóm tắt: Luận văn tổng quan về các vấn đề nghiên cứu, cơ sở khoa học xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ đánh giá quy hoạch sử dụng đất và tiến hành xây dựng
cơ sở dữ liệu thông tin địa lý phục vụ đánh giá quy hoạch sử dụng đất tại thành phố Ninh Bình Dữ liệu chính sử dụng trong xây dựng cơ sở dữ liệu là các bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2010 và 2014, bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại thành phố Ninh Bình
Luận văn thực hiện việc xây dựng cơ sở dữ liệu hệ thống thông tin địa lý phục vụ đánh giá quy hoạch sử dụng đất tại thành phố Ninh Bình với 5 gói dữ liệu được thiết kế trên phần mềm Visio đảm bảo đúng yêu cầu các chuẩn về cơ sở dữ liệu nền địa lý Sau khi xây dựng CSDL, đánh giá thực hiện quy hoạch thông qua việc chồng xếp các loại bản đồ hiện trạng để thấy được diễn biến thay đổi sử dụng đất; chồng xếp dữ liệu bản đồ sử dụng đất năm 2014 và bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 để đánh giá mức độ thực hiện quy hoạch của thành phố Ninh Bình đến năm 2014 Kết quả của việc đánh giá cho đến năm 2014 việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất tại Ninh Bình đạt 78,8%, 21,2% chưa được thực hiện theo quy hoạch Việc đánh giá thực hiện quy hoạch thông qua chồng xếp dữ liệu xác định vị trí và diện tích những thửa đất chưa thực hiện theo quy hoạch sẽ phục vụ cho kế hoạch sử dụng đất của thành phố những năm tiếp theo
Trang 8
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
CSDL HTTTĐL Cơ sở dữ liệu hệ thống thông tin địa lý
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Các cấu trúc của Geodatabase 23
Bảng 3.1 Bảng các loại dữ liệu 43
Bảng 3.2 Quy định cấu trúc dữ liệu của các gói 45
Bảng 3.3 Tổ chức lại các nhóm lớp đối tượng 50
Trang 10
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Các chức năng cơ bản của GIS 18
Hình 2.1 Cấu trúc cơ sở dữ liệu GIS 20
Hình 2.2 Geodatabase trong ArcGIS 23
Hình 2.3 Các bước mô hình hóa Geodatabase sử dụng UML 26
Hình 3.1 Cấu trúc cơ sở dữ liệu 44
Hình 3.2 Mô hình cấu trúc và miền giá trị của gói khống chế trắc địa 45
Hình 3.3 Mô hình cấu trúc dữ liệu của gói Địa giới hành chính 46
Hình 3.4 Mô hình cấu trúc dữ liệu của gói Giao thông 46
Hình 3.5 Mô hình cấu trúc dữ liệu của gói Thủy hệ 47
Hình 3.6 Mô hình cấu trúc dữ liệu của gói Sử dụng đất 47
Hình 3.7 Sơ đồ quy trình công nghệ xây dựng Cơ sở dữ liệu từ bản đồ 48
Hình 3.8 Các đối tượng trên bản đồ hiện trạng sử dụng đất 49
Hình 3.9 Các đối tượng trên bản đồ quy hoạch sử dụng đất 49
Hình 3.10 Dữ liệu thuộc tính trên bản đồ 51
Hình 3.11 Chuyển đổi định dạng dữ liệu 52
Hình 3.12 Nhập dữ liệu vào mô hình cơ sở dữ liệu 53
Hình 3.13 Chuẩn hóa Topology 54
Hình 3.14 Biểu đồ theo diện tích các loại đất hiện trạng 2010 56
Hình 3.15 Biểu đồ theo phần trăm các loại đất hiện trạng 2010 57
Hình 3.16 Biểu đồ theo diện tích các loại đất hiện trạng 2014 58
Hình 3.17 Biểu đồ theo phần trăm các loại đất hiện trạng 2014 58
Hình 3.18 Biểu đồ biến động sử dụng đất theo diện tích các loại đất 59
Hình 3.19 Biểu đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 61
Hình 3.20 Biểu đồ biến động sử dụng đất giữa hiện trạng 2014 và quy hoạch đến năm 2020 61
Hình 3.21 Ví dụ về việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất chưa đúng với quy hoạch 63
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là loại tài nguyên được sử dụng trong tất cả các ngành kinh tế - xã hội Mặc dù là một trong bốn yếu tố đầu vào của nền sản xuất (đất đai, lao động , tài chính , công nghệ), thế nhưng đất đai lại là nguồn tài nguyên hữu hạn Tầm quan trọng của đất đai cũng đã được chỉ ra từ Luật đất đai 2013: “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống , là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở
Tuy nhiên quá trình triển khai lập và tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất (QHSDĐ) vẫn bộc lộ một số tồn tại nhất định Đặc biệt là sau khi phương án QHSDĐ được phê duyệt và đưa vào thực hiện, thì tình hình theo dõi, giám sát sử dụng đất theo quy hoạch còn nhiều bất cập, dẫn đến tình trạng quy hoạch treo hoặc không điều chỉnh kịp thời những biến động về sử dụng đất trong quá trình thực hiện quy hoạch do việc quản kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng ”
Đất đai không thể sản sinh thông qua quá trình sản xuất nhưng lại có thể tái tạo được thông qua sự tác động khoa học của con người Vì vậy, để đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững, lâu dài, các nước trên thế giới đều rất chú trọng tới vấn đề quản lý và sử dụng hợp lý quỹ tài nguyên đất đai Trong các hoạt động về quản lý
và sử dụng tài nguyên đất đai thì QHSDĐ đóng một vai trò hết sức quan trọng QHSDĐ có tác động to lớn đến hiệu quả sử dụng tài nguyên đất đai, ảnh hưởng trực tiếp tới sự ổn định của xã hội và sự phát triển của thị trường bất động sản Theo Luật đất đai 2013, QHSDĐ là "việc phân bổ và khoanh định nguồn tài nguyên đất đai cho các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng , an ninh và bảo vệ môi trường theo vùng kinh tế xã hội và đơn vị hành chính trong một thời gian xác định trên cơ sở tiềm năng đất đai và nhu cầu sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực" Có thể nhận thấy rằng QHSDĐ là một hoạt động bao gồm cả tính kinh tế, tính kỹ thuật
và tính pháp chế
Đặc thù của thông tin trong QHSDĐ là một hỗn hợp bao gồm cả thông tin không gian và thông tin thuộc tính nên khi đánh giá, phân tích, bên cạnh những
Trang 12phương pháp truyền thống, các công nghệ phân tích không gian như công nghệ hệ thông tin địa lý (GIS – Geographic Imfromation System) cần phải được áp dụng GIS cho phép hiển thị các thông tin cơ sở dữ liệu trên một bản đồ trực quan GIS không chứa bất kỳ bản đồ hoặc đồ họa, nó tạo ra các bản đồ và hình ảnh từ những thông tin có trong cơ sở dữ liệu GIS không phải là một chương trình lập bản đồ, nó
là một kết hợp của quản lý cơ sở dữ liệu, công nghệ hiển thị, và các công cụ phân tích có thể được dùng để tạo ra các bản đồ Do đó, để đảm bảo sử dụng thông tin phục vụ cho mục đích đánh giá quy hoạch sử dụng đất và các mục đích khác một cách chính xác, kịp thời cần phải có công cụ xử lý, phân tích tổng hợp thông tin nhanh về các vấn đề có liên quan Công cụ đó chính là hệ thống thông tin địa lý-GIS
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, việc nghiên cứu đề tài luận văn “Xây
dựng cơ sở dữ liệu hệ thông tin địa lý phục vụ đánh giá quy hoạch sử dụng đất tại
thành phố Ninh Bình” là cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn
2 Mục tiêu
Xây dựng được cơ sở dữ liệu hệ thông tin địa lý GIS phục vụ công tác đánh giá quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn thành phố Ninh Bình – tỉnh Ninh Bình
3 Nội dung nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Nội dung: Nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu hệ thông tin địa lý phục vụ đánh giá quy hoạch sử dụng đất tại thành phố Ninh Bình
- Phạm vi nghiên cứu: Các nghiên cứu của đề tài được định hướng áp dụng trong phạm vi thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập, thống kê, xử lý các thông tin và tài liệu liên quan
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Sử dụng các phương tiện và các công cụ tiện ích, phân tích, tổng hợp các tư liệu, đánh giá khách quan các yếu tố để đưa ra kết luận làm cơ sở giải quyết các vấn đề đặt ra
- Ứng dụng Tin học: sử dụng phần mềm GIS, microstation và các phần mềm phụ trợ
- Phương pháp bản đồ: sử dụng các loại bản đồ hiện trạng, quy hoạch sử dụng đất
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU HỆ THÔNG TIN ĐỊA LÝ
PHỤC VỤ ĐÁNH GIÁ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT 1.1 Tổng quan về đánh giá quy hoạch sử dụng đất
1.1.1 Khái quát về quy hoạch sử dụng đất
a Khái niệm về quy hoạch sử dụng đất
“Quy hoạch sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật và pháp chế của nhà nước về tổ chức sử dụng đất đầy đủ hợp lý, hiệu quả cao thông qua việc phân phối và tái phân quỹ đất của cả nước, tổ chức sử dụng đất như một tư liệu sản xuất cùng các tư liệu sản xuất khác gắn liền với đất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội, tạo điều kiện bảo về đất và môi trường” [3]
b Đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất
Quy hoạch sử dụng đất thuộc loại quy hoạch có tính lịch sử - xã hội, tính khống chế vĩ mô, tính chỉ đạo, tính tổng hợp trung và dài hạn, là bộ phận hợp thành quan trọng của hệ thống kế hoạch phát triển xã hội và kinh tế quốc dân Các đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất được thể hiện như sau:
- Tính lịch sử - xã hội
Lịch sử phát triển của xã hội chính là lịch sử phát triển của quy hoạch sử dụng đất Mỗi hình thái kinh tế - xã hội đều có một phương thức sản xuất của xã hội thể hiện theo 2 mặt lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Trong quy hoạch sử dụng đất, luôn nảy sinh quan hệ giữa người với đất đai - là sức tự nhiên, cũng như quan hệ giữa người với người Quy hoạch sử dụng đất thể hiện đồng thời là yếu tố thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, vừa là yếu tố thúc đẩy các mối quan hệ xã hội, vì vậy nó luôn là một bộ phận của phương thức sản xuất của xã hội
- Tính tổng hợp
Tính tổng hợp của quy hoạch sử dụng đất biểu hiện chủ yếu ở hai mặt: đối tượng của quy hoạch là khai thác, sử dụng, cải tạo, bảo vệ, toàn bộ tài nguyên đất đai cho nhu cầu của toàn bộ nền kinh tế quốc dân Quy hoạch sử dụng đất đề cập đến nhiều lĩnh vực về khoa học, kinh tế và xã hội như: khoa học tự nhiên, khoa học
Trang 14xã hội, dân số và đất đai, sản xuất nông, công nghiệp, môi trường sinh thái,
- Tính dài hạn
Căn cứ vào các dự báo xu thế biến động dài hạn của những yếu tố kinh tế xã hội quan trọng (như sự thay đổi về nhân khẩu, tiến bộ kỹ thuật, đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, ) từ đó xác định quy hoạch trung và dài hạn
về sử dụng đất đai, đề ra các phương hướng, chính sách và biện pháp có tính chiến lược, tạo căn cứ khoa học cho việc xây dựng kế hoạch sử dụng đất hàng năm và ngắn hạn
- Tính chiến lược và chỉ đạo vĩ mô
Với đặc tính trung và dài hạn, quy hoạch sử dụng đất chỉ dự kiến trước được các xu thế thay đổi phương hướng, mục tiêu, cơ cấu và phân bổ sử dụng đất Vì vậy, quy hoạch sử dụng đất là quy hoạch mang tính chiến lược, các chỉ tiêu của quy hoạch mang tính chỉ đạo vĩ mô, tính phương hướng và khái lược về sử dụng đất của các ngành Do khoảng thời gian dự báo tương đối dài, ảnh hưởng của nhiều nhân tố kinh tế - xã hội khó xác định, nên chỉ tiêu quy hoạch càng khái lược hóa, quy hoạch
sẽ càng ổn định
- Tính chính sách
Quy hoạch sử dụng đất thể hiện rất mạnh đặc tính chính trị và chính sách xã hội Khi xây dựng phương án phải quán triệt các chính sách và quy định có liên quan đến đất đai của Đảng và Nhà nước, đảm bảo thực hiện cụ thể trên mặt bằng đất đai các mục tiêu phát triển nền kinh tế quốc dân, phát triển ổn định kế hoạch kinh tế
- xã hội Tuân thủ các quy định, các chỉ tiêu khống chế về dân số, đất đai và môi trường sinh thái
c Nội dung của quy hoạch sử dụng đất
Tại chương III điều 12 Nghị định số 181/2004/NĐ – CP có nêu 11 nội dung quy hoạch sử dụng đất như sau:
- Điều tra, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội trên địa bàn thực hiện quy hoạch
- Đánh giá hiện trạng và biến động sử dụng đất trong kỳ quy hoạch trước
Trang 15theo các mục đích sử dụng gồm đất trồng lúa nước, đất trồng cây hàng năm khác, đất trồng cây lâu năm; đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng; đất nuôi trồng thuỷ sản; đất làm muối; đất nông nghiệp khác; đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị; đất xây dựng trụ sở cơ quan và công trình sự nghiệp; đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp; đất sử dụng vào mục đích công cộng; đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng; đất tôn giáo, tín ngưỡng; đất nghĩa trang, nghĩa địa; đất bằng chưa sử dụng, đất đồi núi chưa sử dụng, núi đá không có rừng cây
- Đánh giá tiềm năng đất đai và sự phù hợp của hiện trạng sử dụng đất so với tiềm năng đất đai, so với xu hướng phát triển kinh tế - xã hội, khoa học - công nghệ theo quy định sau:
+ Đối với đất đang sử dụng thì đánh giá sự phù hợp và không phù hợp của hiện trạng sử dụng đất so với tiềm năng đất đai, so với chiến lược, quy hoạch tổng thể, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, khả năng áp dụng tiến bộ khoa học - công nghệ trong sử dụng đất;
+ Đối với đất chưa sử dụng thì đánh giá khả năng đưa vào sử dụng cho các mục đích
- Đánh giá kết quả thực hiện các chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất đã được quyết định, xét duyệt của kỳ quy hoạch trước
- Xác định phương hướng, mục tiêu sử dụng đất trong kỳ quy hoạch và định hướng cho kỳ tiếp theo phù hợp với chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh
tế - xã hội của cả nước, của các ngành và các địa phương
- Xây dựng các phương án phân bổ diện tích các loại đất cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh trong kỳ quy hoạch được thực hiện như sau:
+ Khoanh định trên bản đồ hiện trạng sử dụng đất các khu vực sử dụng đất nông nghiệp theo mục đích sử dụng đất, loại đất mà khi chuyển mục đích sử dụng phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; các khu vực sử dụng đất phi nông nghiệp theo chức năng làm khu dân cư đô thị, khu dân cư nông thôn, khu hành chính, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế, khu dịch vụ, khu di tích
Trang 16lịch sử - văn hoá, danh lam, thắng cảnh, khu vực đất quốc phòng, an ninh và các công trình, dự án khác có quy mô sử dụng đất lớn; các khu vực đất chưa sử dụng
Việc khoanh định được thực hiện đối với khu vực đất có diện tích thể hiện được lên bản đồ quy hoạch sử dụng đất;
+ Xác định diện tích đất không thay đổi mục đích sử dụng; diện tích đất phải chuyển mục đích sử dụng sang mục đích khác, trong đó có diện tích đất dự kiến phải thu hồi để thực hiện các công trình, dự án
- Phân tích hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường của từng phương án phân bổ quỹ đất theo nội dung sau:
+ Phân tích hiệu quả kinh tế bao gồm việc dự kiến các nguồn thu từ việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, các loại thuế có liên quan đến đất đai và chi phí cho việc bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư;
+ Phân tích ảnh hưởng xã hội bao gồm việc dự kiến số hộ dân phải di dời, số lao động mất việc làm do bị thu hồi đất, số việc làm mới được tạo ra từ việc chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất;
+ Đánh giá tác động môi trường của việc sử dụng đất theo mục đích sử dụng mới của phương án phân bổ quỹ đất
- Lựa chọn phương án phân bổ quỹ đất hợp lý căn cứ vào kết quả phân tích hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường thực hiện ở khoản 7 Điều này
- Thể hiện phương án quy hoạch sử dụng đất được lựa chọn trên bản đồ quy hoạch sử dụng đất
- Xác định các biện pháp sử dụng, bảo vệ, cải tạo đất và bảo vệ môi trường cần phải áp dụng đối với từng loại đất, phù hợp với địa bàn quy hoạch
- Xác định giải pháp tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất phù hợp với đặc điểm của địa bàn quy hoạch
d Thực trạng công tác quy hoạch trên thế giới và Việt Nam
- Trên thế giới
Trên thế giới công tác quy hoạch đã được tiến hành từ nhiều năm trước Do
đó, họ có nhiều kinh nghiệm và công tác quy hoạch ngày càng được chú trọng và
Trang 17phát triển
Đối với các nhóm nước phát triển việc quy hoạch sử dụng đất đai được tiến hành từ lâu đời và nhiều lần, vì vậy họ có cả quy hoạch vĩ mô và quy hoạch vi mô Quy hoạch ở các nước này diễn ra trong một thời gian dài
Đặc điểm của các nước này là thiên về mở rộng các công trình sử dụng đất chuyên dùng, đất khu dân cư và đất thương mại dịch vụ, còn về nhưng đất nông nghiệp kém hiệu quả chuyển sang đất bảo vệ môi trường hoặc vui chơi giải trí Một
trong những nước thuộc nhóm này đã xây dựng cơ sở lý luận của ngành quy hoạch
đất đai tương đối hoàn chỉnh đó là Liên Xô (cũ)
Tại Liên Xô (cũ), nhiệm vụ của quy hoạch đất đai là nhằm phục vụ cho việc
tổ chức lãnh thổ, phân bổ và phát triển lực lượng sản xuất trên phạm vi lãnh thổ, bảo vệ và sử dụng có hiệu quả đất đai của từng đơn vị sử dụng đất, từng nông trang cũng như các đơn vị sản xuất nông nghiệp, Công tác quy hoạch sử dụng đất được thực hiện bởi cơ quan chuyên môn và được tiến hành thường xuyên, có luận chứng kinh tế - kỹ thuật với đầy đủ tính khoa học và pháp lý
Đối với nước đang phát triển việc quy hoạch sử dụng đất mới chỉ là mức vi
mô, chú trọng hơn vào quy hoạch mặt bằng và mục tiêu lương thực, thực phẩm còn mục tiêu về môi trường, vấn đề sử dụng đất lâu dài thì chưa được chú trọng lắm, đặc biệt là một số nước Châu Phi Tuy nhiên một số nước đã chú ý đến môi trường sinh thái và sử dụng đất bền vững
Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu về đất đai của con người ngày càng lớn Công tác quy hoạch sử dụng đất đang được cả thế giới quan tâm, đặc biệt đối với các nước phát triển Các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ đã và đang nghiên cứu thực hiện nhiều chương trình quy hoạch nói chung cũng như quy hoạch sử dụng đất ở nhiều nước đang phát triển và một số nước chậm phát triển trên thế giới
Quan điểm của FAO cho rằng: “Quy hoạch sử dụng đất là bước kế tiếp của công tác đành giá đất Kết quả của công tác đánh giá đất sẽ đưa ra những loại hình
sử dụng đất hợp lý nhất là đối với các đơn vị bản đồ đất trong vùng”
Năm 1992 tổ chức lương thực nông nghiệp liên hợp quốc(FAO) đã đưa ra
Trang 18quan điểm quy hoạch đất đai nhằm sử dụng đất có hiệu quả, bền vững, đáp ứng tốt những yêu cầu của trong hiện tai và đảm bảo an toàn cho tương lai chú trọng đến hiệu quả kinh tế xã hội và môi trường, gắn liền với phát triển bền vững
Bên cạnh đó các tổ chức quốc tế như: Ngân hàng thế giới (WB), ngân hàng phát triển Châu Á(ADB), quỹ tiền tệ quốc tế(IMF), chương trình phát triển UNDP,… đã tài trợ cho nhiều chương trình quy hoạch và đã được thực hiện thành công ở nhiều nước như: Ấn Độ, Philippine, Thái Lan, Trung Quốc, Colombia, Cameroon, Angeri,…
Hiện nay công tác quy hoạch đất đai đã và đang được tiến hành ở hầu hết các quốc gia trên thế giới và được áp dụng theo 4 mức: quốc gia, tỉnh, huyện và xã
- Ở Việt Nam
Tình hình quy hoạch phân bổ sử dụng đất ở nước ta là công việc khá mới mẻ
so với các nước trên thế giới, kinh nghiệm thực tế còn ít, thiết bị kỹ thuật còn ngèo nàn Tuy nhiên, được sự quan tâm của Đảng và nhà nước, trước tình hình phát triển kinh tế xã hội, chúng ta đang từng bước khắc phục khó khăn, kế thừa những kinh nghiệm của các nước trên thế giới, để vận dụng vào tình hình thực tế của nước ta
Đến nay hầu hết các tỉnh, các huyện cũng như các xã trên cả nước đã lập quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 Nhìn nhận lại công tác quy hoạch đất đai ở nước
ta có thể thấy rằng:
+ Về thành tựu:
Đảm bảo tính thống nhất trong quản lý nhà nước về đất đai đồng thời tạo điều kiện phát huy quyền làm chủ và sự tham gia của nhân dân trong việc sử dụng đất, bước đầu tạo ra sự phân phối hợp đồng giữa các ngành Trung ương và địa phương trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai
Quy hoạch sử dụng đất đai góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, có tác dụng đảm bảo cân đối giữa nhiệm vụ chiến lược an ninh lương thực Quốc gia và sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước, xác lập được cơ chế điều tiết việc phân bố đất đai cho các mục đích sử dụng, chủ động quỹ đất hợp lý cho việc phát triển công nghiệp,
đô thị, cơ sở hạ tầng, cũng như các công trình văn hoá thể thao, giáo dục y tế,…
Trang 19Đảm bảo cơ sở pháp lý cho việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội: hạn chế đến mức thấp nhất việc chuyển diện tích đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp có rừng sang mục đích khác
Thông qua quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nhà nước nắm chắc quản chặt quỹ đất đai và xây dựng chính sách quản lý sử dụng đất đai đồng bộ có hiệu quả cao; dự tính được các nguồn thu từ đất cho ngân sách nhà nước,…
+ Những hạn chế bất cập:
Đa số các ngành chưa triển khai lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Kế hoạch sử dụng đất của 1 số ngành mới đề cập ở dạng phương hướng sử dụng tài nguyên đất trong các nội dung của quy hoạch chuyên ngành
Các địa phương mặc dù đã xác định được tầm quan trọng của công tác lập quy hoạch kế hoạch sử dụng đất đai đối với các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của mình, nhưng còn thiếu lực lượng triển khai và khó khăn trong việc cân đối kinh phí đầu tư hàng năm cho công tác này, nên tiến độ thực hiện còn chậm
Cấp tỉnh là nơi lập kế hoạch sử dụng đất liên quan đến mọi đối tượng sử dụng đất trên địa bàn để trình chính phủ, nhưng lại không đủ các thông tin đặc trưng cơ bản của từng đối tượng(nhu cầu sử dụng đất, khả năng tài chính, tiến độ triển khai các dự án,…)
Khung giá đất áp dụng thu tiền khi giao đất, chuyển mục đích sử dụng đất, cho thuê đất theo quy định hiện nay cao hơn giá trị thường vượt khả năng của các nhà đầu tư Thiếu chính sách đền bù cho người có đất đang sử dụng bị thu hồi không phải vì mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, đang làm một trở ngại để phát triển công nghiệp, du lịch dịch vụ,… làm giảm tính khả thi của
kế hoạch sử dụng đất hàng năm
Kinh phí đầu tư cho công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất còn rất nhiều hạn chế,…
Trang 201.1.2 Đánh giá về quy hoạch sử dụng đất
a Đánh giá sự phù hợp của quy hoạch sử dụng đất
Quy hoạch sử dụng đất là cần thiết trên cơ sở các tiêu chí phù hợp cho các hoạt động sử dụng đất khác nhau Để đánh giá được tính hợp lý của phương án quy hoạch sử dụng đất nhất thiết phải có những tiêu chí để đánh giá, đó là những tiêu chí được sử dụng trong việc lựa chọn vị trí quy hoạch tối ưu, tuy nhiên nó cũng được sử dụng để đánh giá lại phương án quy hoạch đó xem có hợp lý hay không
Tiêu chí được hiểu là “tính chất, dấu hiệu đặc trưng để nhận biết, xem xét, phân loại một vật, sự vật” Mỗi một loại hình sử dụng đất đều có những nét đặc trưng riêng vì thế chúng có những tiêu chí riêng để đánh giá Có thể thấy rằng các tiêu chí đánh giá hoặc phân tích cho việc lựa chọn vị trí của các loại hình sử dụng đất có thể nhóm về 3 nhóm tiêu chí cơ bản: môi trường; xã hội và kinh tế Việc quy hoạch một đối tượng sử dụng đất (loại hình sử dụng đất) nào đó đều liên quan chặt chẽ đến 3 yếu tố cơ bản trên, quy hoạch đó phải đảm bảo được về mặt môi trường sống (không gây ô nhiễm hay hủy hoại môi trường sống, ), phải mang lại lợi ích về kinh tế(như tiết kiệm chi phí, hiệu quả kinh tế cao, ), phải tạo sự ổn định xã hội (có
sự đồng thuận xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng, )
Tiêu chí đánh giá chính là cơ sở để xác định những chỉ tiêu cụ thể cần dùng
để đánh giá Ví dụ, đánh giá quy hoạch đất ở, trong nhóm tiêu chí về môi trường ta
có tiêu chí càng xa vị trí bãi chôn lấp rác thải càng tốt, từ đây ta thấy được chỉ tiêu cần dùng để đánh giá quy hoạch đất ở là khoảng cách đến bãi chôn lấp rác thải Như vậy về cơ bản tiêu chí luôn đi kèm với nó là các chỉ tiêu, một tiêu chí có thể có một hoặc nhiều chỉ tiêu đi kèm Các tiêu chí cũng như chỉ tiêu đánh giá luôn luôn phụ thuộc vào đặc điểm của từng loại đối tượng đánh giá cũng như điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của khu vực cần đánh giá
b Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất
- Đánh giá dựa trên số liệu thống kê, kiểm kê
Thống kê, kiểm kê đất đai là việc làm thường kỳ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm nắm chắc về số lượng đất đai và diễn biến đất đai trong quá trình
Trang 21quản lý và sử dụng Nội dung này là một trong những nội dung có từ lâu đời nhất của công tác quản lý nhà nước về đất đai Bất kể xã hội nào, trong quản lý nhà nước
về đất đai đều cần phải thống kê, kiểm kê đất đai
+ Yêu cầu của thống kê đất đai
Chính xác: yêu cầu này đòi hỏi các số liệu điều tra thu thập được phản ánh trung thực tình hình khách quan, không trùng lắp, thiếu, thừa, không tùy tiện thêm bớt Yêu cầu chính xác cũng đòi hỏi khi xác định chỉ tiêu loại đất đai và loại đối tượng sử dụng đất phải đúng với hướng dẫn quy định, đồng thời còn cần phải tính toán tổng hợp biểu mẫu chính xác làm căn cứ tin cậy cho việc phân tích thống kê và xây dựng kế hoạch
Đầy đủ: thu thập tài liệu, số liệu đúng với nội dung quy định, không bỏ sót chỉ tiêu loại đất nào, chủ sử dụng nào, thửa đất nào Yêu cầu này cũng đòi hỏi phải tổng hợp đầy đủ các biểu mẫu theo quy định
Kịp thời: điều tra, thu thập đúng thời điểm, tổng hợp và nộp các biểu mẫu đúng thời gian quy định Có như vậy số liệu mới phát huy tác dụng cao và có cơ sở
để đề xuất các chủ trương, biện pháp đúng đắn phù hợp với thực tế khách quan Ba yêu cầu trên đây đều quan trọng và luôn bổ sung cho nhau Tùy điều kiện cụ thể từng nơi, từng lúc mà đề ra mức độ cụ thể cho từng yêu cầu để đạt được các mục đích của mỗi kỳ thống kê
+ Đặc điểm cơ bản của thống kê đất đai
Đặc điểm cơ bản nhất của thống kê đất đai là phải dự trên cơ sở bản đồ Thống kê đất đai muốn chính xác phải dựa trên cơ sở đo đạc lập bản đồ để tính diện tích Thửa đất tuy có vị trí cố định nhưng trong quá trình sử dụng do tác động của con người và thiên nhiên luôn có biến động về loại đất, chủ sử dụng và hình thể,
vì vậy cần thường xuyên chỉnh lý bản đồ
Đặc điểm thứ hai là số liệu thống kê đất đai có ý nghĩa pháp lý chặt chẽ Số liệu thống kê phải gắn liền với cơ sở pháp lý về quyền sử dụng đất đối với từng thửa đất cụ thể, công tác thống kê muốn chính xác phải dựa trên cơ sở đăng ký đất Kết quả đăng ký đất càng tốt và sự phối hợp thực hiện các nội dung nhiệm vụ quản lý
Trang 22đất càng đồng bộ thì giá trị pháp lý số liệu thống kê đất càng nâng cao Các đặc điểm trên làm cho việc thực hiện công tác thống kê đất cần nhiều lao động, vật tư,
kỹ thuật, thời gian, kinh phí,… người làm công tác thống kê đất phải được đào tạo
có trình độ chuyên môn đầy đủ mới có thể thực hiện được Đặc điểm này đã quyết định chỉ có ngành Địa chính mới có thể thực hiện được công tác thống kê đất đai một cách chính xác, khoa học và đầy đủ
Việc thống kê, kiểm kê đất đai giúp đánh giá hiện trạng sử dụng đất và làm
cơ sở để quản lý, sử dụng đất đạt hiệu quả, cung cấp thông tin, số liệu, tài liệu làm căn cứ để lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, cũng như đánh giá việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất có đúng hay không
- Đánh giá dựa trên bản đồ
Từ bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất, ta tiến hành chồng xếp dữ liệu để đánh giá việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất tiến hành được bao nhiêu phần trăm, có đúng theo quy hoạch hay không
1.2 Tổng quan về cơ sở dữ liệu đất đai
1.2.1 Khái quát chung về cơ sở dữ liệu đất đai
Cơ sở dữ liệu đất đai: là tập hợp thông tin có cấu trúc của dữ liệu địa chính,
dữ liệu quy hoạch sử dụng đất, dữ liệu giá đất, dữ liệu thống kê, kiểm kê đất đai được sắp xếp, tổ chức để truy cập, khai thác, quản lý và cập nhật thường xuyên bằng phương tiện điện tử Cơ sở dữ liệu địa chính là thành phần cơ bản của cơ sở dữ liệu đất đai, làm cơ sở để xây dựng và định vị không gian các cơ sở dữ liệu thành phần khác
Năm 2004, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định 179/2004/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chiến lược ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin (CNTT) tài nguyên và môi trường đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 Trong Quyết định đã đưa ra 4 mục tiêu chủ yếu và 7 nhiệm vụ trọng tâm Trong đó việc xây dựng
cơ sở dữ liệu tài nguyên và môi trường nói chung và xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai nói riêng là một trong các nhiệm vụ cơ bản nhất
Theo thông tư 05/2017/TT-BTNMT, việc xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai
Trang 23được tiến hành theo 2 cấp, một là do cơ quan trung ương tổ chức xây dựng, hai là
do tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức xây dựng chi tiết như sau:
Cơ sở dữ liệu đất đai do cơ quan Trung ương tổ chức xây dựng gồm:
Cơ sở dữ liệu thống kê, kiểm kê đất đai: dữ liệu báo cáo, biểu, bảng số liệu thống kê, kiểm kê đất đai, bản đồ hiện trạng sử dụng đất cấp vùng và cả nước; dữ liệu về quản lý sử dụng đất theo chuyên đề;
Cơ sở dữ liệu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất: dữ liệu báo cáo thuyết minh tổng hợp, bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và bản đồ điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia, vùng kinh tế - xã hội;
Cơ sở dữ liệu giá đất: dữ liệu khung giá đất, giá đất tại khu vực giáp ranh giữa các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là khu vực giáp ranh)
Cơ sở dữ liệu đất đai do tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức xây dựng gồm:
Cơ sở dữ liệu địa chính: dữ liệu về lập, chỉnh lý bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi là Giấy chứng nhận), hồ sơ địa chính;
Cơ sở dữ liệu thống kê, kiểm kê đất đai: dữ liệu báo cáo, biểu, bảng số liệu thống kê, kiểm kê đất đai, bản đồ hiện trạng sử dụng đất cấp xã, huyện, tỉnh; dữ liệu
về quản lý sử dụng đất theo chuyên đề được thực hiện theo quyết định của cấp có thẩm quyền;
Cơ sở dữ liệu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất: dữ liệu báo cáo thuyết minh tổng hợp, bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, bản đồ điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp tỉnh, cấp huyện;
Cơ sở dữ liệu giá đất: dữ liệu bảng giá đất, bảng giá đất điều chỉnh, bổ sung;
hệ số điều chỉnh giá đất; giá đất cụ thể; giá trúng đấu giá quyền sử dụng đất; thông tin giá đất trong Phiếu thu thập thông tin về thửa đất
1.2.2 Hiện trạng xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai
Việc ứng dụng công nghệ hiện đại để thu thập, lưu trữ, xử lý, tích hợp và cung cấp dữ liệu đất đai ở dạng số đã được bắt đầu từ những năm 1990 khi công
Trang 24nghệ đo đạc chuyển từ công nghệ Analog, với các máy đo quang cơ sang công nghệ
số (digital) với việc ứng dụng công nghệ GPS và toàn đạc điện tử, ảnh hàng không
và ảnh viễn thám dạng số Để bảo đảm việc tích hợp dữ liệu đồ họa về thửa đất với
dữ liệu thuộc tính về chủ sử dụng và hiện trạng sử dụng đất các nhà nghiên cứu, quản lý và sản xuất tại Trung ương và địa phương đã kế thừa thành tựu của các hãng phần mềm lớn trên thế giới cho ra đời hàng loạt phần mềm nội địa nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính số như: FAMIS & CaDDB, CICAD&
CIDATA, CILIS, PLIS và sau này là ELIS, VILIS, eKLIS, VNLIS,
Trong những năm đầu của thế kỷ 21 việc xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính số
đã được các tỉnh chú trọng đầu tư thích đáng, như Dự án xây dựng cơ sở dữ liệu hồ
sơ địa chính số tại TP Hồ Chí Minh, các tỉnh: Bình Dương, Long An, An Giang, Đồng Nai, Bình Thuận, Đà Nẵng, Bắc Ninh, Hải Phòng, Hà Nam, Nam Định, Nhiều chương trình dự án về xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai đã được triển khai ở cấp Trung ương Các dự án điển hình là xây dựng cơ sở dữ liệu kiểm kê đất đai từ năm 2000, 2010 đến năm 2015 (Sản phẩm phần mềm của dự án này đã được sử dụng trên phạm vi toàn quốc với nhiều lần chỉnh sửa phù hợp với hệ thống mẫu biểu thống kê Đến thời điểm kiểm kê đất đai 2015, toàn bộ các địa phương đã sử dụng phần mềm TK05 để nhập, tổng hợp cơ sở dữ liệu kiểm kê đất đai nộp về Bộ),
dự án xây dựng hệ thống thông tin đất đai và môi trường đã xây dựng hệ thống ELIS, dự án xây dựng cơ sở dữ liệu tích hợp tài nguyên và môi trường và một số dự
án khác Trong quá trình triển khai xây dựng cơ sở dữ liệu số chúng ta cũng đã nhận được sự giúp đỡ rất có hiệu quả của các tổ chức Quốc tế như Chương trình CPLAR
và Chương trình SEMLA của Thụy Điển, Chương trình nâng cấp đô thị do Hiệp hội các đô thị Việt Nam và Hiệp hội đô thị Canada thực hiện Một giải pháp đồng bộ cho việc xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính số đã được đề cập trong dự án "Hoàn thiện và hiện đại hóa hệ thống quản lý đất đai Việt Nam" (tiếng Anh là Vietnam Land Administration Project - viết tắt VLAP) do Ngân hàng thế giới tài trợ với tổng kinh phí (cả vốn vay và vốn đối ứng) lên tới 100 triệu USD nhằm tăng cường sự tiếp cận của mọi đối tượng đối với dịch vụ thông tin đất đai qua việc phát triển một
Trang 25hệ thống quản lý đất đai hoàn thiện ở các địa phương VLAP được xây dựng trên cơ
sở công khai, minh bạch, chính xác, đầy đủ, kịp thời về đăng ký đất đai, thông tin đất đai (bản đồ địa chính và hồ sơ địa chính), chứng nhận quyền sử dụng đất nhằm đáp ứng mọi nhu cầu về thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, bảo vệ quyền lợi của người sử dụng đất, đồng thời đáp ứng mọi nhu cầu thông tin
của cộng đồng
Bài toán quản lý đất đai bằng công nghệ thông tin cũng được giải từ những năm 2005, thông qua các dự án với địa phương về công tác xây dựng cơ sở dữ liệu kiểm kê đất đai định kỳ 5 năm một lần của Bộ Tài nguyên và Môi trường, dự án xây dựng bản đồ nền cơ sở đất đai thành phố Hà Nội (giai đoạn 1) với Sở Kế hoạch Đầu
tư Hà Nội, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai huyện Phú Vang – tỉnh Thừa Thiên Huế,…
Nhìn chung những kết quả đạt được là đáng khích lệ và đã đáp ứng được những đòi hỏi cấp bách của các địa phương trong công tác đăng ký đất đai, lập hồ
sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất, góp phần không nhỏ trong việc bình ổn xã hội, làm tăng thu cho ngân sách thông qua việc thực hiện nghĩa vụ tài chính
Tuy nhiên, cơ sở dữ liệu đất đai hiện nay mới chỉ giới hạn phục vụ trong ngành tài nguyên môi trường là chủ yếu và cũng chủ yếu do ngành tài nguyên và môi trường xây dựng Chính vì lẽ đó hiệu quả chưa cao và đôi khi dẫn đến lãng phí trong đầu tư do đầu tư chồng chéo và thiếu chia sẻ thông tin Trong tương lai, để hội nhập sâu vào nền kinh tế quốc tế, cần hướng đến giải pháp xây dựng một cơ sở dữ liệu đất đai đa mục tiêu, đa người sử dụng và do nhiều cơ quan cùng tham gia xây dựng 1.2.3 Nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai
Song song với quá trình đổi mới của đất nước, công tác quản lý Nhà nước
về đất đai cũng ngày càng hoàn thiện góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng an ninh, hội nhập quốc tế Quá trình quản lý nhà nước về đất đai cần phải xây dựng cơ sở dữ liệu (CSDL) hoàn chỉnh và CSD đất đai theo đó được phát triển trở thành một trong những công cụ hỗ trợ đắc lực cho công tác quản lý Nội
Trang 26dung xây dựng cơ sở dữ liệu đều tuân thủ theo những bước như sau:
* Điều tra thu thập số liệu, tài liệu
- Thu thập các dữ liệu không gian và thuộc tính của địa điểm thực hiện nghiên cứu
- Các số liệu liên quan đến môi trường
- Các dữ liệu về các mặt điều kiện tự nhiên, kinh tế, phường hội, tình hình quản lí sử dụng đất, định hướng sử dụng đất… từ các cơ quan chuyên môn với phương pháp kế thừa có tính chất chọn lọc
- Khảo sát, quan sát thực địa giúp cập nhật và xây dựng nguồn cơ sở
dữ liệu
- Sử dụng các chức năng của phần mềm ứng dụng GIS và các phần mềm
hỗ trợ phân tích, thống kê nguồn dữ liệu đã được xây dựng
* Xây dựng cơ sở dữ liệu
a Nhập dữ liệu không gian
- Sử dụng các phần mềm chuyên ngành như: Microstation, Arc GIS xây dựng biên tập các loại bản đồ:
Trang 27- Lớp cơ sở dữ liệu giao thông gồm các trường thuộc tính: tên đường, loại đường, cấp quản lý, chiều dài, chất lượng, ghi chú
- Lớp cơ sở dữ liệu thủy hệ gồm các trường thuộc tính: mục đích sử dụng, chiều dài, chất lượng, ghi chú
- Lớp cơ sở dữ liệu công trình kinh tế xã hội dạng điểm gồm các trường thuộc tính: đối tượng, tên công trình kinh tế xã hội, diện tích, ghi chú
- Lớp cơ sở dữ liệu hành chính bao gồm các trường thuộc tính: diện tích, dân
số, số hộ hiện trạng, số hộ tồn đọng, số hộ có nóc nhà, diện tích, ghi chú
c Kết nối giữa dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính
Dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính của cùng một thực thể được liên kết với nhau thông qua một trường khóa chính, kiểu dữ liệu của trường khóa này thường là ký tự …, có trong cả cơ sở dữ liệu không gian và cơ sở dữ liệu thuộc tính
1.3 Tổng quan về GIS trong đánh giá quy hoạch sử dụng đất
1.3.1 Tầm quan trọng của GIS
Một hệ thống thông tin địa lý (GIS) cho phép hiển thị các thông tin cơ sở dữ liệu trên một bản đồ trực quan GIS không chứa bất kỳ bản đồ hoặc đồ họa, nó tạo
ra các bản đồ và hình ảnh từ những thông tin có trong cơ sở dữ liệu GIS không phải
là một chương trình lập bản đồ, nó là một kết hợp phức tạp của quản lý cơ sở dữ liệu, công nghệ hiển thị, và các công cụ phân tích có thể được dùng để tạo ra các bản đồ Tất cả các thông tin trong GIS là một tham chiếu đến một địa điểm GIS có thể chứa những hình ảnh của nhiếp ảnh trên không, bức ảnh của nhà cửa, và sàn nhà
kế hoạch của các tòa nhà, và số tiền lớn các văn bản và thông tin thuộc tính, nhưng
nó là tất cả các ràng buộc vào cơ sở dữ liệu theo vị trí của nó trên bề mặt Trái Đất 1.3.2 Định nghĩa
Cùng với sự hình thành và phát triển của GIS cũng có nhiều định nghĩa được đưa ra Tiêu biểu như một số định nghĩa sau:
- Theo ESRI, tập đoàn nghiên cứu và phát triển các phần mềm GIS nổi tiếng, GIS là một tập hợp có tổ chức, có phần cứng, có phần mềm máy tính, dữ liệu địa lý
và con người, được thiết kế nhằm mục đích nắm bắt, lưu trữ, cập nhật, điều khiển
Trang 28và phân tích và hiển thị tất cả các dạng thông tin liên quan đến vị trí địa lý
Tuy nhiên, các khái niệm về GIS đều dựa trên 3 yếu tố quan trọng là: chất lượng
đồ họa, hệ thống vi tính số kỹ thuật cao và khả năng phân tích số liệu không gian
- Theo GS Shunji Murai, người đã có hơn 40 năm làm việc trong lĩnh vực viễn thám và GIS, GIS là một hệ thống thông tin được sử dụng để nhập, lưu trữ, truy vấn, thao tác, phân tích và xuất ra các dữ liệu có tham chiếu địa lý hoặc dữ liệu đại không gian; hỗ trợ và ra quyết định trong việc quy hoạch và quản lý về dụng đất, tài nguyên thiên nhiên, môi trường, giao thông, các tiện ích đô thị và nhiều lĩnh vực khác nhau
Hình 1.1 Các chức năng cơ bản của GIS
1.3.3 Khai thác cơ sở dữ liệu phục vụ đánh giá quy hoạch sử dụng đất
Xây dựng các bài toán ứng dụng nhằm cung cấp thông tin phục vụ cho công tác đánh giá quy hoạch sử dụng đất
Tìm kiếm, kết nối, hiển thị thông tin đất đai, thông tin kinh tế xã hội
Cập nhật thông tin đất đai, thông tin kinh tế xã hội phục vụ đánh giá quy hoạch Phân lớp thông tin
Liên kết thông tin liên quan
Đánh giá tổng hợp số liệu
Nhập dữ liệu
Quản trị dữ liệu
Trình bày, xuất dữ liệu
Phân tích xử lý
dữ liệu
Trang 291.4 Vấn đề nghiên cứu của đề tài
Đối với công tác quản lý đất đai, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ trước mắt mà cả lâu dài, tạo cơ sở pháp lý để
bố trí sử dụng đất đai hợp lý, có hiệu quả, bảo vệ cảnh quan, môi trường, đồng thời đáp ứng được yêu cầu thống nhất quản lý Nhà nước về đất đai Đặc biệt trong giai đoạn thực hiện công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước hiện nay, việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai là yêu cầu cấp thiết đối với mọi cấp, địa bàn, lãnh thổ nhằm phân bố đầy đủ, hợp lý, tiết kiệm đất đai cho các mục đích, đối tượng sử dụng, đáp ứng các yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội
Ở Việt Nam, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai được lập cho cả 4 cấp (quốc gia, tỉnh, huyện, xã) Từ khi Luật đất đai 2013 được áp dụng, nhìn chung công tác QHSDĐ đã được cải tổ và có những chuyển biến tích cực Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề phải giải quyết: khá nhiều phương án QHSDĐ không có tính khả thi cao, việc lựa chọn vị trí quy hoạch chủ yếu thực hiện theo cảm tính, theo sự chỉ đạo của một số
cá nhân, chưa thực sự là một sản phẩm trí tuệ cao, phân bố không gian nhiều khi chưa hợp lý, chưa tính đến các yếu tố tác động của môi trường và xã hội
Bên cạnh đó, việc đánh giá, thẩm định các dự án QHSDĐ cũng mang nặng tính cảm quan Các đánh giá, thẩm định hiện nay thường chỉ xoay quanh vấn đề nhu cầu sử dụng đất mà chưa quan tâm tới tình hình thực hiện quy hoạch, tính hợp lý của phương án quy hoạch không được quan tâm đúng mức, gây nên tình trạng quy hoạch treo, sử dụng không đúng theo quy hoạch, thực hiện quy hoạch kém hiệu quả, thường xuyên phải điều chỉnh, gây tốn kém về kinh tế và ảnh hưởng đến xã hội Thêm vào đó, việc lập kế hoạch sử dụng đất hàng năm chỉ được thực hiện trên giấy
tờ mà chưa đồng bộ với dữ liệu bản đồ, gây nên khó khăn trong quá trình đánh giá thực hiện quy hoạch sử dụng đất
Chính vì vậy việc xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu đồng bộ để đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất là vô cùng quan trọng, đặc biệt đối với thành phố Ninh Bình, là nơi đang rất được quan tâm của các cấp về kinh tế, xã hội, du lịch, cơ sở hạ tầng trong những năm gần đây
Trang 30CHƯƠNG 2
CƠ SỞ KHOA HỌC XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU PHỤC VỤ ĐÁNH GIÁ
QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT 2.1 Khái quát về cơ sở dữ liệu thông tin địa lý
Cơ sở dữ liệu hệ thông tin địa lý là một phần cốt lõi của hệ thống thông tin địa lý Trên thế giới, khái niệm CSDL thông tin địa lý mặc dù có các cách lý giải và định nghĩa khác nhau, song về bản chất thì CSDL thông tin địa lý được hiểu là một
hệ thống dữ liệu địa lý mô tả thế giới thực theo các đơn vị lãnh thổ hành chính, chính trị, hoặc các đơn vị địa lý tự nhiên bất kỳ, đã được định nghĩa trong hệ thống,
do người sử dụng yêu cầu Mỗi đơn vị địa lý (Hành chính - chính trị hoặc đơn vị tự nhiên) có mức cơ sở khác nhau, phụ thuộc vào cấp bậc và quy mô của mỗi đơn vị trong hệ thống phân cấp của chúng; tương đương với mức độ đầy đủ tư liệu và khả năng thu thập, xử lý các thông tin về các đối tượng, hiện tượng địa lý ở đơn vị lãnh thổ đó; tương ứng với một tỷ lệ bản đồ xác định
Hình 2.1 Cấu trúc cơ sở dữ liệu GIS
Cơ sở dữ liệu của hệ thống thông tin địa lý (GIS) gồm có 2 thành phần cơ bản: dữ liệu không gian và dữ liệu phi không gian (dữ liệu thuộc tính) Mỗi loại có
CSDL HỆ THÔNG TIN ĐỊA LÝ
CSDL HỆ THÔNG TIN ĐỊA LÝ CHUYÊN ĐỀ
CSDL GIS không gian chuyên đề
CSDL GIS thuộc
tính chuyên đề
Trang 31những đặc điểm riêng và chúng khác nhau về yêu cầu lưu trữ dữ liệu, hiệu quả, xử
lý và hiển thị Song, chúng luôn liên kết chặt chẽ với nhau một cách có quy luật và luôn song song tồn tại
Cơ sở dữ liệu không gian là cơ sở dữ liệu có chứa trong nó những thông tin
về định vị của đối tượng Nó là những dữ liệu phản ánh, thể hiện những đối tượng
có kích thước vật lý nhất định Nếu là những cơ sở dữ liệu không gian địa lý thì đó
là những dữ liệu phản ánh những đối tượng có trên bề mặt hoặc ở trong vỏ quả đất
Dữ liệu không gian: Để phản ánh không gian từ thế giới thực các đối tượng được mã hoá theo các mô hình dữ liệu: Vector và Raster
Cấu trúc vector:
Cấu trúc vector là dạng cấu trúc dựa trên các điểm có toạ độ để biểu diễn các đối tượng thông qua điểm, đường và vùng với các yếu tố căn bản là điểm, và được biểu diễn trên một hệ thống toạ độ nào đó Đối với các đối tượng được biểu diễn trên mặt phẳng:
- Kiểu đối tượng điểm (point):
Mỗi đối tượng điểm được biểu diễn bởi một cặp tọa độ (x, y)
- Kiểu đối tượng đường (Line): Đối tượng đường được xác định bởi một chuỗi liên tiếp các điểm (Vertex) hay còn gọi là cạnh (senment), điểm bắt đầu và điểm kết thúc của một đường gọi là các nút (node)
- Kiểu đối tượng vùng (Polygons):
Vùng được xác định bởi tập hợp các đường khép kín
Cấu trúc Raster:
Mô hình raster biểu diễn không gian như là một ma trận số nguyên, mỗi giá trị số nguyên đại diện cho một thuộc tính, vị trí của số nguyên chính là vị trí của đối tượng
Liên hệ với thế giới thực: mỗi pixel sẽ tương ứng với một ô nào đó trong thế giới thực
Trong cấu trúc raster:
- Đường được biểu diễn bằng những pixel có cùng giá trị f(x,y) liên tiếp nhau
Trang 32- Vùng được xác định thành một mạng gồm nhiều pixel có cùng giá trị thuộc tính f(x,y)
Dữ liệu phi không gian (Dữ liệu thuộc tính) là những diễn tả đặc tính, số lượng, mối quan hệ của các hình ảnh bản đồ với vị trí địa lý của chúng Dữ liệu phi không gian được gọi là dữ liệu thuộc tính, chúng liên quan đến vị trí địa lý hoặc các đối tượng không gian và liên kết chặt chẽ với dữ liệu không gian Dữ liệu thuộc tính được sắp xếp theo hàng và cột, mỗi hàng bao gồm nhiều loại thông tin về một đối tượng nào đó như tên, diện tích, Mỗi loại thông tin khác nhau này gọi là một trường, mỗi trường được sắp xếp tương ứng với một cột
Trong những năm gần đây, hai xu hướng nổi bật đã tác động sâu sắc và làm thay đổi việc lưu trữ và quản lý dữ liệu GIS Đó là dung lượng lưu trữ dữ liệu mở rộng nhanh chóng và đang tiếp tục tăng lên một cách đáng kể Thứ hai là việc ứng dụng các cơ sở dữ liệu GIS phân tán ngày một tăng Cơ sở dữ liệu phân tán là nguồn dữ liệu cho những người sử dụng có thể truy cập tới các vị trí lưu trữ thông qua mạng Nguyên nhân chính cho việc nghiên cứu, ra đời cách lưu trữ và quản lý
dữ liệu mới là nhằm đem lại cho người sử dụng một hệ thống quản lý dữ liệu hiệu quả nhất Chính vì vậy, phần mềm ArcGIS đã thiết kế mô hình cơ sở dữ liệu GIS Geodatabase nhằm cung cấp các công cụ dùng để triển khai xây dựng và quản lý một hệ thông tin địa lý thông minh
Quan điểm thiết kế các ứng dụng GIS sử dụng công nghệ ESRI ngày nay là đưa toàn bộ các dữ liệu không gian (bao gồm cả dữ liệu đồ họa và thuộc tính, các quan hệ, ) vào một cơ sở dữ liệu Geodatabase Việc thiết kế Geodatabase là thiết
kế lược đồ lớp (Class Diagram)
Geodatabase là một cơ sở dữ liệu chứa dữ liệu thuộc tính, dữ liệu không gian
và quan hệ tồn tại giữa chúng Có thể nói Geodatabase còn là một cơ sở dữ liệu địa
lý hướng đối tượng và được quản lý thông qua một chuẩn Hệ quản trị cơ sở dữ liệu
Vì vây, các thực thi trên đối tượng trong Geodatabase chính là các luật chuẩn hóa, liên kết và quan hệ topology (Hình 2.2) Có hai mô hình Geodatabase: Mô hình Geodatabase một người dùng (Personal Geodatabase) và mô hình Geodatabase
Trang 33nhiều người dùng (Enterprise Geodatabase)
Hình 2.2 Geodatabase trong ArcGIS
Geodatabse là một tập lưu trữ dữ liệu địa lý Tất cả các thành phần trong Geodatabase được quản lý trong các bảng DBMS chuẩn và sử dụng kiểu dữ liệu SQL chuẩn Nó có các thành phần cơ bản:
Bảng 2.1 Các cấu trúc của Geodatabase
Bảng (Table) Là một tập các hàng với các trường giống
nhau Các lớp đối tượng địa lý là các bảng được xác định với trường “shape”
Lớp quan hệ (Relationship class) Là lớp liên kết đối tượng trọng một lớp đối
tượng địa lý với đối tượng trong một lớp đối tượng địa lý khác Thông thường, các lớp quan hệ có các trường do người sử dụng định nghĩa
Topology (Topology) Bao gồm các luật thống nhất về hình học
Trang 34giữa các đối tượng địa lý
(Feature Dataset)
Mạng hình học (Geometric network) Bao gồm các luật cho phép quản lý kết nối
giữa các đối tượng địa lý Tập dữ liệu đo đạc (Survey dataset) Chứa các phép đo được sử dụng trong việc
tính toán tọa độ hình học đối tượng địa lý trong các lớp đối tượng địa lý được đo đạc
Tập dữ liệu Raster (Raster dataset) Là một tập dữ liệu Raster biểu diễn các hiện
tượng địa lý liên tục Tài liệu siêu dữ liệu (Metadata
document)
Là một XML có liên kết với tất cả các tập
dữ liệu, thường được sử dụng trong ArcIMS và các ứng dụng trên máy chủ Công cụ xử lý thông tin địa lý
(Geoprocessing tools)
Là một tập luồng dữ liệu và luồng công việc quản lý, phân tích và mô hình hóa dữ liệu
2.2 Thiết kế mô hình cơ sở dữ liệu đất đai phục vụ đánh giá quy hoạch sử dụng đất
Thiết kế một cơ sở dữ liệu hệ thống thông tin địa lý (CSDL HTTTĐL) bao gồm các bước:
Bước 1 Thiết kế khái niệm
Ở mức thiết kế này là cơ sở hình thành CSDL cần xây dựng, được xây dựng trên cơ sở khảo sát nhu cầu, thông tin, nguồn dữ liệu Xây dựng một sơ đồ tổng quát cho các yêu cầu cho CSDL HTTTĐL Mức thiết kế này không phụ thuộc vào phần cứng hoặc phần mềm Chỉ quan tâm đến các mục tiêu ứng dụng mà người dùng đòi hỏi
Bước 2 Thiết kế logic
Trong mức thiết kế này, CSDL được mô tả chi tiết, bao gồm các hạng mục tin, các mối quan hệ dữ liệu, đặt mức độ chính xác, các thủ tục đảm bảo toàn vẹn dữ liệu Thiết kế logic cũng đưa ra cấu trúc của các thành phần trong CSDL (còn gọi là cấu trúc CSDL) Mức thiết kế này là khởi điểm của các công việc tin học Người thiết kế phải hiểu rõ tính năng của một hệ thống phần mềm quản trị CSDL Trong mức này, người thiết kế đưa ra các phương án để lựa chọn các thành phần của
Trang 35và phần mềm Việc chọn lựa đúng cho xây dựng CSDL đúng đắn phải dựa trên sự hiểu biết của những cơ quan có kinh nghiệm
Mô hình cơ sở dữ liệu sẽ làm nền tảng cho cấu trúc của một cơ sở dữ liệu, nghĩa là liên quan đến phương pháp tổ chức dữ liệu trong một cơ sở dữ liệu khái niệm hoặc liên quan đến cấu trúc logic của dữ liệu trong một cơ sở dữ liệu Trong
đó, những mô hình cơ sở dữ liệu này thường thông qua mô hình dữ liệu phân cấp,
mô hình mạng, và cơ sở dữ liệu quan hệ Có 5 loại mô hình cơ sở dữ liệu:
- Mô hình phân cấp (Hierarchical Model)
- Mô hình mạng (Network Model)
- Mô hình quan hệ (Relationship Model)
- Mô hình quan hệ thực thể (Entity Relationship Model)
- Mô hình hướng đối tượng (Object Oriented Model)
Hiện nay ngôn ngữ UML thường được sử dụng trong xây dựng cơ sở dữ liệu,
là ngôn ngữ mô hình hóa đối tượng phổ biến UML ra mắt vào năm 1996 do Jacobson và Booch viết nên UML được tạo ra nhằm chuẩn hóa ngôn ngữ mô hình hóa, dùng để đặc tả, trực quan hóa và tư liệu hóa phần mềm hướng đối tượng UML
là một ngôn ngữ mô hình hoá thống nhất có phần chính bao gồm những ký hiệu hình học, được các phương pháp hướng đối tượng sử dụng để thể hiện và miêu tả các thiết kế của một hệ thống Nó là một ngôn ngữ để đặc tả, trực quan hoá, xây dựng và làm sưu liệu cho nhiều khía cạnh khác nhau của một hệ thống có nồng độ
Trang 36phần mềm cao UML có thể được sử dụng làm công cụ giao tiếp giữa người dùng, nhà phân tích, nhà thiết kế và nhà phát triển phần mềm Hiện nay các ứng dụng của GIS sử dựng công nghệ của ESRI đều sử dựng UML là ngôn ngữ mô hình hóa chuẩn để thiết kế cơ sở dữ liệu không gian và thuộc tính
Hình 2.3 Các bước mô hình hóa Geodatabase sử dụng UML
Đầu tiên tạo một mô hình đối tượng UML cho cấu trúc Geodatabase Mô hình này có thể dựa trên mẫu sẵn có được cung cấp bởi ESRI trong ArcGIS Những mẫu này được tích hợp trong Microsoft Visio hay Rational Software Corporation’s Rational Rose và có thể tìm thấy trong CASE Tools trong bộ cài ArcGIS Các mẫu này bao gồm lược đồ UML của mô hình đối tượng ArcGIS cần thiết để mô hình hóa một Geodatabase Sau khi tạo được và kiểm tra mô hình, cần phải xuất nó ra file XML hay Microsoft Repository Định dạng lựa chọn phụ thuộc vào phần mềm mô hình hóa XMI (XML Metadata Interchange) được sử dụng nhiều hơn Repository
Có thể tạo lược đồ Geodatabase cho mô hình dữ liệu sử dụng ESRI Schema Wizard trong ArcCatalog
Ngôn ngữ mô hình hóa UML cũng được Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định là ngôn ngữ biểu diễn mô hình cấu trúc dữ liệu địa lý
Trang 37Luận văn này sử dụng chương trình Microsoft Visio (MS.Visio) để thiết kế
mô hình cơ sở dữ liệu MS.Visio là một chương trình vẽ sơ đồ thông minh, được tích hợp vào bộ Microsoft Office từ phiên bản MS2003 MS.Visio cho phép thể hiện bản vẽ một cách trực quan Hơn nữa, trong ArcGIS có tệp Visio ArcInfo UML Models mẫu Lược đồ ArcInfo UML Model bao gồm các đối tượng cần thiết sử
dụng UML để mô hình hóa cơ sở dữ liệu không gian
2.3 Thu thập dữ liệu
- Các dữ liệu không gian:
+ Thu thập dữ liệu bằng công nghệ viễn thám
+ Quét bản đồ giấy có sẵn (scanning)
+ Dữ liệu số hoá khác
+ Chuyển đổi dữ liệu vector sang dạng raster
+ Thu thập dữ liệu bằng công nghệ viễn thám để tạo ra những bản đồ chi tiết + Thu thập dữ liệu ảnh hàng không, thiết bị bay không người lái(uav)để tạo
ra những bản đồ chi tiết
+ Số hoá bản đồ quét cho trước
+ Đo đạc thực địa và thu nạp toạ độ thủ công
+ Chuyển đổi từ những dữ liệu khác như microstation, cad, mapinfo, + Chuyển đổi dữ liệu raster sang vector
- Kiểm tra độ chính xác của dữ liệu cả dữ liệu không gian và thuộc tính
2.4 Chuẩn hóa cơ sở dữ liệu
Cơ sở dữ liệu hiện nay được xây dựng theo các chuẩn, với từng ngành có những chuẩn cơ sở dữ liệu khác nhau Chuẩn thông tin địa lý là hệ thống các tiêu chuẩn về cách thức, qui định cách mô tả, biểu thị, cách xây dựng cơ sở dữ liệu từ
Trang 38nhận thức thế giới thực đến cơ sở dữ liệu địa lý được lưu trữ theo cấu trúc, khuôn dạng nào đó Các thành phần trong cơ sở dữ liệu và các phần tử trong mô hình, tất
cả các yếu tố này đều được qui định theo các chuẩn thống nhất Chuẩn thông tin địa
lý GIS được chia ra làm 2 loại:
- Chuẩn thông tin địa lý cơ sở (thông tin nền địa lý)
- Chuẩn thông tin địa lý ứng dụng (thông tin chuyên đề)
Các chuẩn được thực hiện trong cơ sở dữ liệu (về cơ bản tuân theo chuẩn kỹ thuật quốc gia về thông tin địa lý do Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành)
2.4.1 Chuẩn mô hình cấu trúc dữ liệu địa lý
- Ngôn ngữ biểu diễn mô hình cấu trúc dữ liệu địa lý
Sử dụng ngôn ngữ UML để biểu diễn các lược đồ khái niệm và lược đồ lược đồ ứng dụng trong định nghĩa thông tin địa lý cơ sở và các loại thông tin địa lý khác
Giới hạn áp dụng UML trong định nghĩa mô hình cấu trúc dữ liệu địa lý được quy định cụ thể như sau:
Gói UML (UML package) được sử dụng để biểu diễn một mô hình cấu trúc
dữ liệu của một chủ đề dữ liệu địa lý
Lớp UML (UML class) được sử dụng để biểu diễn một kiểu đối tượng địa lý, hoặc một kiểu dữ liệu trong một mô hình cấu trúc dữ liệu, biểu diễn các khái niệm trong các mô hình khái niệm
Các yêu cầu khi xây dựng lớp UML: tên lớp là duy nhất, các thuộc tính của lớp có thể được xác định trực tiếp trong lớp đó hoặc gián tiếp thông qua các quan hệ với các lớp khác, xác định các quan hệ mà lớp tham gia với các lớp khác
Quan hệ (Relationship) được sử dụng để biểu diễn mối quan hệ giữa các lớp UML hoặc giữa các gói UML: liên kết (Association); tổng quát hoá (Generalization); kết tập (Aggregation); tổ hợp (Composition); phụ thuộc Dependency)
Mẫu phân loại (Stereotype) được áp dụng cho một lớp UML hoặc một gói UML để biểu diễn một loại cấu trúc dữ liệu cụ thể
Định nghĩa thuộc tính cho lớp UML
Trang 39Quy tắc đặt tên gói, lớp UML
- Các kiểu dữ liệu nguyên thủy sau được áp dụng khi định nghĩa mô hình cấu trúc dữ liệu địa lý
+ Kiểu dữ liệu số (Number)
+ Kiểu dữ liệu số nguyên (Integer)
+ Kiểu dữ liệu số thực (Real)
+ Kiểu dữ liệu xâu kí tự (CharacterString)
+ Kiểu dữ liệu ngày-tháng-năm (Date)
+ Kiểu dữ liệu giờ:phút:giây (Time)
+ Kiểu dữ liệu ngày - giờ (DateTime)
+ Kiểu dữ liệu logic (Boolean)
- Mô hình đối tượng địa lý tổng quát
Mô hình đối tượng địa lý tổng quát dùng để mô hình hóa các đặc tính cơ bản của kiểu đối tượng địa lý nhằm mục đích: Phân loại và định nghĩa kiểu đối tượng địa lý trong danh mục đối tượng địa lý hoặc trong lược đồ ứng dụng; quy định cấu trúc và nội dung danh mục đối tượng địa lý; quy định lược đồ trình bày dữ liệu địa lý
Các đặc tính cơ bản của kiểu đối tượng địa lý bao gồm: Tên gọi của kiểu đối tượng địa lý; định nghĩa hoặc mô tả về kiểu đối tượng địa lý; các thuộc tính của kiểu đối tượng địa lý; các quan hệ liên kết; các quan hệ tổng quát hóa và chi tiết hóa
Mô hình đối tượng địa lý tổng quát dùng để mô hình hóa các đặc tính cơ bản của kiểu đối tượng địa lý nhằm mục đích: Phân loại và định nghĩa kiểu đối tượng địa
lý trong danh mục đối tượng địa lý hoặc trong lược đồ ứng dụng; quy định cấu trúc
và nội dung danh mục đối tượng địa lý; quy định lược đồ trình bày dữ liệu địa lý
Các đặc tính cơ bản của kiểu đối tượng địa lý bao gồm: Tên gọi của kiểu đối tượng địa lý; định nghĩa hoặc mô tả về kiểu đối tượng địa lý; các thuộc tính của kiểu đối tượng địa lý; các quan hệ liên kết; các quan hệ tổng quát hóa và chi tiết hóa
- Các quy tắc xây dựng lược đồ ứng dụng
Các quy tắc xây dựng lược đồ ứng dụng được áp dụng để: Mô tả các kiểu đối tượng địa lý được định nghĩa theo mô hình đối tượng địa lý tổng quát; định