1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sáng kiến toàn cầu về Trẻ em ngoài nhà trường - BÌNH ĐẲNG GIÁO DỤC ĐỂ TẤT CẢ TRẺ EM ĐƯỢC ĐẾN TRƯỜNG

180 83 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 180
Dung lượng 4,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Báo cáo đã phân tích thực trạng và đưa ra bằng chứng về trẻ em ngoài nhà trường; trẻ em có nguy cơ bỏ học tức là những em có thể trở thành trẻ em ngoài nhà trường trong tương lai; phân t

Trang 1

ÊN

TAI

GIÀ U-N GH ÈO

N NG Ữ

BẠ

O LỰ

C H

ƯỜ NG

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BÌNH ĐẲNG GIÁO DỤC ĐỂ TẤT CẢ TRẺ EM ĐƯỢC ĐẾN TRƯỜNG

Sáng kiến toàn cầu về

Trẻ em ngoài nhà trường

TRƯỜNG 2016

Trang 5

LỜI NÓI ĐẦU

“Báo cáo Trẻ em ngoài nhà trường: Nghiên cứu của Việt Nam 2016”, sau đây gọi tắt là “Báo cáo”, là phiên bản cập nhật của “Báo cáo Trẻ em ngoài nhà trường: Nghiên cứu của Việt Nam 2013” đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố Trẻ em ngoài nhà trường gồm trẻ em ở độ tuổi 5-14 tuổi chưa từng đi học hoặc đã từng đi học nhưng bỏ học

Nghiên cứu được Bộ GD&ĐT chủ trì thực hiện trong khuôn khổ “Sáng kiến toàn cầu về trẻ em ngoài nhà trường” của Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) và Viện Thống kê (UIS) của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO)1

Báo cáo đã phân tích thực trạng và đưa ra bằng chứng về trẻ em ngoài nhà trường; trẻ em có nguy cơ bỏ học tức là những em có thể trở thành trẻ em ngoài nhà trường trong tương lai; phân tích các rào cản và các vướng mắc làm hạn chế khả năng đến trường của các em; từ

đó đưa ra các khuyến nghị nhằm giảm thiểu số lượng trẻ em ngoài nhà trường, bảo đảm bình đẳng giáo dục và quyền học tập của mọi trẻ em ở Việt Nam, đặc biệt là các nhóm trẻ em thiệt thòi Kết quả nghiên cứu góp phần phục vụ công tác quản lý giáo dục, lập kế hoạch, nghiên cứu và vận động chính sách của các Bộ ngành và chính quyền địa phương và các cơ quan nghiên cứu có liên quan của Chính phủ Việt Nam; đáp ứng nhu cầu thông tin của các tổ chức quốc tế và các cơ quan khác có quan tâm trong nỗ lực chung nhằm giảm thiểu số trẻ

em ngoài nhà trường, thực hiện bình đẳng trong giáo dục cho mọi trẻ em, đặc biệt là các nhóm trẻ em thiệt thòi ở Việt Nam Đây cũng là mục tiêu của Tuyên bố về giáo dục dành cho thanh thiếu niên và trẻ em ngoài nhà trường được Thủ tướng Chính phủ Việt Nam ký tại hội nghị thượng đỉnh Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) tại Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào năm 2016

Nghiên cứu sử dụng kết hợp hai phương pháp định lượng và định tính Số lượng và những đặc điểm của trẻ em ngoài nhà trường của cả nước và 8 tỉnh, thành phố thuộc Chương trình Tỉnh Bạn hữu Trẻ em hợp tác với UNICEF (Lào Cai, Điện Biên, Ninh Thuận, Kon Tum, Gia Lai, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Tháp và An Giang) được phân tích định lượng dựa trên số liệu của mẫu 15% Tổng điều tra dân số và nhà ở

2009 và Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ 2014 Để hiểu biết sâu sắc hơn về trẻ em ngoài nhà trường, Báo cáo đã bổ sung phân tích trẻ em ngoài nhà trường theo 6 vùng, 5 nhóm mức sống và theo đa biến các đặc điểm Các rào cản và vướng mắc được phân tích dựa trên kết quả khảo sát định tính tại 6 trong 8 tỉnh, thành phố nêu trên trong nửa đầu năm 2016 (Lào Cai, Ninh Thuận, Kon Tum, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Tháp và An Giang)

Báo cáo được Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì biên soạn, với sự hỗ trợ kỹ thuật của chuyên gia tư vấn Quá trình hoàn thiện có sự tham gia đóng góp ý kiến của các đơn vị thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo và các cơ quan trung ương, gồm: Cục Trẻ em của Bộ Lao động, Thương binh

và Xã hội, Hội đồng Dân tộc của Quốc hội, Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên Nhi đồng của Quốc Hội, Tổng cục Thống kê, các tổ chức Liên hợp quốc tại Việt Nam và các chuyên gia từ UNICEF và UNESCO khu vực Sự phối hợp và hỗ trợ nhiệt tình của Sở Giáo dục

và Đào tạo, Phòng Giáo dục và Đào tạo, một số Ủy ban Nhân dân cấp huyện/xã và các Ban ngành liên quan, một số trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, một số phụ huynh, một số học sinh có nguy cơ bỏ học hoặc đã bỏ học ở 6 tỉnh triển khai khảo sát thực địa đã góp phần giá trị trong phần tích định tính của báo cáo Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc tại Việt Nam đã hỗ trợ kỹ thuật và tài chính cho việc biên soạn và phổ biến báo cáo

Bộ Giáo dục và Đào tạo và Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc tại Việt Nam chân thành cảm ơn các tổ chức và cá nhân đã tham gia đóng góp cho việc hoàn thiện Báo cáo này

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 5

DANH MỤC BẢNG 8

DANH MỤC HÌNH 10

CÁC TỪ VIẾT TẮT 12

BÁO CÁO TÓM TẮT 15

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 21

1.1 Sáng kiến toàn cầu về trẻ em ngoài nhà trường và năm thành tố loại trừ 22

1.1.1 Sáng kiến toàn cầu về trẻ em ngoài nhà trường 22

1.1.2 Năm thành tố loại trừ 22

1.2 Hệ thống giáo dục quốc dân 24

1.3 Bối cảnh quốc gia 26

1.4 Phương pháp nghiên cứu, khái quát về số liệu và những hạn chế của nghiên cứu 27

1.4.1 Phương pháp nghiên cứu 27

1.4.2 Khái quát về số liệu và những cân nhắc trong phân tích 29

1.4.3 Những hạn chế của nghiên cứu 29

CHƯƠNG 2:TỔNG QUAN VỀ TRẺ EM NGOÀI NHÀ TRƯỜNG 31

2.1 Đặc điểm của trẻ em độ tuổi đi học mầm non, tiểu học và trung học cơ sở 32

2.2 Thành tố 1: Trẻ em ngoài nhà trường độ tuổi 5 tuổi 34

2.3 Thành tố 2: Trẻ em ngoài nhà trường độ tuổi tiểu học 43

2.3.1 Tình trạng đi học của trẻ em độ tuổi tiểu học 43

2.3.2 Trẻ em ngoài nhà trường độ tuổi tiểu học 49

2.4 Thành tố 3: Trẻ em ngoài nhà trường độ tuổi trung học cơ sở 56

2.4.1 Tình trạng đi học của trẻ em độ tuổi trung học cơ sở 56

2.4.2 Trẻ em ngoài nhà trường độ tuổi trung học cơ sở 67

2.5 Thành tố 4 và 5: Trẻ em có nguy cơ bỏ học 75

2.5.1 Trẻ em 5-17 tuổi thôi học 75

2.5.2 Trình độ học vấn của trẻ em 5-17 tuổi thôi học 83

2.5.3 Học quá tuổi 86

Trang 7

2.6 Phân tích số liệu của 8 tỉnh được chọn 91

2.6.1 Một số đặc điểm dân số 91

2.6.2 Tình trạng đi học 93

2.6.3 Trẻ em ngoài nhà trường 112

2.6.4 Thôi học và đi học quá tuổi 118

2.7 Tóm tắt các phát hiện 128

CHƯƠNG 3: CÁC RÀO CẢN VÀ CHÍNH SÁCH 133

3.1 Nhóm rào cản kinh tế về phía cầu 134

3.1.1 Thực trạng 134

3.1.2 Chính sách và biện pháp hiện hành 136

3.1.3 Chính sách và biện pháp được đề xuất 138

3.2 Nhóm rào cản văn hóa - xã hội về phía cầu 139

3.2.1 Thực trạng 139

3.2.2 Chính sách, biện pháp hiện hành 140

3.2.3 Chính sách, biện pháp được đề xuất 141

3.3 Nhóm rào cản và vướng mắc về phía cung .142

3.3.1 Thực trạng .142

3.3.2 Chính sách và biện pháp hiện hành 149

3.3.3 Chính sách, biện pháp được đề xuất 151

3.4 Phân tích tóm tắt các rào cản và chính sách .155

CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN 159

4.1 Tóm tắt các phát hiện, các rào cản chính và các chính sách, biện pháp được đề xuất .160

4.1.1 Tóm tắt các phát hiện 160

4.1.2 Tóm tắt các rào cản chính và các chính sách, biện pháp được đề xuất .161

4.2 Nguồn số liệu để xây dựng Báo cáo và các khuyến nghị nhằm cải thiện nguồn số liệu này trong tương lai 164

4.3 Kết luận 164

TÀI LIỆU THAM KHẢO 166

PHỤ LỤC 167

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng tóm tắt số lượng trẻ em ngoài nhà trường năm 2009 và 2014 16

Bảng 2.1: Dân số trẻ em chia theo nhóm tuổi đi học năm 2009 và 2014 32

Bảng 2.2: Phân bố trẻ em chia theo nhóm tuổi đi học năm 2009 và 2014 33

Bảng 2.3: Tình trạng đi học và trẻ em ngoài nhà trường của trẻ em 5 tuổi năm 2009 và 2014 35

Bảng 2.4: Tỷ lệ trẻ em ngoài nhà trường ở độ tuổi 5 tuổi năm 2009 và 2014 37

Bảng 2.5: Trẻ em ngoài nhà trường độ tuổi 5 tuổi năm 2014 41

Bảng 2.6: Trẻ em đi học đúng tuổi tiểu học năm 2009 và 2014 44

Bảng 2.7: Trẻ em đi học đúng tuổi tiểu học có điều chỉnh năm 2009 và 2014 có chỉ số cân bằng giới 46

Bảng 2.8: Trẻ em ngoài nhà trường độ tuổi tiểu học năm 2009 và 2014 50

Bảng 2.9: Trẻ em ngoài nhà trường độ tuổi tiểu học năm 2014 54

Bảng 2.10: Trẻ em đi học đúng tuổi trung học cơ sở năm 2009 và 2014 57

Bảng 2.11: Trẻ em đi học đúng tuổi trung học cơ sở có điều chỉnh và chỉ số cân bằng giới năm 2009 và 2014 59

Bảng 2.12: Trẻ em độ tuổi trung học cơ sở đi học các lớp tiểu học năm 2009 và 2014 63

Bảng 2.13: Trẻ em ngoài nhà trường độ tuổi trung học cơ sở năm 2009 và 2014 68

Bảng 2.14: Trẻ em ngoài nhà trường độ tuổi trung học cơ sở năm 2014 72

Bảng 2.15: Số trẻ em ngoài nhà trường chia theo nhóm tuổi và giới tính năm 2009 và 2014 74

Bảng 2.16: Phân loại trẻ em ngoài nhà trường 74

Bảng 2.17: Tình trạng đi học phân theo độ tuổi và các đặc điểm khác của trẻ em 5-17 tuổi năm 2009 và 2014 76

Bảng 2.18: Trẻ em thôi học chia theo độ tuổi và giới tính năm 2009 và 2014 78

Bảng 2.19: Trẻ em độ tuổi tiểu học thôi học năm 2009 và 2014 80

Bảng 2.20: Trẻ em độ tuổi trung học cơ sở thôi học năm 2009 và 2014 81

Bảng 2.21: Trình độ học vấn của trẻ em ngoài nhà trường 5-17 tuổi năm 2009 84

Bảng 2.22: Trình độ học vấn của trẻ em ngoài nhà trường 5-17 tuổi năm 2014 85

Bảng 2.23: Tỷ lệ đi học các lớp tiểu học và trung học cơ sở chia theo độ tuổi năm 2009 87

Bảng 2.24: Tỷ lệ đi học các lớp tiểu học và trung học cơ sở chia theo độ tuổi năm 2014 88

Bảng 2.25: Tỷ lệ đi học quá tuổi và trước tuổi chia theo lớp năm 2009 89

Bảng 2.26: Tỷ lệ đi học quá tuổi và trước tuổi chia theo lớp năm 2014 89

Bảng 2.27: Phân bố tỷ lệ dân số của các nhóm chia theo tỉnh năm 2009 và 2014 92

Bảng 2.28: Tỷ lệ đi học của trẻ em 5 tuổi chia theo tỉnh năm 2009 và 2014 94

Bảng 2.29: Tỷ lệ đi học của trẻ em 5 tuổi chia theo tỉnh năm 2009 và 2014 95

Bảng 2.30: Tỷ lệ đi học của trẻ em 5 tuổi chia theo tỉnh năm 2009 và 2014 96

Trang 9

Bảng 2.31: Tỷ lệ đi học của trẻ em 5 tuổi chia theo tỉnh năm 2009 và 2014 97

Bảng 2.32: Tỷ lệ đi học của trẻ em 5 tuổi chia theo tỉnh năm 2009 và 2014 98

Bảng 2.33: Tỷ lệ đi học mầm non 5 tuổi hoặc tiểu học của trẻ em 5 tuổi chia theo tỉnh năm 2009 và 2014 99

Bảng 2.34: Tỷ lệ đi học đúng tuổi tiểu học có điều chỉnh chia theo tỉnh năm 2009 và 2014 102

Bảng 2.35: Tỷ lệ đi học đúng tuổi trung học cơ sở có điều chỉnh và tỷ lệ đi học tiểu học chia theo tỉnh năm 2009 và 2014 106

Bảng 2.36: Tỷ lệ đi học đúng tuổi trung học cơ sở có điều chỉnh và tỷ lệ đi học tiểu học chia theo tỉnh năm 2009 và 2014 107

Bảng 2.37: Tỷ lệ đi học đúng tuổi trung học cơ sở có điều chỉnh và tỷ lệ đi học tiểu học chia theo tỉnh năm 2009 và 2014 108

Bảng 2.38: Tỷ lệ trẻ em ngoài nhà trường độ tuổi tiểu học chia theo tỉnh năm 2009 và 2014 113

Bảng 2.39: Tỷ lệ trẻ em ngoài nhà trường độ tuổi trung học cơ sở chia theo tỉnh năm 2009 và 2014 116

Bảng 2.40: Tình trạng đi học của trẻ em độ tuổi tiểu học chia theo tỉnh năm 2009 và 2014 119

Bảng 2.41: Tình trạng đi học của trẻ em độ tuổi tiểu học chia theo tỉnh năm 2009 và 2014 120

Bảng 2.42: Tình trạng đi học của trẻ em độ tuổi tiểu học chia theo tỉnh năm 2009 và 2014 121

Bảng 2.43: Tình trạng đi học của trẻ em độ tuổi trung học cơ sở chia theo tỉnh năm 2009 và 2014 123

Bảng 2.44: Tình trạng đi học của trẻ em độ tuổi trung học cơ sở chia theo tỉnh năm 2009 và 2014 124

Bảng 2.45: Tình trạng đi học của trẻ em độ tuổi trung học cơ sở chia theo tỉnh năm 2009 và 2014 125

Bảng 2.46: Tình trạng đi học quá tuổi ở các lớp tiểu học chia theo tỉnh năm 2009 và 2014 126

Bảng 2.47: Tình trạng đi học quá tuổi ở các lớp trung học cơ sở chia theo tỉnh năm 2009 và 2014 127

Bảng 2.48: Số lượng trẻ em ngoài nhà trường năm 2009 và 2014 129

PL 1: Phân bố trẻ em theo tuổi năm 2014 167

PL 2: Phân bố nhóm tuổi đi học theo nhóm tuổi năm 2014 168

PL 3: Phân bố dân số của tỉnh năm 2014 172

PL 4: Dân số 5 tuổi năm 2014 174

PL 5: Dân số 6 - 10 tuổi năm 2014 175

PL 6: Dân số 11 - 14 tuổi năm 2014 176

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1: Năm thành tố loại trừ 23

Hình 1.2: Cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam 24

Hình 2.1: Tỷ lệ trẻ em ngoài nhà trường độ tuổi 5 tuổi năm 2009 và 2014 39

Hình 2.2: Tỷ lệ trẻ em ngoài nhà trường độ tuổi 5 tuổi chia theo vùng và nhóm mức sống năm 2014 39

Hình 2.3: Tỷ lệ đi học đúng tuổi tiểu học có điều chỉnh năm 2009 và 2014 48

Hình 2.4: Tỷ lệ đi học đúng tuổi tiểu học có điều chỉnh chia theo vùng và nhóm mức sống năm 2014 49

Hình 2.5: Tỷ lệ trẻ em ngoài nhà trường độ tuổi tiểu học năm 2009 và 2014 52

Hình 2.6: Tỷ lệ trẻ em ngoài nhà trường độ tuổi tiểu học chia theo vùng và nhóm mức sống năm 2014 52

Hình 2.7: Tỷ lệ đi học đúng tuổi trung học cơ sở có điều chỉnh năm 2009 và 2014 62

Hình 2.8: Tỷ lệ đi học đúng tuổi trung học cơ sở có điều chỉnh chia theo vùng và nhóm mức sống năm 2014 62

Hình 2.9: Tỷ lệ trẻ em độ tuổi trung học cơ sở đang học các lớp tiểu học năm 2009 và 2014 66

Hình 2.10: Tỷ lệ trẻ em độ tuổi trung học cơ sở đang học các lớp tiểu học chia theo vùng và nhóm mức sống năm 2014 66

Hình 2.11: Tỷ lệ trẻ em ngoài nhà trường độ tuổi trung học cơ sở năm 2009 và 2014 70

Hình 2.12: Tỷ lệ trẻ em ngoài nhà trường độ tuổi trung học cơ sở chia theo vùng và nhóm mức sống năm 2014 70

Hình 2.13: Tỷ lệ trẻ em thôi học chia theo tuổi và giới tính năm 2009 và 2014 79

Hình 2.14: Tỷ lệ trẻ em thôi học chia theo tuổi, giới tính và nhóm mức sống năm 2014 79

Hình 2.15: Tỷ lệ thôi học độ tuổi trung học cơ sở chia theo giới tính và dân tộc Khmer và Mông 82

Hình 2.16: Tỷ lệ thôi học chia theo cấp tiểu học và trung học cơ sở năm 2014 83

Hình 2.17: Tỷ lệ thôi học chia theo lớp và cấp học năm 2014 83

Hình 2.18: Tỷ lệ trẻ em ngoài nhà trường 5-17 tuổi chia theo lớp đã học xong năm 2009 và 2014 86

Hình 2.19: Tỷ lệ đi học quá tuổi ở các lớp tiểu học và trung học cơ sở năm 2009 và 2014 90

Hình 2.20: Phân bố dân số 5-14 tuổi của các nhóm chia theo tỉnh năm 2009 và 2014 93

Hình 2.21: Tỷ lệ đi học mầm non hoặc tiểu học của trẻ em 5 tuổi chia theo tỉnh năm 2009 và 2014 100

Hình 2.22: Tỷ lệ đi học mầm non hoặc tiểu học của trẻ em 5 tuổi chia theo dân tộc năm 2009 và 2014 101

Hình 2.23: Tỷ lệ đi học đúng tuổi tiểu học có điều chỉnh chia theo tỉnh năm 2009 và 2014 103

Hình 2.24: Tỷ lệ đi học đúng tuổi tiểu học có điều chỉnh chia theo tỉnh và dân tộc năm 2009 và 2014 104

Trang 11

Hình 2.25: Tỷ lệ đi học đúng tuổi tiểu học có điều chỉnh chia theo tỉnh và giới tính năm 2009 và 2014 105

Hình 2.26: Tỷ lệ đi học đúng tuổi trung học cơ sở có điều chỉnh và đi học tiểu học chia theo tỉnh và dân tộc năm 2009 và 2014 109

Hình 2.27: Tỷ lệ đi học đúng tuổi trung học cơ sở có điều chỉnh và đi học tiểu học chia theo tỉnh và dân tộc năm 2009 và 2014 110

Hình 2.28: Tỷ lệ đi học đúng tuổi trung học cơ sở có điều chỉnh chia theo tỉnh và giới tính năm 2009 và 2014 111

Hình 2.29: Tỷ lệ trẻ em độ tuổi trung học cơ sở học tiểu học chia theo tỉnh năm 2009 và 2014 112

Hình 2.30: Tỷ lệ trẻ em độ tuổi trung học cơ sở học tiểu học chia theo dân tộc và tỉnh năm 2014 112

Hình 2.31: Tỷ lệ trẻ em ngoài nhà trường độ tuổi tiểu học chia theo tỉnh năm 2009 và 2014 114

Hình 2.32: Tỷ lệ trẻ em ngoài nhà trường độ tuổi tiểu học chia theo tỉnh và dân tộc năm 2009 và 2014 115

Hình 2.33: Tỷ lệ trẻ em ngoài nhà trường độ tuổi tiểu học chia theo tỉnh và theo tình trạng di cư năm 2014 115

Hình 2.34: Tỷ lệ trẻ em ngoài nhà trường độ tuổi trung học cơ sở chia theo tỉnh năm 2009 và 2014 117

Hình 2.35: Tỷ lệ trẻ em ngoài nhà trường độ tuổi trung học cơ sở chia theo tỉnh và dân tộc năm 2009 và 2014 117

Hình 2.36: Tỷ lệ trẻ em ngoài nhà trường độ tuổi trung học cơ sở chia theo tỉnh và tình trạng di cư năm 2014 118

Hình 2.37: Tình trạng đi học quá tuổi ở các lớp tiểu học và trung học cơ sở chia theo tỉnh năm 2009 và 2014 128

Hình 3.1: Chi giáo dục, đào tạo bình quân 1 người đi học trong 12 tháng qua chia theo khoản chi, Khảo sát mức sống 2002-2014 149

Hình 3.2: Dân số và học sinh chia theo độ tuổi, cấp học và năm 157

Trang 12

CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 13

THCS Trung học cơ sở

UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc

Trang 14

© UNICEF

Trang 15

BÁO CÁO TÓM TẮT

“Báo cáo Trẻ em ngoài nhà trường: Nghiên cứu của Việt Nam

2016”, sau đây gọi tắt là “Báo cáo” được biên soạn trong khuôn

khổ “Sáng kiến toàn cầu về trẻ em ngoài nhà trường” do Quỹ

Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) và Viện Thống kê của Tổ chức

Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp quốc (UNESCO) khởi

xướng “ Trẻ em ngoài nhà trường (TENNT) gồm trẻ em ở độ tuổi

5-14 tuổi chưa từng đi học hoặc đã từng đi học nhưng bỏ học

Mục tiêu của sáng kiến này nhằm giảm thiểu số lượng TENNT trên

toàn thế giới bằng cách:

Xây dựng một hồ sơ đầy đủ và toàn diện nhất có thể

về số lượng và các đặc điểm của TENNT, hay nói theo

phương pháp luận của sáng kiến này là những trẻ em

bị loại trừ khỏi giáo dục thông qua sử dụng các phương

pháp thống kê sáng tạo và nhất quán;

Kết nối hồ sơ này với các rào cản, vướng mắc dẫn đến

tình trạng bị loại trừ khỏi giáo dục;

Từ đó xác định và thúc đẩy thực hiện các chính sách để

giải quyết tình trạng bị loại trừ này

Báo cáo sử dụng kết hợp hai phương pháp nghiên cứu định lượng

và định tính

Phương pháp định lượng phân tích thực trạng và đặc điểm của

TENNT, áp dụng Mô hình năm thành tố loại trừ khỏi giáo dục

trong Sáng kiến toàn cầu về TENNT do UNICEF và Viện Thống kê

của UNESCO tiến hành (xem Chương 2) Nguồn số liệu cho phân

tích định lượng gồm mẫu 15% Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt

Nam (TĐTDS) 2009, và Điều tra dân số giữa kỳ (ĐTDSGK) 2014 Lý

do sử dụng hai nguồn số liệu điều tra này là: hệ thống thống kê

định kỳ của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) chưa thu thập đầy đủ

số liệu về TENNT, trong khi hai cuộc điều tra này có số liệu về tình

trạng đi học của từng người dân và các đặc điểm cá nhân và của

hộ gia đình họ (độ tuổi, giới tính, dân tộc, tình trạng khuyết tật,

nơi cư trú, tình trạng di cư, mức sống), từ đó có thể phân tích chéo

TENNT và trẻ em có nguy cơ bỏ học với các đặc điểm này để hiểu rõ

hơn TENNT là ai và nguyên nhân trở thành TENNT

Phương pháp định tính được sử dụng để hiểu rõ hơn một số phát

hiện chính của nghiên cứu định lượng và để xác định những rào

cản và vướng mắc hiện nay ngăn trẻ em đến trường Nhóm công

tác của Vụ Kế hoạch – Tài chính, Bộ GD&ĐT và một chuyên gia tư vấn đã đi khảo sát thực tế trong nửa đầu năm 2016 tại 6 tỉnh/thành phố, gồm Lào Cai, Ninh Thuận, Kon Tum, Tp Hồ Chí Minh, Đồng Tháp và An Giang Nhóm công tác đã làm việc với Lãnh đạo Ủy ban nhân dân (UBND) và các phòng, ban liên quan của 6 huyện/quận thuộc 6 tỉnh/thành phố này để nắm tình hình TENNT trên địa bàn, tìm hiểu các biện pháp đã áp dụng để giải quyết vấn đề TENNT, tìm hiểu các rào cản, vướng mắc còn tồn tại và các khuyến nghị cho thời gian tới Ở mỗi huyện/quận, Nhóm công tác

đã đi khảo sát thực tế 1 trường mầm non, 1 trường tiểu học và 1 trường trung học cơ sở (THCS) để nắm tình hình TENNT trên địa bàn; thảo luận nhóm với một số giáo viên và cha mẹ của học sinh, với một số trẻ em có nguy cơ bỏ học hoặc đã bỏ học để hiểu về các rào cản và vướng mắc Cuối cùng, Nhóm công tác đã làm việc với lãnh đạo Sở GD&ĐT và các phòng, ban liên quan của Sở để nắm tình hình TENNT chung toàn tỉnh, tìm hiểu về các biện pháp của

© UNICEF Việt Nam\2017\Trương Việt Hùng

Trang 16

tỉnh đã áp dụng để giải quyết vấn đề TENNT trong thời gian vừa

qua, thảo luận và thống nhất về các rào cản và vướng mắc làm

hạn chế khả năng đến trường của trẻ em trên địa bàn tỉnh hiện

nay và phương hướng để giảm thiểu TENNT trong thời gian tới

Báo cáo phân tích thực trạng của TENNT, thực trạng của trẻ em

đang đi học tiểu học và THCS nhưng có nguy cơ bỏ học, tức là

những em có thể trở thành TENNT trong tương lai; phân tích các

rào cản và các vướng mắc làm hạn chế khả năng đến trường của

các em; từ đó đưa ra các khuyến nghị nhằm giảm thiểu số lượng

TENNT, bảo đảm bình đẳng giáo dục và quyền học tập của mọi trẻ

em ở Việt Nam Để hiểu biết sâu sắc hơn về TENNT, Báo cáo đã bổ

sung phân tích TENNT theo 6 vùng, 5 nhóm mức sống và theo đa

biến các đặc điểm, ví dụ theo dân tộc và giới trong mỗi dân tộc

Báo cáo phân tích chung cả nước và 8 tỉnh/ thành phố được chọn

để nghiên cứu, gồm: Lào Cai, Điện Biên, Ninh Thuận, Kon Tum,

Gia Lai, Tp Hồ Chí Minh, Đồng Tháp và An Giang Tuổi của trẻ em

trong Báo cáo này được tính theo cách tính tuổi của ngành GD&ĐT

(tức là lấy năm khai giảng trừ năm sinh) nên số liệu trong Báo cáo

có thể so sánh được với số liệu liên quan của năm học 2008-2009

hoặc 2013-2014 của ngành GD&ĐT

Báo cáo đưa ra các phát hiện ở cấp quốc gia và các phát hiện ở 8 tỉnh

Các phát hiện ở cấp quốc gia bao gồm:

Các phát hiện chung:

1) Tỷ lệ trẻ em 5 tuổi ngoài nhà trường năm 2014 là 6,7%, tương đương với khoảng 99,2 nghìn em, giảm gần một nửa so với con số 12,2% của năm 2009;

2) Tỷ lệ trẻ em 6-10 tuổi ngoài nhà trường năm 2014 là 2,5%, tương đương với khoảng 180,5 nghìn em, giảm gần một nửa so với con số 4% của năm 2009;

3) Tỷ lệ trẻ em 11-14 tuổi ngoài nhà trường năm 2014 là 8,1%, tương đương với khoảng 435,7 nghìn em, giảm gần 1/3 so với năm 2009 (11,2%);

4) Tổng số TENNT ở lứa tuổi 5-14 tuổi năm 2014 là 715,4

em, giảm 36,5% so với 2009 (1.127,3 nghìn em), trong

đó giảm mạnh nhất là ở độ tuổi mầm non 5 tuổi (giảm 43,6%)

Bảng tóm tắt số lượng trẻ em ngoài nhà trường năm 2009 và 2014

Các phát hiện liên quan đến thành thị hay nông thôn:

1) Tỷ lệ TENNT ở khu vực nông thôn cao hơn thành thị và sự

chênh lệch giữa hai khu vực tăng theo độ tuổi;

2) Năm 2014, tỷ lệ TENNT ở nông thôn cao hơn thành thị

1,5 lần ở độ tuổi tiểu học và 1,7 lần ở độ tuổi THCS

Các phát hiện liên quan đến vùng:

1) Vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có tỷ lệ TENNT

độ tuổi 5 tuổi cao nhất (14,7%), cao gấp gần 6 lần vùng

Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH), vùng có tỷ lệ TENNT độ tuổi 5 tuổi thấp nhất (2,5%) Trẻ em 5 tuổi ở nông thôn vùng Trung du miền núi phía Bắc (TDMNPB) thiệt thòi hơn ở thành thị trong đi học mẫu giáo: tỷ lệ TENNT 5 tuổi ở nông thôn cao hơn thành thị 3,3 lần (5,3% so với 1,6%);

2) Hai vùng ĐBSCL và Tây Nguyên (TN) có tỷ lệ TENNT độ tuổi tiểu học và THCS cao nhất (độ tuổi tiểu học: 4,2% và 4%; độ tuổi THCS: 14,0% và 12,9%) Vùng ĐBSH có tỷ lệ TENNT ở độ tuổi tiểu học và THCS thấp nhất (tương ứng

Trang 17

là 0,8% và 2%) tỷ lệ TENNT của vùng ĐBSCL và TN cao

hơn vùng ĐBSH 5 lần ở độ tuổi tiểu học và 6-7 lần ở độ

tuổi THCS Trẻ em độ tuổi tiểu học và THCS ở nông thôn

đều thiệt thòi hơn ở thành thị ở tất cả các vùng, trong đó

thiệt thòi nhất là trẻ em nông thôn của 2 vùng TDMNPB

và TN, thể hiện qua tỷ lệ TENNT độ tuổi tiểu học ở nông

thôn vùng TDMNPB và TN cao hơn thành thị tương ứng

là 2,9 và 1,5 lần; độ tuổi THCS tương ứng là 3,8 và 2,3 lần,

cao hơn các vùng còn lại

Các phát hiện về giới:

1) Chênh lệch giới về TENNT độ tuổi 5 tuổi và tiểu học là rất

nhỏ Đến độ tuổi THCS, sự chênh lệch giới trở nên rõ hơn,

với tỷ lệ TENNT ở trẻ em trai cao hơn trẻ em gái (năm

2009 trai là 11,8% và gái là 10,5%; năm 2014 tương ứng

là 8,6% và 7,5%);

2) Chênh lệch giới về TENNT ở đa số các nhóm dân tộc thiểu

số (DTTS) đều theo xu hướng trẻ em trai có ít cơ hội đi học

hơn trẻ em gái, nhưng riêng dân tộc Mông có xu hướng

ngược lại Trẻ em gái dân tộc Mông có ít cơ hội đi học hơn

trẻ em trai, đặc biệt ở độ tuổi THCS Năm 2014, tỷ lệ trẻ

em gái dân tộc Mông độ tuổi THCS đi học đúng tuổi đạt

52,7%, tăng gấp đôi so với 24,4% của năm 2009, nhưng

vẫn thấp hơn con số này của trẻ em trai năm 2014 là

66,7%;

3) Chênh lệch giới về TENNT giữa trẻ em gái di cư độ tuổi

THCS sau 5 năm đã được cải thiện so với trẻ em trai cùng

nhóm, tuy sự cải thiện này còn mong manh Chỉ số cân

bằng giới (GPI) của nhóm di cư độ tuổi THCS chạm ngưỡng

cân bằng giới 0,97, tức là trẻ em gái di cư độ tuổi THCS

được coi là bình đẳng so với trẻ em trai vào năm 2014 Tuy

nhiên, do GPI mới chạm ngưỡng tối thiểu 0,97 nên sự bình

đẳng này có thể dễ trở thành không bình đẳng

Các phát hiện liên quan đến dân tộc:

1) Tỷ lệ TENNT ở cả ba độ tuổi năm 2014 của các nhóm DTTS

đều giảm đáng kể so với năm 2009 Dân tộc Khmer và

Mông tuy có tiến bộ đáng kể sau 5 năm, nhưng vẫn có tỷ

lệ TENNT cao nhất so với các nhóm dân tộc khác ở cả 3 độ

tuổi;

2) Đáng chú ý là tỷ lệ TENNT của trẻ em 5 tuổi dân tộc

Khmer ở thành thị lại cao hơn đáng kể so với nông thôn

(33,5% so với 19,8%) Điều này cho thấy tuy sống ở

thành thị, thường có các điều kiện và môi trường thuận

lợi hơn, nhưng trẻ em 5 tuổi dân tộc Khmer vẫn không có

lợi thế đi học hơn so với các bạn mình ở nông thôn Dân

tộc Khmer và Mông có tỷ lệ TENNT ở cả hai khu vực thành thị và nông thôn cao nhất so với các dân tộc khác (Khmer tương ứng là 27,2% và 23,9%; dân tộc Mông tương ứng

là 23,6% và 28,8%);

3) Nhóm nghèo nhất của dân tộc Khmer và Mông có tỷ lệ TENNT cao nhất ở cả ba độ tuổi so với các dân tộc khác, trong khi ở nhóm giàu nhất tất cả trẻ em ở ba độ tuổi đều được đi học

Các phát hiện liên quan đến tình trạng di cư:

1) Có sự khác biệt về tỷ lệ TENNT giữa nhóm trẻ em di cư và nhóm trẻ em không di cư Sự khác biệt tăng khi độ tuổi tăng;

2) Năm 2014, trẻ em trong các gia đình di cư có tỷ lệ TENNT cao hơn các gia đình không di cư 1,2 lần ở độ tuổi 5 tuổi, 1,6 lần ở độ tuổi tiểu học, và 1,7 lần ở độ tuổi THCS

Các phát hiện liên quan đến tình trạng mức sống:

1) Có sự khác biệt lớn về TENNT giữa nhóm hộ gia đình nghèo nhất và giàu nhất, đặc biệt càng ở cấp học cao hơn sự khác biệt này càng lớn Ở độ tuổi 5 tuổi, tỷ lệ TENNT của nhóm hộ nghèo nhất cao hơn nhóm giàu nhất gần 3 lần, ở độ tuổi tiểu học là 5,5 lần và ở độ tuổi THCS là 10 lần;

2) Trẻ em ở cả ba độ tuổi thuộc nhóm nghèo nhất đều bị thiệt thòi hơn các bạn mình ở nhóm giàu nhất ở tất cả các vùng, trừ vùng ĐBSH đối với trẻ em 5 tuổi, trong đó thiệt thòi nhất là ở ba vùng TDMNPB, Tây Nguyên và ĐBSCL

Các phát hiện ở 8 tỉnh bao gồm:

1) Có sự chênh lệch lớn giữa 8 tỉnh được chọn Năm 2014, Lào Cai, Điện Biên, Kon Tum và Tp Hồ Chí Minh có tỷ lệ đến trường độ tuổi 5 tuổi cao hơn các tỉnh còn lại An Giang và Đồng Tháp có tỷ lệ huy động trẻ em độ tuổi 5 tuổi ra lớp thấp nhất trong 8 tỉnh;

2) Gia Lai có tỷ lệ TENNT độ tuổi tiểu học năm 2014 cao nhất; An Giang cao thứ hai Tp Hồ Chí Minh và Đồng Tháp có tỷ lệ này thấp nhất, thấp hơn bình quân cả nước; các tỉnh còn lại đều cao hơn bình quân cả nước;

3) Gia Lai có tỷ lệ TENNT độ tuổi THCS năm 2014 cao nhất, cao thứ hai là Ninh Thuận và An Giang Tp Hồ Chí Minh có

tỷ lệ này thấp nhất, thấp hơn bình quân cả nước; các tỉnh còn lại đều cao hơn bình quân cả nước

Trang 18

Có một số rào cản và vướng mắc gây ra tình trạng trên, gồm các

rào cản kinh tế và các rào cản văn hóa, xã hội về phía cầu, tức

là phía trẻ em và gia đình các em có nhu cầu được đi học Rào

cản kinh tế về phía cầu chủ yếu là tình trạng nghèo đói làm hạn

chế khả năng chi trả của gia đình cho các chi phí học tập của con

em họ Các rào cản kinh tế khác về phía cầu gồm trẻ em phải lao

động sớm, trẻ em di cư, và hậu quả của biến đổi khí hậu và thiên

tai Các rào cản văn hóa xã hội về phía cầu là những rào cản làm

giảm nhu cầu của gia đình cho con em họ đi học Những rào cản

này nằm ngay trong các gia đình, cộng đồng và trong những tập

tục lâu đời mà gia đình, cộng đồng vẫn còn lưu giữ Ở Việt Nam,

vấn đề lớn liên quan tới các rào cản văn hóa, xã hội về phía cầu là

thiếu nhận thức về giá trị lâu dài của giáo dục, từ đó dẫn tới thiếu

sự tham gia thực sự hiệu quả của gia đình và cộng đồng vào giáo

dục Các rào cản văn hóa, xã hội khác về phía cầu gồm: kết quả

học tập kém, trẻ không muốn đi học; thiếu sự quan tâm của cha

mẹ; các quy chuẩn văn hóa trong một số nhóm DTTS đặt phụ nữ

và trẻ em gái vào vị trí phụ thuộc vào nam giới; và tảo hôn Ngoài

ra, còn có một số ít là TENNT do bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS, mồ

côi, trẻ em đường phố, trẻ em bị buôn bán và trẻ em rơi vào hoàn

cảnh đặc biệt khác

Các rào cản về phía cung liên quan tới cơ sở hạ tầng, nguồn lực,

giáo viên và môi trường học tập làm ảnh hưởng đến việc nhập học

và tiếp tục ở lại trường của trẻ em Đồng thời, áp lực học tập và

thiếu điều kiện vui chơi giải trí ở trường đã gây nhiều sức ép cho

học sinh, làm một bộ phận học sinh DTTS và học sinh học yếu bỏ

học hoặc có nguy cơ bỏ học

Trong giai đoạn từ 2010 đến nay, Việt Nam đã có nhiều chính

sách hiệu quả nhằm giảm thiểu TENNT, như chính sách phổ cập

mầm non 5 tuổi, miễn giảm học phí và hỗ trợ chi phí học tập cho

học sinh là các đối tượng thiệt thòi, trong đó có trẻ em DTTS

Tuy nhiên, những hạn chế trong quá trình triển khai thực hiện,

mức hỗ trợ còn thấp trong khi tình trạng kinh tế của các gia đình

nghèo còn rất khó khăn đã gây ra những khoảng trống trong công

tác hỗ trợ giáo dục đối với trẻ em thiệt thòi

Nhiều sáng kiến hay đã được hình thành thông qua hợp tác

phát triển và đã được nhân rộng ra toàn quốc để hỗ trợ những

đối tượng chưa được tiếp cận giáo dục có chất lượng Các chương

trình như thành lập các trường dân tộc nội trú, dân tộc bán trú,

tiếp cận các chương trình học dựa trên cơ sở tiếng mẹ đẻ, sử dụng

giáo viên và trợ giảng là người DTTS ở tại địa phương và áp dụng

mô hình học cả ngày đều phù hợp và cần thiết để đảm bảo cho số

trẻ em 5-14 tuổi còn lại của Việt Nam được tiếp cận giáo dục công

bằng và chất lượng Những chương trình như vậy cho đến nay

hầu hết đã được thực hiện bằng nguồn vốn của Chính phủ hoặc

vốn vay và đều cố gắng theo hướng nhân rộng trên toàn quốc Tuy

nhiên, ngân sách nhà nước hạn hẹp là nguyên nhân chủ yếu hạn chế việc nhân rộng

Việt Nam có hệ thống an sinh xã hội với 5 thành phần: bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, cứu trợ xã hội, trợ giúp

và ưu đãi xã hội nhằm phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro sinh kế Người nghèo đã được hỗ trợ với nhiều chính sách đặc thù Tuy vậy, chưa có các chính sách an sinh xã hội đặc thù và phù hợp với dân cư nông thôn và các vùng DTTS, miền núi có điều kiện sống khó khăn2; chất lượng của các dịch vụ xã hội, đặc biệt là dịch vụ y tế

ở các vùng nghèo vẫn còn thấp Người di cư đến khu vực thành thị, khu công nghiệp, chế xuất chỉ được tiếp cận các chương trình bảo trợ xã hội một cách hạn chế3

Với thực trạng vẫn còn TENNT như phân tích trong Báo cáo này thì còn cần rất nhiều nỗ lực để giải quyết các thách thức và rào cản về nhiều mặt để bảo đảm quyền học tập của mọi trẻ em Việt Nam Báo cáo này đưa ra một số khuyến nghị nhằm giảm thiểu số TENNT và giảm nguy cơ bỏ học ở trẻ em Cụ thể như sau:

1 Thực hiện hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020, các chính sách bảo hiểm xã hội và bảo trợ xã hội liên quan đến giáo dục và TENNT Tăng cường các biện pháp ngăn ngừa ‘lao động trẻ em’;

2 Tiếp tục thực hiện tốt phổ cập giáo dục và các chính sách

hỗ trợ hiện hành cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn nhất Tạo điều kiện thuận lợi cho tất cả trẻ di cư được đi học ở nơi đến với tư cách là “Quyền” được học Cắt giảm các chi phí gián tiếp về giáo dục cho các hộ gia đình đặc biệt khó khăn;

3 Mở rộng mạng lưới điểm trường mầm non 5 tuổi, tiểu học gần nhà học sinh ở khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa Tăng cường nguồn lực hỗ trợ mô hình học cả ngày ở các trường vùng khó khăn đặc biệt cho trẻ em DTTS Tăng cường môi trường trường học thân thiện, hòa nhập, an toàn, hứng thú và hấp dẫn;

4 Tiếp tục nâng cao khả năng tiếng Việt cho học sinh DTTS, trong đó nhân rộng mô hình “Giáo dục song ngữ trên cơ sở tiếng mẹ đẻ” ra các địa phương vùng DTTS một cách phù hợp và hiệu quả;

5 Tiếp tục ưu tiên đầu tư cho học sinh DTTS để giảm bớt khó khăn, tạo ra cơ hội học tập cho tất cả trẻ em; nhân

2 http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Thong-tin-ly-luan/2012/15184/ An-sinh-xa-hoi-o-nuoc-ta-Mot-so-van-de-ly.aspx.

3 http://www.actionaid.org/sites/files/actionaid/policy_brief_vietnamese_ version_final.pdf.

Trang 19

rộng những tấm gương tiêu biểu trong học tập, từ đó

làm nhân tố thúc đẩy động cơ học tập của người dân nói

chung và trẻ em nói riêng;

6 Tăng cường giáo viên là người DTTS ở địa phương hoặc

giáo viên biết tiếng dân tộc ở nơi họ đến dạy học và giáo

viên được đào tạo về dạy hòa nhập cho trẻ khuyết tật;

7 Tăng cường công tác quản lý các trường phổ thông dân

tộc bán trú ở khu vực dân tộc, miền núi xa xôi hẻo lánh

nhất;

8 Thực hiện hiệu quả các chính sách hỗ trợ trẻ em khuyết

tật đến trường theo Luật người khuyết tật năm 2010;

Xây dựng mới các “Trung tâm hỗ trợ giáo dục hòa nhập”

ở những địa phương có điều kiện phù hợp và có nhiều

trẻ khuyết tật trong độ tuổi mầm non, tiểu học và THCS;

9 Phối hợp tốt hơn giữa nhà trường, gia đình và xã hội

trong việc nắm số lượng và vận động TENNT đến trường;

10 Xóa bỏ triệt để tư tưởng “trọng nam khinh nữ”, thực hiện

tốt các quyền bình đẳng và đánh giá công bằng;

11 Đẩy mạnh việc rà soát, sửa đổi, bổ sung và thực hiện tốt

các chính sách đãi ngộ đối với giáo viên;

12 Tập trung nguồn lực thực hiện hiệu quả “Chương trình

giáo dục phổ thông” theo Nghị quyết của Quốc hội;

13 Tiếp tục thực hiện Chiến lược phát triển giáo dục

2011-2020, với nội dung đổi mới quản lý giáo dục, tăng nguồn lực đầu tư và đổi mới cơ chế tài chính giáo dục;

có chính sách miễn học phí cho mầm non 5 tuổi và THCS

14 Tăng cường giám sát và đánh giá việc thực hiện các chỉ tiêu về TENNT Tăng cường công tác thống kê giáo dục

để có số liệu chính xác, đầy đủ và kịp thời về TENNT và trẻ em bỏ học;

15 Lồng ghép chính sách ứng phó với biến đổi khí hậu vào quy trình lập kế hoạch và dự toán ngân sách và xây dựng báo cáo đánh giá kết quả thực hiện chính sách của ngành GD&ĐT;

16 Thúc đẩy và giám sát việc đưa vấn đề TENNT vào công tác lập kế hoạch và dự toán ngân sách giáo dục, lồng ghép vào ‘Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội’ từ trung ương đến địa phương, thực hiện Mục tiêu phát triển bền vững số 4

về giáo dục;

17 Ưu tiên lồng ghép các nguồn lực để triển khai thành công “Kế hoạch thực hiện mục tiêu phát triển bền vững lĩnh vực giáo dục và đào tạo đến năm 2025 và định hướng đến năm 2030” (Ban hành kèm theo Quyết định

số 2161/QĐ-BGDĐT ngày 26/6/2017 của Bộ Giáo dục và Đào tạo); trong đó tập trung nâng cao các chỉ số huy động dân số trong các độ tuổi ra lớp, giảm TENNT

© UNICEF Việt Nam\2017\Colorista Hoàng Hiệp

Trang 20

© UNICEF

Trang 21

“Báo cáo Trẻ em ngoài nhà trường: Nghiên cứu của Việt Nam

2016”, sau đây gọi tắt là “Báo cáo”, là phiên bản cập nhật của “Báo

cáo Trẻ em ngoài nhà trường: Nghiên cứu của Việt Nam 2013” đã

được Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) công bố Trẻ em ngoài nhà

trường (TENNT) gồm trẻ em ở độ tuổi 5-14 tuổi chưa từng đi học

hoặc đã từng đi học nhưng đã bỏ học

Báo cáo được Bộ GD&ĐT chủ trì biên soạn trong khuôn khổ “Sáng

kiến toàn cầu về trẻ em ngoài nhà trường” của Quỹ Nhi đồng Liên

hợp quốc (UNICEF) và Viện Thống kê của Tổ chức Giáo dục, Khoa

học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO)4

Báo cáo phân tích thực trạng của TENNT ở độ tuổi 5-14 tuổi; thực

trạng của trẻ em đang đi học tiểu học và trung học cơ sở (THCS)

nhưng có nguy cơ bỏ học, tức là những em có thể trở thành TENNT

4 http://www.unicef.org/education/bege_61659.html

trong tương lai; phân tích các rào cản và các vướng mắc làm hạn chế khả năng đến trường của các em; từ đó đưa ra các khuyến nghị nhằm giảm thiểu số lượng TENNT, bảo đảm bình đẳng giáo dục và quyền học tập của mọi trẻ em ở Việt Nam, đặc biệt là các nhóm trẻ em thiệt thòi

Báo cáo gồm 4 chương Chương 1 giới thiệu tóm tắt Sáng kiến toàn cầu về TENNT, hệ thống giáo dục quốc dân, bối cảnh quốc gia, phương pháp nghiên cứu, khái quát về số liệu và những hạn chế của nghiên cứu Chương 2 phân tích về TENNT Chương 3 phân tích những rào cản và những vướng mắc khiến trẻ em chưa từng được đi học, bỏ học hoặc có nguy cơ bỏ học, và rà soát, phân tích các chính sách liên quan đến vấn đề TENNT và những vấn đề còn bất cập của chính sách Chương 4 đưa ra các khuyến nghị để giải quyết vấn đề TENNT

Trang 22

1.1 Sáng kiến toàn cầu về trẻ em ngoài nhà trường

Sáng kiến toàn cầu về TENNT được UNICEF và Viện Thống kê của

UNESCO khởi xướng từ năm 2010 và đã được thực hiện ở trên 50

quốc gia đang phát triển Mục đích của sáng kiến này là nhằm cải

thiện thông tin thống kê và công tác phân tích về TENNT, nghiên

cứu kỹ lưỡng các yếu tố gây nên tình trạng bị loại trừ khỏi giáo

dục và các chính sách hiện hành nhằm nâng cao cơ hội tiếp cận

giáo dục, đồng thời đề cập các thiếu hụt về số liệu, phân tích và

chính sách Mục tiêu là đưa ra một phương pháp tiếp cận có hệ

thống hơn về vấn đề TENNT và đề xuất các cải cách cụ thể trong

lĩnh vực giáo dục, cả về biện pháp quản lý, kế hoạch và chính

sách Nghiên cứu của từng quốc gia được tiến hành và kết quả

được chia sẻ trong nghiên cứu của vùng, nghiên cứu toàn cầu và

hội nghị toàn cầu nhằm tìm kiếm nhiều hơn các nguồn lực cho

mục tiêu bình đẳng giáo dục6

1.1.2 Năm thành tố loại trừ

Năm thành tố loại trừ là tên gọi tắt của Mô hình năm thành tố

loại trừ khỏi giáo dục được sử dụng làm khung phân tích của

Sáng kiến toàn cầu về TENNT

Trong năm thành tố này, 3 thành tố đầu đề cập đến TENNT và 2

thành tố cuối đề cập đến trẻ em có nguy cơ bỏ học Theo UNICEF

và Viện Thống kê của UNESCO, thuật ngữ “loại trừ” đối với nhóm

TENNT được hiểu là các em bị loại trừ khỏi giáo dục; còn đối với

nhóm trẻ em có nguy cơ bỏ học thì được hiểu là các em bị loại trừ

trong giáo dục vì các em có thể gặp phải những hành động hoặc

những thái độ mang tính phân biệt trong trường học Cụ thể:

Thành tố 1 gồm TENNT ở độ tuổi mầm non, tức là những trẻ em

độ tuổi mầm non không đi học mầm non hoặc tiểu học

Thành tố 2 gồm TENNT ở độ tuổi tiểu học, tức là những trẻ em độ

tuổi tiểu học không đi học tiểu học hoặc THCS

Thành tố 3 gồm TENNT ở độ tuổi THCS, tức là những trẻ em độ

tuổi THCS không đi học tiểu học hoặc THCS

Thành tố 4 và Thành tố 5 tập trung vào những trẻ em đang đi

học nhưng có nguy cơ bỏ học Hiểu rõ hơn về nhóm trẻ em này

Trẻ em đang học THCS nhưng có nguy cơ bỏ học

Năm thành tố loại trừ (5 Dimensions of Exclusion)

Trang 23

Đã đi học nhưng bỏ học

Sẽ đi học sau bao giờ đi Sẽ không

học

Đã đi học nhưng đã

bỏ học

Sẽ đi học sau bao giờ đi Sẽ không

Có một số lưu ý quan trọng liên quan tới năm thành tố này Hình

dáng và màu sắc của Thành tố 1 ở hình trên hoàn toàn khác biệt

với các thành tố khác là để thấy giáo dục mầm non là một giai

đoạn quan trọng chuẩn bị cho các em bước vào tiểu học nên nó

cần được phân biệt với tiểu học và các cấp học cao hơn Thành tố 1

đại diện cho nhóm trẻ em không được hưởng lợi từ chương trình

giáo dục mầm non, do đó các em có thể không được chuẩn bị đầy

đủ trước khi bước vào tiểu học Điều này có thể khiến các em dễ rơi

vào nguy cơ không đi học tiểu học hoặc nếu có đi học thì các em

có nguy cơ bỏ học vì không theo kịp bạn bè Trẻ em theo học các

chương trình giáo dục mầm non không chính quy cần được xác

định là một nhóm riêng nếu có số liệu

Thành tố 2 và Thành tố 3 về TENNT đều được chia thành ba mục

riêng bổ trợ cho nhau dựa trên sự tiếp cận với giáo dục trong

quá khứ và tương lai: trẻ đã từng đi học và bỏ học, trẻ chưa từng

đi học và trẻ sẽ đi học trong tương lai Một số TENNT ở độ tuổi tiểu học hoặc THCS có thể đang học mầm non hoặc theo học hệ thống giáo dục không chính quy, những em này cần được phân tích riêng

Trẻ em thuộc Thành tố 4 và 5 là trẻ đang đi học nhưng có nguy

cơ bỏ học, được phân nhóm theo cấp học mà các em đang theo học, bất kể độ tuổi: tiểu học (Thành tố 4) hoặc THCS (Thành tố 5) Hai thành tố này khác với Thành tố 2 và 3 vì Thành tố 2 và 3 phân nhóm các học sinh ngoài nhà trường theo độ tuổi: độ tuổi tiểu học (Thành tố 2) và độ tuổi THCS (Thành tố 3) Như vậy khung trên bao hàm hai nhóm dân số khác nhau: nhóm TENNT độ tuổi đi học và nhóm học sinh có nguy cơ bỏ học ở bất kỳ độ tuổi nào trong trường tiểu học hoặc THCS

Trang 24

1.2 Hệ thống giáo dục quốc dân

Hệ thống giáo dục quốc dân gồm giáo dục chính quy và giáo dục

thường xuyên Các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo

dục quốc dân bao gồm: a) Giáo dục mầm non có nhà trẻ (từ 3

tháng đến dưới 3 tuổi) và mẫu giáo (từ 3 đến 5 tuổi); b) Giáo dục

phổ thông có tiểu học (lớp 1 đến lớp 5), THCS (lớp 6 đến lớp 9),

và trung học phổ thông (THPT) (lớp 10 đến lớp 12), với kỳ thi đầu

vào và kỳ thi cuối cấp; c) Giáo dục nghề nghiệp có (i) sơ cấp nghề (là một lựa chọn thay thế cho giáo dục THCS) và (ii) trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề (là một lựa chọn thay thế cho giáo dục THPT); d) Giáo dục cao đẳng, đại học và sau đại học (sau đây gọi chung là giáo dục đại học) đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ

Hình 1.2: Cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam

Tiến sỹ (3-4 năm)

Cao đẳng (2-3 năm)

Thạc sỹ định hướng nghiên cứu (1-2 năm)

Đại học định hướng nghiên cứu (3-5 năm)

Trung học phổ thông (3 năm)

Thạc sỹ định hướng ứng dụng (1-2 năm)

Đại học định hướng ứng dụng (3-5 năm)

Chú thích:

Chuyển đổi cùng cấp Chuyển tiếp giữa các cấp

Trang 25

Đầu tư của Chính phủ cho giáo dục ở Việt Nam đã tăng trong 5

năm qua Chi ngân sách cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo trong

tổng chi ngân sách nhà nước đã tăng từ 12,1% năm 2010 lên

15,7% năm 20147

Quản lý giáo dục mầm non, tiểu học và THCS được phân cấp cho

cấp huyện và THPT được phân cấp cho cấp tỉnh Bộ GD&ĐT quy

định chương trình giảng dạy; xuất bản sách giáo khoa và đặt ra

các nguyên tắc giảng dạy và đánh giá Chi cho giáo dục mầm non

và giáo dục phổ thông (gồm tiểu học, THCS và THPT) chủ yếu lấy

từ ngân sách nhà nước Hầu hết các trường ở Việt Nam đều là

trường công lập do Chính phủ quản lý mặc dù khu vực tư nhân

hoạt động trong lĩnh vực giáo dục cũng đang dần phát triển

7 Niên giám Thống kê 2015, TCTK; số liệu chỉ tính riêng chi sự nghiệp, nếu tính

tổng chi cho GDĐT thì đạt 20% chi ngân sách nhà nước từ 2010 và ổn định

đến nay.

Đến tháng 9 năm 1989, giáo dục phổ thông Việt Nam vẫn được miễn học phí Tuy nhiên, sau thời điểm này chỉ có giáo dục tiểu học được miễn học phí; Giáo dục mẫu giáo và trung học8 bắt đầu thu học phí và được sử dụng để góp phần bảo đảm chi phí cho các hoạt động giáo dục

Những trẻ em có hoàn cảnh khó khăn nhất, ví dụ trẻ khuyết tật, học sinh phổ thông dân tộc nội trú, bán trú ở khu vực DTTS, trẻ em thuộc các cộng đồng dân tộc thiểu số rất ít người9, trẻ em con liệt

sỹ và thương binh nặng, trẻ em ở các trung tâm bảo trợ xã hội, trẻ

em sống ở các vùng xa xôi hẻo lánh, trẻ em thuộc các hộ nghèo theo quy định được miễn hoặc giảm học phí, được hỗ trợ chi phí học tập hoặc được hỗ trợ ăn trưa Cụ thể về các đối tượng được hỗ trợ sẽ được trình bày trong Chương 3

8 Giáo dục mầm non 5 tuổi và THCS là giáo dục phổ cập, nhưng học sinh vẫn phải đóng học phí.

9 Ví dụ: Si La [709 người], Pu Péo [687 người], Rơ Măm [436 người], Brâu [397 người], Ơ Đu [376 người] – Nguồn: Viện Dân tộc, Ủy ban dân tộc, 2009.

Trang 26

1.3 Bối cảnh quốc gia

Việt Nam giáp với Vịnh Thái Lan, Vịnh Bắc Bộ, Biển Đông, Trung

Quốc, Lào và Căm-pu-chia Việt Nam có diện tích là 331.210 km

vuông, với đường bờ biển dài 3.444 km Việt Nam có khí hậu nhiệt

đới gió mùa, địa hình núi non hiểm trở và thường bị tác động bởi

thiên tai và biến đổi khí hậu Hàng năm Việt Nam phải hứng chịu

nhiều cơn bão nhiệt đới nguy hiểm dọc bờ biển, những trận lũ lớn,

đặc biệt là ở Nam Trung bộ và Đồng bằng sông Cửu Long Theo

đánh giá của UNDP, Việt Nam nằm trong tốp 5 nước đứng đầu thế

giới dễ bị tổn thương nhất và tổn thương trực tiếp bởi quá trình

biến đổi khí hậu

Việt Nam có 54 dân tộc, trong đó theo Tổng điều tra dân số và

nhà ở 2009, dân tộc Kinh (Việt) chiếm đa số (85,7%); các dân tộc

thiểu số chính gồm dân tộc Tày (1,9%), dân tộc Thái (1,8%), dân

tộc Mường (1,5%), dân tộc Khmer (1,5%), dân tộc Mông (1,2%),

dân tộc Nùng (1,1%), và 5,3% là các dân tộc khác; 25% dân số của

Việt Nam có độ tuổi từ 0-14, 69,5% có độ tuổi từ 15-64 và 5,5%

từ 65 tuổi trở lên

Cộng đồng các dân tộc thiểu số tạo cho Việt Nam những nét độc

đáo và phong phú về phong tục, tập quán đậm đà bản sắc của

mỗi dân tộc, trong đó có rất nhiều phong tục, tập quán quý cần

phát huy, nhưng cũng còn có những phong tục, tập quán lạc hậu

cần khắc phục

Tỷ lệ biết chữ của dân số 15 tuổi trở lên của Việt Nam khá cao

(94%); 86,7% dân số được sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh và

54% dân số được sử dụng hố xí hợp vệ sinh10

Năm 2010, Việt Nam đã trở thành nước có thu nhập trung bình

(thấp) nhờ tăng trưởng kinh tế nhanh trong vòng hai mươi năm

trở lại đây và giảm tỷ lệ nghèo từ 58,1% năm 1993 xuống còn

13,5% năm 201411 Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế

giới năm 2007, trở thành thành viên không thường trực của Hội

đồng bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008-2009 và giữ chức chủ

tịch Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á năm 2010

10 Điều tra dân số giữa kỳ 2014.

Trang 27

1.4 Phương pháp nghiên cứu, khái quát về số liệu và những hạn chế của nghiên cứu

1.4.1 Phương pháp nghiên cứu

Báo cáo sử dụng kết hợp hai phương pháp nghiên cứu định lượng

và định tính

Phương pháp định lượng phân tích thực trạng và đặc điểm của

TENNT, áp dụng Mô hình năm thành tố loại trừ khỏi giáo dục trong

Sáng kiến toàn cầu về TENNT do UNICEF và Viện Thống kê của

UNESCO tiến hành Nguồn số liệu cho phân tích định lượng gồm

mẫu 15% Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam (TĐTDS) 2009, và

Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ (ĐTDSGK) 2014 Lý do sử dụng hai

nguồn số liệu điều tra này là do hệ thống thống kê định kỳ của Bộ

GD&ĐT chưa thu thập đầy đủ số liệu về TENNT, trong khi hai cuộc

điều tra này có số liệu về tình trạng không đi học của từng người

dân và các đặc điểm cá nhân và của hộ gia đình họ (độ tuổi, giới

tính, dân tộc, tình trạng khuyết tật, nơi cư trú, tình trạng di cư,

mức sống), từ đó có thể phân tích chéo TENNT và trẻ em có nguy cơ

bỏ học với các đặc điểm này để hiểu rõ hơn TENNT là ai và nguyên

nhân trở thành TENNT Lý do nữa là cỡ mẫu của mẫu 15% TĐTDS

2009 (3.366.600 hộ) và của ĐTDSGK 2014 (358.600 hộ) đều đủ lớn

để cho các ước lượng tin cậy đến cấp tỉnh

Phương pháp định tính được sử dụng để hiểu rõ hơn về các phát

hiện chính của nghiên cứu định lượng và để xác định những rào

cản và vướng mắc hiện nay ngăn trẻ em đến trường Một Nhóm

công tác của Vụ Kế hoạch – Tài chính của Bộ GD&ĐT và chuyên

gia tư vấn đã đi khảo sát thực tế trong nửa đầu năm 2016 tại 6

huyện/quận có những đặc điểm đặc trưng nhất về TENNT của 6

tỉnh/thành phố, gồm Lào Cai, Ninh Thuận, Kon Tum, Tp Hồ Chí

Minh, Đồng Tháp và An Giang Đây là 6 trong 8 tỉnh thuộc Chương

trình Tỉnh Bạn hữu Trẻ em hợp tác với UNICEF, với các đặc điểm địa

lý, kinh tế, xã hội khác nhau: tỉnh miền núi phía Bắc có nhiều đồng

bào dân tộc thiểu số (Lào Cai), tỉnh ven biển miền Nam Trung Bộ

(Ninh Thuận), tỉnh thuộc vùng Tây Nguyên có nhiều đồng bào dân

tộc thiểu số (Kon Tum), thành phố lớn nhất cả nước (Tp Hồ Chí

Minh), và tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long (Đồng Tháp và

An Giang) Các đặc điểm khác nhau này sẽ giúp hiểu sâu hơn về

vấn đề TENNT Nhóm công tác đã làm việc với Lãnh đạo UBND và

các phòng, ban liên quan của 6 huyện/quận này để nắm tình hình

TENNT trên địa bàn, tìm hiểu các biện pháp đã áp dụng để giải

quyết vấn đề TENNT, tìm hiểu các rào cản, vướng mắc hiện nay và

các khuyến nghị cho thời gian tới Ở mỗi huyện/quận, Nhóm công

tác đã đi khảo sát thực tế ở 1 trường mầm non, 1 trường tiểu học

và 1 trường THCS để nắm tình hình TENNT trên địa bàn; thảo luận

nhóm với một số giáo viên và cha mẹ của học sinh, với một số trẻ

em có nguy cơ bỏ học hoặc đã bỏ học để hiểu về các rào cản và vướng mắc Cuối cùng, Nhóm công tác đã làm việc với lãnh đạo

Sở GD&ĐT và các phòng, ban liên quan của Sở để nắm tình hình TENNT chung toàn tỉnh, tìm hiểu về các biện pháp của tỉnh đã áp dụng để giải quyết vấn đề TENNT trong thời gian vừa qua, thảo luận và thống nhất về các rào cản và vướng mắc làm hạn chế trẻ

em đến trường trên địa bàn tỉnh hiện nay và phương hướng để giảm thiểu TENNT trong thời gian tới

Báo cáo phân tích thực trạng của TENNT ở độ tuổi 5-14 tuổi; thực trạng của trẻ em đang đi học tiểu học và THCS nhưng có nguy cơ

bỏ học, tức là những em có thể trở thành TENNT trong tương lai; phân tích các rào cản và các vướng mắc làm hạn chế khả năng đến trường của các em; từ đó đưa ra các khuyến nghị nhằm giảm thiểu

số lượng TENNT, bảo đảm bình đẳng giáo dục và quyền học tập của mọi trẻ em ở Việt Nam TENNT được phân tích theo các đặc điểm:

độ tuổi, giới tính, dân tộc, thành thị, nông thôn, tình trạng di cư, tình trạng khuyết tật đối với số liệu của TĐTDS 2009; đối với số liệu ĐTDSGK 2014 Báo cáo đã phân tích chéo thêm theo vùng và nhóm mức sống Đặc biệt, để có hiểu biết sâu sắc hơn về TENNT, Báo cáo lần này không chỉ phân tích TENNT theo đơn biến các đặc điểm, như TENNT theo vùng, mà theo đa biến, ví dụ TENNT theo vùng và theo thành thị/nông thôn của mỗi vùng, hoặc không chỉ theo dân tộc mà theo giới trong mỗi dân tộc

Sáu vùng bao gồm: Trung du và miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ và duyên hải Miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, và Đồng bằng sông Cửu Long

Nhóm mức sống hay tạm gọi là chỉ số sung túc là chỉ tiêu tổng hợp

về mức độ sung túc, đã được các chuyên gia của UNICEF xây dựng

và áp dụng trong MICS12 Báo cáo đã áp dụng phương pháp xây dựng chỉ số sung túc này vào số liệu của ĐTDSGK 2014

Chỉ số sung túc được giả định phản ánh sự sung túc trong một thời

kỳ dài thông qua các thông tin về tài sản của hộ gia đình, và dùng

để xếp hạng các hộ gia đình theo mức độ giàu nghèo, từ hộ nghèo nhất tới hộ giàu nhất Chỉ số sung túc không cung cấp các thông tin về nghèo tuyệt đối, mức thu nhập hoặc tiêu dùng hiện tại Các điểm đánh giá chỉ số sung túc chỉ được áp dụng cho riêng bộ số liệu mà nó được tính

12 http://www.unicef.org/vietnam/vi/MICS_VIET_NAM_2014_(310815).pdf–

‘MICS: Multiple Indicator Cluster Survey 2014’: ‘Điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ 2014’.

Trang 28

Các tài sản sau đây trong ĐTDSGK 2014 đã được đưa vào tính chỉ

số sung túc: số phòng ngủ, loại cột nhà, loại mái nhà, loại tường

nhà, loại nhiên liệu thắp sáng, loại nhiên liệu nấu ăn, nguồn nước

uống, loại hố xí, tài sản của hộ gia đình (tivi, máy tính, điện thoại,

tủ lạnh, máy giặt, bình tắm nóng lạnh, điều hòa, mô tô xe máy, ô

tô, internet, sở hữu nhà, diện tích nhà, loại nhà (chung cư, riêng

lẻ, biệt thự), ở chung với hộ khác

Báo cáo phân tích chung cả nước và 8 tỉnh, thành phố được chọn

để nghiên cứu, gồm: Lào Cai, Điện Biên, Ninh Thuận, Kon Tum, Gia

Lai, Tp Hồ Chí Minh, Đồng Tháp và An Giang

Bố cục của báo cáo bám sát các hướng dẫn của Sáng kiến toàn cầu

cho các nghiên cứu TENNT của quốc gia

Báo cáo sử dụng một số định nghĩa chuẩn sau đây của UNESCO:

- NAR (Net Attendance Rate) là tỷ lệ đi học đúng tuổi;

- NAR tiểu học là tỷ lệ đi học đúng tuổi tiểu học, tức là tỷ lệ

trẻ em độ tuổi tiểu học đang học tiểu học;

- NAR THCS là tỷ lệ đi học đúng tuổi THCS, tức là tỷ lệ trẻ

- ANAR THCS là tỷ lệ đi học đúng tuổi THCS có điều chỉnh, tức là tỷ lệ trẻ em độ tuổi THCS đang học THCS hoặc THPT;

- GPI (Gender Parity Index) là Chỉ số cân bằng giới;

- GPI của ANAR là Chỉ số cân bằng giới đi học đúng tuổi có điều chỉnh Theo khung Khái niệm và Phương pháp luận, các giá trị GPI nằm ở khoảng 0,97 đến 1,03 thường được coi là cân bằng giới Nếu GPI của ANAR nhỏ hơn 0,97 thì trẻ em gái chịu thiệt thòi hơn Nếu GPI của ANAR lớn hơn 1,03 thì trẻ em trai chịu thiệt thòi hơn;

- GPI của ANAR tiểu học là Chỉ số cân bằng giới đi học đúng tuổi tiểu học có điều chỉnh, được tính bằng tỷ lệ trẻ

em gái độ tuổi tiểu học đi học tiểu học hoặc THCS chia cho tỷ lệ này của trẻ em trai;

- GPI của ANAR THCS là Chỉ số cân bằng giới đi học đúng tuổi THCS có điều chỉnh, được tính bằng tỷ lệ trẻ em gái

độ tuổi THCS đi học THCS hoặc THPT chia cho tỷ lệ này của trẻ em trai

Trang 29

1.4.2 Khái quát về số liệu và những cân nhắc trong phân

tích

1) TĐTDS 2009 và ĐTDSGK 2014 đã thống kê những người

Việt Nam thường xuyên sinh sống trong lãnh thổ Việt

Nam vào thời điểm 0 giờ ngày 01 tháng 4 năm 2009 và

2014 tương ứng Đây là thời điểm để xác định tình trạng

đi học của mỗi người dân TENNT là trẻ em tại thời điểm

này không đi học

2) Để phù hợp với cách tính tuổi đi học của ngành GD&ĐT,

tức là lấy năm khai giảng trừ đi năm sinh, tuổi trong

ĐTDSGK 2014 được tính bằng 2013 trừ đi năm sinh Lấy

năm 2013 vì tại thời điểm 1/4/2014 của ĐTDSGK 2014

những học sinh đang học học kỳ 2 của năm học

2013-2014 là những học sinh đã nhập học tháng 9 năm 2013

Cụ thể, trẻ em 5 tuổi trong ĐTDSGK 2014 là những trẻ

em sinh năm 2008 (2013-2008=5); nhóm 6-10 tuổi

gồm trẻ em sinh năm 2003-2007; và nhóm 11-14 tuổi

gồm trẻ em sinh năm 1999-2002 Như vậy số liệu của

năm 2014 trong Báo cáo có thể so sánh được với số liệu

của năm học 2013-2014 của ngành GD&ĐT Tương tự

như vậy, tuổi từ TĐTDS 2009 sẽ được tính bằng 2008 trừ

năm sinh, và số liệu của năm 2009 trong Báo cáo có thể

so sánh được với số liệu của năm học 2008-2009 của

ngành GD&ĐT

3) Các số liệu về TENNT được phân tích theo nhóm 5 tuổi

đối với giáo dục mầm non, 6-10 tuổi đối với giáo dục

tiểu học và 11-14 tuổi đối với giáo dục THCS

4) Cơ sở để xác định tình trạng đi học trong Báo cáo này là

kết quả trả lời các câu hỏi trong TĐTDS 2009 và ĐTDSGK

2014: “Hiện nay [TÊN] đang đi học, đã thôi học hay chưa

bao giờ đi học?” với 3 khả năng trả lời: “Đang đi học”, “Đã

thôi học”, và “Chưa đi học”

5) Trong TĐTDS 2009 có 4 câu hỏi liên quan đến khuyết tật

của 4 chức năng cơ bản: nhìn, nghe, vận động (đi bộ),

và ghi nhớ hoặc tập trung chú ý Các thành viên trong

hộ gia đình từ 5 tuổi trở lên được hỏi những câu hỏi này

Người trả lời tự đánh giá và xếp câu trả lời vào 4 loại:

“Không khó khăn”, “Khó khăn”, “Rất khó khăn” và “Không

thể” Một người được xác định là “Khuyết tật” nếu một

trong bốn chức năng trên được xếp vào loại “Không thể”

(tương đương mức độ “Khuyết tật đặc biệt nặng” trong

Luật người khuyết tật); được xác định là “Khuyết tật một

phần” nếu một trong bốn chức năng trên được đánh giá

là “Rất khó khăn” hoặc “Khó khăn” (tương đương mức độ

“Khuyết tật nặng” và “Khuyết tật nhẹ” trong Luật người

khuyết tật); và được coi là “Không có khuyết tật” nếu 4 chức năng cơ bản trên đều “Không khó khăn”

6) Sử dụng khái niệm một người được coi là “di cư” nếu thay đổi chỗ ở từ huyện/quận/thị trấn này sang huyện/quận/thị trấn khác ít nhất 1 lần trong 5 năm trước thời điểm ĐTDSGK 2014 Tuy nhiên, do không có câu hỏi về mục đích di cư nên không phân biệt được di cư do đi tìm việc làm ở thành phố hay di cư để tìm việc làm theo mùa

vụ, hay di cư do thiên tai

7) Các so sánh số liệu giữa năm 2009 và 2014 trong Báo cáo dựa trên khoảng tin cậy của các ước lượng tương ứng và đều có ý nghĩa thống kê

1.4.3 Những hạn chế của nghiên cứu

1) Do TĐTDS 2009 và ĐTDSGK 2014 không có số liệu về “lao động trẻ em” nên trong Báo cáo không phân tích về trẻ

em phải lao động sớm

2) Khi phân tích theo các phân tổ chi tiết, các phân tổ có ít hơn hoặc bằng 50 quan sát (Người) sẽ không được đưa vào phân tích vì đây là một cỡ mẫu quá nhỏ Khi đó tất

cả các ô liên quan đến phân tổ này sẽ để trống Với các phân tổ có trên 50 quan sát nhưng không lớn lắm thì vẫn được cân nhắc cẩn thận khi rút ra những kết luận suy rộng

3) ĐTDSGK 2014 không có các câu hỏi về tình trạng khuyết tật như trong TĐTDS 2009 nên Báo cáo không cập nhật phân tích TENNT theo tình trạng khuyết tật năm 2014.4) Báo cáo có những hạn chế khi phân tích chi tiết theo phân tổ dân tộc ở cấp tỉnh năm 2014 do ĐTDSGK 2014 chỉ có số liệu của 6 dân tộc có dân số lớn nhất, gồm Kinh, Tày, Thái, Mường, Khmer và Mông; các dân tộc còn lại được nhóm vào nhóm dân tộc khác, trong khi TĐTDS

2009 có số liệu chi tiết đến từng dân tộc

Trang 30

Việt Nam\2017\T

Trang 31

CHƯƠNG 2

TỔNG QUAN

Chương này phân tích về TENNT ở độ tuổi mầm non 5 tuổi, tiểu học và THCS, sử dụng số liệu của Tổng điều tra dân số

và nhà ở (TĐTDS) 2009 và Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ (ĐTDSGK) 2014 Nội dung phân tích dựa trên hướng dẫn

của Khung khái niệm và Phương pháp luận về TENNT của UNICEF và Viện Thống kê của UNESCO

VỀ TRẺ EM NGOÀI NHÀ TRƯỜNG

Trang 32

2.1 Đặc điểm của trẻ em độ tuổi đi học mầm non, tiểu học

và trung học cơ sở

Bảng 2.1 trình bày dân số trẻ em chia theo nhóm tuổi đi học Tại

thời điểm ĐTDSGK 2014 có 1.480.606 trẻ em 5 tuổi (sinh năm

2008), tăng 2,6% so với thời điểm TĐTDS 2009; 7.188.905 trẻ

em ở độ tuổi tiểu học 6-10 tuổi (sinh năm 2003-2007), tăng

8,7% so với năm 2009; và 5.410.739 trẻ em ở độ tuổi THCS

11-14 tuổi (sinh năm 1999-2002), giảm 12,3% so với năm 2009 Các số liệu này sẽ được sử dụng trong tất cả các tính toán sau này

Bảng 2.1: Dân số trẻ em chia theo nhóm tuổi đi học năm 2009 và 2014

Trang 33

Bảng 2.2 trình bày số liệu thống kê theo độ tuổi, giới tính và

các đặc điểm khác Tỷ số nam/nữ chung của Việt Nam năm

2014 là 49,27/50,73, tức là có 97 nam tính bình quân trên 100

nữ, giảm so với con số này của năm 2009 là 98 nam/100 nữ

(49,52/50,48) Tuy nhiên, chênh lệch giới tính có tỷ lệ cao hơn

ở các nhóm tuổi trẻ hơn và có tỷ lệ chênh lệch cao nhất ở độ

tuổi 5 tuổi, với tỷ số nam/nữ năm 2014 là 108 nam tính bình

quân trên 100 nữ, thấp hơn con số 109 nam tính bình quân

trên 100 nữ của năm 2009 Ở độ tuổi tiểu học và THCS, như

trình bày dưới đây, sự mất cân bằng giới tính cũng thể hiện rất rõ: cứ 100 bé gái thì có 107 bé trai ở độ tuổi 6-10 tuổi và 105 bé trai ở độ tuổi 11-14 tuổi Khoảng 2/3 số trẻ em Việt Nam sống

ở khu vực nông thôn, tuy năm 2014 có giảm nhẹ so với 2009

do quá trình đô thị hóa (70,4% giảm còn 67,2%); khoảng 85% trẻ em thuộc dân tộc Kinh Trẻ em thuộc các gia đình di cư năm

2014 ở cả 3 nhóm tuổi đều tăng nhẹ so với năm 2009, chiếm 5,5% ở nhóm 5 tuổi, 3,8% ở nhóm 6-10 tuổi và 2,9% ở nhóm 11-14 tuổi

Bảng 2.2: Phân bố trẻ em chia theo nhóm tuổi đi học năm 2009 và 2014

Trang 34

2.2 Thành tố 1: Trẻ em ngoài nhà trường độ tuổi 5 tuổi

Thành tố 1 của 5 thành tố loại trừ đề cập đến TENNT ở độ tuổi 5

tuổi, tức là những trẻ em 5 tuổi không đi học mầm non hoặc tiểu

học

Bảng 2.3 và 2.4 trình bày tình trạng đi học mầm non và tiểu học

của trẻ em độ tuổi 5 tuổi tính đến 2013 (sinh 2008), trong đó cho

biết tỷ lệ TENNT ở độ tuổi này Hình 2.1 đưa ra minh họa cho các

số liệu có liên quan

Tại thời điểm ĐTDSGK 2014, cả nước có 1.480.606 trẻ em 5 tuổi

tính đến năm 2013 (sinh năm 2008), trong đó 93,3% đi học, tăng

6% so với năm 2009 (88,2% đi học mầm non và 5,1% đi học tiểu

học), và 6,7% không đi học, giảm gần một nửa so với năm 2009

Số trẻ em 5 tuổi không đi học (ngoài nhà trường) là 99.174 em

TENNT độ tuổi 5 tuổi không có sự khác biệt rõ rệt về giới tính,

chung cả nước (6,8% ở nam và 6,6% ở nữ) cũng như các phân

tổ khác, trừ dân tộc Mông Trẻ em gái 5 tuổi dân tộc Mông không

được bình đẳng đi học như trẻ em trai (17,0% ở nữ so với 13,9% ở

nam) Điều này đúng với cả hai độ tuổi tiểu học và THCS như trong

phân tích ở các phần sau của Báo cáo này

TENNT độ tuổi 5 tuổi không có sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn (tương ứng là 6,61% và 6,74%), và giảm khoảng 1/2 so với năm 2009

Tỷ lệ TENNT 5 tuổi năm 2014 của nhóm dân tộc thiểu số đều giảm đáng kể so với năm 2009 (gần 1/3 đối với dân tộc Khmer, hơn 1/2 đối với dân tộc Mông) Tuy nhiên TENNT 5 tuổi vẫn có sự khác biệt lớn giữa các nhóm dân tộc Tỷ lệ TENNT độ tuổi 5 tuổi thấp nhất

là 1,0% ở dân tộc Mường, cao nhất là 22,9% ở dân tộc Khmer Tỷ

lệ này ở dân tộc Mông cũng khá cao, ở mức 15,4% Hai nhóm dân tộc Khmer và Mông có tỷ lệ TENNT độ tuổi 5 tuổi cao hơn dân tộc Kinh khoảng gần 3 đến 4 lần

Tỷ lệ TENNT độ tuổi 5 tuổi trong các gia đình di cư năm 2014 giảm đáng kể so 2009 (7,9% so với 16,5%), nhưng vẫn cao hơn các gia đình không di cư (tương ứng là 7,9% và 6,6%), tuy sự chênh lệch này được thu hẹp đôi chút so với năm 2009 (lần lượt là 16,5% và 12,0%)

Trang 39

Hình 2.1: Tỷ lệ trẻ em ngoài nhà trường độ tuổi 5 tuổi năm 2009 và 2014

Thành thị Nông thôn Kinh Tày Thái Mường Khmer Mông DT khác Khuyết tật KT

một phần Không KT Di cư Không di cưNữ

Theo Hình 2.2, vùng Đồng bằng sông Cửu Long có tỷ lệ TENNT độ tuổi 5 tuổi cao nhất (14,7%), cao gấp gần 6 lần vùng Đồng bằng sông Hồng là vùng có tỷ lệ TENNT thấp nhất (2,5%) Tỷ lệ TENNT độ tuổi 5 tuổi của nhóm hộ nghèo nhất cao hơn đáng kể so với nhóm giàu nhất với chênh lệch gấp gần 3 lần (11,9% so với 4,1%) Nhóm hộ nghèo nhất cũng là nhóm có đông TENNT nhất so với các nhóm mức sống còn lại Điều này không chỉ đúng ở đây, với trẻ em 5 tuổi, mà đúng với cả hai độ tuổi tiểu học và THCS trong các phân tích tiếp theo của Báo cáo

Hình 2.2: Tỷ lệ trẻ em ngoài nhà trường độ tuổi 5 tuổi chia theo vùng và nhóm mức sống năm 2014

Trang 40

Bảng 2.5 tổng hợp chéo tình trạng TENNT của trẻ 5 tuổi giữa

thành thị/nông thôn và giữa nhóm mức sống với các đặc điểm

vùng, giới tính, dân tộc, tình trạng di cư và nhóm mức sống Vùng

Trung du miền núi phía Bắc (TDMNPB) có tỷ lệ TENNT 5 tuổi ở

nông thôn cao hơn thành thị 3,3 lần (5,3% so với 1,6%), cho thấy

trẻ em 5 tuổi ở nông thôn vùng TDMNPB thiệt thòi hơn ở thành

thị trong đi học mẫu giáo; trong khi tỷ lệ TENNT ở thành thị lại

cao hơn nông thôn ở hai vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền

Trung (BTBDHMT) (6,1% so với 3,6%) và Đồng bằng sông Cửu

Long (ĐBSCL) (17,0% so với 13,9%) Tình trạng TENNT độ tuổi 5

tuổi không có chênh lệch về giới tính trong mỗi khu vực thành thị

hay nông thôn Đáng chú ý là tỷ lệ TENNT của trẻ em 5 tuổi dân tộc

Khmer ở thành thị lại cao hơn đáng kể so với nông thôn (33,5%

so với 19,8%); trong khi ngược lại tỷ lệ TENNT của trẻ em 5 tuổi

dân tộc Mông ở nông thôn cao hơn ở thành thị 5,7 lần Điều này

cho thấy tuy sống ở thành thị nhưng trẻ em 5 tuổi dân tộc Khmer

vẫn không có lợi thế đi học hơn so với các bạn mình ở nông thôn, trong khi trẻ em dân tộc Mông sống ở thành thị lại có lợi thế này rất rõ rệt Trẻ 5 tuổi di cư ở nông thôn thiệt thòi hơn trẻ 5 tuổi di

cư ở thành thị 1,6 lần

Bảng 2.5 cũng tổng hợp chéo tình trạng TENNT của trẻ 5 tuổi giữa nhóm mức sống với các đặc điểm thành thị/nông thôn, vùng, giới tính, dân tộc và tình trạng di cư Trẻ em 5 tuổi thuộc nhóm nghèo nhất đều bị thiệt thòi hơn các bạn mình ở nhóm giàu nhất ở tất cả các vùng, trừ vùng ĐBSH, trong đó thiệt thòi nhất là ở vùng ĐBSCL, tiếp theo là vùng Tây Nguyên (TN) Tình trạng TENNT độ tuổi 5 tuổi không có chênh lệch nhiều về giới tính và tình trạng di cư trong mỗi nhóm nghèo nhất và giàu nhất Dân tộc Khmer và Mông thuộc nhóm nghèo nhất có tỷ lệ TENNT 5 tuổi cao nhất: 27,1% và 15,7%, trong khi ở nhóm giàu nhất không có trẻ 5 tuổi nào không được đi học Trẻ em 5 tuổi dân tộc Kinh thuộc nhóm nghèo nhất bị thiệt thòi hơn các bạn mình ở nhóm giàu nhất 3,5 lần

Ngày đăng: 14/03/2019, 13:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w