1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO SÁT SỨC SINH SẢN CỦA VỊT BỐ MẸ CV – SUPER M2 THEO KHỐI LƯỢNG GHÉP PHỐI VÀ SỨC SẢN XUẤT THỊT CỦA ĐÀN CON

110 82 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT Đề tài “khảo sát sức sinh sản của vịt bố mẹ CV – Super M2 theo khối lượng ghép phối và sức sản xuất thịt của đàn con” được thực hiện từ 07/2010 đến 04/2011 tại trại vịt tư nhân N

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

*********************

VÕ THỊ KIM LOAN

KHẢO SÁT SỨC SINH SẢN CỦA VỊT BỐ MẸ CV – SUPER

M2 THEO KHỐI LƯỢNG GHÉP PHỐI VÀ SỨC

SẢN XUẤT THỊT CỦA ĐÀN CON

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

*********************

VÕ THỊ KIM LOAN

KHẢO SÁT SỨC SINH SẢN CỦA VỊT BỐ MẸ CV – SUPER

M2 THEO KHỐI LƯỢNG GHÉP PHỐI VÀ SỨC

SẢN XUẤT THỊT CỦA ĐÀN CON

Chuyên ngành : Chăn nuôi

Trang 3

KHẢO SÁT SỨC SINH SẢN CỦA VỊT BỐ MẸ CV – SUPER

M2 THEO KHỐI LƯỢNG GHÉP PHỐI VÀ SỨC

SẢN XUẤT THỊT CỦA ĐÀN CON

VÕ THỊ KIM LOAN

Hội đồng chấm luận văn:

1 Chủ tịch: PGS TS LÂM MINH THUẬN

Hội Chăn Nuôi

Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh

3 Phản biện 1: PGS TS TRỊNH CÔNG THÀNH

Hội Chăn Nuôi

4 Phản biện 2: TS VÕ THỊ TUYẾT

Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh

5 Ủy viên: TS TRẦN VĂN CHÍNH

Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh

ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

HIỆU TRƯỞNG

Trang 4

LÝ LỊCH CÁ NHÂN

Tôi tên là Võ Thị Kim Loan sinh ngày 14 tháng 11 năm 1979 tại TP Hồ Chí Minh Quê quán tỉnh Long An, con ông Võ Thành Xuân và bà Nguyễn Thị Huỳnh Mai

Tốt nghiệp phổ thông trung học tại Trường Trung học phổ thông Bến Lức năm 1997

Tốt nghiệp Đại học ngành Chăn Nuôi hệ chính quy tại trường Đại học Nông Lâm Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh năm 2003

Sau đó làm việc tại Trạm Khuyến Nông huyện Cần Đước, Trung Tâm Khuyến Nông Long An, chức vụ hiện tại Phó trưởng Trạm

Tháng 9 năm 2008 theo học Cao học ngành Chăn nuôi tại Đại học Nông Lâm, Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi

và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào trước đây

VÕ THỊ KIM LOAN

Trang 6

LỜI CẢM TẠ

Chân thành cảm tạ Ban Giám Hiệu Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh, Ban Chủ nhiệm và quý thầy cô trong khoa Chăn Nuôi - Thú Y, quí thầy cô thỉnh giảng đã dạy dỗ, truyền đạt kiến thức và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và tiến hành đề tài

Thành kính ghi ơn TS Trần Văn Chính đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài và có những ý kiến quí báu cho em hoàn thành bản luận văn này

Trân trọng cảm ơn PGS.TS Nguyễn Ngọc Tuân và tập thể cán bộ phòng Đào tạo Sau Đại Học đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn Chân thành cảm ơn Ban Giám Đốc Trung Tâm Khuyến Nông Long An, Trạm Khuyến nông Cần Đước, gia đình ông Nguyễn Khắc Đạt (trại vịt) cùng các anh chị đồng nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian học tập và thực hiện

đề tài

Suốt đời không quên tình yêu thương và sự dạy dỗ của Ba Mẹ giúp con thành đạt nên người

VÕ THỊ KIM LOAN

Trang 7

TÓM TẮT

Đề tài “khảo sát sức sinh sản của vịt bố mẹ CV – Super M2 theo khối lượng ghép phối và sức sản xuất thịt của đàn con” được thực hiện từ 07/2010 đến 04/2011 tại trại vịt tư nhân Nguyễn Khắc Đạt ở xã Phước Vân huyện Cần Đước tỉnh Long

An Nội dung của đề tài là đánh giá sức sản xuất trứng của vịt bố mẹ CV – Super M2 qua 4 lô (4 tổ hợp ghép phối trống mái), với lô I (trống nặng cân x mái nặng cân), lô II (trống nặng cân x mái nhẹ cân), lô III (trống nhẹ cân x mái nặng cân), lô

VI (trống nhẹ cân x mái nhẹ cân) Thí nghiệm được lặp lại 2 đợt Mỗi lô gồm 10 vịt trống và 60 vịt mái được ghép phối lúc 25 tuần tuổi và theo dõi đến 60 tuần tuổi Từ

mỗi lô chọn 100 vịt con nuôi thịt để đánh giá sức sản xuất thịt lúc 8 tuần tuổi

Kết quả nghiên cứu trung bình 2 đợt thí nghiệm cho thấy:

+ Trên vịt bố mẹ: tỷ lệ đẻ thấp nhất ở lô II (56,16%) và cao nhất ở lô I (78,16%) (P <0,001) Khối lượng trứng thấp nhất ở lô I (89,90g) và cao nhất ở lô II (93,65g) (P

<0,001) Tỷ lệ ấp nở thấp nhất ở lô II (72,75 %) và cao nhất ở lô I (81,99 %) (P<0,001) Tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng thấp nhất ở lô III (3,83 kg) và cao nhất ở lô II (4,96 kg/10 quả) (P < 0,001) Tỷ lệ loại thải vịt mái giống thấp nhất là ở lô II (0,16%) và cao nhất ở lô III ( 0,47% ) (P > 0,05) Chi phí sản xuất 1 vịt con cao nhất ở lô II (12.554đ/con) và thấp nhất ở lô I (9.202đ/con)

+ Trên vịt con nuôi thịt: khối lượng sống lúc 8 tuần tuổi của vịt thịt cao nhất ở lô

II (3160,00g) và thấp nhất ở lô IV (3030,30g) (P <0,001) Tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng của vịt thịt thấp nhất ở lô IV (2,76kg) và cao nhất ở lô III (3,05kg) (P > 0,05) Tỷ

lệ nuôi sống của vịt thịt đến 8 tuần tuổi khá tương đương nhau giữa các lô từ 98,5 % - 99,5% (P > 0,05) Chất lượng quầy thịt trên vịt thịt khác biệt không đáng kể (P > 0,05) giữa các lô thí nghiệm: tỷ lệ quầy thịt của vịt thịt cao nhất ở lô I (66,86%) và thấp ở lô

II (65,30 %), tỷ lệ ức cao nhất ở lô I (32,18%) và thấp nhất ở lô IV (30,21%), tỷ lệ đùi cao nhất ở lô lô III (18,70%) và thấp nhất ở lô I (17,45%) Hiệu quả kinh tế cao nhất là vịt ở lô IV (trống nhẹ cân x mái nhẹ cân) là 9.855 đ/con và thấp nhất ở đàn vịt thịt của

bố mẹ lô ghép phối III (trống nhẹ cân x mái nặng cân) là 5.169 đ/con

Trang 8

SUMMARY

The thesis “Reproductive health survey of parent flocks CV – Super M2 by mass mattings and meat productivity of commercial flock” was conducted in Long An Province from july 2010 to April 2011 to investigate some productive traits of CV – super M2 parent duck flocks through 4 groups (group I: heavy males x heavy females, group II: heavy males x light females, group III: light females x heavy females, group IV: light females x light males) The study was repeated two times Each group included 10 males and 60 females at 25 weeks of age and follow-up to 60 weeks of age From each group of

100 ducklings commercial flock to evaluate the productivity of meat at 8 weeks old

Results of the study were as the following:

+ Parent flocks: lowest – laying rate in the group II (56,16%) and highest in the group I (78,16 %) (P <0,001) Egg weight was lowest in the group I (89,90g) and highest in the group

II (93,65g) (P <0,001) Hatchability/ % of total eggs was lowest in the group II (72,75 %) and highest in the group I (81,99 %) (P <0,001) FCR for 10 eggs was lowest in group III (3,83 kg) and highest in the group II (4,96kg) (P <0,001) Discarding rate in laying period was lowest in the group I (0,16 %) and highest in the group III (0,47%) (P> 0,05) Duckling cost was lowest

in the group I (9.202đ/duck) and highest in the group II (12.554đ/duck)

+ Commercial flock: body weight at 8 weeks of age was highest in the group II (3160 g) and lowest in the group IV (3030,30 g) (P<0,001) FCR for weight gain was lowest in the group IV (2,76 kg) and highest in the group III (3,05 kg) (P>0,05) Survival rate is quite similar in groups from 98,5 % to 99,5 % (P>0,05) The difference

in quality of the duck meat carcass was in significant(P>0,05) between the experimentel groups: Carcass percentage was highest in the group I (66,86%) and lowest in the group II (65,30 %), percentage of breast meat weight/carcass weight was highest in the group I (32,18 %) and lowest in the group IV (30,21 %), percentage of thigh weight/carcass weight was highest in the group III (18,7 %) and lowest in the group I (17,45%) In addition, the economic efficiency interest of group IV highest (VND 9.855VND/ duck) and group III was lowest (VND 5.169 VND/1 duck)

Trang 9

MỤC LỤC

Trang

Trang chuẩn y i

Lý lịch cá nhân ii 

Lời cam đoan iii 

Lời cảm tạ iv 

Tóm tắt v 

Summary vi 

Mục lục vii 

Danh sách các bảng xi 

Danh sách các hình xiii 

Danh sách các biểu đồ xiv 

Chương 1 MỞ ĐẦU 1 

1.1 Đặt vấn đề 1 

1.2 Mục tiêu 2 

1.3 Yêu cầu 2 

1.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2 

Chương 2 TỔNG QUAN 3 

2.1 Phối giống theo tính trạng 3 

2.1.1 Đồng phối 3 

2.1.2 Dị phối 4 

2.2 Di truyền khả năng đẻ trứng 4 

2.3 Đặc điểm một số giống vịt 5 

2.3.1 Vịt chuyên thịt 5 

2.3.1.1 Vịt CV – Super M, M2, M2 cải tiến 5 

2.3.1.2 Vịt M14 7 

2.3.1.3 Vịt Cherry Valley (Vịt Anh Đào) 7 

Trang 10

2.3.1.4 Vịt Bắc Kinh 7 

2.3.1.5 Vịt Nông nghiệp 7 

2.3.2 Vịt chuyên trứng 8 

2.3.2.1 Vịt Khaki Campbell 8 

2.3.2.2 Vịt CV2000 8 

2.3.2.3 Vịt Cỏ 8 

2.3.2.4 Vịt STAR13 9 

2.3.3 Vịt kiêm dụng 9 

2.4 Một số tính trạng sản xuất của vịt 9 

2.4.1 Khối lượng sống 9 

2.4.2 Sản lượng trứng 10 

2.4.3 Khối lượng trứng 11 

2.4.4 Tỷ lệ trứng có phôi 11 

2.4.5 Tỷ lệ ấp nở 11 

2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến sức sản xuất trứng của vịt 12 

2.5.1 Con giống 12 

2.5.2 Tuổi đẻ của vịt 12 

2.5.3 Dinh dưỡng 13 

2.5.4 Độ thông thoáng 13 

2.5.5 Điều kiện chăm sóc và nuôi dưỡng 14 

2.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến sức sản xuất thịt 15 

2.7 Một số công trình nghiên cứu liên quan đến vịt siêu thịt CV- Super M2 16 

Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18 

3.1 Thời gian và địa điểm 18 

3.1.1 Thời gian 18 

3.1.2 Địa điểm 18 

3.2 Nội dung và phương pháp 18 

3.2.1 Nội dung nghiên cứu 18 

3.2.2 Phương pháp nghiên cứu 18 

Trang 11

3.3 Điều kiện thí nghiệm 21 

3.3.1 Nguồn gốc con giống 21 

3.3.2 Chuồng trại 21 

3.3.3 Thức ăn 21 

3.3.4 Chăm sóc và quản lý 22 

3.4 Qui trình phòng bệnh 23 

3.5 Các chỉ tiêu khảo sát 23 

3.5.1 Trên đàn vịt bố mẹ sinh sản 23 

3.5.2 Trên đàn vịt con nuôi thịt 25 

3.6 Phương pháp xử lý số liệu 26 

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 27 

4.1 Trên đàn vịt bố mẹ sinh sản 27 

4.1.1 Tỷ lệ đẻ 27 

4.1.2 Tỷ lệ trứng chọn ấp 30 

4.1.3 Khối lượng trứng 32 

4.1.4 Tỷ lệ trứng có phôi 35 

4.1.5 Tỷ lệ ấp nở 37 

4.1.6 Lượng thức ăn tiêu thụ 40 

4.1.7 Hệ số chuyển biến thức ăn/ 10 quả trứng (HSCBTA/10 quả trứng) 43 

4.1.8 Tỷ lệ loại thải vịt mái 46 

4.1.9 Chi phí sản xuất 1 trứng vịt giống và 1 vịt con giống 47 

4.2 Trên đàn vịt con nuôi thịt 49 

4.2.1 Khối lượng sống 49 

4.2.2 Tăng trọng ngày 52 

4.2.3 Lượng thức ăn tiêu thụ 53 

4.2.4 Hệ số chuyển biến thức ăn/ kg tăng trọng (HSCBTA/kg TT) 55 

4.2.5 Tỷ lệ nuôi sống 57 

4.2.6 Một số chỉ tiêu chất lượng thịt 58 

4.2.6.1 Tỷ lệ móc hàm 58 

Trang 12

4.2.6.2 Tỷ lệ quầy thịt 59 

4.2.6.3 Tỷ lệ ức 60 

4.2.6.4 Tỷ lệ đùi 61 

4.2.6.5 Tỷ lệ mỡ 63 

4.2.7 Hiệu quả kinh tế 69 

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 72 

5.1 Kết luận 72 

5.1.1 Trên đàn vịt bố mẹ 72 

5.1.2 Trên đàn vịt con nuôi thịt 72 

5.2 Đề nghị 73 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 74 

PHỤ LỤC 79 

Trang 13

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Trang

Bảng 3.1: Bố trí thí nghiệm ghép phối vịt bố mẹ sinh sản và vịt con nuôi thịt 20 

Bảng 3.2: Thành phần dinh dưỡng của thức ăn 22 

Bảng 4.1: Tỷ lệ đẻ 29 

Bảng 4.2: Tỷ lệ trứng chọn ấp 31 

Bảng 4.3: Khối lượng trứng 34 

Bảng 4.4: Tỷ lệ trứng có phôi 36 

Bảng 4.5: Tỷ lệ ấp nở 39 

Bảng 4.6: Lượng thức ăn tiêu thụ 42 

Bảng 4.7: Hệ số chuyển biến thức ăn/10 quả trứng 45 

Bảng 4.8: Tỷ lệ loại thải vịt mái giai đoạn 27 – 56 tuần tuổi 47 

Bảng 4.9: Chi phí sản xuất 1 trứng giống và 1 vịt con giống trung bình 2 đợt thí nghiệm 49 

Bảng 4.10: Khối lượng sống của vịt con nuôi thịt qua các tuần tuổi 51 

Bảng 4.11: Tăng trọng ngày của vịt con nuôi thịt 53 

Bảng 4.12: Lượng thức ăn tiêu thụ hàng ngày và hàng tuần giai đoạn 0 – 8 tuần tuổi của vịt thịt 54 

Bảng 4.13: Lượng thức ăn tiêu thụ tích lũy của vịt con nuôi thịt (g/con) 55 

Bảng 4.14: Hệ số chuyển biến/kg tăng trọng 56 

Bảng 4.15: Tỷ lệ nuôi sống đến 8 tuần tuổi của vịt con nuôi thịt 58 

Bảng 4.16: Tỷ lệ móc hàm 59 

Bảng 4.17: Tỷ lệ quầy thịt của vịt con nuôi thịt 60 

Bảng 4.18: Tỷ lệ ức của vịt con nuôi thịt 61 

Bảng 4.19: Tỷ lệ đùi của vịt con nuôi thịt 62 

Bảng 4.20: Tỷ lệ mỡ của vịt con nuôi thịt 64 

Bảng 4.21: Hiệu quả kinh tế của vịt con nuôi thịt đợt thí nghiệm đợt I 70 

Bảng 4.22: Hiệu quả kinh tế của vịt con nuôi thịt đợt thí nghiệm đợt II 71 

Trang 14

Bảng 4.23: Hiệu quả kinh tế của vịt con nuôi thịt tính trung bình chung qua 2 đợt

thí nghiệm 71 

Trang 15

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Trang

Hình 3.1: Lô ghép phối I 19

Hình 3.2: Lô ghép phối II 19 

Hình 3.3: Lô ghép phối III 19 

Hình 3.4: Lô ghép phối IV 19 

Hình 4.1: Khối lượng quầy thịt của vịt thịt ở 4 lô ghép phối 65 

Hình 4.2: Khối lượng ức của vịt thịt ở 4 lô ghép phối 66 

Hình 4.3: Khối lượng đùi của vịt thịt ở 4 lô ghép phối 67 

Hình 4.4: Khối lượng mỡ của vịt thịt ở 4 lô ghép phối 68 

Trang 16

DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ

Trang

Biểu đồ 4.1: Tỷ lệ đẻ trứng trung bình tuần giai đoạn 27 - 56 tuần tuổi 28 

Biểu đồ 4.2: Tỷ lệ trứng chọn ấp trung bình tuần giai đoạn 27 – 56 tuần tuổi 30 

Biểu đồ 4.3: Khối lượng trứng trung bình giai đoạn 27 – 56 tuần tuổi 33 

Biểu đồ 4.4: Tỷ lệ trứng có phôi trung bình tuần giai đoạn 27-56 tuần tuổi 35 

Biểu đồ 4.5: Tỷ lệ ấp nở trung bình tuần giai đoạn 27 – 56 tuần tuổi 38 

Biểu đồ 4.6: Lượng thức ăn tiêu thụ trung bình ngày giai đoạn 27 – 56 tuần tuổi 41 

Biểu đồ 4.7: Hệ số chuyển biến thức ăn/ 10 quả trứng 44 

Biểu đồ 4.8: Tỷ lệ loại thải vịt mái giai đoạn 27 – 56 tuần tuổi 46 

Biểu đồ 4.9: Chi phí sản xuất 1 trứng giống 48 

Biểu đồ 4.10: Chi phí sản xuất 1 vịt con giống 48 

Biểu đồ 4.11: Khối lượng sống của vịt con nuôi thịt lúc 8 tuần tuổi 50 

Biểu đồ 4.12: Tăng trọng ngày của vịt con nuôi thịt (trung bình 2 đợt thí nghiệm) 52 

Biểu đồ 4.13: Hệ số chuyển biến thức ăn/kg tăng trọng 56 

Biểu đồ 4.14: Tỷ lệ nuôi sống đến 8 tuần tuổi của vịt con nuôi thịt (chung 2 đợt thí nghiệm) 57 

Trang 17

Hiện nay, Việt Nam đang đứng thứ hai trên thế giới về số lượng vịt nuôi sau Trung Quốc (Hoàng Tuấn Thành, 2004) Bên cạnh những giống vịt đã có từ lâu đời

ở nước ta, trong thời gian trước đây cũng như những năm gần đây, các giống vịt cao sản được nhập vào nước ta nuôi ngày càng nhiều chẳng hạn như vịt Bắc Kinh từ những năm 1970, vịt Anh Đào của Hungari năm 1975 và 1983, vịt Anh Đào Tiệp Khắc năm 1980, vịt Szarwas năm 1990 (Nguyễn Duy Hoan và ctv, 1999) Đặc biệt

là nhập vịt siêu thịt CV - Super M vào năm 1989 và 1990

Trong số các dòng giống vịt nhập có dòng vịt siêu thịt CV- Super M2 (nhập vào Việt Nam 1994, 1999) có các chỉ tiêu năng suất được đánh giá là cao hơn hẳn các dòng vịt CV – Super M, đang được nuôi giữ giống thành công tại Trung tâm Nghiên cứu Giống vịt của viện Chăn Nuôi Quốc Gia tại thành phố Hồ Chí Minh (Vigova) Thông qua hệ thống sản xuất kinh doanh của mình, Vigova đã cung cấp hàng chục ngàn vịt bố mẹ, hàng triệu vịt thương phẩm mỗi năm cho thị trường chăn nuôi của khu vực phía Nam Để đánh giá về tính năng sản xuất của đàn vịt ông bà

và bố mẹ đã có nhiều tác giả trong nước nghiên cứu (Phạm Văn Trượng, 1995; Hoàng Thị Lan, 1997; Dương Xuân Tuyển, 1998; Nguyễn Văn Diện, 2002; Hoàng Tuấn Thành, 2004)…

Trang 18

Tuy nhiên, các khảo sát thí nghiệm trên chỉ đánh giá năng suất đàn vịt sinh sản nói chung khi vịt trống và mái được ghép phối một cách ngẫu nhiên trong đàn Tìm hiểu sức sản xuất trứng của đàn vịt bố mẹ hướng thịt và chất lượng đàn vịt con nuôi thịt qua các mức khối lượng của đàn vịt bố mẹ khi được ghép phối là vấn đề cần được nghiên

cứu Vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài “Khảo sát sức sinh sản của vịt bố mẹ CV - Super M2 theo khối lượng ghép phối và sức sản xuất thịt của đàn con”

1.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Đóng góp của đề tài là xác định được mức khối lượng ghép phối thích hợp của vịt hậu bị bố mẹ hướng thịt CV- Super M2 để đem lại hiệu quả chăn nuôi qua việc nâng cao hơn nữa khả năng sản xuất trứng của vịt mẹ và sức sản xuất thịt của vịt con thương phẩm

Trang 19

Chương 2 TỔNG QUAN

2.1 Phối giống theo tính trạng

Những đặc tính sản xuất của vật nuôi thường được gọi là tính trạng Có hai loại tính trạng đó là tính trạng chất lượng và tính trạng số lượng Tính trạng có thể quan sát và mô tả bằng cách phân loại là các tính trạng chất lượng Tính trạng có thể xác định được bằng cách cân đo, đong đếm là các tính trạng số lượng Tính trạng chất lượng thường do một hoặc rất ít gen chi phối trong khi tính trạng số lượng thường do nhiều gen chi phối và mỗi gen thường chỉ gây ra một ảnh hưởng nhỏ Tính trạng chất lượng ít chịu ảnh hưởng của điều kiện sống, tính trạng số lượng chịu ảnh hưởng lớn bởi điều kiện sống

2.1.1 Đồng phối

Đồng phối còn gọi là tương phối, tương giao, phối giống đồng chất hay đồng tính trạng là phương pháp cho phối giống những con đực (trống) và con cái (mái) có cùng nguồn gốc phẩm chất giống và những tính trạng về ngoại hình thể chất, sinh trưởng phát dục, sức sản xuất tương đối gần giống nhau hoặc tương tự nhau Mục đích để củng cố, ổn định đặc tính di truyền của phẩm chất giống nhưng có yêu cầu chất lượng đời con phải cao hơn và làm tăng số lượng gia súc gia cầm thuần chủng, làm cơ sở cho việc chọn lọc

Tuy nhiên, trong sự ghép đôi giao phối theo kiểu này không phải tất cả các trường hợp nào cũng có con đực (trống) và con cái (mái) tốt để cho giao phối mà có khi vì điều kiện sản xuất số lượng gia súc gia cầm có hạn hay vì lý do nào đó phải cho những gia súc gia cầm tốt giao phối với gia súc gia cầm trung bình hay xấu Tuy nhiên, trong mọi trường hợp phải tuyệt đối tránh cho hai cá thể cùng xấu về một tính trạng nào đó giao phối với nhau

Trang 20

Trong sản xuất tạo giống, đồng phối sẽ có kết quả tốt nếu được tiến hành theo một hướng sản xuất nhất định như trọng lượng cơ thể hay sản lượng trứng… qua nhiều thế hệ, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát huy tốt và nâng cao các tính trạng này

2.1.2 Dị phối

Dị phối còn gọi là dị giao, phối giống dị chất hay không đồng tính trạng là phương pháp cho phối giống giữa những con đực (trống) và con cái (mái) có những tính trạng về ngoại hình thể chất, sinh trưởng phát dục, sức sản xuất tương đối khác nhau Trong sản xuất tạo con giống, mục đích của phương pháp này là thay đổi một hướng sản xuất hiện tại của con giống, tạo nên những tính trạng tốt mới hay những

tổ hợp gen mới rồi tiếp tục củng cố và nâng cao những tính trạng tốt mới tạo thành của con giống Trong sản xuất thương phẩm, đời con có kết quả tính trạng bằng trung bình của bố mẹ, gia súc gia cầm con được tạo ra có các tính trạng sản xuất đồng đều rất thuận lợi trong chăn nuôi qui mô công nghiệp: ngoại hình vật nuôi đẹp mắt, dễ áp dụng qui trình chăm sóc nuôi dưỡng theo công nghệ, chuồng trại cùng qui cách, xuất chuồng cùng thời gian

+ Cường độ đẻ: yếu tố này do hai gen R và r’, R’ và r’ phối hợp cộng lại để điều hành

+ Khả năng ấp: do hai gen A và C điều khiển phối hợp nhau

+ Thời gian nghỉ đông: do hai gen M và m điều khiển Các loại gia thủy câm có gen mm vẫn tiếp tục đẻ trong thời gian nghỉ đông

+ Thời gian của chu kỳ đẻ: do cặp gen M và m điều hành

Trang 21

Trong các yếu tố trên, yếu tố thứ nhất và thứ năm là hai yếu tố kết hợp với nhau, cũng có nghĩa là các cặp gen Pp và Ee có phối hợp với nhau.Ngoài các gen chính tham gia vào việc điều khiển các yếu tố nói trên, có thể còn có nhiều gen khác phụ lực vào

Tuy nhiên, các giống gà và vịt nuôi theo hướng công nghiệp lấy trứng thương phẩm ngày nay đã phá vỡ đặc tính di truyền bảo thủ đẻ theo mùa vụ và ấp theo bản năng

Khối lượng cơ thể có tương quan di truyền âm với số lượng trứng và khối lượng quả trứng Độ to của quả trứng trái lại có tương quan dương với khối lượng cơ thể của gia thủy cầm và vì vậy khi gia thủy cầm mới bắt đầu đẻ, trứng thường nhỏ vì bản thân cơ thể gia thủy cầm cũng chưa phát triển đầy đủ, sau đó khối lượng quả trứng dần dần tăng lên theo sự tăng trưởng thêm khối lượng cơ thể của gia thủy cầm Nhiều nghiên cứu cho thấy, nếu khối lượng gia thủy cầm tăng lên 100g thì trong các tháng đẻ kế tiếp, khối lượng trứng sẽ tăng độ 1,75g (Nguyễn Kim Đường, 1992) Hệ số di truyền của một số tính trạng sản xuất trứng của gia thủy cầm như sau: sản lượng trứng/mái/năm; tuổi đẻ quả trứng đầu tiên; độ to quả trứng; hình dạng quả trứng; màu sắc của vỏ; màu lòng đỏ

2.3 Đặc điểm một số giống vịt

Theo Cẩm nang chăn nuôi vịt (Hội Chăn nuôi Việt Nam, 2002) và Sổ tay Chăn nuôi Gia Cầm bền vững (Hiệp hội Chăn nuôi Gia Cầm Việt Nam, 2007), những giống vịt được nuôi phổ biến ở nước ta gồm các giống sau đây

2.3.1 Vịt chuyên thịt

2.3.1.1 Vịt CV – Super M, M2, M2 cải tiến

Có nguồn gốc từ Anh nhập vào Việt Nam những năm 1990, 1991, 1999,

2001 Đây là giống vịt chuyên thịt có lông màu trắng, tuổi đẻ của vịt bố mẹ là 25 tuần tuổi, năng suất trứng từ 180 – 220 quả/mái/67 tuần tuổi Vịt thương phẩm nuôi nhốt (56 ngày tuổi) hoặc nuôi nhốt kết hợp với chăn thả có khoanh vùng (70 ngày tuổi) đạt khối lượng 3,0 – 3,4 kg, tiêu tốn thức ăn 2,6 – 2,8 kg thức ăn cho 1 kg tăng trọng Vịt có thể trọng lớn, khả năng tự kiếm mồi kém, thiên về hướng chăn nuôi

Trang 22

thâm canh hoặc bán thâm canh, vịt có thể nuôi trên khô không cần nước bơi lội, nuôi kết hợp cá – vịt

Vịt CV - Super M, CV - Super M2, CV - Super M3 và Super Heavy đều được nhập

từ Vương quốc Anh Đây là các dòng vịt có khả năng sinh trưởng, phát triển ở Việt Nam

Giống vịt CV – super M là giống siêu thịt của công ty Cherry – Valley, Vương quốc Anh tạo ra từ năm 1976 Hiện nay giống vịt này đã được phát triển mạnh ở nhiều nước trên thế giới Vịt CV – Super M đã thích nghi tốt trong điều kiện chăn nuôi của Việt Nam Vịt CV - Super M đã được chọn lọc nâng cao qua 9 thế hệ tại Trạm Nghiên Cứu Gia Cầm Cẩm Bình Dòng ông có năng suất trứng/mái/64 tuần tuổi: 170 quả; dòng bà: 181 quả; nuôi thịt đến 56 ngày tuổi có tỷ lệ nuôi sống 98%; khối lượng cơ thể đạt 3,315 kg

Từ giống vịt CV – Super M, hãng Cherry – Valley đã tạo ra giống vịt CV – Super M2 Vịt CV – Super M2 bố mẹ được nhập vào Việt Nam lần đầu năm 1994 và nhập vịt ông bà năm 1999 Vịt CV - Super M2 dòng ông có năng suất trứng/mái/46 tuần đẻ là 164 – 170 quả, dòng bà là 181 quà, vịt bố mẹ có năng suất trứng đạt 202,6 quả, tỷ lệ phôi 92,7%, tỷ lệ nở 81,4%, con thương phẩm đến 47 ngày tuổi đạt 3,15 kg,

tỷ lệ nuôi sống đạt 98,67% Những năm qua, Trung tâm nghiên cứu vịt Đại Xuyên đã chọn lọc tạo ra những dòng vịt chuyên thịt có năng suất và chất lượng cao, đưa ra các công thức lai có hiệu quả kinh tế đáp ứng nhu cầu của sản xuất

Tháng 10 năm 2006 Trung Tâm Nghiên Cứu Gia Cầm Thụy Phương đã nhập

4 dòng vịt CV - Super M3 ông bà từ Hãng Cherry Valley Vương quốc Anh Đến tháng 6 năm 2007 Trung Tâm Nghiên Cứu Vịt Đại Xuyên nhập giống vịt CV – Super M3 và Super Heavy cũng từ Công ty Cherry Valley của Anh Vịt CV - Super M3 dòng ông có năng suất trứng/mái/48 tuần đẻ là 238 quả, tỷ lệ phôi 85%, tỷ lệ nở 62% Dòng bà có năng suất trứng/mái/48 tuần đẻ: 263 quả, tỷ lệ phôi 86%, tỷ lệ nở 64%, vịt nuôi thương phẩm đến 47 ngày tuổi có khối lượng trung bình 3,48 kg, tỷ lệ nuôi sống 98%

Trang 23

Vịt Super Heavy dòng ông có năng suất trứng/mái/48 tuần đẻ là 238 quả, tỷ lệ phôi 85%, tỷ lệ nở 64,2% Dòng bà có năng suất trứng/mái/48 tuần đẻ là 252 quả, tỷ lệ phôi 86%, tỷ lệ nở 64%, vịt nuôi thương phẩm đến 47 ngày tuổi đạt trọng lượng 3,73 kg, tỷ

lệ nuôi sống 98%

2.3.1.2 Vịt M14

Có nguồn gốc từ Pháp nhập vào Việt Nam năm 2005 Đây là giống vịt chuyên thịt có màu lông trắng Vịt M14 có tuổi đẻ 24 tuần, năng suất trứng 200 – 220 quả/mái/67 tuần tuổi, vịt thương phẩm nuôi nhốt (56 ngày tuổi) hoặc nuôi nhốt kết hợp với chăn thả có khoanh vùng (70 ngày tuổi) đạt khối lượng 3,0 – 3,2 kg, tiêu tốn thức ăn 2,6 – 2,8 kg cho 1 kg tăng trọng Vịt M14 được sử dụng làm mái nền để lai với ngan Pháp R17, con lai cho khối lượng 4,0 – 4,3 kg/con ở 12 tuần tuổi

2.3.1.3 Vịt Cherry Valley (Vịt Anh Đào)

Vịt được nhập vào nước ta từ rất sớm từ nhiều quốc gia, nhập lần cuối vào năm 1983 từ Anh Hiện nay, vịt vẫn còn được nuôi ở một số địa phương như một nguồn tiềm năng để sản xuất thịt theo phương thức cổ truyền Một số chỉ tiêu năng suất của vịt Anh Đào đã được ghi nhận như khối lượng 2,2 – 2,3 kg lúc 75 ngày tuổi; sản lượng trứng 160 – 185 trứng/mái/năm, tiêu tốn thức ăn 3.3 – 3,7 kg cho 1

kg tăng trọng, tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng là 3 – 4 kg

2.3.1.4 Vịt Bắc Kinh

Vịt Bắc Kinh được nhập lần đầu năm 1960 và lần sau năm 1987 từ Đức Hiện nay, vịt được nuôi ở một số vùng để sản xuất vịt thương phẩm nuôi thịt và lai tạo với vịt địa phương để tạo vịt lai nuôi thịt Một số chỉ tiêu năng suất cơ bản của vịt Bắc Kinh như khối lượng cơ thể đạt 2,0 – 2,2 kg lúc 2 tháng tuổi, tiêu tốn thức

ăn 3,3 – 3,5 kg cho 1 kg tăng trọng, sản lượng trứng 140 – 150 quả/mái/năm

2.3.1.5 Vịt Nông nghiệp

Bao gồm vịt Nông nghiệp 1 và Nông nghiệp 2 Đây là giống vịt do lai tạo giữa vịt Tiệp dòng 1882 và vịt Anh Đào Vịt Nông nghiệp có tầm vóc to, khối lượng cơ thể đạt 2,2 – 2,3 kg lúc 7 tuần tuổi, tiêu tốn thức ăn 2,8 – 2,9 kg cho 1 kg tăng trọng

Trang 24

2.3.2 Vịt chuyên trứng

2.3.2.1 Vịt Khaki Campbell

Có nguồn gốc từ Anh, chính thức được nhập về Trung Tâm Nghiên Cứu Vịt Đại Xuyên năm 1990 từ Thái Lan, là giống vịt chuyên trứng có màu Kaki, mỏ và chân xám đen, tuổi đẻ là 20 – 21 tuần tuổi, khối lượng vịt vào đẻ 1,6 – 1,8 kg/con, năng suất trứng

từ 260 – 300 quả/mái/năm, khối lượng trứng 65 – 70g/quả Vịt có thể nuôi theo các phương thức khác nhau như nuôi thâm canh, nuôi bán thâm canh, nuôi trên khô không cần nước bơi lội, nuôi trên vườn cây, vườn đồi, nuôi kết hợp cá – vịt, cá – lúa – vịt, lúa – vịt Vịt thích ứng với nhiều vùng sinh thái khác nhau đều cho năng suất cao

2.3.2.2 Vịt CV2000

Có nguồn gốc từ Anh, là giống vịt chuyên trứng có lông màu trắng, mỏ và chân màu vàng nhạt, có tuổi đẻ 20 -22 tuần tuổi, khối lượng vịt vào đẻ 1,8 – 2,0 kg/con, năng suất trứng từ 260 – 300 quả/mái/năm, khối lượng trứng 70 – 75g Vỏ trứng có 2 loại trắng và xanh nhưng không khác nhau về chất lượng trứng Vịt thích ghi với nhiều vùng sinh thái khác nhau đều cho năng suất cao cả ở miền núi, trung

du và đồng bằng Vịt có thể nuôi theo các phương thức khác nhau như nuôi thâm canh, bán thâm canh, nuôi trên khô không cần nước bơi lội, nuôi trên vườn cây, vườn đồi, nuôi kết hợp cá – vịt, cá – lúa – vịt, lúa – vịt Tùy từng điều kiện để có thể chọn phương thức để nuôi cho thích hợp

20 – 21 tuần, khối lượng vịt vào đẻ 1,4 – 1,6 kg, năng suất trứng đạt 220 – 230 quả/mái/năm, khối lượng trứng đạt 60 – 65g/quả

Trang 25

2.3.2.4 Vịt STAR13

Là giống vịt có nguồn gốc từ Pháp, được nhập về Việt Nam năm 2005, vịt có màu lông trắng, có tuổi đẻ 24 tuần, năng suất trứng 230 – 240 quả/mái/66 tuần tuổi Khối lượng trứng 75 – 80g/quả, tỷ lệ phôi đạt trên 90%

2.3.3 Vịt kiêm dụng

Là giống vịt nội gồm có vịt Bầu Quỳ, Bầu Bến, thịt thơm ngon, có màu lông chủ yếu là cánh sẻ, ngoài ra còn một số màu như xám, lang trắng đen, có cả đen và trắng tuyền, …

Vịt có khối lượng cơ thể 2 – 2,5 kg, tuổi đẻ của vịt là 22 – 23 tuần tuổi, năng suất trứng đạt 150 – 160 quả/mái/năm, khối lượng trứng 70 – 75g/quả Vịt nuôi thương phẩm 70 ngày tuổi đạt khối lượng 1,5 – 1,8 kg/con Vịt có khả năng thích ứng với các điều kiện nuôi cổ truyền và nuôi thâm canh

2.4 Một số tính trạng sản xuất của vịt

2.4.1 Khối lượng sống

Khối lượng cơ thể có ý nghĩa rất lớn đặc biệt với các giống vịt hướng thịt Chỉ tiêu này còn liên quan chặt chẽ với các chỉ tiêu năng suất khác như tiêu tốn thức

ăn, năng suất thịt xẻ, … Khối lượng cơ thể của vịt phụ thuộc nhiều yếu tố Trước hết

đó là yếu tố giống, các giống vịt nội thường có tầm vóc nhỏ bé và năng suất không cao: vịt Bầu nuôi 75 ngày tuổi đạt 1536 – 1764 g (Nguyễn Ấn, 1979) Vịt Cỏ nuôi

75 ngày tuổi chỉ đạt 1064,3 g (Lê Xuân Đồng, 1994) Các giống vịt hướng thịt nhập nội có tầm vóc và khối lượng cơ thể cao hơn: Vịt Anh Đào Hung đạt 1877,43 g; Vịt Anh Đào Tiệp đạt 1954,04 g; Vịt Super M dòng trống 2817 g và dòng mái đạt 2636

g ở 56 ngày tuổi (Phạm Văn Trượng1995); Szarwas đạt 2615,7 g lúc 56 ngày tuổi (Nguyễn Minh Quang và ctv, 1997), … Khối lượng cơ thể còn phụ thuộc vào giới tính, khối lượng cơ thể của vịt trống lớn hơn vịt mái do các gen liên kết giới tính qui định Theo Lesson và ctv (1982), khối lượng cơ thể của vịt trống Bắc Kinh là 3279g

và của vịt mái là 3113g ở 7 tuần tuổi Mức chênh lệch này là 5,07% Tuy nhiên sự chênh lệch này chỉ thể hiện từ tuần thứ 6 trở về sau Ngoài ra, một số tác giả khác cũng đã nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố ngoại cảnh đến khối lượng cơ thể như

Trang 26

phương thức nuôi, … Theo Azahan và Mokhtar (1984) (trích dẫn Dương Xuân Tuyển, 1998), khối lượng cơ thể vịt Bắc Kinh với phương thức nuôi khô và nuôi khô có thả ao đều như nhau Vịt Bắc Kinh nuôi sàn với mật độ lớn hơn nuôi trên nền thì không có sự khác biệt về khối lượng cơ thể ở 3 tuần tuổi đầu (Pngel, 1999) Vịt Bắc Kinh ở 7 tuần tuổi với mật độ nuôi 6 con/m2 cho khối lượng cơ thể cao nhất

(Hudsky và Machalek, 1981)

2.4.2 Sản lượng trứng

Sản lượng trứng là một tính trạng sản xuất đặc biệt quan trọng đối với chăn nuôi vịt bố mẹ Theo Hays và Horn (1981) (1998) (trích dẫn Hoàng Tuấn Thành, 2004) sản lượng trứng của gia cầm là một chỉ tiêu sản xuất tổng hợp do 5 chỉ tiêu cơ bản, ít nhiều di truyền độc lập với nhau quyết định:

- Độ dài chu kỳ đẻ trứng (năm sinh học): các giống khác nhau, điều kiện nuôi dưỡng khác nhau có độ dài đẻ trứng khác nhau

- Cường độ đẻ trứng: là sức đẻ trứng của gia cầm trong một khoảng thời gian nhất định Có hai cách để tính cường độ đẻ trứng:

+ Tính theo độ lớn trật đẻ (Trật đẻ là khoảng thời gian mà vịt đẻ trứng liên tục) Trật đẻ phụ thuộc vào dòng, giống và giai đoạn tuổi đẻ trứng

+ Tính theo tỷ lệ đẻ bình quân trong một giai đoạn (tuần đẻ, tháng đẻ,…)

- Thời gian nghỉ giữa các trật đẻ: thời gian này càng ngắn thì tỷ lệ đẻ trứng càng cao và ngược lại

- Tính đòi ấp: trong chăn nuôi công nghiệp chỉ tiêu này không quan trọng nhưng trong thực tế cần theo dõi và loại thải những cá thể ấp bóng

- Tuổi đẻ: là thời điểm đánh dấu sự thành thục về tính của vịt mái Với một

cá thể thì tuổi đẻ là thời điểm vịt đẻ quả trứng đầu tiên, với một quần thể thì tuổi đẻ được tính vào thời điểm đẻ 5% tổng đàn mái Tuổi đẻ tương quan dương đến khối lượng cơ thể (Nguyễn Văn Diện, 2002) và phụ thuộc vào yếu tố giống, dòng, mùa

vụ, kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng, đặc biệt là chế độ chiếu sáng

Trang 27

2.4.3 Khối lượng trứng

Khối lượng trứng và sản lượng trứng tạo nên năng suất trứng cho gia cầm Chỉ tiêu khối lượng trứng phụ thuộc nhiều vào yếu tố giống và có tương quan dương với khối lượng cơ thể Khối lượng cơ thể lớn thì khối lượng trứng lớn và ngược lại theo Sharma và ctv (1983) (trích dẫn Dương Xuân Tuyển, 1998) Ngoài

ra, khối lượng trứng còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như giai đoạn đẻ trứng trong một chu kỳ đẻ, tuổi vịt mái, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng, … Kết quả nghiên cứu của Karl và Noble (1985) cho thấy khi chọn lọc tăng sản lượng trứng dẫn đến khối lượng trứng giảm, khối lượng cơ thể giảm nhưng không ảnh hưởng đến tỷ lệ phôi và

tỷ lệ nở Nhiều nhà chăn nuôi vịt đồng ý rằng việc tăng hay giảm khối lượng trứng

là do tăng hay giảm tương ứng khối lượng của lòng đỏ và lòng trắng trứng Hệ số tương quan giữa lòng đỏ và lòng trắng trứng là 0,82 và 0,98

2.4.4 Tỷ lệ trứng có phôi

Tỷ lệ trứng có phôi phụ thuộc vào các yếu tố như: tỷ lệ trống/mái, khả năng của từng cá thể trống (mức độ phát triển của bộ phận sinh dục, số lượng và chất lượng tinh trùng) Vì vậy, chỉ tiêu này chịu tác động chủ yếu của các yếu tố ngoại cảnh

Tỷ lệ trống mái ghép phối phụ thuộc nhiều vào giống: các giống vịt nặng cân đòi hỏi tỷ lệ trống mái cao hơn các giống vịt nhẹ cân, các giống vịt hướng thịt đòi hỏi tỷ lệ trống mái cao hơn các giống vịt hướng trứng hoặc các giống vịt kiêm dụng (Dương Xuân Tuyển, 1998)

Ngoài ra, tỷ lệ trứng có phôi còn phụ thuộc vào thời điểm phối giống Theo Davtyan và ctv (1986) (trích dẫn Dương Xuân Tuyển, 1998) nếu vịt giao phối trong vòng 2 giờ trước khi đẻ trứng thì tỷ lệ thụ tinh của vịt Bắc Kinh đạt 52,9% so với 82,6% – 96% nếu vịt giao phối ở những thời điểm khác

2.4.5 Tỷ lệ ấp nở

Tỷ lệ ấp nở được tính theo phần trăm số vịt con nở ra so với số trứng ấp Tỷ

lệ ấp nở thường được tính theo 2 cách: tỷ lệ ấp nở trên tổng số trứng ấp hoặc tỷ lệ

ấp nở trên tổng số trứng có phôi Trong nghiên cứu, thường chỉ quan tâm đến tỷ lệ

ấp nở trên tổng số trứng có phôi vì nó phản ánh chính xác hơn về mặt sinh học

Trang 28

Cũng như tỷ lệ trứng có phôi, tỷ lệ ấp nở cũng khác nhau ở các dòng và giống khác nhau và là chỉ tiêu chịu tác động rất lớn của các yếu tố ngoại cảnh như: mùa vụ, nhiệt độ ấp, phương pháp xử lý trứng ấp, … Tỷ lệ ấp nở của trứng vịt được lai chéo 2 hay 3 dòng cao hơn tỷ lệ ấp nở của trứng vịt dòng đơn (Mazanowsky và ctv, 1978) Kết quả này cũng phù hợp với kết quả của Brah và Sandhu (1984) (trích dẫn Dương Xuân Tuyển, 1998)

2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến sức sản xuất trứng của vịt

2.5.1 Con giống

Giống là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến sức đẻ của vịt Các giống khác nhau có khả năng sinh sản khác nhau như vịt CV - Super M2 đẻ 215-230 quả/mái/42 tuần đẻ (Cherry Valley, 1999); Szarwas đẻ 111,7 quả/mái/6tháng đẻ (Nguyễn Minh Quang và ctv, 1997); CV - Super M đẻ 200 quả/mái/42 tuần đẻ (Nguyễn Công Quốc và Dương Xuân Tuyển, 1992) Ngoài ra, giữa các dòng trong cùng một giống cũng có khả năng sản xuất khác nhau Trong cùng một dòng cũng có những cá thể đẻ sai hơn những cá thể khác Cụ thể như vịt Super M dòng trống khả năng đẻ 167,8 – 175,6 quả/mái/40 tuần đẻ còn dòng mái đẻ đến 182,4 – 192,6 quả/mái/40 tuần đẻ (Dương xuân Tuyển và ctv, 2001) còn trên vịt Super M2 dòng ông khả năng đẻ 189,1 quả/mái/42 tuần đẻ trong khi ở dòng bà khả năng đẻ 189,8 quả/mái/42 tuần đẻ (Nguyễn Đức Trọng và ctv, 2001)

2.5.2 Tuổi đẻ của vịt

Tuổi đẻ là thời điểm đánh dấu sự thành thục về tính của vịt mái Với một cá thể thì tuổi đẻ là thời điểm vịt đẻ quả trứng đầu tiên, với một quần thể thì tuổi đẻ được tính vào thời điểm đẻ đạt 5 % tổng đàn mái

Việc nghiên cứu tuổi đẻ có ý nghĩa to lớn trong thực tiễn sản xuất, nó ảnh hưởng đến hiệu quả của chăn nuôi, nếu đàn vịt đẻ quá sớm dẫn đến trứng nhỏ, khối lượng không đồng đều và đẻ sẽ không bền… nhưng nếu đẻ quá muộn sẽ dẫn đến thời gian nuôi hậu bị kéo dài, chi phí cho một vịt mái tăng cao

Trang 29

2.5.3 Dinh dưỡng

Dinh dưỡng là yếu tố rất cần thiết cho sự phát triển của cơ thể động vật nói chung và gia cầm nói riêng Thức ăn cung cấp dinh dưỡng để tạo trứng nên trong thức ăn cho vịt nếu thiếu protein, khoáng hoặc năng lượng sẽ làm giảm sức đẻ hoặc gia cầm sẽ không đẻ trứng, còn khi dư thừa thì dẫn đến gia cầm mập mỡ, rối loạn chức năng sinh lý làm khả năng sản xuất trứng bị giảm (Lâm Minh Thuận, 2004) Thông thường, khi trong đàn gia cầm bố mẹ nếu thiếu một số chất cần thiết thì sẽ dẫn đến hậu quả chết phôi cao, tỷ lệ ấp nở thấp Điều dễ nhận thấy nhất, là khi trong khẩu phần thiếu vitamin nhóm B thì không những sản lượng trứng giảm mà cả tỷ lệ

ấp nở cũng giảm theo, còn nếu thiếu vitamin D3 trong khẩu phần của vịt thì chất lượng vỏ trứng giảm, trứng bị dị hình, khả năng sử dụng canxi, phospho của phôi kém (Nguyễn Duy Hoan, 1999) Lượng thức ăn trong giai đoạn nuôi dưỡng không chỉ ảnh hưởng đến tuổi đẻ quả trứng đầu tiên cũng như sản lượng trứng, khối lượng trứng, chất lượng trứng, khối lượng cơ thể và tỷ lệ hao hụt trong giai đoạn gia cầm

đẻ Chính vì thế cần phải có một khẩu phần dinh dưỡng hợp lý đáp ứng cho nhu cầu của vịt đẻ trong từng giai đoạn

2.5.4 Độ thông thoáng

Trong quá trình hô hấp, gia cầm hấp thu oxy và thải khí carbonic (CO2) nên trong chuồng nuôi, lượng khí oxy giảm đi, đồng thời với sự gia tăng của khí carbonic và hơi nước Quá trình lên men phân hủy phân và chất độn chuồng cũng sinh ra một số chất khí có hại như: ammoniac, methan, hydrosulfic và một số chất khí có hại khác Vì vậy, đàn vịt sẽ bị ảnh hưởng xấu nếu chuồng trại không có sự thông thoáng

Sự thông thoáng kém kết hợp với điều kiện vệ sinh chuồng nuôi kém, chất động chuồng ẩm ướt làm cho nồng độ khí ammoniac tăng cao và sẽ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe đàn vật nuôi Do đó, việc tạo độ thông thoáng, trao đổi không khí trong chuồng nuôi là rất quan trọng Khi thiết kế chuồng nuôi nên xác định hướng gió chính để có thể lợi dụng hướng gió giúp thông thoáng tốt, tránh hướng gió mạnh

Trang 30

trực tiếp vào đàn vịt nhất là vịt con Ngoài ra, cần phát hoang những bụi cây thấp xung quanh chuồng nuôi nhằm tạo độ thông thoáng cho chuồng nuôi

2.5.5 Điều kiện chăm sóc và nuôi dưỡng

Các yếu tố trong chăm sóc và nuôi dưỡng như nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, độ thông thoáng… đều ảnh hưởng hoặc gián tiếp hoặc trực tiếp đến sức khỏe của vịt từ

đó ảnh hưởng đến sản xuất trứng Thiếu nước uống, thiếu ổ đẻ, nhiều tiếng ồn và một số yếu tố gây stress khác đều là tác nhân ảnh hưởng rất lớn đến năng suất trứng qua việc giảm sức đẻ trứng của vịt

Nhiệt độ chuồng nuôi ảnh hưởng lớn đến trọng lượng trứng và tỷ lệ đẻ Vịt trưởng thành chịu nhiệt độ thấp tốt hơn so với nhiệt độ cao Sự thay đổi nhiệt độ có ảnh hưởng trực tiếp đến tiêu tốn thức ăn Khi vịt được nuôi trong môi trường lạnh, quá trình thải nhiệt xảy ra thuận lợi, lượng nhiệt thải ra nhiều nên vịt sẽ ăn nhiều để cung cấp thêm năng lượng cho sự duy trì thân nhiệt, vì thế nếu không có nguồn năng lượng bổ sung đó thân nhiệt sẽ giảm và vịt sẽ chết Ngược lại, nếu môi trường quá nóng, quá trình thải nhiệt bị hạn chế, thân nhiệt khi nhiệt độ cao, vịt ở tình trạng stress nhiệt sẽ ăn ít, cử động ít, uống nước nhiều để tăng thải nhiệt sẽ dẫn đến giảm năng suất trứng, đẻ trứng nhỏ, trứng mỏng vỏ, từ đó tiêu tốn thức ăn sản xuất thịt và trứng đều cao Như vậy, nhiệt độ cao hoặc thấp đều ảnh hưởng đến sản lượng trứng, nếu nhiệt độ thấp lượng thức ăn ưu tiên sẽ sử dụng cho việc sưởi ấm của cơ thể từ

đó tiêu tốn thức ăn cho sản xuất ra một quả trứng cao Ngược lại, nhiệt độ cao sẽ làm giảm lượng thức ăn ăn vào nên không đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất trứng và sẽ làm sản lượng trứng bị sụt giảm Nhiệt độ thích hợp nhất để nuôi vịt đẻ trong khoảng 30 – 32 oC

Ẩm độ chuồng nuôi quá cao làm cho chất độn chuồng bị ướt, tạo thành một lớp hơi nước bao phủ không gian của chuồng nuôi Nếu tình trạng này kéo dài sẽ ảnh hưởng đến sự hô hấp của vịt, ảnh hưởng đến sản lượng trứng và tiêu tốn thức

ăn Ẩm độ quá thấp sẽ làm cho vịt mổ lông và rỉa thịt nhau làm ảnh hưởng giảm sức khỏe và nguy cơ bị chết cao Tóm lại, ẩm độ chuồng nuôi quá cao hoặc quá thấp đều làm tăng nguy cơ nhiễm bệnh đường hô hấp và tiêu hóa, hay nói cách khác là

Trang 31

ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe cũng như sức đẻ trứng của vịt Ẩm độ tương đối

ở chuồng nuôi vịt là không được vượt quá 70 - 75 %

Thời gian chiếu sáng đóng một vai trò quan trọng đối với vịt do ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính, vịt được đầy đủ ánh sáng sẽ thành thục sớm và đẻ sớm hơn

2.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến sức sản xuất thịt

Sức sản xuất thịt của vịt chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như: yếu tố di truyền của dòng, giống, loài, di truyền của từng cá thể và một số yếu tố ngoại cảnh như dinh dưỡng, chăm sóc nuôi dưỡng, bệnh tật…

+ Yếu tố di truyền: trong cùng một loài các giống khác nhau khả năng cho thịt khác nhau như khối lượng vịt Bắc Kinh ở 70 ngày tuổi nặng hơn vịt cỏ cùng tuổi khoảng 1,5 – 1,7 lần (Nguyễn Duy Hoan và ctv, 1999) Hướng sản xuất của vịt liên quan chặt chẽ với ngoại hình thể chất của nó Vịt hướng thịt khả năng cho thịt cao hơn so với hướng trứng hay hướng kiêm dụng Tốc độ sinh trưởng còn phụ thuộc vào tính biệt, trong cùng điều kiện nuôi dưỡng, vịt trống có khối lượng cao hơn vịt mái từ 24 – 32 % Sự tăng lên về khối lượng sống của vịt diễn ra theo quy luật không đồng đều ở các tuần tuổi, cụ thể là vịt non sinh trưởng nhanh, sau hai, ba tháng đầu nó tăng lên hàng chục lần so với khối lượng mới nở

Yếu tố ngoại cảnh: tốc độ sinh trưởng của vịt có liên quan mật thiết với mùa

vụ nở của vịt, điều kiện thức ăn và chăm sóc đàn vịt bố mẹ, chế độ nuôi dưỡng chăm sóc đàn vịt nuôi thịt, điều kiện thời tiết, dịch bệnh… Cùng một giống có tiềm năng sinh trưởng lớn song chế độ dinh dưỡng không đáp ứng nhu cầu thì sẽ hạn chế rất lớn đến tăng trọng, thậm chí còn kém thua những giống bình thường (Nguyễn Duy Hoan và ctv, 1999) Chăm sóc nuôi dưỡng là nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng đến năng suất thịt gia cầm Khẩu phần ăn đầy đủ và cân đối các chất dinh dưỡng phù hợp với từng dòng giống, lứa tuổi sẽ có tác dụng nâng cao năng suất thịt Không thể phát huy hết tiềm năng của giống tốt nếu điều kiện nuôi dưỡng không đảm bảo Tác động có định hướng của yếu tố nuôi dưỡng không chỉ ảnh hưởng đến năng suất của vịt mà còn ảnh hưởng đến chất lượng thịt

Trang 32

2.7 Một số công trình nghiên cứu liên quan đến vịt siêu thịt CV- Super M2

Dương Xuân Tuyển và ctv (2006) xác định năng suất của vịt bố mẹ và vịt thương phẩm lai 4 dòng CV - Super M tại trại vịt giống Vigova ghi nhận vịt mái đẻ quả trứng đầu tiên lúc 182 ngày tuổi, năng suất trứng đạt 202,6 quả/mái/10 tháng

đẻ, tỷ lệ thụ tinh đạt 92,7% và tỷ lệ nở đạt 81,4% và ở vịt thương phẩm 4 máu lúc 7 tuần tuổi khối lượng cơ thể đạt 3150 g, tỷ lệ nuôi sống đạt 98,7%

Nguyễn Ngọc Dung và ctv (2006) chọn lọc nâng cao khả năng sản xuất của vịt

CV – Super M dòng ông và dòng bà nuôi tại Trạm Nghiên Cứu Gia Cầm Cẩm Bình qua

9 thế hệ cho thấy vịt dòng ông có khối lượng cơ thể lúc 8 tuần tuổi đạt 2350,5 – 2690,6g, con mái 2130,2 – 2474g, năng suất trứng: 164,99 – 170,13 quả/mái/64 tuần tuổi Ngược lại, ở dòng bà khối lượng trung bình 8 tuần tuổi 2103,5 – 2169,4 g, con mái 2082 –

2132g và năng suất trứng đạt 181,24 quả/mái/64 tuần tuổi

Nguyễn Đức Trọng và ctv (2007) đã theo dõi kết quả nuôi dưỡng và sản xuất của dòng vịt ông bà A, B, C và D qua thế hệ xuất phát nhập từ Anh và thế hệ sau được ấp nở từ trứng thế hệ xuất phát sản xuất ở Việt Nam tại Trung Tâm Nghiên Cứu Vịt Đại Xuyên, kết quả cho thấy tỷ lệ nuôi sống rất cao qua 2 thế hệ đối với cả

2 dòng vịt ở giai đoạn từ 0 – 8 tuần tuổi: dòng trống đạt trung bình 97,31 %, dòng mái đạt trung bình 98,51%; khối lượng cơ thể lúc 22 tuần tuổi: dòng trống đạt trung bình: 3529 g/ con (vịt trống) và 2882 g/con (vịt mái) và ở dòng mái đạt trung bình qua 2 thế hệ là 3391 g/con (vịt trống) và 2484 g/con (vịt mái); về năng suất trứng ở dòng trống: 187,49 quả/mái/ 46 tuần đẻ và dòng mái đạt 200,49 quả/mái/48 tuần tuổi; tỷ lệ phôi của trứng vịt đạt trên 90%, vịt thương phẩm 7 tuần tuổi đạt 3234g –

3242 g, tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng trọng thấp (2,27 kg – 2,76 kg); độ dày lườn ở vịt thương phẩm đạt 15,48 mm lúc 7 tuần tuổi

Hoàng Thị Lan và ctv (2007) đã nghiên cứu về đặc điểm sinh sản của đàn vịt giống CV - Super M tại Trung Tâm Nghiên Cứu Vịt Đại Xuyên đã báo cáo ở thế thệ thứ 5 tỷ lệ nuôi sống đạt trên 96%; tuổi đẻ quả trứng đầu tiên ở dòng trống lúc 182 ngày tuổi và ở dòng mái lúc 168 ngày tuổi; năng suất trứng ở dòng trống đạt 174,83 quả/mái/40 tuần đẻ còn ở dòng mái đạt 183,5 quả/mái/40 tuần đẻ

Trang 33

Nguyễn Đức Trọng và ctv (2007) nghiên cứu khả năng sản xuất của vịt CV - Super M3 ông bà nuôi tại Trung Tâm Nghiên Cứu Vịt Đại Xuyên ghi nhận tỷ lệ nuôi sống đạt trên 90% trong giai đoạn từ 1- 26 tuần tuổi Khối lượng vịt dòng trống đạt 85% trở lên, dòng mái đạt 90 – 97% so với tiêu chuẩn của Anh Tuổi đẻ của vịt dòng trống là 26 tuần tuổi, dòng mái là 23 tuần tuổi (tương đương với tiêu chuẩn của Anh)

Nguyễn Đức Hưng và Lý Văn Vỹ (2009) đã thông báo sức sản xuất của vịt

bố mẹ CV – Super M2 nuôi trong điều kiện nông hộ tại tỉnh Bình Định Kết quả cho thấy khả năng sinh trưởng của vịt ổn định với tăng trọng bình quân là 61,99 g/con/ngày, khối lượng cơ thể lúc 8 tuần tuổi đạt 2300 – 2400g/con và đạt 3500 – 3600g/con lúc 24 tuần tuổi, vịt đẻ quả trứng đầu tiên lúc 170 – 173 ngày tuổi và khối lượng khi vào đẻ đạt 3500 g/con với sản lượng trứng bình quân là 198 quả/mái/40 tuần tuổi với mức tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng là 3,7 kg, tỷ lệ thụ tinh từ 78 – 80 %, tỷ lệ nở đạt 88 – 93%

Phùng Đức Tiến và ctv (2009) nghiên cứu công thức lai giữa vịt Super M với Super M3, Super Heavy nuôi tại Trạm Nghiên Cứu Gia Cầm Cẩm Bình – Trung Tâm Nghiên Cứu Gia Cầm Thụy Phương, kết quả cho thấy trên đàn vịt bố mẹ ghép phối năng suất trứng đạt cao nhất là 232,65 – 232,9 quả/mái/48 tuần đẻ, tỷ lệ trứng

có phôi đạt 92,7% và vịt thương phẩm có tỷ lệ nuôi sống đến 8 tuần tuổi đạt từ 96 – 98%, khối lượng lượng 3501,6 g/8 tuần tuổi

Trang 34

Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời gian và địa điểm

3.2 Nội dung và phương pháp

3.2.1 Nội dung nghiên cứu

- Khảo sát sức sinh sản của vịt bố mẹ siêu thịt CV - Super M2 với 4 lô ghép phối theo khối lượng sống của trống và mái

- Khảo sát sức sinh trưởng, sức sống và sức sản xuất thịt của vịt con thương phẩm từ 4 lô ghép phối trên

3.2.2 Phương pháp nghiên cứu

Vịt giống CV – Super M2 bố mẹ nuôi thí nghiệm được mua từ trại vịt giống Vigova lúc 1 ngày tuổi và nuôi tại trại đến 25 tuần tuổi Mỗi đợt bố trí thí nghiệm chọn 40 vịt trống từ đàn 80 vịt trống nuôi tại trại và 240 vịt mái được tuyển chọn từ đàn 500 vịt hậu bị được nuôi tại trại Sau khi chọn lựa theo ngoại hình và tầm vóc sẽ được cân riêng từng cá thể và tính trung bình để phân hạng theo khối lượng ghép phối đưa vào các lô thí nghiệm: cá thể trống hay mái có khối lượng sống nặng hơn trung bình của giới tính sẽ được xếp vào nhóm nặng cân và nhẹ hơn sẽ xếp vào nhóm nhẹ cân Vịt bố mẹ được ghép phối theo tỷ lệ 1 trống với 6 mái và theo dõi số liệu khi đàn vịt đẻ được 5% và kết thúc lúc 65 tuần tuổi

Trang 35

Trứng vịt tạo ra từ 4 lô thí nghiệm được ghép phối trên sẽ được ấp nỡ tại lò ấp của trại thành vịt con thương phẩm được chọn nuôi thịt thí nghiệm đến 8 tuần tuổi Các yếu tố khác như thức ăn dinh dưỡng, chế độ chăm sóc quản lý, qui trình

vệ sinh thú y đồng đều nhau giữa các lô

Vịt con được tạo ra từ 4 lô thí nghiệm trên sẽ được theo dõi từ 0 đến 8 tuần tuổi Thí nghiệm được lặp lại 2 đợt, mỗi đợt cách nhau 1 tháng Số lượng vịt bố mẹ mỗi đợt được cân và chọn lựa từ 350 vịt hậu bị lúc 25 tuần Kết quả số lượng vịt bố mẹ, mức khối lượng sống được ghép phối và số lượng vịt con nuôi thịt được trình bày qua bảng 3.1

Trang 36

Bảng 3.1: Bố trí thí nghiệm ghép phối vịt bố mẹ sinh sản và vịt con nuôi thịt

Diễn giải

Trống nặng cân

x Mái nặng cân (I)

Trống nặng cân

x Mái nhẹ cân (II)

Trống nhẹ cân

x Mái nặng cân (III)

Trống nhẹ cân

x Mái nhẹ cân (IV)

Trang 37

3.3 Điều kiện thí nghiệm

3.3.1 Nguồn gốc con giống

- Vịt bố mẹ

Vịt CV – Super M2 bố mẹ được mua từ Trại vịt giống Vigova lúc 1 ngày tuổi

và được nuôi dưỡng tại trại đến 25 tuần tuổi

Ở mỗi đợt bố tri đợt thí nghiệm: 40 vịt trống được chọn lọc từ đàn 80 vịt trống và 240 vịt mái được chọn lọc từ đàn 500 vịt hậu bị

- Vịt con nuôi thịt thương phẩm được ấp nở tại lò ấp của trại từ trứng của 4 lô

vịt bố mẹ thí nghiệm

3.3.2 Chuồng trại

Chuồng được xây theo kiểu thông thoáng tự nhiên, mái lợp bằng tôn, có sân chơi và ao cho vịt tắm

Ổ đẻ được bố trí xung quanh vách chuồng Ổ đẻ được lót bằng rơm

Xung quanh chuồng được phát hoang những bụi cây thấp nhằm tạo sự thông thoáng và tránh ẩm thấp đồng thời ngăn ngừa việc lưu trữ mầm bệnh Những cây có tán cao và rộng được giữ lại nhằm tạo bóng mát và giảm nhiệt độ ở lúc trời nắng nóng

Hố sát trùng được bố trí trước cửa ra vào chuồng nuôi và cổng của trại

Ao cho vịt tắm: định kỳ sau mỗi đợt nuôi được nạo vét Nước trong ao được thay đổi thường xuyên, có thiết kế cầu để vịt lên xuống ao được dễ dàng nhằm tránh dập trứng vịt đẻ

3.3.3 Thức ăn

Vịt hậu bị bố mẹ thí nghiệm được cho ăn thức ăn EH được sản xuất tại Long

An loại 423 (vịt sinh sản), loại 411 (vịt 0 – 3 tuần tuổi), loại 413 (vịt thịt thương phẩm) Thức ăn được đảm bảo mới, thơm, không có nấm mốc Thành phần dinh dưỡng của thức ăn hỗn hợp được trình bày nuôi thịt thí nghiệm qua bảng 3.2

Trang 38

Bảng 3.2: Thành phần dinh dưỡng của thức ăn

Loại vịt Loại

TĂHH

NLTĐ (kcal/kg)

Protein thô (%)

Xơ (%) Ca (%) P (%)

+ Vận chuyển trứng về lò ấp mỗi ngày 1 lần

Chăm sóc vịt con

+ Vịt con trong tuần tuổi đầu tiên được úm trên lồng Sau đó từ tuần tuổi thứ

2 trở về sau thả ra nuôi hoàn toàn trên nền

+ Vịt được cho ăn tự do 3 lần/ngày

+ Đàn vịt cũng được theo dõi tình trạng sức khỏe hàng ngày và tiêm phòng đầy đủ các bệnh

Trang 39

3.4 Qui trình phòng bệnh

1 – 30 ngày tuổi Thương hàn, E.coli, khẹc mũi, viêm xoang truyền nhiễm

(định kỳ 3 ngày liên tiếp pha nước uống)

(1) Tỷ lệ đẻ (%): được tính theo công thức

Tỷ lệ đẻ (%) = (Tổng số trứng thu được trong thời gian theo dõi/ Tổng số vịt ngày trong thời gian theo dõi) x 100

(2) Khối lượng trứng (g): được tính theo công thức (30 quả trứng/1 lần cân)

Khối lượng trứng (g) = Tổng khối lượng trứng cân được/ Tổng số

trứng đã cân

(3) Tỷ lệ trứng chọn ấp (%) được tính theo công thức

Tỷ lệ trứng chọn ấp (%) = (Tổng số trứng được chọn ấp/ Tổng số trứng đem ấp) x 100 (4) Tỷ lệ trứng có phôi (%): được tính theo công thức

Trang 40

Tỷ lệ trứng có phôi (%) = (Tổng số trứng có phôi sau 5 ngày ấp/ Tổng số trứng đem ấp) x 100

(5) Tỷ lệ ấp nở (%): được tính theo công thức

Tỷ lệ ấp nở (%) = (Tổng số vịt con nở ra/ Tổng số trứng đem ấp) x 100

(6) Lượng thức ăn tiêu thụ (g/con/ngày): được tính theo công thức

Lượng thức ăn tiêu thụ (g/con/ngày) = Tổng lượng thức ăn trong thời gian theo dõi/ Tổng số ngày vịt có mặt trong thời gian theo dõi

(7) Hệ số chuyển biến thức ăn/ 10 quả trứng (kg) (HSCBTA): được tính theo

công thức

HSCBTA/10 quả trứng (kg) = (Tổng lượng thức ăn tiêu thụ trong thời

gian theo dõi/Tổng số trứng thu được trong thời gian theo dõi) x 10

(8) Tỷ lệ vịt mái loại thải (%) được tính theo công thức

Tỷ lệ vịt mái loại thải (%) = (Tổng số vịt mái loại thải/ Tổng số vịt mái

đầu đàn) x 100

(9) Giá thành sản xuất trứng giống và vịt con (đồng): được tính theo công thức

Giá thành/1 trứng giống = chi phí thức ăn trên 1 trứng giống x 100/65

(Trong đó: chi phí thức ăn = chi phí thức ăn cho 10 quả trứng/ tỷ lệ trứng chọn ấp)

Giá thành/1 vịt con = (giá thành 1 trứng giống + công ấp/quả)/ tỷ lệ ấp nở

Ngày đăng: 14/03/2019, 10:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm