HỒ CHÍ MINH *********** VÕ THANH SƠN NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN ĐẾN SỰ PHÁT SINH, PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ BỆNH HẠI TRÊN CÂY CÀ PHÊ TẠI TỈNH BÌNH PHƯỚC... NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
***********
VÕ THANH SƠN
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN ĐẾN SỰ PHÁT SINH, PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ BỆNH HẠI TRÊN CÂY CÀ PHÊ TẠI TỈNH BÌNH PHƯỚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 10/2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
***********
VÕ THANH SƠN
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN ĐẾN SỰ PHÁT SINH, PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ BỆNH HẠI TRÊN CÂY CÀ PHÊ TẠI TỈNH BÌNH PHƯỚC
Trang 3NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN ĐẾN SỰ
PHÁT SINH, PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ BỆNH HẠI TRÊN CÂY CÀ PHÊ TẠI TỈNH BÌNH PHƯỚC
VÕ THANH SƠN
Hội đồng chấm luận văn:
Hội Bảo vệ thực vật
Đại học Nông Lâm TP HCM
3 Phản biện 1: PGS.TS.Huỳnh Thanh Hùng
Đại học Nông Lâm TP HCM
4 Phản biện 2: TS Lê Quang Hưng
Đại học Nông Lâm TP HCM
Cục Trồng trọt, Bộ NN&PTNT
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
HIỆU TRƯỞNG
Trang 4LÝ LỊCH CÁ NHÂN
Tôi tên là Võ Thanh Sơn, sinh ngày 05 tháng 08 năm 1978 tại thôn Chánh Danh, xã Cát Tài, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định, là con của Ông Võ Văn Nga và Bà Nguyễn Thị Thanh Xuân
Tốt nghiệp phổ thông tại trường Trần Quốc Toản, thị trấn EaKNốp, huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk năm 1997
Tốt nghiệp Đại học Nông Lâm chuyên ngành Nông Học, hệ chính quy tại Trường Đại học Nông Thành Phố Hồ Chí Minh, quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh
Sau đó, làm việc tại Trung Tâm Khuyến Nông Tỉnh Bình Phước từ tháng 12 năm 2003, hiện nay làm việc tại Trạm Khuyến Nông Huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước, chức vụ Trưởng Trạm
Tháng 09 năm 2007 theo học Cao học ngành Bảo vệ thực vật tại Đại học Nông Lâm Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Người cam đoan
Võ Thanh Sơn
Trang 6LỜI CẢM TẠ
Để hoàn tất đề tài này, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ và động viên của mọi người
Tôi xin gửi lòng biết ơn chân thành đến:
- Quý Thầy, Cô giáo Khoa Nông học, Phòng sau đại học – trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh đã truyền thụ những kiến thức quý báu cho tôi trong suốt thời gian học tập tại trường
- PGS TS Phạm Văn Dư Cục phó Cục Trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đã định hướng nghiên cứu, hướng dẫn thí nghiệm, chỉ bảo tận tình cho tôi hoàn thành đề tài này
- Viện KHKT Nông lâm nghiệp Tây Nguyên đã giúp đỡ tôi phân tích các mẫu đất và phân cấp độ phì đất trồng cà phê ở một số huyện của tỉnh Bình Phước trong phạm vi điều tra của đề tài luận văn
- Lãnh đạo Trạm khuyến nông huyện Lộc Ninh, Ủy ban Nhân dân huyện Lộc Ninh đã tạo điều kiện cho tôi đi học
- Các anh, chị, em đồng nghiệp và bạn bè là nguồn động viên lớn về tinh thần giúp tôi thực hiện tốt đề tài
- Bố, mẹ, vợ và các anh chị em trong gia đình là nguồn động viên lớn về tinh thần cũng như vật chất để tôi hoàn thành đề tài
TP Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2011
Võ Thành Sơn
Trang 7TÓM TẮT
Đề tài “NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN ĐẾN SỰ PHÁT
SINH, PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ BỆNH HẠI TRÊN CÂY CÀ PHÊ TẠI TỈNH BÌNH PHƯỚC” được thực hiện tại tỉnh Bình Phước từ tháng 05 năm 2009 đến
tháng 12 năm 2010
Điều tra 120 hộ sản xuất cà phê trên 7 huyện của tỉnh Bình Phước trong khoảng thời gian từ tháng 05/2009 đến tháng 03/2010 nhằm nắm được tập quán sử dụng phân bón trong canh tác cây cà phê của nông dân và đánh giá tình hình bệnh hại trên cây cà phê tại tỉnh Bình Phước Kết quả điều tra cho thấy 100% số hộ điều tra sử dụng phân hóa học và trên 40% số hộ điều tra sử dụng phân hữu cơ bón cho cà phê Lượng phân bón chăm sóc trung bình thấp hơn so với nhu cầu của cây cà phê Các loại bệnh hại cà phê chủ yếu ở Bình Phước là bệnh rỉ sắt hại lá, bệnh nấm hồng hại cành và bệnh rụng quả sinh lý Năng suất cà phê ở các huyện điều tra tại tỉnh Bình Phước bình quân đạt dưới 2 tấn nhân/ha
Bố trí thí nghiệm các tổ hợp phân bón khác nhau từ tháng 05/2010 đến tháng 12/2010 tại ấp Suối Cam, Tiến Thành, Đồng Xoài, Bình Phước Kết quả thí nghiệm cho thấy: Các nghiệm thức bón phân có ảnh hưởng tới tỉ lệ cây bệnh rỉ sắt thời điểm sau bón phân 120 ngày, chỉ số bệnh rỉ sắt sau bón phân 180 ngày và 210 ngày; tỉ lệ quả rụng giai đoạn sau bón phân 30 - 210 ngày, nhưng không có khác biệt so với đối chứng Các nghiệm thức bón phân không ảnh hưởng đến: Tỉ lệ cây bệnh rỉ sắt thời điểm sau bón phân 150 ngày, 180 ngày và 210 ngày; CSB rỉ sắt sau bón phân 120 ngày
và 150 ngày; tỉ lệ cây bệnh nấm hồng và CSB nấm hồng ở tất cả các thời điểm quan trắc Trong tất cả các nghiệm thức bón phân, chỉ nghiệm thức 9 có năng suất (nhân) cao hơn đối chứng (14%) Các nghiệm thức phân bón có ảnh hưởng tới trọng lượng và kích cỡ hạt nhưng không khác biệt rõ rệt so với đối chứng Chưa thấy ảnh hưởng nhiều của các nghiệm thức phân bón đến các chỉ tiêu dinh dưỡng trong đất, ngoại trừ pH và hàm lượng hữu cơ trong đất
Trang 8Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.3 Vai trò của các loại phân khoáng đối với năng suất, chất lượng cà phê 6
2.3.4 Lưu huỳnh (S), can-xi (Ca) và manhê (Mg) 7
2.3.5 Hai nguyên tố vi lượng chủ yếu 8
2.4 Một số kết quả nghiên cứu về phân bón cho cà phê 8
2.4.1 Trong nước 8
Trang 92.5 Một số bệnh hại chính trên cây cà phê vối 12
2.5.3 Bệnh nấm hồng (Corticium salmonicolor B and Br.) 142.5.4 Các bệnh do yếu tố dinh dưỡng 15
2.5.6.1 Bệnh rụng quả 192.5.6.2 Bệnh biến đổi màu sắc/hình dạng lá do thiếu dinh dưỡng 19Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 213.1 Nội dung nghiên cứu 213.2 Phương pháp nghiên cứu 213.2.1 Điều tra đánh giá thực trạng sản xuất cà phê và mức độ bệnh trên cây cà phê tại
một số huyện trồng cà phê ở tỉnh Bình Phước 21
3.2.1.2 Phương pháp điều tra hiện trạng canh tác cà phê tại Bình Phước 213.2.1.3 Phương pháp điều tra thành phần bệnh hại trên cây cà phê (theo Vũ Đình Phú,
1996) 223.2.1.4 Phương pháp lấy mẫu đất và phân tích hàm lượng dinh dưỡng đất trong quá
3.2.2 Thí nghiệm ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón khác nhau đến sự phát sinh,
phát triển của bệnh hại và năng suất cà phê 243.2.2.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm 253.2.2.2 Vật liệu nghiên cứu 253.2.2.3 Thiết kế thí nghiệm 26
3.2.2.5 Phương pháp lấy mẫu đất và phân tích hàm lượng 293.3 Xử lý số liệu 29
Trang 10Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 304.1 Kết quả điều tra đánh giá thực trạng sản xuất cà phê và mức độ gây hại của các loại bệnh trên cà phê tại tỉnh Bình Phước 30
4.2 ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN TỚI BỆNH HẠI CÀ PHÊ 434.2.1 Ảnh hưởng của phân bón tới sự phát sinh phát triển của một số bệnh hại 43
4.2.1.2 Bệnh nấm hồng (do nấm Corticium salmonicolor) 464.2.1.3 Bệnh rụng quả 484.2.2 Ảnh hưởng của phân bón tới năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế 53
4.2.3 Hiệu quả kinh tế 564.2.4 Ảnh hưởng của phân bón tới dinh dưỡng đất 58Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 615.1 KẾT LUẬN 615.1.1 Tình hình sản xuất cà phê ở Bình Phước 615.1.2 Ảnh hưởng của phân bón tới bệnh hại cà phê 615.2 ĐỀ NGHỊ 61TÀI LIỆU THAM KHẢO 63PHẦN PHỤ LỤC 67
Trang 11DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 12DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 2.2 Thành phần dinh dưỡng chính trong các bộ phận của quả để sản xuất 1000
Bảng 2.4 Lượng phân bón sử dụng cho cà phê vối (kg nguyên chất/ha) 9
Bảng 3.3 Thành phần dinh dưỡng của các loại phân sử dụng trong thí nghiệm 25 Bảng 3.4 Các nghiệm thức trong thí nghiệm 26 Bảng 4.1 Tỉ lệ đất bazan và loại đất khác trồng cà phê ở các huyện điều tra 30
Bảng 4.3 Khoảng biến động của một số các chất dinh dưỡng trong đất bazan trồng cà
Bảng 4.6 Liều lượng trung bình các loại phân hoá học bón cho cà phê hàng năm tại
Bảng 4.13 Tỉ lệ cây bị bệnh rỉ sắt ở các nghiệm thức 43 Bảng 4.14 Chỉ số bệnh rỉ sắt ở các nghiệm thức 44
Bảng 4.17 Tỉ lệ quả rụng của các nghiệm thức 52
Trang 13Bảng 4.19 Chất lượng cà phê nhân ở các nghiệm thức 55
Bảng 4.21 Hàm lượng một số yếu tố dinh dưỡng đất trước và sau thí nghiệm 59
Trang 14Hình 2.3 Vườn cà phê bị thiếu đạm và lá cà phê thiếu đạm (N) (Viện KHKT-NLN
Tây Nguyên, Đăk Lăk) 15
Hình 2.4 Lá cà phê bị thiếu kali (Viện KHKT-NLN Tây Nguyên, Đăk Lăk) 16
Hình 4.2 Mức độ bệnh rỉ sắt của các nghiệm thức 46
Hình 4.3 Số quả trong 10 chùm của các nghiệm thức 51
Hình 4.4 So sánh năng suất nhân của các nghiệm thức với đối chứng 54
Trang 15mà còn tránh làm suy thoái tài nguyên và môi trường, đảm bảo cho một sự phát triển bền vững và lâu dài
Cà phê là một trong số các cây công nghiệp lâu năm chủ lực của tỉnh Bình Phuớc Diện tích trồng cà phê của Bình Phước tới cuối năm 2010 là 12.500 ha và sản lượng niên vụ 2010 đạt 16.000 tấn nhân Theo chủ trương của Bộ Nông nghiệp và PTNT, tỉnh Bình Phước tới năm 2020 chỉ duy trì diện tích khoảng 8.000 ngàn ha cà phê để tập trung thâm canh (Tờ trình Thủ tướng Chính phủ, tháng 4/2011 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành cà phê Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030)
Cây cà phê trồng ở tỉnh Bình Phước chủ yếu là giống Robusta (cà phê vối) Những điều kiện về đất đai và khí hậu ở tỉnh Bình Phước là tương đối phù hợp cho sự phát triển của cây cà phê vối Tuy nhiên do tập quán canh tác còn chưa thích hợp, sử dụng phân bón chưa hợp lý, phòng trừ sâu bệnh còn mang tính tự phát,… cho nên năng suất cà phê ở Bình Phước còn thấp và chưa ổn định Năng suất thu hoạch bình quân toàn tỉnh chỉ đạt 1,3 tấn cà phê nhân/ha; so với năng suất ở một số tỉnh trồng cà phê gần kề khác như Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng thì năng suất ở Bình Phước còn rất thấp Các tài liệu báo cáo của Chi cục Bảo vệ Thực vật, Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Bình Phước giai đoạn 2000 – 2008 cho thấy các loại nấm bệnh gây hại trên cây cà phê ở Bình Phước rất phổ biến, làm ảnh hưởng đáng kể tới năng suất và phẩm chất cà phê Việc nghiên cứu về phân bón cho cây cà phê tại tỉnh Bình phước được
Trang 16nhiều sự quan tâm của ngành nông nghiệp cũng như sở Khoa Học Công Nghệ của tỉnh nhằm mục đích giảm thiểu bệnh hại trên cây cà phê và nâng cao năng suất, phẩm chất
để tăng hiệu quả kinh tế cho nông dân trồng cà phê trong tỉnh Tuy nhiên, hiện nay chưa có một nghiên cứu cụ thể nào để xác định mối liên quan giữa thực hành bón phân với sự phát triển của các loại bệnh hại cà phê cũng như thiệt hại về năng suất và phẩm chất cà phê do bệnh hại gây ra
Xuất phát từ tình hình đó chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng
của phân bón đến sự phát sinh, phát triển của một số bệnh hại trên cây cà phê tại tỉnh Bình Phước” nhằm góp phần tạo lập cơ sở khoa học cho việc xác định các giải
pháp phát triển cây cà phê ở tỉnh Bình Phước theo hướng bền vững
1.2 Mục tiêu và yêu cầu
1.2.1 Mục tiêu
- Nắm bắt tập quán sử dụng phân bón trong canh tác cây cà phê của nông dân
và đánh giá tình hình bệnh hại trên cây cà phê tại một số huyện trồng cà phê của tỉnh Bình Phước;
- Tìm hiểu ảnh hưởng của phân bón đến phát sinh, phát triển nấm bệnh trên cây
cà phê
1.2.2 Yêu cầu
- Thiết kế phiếu điều tra;
- Phân tích mẫu đất điều tra, trước và sau thí nghiệm phân bón;
- Bố trí thí nghiệm 10 nghiệm thức phân bón với 3 lần lặp lại trên diện tích 10.000 m2 cà phê đang trong thời kỳ kinh doanh (10 năm tuổi)
1.2.3 Phạm vi đề tài
Chỉ nghiên cứu một số loại bệnh gây hại chủ yếu trên cây cà phê ở tỉnh Bình Phước, trong quá trình điều tra trên các vườn cây của nông hộ và trong vườn thí nghiệm về phân bón
Trang 17Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Khái quát về cây cà phê
Theo Phan Quốc Sủng (1995), cà phê là cây bụi, thân vừa, sống lâu năm và có lá xanh quanh năm; bộ rễ ăn nông Rễ cọc cây trưởng thành ăn sâu 30 - 45cm hoặc hơn Trọng lượng bộ rễ tập trung chủ yếu ở tầng đất mặt 0 - 30cm
Cliffort (1987) cho rằng hai loài quan trọng nhất được trồng nhiều hiện nay là cà
phê chè (Coffea arabica Linn) và cà phê vối (C canephora Pierr ex Froehner) Hai loài khác ít được trồng hơn vì giá trị thương mại kém là cà phê mít (C excelsa Chev)
và cà phê mít dâu da (C liberica Bull ex Hiern) Chúng thuộc họ Rubiacea
Theo Cannell (1987), cà phê phát triển tốt trên đất có tầng dầy trên 1,2 m và lý tính đất quan trọng hơn là hóa tính đất vì có thể điều khiển hóa tính đất qua việc bón phân
Willson (1987) và Wrigley (1988) đã mô tả những yêu cầu về điều kiện khí hậu đối với canh tác cây cà phê Nói chung cây cà phê yêu cầu nhiệt độ cao và năng lượng bức xạ lớn Tuy nhiên cây trồng này không chấp nhận ánh sáng trực xạ có cường độ quá lớn, nhất là cây cà phê chè Nhiệt độ không khí trung bình năm thích hợp nhất cho
cà phê vối là 22 - 260C, cho cà phê chè 17 – 23 0C và biên độ nhiệt độ không khí đêm nên duy trì trong khoảng 9 – 12 0C Ẩm độ không khí trung bình năm thích hợp nhất khoảng 85 % cho cà phê vối và 75 – 80 % cho cà phê chè Cà phê chịu đựng tốt với biến động của lượng mưa nhưng tốt nhất lượng mưa 2000 – 2500 mm cho cà phê vối và 1500 – 2000 mm cho cà phê chè và trong năm cần khoảng 3 tháng khô hạn để thuận lợi cho thu hoạch và giúp cây phân hóa mầm hoa Gió mạnh trong mùa khô làm tăng sự bốc thoát hơi nước từ cây và đất và có thể làm tổn thương cây về mặt cơ học
ngày-Độ cao địa hình thích hợp cho cà phê vối 200 - 900 m và cà phê chè 700 - 1700 m
Khoảng cách mật độ trồng tuỳ theo đặc điểm từng giống và điều kiện canh tác Một số nơi trồng cây che bóng và cây đai rừng để tránh nắng và gió cho cà phê Để
Trang 18duy trì năng suất phải bón phân hoá học, tạo hình tỉa cành, làm cỏ và phòng trừ một số sâu bệnh hại Một số vùng có mùa khô khốc liệt phải áp dụng biện pháp tưới nước (Phan Quốc Sủng, 1995)
Sản xuất cà phê của Việt Nam gần đây đã có những tiến bộ vượt bậc Năm 1991
có tổng số 115 ngàn ha với sản lượng 71 ngàn tấn cà phê nhân; tới năm 1995 con số đã lên 187 ngàn ha và 218 ngàn tấn, với tổng giá trị xuất khẩu là 560 triệu USD Năm
2010, diện tích cà phê toàn quốc là 555 ngàn ha và sản lượng đạt 1.101.198 tấn nhân (Cục Trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, tháng 4 năm 2011)
2.2 Nhu cầu dinh dưỡng khoáng của cây cà phê
Cà phê là cây có yêu cầu cao về dinh dưỡng Cây cần dinh dưỡng một phần tạo
ra sản phẩm là cà phê nhân, nhưng phần lớn tạo ra cành, lá thân và vỏ quả, hạt
Phân tích thành phần các chất có trong các bộ phận của một cây cà phê chè 10 năm tuổi, với trọng lượng khoảng 20 kg, Wrigley (1988) đưa ra số liệu ở Bảng 2.1
Bảng 2.1 Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong các bộ phận của cây
Nguyên tố đa lượng (g)
59,5 5,2 46,1 38,2 4,8 5,6
98,6 8,3 100,8 58,4 17,8 13,6
21,0 2,1 26,7 2,7 1,7 1,4
240,3 17,6 206,6 138,4 31,1 25,0
50
312 27.067
80 1.920
507 0,9
70
30 4.131
26
65
27 0,1
13
585 35.888
240 3.830
803 1,7
157 Trọng lượng các bộ phận (g) 9.718 5.856 3.834 1.211 20.619
Nguồn: Wrigley, 1988
Trang 19Wrigley (1988) giả định rằng 1000 kg cà phê nhân của Brazil đã lấy đi 34 kg N;
2,2 kg P và 39,8 kg K Một cây cà phê 5 tuổi đã hút đi từ đất là 118g N, 7g P, 100g K,
55g Ca, và 14g Mg Cũng theo tác giả này, với mật độ 2350 cây/ha thì tổng số dinh
dưỡng lấy đi là 277 kg N, 37.6kg P2O5, 282kg K2O, 108kg CaO và 55kg MgO
Theo Willson (1987), hàm lượng các chất dinh dưỡng chính ở trong các bộ
phận của quả là nhân, vỏ thịt và vỏ thóc để sản xuất một tấn nhân cà phê Arabica như
nêu trong Bảng 2.2
Bảng 2.2 Thành phần dinh dưỡng chính trong các bộ phận của quả để sản xuất 1000
kg nhân cà phê Arabica
Theo Trương Hồng (1999), cây cà phê vối kinh doanh hàng năm lấy đi từ đất
một lượng dinh dưỡng là 70 kg N; 7,04 kg P2O5 và 66,75 kg K2O/ha để đảm bảo cho
quá trình sinh trưởng dinh dưỡng, trong đó bộ phận thân, cành, lá chiếm tỷ lệ cao nhất
Hàm lượng các chất dinh dưỡng đa lượng trong 1 tấn cà phê nhân trồng trên đất Bazan
ở Tây Nguyên như sau: đạm (N): 39,5 kg; lân (P2O5): 5,7 kg; kali (K2O): 35,4 kg
Như vậy đối với cây cà phê N và K đóng vai trò quan trọng nhất Cà phê có nhu
cầu về P thấp, thậm chí còn thua các nguyên tố như Ca, Mg, S Các nguyên tố vi lượng
tuy cần với số lượng nhỏ nhưng sự thiếu hụt chúng có thể dẫn đến những lọai bệnh
sinh lý trầm trọng
Sử dụng phân bón một cách lý tưởng nhất là phải đáp ứng được hai vấn đề: cây
trồng vừa đạt được sản lượng cao hơn, vừa có chất lượng tốt hơn Ngoài các loại phân
đa lượng, các loại phân vi lượng cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hạn chế bệnh
tật, cải thiện năng suất và chất lượng cà phê
Trang 20Để đánh giá cây có hút đủ chất dinh dưỡng hay không, Wrigley (1988) đã đề nghị phân tích dinh dưỡng có trong cặp lá thứ 4 trên các cành đang mang quả, và các ông đã đề nghị phổ lý tưởng nhất cho các nguyên tố như trong Bảng 2.3
Bảng 2.3 Ngưỡng thích hợp cho mỗi loại dinh dưỡng trong lá trên cành quả
Theo Trương Hồng (1997), hàm lượng N trong cây cà phê biến động từ 1,5 - 2,0% trọng lượng khô, trong hạt chứa từ 3,5 - 4,5 % Đạm tham gia cấu thành năng
Trang 21suất từ 32,6 - 49,4% Cung cấp đủ N giúp cây hút các chất khác tốt hơn, đặc biệt là kali
2.3.2 Phân kali (K)
K hoạt hóa cho nhiều hệ enzyme và đặc biệt được xem là yếu tố để cải thiện tình trạng năng lượng của cây và các cơ chế tổng hợp carbohydrate, cũng như sức chống chịu với những điều kiện ngọai cảnh bất lợi Vì vậy, một mức K đầy đủ có tác dụng cải thiện sức khỏe của cây cà phê (Cliffort,1987)
Kali tham gia trong quá trình tổng hợp protein và các hợp chất hữu cơ trong cây Kali làm tăng khả năng hút nước, giúp cây tăng được khả năng chịu hạn, chịu rét
và chịu mặn Kali có tác dụng làm giảm tỷ lệ rụng quả, tăng trọng lượng quả và trọng lượng nhân, đồng thời cũng làm cho cây ít bị nhiễm sâu bệnh hơn do cây sinh trưởng khỏe hơn Kali tham gia cấu thành năng suất từ 27,4 - 44,7% (Trương Hồng,1997)
2.3.3 Phân lân (P)
Theo Nguyễn Khả Hòa (1994), P đóng một vai trò rất có ý nghĩa trong việc hình thành nhiều hợp chất cây trồng quan trọng, bao gồm phosphoric acid, phytin, phosphatides, phosphoprotein và nucleotide Các hợp chất này đóng vai trò quan trọng trong sinh trưởng và phát triển của thực vật và trong chất lượng của sản phẩm Sức khỏe của cây và chất lượng hạt cũng bị ảnh hưởng bởi hàm lượng phosphor trong cây
Sự cung cấp P gia tăng sẽ làm tăng hàm lượng protein thô trong hạt, tăng các amino acid thiết yếu Thiếu P sẽ làm giảm khả năng tích lũy đường và tinh bột
Hàm lượng lân trong lá, thân, cành biến thiên từ 0,07 - 0,15% P2O5, trong hạt chứa 0,35 - 0,50% P2O5 trọng lượng khô, Lân chỉ tham gia cấu thành năng suất từ 7,8 - 8,6% Đối với cây cà phê, nhu cầu về lân ít hơn nhiều so với nhu cầu về N và K Hàm lượng P trong hạt không có sự khác biệt đáng kể theo mức phân lân được bón (Trương Hồng,1997)
2.3.4 Lưu huỳnh (S), can-xi (Ca) và manhê (Mg)
Với cây cà phê, S, Ca và Mg được coi là các nguyên tố đa lượng, nhưng ảnh hưởng của các nguyên tố này đến năng suất và chất lượng cà phê còn ít được nghiên cứu Cây cà phê nói chung hút nhiều Ca, nhưng hầu hết các loại đất trồng đều đủ lượng Ca cần thiết để cung cấp cho cây (Wrigley, 1988) Việc bón Ca chủ yếu nhằm
Trang 22mục đích nâng cao độ pH của đất, tạo điều kiện thuận lợi cho bộ rễ họat động hấp thu các lọai dinh dưỡng khoáng khác hơn là mục đích cung cấp dinh dưỡng (FAO, 1978)
Hàm lượng S trong lá biến động từ 0,09 - 0,14%, trong hạt từ 0,12 - 0,16% (Tôn Nữ Tuấn Nam, 1998) Lưu huỳnh tham gia tạo thành chlorophyl là thành phần quan trọng của diệp lục đóng vai trò to lớn trong việc tổng hợp các hợp chất hữu cơ nhờ năng lượng của ánh sáng mặt trời Đặc biệt S tham gia cấu tạo các hợp chất thơm cho hạt cà phê, tăng tính chịu hạn và chịu nhiệt của cây cà phê
Hàm lượng Ca trong lá cà phê giao động từ 0,5 - 1,2%, trong hạt từ 0,4 - 0,7% (tính theo trọng lượng khô)
Ca tham gia chủ yếu vào cấu tạo tế bào, làm tăng tính chịu độc nhôm và mangan của cây
Manhê (Mg) là thành phần chính trong diệp lục, manhê cũng tham gia vào các phản ứng enzyme liên quan đến sự chuyển hóa năng lượng của cây
2.3.5 Hai nguyên tố vi lượng chủ yếu
a) Kẽm (Zn)
Theo Tôn Nữ Tuấn Nam (1998), hàm lượng kẽm trong lá cà phê biến thiên từ
10 - 15ppm Trong 1 tấn nhân cà phê có chứa khoảng 10 - 15g kẽm Kẽm làm tăng tính chịu hạn, chịu nóng, thúc đẩy việc sử dụng và chuyển hóa đạm, lân trong cây Kẽm đóng vai trò quan trọng trong quá trình phân hóa mầm hoa, thụ phấn, thụ tinh và hình thành quả
Trang 23Bảng 2.4 Lượng phân bón sử dụng cho cà phê vối (kg nguyên chất/ha)
Trương Hồng (1999) khi nghiên cứu về liều lượng và tỷ lệ N: P2O5: K2O đối
với cà phê vối vùng Buôn Ma Thuột đã đề nghị cà phê vối đạt năng suất trên 2,6 tấn
nhân/ha thì phải bón N: P2O5 : K2O với liều lượng và tỷ lệ tương ứng là 200-400:
75-90: 250-260 kg/ha/năm, đạt năng suất kinh tế khi bón N: P2O5 : K2O là 140 : 50 : 170
kg/ha/năm Trên đất Gneiss (Kontum) để đạt năng suất trên 1,6 tấn nhân/ha thì phải
bón NPK với liều lượng 200-230 :130-150: 125-180 kg/ha/năm, đạt năng suất kinh tế
khi bón N : P2O5 : K2O là 140 : 80: 120kg/ha/năm
Kết quả nghiên cứu của Tôn Nữ Tuấn Nam và công sự (1995 và 1998) chỉ ra
rằng, ngoài các loại phân chứa nguyến tố đa lượng như N, P, K, cây cà phê vối cũng
rất cần được bổ sung các loại phân chưa nguyên tố trrung lượng như canxi, lưu huỳnh,
và các nguyên tố vi lượng bo và kẽm
Nghiên cứu của Trương Hồng (1998) về cà phê vối kinh doanh trồng trên đất
bazan và gneiss của vùng Tây Nguyên cho thấy trên mỗi loại đất, liều lượng các loại
phân khoáng N, P và K không ảnh hưởng rõ rệt tới kích cỡ của hạt cà phê Sự tích lũy
N trong hạt có chiều hướng tăng lên theo mức độ bón phân N trên cả hai lọai đất đỏ
bazan ở Đak-Lak và đất xám gneiss ở Kon-Tum Trên đất bazan, tỷ lệ hạt trên sàng số
16 có chiều hướng tăng dần theo liều lượng K
Đối với cà phê chè, Đoàn Triệu Nhạn và Lê Đình Sơn (1990) cho rằng lân có
tác dụng rất rõ đối với năng suất cà phê chè trồng trên đất phát triển trên đá mẹ phiến
thạch, mica Giống Caturra và Mundonovo, trồng 1666 cây/ha đạt năng suất cao nhất
khi được bón 2000 kg super lân, tương đương 360 kg P/ha Các tác giả này cũng tìm
Trang 24hiểu phản ứng của các giống cà phê chè với các liều phân N, K khác nhau Giống Mundonovo thích hợp với liều N cao, đạt năng suất cao nhấtt khi được cung cấp 230
kg N/ha, trong khi đó giống Caturra cho năng suất cao nhất ở liều 75 kg N/ha Cả hai giống này đều phản ưng tốt với liều 120 kg K/ha Các liều lượng kali cao hơn có thể làm giảm năng suất
2.4.2 Ngoài nước
Kết quả nghiên cứu phân bón cà phê vối ở Wyraad (Ấn Độ) đã đề nghị lượng phân cho vùng này mức N : P2O5 : K2O là 120-90-120 g/cây/năm đối với vườn có năng suất cao Vườn có năng suất trung bình thì mức N : P2O5 : K2O là 60-40-60 g/cây/năm, tỷ lệ N/K2O =1 là thích hợp
Trên thế giới, cà phê chè rất được ưa chuộng và chiếm phần lớn diện tích ở các nước xuất khẩu cà phê chính, do vậy có rất nhiều công trình nghiên cứu về phân bón
đã được thực hiện trên cà phê chè Công thức chuẩn bón cho cà phê chè ở Kivu (1957)
là 150-100-150-75 (theo thứ tự N, P2O5, K2O, MgO) nhằm đạt năng suất 1500kg cà phê thương phẩm/ha
Ở El Sanvado, Viện Nghiên cứu Cà phê Sanvado đưa ra đề nghị bón phân cho
cà phê như sau: cà phê kinh doanh trồng mật độ 3000 cây/ha, mỗi năm bón 180 N-60
P2O5-60 K2O, mật độ 1500 cây/ha, mỗi năm bón 350 N-45 P2O5-45 K2O (kg nguyên chất/ha) Đối với cà phê chè người ta có khuynnh hướng tăng mật độ và bón phân liều cao để tăng năng suất
Ở vùng Meseta người ta đã thu được năng suất từ 2-3 tấn nhân/ha bằng cách áp dụng những biện pháp canh tác tiến bộ cùng với việc bón 1.5 kg các loại phân N, P, K,
Mg và một ít Bore cho một cây/năm
Ở Colombia, trong một thí nghiệm mạng lưới về phân bón cho cà phê chè kinh doanh thực hiện ở 7 điểm, cà phê Caturra trồng với mật độ 1.25 x 1.25 m (6400 cây/ha) được bón ở 4 mức phân 200g, 600g, 800g/cây phân tổng hợp 12-12-17-2 Kết quả cho thấy đa số các vùng thí nghiệm năng suất có khuynh hướng tăng theo số lượng phân bón vào Ở Supia năng suất đạt 10-13 tấn cà phê thóc khô (tương đương 8 tấn nhân/ha) khi được bón 800g/cây, ứng với 625 N-615 P2O5-870 K2O (kg nguyên chất/ha) Những vùng khác, sự tăng năng suất đôi lúc không nhiều lắm so với việc tăng
Trang 25P2O5 – 217 K2O, năng suất đạt 4.14 tấn thóc khô/ha, trong khi liều cao nhất 800g/cây đạt 4.75 tấn thóc khô/ha Ở Quindio, các số liệu này lần lượt là 6.23 và 7.08 tấn/ha Như vậy tuỳ theo từng vùng đất, cà phê chè đã có phản ứng khác nhau với liều phân bón vào đất
Iyegar và Awathramani (1975) đề nghị lượng phân để đạt được 1 tấn nhân cà phê chè như sau: 175 N, 80 P2O5, 175 K2O (kg nguyên chất/ha)
Theo Radhakrishnan, Ramaiah (1985) và Rao (1985) về việc đánh giá hiệu quả kinh
tế của mức phân NPK cho cà phê chè, đã làm thí nghiệm với 11 mức phân N - P - K, từ 0 -
0 - 0 đến 450 - 340 - 450, một mức ứng với 45 - 34 - 45 đơn vị N - P2O5 - K2O, kết quả thí nghiệm cho thấy mức 271 - 205 - 271 cho năng suất cao nhất, nhưng mức phân đem lại hiệu quả kinh tế lại là 154 - 116 - 154 Trong một thí nghiệm khác ở Colombia cà phê chè trồng với mật độ từ 1800 – 3300 cây/ha và bón phân với các lượng khác nhau từ 600 – 1200 g/cây phân tổng hợp 12 - 12 - 17 - 2, kết quả cho thấy công thức có năng suất cao nhất là công thức trồng 3300 cây/ha và bón 1200 g/cây, tương ứng 4 tấn phân/ha/năm
Đối với vùng Puerto (Cuba) người ta đề nghị bón cho cà phê chè kinh doanh NPK 20 - 3 - 20 (có chứa lưu huỳnh), bổ sung 100 kg MgSO4 và 10 kg hỗn hợp vi lượng chứa nhiều kẽm (Zn) trên mỗi tấn phân (Rivera và Martin,1987)
Bên cạnh những nghiên cứu ảnh hưởng phân bón đến năng suất, một số tác giả còn nghiên cứu ảnh hưởng phân bón đến chất lượng cà phê
Mặc dù N làm tăng năng suất nhưng nếu bón nhiều lại làm giảm chất lượng (về chỉ tiêu trọng lượng hạt) Sự giảm chất lượng sẽ lớn hơn khi vắng mặt các lọai dinh dưỡng khác hoặc che tủ hoặc trên đất có độ phì thấp Sự giảm chất lượng gây bởi N sẽ
ít trầm trọng hơn trong trường hợp cà phê có tưới Theo Barel và Jacquet (1994), bón thừa N làm tăng hàm lượng caffeine trong hạt và tăng vị đắng trong nước pha
Cannell (1987) đã có báo cáo rằng liều lượng cao quá mức của K hoặc Ca trong hạt làm giảm chất lượng Việc bón quá nhiều phân chuồng hoặc dùng vật liệu che tủ là cỏ voi (chứa nhiều K và Ca) làm xuất hiện nhiều hạt nâu, loại hạt được coi là kém chất lượng
Hàm lượng K chứa trong cây biến động từ 1,1 - 1,6% K2O, trong hạt từ 3,0 - 3,7% K2O Barel và Jacquet (1994), cho rằng bón thừa K làm nước pha cà phê khé (harsh) và chát (astringent) hơn
Trang 26Winston (1988) nghiên cứu 2 năm về ảnh hưởng của N và K đến chất lượng cà phê chè trên đất cát pha nguồn gốc granite ở Queensland (Australia) đã kết luận:
(1) Không có ảnh hưởng của mức bón N và K tới kích cỡ hạt cà phê;
(2) Tỉ lệ hạt trên các cỡ sàng của các giống khác nhau thì khác nhau;
(3) Chất lượng nước pha (đánh giá bằng cách cho điểm theo thang từ 1-9 trong
đó 9 điểm là nước uống tuyệt hảo và 1 điểm là nước uống không thể chấp nhận) ở các mẫu khác nhau theo mức mức phân bón khác nhau biến động từ 5,4 đến 5,7 nhưng không sai khác có ý nghĩa thống kê (p>0,95);
(4) Hàm lượng N trong lá gia tăng theo mức bón N; nhưng gia tăng mức bón K không làm thay đổi hàm lượng K trong lá;
(5) Không có ảnh hưởng của mức bón N và K tới hàm lượng trong lá của các nguyên tố Ca, Mn, P, Zn; ngoại trừ B
2.5 Một số bệnh hại chính trên cây cà phê vối
Theo thống kê của Cục Bảo vệ Thực vật trong năm 2008 có một số bệnh chính gây hại trên cây cà phê như nêu trong Bảng 2.5
Bảng 2.5 Một số bệnh hại trên cây cà phê
Khô cành khô quả Collectotrichum spp Cành, quả +
Vàng lá sinh lý Bón phân không cân đối, thiếu trung vi
lượng hoặc do nematodes trong đất gây ra
Lá +
Nguồn: Thống kê của Cục Bảo vệ Thực vật trong năm 2008
Ghi chú +++: Bắt gặp thường xuyên gây hại nặng
++: Bắt gặp khá thường xuyên gây hại trung bình
+: Bắt gặp hiếm gây hại nhẹ
Trang 272.5.1 Bệnh rỉ sắt (Hemileia vastatrix)
Bệnh gây hại chủ yếu trên lá, đôi khi ở thân và quả Cây nhiễm bệnh sẽ bị rụng
lá, cây kiệt sức, sản lượng kém và nếu nặng có thể gây chết cây
Bệnh xuất hiện đầu tiên vào năm 1868 ở Sri Lanca, tại đây bệnh đã làm giảm tới 75% sản lượng cà phê chỉ trong vòng 10 năm (1869-1878), đến năm 1890 hầu như phải huỷ bỏ toàn bộ diện tích cà phê để thay bằng cây cao su và cây chè Sau đó bệnh lan dần sang Châu Phi và các nước khác thuộc Châu Á Cho đến giữa thế kỷ 20 bệnh
đã có mặt ở hầu hết các nước trồng cà phê tại hai châu lục này
Năm 1970 bệnh xuất hiện ở Châu Mỹ tại bang São Paulo của Brasil và lan dần sang các bang khác của Brasil cũng như các nước khác như Paraguay (1972), Nicaragua (1976), Colombia (1983), Cuba (1985) Ở bang Parama của Brasil trong vụ 1973-1974 bệnh đã làm giảm 34% sản lượng cho dù 40% diện tích đã được phun thuốc hoá học Vụ 1989-1990, Colombia đã chi 123 triệu USD để phun thuốc cho 250.000 ha cà phê
Ở Việt Nam, bệnh xuất hiện từ năm 1888 và đã gây nhiều thiệt hại Ở miền Bắc, nhiều đồn điền của Pháp trước kia phải phá cà phê chè và thay bằng cà phê mít Tại Đắc Lắc bệnh đã huỷ hàng nghìn ha cà phê chè trong những năm 1940-1945, chỉ còn khoảng 60 ha, vào năm 1957 toàn bộ diện tich đã phải thay bằng cà phê vối Trong những năm gần đây, bệnh đã xuất hiện trên cà phê vối vốn được coi là có kháng bệnh
gỉ sắt Theo Trần Kim Loang (1997, tỷ lệ cây cà phê vối ở bệnh ở Đăk Lăk khoảng 50
% cá biệt có khi lên đến 70 - 85 %
Bệnh gỉ sắt do nấm Hemileia vastatrix chuyên ký sinh trên cà phê gây ra Đây
là loại nấm chuyên tính chỉ ký sinh trên cà phê Nhiệt độ thích hợp cho bệnh phát triển
là 15 0C - 28 0C, thích hợp nhất là 22 0C Khi bào tử nảy mầm đòi hỏi phải được tiếp xúc với nước
Trang 28Hình 2.1 Lá của cây cà phê vối bị bệnh rỉ sắt nặng (Viện KHKT-NLN Tây Nguyên,
Đăk Lăk)
2.5.2 Bệnh thối nứt thân (Fusarium spp.)
Bệnh xuất hiện trên cả vườn cà phê kiến thiết cơ bản lẫn vườn cà phê kinh doanh Trên cây, bệnh hại chủ yếu trên đoạn thân đã hóa gỗ Bệnh làm nứt và thối đen lớp vỏ ngoài của thân cây, nếu bị nặng thì lớp gỗ phía trong bị khô dẫn đến hiện tượng tắc mạch, cây thiếu nước nên lá héo và khô từ đầu ngọn xuống Vết bệnh có thể xuất hiện ở bất cứ vị trí nào của thân cây nhưng thường ở đoạn giữa thân và gần gốc cây Nấm bệnh cũng có thể phát sinh và gây hại trên cành
Bệnh do nấm Fusarium spp gây hại Bệnh phát triển và lây lan nhanh, thường
xuât hiện trong mùa mưa, ở những vườn không thông thoáng, ẩm thấp hay vào những năm mưa nhiều, ẩm độ không khí cao
2.5.3 Bệnh nấm hồng (Corticium salmonicolor B and Br.)
Bệnh do nấm Corticium salmonicolor gây hại Bệnh thích hợp với điều kiện ẩm
độ cao nhưng lại có nhiều ánh sáng Theo Vũ Văn Tố (1994), ở trên cây, bệnh thường xuất hiện ở tầng giữa và tầng trên, ít thấy ở tầng dưới Bệnh phát triển rất nhanh trên cây, tốc độ làm chết cành rất nhanh, nhưng lây lan từ cây này sang cây khác thì chậm Bệnh lây lan bằng bào tử nhờ gió và côn trùng Nấm sau khi xâm nhập vào cành, làm cành khô và chết phần bên trên của cành; các đốt mang quả bị bệnh cũng bị khô cuống
và quả bị chết, vỏ quả bị đen và rụng
Bệnh do nấm Corticium salmonicolor gây ra, hại chủ yếu trên quả và cành
Trang 29như bụi phấn Những chấm này nhiều lên tạo thành một lớp phấn mỏng sau này có màu hồng đó là bào tử của nấm Nếu xuất hiện ở cành thì thường nằm ở mặt dưới cành, nếu ở quả thường từ cuống quả Vết bệnh phát triển chạy dọc theo cành và làm cành chết khô, quả héo và rụng
Hình 2.2 Bệnh nấm hồng hại cành và quả cà phê vối (Viện KHKT-NLN Tây Nguyên,
Đăk Lăk)
2.5.4 Các bệnh do yếu tố dinh dưỡng
Trường hợp thiếu N trầm trọng thì toàn cây bị vàng Theo tài liệu của Viện
KHKT Nông lâm nghiệp Tây Nguyên, cây cà phê thiếu đạm phát hiện được bằng mắt thì hàm lượng N trong lá từ 1,3 - 1,8%
Hình 2.3 Vườn cà phê bị thiếu đạm và lá cà phê thiếu đạm (N) (Viện KHKT-NLN
Tây Nguyên, Đăk Lăk)
Trang 30Triệu chứng thiếu lân thường xuất hiện ở lá già và ở các cành sai quả Lúc đầu
lá có màu vàng sáng, sau đó chuyển sang đỏ thẫm hoặc nâu đỏ pha tím, đôi khi có màu huyết dụ Đầu tiên lá biến màu ở một phần (thường ở ngọn lá), cuối cùng cả lá biến màu và rụng Theo tài liệu của Viện KHKT Nông lâm nghiệp Tây Nguyên, cây cà phê
có triệu chứng thiếu lân khi hàm lượng P2O5 trong lá từ 0,05 - 0,08%
Triệu chứng thiếu kali (K) thường thể hiện ở các lá già, trên cành mang nhiều
quả Các vệt màu nâu thường xuất hiện ở rìa mép lá, rồi lan dần vào giữa phiến lá, cuối cùng thì lá rụng
Hình 2.4 Lá cà phê bị thiếu kali (Viện KHKT-NLN Tây Nguyên, Đăk Lăk)
Thời kỳ cây cà phê mang quả nếu thiếu kali thì quả sẽ rụng nhiều, vỏ quả có màu xám nâu, khi chín quả có màu vàng đỏ nâu, khô và không mọng nước, màu không tươi, nhân nhỏ hơn bình thường
Theo tài liệu của Viện KHKT Nông lâm nghiệp Tây Nguyên, cây cà phê bị thiếu kali thì hàm lượng K2O trong lá dao động từ 0,9 - 1,3%
Hiện tượng thiếu lưu huỳnh (S) thường hay xuất hiện ở vườn cà phê kiến thiết
cơ bản vào thời kỳ cuối mùa khô đầu mùa mưa Lá cà phê bị thiếu lưu huỳnh có hàm lượng S trong lá từ 0,06 - 0,09%
Trang 31Hình 2.5 Lá cà phê thiếu lân (P) Hình 2.6 Lá cà phê thiếu lưu huỳnh (S)
(Viện KHKT-NLN Tây Nguyên, Đăk Lăk)
Triệu chứng thiếu S thường thể hiện ở các lá non trên ngọn Lá có màu vàng hoặc trắng, bị nặng lá có thể hơi nhỏ so với bình thường Khác với trường hợp cà phê thiếu đạm là lá già bị vàng hoặc lá bị vàng trên toàn cây
Hiện tượng thiếu can xi (Ca) thể hiện ở lá non bị vàng từ rìa lá lan dần vào
giữa phiến lá Lá có màu xanh tối dọc hai bên gân chính của lá, có khi màu xanh này rất nhạt Khi bị nặng, lá già cũng có triệu chứng như trên Lá cà phê bị thiếu can xi có
hàm lượng Ca trong lá từ 0,4 - 0,7%
Trang 32Triệu chứng thiếu manhê (Mg) được phát hiện trên các lá già, màu vàng bắt đầu
từ gân chính, sau lan rộng dần ra rìa lá Dọc theo gân chính và gân phụ còn lại những vệt xanh thẫm tạo nên dạng hình xương cá có màu xanh trên nền vàng Sau đó lá chuyển sang màu vàng sẫm hoặc nâu rồi rụng Khi thiếu Mg hàm lượng Mg trong lá biến động trong khoảng 0,15 - 0,25% Phát hiện có 4 vườn (3%) cà phê kinh doanh ở các hộ điều tra có biểu hiện thiếu nguyên tố Mg, nhưng tỉ lệ cây trên vườn bị bệnh
dưới 0,5% và triệu chứng thiếu Mg trên các cây này không thật rõ ràng lắm
Thiếu kẽm (Zn) cây cà phê có lá non nhỏ biến dạng hình mũi mác, màu vàng nâu; cành có triệu chứng này không phân hóa được mầm hoa hoặc hạn chế khả năng thụ phấn của hoa, tỷ lệ rụng quả rất cao, có khi lên đến 70 - 90% Tỷ lệ cành bị khô cũng rất cao Khi cây bị thiếu kẽm thì hàm lượng Zn trong lá thường vào khoảng 5 – 8 ppm Có một số vườn có cây có biểu hiện thiếu kẽm nhưng không tới mức nghiêm trọng (chỉ vài cành trên cây, số cây có triệu chứng chỉ ở tỉ lệ 0,05% tổng số cây)
Khi bị thiếu boron (B) lá cà phê bị nhỏ lại và ngắn hơn, rìa lá không bình thường, các chồi ngọn hay bị khô, các cành ngang hay bị chết Hiện tượng cành thứ cấp mọc thành chùm có dạng hình rẻ quạt Lá có màu xanh ô liu hay xanh vàng nhạt ở nửa cuối lá Cây bị thiếu B thì hàm lượng B trong lá khoảng 15 - 25ppm Trong quá trình điều tra có phát hiện một số cây nhưng không đáng kể
(Viện KHKT-NLN Tây Nguyên, Đăk Lăk)
Trang 332.5.5 Tuyến trùng hại rễ cà phê
Theo Vũ Đình Phú và Hà Minh Trung (1996), có nhiều loài tuyến trùng trong
đất gây hại cà phê Tại Việt Nam, đã xác định 3 loại tuyến trùng chính là Pratylenchus coffeae, Meloidogyne spp và Radopholus similis Trứng của tuyến trùng có thể tồn tại
rất lâu trong đất khi gặp điều kiện không thuận lợi Ẩm độ đất cao tạo điều kiện cho tuyến trùng phát triển, tuy nhiên đất quá khô hay quá ẩm cũng làm chết tuyến trùng
Đa số tuyến trùng chết ở nhiệt độ 50 - 55 0C Tuyến trùng có thể di chuyển theo nước nên biện pháp tưới tràn giúp cho bệnh lây lan nhanh Biện pháp xới xáo, vét bồn trong các vườn đã bị tuyến trùng gây hại cũng tạo điều kiện cho tuyến trùng lây lan và tạo vết thương cho rễ giúp nấm bệnh thâm nhập và phát triển hại bộ rễ cà phê
2.5.6 Các bệnh sinh lý
2.5.6.1 Bệnh rụng quả
Theo nhiều tác giả như Cannel (1987), Cliffort (1987), Trương Hồng (1997), Tôn Nữ Tuấn Nam (1995), Cà phê thường rụng quả ở hai giai đoạn chính: Sau khi đậu quả khoảng 2 tháng (gọi là hiện tượng rụng quả non) và trước khi chín khoảng 2 tháng (gọi là hiện tượng rụng quả xanh) Rụng quả ở giai đoạn đầu với tỉ lệ rất cao, chiếm 30-50% so với tổng số hoa hình thành trên cây, nguyên nhân chủ yếu rụng quả non là do ảnh hưởng của các điều kiện ngoại cảnh (như nhiệt độ cao, cây thiếu nước ) gây ra sự rối loại sinh lý trong quá trình thụ phấn thụ tinh Rụng quả xanh ở giai đoạn sau chủ yếu do cây không được cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng hoặc do thiếu ánh sáng mặt trời làm hạn chế sự quang hợp tích luỹ chất khô Việc hạn chế tỉ lệ rụng quả xanh ở giai đoạn sau có thể điều chỉnh được thông qua việc bón phân hợp lý, rong tỉa cây bóng và cắt tỉa cành thích hợp
2.5.6.2 Bệnh biến đổi màu sắc/hình dạng lá do thiếu dinh dưỡng
Theo nhiều tác giả như Cannel (1987), Cliffort (1987), Trương Hồng (1997), Tôn Nữ Tuấn Nam (1995), sự thiếu hụt mỗi loại dinh dưỡng khoáng khi đã tới mức trầm trọng thì thường thể hiện triệu chứng biến đổi màu sắc hoặc hình dạng trên lá Nguyên nhân của các bệnh do thiếu hụt các chất dinh dưỡng thường do bón không đủ phân hoặc bón phân không cân đối, thể hiện rõ nhất trong điều kiện khô hạn, khi mà trong đất không có đủ lượng nước cần thiết để hòa tan các chất nên cây không thể hút được, hoặc vào những đợt phát triển mạnh của cành lá (đầu mùa mưa) Nhìn chung các
Trang 34cây cà phê bị thiếu dinh dưỡng thường sinh trưởng kém và năng suất thấp
Triệu chứng thiếu các loại yếu tố dinh dưỡng chủ yếu đã được mô tả trong một
số sách và tài liệu chuyên khảo, tuy vậy cũng cần được cập nhật bổ sung với nhiều trường hợp đặc thù khác
Trang 35Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra đánh giá thực trạng sản xuất cà phê và mức độ gây hại của các loại bệnh trên cây cà phê tại một số huyện trồng cà phê ở tỉnh Bình Phước
- Thí nghiệm xác định mức độ ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón khác nhau đến sự phát sinh, phát triển của bệnh hại và năng suất cà phê
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Điều tra đánh giá thực trạng sản xuất cà phê và mức độ bệnh trên cây cà phê tại một số huyện trồng cà phê ở tỉnh Bình Phước
3.2.1.1 Thời gian và địa điểm điều tra
Thực hiện từ tháng 5/2009 đến tháng 12/2009, tại 7 huyện: Đồng Phú, Phước Long, Lộc Ninh, Bù Đốp, Bù Đăng, Bình Long và Chơn Thành của tỉnh Bình Phước
3.2.1.2 Phương pháp điều tra hiện trạng canh tác cà phê tại Bình Phước
Điều tra, phỏng vấn trực tiếp nông hộ trồng cà phê, kết hợp kiểm tra, đánh giá vườn cà phê và ghi chép theo phiếu điều tra Các nông hộ trồng cà phê được chọn ngẫu nhiên trong 7 huyện Tổng số hộ điều tra là 120, cụ thể số hộ điều tra tại mỗi huyện và diện tích điều tra được nêu trong Bảng 3.1
Bảng 3.1 Quy mô số hộ và diện tích điều tra
tra (hộ)
Diện tích điều tra (ha)
Ghi chú
đủ số hộ mà chưa
đủ diện tích thì tiếp tục điều tra thêm diện tích cho đủ
Trang 36- Thông tin chung (chủ hộ, địa chỉ, diện tích trồng cà phê, giống…)
- Kỹ thuật canh tác (làm đất, làm cỏ, mật độ trồng…)
- Kỹ thuật bón phân và bảo vệ thực vật
- Năng suất cà phê
Chi tiết nội dung điều tra được giới thiệu trong phần Phụ lục
Tại mỗi huyện điều tra lấy ngẫu nhiên từ 4- 5 mẫu đất; mỗi mẫu đất lấy 5 điểm ngẫu nhiên trong vườn cà phê, sau đó trộn đều lại và gửi đi phân tích xác định một số đặc tính lý, hóa học đất của các huyện trồng cà phê điều tra trên tỉnh Bình Phước
3.2.1.3 Phương pháp điều tra thành phần bệnh hại trên cây cà phê (theo Vũ Đình Phú, 1996)
Khảo sát tại 5 điểm chéo góc trên vườn, mỗi điểm điều tra 3 cây Trên mỗi cây chọn 4 cành theo 4 hướng để điều tra Khi điều tra đếm tổng số cành, lá, quả điều tra
và tổng số cành, lá, quả bị bệnh sau đó tính tỷ lệ (%), của các cành đã chọn, sau đó đánh giá cấp độ bệnh rồi tính chỉ số bệnh (%) Đối với thân cây thì điều tra hết tất cả thân chính của 3 cây đã chọn, điều tra từ gốc (sát mặt đất) trở lên tới tầng cành đầu tiên sau đó tính tỷ lệ bệnh (%), đánh giá cấp độ bệnh rồi tính chỉ số bệnh (%)
Các chỉ tiêu điều tra gồm:
* Bệnh rỉ sắt:
- Tỷ lệ cây bệnh tính theo công thức:
Số cây bị bệnh TLCB % = x 100
Tổng số cây điều tra
- Tỷ lệ lá bệnh tính theo công thức:
Số lá bị bệnh TLLB % = x 100
Trang 37Tổng số cây điều tra
- Tỷ lệ cành bệnh tính theo công thức:
Số cành bị bệnh TLcB % = x 100
Tổng số cành điều tra
- Chỉ số bệnh nấm hồng trên cây được phân cấp như sau:
Cấp 1: Cây có dưới 5% số cành bị bệnh Cấp 2: Cây có 5-15% số cành bị bệnh Cấp 3: Cây có trên 15% số cành bị bệnh
3.2.1.4 Phương pháp lấy mẫu đất và phân tích hàm lượng dinh dưỡng đất trong quá trình điều tra
Lấy 30 mẫu đất chia đều cho 7 huyện điều tra, mỗi mẫu đất lấy 5 điểm trên hai đường chéo góc của vườn cà phê điều tra, lấy đất cách mép trong bồn cà phê 20 cm, ở
độ sâu 0-30 cm vào giữa mùa mưa, trộn đều và lấy 1 kg gửi đi phân tích
Chỉ tiêu và phương pháp phân tích đất
Trang 38Phân tích đất tại Phòng Phân tích Đất - Phân của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông
Lâm nghiệp Tây Nguyên theo các phương pháp sau:
- pH (KCl): Đo bằng pH kế điện cực thủy tinh;
- Hàm lượng hữu cơ tổng số (%): Theo phương pháp Walkley – Black;
- N tổng số (%): Theo phương pháp Kjendhal;
- P2O5 tổng số (%), K2O tổng số (%): Công phá bằng hỗn hợp a xít H2SO4 đậm
đặc và HClO4 đậm đặc;
- Lân dễ tiêu (mg/100gđ): phương pháp Bray II;
- Kali dễ tiêu (mg/100gđ): Chiết bằng H2SO4 0,1N; phân tích trên máy quang
kế ngọn lửa;
- Ca ++ (lđl/100gđ) và Mg++ (lđl/100gđ): Chiết bằng CH3COONH4 1N, phân
tích trên máy Quang phổ hấp thụ nguyên tử AAS
Phương pháp phân cấp độ phì đất
Theo Bảng phân cấp độ phì đất trồng cà phê (Bảng 3.2) của Viện Khoa học Kỹ
thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên, với 6 yếu tố độ phì chính là hàm lượng hữu cơ
tổng số, đạm tổng số, lân dễ tiêu, kali dễ tiêu và các ion trao đổi của Ca và Mg
Nguồn: Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên, 2009
Ghi chú:Cấp (I): Giàu: đảm bảo cho cây cà phê sinh trưởng phát triển tốt
Cấp (II): Trung bình: đảm bảo cho cây cà phê sinh trưởng phát triển tốt
Cấp (III): Nghèo: ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng phát triển của cây
3.2.2 Thí nghiệm ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón khác nhau đến sự phát
Trang 393.2.2.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm
Thí nghiệm từ tháng 5/2010 đến tháng 12/2010, bố trí tại hộ ông Lê Văn Lợi,
Ấp Suối Cam - xã Tiến Thành - thị xã Đồng Xoài - tỉnh Bình Phước
3.2.2.2 Vật liệu nghiên cứu
- Vườn cà phê Robusta kinh doanh, mật độ trồng 1.111 cây/ha (khoảng cách trồng 3m x 3m), diện tích > 1ha, hãm ngọn < 2m
- Chế phẩm sinh học WEHG của Công ty Heaven’s Green (Hoa Kỳ), được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận theo Quyết định số: 06 NN – KHCN/QĐ, ngày 04 tháng 01 năm 1997
- Ba loại phân bón chuyên dùng cho cà phê, do Công ty phân bón Bình Điền sản xuất, được vào danh mục phân bón của Bộ Nông nghiệp Và Phát triển Nông thôn, Ban hành kèm theo Quyết định số 10/2007/QĐ-BNN, ngày 06 tháng 02 năm 2007
- Phân bón hữu cơ sinh học Compost-BiO của Công ty TNHH SX-TM-DV Nông nghiệp Miền Đông, được Chi cục Bảo vệ Thực vật, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Bình Phước tiếp nhận công bố phân bón hợp quy số: 90 /TB-BVTV, ngày 28 tháng 04 năm 2009;
- Phân đạm, dạng u-rê của Phú Mỹ (Đồng Nai);
- Phân lân, dạng nung chảy, của Nhà máy phân lân Ninh Bình
- Phân Kali, dạng KCl, của Cộng đồng các quốc gia độc lập SNG
- Các loại phân bón chuyên dùng cho cà phê, của Nhà máy phân bón Bình Điền Thành phần dinh dưỡng chính trong các loại phân bón dùng trong thí nghiệm được nêu trong Bảng 3.3
Bảng 3.3 Thành phần dinh dưỡng của các loại phân sử dụng trong thí nghiệm
Trang 40Stt Tên phân bón Loại Thành phần
02 Lân nung chảy Hóa học 16% P2O5; còn có Ca, Mg, vi lượng
03 Kali clorua Hóa học 60% K2O
04 Phân bón lá Hóa học N-P-K: 16-8-4, trung và vi lượng
05 WEGH® Sinh học 35-45% dầu đậu nành, Borax 0.16%, chất
07 Phân chuyên dùng 1 Hóa học N-P-K: 6-16-8
08 Phân chuyên dùng 2 Hóa học N-P-K: 16-8-16-4S TE
09 Phân chuyên dùng 3 Hóa học N-P-K: 20-5-6
3.2.2.3 Thiết kế thí nghiệm
Thí nghiệm bố trí theo phương pháp thiết kế thí nghiệm đồng ruộng của Gomez
A và Gomez A (1984), với 10 nghiệm thức theo khối đầy đủ ngẫu nhiên, 3 lần nhắc lại Bố trí thí nghiệm trên 900 cây cà phê, mỗi nghiệm thức bố trí theo một hàng 30 cây (ô cơ sở) cho một lần nhắc lại Bao quanh khu vực thí nghiệm là các hàng cà phê
có chức năng bảo vệ khu thí nghiệm
Các nghiệm thức, tổ hợp phân bón đưa ra trên cơ sở tham khảo các kết quả nghiên cứu khoa học, số liệu điều tra thực tế nông hộ sản xuất cà phê trên tỉnh Bình Phước và theo công thức khuyến cáo của các nhà sản xuất phân bón như nêu trong
Bảng 3.4