TÓM TẮT Đề tài “Đánh giá hiệu quả điều trị viêm gan, vàng da ở chó của cao đặc diệp hạ châu đắng Phyllanthus amarus” được tiến hành từ 10/2010 đến 9/2011 thông qua việc khảo sát triệu c
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
o
TRẦN THỤY NHÃ THI
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ VIÊM GAN, VÀNG DA Ở
CHÓ CỦA CAO ĐẶC DIỆP HẠ CHÂU ĐẮNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 9/2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
o
TRẦN THỤY NHÃ THI
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ VIÊM GAN, VÀNG DA Ở
CHÓ CỦA CAO ĐẶC DIỆP HẠ CHÂU ĐẮNG
Trang 3ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ VIÊM GAN, VÀNG DA Ở CHÓ
CỦA CAO ĐẶC DIỆP HẠ CHÂU ĐẮNG (Phyllathus amarus)
o
TRẦN THỤY NHÃ THI
Hội đồng chấm luận văn:
1 Chủ tịch: PGS TS LÊ MINH CHÍ
Hội Thú y Việt Nam
2 Thư ký: TS ĐỖ HIẾU LIÊM
Đại học Nông Lâm TP HCM
3 Phản biện 1: TS NGUYỄN VĂN PHÁT
Đại học Nông Lâm TP HCM
4 Phản biện 2: TS VÕ TẤN ĐẠI
Đại học Nông Lâm TP HCM
5 Ủy viên: TS VÕ THỊ TRÀ AN
Đại học Nông Lâm TP HCM
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
HIỆU TRƯỞNG
Trang 4LÝ LỊCH CÁ NHÂN
o
Họ và tên: Trần Thụy Nhã Thi
Ngày sinh: 07 - 10 - 1983
Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh
Họ tên cha: Trần Minh Đức
Họ tên mẹ: Đào Thị Lan
Năm 2008: Học viên cao học ngành Thú y tại Đại học Nông Lâm Thành phố
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
o
Tôi xin cam đoan những công bố trong luận văn này hoàn toàn trung thực và là một phần trong đề tài nghiên cứu cấp trường (mã số: CS - CB11 - CNTY - 09) do BSTY Ngô Bá Duy làm chủ nhiệm Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn được công bố với sự đồng ý của chủ nhiệm đề tài
Trần Thụy Nhã Thi
Trang 6LỜI CẢM ƠN
o
Chân thành cảm ơn
Tiến sỹ Võ Thị Trà An Tiến sỹ Nguyễn Tất Toàn
đã giảng dạy, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong việc thực hiện và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Cám ơn tất cả thầy cô trong Khoa Chăn nuôi Thú y, Phòng Đào tạo Sau Đại học, Ban Giám hiệu đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và hoàn thành
đề tài nghiên cứu
Chân thành cám ơn Ban lãnh đạo Chi cục Thú y Thành phố Hồ Chí Minh đã nhiệt tình hỗ trợ và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành đề tài này
Đặc biệt cám ơn BSTY Vũ Kim Chiến, BSTY Ngô Bá Duy, ThS Phùng Văn Trung đã nhiệt tình giúp đỡ và đóng góp ý kiến chuyên môn
Cám ơn và chia sẻ những thành quả đạt được với mẹ, anh chị và bạn bè đã tạo nguồn động viên lớn cho tôi
Trang 7TÓM TẮT
Đề tài “Đánh giá hiệu quả điều trị viêm gan, vàng da ở chó của cao đặc diệp
hạ châu đắng (Phyllanthus amarus)” được tiến hành từ 10/2010 đến 9/2011 thông
qua việc khảo sát triệu chứng lâm sàng, chỉ tiêu sinh hóa và hình ảnh siêu âm gan trên chó thí nghiệm gây độc bằng carbon tetrachloride (CCl4) và chó viêm gan thực
Kết quả khảo sát cho thấy:
(1) Trước khi gây bệnh, chó trong hai lô đều khỏe mạnh, các chỉ số xét nghiệm sinh hóa nằm trong giới hạn bình thường, ảnh siêu âm gan chó trên hai lô bình thường
(2) Sau khi gây bệnh, chó trong hai lô có hiện tượng nôn ói, giảm ăn, bỏ
ăn, tiêu chảy, nước tiểu có màu vàng và sổ mũi xanh nhưng không vàng da, AST, ALT và ALP tăng gấp 1,5 - 12 lần so với giới hạn bình thường, TB và DB nằm trong giới hạn bình thường, hình ảnh siêu âm gan cho thấy chó ở cả hai lô đều đã bị tổn thương gan
(3) Sau 15 ngày điều trị, các triệu chứng biến mất vào ngày thứ 10 - 12 nhưng vẫn còn sổ mũi, các chỉ số sinh hóa nằm trong giới hạn bình thường (ngoại
Trang 8trừ hàm lượng ALP của sáu trường hợp cao hơn giới hạn bình thường), ảnh siêu âm cho thấy gan hồi phục bình thường vào tuần thứ 5 trên lô thí nghiệm và tuần thứ 5,
8 trên lô đối chứng Hiệu quả điều trị của lô thí nghiệm tốt hơn lô đối chứng
Khác với chó gây bệnh thực nghiệm, chó bị viêm gan, vàng da thực tế có hiện tượng vàng da và triệu chứng này biến mất vào ngày thứ 10 sau điều trị bằng cao đặc diệp hạ châu đắng Các chỉ số sinh hóa của chó viêm gan, vàng da thực tế tăng rất cao lúc bệnh và cao hơn rất nhiều lần so với chó gây bệnh thực nghiệm AST, ALT và ALP nằm trong giới hạn bình thường ở ngày thứ 35 sau khi kết thúc điều trị, TB và DB nằm trong giới hạn bình thường ở ngày thứ 10 sau điều trị Cấu trúc nhu mô gan hồi phục bình thường vào tuần thứ 8 sau khi điều trị
Kết quả nghiên cứu đã cho thấy cây diệp hạ châu đắng là một cây thuốc có hiệu quả tốt trong điều trị bệnh viêm gan, vàng da trên chó
Trang 9SUMMARY
The thesis “Effect evaluation of Phyllanthus amarus extract in hepatitis,
icterus dogs” was conducted from 10/2010 to 9/2011 Measurements were clinical, biochemical and liver ultrasound examination in dogs experimentally intoxicated with CCl4 and in practicedly hepatitis dogs
A total of 14 healthy mixed breed dogs of both sexes were randomly divided into 2 equal plots as control and experiment CCl4 was prepared in oil (1:1) and both dog plots received a single oral dose of 1ml/kg P Control plot was treated by using Hematopan 1ml/5kg P, dexamethasone 1ml/10kg P for 15 days Experimental plot
was treated by Phyllanthus amarus extract 100mg/kg P, 3 times/day for 15
consecutive days Clinical symptoms, biochemical analysis (AST, ALT, ALP, TB and DB) were performed in all dogs 2 days before experimental intoxication, on day
1, 3, 5 after intoxication and on day 3, 7, 10, 15 after treatment Liver ultrasound was made 2 days before the experiment and on day 7 after intoxication and on week
1, 3, 5, 8 after treatment
The results showed that:
(1) Before being intoxicated, all dogs of both plots were healthy with normal biochemical parameters and normal ultrasonographies
(2) After CCl4 administration, symptoms such as fever, vomiting, inappetance, anorexia, weakness, diarrhea, light orange color of urine and nasal discharge were recorded AST, ALT and ALP increased by 1,5 - 12 times compared
to the normal values However, total (TB) and direct bilirubin (DB) were observed
in normal limit Ultrasonographies of two plots indicated that liver was damaged after intoxication by CCl4
(3) After treatment, most of symptoms disappeared on days 10 - 12 Biochemical parameters were observed within normal limits (except ALP content of six dogs were higher than normal level) Liver was recovered on the 5th week in
Trang 10experimental plot and the 5th, 8th week in control plot through ultrasonographies Therefore, effective treatment of experimental plots were better than control plots
Unlike experimental dog, the practical hepatitis dog presented icterus and this symptom disappeared on the 10th day after treatment by Phyllanthus amarus
extract The biochemical parameters of practical hepatitis dog increased much higher than the experimental dog’s AST, ALT and ALP were in the normal range
on the 35th day after the end of treatment, TB and DB were in the normal range on the 10th day after treatment Ultrasound results indicated that the structure of liver tissue were recovered on the 8th week after treatment
The study results showed that Phyllanthus amarus is very effective in the
treatment of hepatitis and icterus for dog
Trang 11MỤC LỤC
CHƯƠNG TRANG
Trang tựa
Trang chuẩn y i
Lý lịch cá nhân ii
Lời cam đoan iii
Lời cảm ơn iv
Tóm tắt v
Mục lục ix
Danh sách các chữ viết tắt xiii
Danh sách các hình xiv
Danh sách các bảng xvi
Danh sách các sơ đồ và biểu đồ xvii
1 MỞ ĐẦU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2 MỤC TIÊU 2
1.3 YÊU CẦU 2
2 TỔNG QUAN 3
2.1 Diệp hạ châu đắng 3
2.1.1 Phân loại 3
2.1.2 Hình thái 3
2.1.3 Phân bố 4
2.1.4 Bộ phận dùng 5
2.1.5 Tính chất 5
2.1.6 Thành phần hóa học 5
2.1.7 Tác dụng dược lý 6
2.1.8 Công dụng 7
2.1.9 Liều lượng và cách dùng 7
Trang 122.1.10 Chiết xuất 7
2.1.11 Cơ chế chống viêm gan và vàng da của diệp hạ châu đắng trên chó 9
2.1.11.1 Cơ chế chống viêm gan, vàng da do vi-rút của diệp hạ châu đắng 9
2.1.11.2 Cơ chế chống tổn thương gan của diệp hạ châu đắng 10
2.1.12 Các nghiên cứu trước đây 10
2.2 Viêm gan và vàng da trên chó 11
2.2.1 Viêm gan trên chó 11
2.2.1.1 Phân loại viêm gan 11
2.2.1.2 Nguyên nhân 12
2.2.1.3 Triệu chứng 12
2.2.1.4 Tác hại 13
2.2.2 Vàng da trên chó 13
2.2.2.1 Phân loại vàng da 13
2.2.2.2 Nguyên nhân 13
2.2.2.3 Triệu chứng 13
2.2.2.4 Cơ chế gây vàng da 14
2.2.3 Chẩn đoán 17
2.2.3.1 Triệu chứng lâm sàng 17
2.2.3.2 Siêu âm 17
2.2.3.3 Sinh thiết gan 19
2.2.3.4 Các hóa nghiệm đánh giá chức năng gan 20
2.2.4 Điều trị 25
2.2.5 Cách gây bệnh gan thực nghiệm 26
2.3 Các nghiên cứu có liên quan đến đề tài 27
3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 29
3.1.1 Địa điểm thu thập mẫu và phân tích 29
3.1.2 Thời gian 29
3.2 Nguyên vật liệu và thiết bị 29
Trang 133.2.1 Nguyên vật liệu 29
3.2.2 Dụng cụ và thiết bị 30
3.2.3 Hóa chất dùng trong phòng thí nghiệm 30
3.3 Nội dung khảo sát 30
3.3.1 Nội dung 1: Bào chế diệp hạ châu đắng với cồn methanol bằng phương pháp ngâm lạnh 30
3.3.2 Nội dung 2: Thử nghiệm cao đặc diệp hạ châu đắng điều trị viêm gan trên chó gây bệnh với CCl4 33
3.3.3 Nội dung 3: Điều trị viêm gan, vàng da thực tế trên chó bằng cao đặc diệp hạ châu đắng 36
3.4 Xử lý số liệu 37
4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 38
4.1 Nội dung 1: Bào chế diệp hạ châu đắng với cồn methanol bằng phương pháp ngâm lạnh 38
4.1.1 Hiệu suất cao đặc diệp hạ châu đắng 38
4.1.2 Ẩm độ cao đặc diệp hạ châu đắng 39
4.2 Nội dung 2: Kết quả thử nghiệm cao đặc diệp hạ châu đắng điều trị viêm gan trên chó gây bệnh với CCl 4 40
4.2.1 Kết quả khảo sát trước khi gây bệnh trên chó 40
4.2.1.1 Triệu chứng lâm sàng 40
4.2.1.2 Chỉ số sinh hóa trong huyết thanh 41
4.2.1.3 Hình ảnh siêu âm gan 44
4.2.2 Kết quả khảo sát sau khi gây bệnh trên chó 45
4.2.2.1 Triệu chứng lâm sàng 46
4.2.2.2 Sự biến đổi chỉ số sinh hóa trong huyết thanh 50
4.2.2.3 Hình ảnh siêu âm gan 52
4.2.3 Kết quả khảo sát sau điều trị trên chó 54
4.2.3.1 Triệu chứng lâm sàng 54
4.2.3.2 Sự biến đổi chỉ số sinh hóa trong huyết thanh 55
Trang 144.2.3.3 Hình ảnh siêu âm gan 58
4.3 Nội dung 3: Kết quả điều trị viêm gan, vàng da thực tế trên chó bằng cao đặc diệp hạ châu đắng 60
4.3.1 Kết quả khảo sát lúc bệnh 60
4.3.1.1 Triệu chứng lâm sàng 60
4.3.1.2 Sự biến đổi chỉ tiêu sinh hóa trong huyết thanh 61
4.3.1.3 Hình ảnh siêu âm gan 62
4.3.2 Kết quả khảo sát sau khi điều trị bằng cao đặc diệp hạ châu đắng 63
4.3.2.1 Triệu chứng lâm sàng 63
4.3.2.2 Sự biến đổi chỉ số sinh hóa trong huyết thanh 64
4.3.2.3 Hình ảnh siêu âm gan 65
5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 69
5.1 Kết luận 69
5.2 Đề nghị 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
PHỤ LỤC 76
Trang 15DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AST : Aspartate aminotransferase
ALT : Alanine aminotransferase
ALP : Alkaline phosphatase
TB : Total bilirubin
DB : Direct bilirubin
SGOT : Serum glutamic oxaloacetic transaminase
SGPT : Serum glutamic pyruvic transaminase
CCl4 : Carbon tetrachloride
ppm : part per million
ppb : part per billion
IUPAC : International Union of Pure and Applied Chemistry
RER : Rough endoplasmic reticulum
COX : Cyclooxygenase
LDL : Low density lipoprotein
HE : Hematoxylin Eosin
Trang 16DANH SÁCH CÁC HÌNH
HÌNH TRANG
Hình 2.1 Diệp hạ châu đắng 3
Hình 2.2 Cây diệp hạ châu (đắng, ngọt) 4
Hình 2.3 Chó bị vàng da và niêm mạc 14
Hình 2.4 Siêu âm chó 19
Hình 4.1 Ảnh siêu âm gan bình thường của chó 1 năm tuổi 45
Hình 4.2 Phổi của chó bị chết sau khi gây bệnh hai ngày với liều 1,5ml/kg P 46
Hình 4.3 Gan của chó bị chết sau khi gây bệnh hai ngày với liều 1,5ml/kg P 47
Hình 4.4 Hình ảnh vi thể của gan chó bị chết sau khi gây bệnh hai ngày với liều 1,5ml/kg P 47
Hình 4.5 Chó bị sùi bọt mép ngay sau khi uống CCl4 với liều 1ml/kg P 48
Hình 4.6 Chó bị thất điều vận động ngay sau khi uống CCl4 với liều 1ml/kg P 48
Hình 4.7 Chó bị co giật ngay sau khi uống CCl4 với liều 1ml/kg P 48
Hình 4.8 Chó bị ói bọt trắng vào ngày 4 - 5 sau khi gây bệnh với CCl4 49
Hình 4.9 Chó bị tiêu chảy phân vàng, nhớt vào ngày 4 - 5 sau khi gây bệnh với CCl4 49
Hình 4.10 Chó bị sổ mũi xanh vào ngày thứ 9 -10 50
Hình 4.11 Ảnh siêu âm gan sau khi gây bệnh 1 tuần của chó 8 tháng tuổi, lô II 53
Hình 4.12 Ảnh siêu âm gan sau khi gây bệnh 1 tuần của chó 9 tháng tuổi, lô I 53
Hình 4.13 Chó đi phân sệt lại vào ngày thứ 4 - 5 sau điều trị bằng diệp hạ châu đắng 54
Hình 4.14 Chó lô II ở ngày thứ 18 - 20 55
Hình 4.15 Ảnh siêu âm gan sau điều trị 1 tuần của chó 8 tháng tuổi, lô II 58
Hình 4.16 Ảnh siêu âm gan ở tuần 8 của chó 8 tháng tuổi, lô II 59
Hình 4.17 Ảnh siêu âm gan của chó cái ta, 6 năm tuổi mắc bệnh gan, mật 62
Hình 4.18 Niêm mạc mắt lúc bệnh (A) và sau điều trị 10 ngày (B) của chó viêm gan, vàng da thực tế 63
Trang 17Hình 4.19 Da bụng lúc bệnh (A) và sau điều trị 10 ngày (B) của chó viêm gan,
Trang 18DANH SÁCH CÁC B ẢNG
BẢNG TRANG Bảng 2.1: Phân loại viêm gan trên siêu âm 19
Bảng 2.2: Các trị số sinh hóa bình thường trong huyết thanh chó 25
Bảng 4.1: Hiệt suất chiết xuất cao đặc diệp hạ châu đắng qua các lần chiết 39
Bảng 4.2: Hàm lượng vật chất khô và ẩm độ cao đặc diệp hạ châu đắng qua
các lần chiết 39
Bảng 4.3: Chỉ số sinh hóa trong huyết thanh chó lô I và lô II ở 3 thời điểm
khảo sát 41
Bảng 4.4: Tỷ lệ (%) chó có chỉ số sinh hóa vượt và không vượt ngưỡng
bình thường sau 15 ngày điều trị của hai lô 57
Bảng 4.5: Biến đổi chỉ số sinh hóa huyết thanh của chó viêm gan, vàng
trong thực tế trước và sau khi điều trị 61
Trang 19DANH SÁCH CÁC SƠ ĐỒ VÀ BIỂU ĐỒ
SƠ ĐỒ TRANG
Sơ đồ 2.1 Chuyển hóa sắc tố mật 15
Sơ đồ 3.1 Qui trình chiết xuất diệp hạ châu đắng 32
Sơ đồ 3.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 34
Sơ đồ 3.3 Phác đồ điều trị trên chó sau khi gây bệnh bằng CCl4 35
Sơ đồ 3.4 Sơ đồ bố trí thí nghiệm trên chó thực tế 37
BIỂU ĐỒ TRANG Biểu đồ 4.1: Hàm lượng AST trong huyết thanh các chó thí nghiệm trước khi gây bệnh 42
Biểu đồ 4.2: Hàm lượng ALT trong huyết thanh các chó thí nghiệm trước khi gây bệnh 42
Biểu đồ 4.3: Hàm lượng ALP trong huyết thanh các chó thí nghiệm trước khi gây bệnh 43
Biểu đồ 4.4: Hàm lượng TB trong huyết thanh các chó thí nghiệm trước khi gây bệnh 43
Biểu đồ 4.5: Hàm lượng DB trong huyết thanh các chó thí nghiệm trước khi gây bệnh 44
Biểu đồ 4.6: Hàm lượng AST trong huyết thanh các chó thí nghiệm ở ngày thứ 5 sau khi gây bệnh với CCl4 50
Biểu đồ 4.7: Hàm lượng ALT trong huyết thanh các chó thí nghiệm ở ngày thứ 5 sau khi gây bệnh với CCl4 51
Biểu đồ 4.8: Hàm lượng ALP trong huyết thanh các chó thí nghiệm ở ngày thứ 5 sau khi gây bệnh với CCl4 51
Biểu đồ 4.9: Hàm lượng AST trong huyết thanh các chó thí nghiệm sau 15 ngày điều trị (lô I: chó 1 - 6, lô II: chó 7 - 13) 55
Biểu đồ 4.10: Hàm lượng ALT trong huyết thanh các chó thí nghiệm sau 15 ngày điều trị (lô I: chó 1 - 6, lô II: chó 7 - 13) 56
Trang 20Biểu đồ 4.11: Hàm lượng ALP trong huyết thanh các chó thí nghiệm sau 15
ngày điều trị (lô I: chó 1 - 6, lô II: chó 7 - 13) 56
Trang 21Hiện nay, đời sống người dân đã được nâng cao, nhu cầu điều trị bệnh cho chó mèo trở nên phổ biến và đại trà hơn, số lượng và chủng loại bệnh trên chó mèo cũng đa dạng và phức tạp hơn Nhiều liệu pháp hóa dược liệu được áp dụng trong nhân y và thú y nhưng không vì thế mà những phương thức điều trị dân gian (đông y) bị mai một Thuốc đông y vẫn được áp dụng điều trị trong một số bệnh trên chó chẳng hạn ghẻ, ký sinh trùng, viêm gan, thận và vàng da
Viêm gan, vàng da có thể do vi-rút, vi khuẩn, ký sinh trùng, trúng độc hoặc
do kế phát các bệnh về đường tiêu hóa Trong nhân y, người ta thường dùng liệu pháp đông y để điều trị viêm gan vàng da mà nổi bật là việc dùng diệp hạ châu đắng (cây chó đẻ) Cây thuốc này có thể được dùng dưới dạng tươi, dịch chiết hoặc chế phẩm bào chế để điều trị nhiều bệnh như xuất huyết, rong kinh, ứ huyết, vết thương, mụn nhọt, viêm gan thận, sỏi mật và sỏi bàng quang
Theo ghi nhận của một số nghiên cứu, viêm gan ở chó tại khu vực thành phố
Hồ Chí Minh vào năm 2009 chiếm khoảng 2,78% tổng số chó đến khám và điều trị tại các cơ sở thú y (Chi cục thú y thành phố, 2009) Trong thú y ở khu vực phía Nam, chưa có công bố nào liên quan đến việc sử dụng diệp hạ châu đắng cho điều trị viêm gan trên chó Chính vì thế, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Đánh giá
Trang 22hiệu quả điều trị viêm gan, vàng da ở chó của cao đặc chiết diệp hạ châu đắng
Kiểm tra chức năng gan qua xét nghiệm máu và siêu âm trước và sau khi dùng cao đặc diệp hạ châu đắng
Trang 23Chương 2 TỔNG QUAN
2.1 Diệp hạ châu đắng (Phyllanthus amarus)
2.1.1 Phân loại
Theo Đỗ Huy Bích và ctv (2004), Phyllanthus thuộc:
Họ: thầu dầu
Tên khoa học: Phyllanthus urinaria L, Phyllanthus amarus
Tên khác: chó đẻ, diệp hạ châu, rút đất, cam kiềm, trân châu thảo, diệp hòe thái, lào nha châu
Tên nước ngoài: Herbe du chagrin petit tamarin rouge, surette
2.1.2 Hình thái
Cây thảo, sống quanh năm, sống dai, cao 20 - 30cm, có thể lên đến
60 - 70cm Thân nhẵn, có màu xanh Lá hình bầu dục, mọc sole, xếp khít nhau thành hai dãy như một lá kép hình lông chim Hoa mọc ở kẽ lá Quả nang, hình cầu, hơi dẹt, mọc rủ xuống ở dưới lá Mùa hoa: tháng 4 - 6, mùa quả: tháng 7 - 9
Hình 2.1 Diệp hạ châu đắng (cây chó đẻ)
(Nguồn: Báo sức khỏe và đời sống, 2010)
Trang 242.1.3 Phân bố
Chi Phyllanthus L có nhiều loài gồm từ những cây thảo đến các cây bụi hay
gỗ nhỏ, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Ở Việt Nam, chi này có
khoảng 40 loài, trong đó đáng chú ý là hai loài P urinaria và P amarus có hình dáng gần giống nhau nhưng P amarus thân có màu xanh, quả nang nhẵn, có tên gọi
là diệp hạ châu đắng hay cây chó đẻ còn P urinaria thân có màu đỏ, quả nang có
gai, có tên gọi là diệp hạ châu ngọt hay cây chó đẻ răng cưa, cả hai loài này mọc rải
rác ở khắp nơi trừ vùng núi cao, lạnh Trong tự nhiên còn có loài P niruri, có tác giả cho rằng đó là tên đồng nghĩa của P amarus (Đỗ Huy Bích và ctv, 2004) Trong
đề tài, chúng tôi sử dụng loài P amarus (diệp hạ châu đắng) do loài này dễ tìm,
được trồng nhiều và phân bố rộng
Diệp hạ châu đắng là cây ưa ẩm, ưa sáng và hơi chịu bóng, thường mọc lẫn trong các bầu cỏ, ruộng cao, nương rẫy và vườn nhà…vv Cây non mọc từ hạt vào cuối mùa xuân, sinh trưởng nhanh vào mùa hè và tàn lụi vào giữa mùa thu nên cây thường được thu hái vào cuối mùa hè vì trong thời gian này cây đã sinh trưởng, phát triển đầy đủ và chứa lượng hoạt chất cao nhất (Đỗ Huy Bích và ctv, 2004)
Hình 2.2 Cây diệp hạ châu (Nguồn: Bệnh gan và cây chó đẻ, 2011)
Trang 25Tính kháng khuẩn: nước sắc của cây có tác dụng trên nhiều loại vi khuẩn như
Staphylococcus aureus, Salmonella typhi, Shigella flexneri, Shigella shiga và Bacillus subtilis Chất kháng khuẩn tan nhiều trong methanol, ethyl acetate, aceton,
chlorofor và ethanol nhưng không tan trong ether dầu hỏa, ether ethylic, nó bền vững ở 80 - 100oC, không bị ảnh hưởng ở pH 2 - 9 (Nguyễn Đức Minh, 1975)
- Acid hữu cơ
Acid succinic, acid ferulic, acid dotriacontanoic
- Lignan: phyllanthin, hypophyllanthin
H3C - (CH2)28 - CH2OH
Trang 26cơ (ascorbic, geraniinic, amariinic, phenolic và repandusinic)
Diệp hạ châu đắng có tác dụng kháng vi-rút viêm gan Những acid phenolic
có tác dụng ức chế DNA polymerase của vi-rút gây viêm gan do ức chế sự sao chép
tế bào của vi-rút, không cho chúng sinh sản Acid galic chứa trong cây có tác dụng kháng khuẩn yếu nhưng phenolic và flavonoid có tác dụng kháng khuẩn và kháng nấm mạnh hơn
Diệp hạ châu đắng có tác dụng hạ đường huyết Có hai flavonoid ký hiệu
FG1 và FG2 phân lập từ phân đoạn tan trong nước của cao cồn có hoạt tính hạ đường huyết bằng đường uống trên chuột, mức độ giảm đường huyết khoảng 20% với FG1, 25% với FG2
Ngoài ra, diệp hạ châu đắng có tác dụng trong điều trị tiêu chảy và rối loạn tiêu hóa do làm giảm nhu động ruột, có tác dụng lợi tiểu và điều trị bệnh tiết niệu
Trang 27Vậy, diệp hạ châu đắng có tác dụng dược lý trên hệ tiêu hóa, hệ tiết niệu, hệ sinh dục… nhưng tác động rõ rệt nhất là trên gan Trong đề tài này, chúng tôi chủ yếu nhấn mạnh đến khả năng bảo vệ và làm hồi phục tế bào gan bị tổn thương của diệp
hạ châu đắng
2.1.8 Công dụng
Các công dụng của diệp hạ châu đắng gồm trị bệnh viêm gan, giải độc gan, bảo vệ tế bào gan; chống viêm, giảm đau mạnh và bền vững trong các bệnh viêm
da, viêm đau họng, đau bụng, đau đầu, đau nửa đầu…vv; trị khó tiêu, lỵ, tiêu chảy
và tăng tính ngon miệng; có tác dụng lợi tiểu, điều trị rối loạn tiết niệu, sỏi thận và sỏi mật Bên cạnh những công dụng trên, diệp hạ châu đắng còn được dùng để trị hậu sản ứ huyết, điều kinh và gây sẩy thai; trị chàm má, bệnh da liễu; trị đau mắt, quáng gà; trị giun; chữa sưng phù, lở loét, mụn nhọt và làm thuốc long đờm, trị ho,
hạ sốt Ngoài ra, lá và quả cây diệp hạ châu đắng giã nát thành bột nhão với sữa, tỏi, hạt tiêu có thể dùng trị vàng da; nước sắc toàn cây làm thuốc bổ dạ dày (Đỗ Huy Bích và ctv, 2004)
2.1.9 Liều lượng và cách dùng
Để chữa nhọt độc sưng đau, lấy một nắm diệp hạ châu đắng với một ít muối, giã nát, cho nước, vắt lấy nước cốt uống, bã đắp chỗ đau Để chữa vết thương chảy máu, giã nát cây diệp hạ châu đắng với vôi đắp vào vết thương Để chữa viêm gan, vàng da, viêm thận, đái máu, viêm ruột tiêu chảy máu hoặc mắt đau sưng đỏ, lấy
ra, chữa ăn không ngon miệng, sốt, đau bụng, nước tiểu sẫm màu, lấy 1 gam diệp hạ châu đắng, 2 gam nhọ nồi, 1 gam xuyên tâm liên, phơi khô trong mát, tán thành bột, sắc bột này và uống hết trong một lúc, mỗi ngày uống 3 lần
2.1.10 Chiết xuất
Khi cần chiết lấy toàn bộ hoạt chất trong diệp hạ châu đắng thì dạng thuốc điều chế thích hợp là cao thô Cao thô có đặc điểm là đã loại bỏ được một phần hoặc hoàn toàn các tạp chất (chất nhày, chất béo, nhựa, protein…) và tỷ lệ hoạt chất
Trang 28trong cao thô có thể bằng (cao lỏng) hoặc thường cao hơn (cao đặc, cao khô) tỷ lệ hoạt chất trong diệp hạ châu đắng (Phạm Ngọc Bùng và Nguyễn Thị Nga, 2004)
Cao thô có ba dạng cao khô, cao đặc và cao lỏng Cao khô có thể chất tơi khô (bột khô), đồng nhất nhưng rất dễ hút ẩm và chứa ẩm độ không quá 5% Cao đặc là một khối đặc quánh và chứa ẩm độ không quá 20% (Cao Thị Mai Phương và ctv, 2002), 15 - 20% (Phạm Ngọc Bùng và Nguyễn Thị Nga, 2004) Cao lỏng có thể chất lỏng hơi sánh, 1ml cao lỏng có chứa lượng hoạt chất tương đương với 1g dược liệu Trong đề tài này chúng tôi điều chế diệp hạ châu đắng ở dạng cao đặc
Quá trình điều chế cao thô diệp hạ châu đắng gồm các giai đoạn
Điều chế dịch chiết
Dung môi có thể là cồn methanol hoặc ethanol 80 - 100% Tuy nhiên, thường dùng cồn methanol vì nó được xem là dung môi vạn năng, nó hòa tan được các chất không phân cực và có khả năng tạo liên kết hydro với các nhóm phân cực (Nguyễn Văn Đàn và Nguyễn Viết Tựu, 1985) Ngoài ra, cồn methanol rẻ hơn cồn ethanol, nhiệt độ sôi của cồn methanol (65oC) thấp hơn cồn ethanol (78oC) nên dịch chiết cồn methanol khi cô quay sẽ bay hơi nhanh hơn cồn ethanol và thu được cao thô toàn phần chứa hầu hết hợp chất của diệp hạ châu đắng Chính vì những lý do trên, chúng tôi quyết định chọn cồn methanol khi chiết xuất diệp hạ châu đắng Bên cạnh những ưu điểm trên, methanol lại có nhược điểm là gây ngộ độc khi ăn phải với hàm lượng nhất định hoặc hàm lượng rất ít trong thời gian dài nên để tránh tình trạng này chúng tôi cô quay cao đến khi đặc cứng và để cao ở nhiệt độ phòng trong
1 - 2 ngày để loại hết hoàn toàn dung môi methanol
Dược liệu sau sấy khô có độ ẩm không quá 12% (Cao Thị Mai Phương và ctv, 2002), làm thành bột mịn hoặc nửa mịn, thông thường dược liệu nằm trong cỡ rây 180 - 355 hoặc 250 - 710 micromet Dược liệu không nên quá nhỏ vì sẽ làm dược liệu bị nén chặt khi thấm dung môi, dung môi khó đi qua ngăn cản quá trình chiết xuất, còn dược liệu quá lớn sẽ giảm hiệu suất không chiết kiệt hoạt chất
Trang 29Phương pháp chiết xuất
Dùng phương pháp ngâm lạnh vì phương pháp này đơn giản, dễ thực hiện, không cần máy móc phức tạp và thường được dùng trong điều chế cao thô do hạn chế được tác dụng của nhiệt độ tới hoạt chất trong dược liệu Phương pháp ngâm lạnh là phương pháp chiết ở nhiệt độ phòng (27 - 30oC) trong thời gian
10 - 15 ngày và được áp dụng với đa số dược liệu Khác với phương pháp ngâm lạnh, phương pháp chiết nóng là phương pháp chiết ở nhiệt độ 60 - 100oC trong thời gian 7 - 10 ngày và thường áp dụng cho các dược liệu có cấu tạo rắn chắc, khó chiết xuất và có khả năng chịu nhiệt
Diệp hạ châu đắng sau khi được chia nhỏ tới độ mịn thích hợp, cho tiếp xúc với dung môi methanol trong thời gian nhất định (1 - 3 ngày) ở nhiệt độ phòng, dụng cụ ngâm dược liệu phải có nắp đậy kín tránh bay hơi dung môi Sau đó tiến hành gạn, ép, lắng lọc và thu lấy dịch chiết (Phạm Ngọc Bùng và Nguyễn Thị Nga, 2004)
Loại bỏ tạp chất: để lắng qua đêm sau đó gạn lọc
Hoàn thành chế phẩm: xác định tỷ lệ hoạt chất và điều chỉnh
Nếu chế phẩm có tỷ lệ hoạt chất thấp hơn quy định thì tiếp tục cô để loại bớt dung môi Nếu chế phẩm có tỷ lệ hoạt chất cao hơn quy định thì thêm tinh bột, lactose hoặc bã dược liệu nghiền mịn
Bảo quản: cao thuốc thô được đựng trong chai lọ có nút kín, tránh ánh
sáng, để nơi khô ráo, thoáng mát và sạch sẽ
2.1.11 Cơ chế chống viêm gan và vàng da của diệp hạ châu đắng trên chó
2.1.11.1 Cơ chế chống viêm gan và vàng da do vi-rút của diệp hạ châu đắng
Trong diệp hạ châu đắng có các thành phần: flavonoid, alkaloid và các hợp chất phyllanthin, hypophyllathin, niranthin, phylteralin có tác dụng ức chế mạnh vi-rút gây viêm gan (HBV: Hepatitis B Virus) thông qua việc ức chế enzyme DNA polymerase của HBV từ đó ức chế sự sao chép tế bào của vi-rút viêm gan, làm cho vi-rút không nhân lên được và bị đào thải do không bám vào được DNA, làm giảm
Trang 30hoạt độ của HBsAg và anti-HBs, giúp phục hồi enzyme transminase từ 50 - 97%, bilirubin trở về bình thường (Từ Tích Tổ, 2008)
2.1.11.2 Cơ chế chống tổn thương gan của diệp hạ châu đắng
Phyllanthin và hypophyllanthin trong cây diệp hạ châu đắng có tác dụng ức chế sự co thắt cơ trơn (thành động mạch chủ) gây dãn mạch do tương tác giữa phenylephrin (PE) với Ca2+, có tác dụng làm gia tăng hàm lượng glutathion là chất
có tác dụng bảo vệ tế bào gan do trong tế bào glutathion đóng vai trò là một coenzyme đa chức năng, do đó làm tăng khả năng ion hóa của nguyên tử C, làm cho dạng khử của glutathion dễ dàng liên kết với chất độc CCl4 tạo thành phức hệ enzyme glutathion tranferase - CCl4 - glutathion ít độc hơn, dễ tan trong nước và được đào thải ra ngoài tế bào Nirtetralin, phyltetralin, niranthin và các lignans chiết xuất từ diệp hạ châu đắng có tính kháng viêm và chống đau cục bộ do sự tương tác với thụ thể của yếu tố kích hoạt tiểu cầu (PAF - platelet activating factor) Beta - sitosterol và stigmasterol trong cây giúp giảm hàm lượng cholesterol tự do trong máu bằng cách ức chế hấp thu cholesterol ở ruột (giảm phân tiết mật, ngăn chặn thành lập hạt micelle - quá trình nhũ hóa mỡ), giảm hình thành LDL huyết thanh Acid galic có tác dụng chống oxy hóa mạnh nên có tác dụng ức chế mạnh quá trình peroxide hóa chất béo ở tế bào gan, do đó hạn chế hiện tượng viêm và hoại tử tế bào gan Vậy, diệp hạ châu đắng chống lại sự tổn thương, hư hại tế bào gan bằng cách ức chế sự peroxide hóa chất béo, tăng cường sự oxy hóa tế bào và tăng hàm lượng glutathion
2.1.12 Các nghiên cứu trước đây
Năm 1980 nghiên cứu của Nhật Bản và Ấn Độ đã xác định tác dụng điều trị bệnh gan của phyllanthus là do các hoạt chất phyllanthin, hypophyllanthin và triacontanol (Gordian và Godswill, 2007)
Những năm sau đó nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học Trung Quốc, Nhật Bản, Châu Mỹ Latin, Philippines, Cuba, Nigeria, Bắc Phi và Tây Phi cũng cho thấy tác dụng điều trị của phyllanthus đối với bệnh vàng da và viêm gan
Trang 31siêu vi Jayaram và các cộng sự của Đại học Madras (Ấn Độ) thử nghiệm trên 28 người nhiễm vi-rút viêm gan, uống liều 250mg diệp hạ châu đắng từ 1 - 3 tháng, tỷ
lệ khỏi bệnh là 54,5% (Lê Kim Phụng, 2009)
Ngoài ra, một số nghiên cứu cho biết diệp hạ châu đắng có tác dụng lợi tiểu, điều trị sỏi thận, sỏi mật, ức chế quá trình nhân lên của vi-rút HIV (Human Immunodeficency Virus), ức chế sự đột biến DNA của tế bào gây ung thư, giảm huyết áp và giảm lượng đường trong máu (Taylor, 2003)
2.2 Viêm gan, vàng da trên chó
2.2.1 Viêm gan trên chó
2.2.1.1 Phân loại viêm gan
Theo Từ Tích Tổ (2008), viêm gan trong y học hiện đại chỉ là gan phát viêm, trên lâm sàng chủ yếu chia viêm gan thành ba loại: viêm gan do thuốc, viêm gan do
vi khuẩn và viêm gan do vi-rút
Viêm gan do thuốc và hóa chất
Gan phát viêm do ngộ độc thuốc, hóa chất Những chất này có thể là thuốc, các dung dịch tẩy rửa, các dung môi dùng trong công nghiệp, các hóa chất gây ô nhiễm môi trường…Các chất này dù được đưa vào cơ thể bằng đường uống, đường tiêm chích, hít vào phổi hay ngấm qua da đều đi tới gan và gây tổn thương gan
Những thuốc gây độc gan chia làm hai loại chính Những chất khi được
sử dụng hầu như lúc nào cũng có tác dụng độc hại cho gan như thạch tín, carbon tetrachloride…Và độc tính của chúng có liên quan đến liều sử dụng, nghĩa là liều càng cao thì gan bị tổn thương càng nặng Những chất khi được sử dụng có thể gây hại cho gan như isoniazid, sulfonamide…độc tính trên gan của chúng có thể xảy ra
ở động vật này mà không xảy ra ở động vật khác và không liên quan đến liều lượng nghĩa là có khi chỉ sử dụng một lần hoặc một lượng rất ít đã có biểu hiện viêm gan
Một số thuốc thường dùng có thể gây hại cho gan Thuốc kháng viêm và giảm đau không phải steroid như aspirin, diclofenac…; thuốc kháng lao isoniazide;
Trang 32thuốc kháng sinh như sulfonamide, penicillin, erythromycin, tetracycline; thuốc chống nấm ketoconazole…; thuốc điều trị bệnh thần kinh như chlorpromazin; thuốc gây mê halothane; một số thảo dược như cây cúc bạc, cây tầm gửi, cây cỏ long ba, cây tía tô đất…; chất aflatoxin và một số hóa chất dùng trong công nghiệp, chất gây
ô nhiễm môi trường
Viêm gan do vi khuẩn: như Leptospira, E.coli
Viêm gan do vi-rút: do adenovirus type 1 (CAV1) gây ra
Vị trí bệnh của ba loại viêm gan nói trên đều ở trong gan và đều có biểu hiện lâm sàng giống nhau nhưng viêm gan do vi-rút tính lây lan mạnh, quá trình bệnh kéo dài và tính nguy hiểm cao
2.2.1.2 Nguyên nhân
Có rất nhiều nguyên nhân gây viêm gan có thể do vi-rút, vi khuẩn, ký sinh trùng, nấm, bệnh về tim, trúng độc, tổn thương cơ học và những bệnh về đường tiêu hóa gây nên… Nhưng dù do nguyên nhân nào thì trước tiên cần điều trị theo triệu chứng và tăng cường sức đề kháng cho vật nuôi để vật nuôi có thể tự điều chỉnh quá trình bệnh lý từ đó bệnh bị đẩy lùi, vật nuôi nhanh chóng khỏi bệnh
2.2.1.3 Triệu chứng
Theo Foster và Smith (2000), chó bị bệnh gan có rất nhiều triệu chứng khác nhau, một vài triệu chứng thì đặc hiệu cho bệnh gan chẳng hạn như vàng da nhưng một vài triệu chứng thì giống với các bệnh khác Khi chó có các triệu chứng sau có thể nghi ngờ chó mắc bệnh về gan như lừ đừ, mệt mỏi (do tổn thương tế bào gan, rối loạn chuyển hóa đường, mật ứ đọng…), sốt, giảm thể trọng, giảm ăn, nôn ói, tiêu chảy và táo bón, phân có màu xám, nước tiểu có màu vàng cam do hàm lượng bilirubin trong nước tiểu cao, uống nước và đi tiểu nhiều, tích nước trong xoang bụng, đau vùng bụng, vàng da, bệnh não do gan hoặc chó có những di chứng thần kinh như thay đổi thói quen…vv
Trang 332.2.2.3 Triệu chứng
Chó bị vàng da có thể do bị bệnh gan hoặc không phải do bệnh gan nhưng triệu chứng thì tương tự và triệu chứng dễ nhận thấy nhất là da, niêm mạc bị vàng
Trang 34Hình 2.3 Chó bị vàng da và niêm mạc (Khan và ctv, 2010) 2.2.2.4 Cơ chế gây vàng da
Sự chuyển hóa sắc tố mật bình thường
Hemoglobin trong hồng cầu già dị hóa, tách globin ra khỏi nhân heme, dưới tác dụng của enzyme oxygenase heme của vi tiểu thể tạo thành bilirubin, 80% bilirubin được tạo thành từ con đường này, 15 - 20% bilirubin được tạo thành từ các nguồn khác (sự phá hủy các hồng cầu trưởng thành, sự tái sinh nhân heme và các protein heme như cytocrome, myoglobin, các enzyme chứa heme) sau đó bilirubin
đi vào trong huyết tương, nó gắn với albumin (bilirubin gián tiếp) một cách thuận nghịch và không đồng hóa trị theo tỷ lệ 2:1 (mol) tạo thành hemobilirubin không tan trong nước, theo máu đến gan tách albumin và kết hợp với acid glucoronic tạo thành cholebilirubin hay bilirubindiglucoronic (sắc tố II, bilirubin trực tiếp) và bilirubinmonoglucoronic (sắc tố I, bilirubin trực tiếp), các sắc tố này tan trong nước được bài tiết vào mật, sau đó đến ruột và bài tiết ra ngoài phân hoặc chuyển hóa thành stekobilinogen, urobilinogen 80% bilirubin trực tiếp theo phân ra ngoài, bị oxy hóa thành stekobilin, 20% còn lại thì một phần thấm qua thành ruột vào tĩnh mạch cửa quay trở lại gan thành bilirubin, một phần xuống ruột già qua mao huyết quản của thành ruột theo máu đến thận, ra ngoài qua nước tiểu dưới dạng urobilin (Phạm Ngọc Thạch và ctv, 2006)
Trang 35
- globin
- FeVerdohemoglobin
+ H2
Bilirubin trực tiếp
Urobilin Stekobilin
Trang 36da trên chó (Cooper, 2002)
Khi chó bị bệnh tiêu máu hoặc bệnh ở gan, hồng cầu bị phá hủy nhiều dẫn đến bilirubin tích tụ trong máu hoặc trong mô do sự thất bại trong gắn kết với acid glucuronic, trong bài tiết hoặc do bị ứ mật dẫn đến bilirubin trong máu tăng cao và gây vàng Tuy nhiên, trên chó không phải cứ bị bệnh tiêu máu hoặc bệnh gan sẽ có vàng da kèm theo, nên sự có mặt hay không có mặt của vàng da thì hầu như không
có ý nghĩa trong chẩn đoán các bệnh về gan, máu Nhưng trong một vài trường hợp như bệnh về tiết niệu, bàng quang, viêm là nguyên nhân thứ phát gây rối loạn chức năng gan và có thể kèm theo vàng da, vàng da trên chó xảy ra khi bilirubin trong huyết thanh từ 3 - 4 mg/dl, trong huyết tương từ 1,5 - 2 mg/dl (Willard, 1989)
Vàng da do tắc ống dẫn mật (sỏi mật, giun trong ống mật, viêm ống mật)
Khi ống mật bị tắc, cholebilirubin bị ứ lại ở gan nên cholebilirubin quay ngược vào máu, cholebilirubin trong máu tăng cao từ đó ngấm qua da, niêm mạc và
tổ chức dưới da làm da, niêm mạc và tổ chức dưới da có màu vàng, stekobilin trong phân giảm hoặc không có, urobilin trong nước tiểu ít, xuất hiện bilirubin trong nước tiểu Nếu ống mật bị tắc hoàn toàn, sự hấp thu mỡ giảm dẫn đến các acid béo theo phân ra ngoài, ruột bị kích thích gây tiêu chảy
Vàng da do bệnh ở gan
Khi có bệnh lý ở gan, các tế bào gan bị tổn thương hoặc hư hại làm cho quá trình tạo cholebilirubin của gan gặp trở ngại nên cholebilirubin, hemobilirubin ở gan được hấp thu ngược vào máu dẫn đến cholebilirubin, hemobilirubin trong máu tăng ngấm vào da, niêm mạc và các tổ chức dưới da và gây vàng da, niêm mạc
Trang 37Vàng da do dung huyết
Khi có hiện tượng dung huyết xảy ra, hồng cầu trong máu vỡ nhiều do chó bị thiếu máu truyền nhiễm, ký sinh trùng đường máu, trúng độc hóa chất mạnh, tiếp máu không cùng loại, độc tố vi khuẩn làm cho hemobilirubin trong máu tăng dẫn đến cholebilirubin trong máu tăng, stekobilin trong phân tăng, urobilin quay trở về gan quá nhiều nên ngấm qua da, niêm mạc gây vàng
2.2.3 Chẩn đoán
Chức năng sinh lý và bệnh lý của gan rất phức tạp, khi có tổn thương gan những chức năng sinh lý bị trở ngại ở những mức khác nhau gây ra một số triệu chứng và có sự thay đổi của một số thành phần hóa học trong máu Do đó, chẩn đoán bệnh gan ở chó cần dựa vào:
2.2.3.1 Triệu chứng lâm sàng và tiền sử bệnh: sốt, giảm ăn, giảm trọng, bụng tích
nước, vàng da, tai, nướu răng, có những vết tụ máu, nhiễm trùng da và vết thương không lành hoặc tái phát sau khi ngưng sử dụng kháng sinh…Tuy nhiên, các dấu hiệu lâm sàng của bệnh gan không đặc trưng, do đó cần kết hợp với các phương pháp chẩn đoán khác để có kết luận chính xác
2.2.3.2 Siêu âm
Khái niệm: siêu âm là phương pháp chẩn đoán rất quan trọng trong bệnh gan,
kỹ thuật này có thể được sử dụng độc lập hoặc kết hợp với các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh khác hay chẩn đoán huyết thanh
Vị trí: gan được định vị hoàn toàn trong xoang bụng và được bảo vệ bởi một cái lồng do các phần đuôi của xương sườn tạo ra Gan chó được chia làm năm thùy: thùy đuôi, thùy vuông, thùy trung trái, thùy trung phải và thùy bên trái Ranh giới giữa các thùy này hầu như không phân biệt được trong hình ảnh siêu âm gan bình thường nhưng trong quá trình hô hấp khi có sự chuyển động của một thùy khác thì đường viền gian thùy có thể nhìn thấy khi quét đủ thời gian và đúng kỹ thuật Ranh giới về mối quan hệ giữa gan với các cơ quan khác: gan ở phía dưới lách, bên dưới
Trang 38và bên cạnh mặt lưng của gan là lớp mỡ dạng liềm và vỏ thận (Connie và ctv, 1994)
Kỹ thuật: tần số siêu âm 7,5MHz thường dùng cho mèo và chó có trọng lượng nhỏ hơn 20 pounds (9kg), tần số 5MHz thường dùng cho chó lớn, tần số 3MHz có thể nhìn thấy được bờ mặt sau của gan trên những giống chó có thể vóc lớn (Ronald, 1996)
Các thao tác chuẩn bị trước khi tiến hành siêu âm: chó được đặt nằm ngửa trên bàn phía dưới có lót nệm để giúp chó thoải mái ở mặt lưng, dùng tay cố định chó nhẹ nhàng đủ để ngăn chặn sự di chuyển của chó, một số thú đòi hỏi sự giảm đau khi siêu âm vùng bụng Sau đó, tiến hành cạo lông từ rốn đến khoảng gian sườn thứ 10, nếu có thể nên cho thú nhịn đói một ngày trước khi tiến hành siêu âm vùng bụng để ngăn ngừa những khí thừa trong dạ dày ruột Sau khi cạo lông tiến hành bôi một lớp gel trên vùng cao lông, đặt đầu dò trực tiếp dưới vùng xương ức hướng đầu dò theo đúng vị trí hình ảnh siêu âm xuất hiện trên màn hình, sau đó di chuyển tới vùng gan và quan sát hình ảnh gan trên màn hình (Ronald, 1996)
Nhận định: hình ảnh siêu âm gan bình thường: bờ gan nhẵn, đường cong của
bờ nhịp nhàng, không khuyết, không thấy hạt và không lồi lõm, nhu mô gan hồi âm đồng nhất và khô, tĩnh mạch cửa gan, tĩnh mạch chủ sau và các nhánh tĩnh mạch rất
dễ nhìn thấy, động mạch gan không thể xác định vì kích thước quá nhỏ Tĩnh mạch cửa gan là các cấu trúc anechoic dạng ống có thành và có thể nhìn thấy được các nhánh trong nhu mô gan, tĩnh mạch gan thì cũng có cấu trúc và hình dạng tương tự tĩnh mạch cửa khi siêu âm nhưng không nhìn thấy thành (Connie và ctv, 1994), túi mật là vùng không hồi âm, dạng oval hoặc tròn (Giroux, 2006) Hình ảnh siêu âm gan bị viêm được đánh giá ở ba mức độ: viêm gan cấp, viêm gan cũ hoặc viêm gan mãn
Trang 39Hình 2.4 Siêu âm chó
(Nguồn: Foster and Smith Educational staff, 2000)
Bảng 2.1: Phân loại viêm gan trên siêu âm
Kích thước Bình thường / to Bình thường Bình thường / to
Tĩnh mạch cửa Dày, sáng Bình thường Dày
Vách túi mật Phù nề / bình thường Bình thường Dày
(Nguyễn Văn Khanh và ctv, 2007)
2.2.3.3 Sinh thiết gan: là kỹ thuật được ứng dụng để chẩn đoán tình trạng bệnh lý
tế bào, phương pháp này hữu dụng trong việc xác định các trường hợp bệnh gan ở thú hoặc vàng da không rõ nguyên nhân ở người hoặc trong các trường hợp viêm gan mãn tính, xơ gan hay bệnh gan kế phát (trích dẫn bởiĐỗ Thanh Thủy, 2008)
Trang 402.2.3.4 Các hóa nghiệm đánh giá chức năng gan
Theo Willard (1989), để đánh giá chức năng gan ta có thể tiến hành xét nghiệm máu:
Men gan
Các men gan nhạy, chúng gồm AST (aspartate aminotransferase), ALT (alanine aminotransferase), ALP (alkaline phosphatase) và GGT (gamma-glutamyl transpeptidase) nhưng được sử dụng nhiều nhất là aminotransaminase (AST, ALT) Bình thường các men này nằm bên trong tế bào gan và một số cơ quan khác, khi có hiện tượng tổn thương hoặc hoại tử tế bào gan thì các men này tràn vào máu làm gia tăng nồng độ của chúng trong máu, đây là chỉ dấu của tình trạng tổn thương gan
ALT hay SGPT (glutamic pyruvic transaminase)
ALT là enzyme đặc hiệu của gan, có chủ yếu trong bào tương của tế bào gan Nó được phóng thích vào máu khi các tế bào gan bị tổn thương, hoại tử, thời gian bán hủy trung bình của ALT lớn hơn 24 giờ và có thể xem men này là chỉ dấu của tình trạng tổn thương gan
ALT được chỉ định xét nghiệm khi chó có các triệu chứng bị bệnh gan: giảm cân, ói mửa, tiêu chảy, vàng da, báng bụng, suy nhược và biếng ăn Sau đó tiến hành lấy 3ml máu ở tĩnh mạch chân, để đông tự nhiên trích lấy 0,5ml huyết thanh và phân tích bằng phương pháp quang phổ hoặc dùng chất thử
Giới hạn bình thường của ALT thì khác nhau giữa các phòng thí nghiệm do sự khác nhau về kỹ thuật và đơn vị sử dụng, mức ALT bình thường trong huyết thanh chó từ 2,5 - 80 UI/L huyết thanh (Kramer và Hoffmann, 1997),
5 - 80 UI/L huyết thanh (Smith và Mangkoewidjojo, 1987), 13 - 92 UI/L huyết thanh (Tvedten, 1982), giá trị bất thường của ALT thì tương quan với sự hủy hoại, tổn thương của gan, không có sự tương quan giữa mức ALT và chức năng gan ALT tăng trong các bệnh lý gan (tổn thương gan do sử dụng thuốc, xơ gan, viêm gan cấp, viêm gan do vi-rút, ký sinh trùng, nhiễm độc rượu, ngộ độc thức ăn…) Ngoài
ra, ALT có thể tăng nhẹ trong trường hợp sử dụng thuốc chống co giật,