1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

XÁC ĐỊNH KHẢ NĂNG PHỐI HỢP CỦA MỘT SỐ GIỐNG MÈ (Sesamum indicum L.) TRONG ĐỜI F1 VÀ PHÂN TÍCH CÁC QUẦN THỂ ĐỜI F2

129 106 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu của đề tài là đánh giá khả năng phối hợp và mức độ ưu thế lai của các giống mè theo một số tính trạng, đánh giá biểu hiện của các quần thể lai đời F2 và dự đoán năng suất trung

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-   -

TRẦN THU HIỀN

XÁC ĐỊNH KHẢ NĂNG PHỐI HỢP CỦA MỘT SỐ

GIỐNG MÈ (Sesamum indicum L.) TRONG ĐỜI F1

VÀ PHÂN TÍCH CÁC QUẦN THỂ ĐỜI F2

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 05/ 2011

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-   -

TRẦN THU HIỀN

XÁC ĐỊNH KHẢ NĂNG PHỐI HỢP CỦA MỘT SỐ

GIỐNG MÈ (Sesamum indicum L.) TRONG ĐỜI F1

VÀ PHÂN TÍCH CÁC QUẦN THỂ ĐỜI F2

Trang 3

XÁC ĐỊNH KHẢ NĂNG PHỐI HỢP CỦA MỘT SỐ

GIỐNG MÈ (Sesamum indicum L.) TRONG ĐỜI F1

VÀ PHÂN TÍCH CÁC QUẦN THỂ ĐỜI F2

TRẦN THU HIỀN

Hội đồng chấm luận văn:

Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long

Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh

Viện KHKT Nông Nghiệp Miền Nam

Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh

Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh

ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

HIỆU TRƯỞNG

Trang 4

Tình trạng gia đình: Chồng là Phạm Văn Dũng, năm kết hôn: 2010

Địa chỉ liên lạc: Khoa Trồng trọt – Quản lý đất đai, trường Cao đẳng Công nghệ và Kinh tế Bảo Lộc

Điện thoại: 098.6628647

Email: Tranthuhien1212@gmail.com

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Học viên

TRẦN THU HIỀN

Trang 6

Tập thể Giáo viên Khoa Trồng trọt – Quản lý đất đai, trường Cao đẳng Công nghệ và Kinh tế Bảo Lộc đã giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành chương trình học

Chân thành biết ơn:

Các anh chị Cán bộ kỹ thuật làm việc tại Bộ môn Cây có dầu ngắn ngày – Viện nghiên cứu dầu và cây có dầu đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Gia đình bác Trương Thị Khuôn ở Gò Dầu – Tây Ninh đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình triển khai và hoàn thành đề tài

Cuối cùng, xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cha mẹ và chồng tôi đã động viên

và hỗ trợ về tinh thần trong quá trình học tập và nghiên cứu

Trang 7

TÓM TẮT

Đề tài “Xác định khả năng phối hợp của một số giống mè (Sesamum indicum L.) đời F1 và phân tích các quần thể lai đời F2” đã được tiến hành tại ấp

Phước Hội, xã Phước Thịnh, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh từ tháng 01 đến tháng

12 năm 2010 Mục tiêu của đề tài là đánh giá khả năng phối hợp và mức độ ưu thế lai của các giống mè theo một số tính trạng, đánh giá biểu hiện của các quần thể lai đời F2 và dự đoán năng suất trung bình quần thể F3 dưới áp lực chọn lọc

Thí nghiệm gồm 4 giống làm mẹ là VDM3, VDM11, VDM14, V6 (đối chứng); 5 giống làm bố là VDM9, VDM12, VDM13, VDM15, VDM25; 20 tổ hợp lai F1 được phối hợp theo phương pháp lai đỉnh (Topcross) được Kempthorne đề xuất năm 1957; 20 quần thể lai F2 của các tổ hợp lai F1 Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối đầy đủ tuần tự bậc thang với 3 lần lặp lại Kết quả đạt được:

- Các giống có khả năng phối hợp chung tốt nhất trong F1: theo hướng rút ngắn thời gian sinh trưởng: VDM3 (- 2,0 ngày),VDM12 (- 1,6 ngày) và VDM9 (-1,4 ngày); tăng năng suất cá thể: VDM15 (0,86 g/cây), VDM14 (0,82 g/cây) và VDM25 (0,65 g/cây)

- Những tổ hợp lai F1 có khả năng phối hợp riêng tốt: theo hướng rút ngắn thời gian sinh trưởng: VDM11/VDM25 (- 3,77 ngày), VDM3/VDM15 (-3,1 ngày); tăng năng suất cá thể: VDM14/VDM15 (1,28 g/cây), VDM11/VDM25 (0,85 g/cây)

- Con lai F1 có ưu thế lai chuẩn và ưu thế lai tuyệt đối cao trên tất cả các tính trạng cấu thành năng suất: VDM11/VDM9, VDM11/VDM15, VDM14/VDM9, VDM14/VDM13 và V6/VDM9

- Tất cả các tính trạng đều có sự suy giảm ở F2, trong đó tính trạng năng suất suy giảm mạnh nhất, tỷ lệ F2/F1 biến động từ 42,0% đến 82,4%

Trang 8

- Hệ số di truyền năng suất trong các quần thể F2 biến động từ 0,13 đến 0,78 phụ thuộc vào từng tổ hợp lai Kết quả tính toán cho thấy việc chọn lọc trên các quần thể F2 VDM11/VDM25, VDM14/VDM15 và VDM3/VDM13 sẽ cho năng suất cao trong F3

Trang 9

ABSTRACT

The title “Combining ability analysis in the first generation of sesame

varieties (Sesamum indicum L.) and genetic analysis of the second generation

populations” was carried out in Tay Ninh province from January 2010 to

December 2010 The objectives were to evaluate combining ability and degrees of growth heterosis for triats, yield and yield components; evaluate the peformance of F2 hybrid populations; select and predict average yield of F3 populations

In this experiment, there were four female parents: VDM3, VDM11, VDM14, V6 (control variety), five male parents: VDM9, VDM12, VDM13, VDM15, VDM25; 20 crosses were combined according to the Topcross method (Kempthorne, 1957) and their 20 second generations The experiment was set up as

a randomized complete blockdesign with 3 replications The results were defined as following:

- Some parental varieties had the best general combining ability in some characteristics: day to mature: VDM3 (- 2,0 days),VDM12 (- 1,6 days) and VDM9 (- 1,4 days); the seed yield/plant: VDM15 (0,86 g/plant), VDM14 (0,82 g/plant) và VDM25 (0,65 g/plant)

- Some crosses had the best specific combining ability in some characteristics: day to mature VDM11/VDM25 (- 3,77 days), VDM3/VDM15 (-3,1 days); the seed yield/plant VDM14/VDM15 (1,28 g/plant), VDM11/VDM25 (0,85 g/plant)

- High heterobeltiosis and standard heterosis for yield and yield components was noticed in some hybrids such as: VDM11/VDM9, VDM11/VDM15, VDM14/VDM9, VDM14/VDM13, V6/VDM9

Trang 10

- All characteristics separated in F2 generation, and the strongest separation was seed yield/plant, from 42,0% to 82,4%

- In F2 progenies, heritability of seed yield was from 0,13 to 0,78, depending on hybrid pairs There were 3 promising populations: VDM11/VDM25, VDM14/VDM15 and VDM3/VDM13 which will have good yield in F3

Trang 11

Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1.3 Đặc điểm thực vật học 4

2.2 Thành phần dinh dưỡng và công dụng của cây mè 7

2.2.1 Giá trị dinh dưỡng 7

2.3.1 Tình hình sản xuất mè trên thế giới 8

Trang 12

2.3.2 Tình hình sản xuất mè ở Việt Nam 10

2.4.1 Tình hình nghiên cứu mè trên thế giới 10

2.5 Khả năng phối hợp và một số kết quả nghiên cứu trên cây mè 18

2.5.1 Khả năng phối hợp 18 2.5.2 Những nghiên cứu về khả năng phối hợp trên mè 19

2.6 Ưu thế lai và hệ số di truyền 21

2.6.2 Hệ số di truyền 22 2.6.3 Những nghiên cứu về ưu thế lai và hệ số di truyền trên cây mè 23

3.1 Địa điểm, thời gian và điều kiện ngoại cảnh 26

3.1.1 Địa điểm thí nghiệm 26 3.1.2 Thời gian tiến hành thí nghiệm 26

3.1.3 Điều kiện ngoại cảnh 26 3.2 Vật liệu thí nghiệm 27 3.3 Phương pháp nghiên cứu 28

3.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu 30 3.5 Phương pháp phân tích số liệu 30

3.5.1 Phần mềm ứng dụng trong phân tích số liệu 30

3.5.2 Phân tích khả năng phối hợp và hoạt động gen 31

4.1 Đánh giá bố mẹ, F1 và F2 theo các tính trạng 33

4.1.1 Tỉ lệ mọc mầm 33 4.1.2 Đánh giá các chỉ tiêu sinh trưởng, năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 35

4.2 Phân tích khả năng phối hợp 42

4.2.1 Phân tích phương sai khả năng phối hợp 42

Trang 13

4.2.2 Phân tích khả năng phối hợp chung (general combining ability – gca) 45

4.2.3 Phân tích khả năng phối hợp riêng (specific conbining ability) 53

4.2.4 Phân tích thông số di truyền các tính trạng 62

4.3.1 Phân tích ưu thế lai trên các tính trạng sinh trưởng 67

4.3.2 Phân tích ưu thế lai trên các tính trạng cấu thành năng suất và năng suất 71

4.5 Phân tích hệ số di truyền và dự đoán năng suất trung bình quần thể F3 84

5.1 Kết luận 87 5.2 Đề nghị 88

TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

PHỤ LỤC 96

Trang 14

DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT

CCĐQ Chiều cao đóng quả

gca Khả năng phối hợp chung

NSLT Năng suất lý thuyết

NSTT Năng suất thực thu

P 1000 hạt Trọng lượng 1000 hạt

sca Khả năng phối hợp riêng

SH Ưu thế lai chuẩn

TBNS Trung bình năng suất

TGRH Thời gian ra hoa

TGST Thời gian sinh trưởng

Trang 15

DANH SÁCH CÁC BẢNG

BẢNG TRANG Bảng 2.1: Bảng phân tích thành phần dinh dưỡng có trong bột mè và trong thịt 7

Bảng 2.2: Diện tích, năng suất, sản lượng mè trên thế giới 9

Bảng 4.3: Giá trị tính trạng về các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất

Bảng 4.5: Khả năng phối hợp chung của các giống bố mẹ trên các tính trạng

nghiên cứu 47

Bảng 4.6: Khả năng phối hợp riêng (sca) của các tổ hợp lai trên các tính trạng

sinh trưởng 55

Bảng 4.7: Khả năng phối hợp riêng của các tổ hợp lai trên tính trạng năng suất

và các yếu tố cấu thành năng suất 58

Bảng 4.8: Thành phần phương sai và các tham số di truyền của các tính trạng 63

Bảng 4.9: Kết quả phân tích phương sai các tổ hợp lai F1 và bố mẹ 66

Bảng 4.10: Mức độ ưu thế lai trên các tính trạng sinh trưởng 68

Bảng 4.11: Mức độ ưu thế lai trên tính trạng trọng lượng 1000 hạt và số hạt/múi 72

Bảng 4.12: Mức độ ưu thế lai trên tính trạng số múi/quả, số quả/cây và năng suất 74

Bảng 4.13: So sánh giá trị F2 so F1 và đối chứng V6 trên các tính trạng

Bảng 4.14: So sánh giá trị F2 so F1 và đối chứng V6 ở các yếu tố cấu thành

năng suất và năng suất 82

Trang 16

DANH SÁCH CÁC HÌNH

HÌNH TRANG

Hình 9: Đặc điểm hình thái giống V6 (đối chứng) 97

Trang 17

Chương 1

MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Cây mè (Sesamum indicum L.) là một trong những cây công nghiệp lấy dầu

quan trọng trên thế giới Hiện nay, mè được trồng ở nhiều vùng khí hậu khác nhau với tổng diện tích hơn 7,5 triệu ha, năng suất 3,5 – 4,5 tạ/ha Gần 70% sản lượng mè thế giới sản xuất từ Ấn Độ, Trung Quốc, Sudan và Malaysia (Faostat, 2008) Trong

đó 65% sản lượng mè dùng ép dầu và 35% dùng trong thực phẩm

Ở Việt Nam, mè là cây trồng quen thuộc, có nhiều giá trị dinh dưỡng, đóng góp thiết thực trong bữa ăn hàng ngày của nhân dân ta Mè là thức ăn ngon, bổ dưỡng, dễ chế biến thành nhiều món ăn hấp dẫn Trong hạt mè, hàm lượng lipid cao (45% – 54%), protein 16% – 18% và protein của mè có đủ 8 acid amin không thay thế Ngoài ra, trong hạt mè còn có acid béo, vitamin E, vitamin B, sắt, canxi là những chất cần thiết cho cơ thể con người Vì vậy, mè được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực công nghiệp, dược phẩm, thực phẩm và dầu sinh học

Hiện nay, cây mè đang được nhà nước khuyến khích phát triển mở rộng nhằm giảm bớt lượng mè nhập khẩu để chế biến dầu ăn Cây mè có lợi thế hơn so với các loại cây trồng khác do dễ trồng, có khả năng sinh trưởng phát triển tốt ở điều kiện nắng nóng khô hạn Mè có tính chống chịu tốt, có thể gieo trồng trên đất xấu, đất thiếu nước, ít đòi hỏi vật tư phân bón Thời gian sinh trưởng của mè ngắn, khoảng 70 – 80 ngày, thích hợp cho việc thâm canh, tăng vụ Có thể nói mè là một trong những cây trồng quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu cây trồng

Mặc dù có nhiều lợi thế nhưng diện tích mè cả nước có xu hướng tăng chậm, khu vực Đông Nam Bộ lại giảm dần do không có giống cho năng suất và hàm lượng

Trang 18

dầu cao Kết quả nghiên cứu mè trong những năm trước đây còn ít, đặc biệt những nghiên cứu cơ bản phục vụ cho công tác chọn tạo giống Hiện nay các giống được

sử dụng trong sản xuất chủ yếu là giống địa phương, năng suất thấp, dễ bị sâu bệnh

Trong công tác lai tạo giống mè, việc chọn giống bố mẹ là khâu quan trọng nhất, ảnh hưởng sự đa dạng các kiểu gen ở các thế hệ sau, có vai trò quyết định đến hiệu quả chọn lọc Một trong những phương pháp chọn giống bố mẹ là dựa vào khả

năng phối hợp Vì vậy, đề tài: “Xác định khả năng phối hợp của một số giống mè trong đời F1 (Sesamum indicum L.) và phân tích các quần thể lai đời F2” được thực hiện

- Thời gian nghiên cứu: Đề tài được thực hiện từ tháng 01/2010 – 12/2010

- Địa điểm: Đề tài được thực hiện tại ấp Phước Hội, xã Phước Thịnh, huyện

Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh

Trang 19

Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Giới thiệu về cây mè

2.1.1 Nguồn gốc và sự phân bố cây mè

Mè là cây lấy dầu có nguồn gốc từ châu Phi (Ram và ctv, 1990) Mè được du nhập vào Ấn Độ cách đây 5000 năm và đây được xem là trung tâm trồng mè lớn nhất thế giới Trung Quốc, Nhật Bản và các nước ở Tây Á là những vùng trồng mè lớn thứ hai trên thế giới (trích dẫn theo Thangavelu, 1994)

Mè được trồng chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Vùng phân bố chính của mè là từ 250 vĩ Bắc đến 250 vĩ Nam Ngoài ra mè còn được trồng phổ biến

ở 400 vĩ Bắc và 350 vĩ Nam Mè trồng chủ yếu ở độ cao dưới 1250 m so với mặt biển Mè không thích hợp với điều kiện khí hậu ở vùng cao Khi trồng ở nhiệt độ cao, mè sinh trưởng nhanh nhưng năng suất thấp (Tạ Quốc Tuấn và Trần Văn Lợt, 2005)

2.1.2 Phân loại cây mè

Cây mè có tên khoa học là Sesamum indicum L., thuộc họ Pedaliaceae Họ Pedaliaceae có 60 loài thuộc 16 chi, trong đó chi Sesamum được trồng nhiều nhất trong nông nghiệp Sesamum có 37 loài và phân bố rộng rãi trên thế giới (Nguyễn

Vy và ctv, 1996)

Các giống mè thuộc loài Sesamum Capennsen, Sesamum alanum, Sesamum chenkii, Sesamum laniniatum, có 2n = 64 Hiện nay, mè được trồng chủ yếu là loài Sesamum indicum L., có bộ nhiễm sắc thể 2n = 26 Sesamum indicum L được phân

loại thực vật như sau:

Trang 20

Loài : Sesamum indicum

Mè có nhiều giống và nhiều dòng với thời gian sinh trưởng, màu sắc và dạng cây khác nhau Do đó, người ta dựa vào thời gian sinh trưởng của cây, số khía trên trái, màu sắc hạt, thời vụ trồng, sự phân cành trên cây… để phân loại các giống mè

2.1.3 Đặc điểm thực vật học

2.1.3.1 Rễ

Rễ mè thuộc loại rễ cọc có rễ chính ăn sâu và hệ thống rễ bên tương đối phát triển Rễ cái ăn sâu nên cây có khả năng chịu hạn tốt, nhưng khả năng chịu ngập nước lại rất kém Do đó, đất trồng mè phải có hệ thống thoát nước tốt Rễ mè phân

bố chủ yếu ở tầng đất mặt 0 – 25 cm (Tạ Quốc Tuấn và Trần Văn Lợt, 2005)

Hệ thống rễ phát triển mạnh theo chiều sâu vào thời kỳ đầu Tuy nhiên, sang thời kỳ sau, tốc độ phát triển rễ nhanh hơn về chiều rộng Loại đất và ẩm độ đất cũng ảnh hưởng rất rõ đến tốc độ sinh trưởng của rễ Trên đất cát hệ thống rễ phát triển mạnh hơn trên đất thịt (Tạ Quốc Tuấn và Trần Văn Lợt, 2005)

2.1.3.2 Thân

Cây mè thuộc loại thân thảo, mọc thẳng đứng, thân có dạng hình vuông với các rãnh chạy dọc thân Bề mặt thân mè nhẵn hoặc có lông Đây là một trong những đặc điểm chính để phân biệt các giống mè Màu sắc thân thay đổi từ xanh nhạt đến gần tía Mè có chiều cao từ 60 – 120 cm, chia thành nhiều lóng và có phân cành Các yếu tố thời tiết có ảnh hưởng đến chiều cao cây là chế độ nhiệt, độ dài ngày Các dạng thân ngắn đâm cành ít thường chín sớm, cây cao thường chín trễ và có khuynh hướng chịu hạn khá hơn Các giống dài ngày phát triển chậm ở giai đoạn cây con, tăng trưởng nhanh ở giai đoạn sau (Tạ Quốc Tuấn và Trần Văn Lợt, 2005)

Trang 21

2.1.3.3 Lá

Lá mè thuộc dạng lá đơn, màu xanh nhạt, trên bề mặt có nhiều lông Kích thước và hình dạng lá thay đổi tùy thuộc vào giống, vị trí lá Những lá ở thấp thường lớn hơn lá trên cao Lá đôi khi có xẻ thùy, mép lá có răng cưa Chiều dài lá thay đổi

từ 3,0 – 17,5 cm; chiều rộng từ 1,0 – 1,5 cm Lá mọc đối hay mọc xen kẽ tùy thuộc vào đặc điểm các giống Sự sắp xếp lá trên thân ảnh hưởng rất lớn đến số hoa sinh ra

ở nách lá Lá mọc đối thuận lợi cho việc ra hoa hơn mọc xen kẽ (Tạ Quốc Tuấn và Trần Văn Lợt, 2005)

2.1.3.4 Hoa

Hoa mè hình chuông, cuống hoa ngắn, tràng hoa có 5 thùy Hoa mọc từ nách

lá ở phần trên của thân và cành Hoa thường mọc đơn nhưng cũng có trường hợp mọc thành chùm Hoa mè tự thụ phấn là chính, ngoài ra có thụ phấn chéo nhờ côn trùng và gió Hoa nở vào sáng sớm (90% hoa nở từ 5 – 7 giờ sáng) Hoa héo và rụng vào buổi chiều (Tạ Quốc Tuấn và Trần Văn Lợt, 2005)

Thời gian ra hoa có quan hệ nhiều đến giống, điều kiện thời tiết và ánh sáng Trong thời gian ra hoa nếu gặp mưa kéo dài thì tỷ lệ đậu quả sẽ giảm rõ rệt Nhưng lúc ra hoa gặp hạn mà được tưới nước sẽ cho năng suất mè tăng hơn so với việc tưới nước ở bất kỳ thời kỳ sinh trưởng nào của cây (Phạm Văn Thiều, 2003)

2.1.3.5 Quả

Quả mè thuộc dạng quả nang có nhiều vách ngăn tạo thành những khía sâu, hình bầu dục, dài 2,5 – 8,0 cm, rộng 0,5 – 2,0 cm, đỉnh quả có mỏ ngắn Số vách ngăn trên quả thay đổi từ 4 – 12 vách Quả khi chín sẽ nứt dọc theo các vách ngăn

từ đỉnh quả xuống đáy quả hoặc mở ra 2 lỗ trên đỉnh quả (Tạ Quốc Tuấn và Trần Văn Lợt, 2005)

Quả lớn nhanh trong thời gian 9 ngày đầu tiên sau khi hoa thụ tinh và tiếp tục phát triển thêm trong thời gian 24 ngày tiếp theo và đạt được trọng lượng khô tối đa

ở 27 ngày sau khi hoa nở Quá trình chín của quả diễn ra từ gốc đến ngọn như quá trình ra hoa trước đó (Phạm Văn Thiều, 2003)

Trang 22

2.1.3.6 Hạt

Hạt mè nhỏ, hình bầu dục hơi dẹt, bề mặt hạt nhẵn hoặc có rãnh Khối lượng

1000 hạt biến động từ 2 – 4 g Màu sắc hạt tùy thuộc vào giống Hạt có màu sáng thường cho năng suất và chất lượng dầu tốt hơn so với hạt màu tối Hàm lượng dầu của hạt mè thay đổi tùy theo giống, mùa vụ, vị trí trồng…(Tạ Quốc Tuấn và Trần Văn Lợt, 2005)

Do mè có chứa hàm lượng dầu cao nên rất khó khăn trong bảo quản và dễ mất sức nảy mầm Nếu thu hoạch thủ công, bảo quản trong kho lạnh đủ tiêu chuẩn thì tỷ lệ nảy mầm chỉ giảm khoảng 10%, (Phạm Văn Thiều, 2003)

2.1.4 Điều kiện sinh thái

2.1.4.1 Nhiệt độ

Cây mè cần điều kiện nhiệt độ cao trong suốt quá trình sinh trưởng phát triển Nhiệt độ trung bình thích hợp là 25 – 300C Dưới 200C sự nảy mầm của hạt và sinh trưởng của cây con bị chậm rõ rệt, dưới 100C sinh trưởng hầu như ngừng lại Nhiệt độ thích hợp cho sự nở hoa và phát triển quả vào khoảng 28 – 320C Nếu nhiệt độ thấp ở thời kỳ chín thì tỉ lệ và chất lượng dầu của hạt bị giảm Nhiệt độ cao trên 40oC vào thời gian ra hoa sẽ cản trở sự thụ phấn, thụ tinh, tăng tỷ lệ hoa rụng

và do đó làm giảm số hoa (Tạ Quốc Tuấn và Trần Văn Lợt, 2005)

2.1.4.2 Ánh sáng

Mè là cây phản ứng với ánh sáng ngày ngắn Nếu thời gian chiếu sáng 10 giờ trong ngày thì thời gian sinh trưởng dinh dưỡng của cây sẽ bị rút ngắn, ảnh hưởng tới năng suất và phẩm chất hạt Mè sẽ ra hoa sớm hơn 15 – 20 ngày trong điều kiện

tự nhiên (12 giờ chiếu sáng/ngày) Cường độ ánh sáng, số giờ nắng trong ngày ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất của mè Trong thời gian sinh trưởng, nhất là sau khi trổ hoa, mè cần khoảng 200 – 300 giờ nắng/tháng cho tới khi trái chín (Tạ Quốc Tuấn và Trần Văn Lợt, 2005)

Trang 23

quan trọng, tốt nhất là 35% ở thời kỳ từ nảy mầm đến hình thành nụ đầu tiên, 45% ở thời kỳ ra hoa, đậu quả, còn lại 20% ở thời kỳ quả lớn, sau đó giảm dần và ngưng hẳn khi bắt đầu có quả chín Mè rất mẫn cảm với điều kiện ngập nước, nếu gặp mưa lớn sẽ làm tăng tỉ lệ bệnh do nấm Mưa lúc thu hoạch làm cho phẩm chất mè giảm

do nhiễm bệnh (Tạ Quốc Tuấn và Trần Văn Lợt, 2005)

2.1.4.4 Đất đai

Cây mè sinh trưởng phát triển tốt trên các loại đất có độ màu mỡ trung bình và khả năng thoát nước tốt Các loại đất có tầng canh tác mỏng, khả năng thoát nước kém hoặc những loại đất nhiễm mặn không phù hợp cho việc trồng mè Đất có độ pH từ 5,5 – 8,0 thích hợp cho mè sinh trưởng phát triển (Tạ Quốc Tuấn và Trần Văn Lợt, 2005)

Mè sinh trưởng tốt trên đất cát pha giàu dinh dưỡng Sinh trưởng và năng suất của mè giảm khi trồng trên đất xám bạc màu, đất thịt nặng ở vùng khô hạn

2.2 Thành phần dinh dưỡng và công dụng của cây mè

2.2.1 Giá trị dinh dưỡng

Trong bột mè, hàm lượng acid amin rất cao, tương đương với hàm lượng acid amin có trong thịt

Bảng 2.1: Bảng phân tích thành phần dinh dưỡng có trong bột mè và trong thịt

Trang 24

Mè có giá trị dinh dưỡng cao, trong hạt mè có chứa: 45 – 55% dầu, 19 – 20% protein, 8 – 11% đường, 5% nước, 4 – 6% chất tro Theo Phạm Đức Toàn (2009),

hàm lượng dầu trung bình trong hạt mè ở Việt Nam và Campuchia là 51%

2.2.2 Công dụng của mè

Trong thực phẩm, hạt mè là thành phần của nhiều loại thức ăn Hạt mè được dùng trong sản xuất bánh mì, bánh quy, socola và kem Người Châu Âu sử dụng dầu mè thay thế dầu olive, trong khi người Châu Phi dùng hạt mè làm thành phần chính trong các món canh, gia vị và trong chế biến bánh kẹo, dầu ăn Ở Việt Nam, dầu mè chủ yếu dùng để chế biến thức ăn (Phạm Đức Toàn, 2009)

Ngoài ra, mè còn được sử dụng nhiều trong y học Dầu mè chứa vitamin E

và các chất chống oxy hóa quan trọng (sesaminol và sesamolinol) Hạt mè có chứa Lecithin và Myristic acid, các chất này như là chất chống oxy hóa, chất cầm máu,

và chất ngăn ngừa ung thư Hàm lượng lecithin trong hạt mè là 58 – 395 ppm và Myristic acid được tìm thấy trong hạt mè với hàm lượng 328 – 1728 ppm Ở Ấn Độ, dầu mè được dùng làm thuốc súc miệng, sát trùng kháng vi khuẩn, trị các bệnh liên quan tới hội chứng lo âu, mất ngủ (Phạm Đức Toàn, 2009)

Trong công nghiệp, dầu mè dùng để sản xuất các chất kháng nấm, kháng khuẩn, thuốc trừ sâu, chất hòa tan, xà phòng, mỹ phẩm Ở Châu Phi, hoa mè được

sử dụng nhiều trong sản xuất nước hoa (Phạm Đức Toàn, 2009)

Khô dầu mè có hàm lượng protein cao (35 – 50%), giàu tryptophane và methionin, có thể dùng làm nguyên liệu chế biến thức ăn chăn nuôi Khô dầu mè có chất lượng kém có thể tận dụng làm phân bón cho cây trồng (Tạ Quốc Tuấn và Trần Văn Lợt, 2005)

2.3 Tình hình sản xuất mè

2.3.1 Tình hình sản xuất mè trên thế giới

Theo số liệu thống kê của FAO năm 2008, sản lượng mè trên thế giới đạt khoảng 3,6 triệu tấn Trong đó, mè được sản xuất chủ yếu ở Châu Á với tổng sản lượng đạt 2,2 triệu tấn, chiếm 62% Sản lượng mè ở Châu Phi đạt 1,2 triệu tấn

Trang 25

Bảng 2.2: Diện tích, năng suất, sản lượng mè trên thế giới

Vùng Năng suất (kg/ha) Diện tích (ha) Sản lượng (tấn)

Ở Châu Á, Ấn Độ có diện tích và sản lượng mè lớn nhất khu vực Năm 2008,

sản lượng mè Ấn Độ đạt 640 ngàn tấn Diện tích trồng mè của Trung Quốc là 0,47

triệu ha, bằng 1/4 diện tích mè tại Ấn Độ (1,7 triệu ha), nhưng do năng suất trung

bình cao (1,24 tấn/ha) nên sản lượng mè Trung Quốc chỉ đứng sau Ấn Độ và

Myanmar

Tổng diện tích trồng mè ở Châu Phi là 3,04 triệu ha, đạt năng suất 0,4 tấn/ha

Trong đó, Sudan có diện tích trồng mè lớn nhất (1,49 triệu ha) Sản lượng mè hàng

năm của Sudan 350 ngàn tấn Các nước có sản lượng mè lớn ở Châu Phi là Sudan,

Ethiopia, Uganda và Nigeria

Ở Châu Mỹ, sản lượng và tổng diện tích trồng mè thấp, chỉ chiếm khoảng

3,5 – 4% Mè được trồng chủ yếu ở Paraguay, Mexico, Guatemala, Venezuela và

Brazil Sản lượng mè của các nước này từ 16 – 30 ngàn tấn, trong đó Paraguay có

sản lượng cao nhất (50 ngàn tấn)

Năng suất mè trung bình trên thế giới thấp, khoảng 0,3 – 0,5 tấn/ha Diện

tích và sản lượng mè của Ấn Độ cao nhưng năng suất chỉ đạt mức trung bình (0,38

tấn/ha) Các nước có năng suất mè cao là Lebanon, Peru và Trung Quốc

Tình hình xuất nhập khẩu mè trên thế giới bị giới hạn vì nhu cầu mè thường

lớn hơn sản lượng được cung ứng từ các nước, ngoại trừ một số nước trồng phục vụ

cho xuất khẩu Ấn Độ, Trung Quốc, Myanmar, và một số nước Mỹ la tinh là những

Trang 26

nước cung cấp hạt mè chính cho thế giới Mè trắng được ưa chuộng trên thị trường xuất khẩu như bánh kẹo vì mè trắng cho chất lượng cao hơn so với mè đen

2.3.2 Tình hình sản xuất mè ở Việt Nam

Ở Việt Nam, mè chưa được chú ý trong sản xuất cũng như trong nghiên cứu,

do đó năng suất không cao, khoảng 0,4 – 0,5 tấn/ha Diện tích gieo trồng năm 2000

là 36,8 ngàn ha, đến năm 2008 tăng lên 45 ngàn ha Các vùng có diện tích trồng mè nhiều là Bắc Trung Bộ, Duyên Hải Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ và Đồng Bằng Sông Cửu Long

Sản lượng mè cả nước năm 2008 đạt 22 ngàn tấn, tăng 5,2 ngàn tấn so với năm 2000 Tuy sản lượng tăng nhưng năng suất trung bình của cả nước ở mức thấp, đạt 0,49 tấn/ha (2008), tăng không đáng kể so với năm 2000 (0,46 tấn/ha) Trong

đó, Đồng Bằng Sông Cửu Long và Đồng Bằng Sông Hồng có năng suất mè cao nhất (0,7 – 0,9 tấn/ha) Các tỉnh trồng nhiều mè ở Đồng Bằng Sông Cửu Long là An Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp Ở An Giang, năng suất mè 1,5 tấn/ha với diện tích 1,1 ngàn ha Thời vụ trồng chính là Đông Xuân và Xuân Hè, giống mè trồng chủ yếu là

mè đen

Năng suất trung bình ở các tỉnh Duyên Hải Nam Trung Bộ thấp, khoảng 0,4 tấn/ha Bình Thuận có diện tích trồng mè lớn nhất vùng (7,1 ngàn ha), sản lượng hàng năm đạt 3,5 ngàn tấn Hiện nay, năng suất mè của tỉnh Bình Thuận còn thấp (0,5 tấn/ha) Thời vụ trồng chính là Hè Thu, giống mè trồng chính là mè đen

Do ảnh hưởng của điều kiện khô hạn, từ năm 2002 – 2008 năng suất mè của Nghệ An chỉ đạt 0,4 – 0,5 tấn/ha, thấp hơn rất nhiều so với những năm trước đây (0,8 – 1 tấn/ha) Vì vậy, nhiều nông dân đã chuyển sang cây trồng khác

2.4 Tình hình nghiên cứu mè

2.4.1 Tình hình nghiên cứu mè trên thế giới

Mè là một trong những cây lấy dầu quan trọng trên thế giới Nhưng hiện nay, năng suất mè hàng năm thấp, do đó diện tích trồng đang bị thu hẹp Để cải thiện tình hình này, đã có nhiều chương trình nghiên cứu được thực hiện Những công

Trang 27

trình nghiên cứu này chủ yếu tập trung tạo ra giống mới và cải thiện các biện pháp canh tác

2.4.1.1 Giống

Hiện nay, số lượng giống mè mới trên thế giới còn rất thấp, Hàn Quốc là một trong những quốc gia có sự quan tâm và đầu tư cho cây mè nhưng 29% giống mè trong sản xuất vẫn là giống địa phương (Kang, 2001) Ấn Độ và Trung Quốc đã có các chương trình thu thập nguồn gen cây mè ở địa phương, bảo quản và khai thác nguồn gen này làm vật liệu khởi đầu phục vụ công tác chọn tạo giống (Langham, 2001)

Theo Vanzanten (2001), xử lý đột biến bằng tia gamma ở mức 150 – 800 Gray cho kết quả đột biến tốt nhất Phương pháp chiếu xạ neutron trên hạt khô với liều lượng 30 – 80 Gray cũng cho kết quả khá tốt Ngoài ra có thể xử lý đột biến bằng NaN3 Phương pháp xử lý như sau: ngâm hạt vào nước lạnh ở nhiệt độ 40C trong 24 giờ, sau đó ngâm hạt vào dung dịch NaN3 4 – 6 mM với sodium phosphate (pH = 3)

ở nhiệt độ 18 – 240C trong 4 – 6 giờ và rửa hạt dưới vòi nước ít nhất 4 giờ

Sử dụng EMS trong xử lý đột biến cũng cho kết quả rất tốt Trước khi xử lý đột biến, ngâm hạt vào nước trong 24 giờ ở nhiệt độ thấp (40C) Sau đó ngâm hạt vào dung dịch EMS với nồng độ 0,4 – 1%, bổ sung phosphate làm chất đệm (pH = 7) Ngâm hạt trong dung dịch EMS từ 2 – 4 giờ và rửa hạt dưới vòi nước khoảng 4 giờ (Vanzanten, 2001)

Yingzhong (2003) nghiên cứu ảnh hưởng của tia gamma và NaN3 đến sự nảy mầm của hạt với nguồn Coban 60 Khi xử lý hạt nảy mầm, kết quả cho thấy các liều phóng xạ kết hợp NaN3 khác nhau cũng ảnh hưởng khác nhau đến sinh trưởng và phát triển của 3 giống mè Yuzhi 4, Zhong 97-413 và AEO809936

Theo nghiên cứu ở Băngladet, các giống mè có phản ứng tốt với việc xử lý bằng tia gamma và dùng EMS Khi sử dụng tia gamma và EMS, tất cả các tính trạng nảy mầm, trọng lượng hạt, tỉ lệ đổ ngã, tỉ lệ thụ phấn và sản lượng đều bị ảnh hưởng Khi so sánh gen của hạt đen và hạt trắng thì hạt trắng nhạy cảm với việc xử

lý hạt nhân hơn và cho hàm lượng dầu cao hơn từ 6 – 10% Xử lý hạt nhân trên các

Trang 28

tính trạng hình thái học trên M2, kết quả cho thấy: cây đột biến lùn, lá bị đốm và dày, thay đổi diệp tự, quả có nhiều kích thước khác nhau Các thế hệ M3, M4, M5, M6, M7 và M8 cũng được nghiên cứu các chỉ số nông học và năng suất hạt ở nhiều vùng khí hậu khác nhau tại Băngladet SM5, SM7 cho năng suất hạt cao nhất ở tất

cả các khu thí nghiệm với hàm lượng dầu từ 50 – 52% Một số cây đột biến có khả năng chống lại bệnh thối thân và bệnh khảm (Rahman và ctv, 2001)

Để đánh giá tính đa dạng di truyền, các nhà nghiên cứu đã sử dụng nhiều loại marker khác nhau RAPD marker được dùng trong các nghiên cứu của Parani và ctv (1996), Davila và ctv (2003), Ercan và ctv (2004), Kim và ctv (2002) sử dụng marker ISSR để kiểm tra mối quan hệ của 75 gen Uzun và ctv (2003) dùng marker AFLP sau khi xử lý đột biến tính trạng đóng quả

Trong công tác giống, công nghệ in vitro được áp dụng khá rộng rãi Theo Batista (2001), môi trường cho kết quả tốt nhất là MS có thêm NAA với nồng độ thấp Nuôi cấy đỉnh sinh trưởng cũng được nghiên cứu bởi George và ctv (1987), Lee và ctv (1985), Ram và ctv (1990) Kim (2001) nghiên cứu sự tạo thành mô sẹo, cây con tái sinh bằng cuống lá và lá mầm Cây con tái sinh tốt ở môi trường MS có bổ sung 3 mg/l BA; 0,5 mg/l NAA; 30g/l đường và 8 g/l

agar Qu và ctv (1994) nuôi cấy thành công phôi của cặp lai S.schinzianum x S.indicum Sau khi thụ phấn được 9 – 13 ngày, phôi được nuôi cấy trong môi trường

MS có chứa Nitch và 0,2 mg/l BA; 30g/l GA; 5% đường Phôi sau khi nảy mầm cấy truyền trong môi trường MS với 0,2 mg/l BA Sau 2 tuần chuyển cây sang môi trường MS có bổ sung 0,5 mg/l NAA

Ở Nigeria, Victor và Adeoniregun (2009) tiến hành trồng thí nghiệm các giống mè mới NCRIBEN-01M, NCRIBEN-O2M, NCRIBEN-03L, Ex-Sudan với các giống E-8, PBTil, Yandev 55 vào năm 2004, 2005 và 2006 Kết quả cho thấy: giống NCRIBEN-01M, NCRIBEN-02M và Ex-Sudan cho năng suất cao hơn, trọng lượng 1000 hạt trên 3g, chứa 40 – 50% hàm lượng dầu và hạt có màu trắng sáng Mặc dù Ex-Sudan không có sức sống mạnh bằng NCRIBEN-01M, NCRIBEN-02M

và NCRIBEN-03L, nhưng có chỉ số thu hoạch cao (27,9%), chứa 50% hàm lượng

Trang 29

dầu và năng suất đạt 1,21 tấn/ha Do đó, các giống 01M, 02M và Ex-Sudan được khuyến khích trồng trên diện rộng ở Nigeria

NCRIBEN-2.4.1.2 Điều kiện ngoại cảnh

Điều kiện ngoại cảnh là một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và phẩm chất của hạt mè Theo Beech (1985), trồng mè trong điều kiện ngày ngắn, nhiều mây cho năng suất thấp (trích dẫn bởi Singh, 2006)

Suddihiyam và ctv (1992) thực hiện thí nghiệm về ảnh hưởng của nhiệt độ và thời gian chiếu sáng đến giai đoạn ra hoa của cây mè Thí nghiệm được tiến hành với 3 mức thời gian chiếu sáng khác nhau 8 giờ/ngày, 13 giờ/ngày và 15 giờ/ngày Kết quả là khi được chiếu sáng 8 giờ/ngày, cây mè ra hoa nhanh nhất Nhiệt độ cũng ảnh hưởng đến thời gian ra hoa của cây Đa số các giống mè ra hoa khi có nhiệt độ ngày/đêm là 20/15 đến 30/25, một số giống khác ra hoa nhanh hơn khi ở nhiệt độ cao hơn

Theo Nath và ctv (2001), 100% cây ra hoa ở nhiệt độ trên 300C và mức nhiệt

độ này ảnh hưởng tích cực đến năng suất của mè Cây ra hoa 100% ở ẩm độ 60 – 80%, nhưng năng suất không cao Kyauk và ctv (1995) nghiên cứu về khả năng nảy mầm của hạt ở 4 mức nhiệt độ 15, 20, 25 và 30°C Hạt nảy mầm 100% ở nhiệt độ

20, 25, 300C Khi xử lý hạt với nước trong 2 giờ và trồng ở nhiệt độ 150C, tỉ lệ nảy mầm của hạt tăng 6 – 12% so với nghiệm thức không xử lý hạt Ngâm hạt vào dung dịch có chứa 500 mg/l GA3 trong 12 giờ cho tỉ lệ nảy mầm cao nhất (99%)

Môi trường ảnh hưởng trực tiếp đến thời gian ra hoa của mè và ảnh hưởng gián tiếp đến hàm lượng các chất lignan Kumazaki và ctv (2009) tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian sinh trưởng, độ dài ngày, nhiệt độ không khí và nhiệt

độ đất đến hàm lượng các chất sesamin và sesamolin trong hạt Kết quả cho thấy trong giai đoạn chín, cây trồng ở nhiệt độ môi trường thấp (22/150C) cho hàm lượng lignan cao hơn so với khi trồng ở nhiệt độ cao (30/230C) Yếu tố ngày ngắn (10 giờ)

và nhiệt độ đất không ảnh hưởng đến hàm lượng lignan trong hạt mè

Trang 30

2.4.1.3 Biện pháp canh tác

Ở Nigeria, Olowe (2006) đã nghiên cứu ảnh hưởng của độ sâu gieo hạt và hàm lượng phân bón đạm, lân trên cây mè Kết quả cho thấy: khi gieo mè càng sâu thì chiều cao đóng quả, số nhánh/cây càng thấp Trồng mè với khoảng cách 60 cm cho năng suất cao nhất (315,1 kg/ha) Adebisi và ctv (2005) cho biết nếu trồng mè ở mật độ 166,667 cây/ha sẽ cho sản lượng tăng 40% so với 266,667 cây/ha

Sau khi nghiên cứu các phương pháp gieo hạt và tỉ lệ hạt gieo ở Nigeria, Imoloame và ctv (2007) cho biết gieo hạt với tỉ lệ 15 kg/ha cho năng suất thấp, các yếu tố khác như: chiều cao cây, số hoa và số quả/cây giảm rõ rệt Nhưng khi gieo với mật độ này số lượng cỏ ít hơn so với các tỉ lệ khác Gieo hạt với tỉ lệ 6 kg/ha cho năng suất tối ưu Gieo hạt bằng phương pháp rạch hàng cho sản lượng cao hơn

so với phương pháp gieo vãi

Tại Ấn Độ, các kết quả nghiên cứu về phân bón cho cây mè cũng cho thấy việc bón NPK, kết hợp xử lý hạt và phun trên lá phân vi lượng làm tăng năng suất 30,5% Sử dụng N ở mức độ 80 kg/ha mang lại năng suất cao nhất (0,79 tấn/ha) và thành phần dầu cao nhất (45,88 %) (Asghar và ctv, 2003) Theo Olowe và ctv (2009), hàm lượng phân bón cần thiết để đạt năng suất tối ưu là 90 kg/ha N và 30 –

60 kg/ha P2O5

Một nghiên cứu được tiến hành tại trạm nghiên cứu nông nghiệp của Đại học King Abdul – Aziz tại Hadda El – sham trong năm 2007 và 2008 với mục đích cải thiện năng suất hạt mè ở vùng Makkah, A-rập-xê-út Thí nghiệm được bố trí theo lô chính phụ với 4 lần lập lại Lô chính được bố trí với 4 tỷ lệ N (0, 100, 150 và 200 kg/ha) và lô phụ được bố trí với 4 giống mè: Saudi Local cv., Egyptian cv., Shandaweel và Sudanese cv., Sudan-1 Kết quả phân tích cho thấy có sự ảnh hưởng tương tác lên ngày ra hoa, chiều cao cây, số nhánh/cây, số lượng quả/cây, trọng lượng hạt/cây và năng suất hạt/ha Trong khi đó, không có sự tương tác giữa tỷ lệ N

và giống mè Giống mè Saudi Local cv cho năng suất cao nhất so với các nghiệm thức khác ở mức 150 – 200 kg/ha, năng suất hạt đạt 862,47 kg/ha và 869 kg/ha Giống Shandaweel và Sudanese cv xếp thứ 2 với năng suất đạt 733,37 kg/ha và

Trang 31

729,89 kg/ha ở từng mức độ N 150 kg/ha và 200 kg/ha Sudan-1 cho năng suất hạt thấp nhất ở các tỷ lệ N khác nhau Thành phần dầu của 3 giống mè theo thứ tự là: 45,37%, 45,96% và 45,80% tương ứng với các giống Saudi Local cv., Shandaweel

Nghiên cứu sử dụng chế phẩm stigmasterol ở nồng độ 200 ppm cho thấy có

sự gia tăng có ý nghĩa đối với năng suất hạt, số quả/cây và khối lượng 1000 hạt, do

đó làm tăng sản lượng hạt và hàm lượng dầu trong hạt (Greedly và ctv, 2005) Ở Nigeria, xử lý hạt mè với sodiumazide (muối acid) ở nồng độ khác nhau và dung dịch colchicine từ 0 – 0,25% (w/v) cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ nảy mầm, thời gian sinh trưởng, chiều cao cây, tổng số diện tích lá cây, lượng diệp lục, sức sống hạt phấn, chất khô và kích cỡ quả Abou và ctv (2007) nghiên cứu ảnh hưởng của nồng

độ NaCl và các chất chống thoát hơi nước như caolin, calcium carbonate, paraffin wax đến năng suất mè Kết quả cho biết tưới mè bằng nước có pha 2,3 dS/m NaCl

và Kaolin (chất chống thoát hơi nước) cho kết quả tốt nhất

Theo Kim và ctv (1986), khi mè bị bệnh do vi khuẩn P solanacerrum Smith

nên sử dụng giống kháng hoặc bón vôi với liều lượng 2,0 – 4,0 tấn/ha Bệnh thối rễ, bệnh đốm thân và bệnh đốm lá, xuất hiện trên thân, lá từ lúc cây con đến thu hoạch làm ảnh hưởng đến năng suất Kiểm soát bệnh bằng cách phun thuốc Benoram (1,000X) + Metasyl (1,000X) vào lúc 15 đến 45 ngày sau gieo Để hạn chế thấp nhất sự thất thu hạt khi thu hoạch cần phun chất làm khô khi có ít nhất 70% số quả

Trang 32

chuyển từ màu xanh đậm sang xanh nhạt hoặc vàng hoặc nâu, thu hoạch cây khi 95% quả có màu nâu sau khi phun chất làm khô từ 7 – 9 ngày Sau thu hoạch, hạt

mè được làm sạch và phơi khô đạt ẩm độ 6% Để bảo quản dài lâu ở kho lạnh thì

ẩm độ hạt không được vượt 6% trong điều kiện kho có ẩm độ 50%, nhiệt độ là

180C

2.4.2 Tình hình nghiên cứu mè ở Việt Nam

Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Vy và ctv (1996) về so sánh các giống

mè trong nước và nhập nội: Nghệ An (Nâu), Nghệ An (Đen), Hà Tĩnh, Quảng Bình, Thanh Hóa, Hà Bắc, Bắc Thái, Vĩnh Phú, Hải Hưng, Đông Anh, mè Malaysia và giống mè Nhật Bản thì năng suất ở giống Quảng Bình thấp đạt 2,9 – 5,1 tạ/ha, giống

mè Nhật cho năng suất cao nhất là 7,8 – 18,5 tạ/ha

Theo Phan Văn Vinh (1998), kết quả qua thí nghiệm 6 giống mè Nhật (hạt trắng), Trung Quốc (hạt đen), Địa phương (hạt đen), Trung Quốc (hạt đen), Nghệ

An (hạt vàng), V36 Nhật (hạt đen) cho thấy giống mè Nghệ An và mè Trung quốc

cho năng suất cao nhất

Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam và Trường Đại học Nông Nghiệp 1 Hà Nội (2005) đã nghiên cứu, chọn tạo và phục tráng giống mè đen VĐ10

từ giống mè đen ở xã Minh Lộc, huyện Hậu Lộc, Thanh Hoá Giống có năng suất trung bình đạt 11,2 tạ/ha, có khả năng chống chịu với một số đối tượng dịch hại như

sâu ăn lá, bệnh thối thân và chống đổ ngã tốt

Theo nghiên cứu của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam (2002), giống V6 có khả năng thích ứng rộng ở các vùng sinh thái khác nhau trong

cả nước

Khi canh tác trên vùng đất cát ven biển Nghệ An, giống V6 có hàm lượng chất béo cao hơn và chỉ số acid tự do thấp hơn so với 2 giống mè địa phương Hàm lượng acid amin toàn phần trong hạt của giống mè V6 tương đương với giống mè vàng và cao hơn so với giống mè đen Tỷ lệ các loại acid amin trong protein hạt của ba giống mè nghiên cứu là tương tự nhau, chiếm tỷ lệ cao nhất là acid glutamic, thấp nhất là histidin (Lê Quang Vượng và ctv 2005)

Trang 33

Đoàn Phạm Ngọc Ngà (2007) đã nghiên cứu ảnh hưởng của tia bức xạ gamma (60Co) trên mè đen (giống mè đen Tây Ninh) qua 2 thế hệ Trong thế hệ đầu, sau khi chiếu tia bức xạ, cây mè đen xuất hiện nhiều biến dị như chẻ nhánh và ngọn, nhiều quả Trong cả 2 thế hệ, các biến dị chẻ nhánh nhiều quả và thấp cây thường xuất hiện cùng nhau, có triển vọng giúp gia tăng năng suất hạt thô (6,4 – 10,4%) nhưng không giảm hàm lượng và chất lượng dầu có trong hạt mè

Từ năm 2001 đến 2006 Viện Nghiên Cứu Dầu Và Cây Có Dầu đã tiến hành thu thập, bảo tồn và lưu giữ được 35 mẫu giống mè của các nước Phối hợp với các Viện khác, Viện đã góp phần nghiên cứu để tạo ra giống mè V6 Từ giống V6 Viện tiếp tục chọn các dòng mè V6-3, V6-6 , V6-12, có năng suất hàm lượng dầu cao, thời gian sinh trưởng ngắn (73 – 85 ngày) Từ năm 2007, Viện đã bắt đầu sử dụng phương pháp lai hữu tính vào công tác chọn tạo các giống có năng suất và hàm lượng dầu cao, hàm lượng protein cao, chất lượng dầu tốt (hàm lượng acid oleic và acid linoleic cao), nhiều quả, nhiều múi, khối lượng 1000 hạt cao, tỷ lệ đổ ngã thấp, chịu úng tốt, cây thấp Từ chương trình hợp tác nghiên cứu Viện tiến hành đánh giá 30 tổ hợp lai F1 của Hàn Quốc Hiện nay Viện đang tiến hành chọn lọc trên các thế hệ phân ly để chọn ra dòng ưu tú

Trịnh Thị Bích Hợp (1997) đã tiến hành thí nghiệm với 3 giống mè vàng địa phương, mè trắng Trung Quốc, mè vàng Nhật trên vùng đất xám Thủ Đức với 4 lần lập lại, nhằm xác định giống – phân bón và khoảng cách trồng thích hợp Kết quả thí nghiệm cho thấy các giống mè địa phương có năng suất trung bình cao nhất Tuy nhiên, giống mè Trung Quốc lại cho hàm lượng dầu cao nhất Thí nghiệm cũng cho thấy lượng phân bón phù hợp cho cả 3 giống mè ở mức 2 tấn phân chuồng với

30 N : 40 P2O : 30 K2O cho vùng đất xám Khoảng cách gieo trồng thích hợp cho giống mè địa phương là 15 x 10 cm Giống Trung Quốc và Nhật là 10 x 10 cm

Theo Nguyễn Tấn Lê (2010), sử dụng dung dịch nước dừa ngâm hạt trước

khi gieo và phun lên lá của cây mè (Sesamum indicum L.) trồng thí nghiệm trong

chậu ở vụ Hè tại Đà Nẵng đã làm cho quá trình sinh trưởng (tỷ lệ nảy mầm của hạt, diện tích lá, trọng lượng tươi và trọng lượng khô), năng suất (số quả/cây, số hạt/cây,

Trang 34

trọng lượng hạt/cây, trọng lượng 1000 hạt), phẩm chất hạt (hàm lượng lipid, protein, glucid) đã được cải thiện so với đối chứng

2.5 Khả năng phối hợp và một số kết quả nghiên cứu trên cây mè

- Khả năng phối hợp chung (gca) của dòng (hoặc giống) là hiệu ứng cộng tính của các gen trong dòng (hoặc giống) đó, biểu thị phần đóng góp vào giá trị ưu thế lai trung bình của toàn bộ các tổ hợp mà nó tham gia, được tính bằng hiệu số giữa giá trị trung bình toàn bộ các tổ hợp lai có nó so với trung bình chung của quần thể lai nghiên cứu

- Khả năng phối hợp riêng (sca) của dòng i với một dòng j trong tổ hợp lai i

 j là hiệu ứng phi cộng tính của các gen trong F1 (tính trội và có thể có tương tác gen), biểu thị phần đóng góp vào giá trị ưu thế lai của tổ hợp này, được tính bằng giá trị chênh lệch giữa F1 với trung bình chung sau khi đã trừ đi giá trị khả năng phối hợp chung của hai bố mẹ

Khả năng phối hợp chung và khả năng phối hợp riêng thay đổi phụ thuộc vào điều kiện ngoại cảnh nên phải tiến hành nghiên cứu nhiều năm Khả năng phối hợp chung được duy trì qua các thế hệ nên có ý nghĩa đối với việc lai tạo, chọn lọc giống mới, còn khả năng phối hợp riêng sẽ mất đi trong các thế hệ sau nên chỉ có ý nghĩa trong việc tạo giống lai Việc nghiên cứu khả năng phối hợp chung và khả năng phối hợp riêng (kể cả phân tích phương sai và độ lớn tính trạng) cho biết nhiều thông tin về hiệu ứng gen và vai trò của từng loại trong việc hình thành độ lớn tính trạng (Phan Thanh Kiếm, 2007) Các phương pháp lai dùng để xác định khả năng phối hợp là lai đỉnh (topcross), luân giao (diallel-cross) hoặc luân giao từng phần (partial diallel-cross)

Trang 35

2.5.2 Những nghiên cứu về khả năng phối hợp trên mè

Hiện nay, để nghiên cứu về khả năng phối hợp chung và khả năng phối hợp riêng trên cây mè, các nhà khoa học chủ yếu sử dụng phương pháp lai line/tester và lai diallen Yamanur và ctv (2009) dùng phương pháp lai line/tester để tìm ra giống

bố mẹ có khả năng phối hợp chung và cặp lai có khả năng phối hợp riêng cao Thí nghiệm được tiến hành với 10 dòng (mẹ) DS-7, DS-9, DS-10, DS-13, DS-16, GL-1, GL-4, GL-5, GL-7, DLB-1888 và 9 cây thử (bố) TSES-1, TSES-2, TSES-3, TSES-

4, E-8, DS-1, Western, Ahutil (Assam) Halitil (Chumki Assam) Kết quả cho thấy tính trạng trọng lượng 1000 hạt được điều khiển bởi gen cộng tính Trong khi đó, các tính trạng chiều cao cây, thời gian có 50% cây ra hoa, thời gian sinh trưởng, chiều dài quả, số quả/cây, hàm lượng dầu, năng suất hạt/cây và năng suất hạt/ha được điều khiển bởi gen phi cộng tính DS-13, DS-16, DS-10 (mẹ) và E-8, TSES-2, TSES-4, DS-1 (bố) có khả năng phối hợp chung cao đối với tính trạng năng suất hạt/cây Cặp lai DS-16/DS-1 và DS-16/TSES-2 có khả năng phối hợp riêng cao đối với tính trạng năng suất hạt/ha

Sakila và ctv (2000) dùng phương pháp lai line/tester để đánh giá khả năng phối hợp của 7 tính trạng trên cây mè với 6 dòng (VRI-1 (L1), CO 1 (L2), TMV-4 (L3), TMV-5 (L4), TMV-3 (L5) và TMV-6 (L6)) và 6 cây thử (Si 250 (T1), ES-22 (T2), ES-12 (T3), VS-9003 (T4), Si 3315 (T5), Annamalai -1 (T6)) Qua nghiên cứu phương sai gca và sca cho thấy phương sai sca có giá trị cao hơn gca Tỉ lệ gca và sca kém đồng nhất đối với tất cả các tính trạng Điều đó chứng tỏ các tính trạng này phần lớn bị ảnh hưởng bởi gen phi cộng tính VRI-1 có khả năng phối hợp chung cao đối với các tính trạng thời gian ra hoa, chiều cao cây, số quả/cây Si 3315/11 có khả năng phối hợp chung cao đối với các tính trạng số quả/cây và năng suất hạt/cây Cặp lai TMV–6/Annamalai–1 có giá trị sca ảnh hưởng có ý nghĩa đến số quả/cây, số quả/cành và năng suất hạt

Nghiên cứu khả năng phối hợp của tính trạng chín sớm trên cây mè, Saravanan và ctv (2000) đã sử dụng phương pháp lai diallen Qua đánh giá phương sai gca và sca, tác giả kết luận hoạt động của 2 gen cộng tính và phi cộng tính đều

Trang 36

quan trọng trong việc biểu hiện của các tính trạng và xuất hiện đồng thời ở thế hệ lai F1 Để tạo ra con lai tốt không nhất thiết phải lấy từ 2 bố mẹ có gca cao, có thể lấy bố mẹ có gca thấp hoặc trung bình cũng có thể tạo ra sca cao Gen Si1125 có khả năng phối hợp cao đối với tất cả các tính trạng theo dõi Cặp lai Si1125/Si250

có giá trị ưu thế lai cao nhất trong số các cặp lai

Shim và ctv (2005) nghiên cứu tính di tuyền của tính trạng màu sắc hạt bằng phương pháp lai diallen với ba tính trạng hạt có màu hơi sáng, màu đỏ nhạt và màu vàng nhạt Giá trị tỷ lệ gca/sca của các tính trạng màu hơi sáng, đỏ nhạt và vàng nhạt lần lượng là 4,20; 5,48; 4,42 Kết quả này cho biết các gen cộng tính ảnh hưởng cao đến sự di truyền các tính trạng màu sắc

Bayoumi và ctv (2007) phân tích di truyền đối với các tính trạng mang tính

định tính và khả năng kháng bệnh héo rũ do nấm Fusarium gây ra trên cây mè Kết

quả cho thấy giống Toshka-3, và Mutant-8 có khả năng phối hợp chung cao Các tổ hợp lai Toshka-1/Giza 32, Toshka-2/Giza 32, Toshka-3/Local Sharkia và Giza 32/Local Sharkia có con lai F1 kháng bệnh tốt với bệnh héo rũ và chịu tác động của các gen phi cộng tính Hệ số di truyền cao đối với hầu hết các tính trạng (từ 0,13 – 0,65)

Solanki và ctv (2006) đã nghiên cứu khả năng phối hợp của các giống có

khả năng kháng được bệnh thối thân, thối rễ (Macrophomina phaseolina) và sâu đục trái (Antigastra catalaunalis) ở trên mè bằng phương pháp lai line/tester Đối

với khả năng kháng bệnh thối thân, thối rễ, các giống có gca tốt là 305,

RT-325, IS-97, IS-100 B và IS-646-1 Trong khi đó giống RT-281, RT-46 và

EC-370867 có gca tốt đối với tính trạng kháng sâu đục trái (Antigastra catalaunalis)

Các tổ hợp lai RMT-97/IS-100B, RMT-93/IS-97, RMT-82/EC-370823,

C-50/IS-100 B, AT-77/EC-370823 và RT-127/EC-370932 đối với tính trạng kháng bệnh thối thân, thối rễ; RT-281/EC-370867, RMT-97/EC-370867, RMT-94/EC-370867, RMT-93/EC-370867 và RT-305/EC-370867 đối với tính trạng kháng sâu đục trái đều có sca tốt và có ý nghĩa Các cặp lai trên tạo ra ưu thế lai từ tổ hợp có gca thấp/gca cao và gca cao/gca thấp

Trang 37

2.6 Ưu thế lai và hệ số di truyền

2.6.1 Ưu thế lai

Ưu thế lai là hiện tượng con lai F1 có sức sống mạnh hơn bố mẹ, hoặc cả cơ thể cây lai, hoặc từng cơ quan bộ phận của cây lai sinh trưởng, phát triển nhanh, mạnh hơn, có tính chống chịu cao hơn, phẩm chất tốt hơn bố mẹ (Bùi Chí Bửu và Nguyễn Thị Lang, 2007)

Theo Phan Thanh Kiếm (2006), căn cứ vào loại nhóm tính trạng, người ta thường phân biệt bốn loại ưu thế lai:

- Ưu thế lai sinh sản: Biểu hiện sự tăng số lượng và chất lượng của các bộ phận sinh sản như nhiều hoa, nhiều quả và quả lớn, nhiều hạt và hạt to, tăng tỷ lệ đậu quả, kết hạt so với bố mẹ Loại ưu thế lai này có lợi cho các cây thu hoạch quả, hạt

- Ưu thế lai sinh dưỡng: Biểu hiện sự tăng khối lượng của các bộ phận sinh dưỡng như thân to, nhiều cành nhánh, lá lớn, nhiều rễ và rễ khỏe, nhiều củ và củ to

so với bố mẹ Loại ưu thế lai này có lợi cho các cây thu hoạch thân, lá, củ

- Ưu thế lai thích ứng: Biểu hiện sự tăng sức sống, tăng tính chống chịu với các điều kiện bất thuận so với bố mẹ Loại ưu thế lai này làm cho năng suất cây trồng tăng

- Ưu thế lai tích lũy: Biểu hiện sự tăng cường tích lũy các chất vào các bộ

phận của cây như hàm lượng tinh bột ở củ cao, hàm lượng protein và hàm lượng dầu ở hạt cao, hàm lượng đường ở thân, củ cao, hàm lượng các chất thơm cao Loại

ưu thế lai này làm tăng chất lượng sản phẩm nông sản

Hiện nay có 4 giả thuyết giải thích hiện tượng di truyền của ưu thế lai (Phan Thanh Kiếm, 2006):

- Thuyết ưu thế dị hợp tử (thuyết siêu trội): Hiệu ứng sinh ra ở trạng thái dị hợp tử mạnh hơn đồng hợp tử Có nhiều cách giải thích, nhưng một trong những cách giải thích đó là tính dị hợp tử rất mềm dẻo về mặt hóa sinh Phù hợp với giải thích này, các dị hợp tử có những ưu thế rất đặc biệt trong những điều kiện sống biến động và bất lợi, càng có nhiều ổ gen (locus) dị hợp tử thì biểu hiện của ưu thế

Trang 38

lai càng cao và ở F1 số ổ gen dị hợp tử là cao nhất Trong trường hợp 2 allen, thuyết này có thể biểu thị như sau:

a1a1 < a1a2 > a2a2 hay AA < Aa > aa

- Thuyết ưu thế trội (thuyết tính trội): Sự xuất hiện ưu thế lai ở F1 là kết quả

sự phục hồi vai trò của các gen trội ở những ổ gen mà ở bố mẹ đã trở thành đồng hợp tử lặn có hại Nếu một dòng có kiểu gen AAbbCC lai với một dòng có kiểu gen aaBBcc thì F1 sẽ có các kiểu gen AaBbCc Do những gen trội lấn át gen lặn ở trạng thái dị hợp tử nên AaBbCc có giá trị cao hơn bố mẹ và xuất hiện ưu thế lai

- Thuyết cân bằng di truyền: Mỗi cơ thể sinh vật ở trạng thái cân bằng di truyền nhất định, đảm bảo cho sự hình thành một kiểu hình thích ứng với điều kiện sống Khi lai các cá thể có kiểu cân bằng di truyền khác nhau sẽ hình thành cơ thể mới có trạng thái cân bằng di truyền mới, do vậy con lai xuất hiện những tính trạng mới tốt hơn bố mẹ

- Thuyết đồng tế bào chất: Theo Nilsson, nhà di truyền-chọn giống Thụy Điển cho rằng tự giao không chỉ làm cho vật chất di truyền ở nhân trở nên đồng nhất và đồng hợp thể mà còn làm cho tế bào chất cũng trở nên đồng nhất và đồng hợp thể Sự đồng nhất và đồng hợp thể của tế bào chất có thể là nguyên nhân của sự thoái hóa khi

tự giao Sau khi lai, tính đồng gen ở tế bào chất đã mất, làm xuất hiện ưu thế lai Không phải tất cả con lai đều có ưu thế lai mà nó chỉ xuất hiện ở những cặp lai nhất định Mức độ ưu thế lai phụ thuộc vào loại cây trồng, loại tính trạng và thực liệu bố mẹ Với năng suất, ưu thế lai có thể làm tăng 25 – 35%, đặc biệt có thể lên tới 50% so với bố mẹ tốt nhất (Phan Thanh Kiếm, 2007)

2.6.2 Hệ số di truyền

Hệ số di truyền cho biết hoạt động của gen điều khiển tính trạng mục tiêu thuộc tính chất cộng tính hay phi cộng tính (Bùi Chí Bửu và Nguyễn Thị Lang, 2007) Hệ số di truyền không biểu thị mức độ di truyền tính trạng của bố mẹ cho thế

hệ sau Hệ số di truyền chỉ ra khả năng để có thể chọn được cá thể hay quần thể theo mục tiêu của nhà chọn giống căn cứ vào mức độ khác biệt kiểu gen trong điều kiện canh tác cụ thể Hệ số di truyền cho thấy khả năng cải biến quần thể (Phan Thanh

Trang 39

Kiếm, 2006) Hệ số di truyền được xác định bởi hệ số di truyền nghĩa rộng và hệ số di truyền nghĩa hẹp

- Hệ số di truyền nghĩa rộng (H2): Chỉ ra mối quan hệ giữa phần biến dị do khác biệt kiểu gen gây ra trong biến dị kiểu hình Nếu H2 lớn hơn 70%, tính trạng mục tiêu được kiểm soát chủ yếu bởi yếu tố di truyền Nếu H2nhỏ, môi trường bên ngoài tác động khá lớn đến tính trạng Để xác định hệ số di truyền nghĩa rộng có thể dựa vào biến động của các thế hệ không phân ly, dựa vào phép phân tích phương sai

- Hệ số di truyền nghĩa hẹp (h2): Chỉ ra mối quan hệ giữa phần biến bị di truyền do hiệu ứng cộng tính của các gen trong biến dị kiểu hình

h2> 70%: cao, hoạt động của gen cộng tính có ưu thế

h2 = 40 – 70%: trung bình, hoạt động của gen cộng tính và phi cộng tính ngang nhau

h2 < 40%: thấp, hoạt động của gen không cộng tính chiếm ưu thế

Để xác định hệ số di truyền nghĩa hẹp có thể dựa vào hồi giao lần đầu (B1,

B2), F2 và hệ số hồi quy các thế hệ

Hệ số di truyền nghĩa rộng và nghĩa hẹp đều có ý nghĩa trong chọn giống Hệ

số di truyền và các thành phần phương sai phụ thuộc vào quần thể và môi trường nghiên cứu Cùng một quần thể nhưng nghiên cứu ở các môi trường khác nhau, hoặc cùng một môi trường nhưng thay đổi quần thể nghiên cứu, hệ số di truyền khác nhau

Vì vậy hệ số di truyền sử dụng có giá trị chỉ trong những điều kiện cụ thể

2.6.3 Những nghiên cứu về ưu thế lai và hệ số di truyền trên cây mè

Ganesh và ctv (1999) áp dụng ưu thế lai để tạo ra con lai F1 tốt nhất Thí nghiệm được tiến hành theo phương pháp lai line/tester với 22 dòng (mẹ) và 4 cây thử (bố) Các cá thể lai được trồng ở 3 vùng có đặc điểm khí hậu khác nhau Kết quả cho thấy ảnh hưởng của sca lên biểu hiện dòng của tổ hợp lai Si 3315/Col có ý nghĩa đối với các tính trạng số quả/cây, số quả/thân chính, số quả/nhánh và năng suất hạt/cây Con lai của tổ hợp này có mức độ ưu thế lai hơn bố mẹ 43,94% về chỉ tiêu năng suất và giảm 25% cây bị những bệnh nghiêm trọng

Trang 40

Buyan và Sarma (2003) nghiên cứu ưu thế lai của các dòng bất dục đực thể hiện do gen ở trong tế bào chất trên cây mè Thí nghiệm gồm có 3 dòng bất dục đực

CMS-T4, CMS-T6, CMS-C1 thuộc loài Sesamum malabaricum và 11 giống thuộc loài Sesamum indicum: TNAU 12, TNAU 28, Si 1525, Si 1528, Margo 7, ES 12,

VRI 1, SVPR 1, Paiyur 1, SP 1181 và Gauri, RT 1 được sử dụng làm giống đối chứng Ở Thế hệ F1, ưu thế lai tuyệt đối và ưu thế lai chuẩn mang giá trị âm đối với tính trạng thời gian ra hoa và thời gian sinh trưởng Do đó, con lai có ưu thế lai về tính trạng chín sớm Tổ hợp CMS-T6/SVPR 1 cho con lai tốt nhất Tính trạng năng suất hạt, cặp lai CMS-C1/Paiyur 1 có ưu thế lai chuẩn và ưu thế lai tuyệt đối cao nhất, CMS-T4/Paiyur 1 có ưu thế lai chuẩn cao nhất, CMS T4/Si 1525 có ưu thế lai tuyệt đối cao nhất Các tổ hợp lai CMS-C1/Paiyur 1 và CMS-T6/Paiyur 1 cho ưu thế lai tuyệt đối và ưu thế lai chuẩn cao nhất đối với tính trạng số quả/cây Ưu thế lai tuyệt đối và ưu thế lai chuẩn của tính trạng trọng lượng hạt và hàm lượng dầu cao được tìm thấy ở cặp lai CMS-T6/Si 1528 và CMS-T4/SVPR 1

Deepa và ctv (2001) sử dụng phương pháp lai line/tester để đánh giá hệ số di truyền của các tính trạng chính Có 32 tổ hợp lai được tạo ra từ 8 dòng (Konak, DCH 47-2-60, VS 9516, DCH 25-1, TNAU 118, YLM 40, PSR 1854, TNAU 120)

và 4 cây thử (CO 1, TMV 6, SVPR 1, VRI) Cặp lai có ưu thế lai trung bình, ưu thế lai tuyệt đối và ưu thế lai chuẩn cao đối với tất cả các tính trạng là TNAU 120/CO 1

và DCH 25-1/TMV 6 Tính trạng năng suất hạt có ưu thế lai cao nhất được tạo ra từ

tổ hợp lai DCH 25-1/TMV 6, TNAU 118/CO 1 và DCH 25-1/SVPR 1 có ưu thế lai

Ưu thế lai chuẩn của các cặp lai này lần lượt là 200,2%; 172,17%; 164,83%

Kumar và ctv (1998) đã tiến hành nghiên cứu ưu thế lai và khả năng phối hợp của mè Thí nghiệm gồm của 27 dòng bố, 3 cây thử và được tiến hành trong 2

vụ ngoài đồng, 1 vụ trong chậu Kết quả cho thấy: trong 81 cặp lai có 12 cặp lai ở

vụ thứ nhất, 4 cặp lai ở vụ thứ hai và 6 cặp lai trong chậu có ưu thế lai chuẩn dương

và có ý nghĩa đối với tính trạng mật độ hạt, trọng lượng 1000 hạt và tính trạng số dãy hạt Các cặp lai C.16/TMV.3, S.00027/TMV.3 và S.00028/TMV.6 có khả năng phối hợp riêng cao và tồn tại ưu thế lai chuẩn cao trên tính trạng mật độ hạt

Ngày đăng: 14/03/2019, 10:38

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w