1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN LÁ CÓ B VÀ Ca ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ PHẨM CHẤT THANH LONG (Hylocereus undatus (Haw.) Britt. et Rose) TẠI HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN

140 165 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 140
Dung lượng 2,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRẦN THỊ ÁNH NGÀ ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN LÁ CÓ B VÀ Ca ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ PHẨM CHẤT THANH LONG Hylocereus undatus Haw.. BỘ GI

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRẦN THỊ ÁNH NGÀ

ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN LÁ CÓ B VÀ Ca ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ PHẨM CHẤT THANH LONG

(Hylocereus undatus (Haw.) Britt et Rose)

TẠI HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 3/2011

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRẦN THỊ ÁNH NGÀ

ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN LÁ CÓ B VÀ Ca ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ PHẨM CHẤT THANH LONG

(Hylocereus undatus (Haw.) Britt et Rose)

TẠI HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN

Trang 3

ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN LÁ CÓ B VÀ Ca ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ

PHẨM CHẤT THANH LONG

(Hylocereus undatus (Haw.) Britt et Rose)

TẠI HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN

TRẦN THỊ ÁNH NGÀ

Hội đồng chấm luận văn:

Trường Đại Học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh

Trường Đại Học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh

3 Phản biện 1: TS NGUYỄN ĐĂNG NGHĨA

TTNC Đất – Phân bón và MT thuộc viện NHTN phía Nam

4 Phản biện 2: PGS TS LÊ QUANG HƯNG

Trường Đại Học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh

Hội Khoa học Kỹ thuật Tp Hồ Chí Minh

ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

HIỆU TRƯỞNG

Trang 4

LÝ LỊCH CÁ NHÂN

Họ và tên: Trần Thị Ánh Ngà

Sinh ngày: 17 tháng 01 năm 1985, tại tỉnh Bình Thuận

Cha: Trần Văn Lượng

Từ tháng 1/2008 – 8/2008: làm việc tại công ty CP Đất Sạch Bến Tre

Tháng 9/2008: theo học Cao học ngành Kỹ thuật Trồng Trọt tại trường Đại học Nông lâm thành phố Hồ Chí Minh

Điện thoại: 0935178024

E-mail: anhngatran171@yahoo.com

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Tác giả

Trần Thị Ánh Ngà

Trang 6

- Ban Chủ nhiệm và quý thầy cô khoa Nông học

- Ban Giám đốc cùng các cán bộ Trung tâm nghiên cứu cây ăn quả miền Đông Nam Bộ

- Gia đình chú Nguyễn Văn Hai và các cô chú ở xã Hàm Liêm, Hàm Thuận Bắc, Bình Thuận đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện luận văn này

- Anh chị, bạn bè trong và ngoài lớp

- Lòng biết ơn sâu sắc xin gởi đến ba mẹ đã sinh thành, nuôi dưỡng; anh chị

em trong gia đình đã luôn động viên, khích lệ và ủng hộ tôi về mọi mặt

Xin chân thành cảm ơn

Trần Thị Ánh Ngà

Trang 7

TÓM TẮT

Đề tài: “Ảnh hưởng của phân bón lá có B và Ca đến năng suất, phẩm chất

thanh long [Hylocereus undatus (Haw.) Britt.et Rose] tại huyện Hàm Thuận Bắc,

tỉnh Bình Thuận” được tiến hành từ tháng 5/2010 đến tháng 10/2010 Để xác định được ảnh hưởng của một số phân bón lá có bo, canxi và phối hợp liều lượng B và

Ca đến năng suất, phẩm chất thanh long trồng tại huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận, đề tài thực hiện gồm ba thí nghiệm tại vườn của ông Nguyễn Văn Hai tại xã Hàm Liêm, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận

- Thí nghiệm 1: “Ảnh hưởng của các loại phân bón lá có bo đến năng suất và phẩm chất thanh long” Thí nghiệm kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên được thực hiện với

4 lần lặp lại, 4 nghiệm thức: A: Solubor; B: Bortrac; C: TM Bo; D: đối chứng Kết quả thí nghiệm cho thấy các nghiệm thức sử dụng Solubor và TM Bo khác biệt rõ rệt so với đối chứng Sử dụng phân B làm giảm số nụ rụng, tăng chiều dài trái, chiều dài tai trái, độ dày và độ chắc vỏ trái, giảm cấp độ hư hỏng trái trong thời gian bảo quản trái so với đối chứng

- Thí nghiệm 2: “Ảnh hưởng của các dạng phân bón lá chứa canxi đến năng suất và phẩm chất thanh long” Thí nghiệm kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên được thực hiện với 4 lần lặp lại, 4 nghiệm thức: A: TM Canxi; B: Ca(NO3)2; C: Calmax; D: đối chứng Kết quả thí nghiệm cho thấy phun phân bón lá có canxi lên cành và trái làm tăng chiều dài tai trái, vỏ trái dày và chắc hơn Tăng thời gian bảo quản trái và giảm tỷ lệ hư hỏng trong thời gian bảo quản Nghiệm thức C (Calmax) cho kết quả tốt nhất

- Thí nghiệm 3: “Ảnh hưởng của phối hợp liều lượng phân bón lá B và Ca đến năng suất và phẩm chất thanh long” Thí nghiệm 2 yếu tố được bố trí theo kiểu

lô sọc, 3 lần lặp lại Yếu tố A gồm 5 liều lượng bo: A0 = 0 kg/ha; A1 = 0,31 kg/ha; A2 = 0,63 kg/ha; A3 = 0,94 kg/ha; A4 = 1,25 kg/ha Yếu tố B gồm 5 liều lượng Ca: B0 = 0 kg/ha; B1 = 0,63 kg/ha; B2 = 1,25 kg/ha; B3 = 1,86 kg/ha; B4 = 2,50

Trang 8

kg/ha Kết quả thí nghiệm cho thấy các liều lượng phối hợp đều cho kết quả khác biệt có ý nghĩa Các nghiệm thức đều tác động đến các chỉ tiêu hóa học, chiều dài tai trái, độ dày và độ chắc vỏ trái Trong đó, tối ưu là các nghiệm thức sử dụng solubor và CaCl2 cao (0,63 - 1,25 kg solubor với 1,86 – 2,5 kg CaCl2/ha)

Vì thế, nên khuyến cáo nông dân sử dụng phân bón có bo và canxi để cải thiện phẩm chất và mẫu mã trái thanh long, phục vụ nhu cầu xuất khẩu

Trang 9

SUMMARY

The study: “Effects of B and Ca fertilizers on yield and quality of Dragon

fruit [Hylocereus undatus (Haw.) Britt.et Rose] in Ham Thuan Bac district, Binh

Thuan province” was carried out from May 2010 to October 2010

In this study, there are three experiments which were performed as following,

The first, “Applying some kinds of foliar fertilizers containing bor element

on dragon fruit plant” A randomized complete block experiment was carried out with 4 treatments, A: Solubor; B: Bortrac; C: TM Bo; D: Control (4 treatments x 4 replications x 2 plants/plot = 32 plants) The results showed that the treatments applied boron fertilizers made the fruit longer, the peel thicker and stronger and the shelf – life longer compared to the control treatment There were significant differences between the treatments

The second, “Applying some kinds of calcium foliar fertilizers on the dragon fruit plant” A randomized complete block design experiment was realized with 4 treatments: A: TM Calci; B: Ca(NO3)2; C: Calmax; D: Control (4 treatments x 4 replications x 2 plants/plot = 32 plants) The results indicated that spraying calcium

on dragon fruit plants made its fruit peel thicker and stronger and decreased the ratio

of rotted fruit during the stored period The treatment C using Calmax fertilizer showed the best result

The third, “Effects of boron and calcium doses on yield and quality of dragon fruit” The experiment was arranged by strip plot design, two factors, and three replications The factor A: 5 levels of solubor doses: A0 = 0 kg/ha; A1 = 0,31 kg/ha; A2 = 0,63 kg/ha; A3 = 0,94 kg/ha; A4 = 1,25 kg/ha The factor B: 5 levels of CaCl2doses: B0 = 0 kg/ha; B1 = 0,63 kg/ha; B2 = 1,25 kg/ha; B3 = 1,86 kg/ha; B4 = 2,50 kg/ha The results indicated that using solubor and CaCl2 with high dose (combine 0,63 - 1,25 kg solubor with 1,86 – 2,5 kg CaCl2/ha) gave a higher quality of dragon fruit There were significant differences between treatments

Therefore, boron and calcium leaf fertilizers should be recommended to farmers for improving quality of dragon fruit.

Trang 10

MỤC LỤC

NỘI DUNG TRANG

Trang tựa

Trang chuẩn y i

Lý lịch cá nhân ii

Lời cam đoan iii

Lời cảm ơn iv

Tóm tắt v

MỤC LỤC viii

Danh sách các chữ viết tắt xii

Danh sách các bảng xiii

Danh sách các hình xv

Chương 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu 02

1.3 Yêu cầu 02

1.4 Phạm vi nghiên cứu 03

Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 04

2.1 Khái quát cây thanh long 04

2.1.1 Nguồn gốc 04

Trang 11

2.1.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ thanh long ở nước ta 04

2.1.3 Đặc điểm cây thanh long vỏ đỏ ruột trắng (Hylocereus undatus) 07

2.1.4 Một số loại bệnh hại chủ yếu và cách phòng trừ 08

2.1.5 Kỹ thuật bón phân cho cây thanh long 09

2.1.6 Một số nghiên cứu về phân bón trên cây thanh long 11

2.2 Vai trò của canxi đối với cây trồng 13

2.2.1 Canxi trong đất 13

2.2.2 Canxi trong cây 14

2.2.3 Các nguồn phân canxi 16

2.2.4 Một số nghiên cứu về phân canxi trên cây trồng 17

2.3 Vai trò của bo đối với cây trồng 20

2.3.1 Bo trong đất 20

2.3.2 Bo trong cây 24

2.3.3 Một số nghiên cứu về phân bo trên cây trồng 27

Chương 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 31

3.1 Địa điểm, thời gian và điều kiện ngoại cảnh 31

3.1.1 Địa điểm thí nghiệm 31

3.1.2 Thời gian tiến hành thí nghiệm 31

3.1.3 Điều kiện ngoại cảnh 31

3.2 Vật liệu và phương pháp thí nghiệm 33

Trang 12

3.2.1 Nội dung 1 (TN1): “Ảnh hưởng của các chế phẩm phân bón lá có bo

đến năng suất và phẩm chất thanh long” 33

3.2.2 Nội dung 2 (TN2): “Ảnh hưởng của các chế phẩm phân bón lá có canxi đến năng suất và phẩm chất thanh long” 35

3.2.3 Nội dung 3 (TN3): “Ảnh hưởng của phối hợp liều lượng phân bón lá Solubor và CaCl2 đến năng suất và phẩm chất thanh long” 38

3.2.4 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp lấy chỉ tiêu 40

3.2.5 Phương pháp xử lý số liệu thống kê 42

Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 46

4.1 Nội dung 1 (TN1): “Ảnh hưởng của các chế phẩm phân bón lá có bo đến năng suất và phẩm chất thanh long” 46

4.1.1 Đặc điểm ra hoa 46

4.1.2 Sự tăng trưởng kích thước trái theo thời gian 47

4.1.3 Các chỉ tiêu phẩm chất trái 48

4.1.4 Các yếu tố cấu thành năng suất 50

4.1.5 Thời gian tồn trữ trái, tỷ lệ hư hỏng và cấp độ hư hỏng 51

4.1.6 Chất lượng cảm quan trái thanh long 53

4.2 Nội dung (TN 2): “Ảnh hưởng của các chế phẩm phân bón lá có canxi đến năng suất và phẩm chất thanh long” 57

4.2.1 Các chỉ tiêu đặc tính phẩm chất trái 57

4.2.2 Các yếu tố cấu thành năng suất 59

4.2.3 Thời gian tồn trữ, tỷ lệ trái hư hỏng và cấp độ hư hỏng 60

Trang 13

4.2.4 Chất lượng cảm quan trái thanh long 62

4.3 Nội dung 3 (TN 3): “Ảnh hưởng của phối hợp liều lượng phân bón lá Solubor và CaCl2 đến năng suất và phẩm chất thanh long” 66

4.3.1 Các chỉ tiêu vật lý 66

4.3.2 Các chỉ tiêu sinh hóa 71

4.3.3 Các yếu tố cấu thành năng suất 74

Chương 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 80

5.1 Kết luận 80

5.2 Đề nghị 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

PHỤ LỤC 89

7.1 Đánh giá chất lượng cảm quan trái thanh long 89

7.2 Phương pháp phân tích các chỉ tiêu hóa học 90

7.3 Các kết quả xử lý thống kê 93

Trang 14

ppm : part per million = 1/106: phần triệu

TSS : Total soluble solid: Tổng chất rắn hòa tan

Trang 15

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Diện tích, sản lượng thanh long của tỉnh Bình Thuận (2006 – 2008) 05

Bảng 2.2 Liều lượng phân đơn bón cho thanh long giai đoạn kinh doanh 10

Bảng 2.3 Liều lượng phân hỗn hợp NPK cho thanh long giai đoạn kinh doanh 11

Bảng 2.4 Lượng bo cây lấy đi theo sản phẩm 25

Bảng 3.1 Một số yếu tố khí hậu tỉnh Bình Thuận (5/2010 – 10/2010) 31

Bảng 4.1 Ảnh hưởng các dạng phân bón lá có B đến đặc điểm ra hoa 46

Bảng 4.2 Ảnh hưởng các dạng phân bón lá có B đến các chỉ tiêu vật lý trái 48

Bảng 4.3 Ảnh hưởng các dạng phân bón lá có B đến các chỉ tiêu sinh hóa 49

Bảng 4.4 Ảnh hưởng các dạng phân bón lá có B đến số trái thanh long 50

Bảng 4.5 Ảnh hưởng các dạng phân bón lá có B đến năng suất thương phẩm 51

Bảng 4.6 Ảnh hưởng các dạng phân bón lá có B đến tỷ lệ trái hư hỏng 52

Bảng 4.7 Ảnh hưởng các dạng phân bón lá có B đến cấp độ trái hư hỏng 53

Bảng 4.8 Ảnh hưởng các dạng phân bón lá có B đến chất lượng cảm quan 54

Bảng 4.9 Ảnh hưởng các dạng phân bón lá có canxi đến các chỉ tiêu vật lý trái 57

Bảng 4.10 Ảnh hưởng các dạng phân bón lá có canxi đến các chỉ tiêu sinh hóa 58

Bảng 4.11 Ảnh hưởng các dạng phân bón lá có canxi đến số trái thanh long 59

Bảng 4.12 Ảnh hưởng các dạng phân bón lá có canxi đến năng suất 60

Bảng 4.13 Ảnh hưởng các dạng phân bón lá có Ca đến tỷ lệ trái hư hỏng 61

Bảng 4.14 Ảnh hưởng các dạng phân bón lá có Ca đến cấp độ trái hư hỏng 62

Bảng 4.15 Ảnh hưởng các dạng phân bón lá có Ca đến chất lượng cảm quan trái 62

Trang 16

Bảng 4.16 Ảnh hưởng của Solubor và CaCl2 đến chiều dài trái 66

Bảng 4.22 Ảnh hưởng của Solubor và CaCl2 đến hàm lượng acid hữu cơ 72

Bảng 4.24 Ảnh hưởng của Solubor và CaCl2 đến tỷ lệ ĐTS/acid hữu cơ 73

Bảng 4.26 Ảnh hưởng của Solubor và CaCl2 đến số trái/trụ 75

Bảng 4.28 Ảnh hưởng của Solubor và CaCl2 đến trọng lượng trung bình trái 76

Bảng 4.29 Ảnh hưởng của Solubor và CaCl2 đến năng suất 76

Trang 17

Hình 3.7 Thời điểm bắt đầu phun phân chứa bo (dựa vào kích thích thước nụ) 44

Hình 4.5 Trái của các nghiệm thức sau 12 ngày tồn trữ 56 Hình 4.6 Trái các nghiệm thức thí nghiệm 1 sau 30 ngày nở hoa 56

Hình 4.7 Trái các nghiệm thức thí nghiệm 2 sau 30 ngày nở hoa 64

Hình 4.8 Trái các nghiệm thức thí nghiệm 2 sau 12 ngày tồn trữ 64

Hình 4.12 Trái các nghiệm thức thí nghiệm 3 sau 12 ngày tồn trữ 79

Trang 18

Trong đó thanh long (Hylocereus undatus (Haw.) Britt et Rose) là loại cây ăn trái

nhiệt đới, có nguồn gốc ở vùng sa mạc thuộc Mêxicô và Colombia, rất được ưa chuộng trên thị trường trong nước và thế giới Với đặc tính chịu hạn giỏi, thanh long được trồng với diện tích khá lớn ở những vùng nóng có cường độ ánh sáng mạnh, đặc biệt ở các tỉnh Bình Thuận, Long An, Tiền Giang, tạo được lượng hàng hóa nông sản lớn phục vụ cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu Thanh long với hình dáng, màu sắc đẹp, thành phần dinh dưỡng cao, vị ngọt, thích hợp ăn tươi, trưng bày mâm cỗ Bên cạnh đó, thanh long chín được đánh giá rất cao, đặc biệt khi

nó được ướp lạnh và cắt ra làm đôi, dùng muỗng để xúc ăn tươi Nước trái thanh long cũng được ưa thích khi làm lạnh Nước siro làm từ thanh long cũng được sử dụng để làm bánh kẹo Hoa chưa nở có thể nấu và ăn như rau

Hiện nay nước ta xuất khẩu thanh long tươi đứng đầu thế giới (Lê Xuân Đính, 2006) Tại tỉnh Bình Thuận với diện tích và sản lượng lớn nhất nước, trái thanh long được xác định là mặt hàng xuất khẩu chủ lực, mang lại lợi ích kinh tế cao, giúp nông dân xóa đói, giảm nghèo và vươn lên làm giàu So với cả nước, thanh long ở Bình Thuận đang dẫn đầu về diện tích với hơn 13.000 ha, trong đó gần 10.000 ha cho thu hoạch quanh năm nếu được chong đèn để ra hoa trái vụ, sản lượng hàng năm trên dưới 300 ngàn tấn Là loại cây trồng lợi thế nhiều triển vọng

và ngày càng khẳng định thương hiệu Thanh long Bình Thuận trên thị trường trong nước và thế giới

Trang 19

Trước những yêu cầu của thị trường trong nước và thế giới, Bình Thuận đã

và đang chú trọng vấn đề tăng năng suất và phẩm chất trái thanh long Hiện nay trong quá trình canh tác, vấn đề phân bón cho thanh long là mối quan tâm hàng đầu của người nông dân

Cây trồng nói chung và cây thanh long nói riêng đều cần bổ sung hàng năm một lượng nhất định các loại chất dinh dưỡng Bên cạnh các loại dinh dưỡng đa lượng cây trồng cũng cần các nguyên tố khác với một lượng nhỏ Nhưng trong thực

tế canh tác, nông dân thường chỉ chú trọng bổ sung các loại phân đa lượng mà quên rằng các nguyên tố vi lượng cũng góp phần không nhỏ vào việc nâng cao năng suất

và chất lượng nông sản Chính vì không được bổ sung đầy đủ vi lượng nên cây phải lấy dinh dưỡng từ đất, lâu dần năng suất và chất lượng nông sản giảm

Để góp phần khắc phục tình trạng trên, cần đẩy mạnh công tác nghiên cứu ảnh hưởng tác động của các loại phân đến thanh long Đặc biệt là nghiên cứu về các tác động của phân trung và vi lượng nhằm cải thiện năng suất và phẩm chất trái thanh long, đồng thời vẫn đảm bảo sự cân bằng dinh dưỡng trong đất và góp phần xây dựng quy trình canh tác thanh long bền vững là một nhu cầu cấp thiết trong nền nông nghiệp hiện đại Vì vậy, đề tài “Ảnh hưởng của phân bón lá có B và Ca đến

năng suất, phẩm chất thanh long (Hylocereus undatus (Haw.) Britt et Rose) tại

huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận” được tiến hành

Trang 20

1.4 Phạm vi nghiên cứu

- Đề tài chỉ thực hiện trên giống thanh long ruột trắng Bình Thuận

(Hylocereus undatus (Haw.) Britt et Rose), trên vườn thanh long trong giai đoạn

kinh doanh 5 tuổi, tại xã Hàm Liêm, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận

- Do thời gian thực hiện đề tài ngắn nên thí nghiệm chỉ được thực hiện từ tháng 5/2010 đến tháng 10/2010 (mùa chính)

Trang 21

Chương 2

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Khái quát cây thanh long

2.1.1 Nguồn gốc

Theo Morton (1987), thanh long được biết có nguồn gốc từ miền Nam Mexico, về phía Thái Bình Dương của Guatemala và Costa Rica, và El Salvador

Nó được biết với nhiều tên tiếng Anh như: Strawberry Pear, Dragon fruit, Red

pitaya, Red Pitahaya… và có tên khoa học là Hylocereus undatus (Haw.) Britt et

Rose Thanh long thuộc họ xương rồng (Cactaceae) Chúng được trồng phổ biến ở vùng đất thấp nhiệt đới của châu Mỹ, phía tây Ấn độ và vùng lân cận, Bahamas, Bermuda, nam Floria và vùng nhiệt đới của thế giới cũ

Thanh long được người Pháp du nhập vào Việt Nam khoảng trên 100 năm Trước đây thanh long chỉ được trồng dành cho vua và các gia đình quý tộc (Peter

Lo, 2001) Hiện nay thanh long được trồng nhiều tại Bình Thuận, Long An, Tiền Giang và là loại trái cây chiến lược trong xuất khẩu

2.1.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ thanh long ở nước ta

2.1.2.1 Tình hình sản xuất

Diện tích trồng thanh long ở nước ta khá lớn và không ngừng được tăng lên Trong 9 năm từ 1999 đến 2007, diện tích thanh long có hệ số tăng mạnh và có ý nghĩa quan trọng trong việc khai thác yếu tố tự nhiên, kinh tế So với năm 1999, diện tích thanh long cả nước từ 5.221 ha đã phát triển đạt 12.837 ha, tăng 2,46 lần Trong đó, thanh long Bình Thuận tăng 3,53 lần, Tiền Giang tăng 1,34 lần và Long

An tăng 1,23 lần (Nguyễn Thơ, 2008)

Trang 22

Bảng 2.1 Diện tích, sản lượng thanh long của tỉnh Bình Thuận (2006 - 2008)

(Nguồn: sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Bình Thuận, 2008)

Tại Bình Thuận, cây thanh long được xác định là cây lợi thế và đặc sản Trái thanh long Bình Thuận đã được đăng bạ tên gọi xuất xứ hàng hóa và đã xuất khẩu đến nhiều quốc gia trên thế giới, góp phần quan trọng vào việc tăng thu nhập, làm giàu và giải quyết việc làm cho hơn 20.000 hộ nông dân trên địa bàn tỉnh, bình quân thu nhập 80 – 100 triệu đồng/ha Từ năm 2006 – 2008, cây thanh long Bình Thuận phát triển khá nhanh cả về diện tích và sản lượng Tổng diện tích trồng mới tăng thêm trong 3 năm là 4.779 ha Theo quy hoạch diện tích thanh long của tỉnh đến năm 2010 là 10.000 ha, nhưng năm 2008 đã đạt 10.578 ha, tăng 82,4% so với năm

2005 Trong đó diện tích thanh long cho trái đến nay khoảng 10.000 ha Sản lượng năm 2010 khoảng 20.000 tấn (http://www tintucxalo.vn)

Mặc dù huyện Hàm Thuận Bắc có diện tích thanh long chỉ đứng thứ hai trong tỉnh (sau huyện Hàm Thuận Nam) nhưng tiềm năng phát triển rất lớn Diện tích đất trồng thanh long dự tính đến năm 2010 lên đến 5.470,1 ha ( Nguyễn Thơ, 2008) Mặt khác, huyện Hàm Thuận Bắc có nguồn nước giếng khoan dồi dào

tích (ha)

Sản lượng (tấn)

Diện tích (ha)

Sản lượng (tấn)

Diện tích (ha)

Sản lượng (tấn)

Trang 23

( 78,89% ), điều kiện đất đai, thời tiết cũng rất thuận lợi cho cây thanh long sinh trưởng Đây chính là những cơ sở cho tiềm năng phát triển canh tác cây thanh long ở huyện Hàm Thuận Bắc

2.1.2.2 Tình hình tiêu thụ

Thanh long là mặt hàng trái cây tươi xuất khẩu chủ lực của nước ta, kim ngạch xuất khẩu hàng năm đều có mức tăng trưởng tương đối tốt, cụ thể: năm 2004 đạt kim ngạch 6,57 triệu USD; năm 2005 đạt 10,43 triệu USD, tăng 58,75% so với năm 2004; năm 2006 đạt 13,58 triệu USD, tăng 30,2% so với năm 2005 (Cục Trồng trọt, 2008)

Thị trường xuất khẩu thanh long chủ yếu là thị trường châu Á Trong đó Trung Quốc, Đài Loan, Singapore và Hồng Kông là những thị trường xuất khẩu chính Trái thanh long cũng được xuất khẩu sang thị trường EU, tuy nhiên số lượng nhỏ hơn nhiều so với thị trường châu Á Sau khi lệnh cấm vận đối với thanh long được bãi bỏ, thị trường Mỹ, Nhật, Hàn Quốc trở thành thị trường tiềm năng lớn đối với mặt hang này Dự kiến năm 2011 lượng thanh long xuất khẩu đi Mỹ, Nhật và Hàn Quốc là 2.600 tấn, gấp hơn hai lần so với năm 2010 Theo Trung tâm Kiểm dịch thực vật sau nhập khẩu (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn), năm 2010 xuất khẩu thanh long sang Mỹ đạt 856 tấn, tăng 8,5 lần so với năm 2009 Các công

ty dự đoán xuất khẩu thanh long năm nay vào Mỹ sẽ đạt trên 1.500 tấn (http://tuoitre.vn/Kinh-te/)

Thanh long Bình Thuận có tỷ trọng xuất khẩu cao hơn thanh long của Long

An, Tiền Giang (Viện Chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn, 2008) Hiện nay toàn tỉnh có trên 228 cơ sở thu mua thanh long Trong đó có

11 doanh nghiệp xuất khẩu trực tiếp với tổng công suất 30.000 – 50.000 tấn/năm

Theo Tạ Minh Tuấn và ctv (2005), trong hơn nửa thập niên qua, thị trường nội địa trái thanh long cũng phát triển rộng khắp cả nước 50% sản lượng thanh long được tiêu thụ ở Nam bộ, 30% tiêu thụ ở miền Bắc, 20% tiêu thụ ở miền Trung Địa

Trang 24

bàn thị trấn, thị xã, thành phố tiêu thụ đến 80% sản lượng thanh long hàng hóa; chỉ

có 20% được tiêu thụ ở nông thôn

2.1.3 Đặc điểm cây thanh long vỏ đỏ ruột trắng (Hylocereus undatus)

2.1.3.1 Rễ

Thanh long có hai loại rễ chính phát sinh từ phần lõi của gốc hom, có nhiệm

vụ bám vào đất và hút các chất dinh dưỡng để nuôi cây Chúng tập trung chủ yếu ở lớp đất mặt từ 0 đến 30 cm Rễ khí sinh là loại rễ mọc từ phần đoạn thân trên mặt đất, có nhiệm vụ giúp cây bám vào giá đỡ, góp phần vào việc hút nước, chất dinh dưỡng để nuôi cây Những rễ khí sinh mọc gần mặt đất thường đi vào trong đất và trở thành rễ địa sinh

2.1.3.2 Thân, cành

Thanh long trồng ở nước ta có thân, cành bò trên trụ đỡ Thân cành thường

có ba cánh dẹp, xanh, hiếm khi có bốn cánh Mỗi cánh chia làm nhiều thùy có chiều dài 3 – 4 cm Đáy mỗi thùy có từ 3 đến 5 gai ngắn Mỗi năm cây có từ 3 đến 4 đợt cành Đợt cành thứ nhất là cành mẹ của đợt cành thứ hai và cứ thế xếp thành từng lớp một trên đầu trụ Khoảng cách giữa hai đợt ra cành là 40 – 50 ngày (Nguyễn Văn Kế, 2005)

2.1.3.3 Hoa thanh long

Sau khi trồng 1 – 2 năm, thanh long bắt đầu ra hoa Từ năm thứ 3 trở đi, cây

ra hoa ổn định Hoa mọc từ các đoạn cành trưởng thành, là những cành có thời gian sinh trưởng khoảng 100 ngày tuổi Hoa tập trung chủ yếu ở các mắt đến ngọn cành

Theo Nguyễn Văn Kế (2005), hoa thanh long lưỡng tính, rất to, có chiều dài trung bình 25 – 35 cm Hoa thường nở tập trung từ 20 đến 23 giờ và đồng loạt trong vườn Thời gian từ hoa nở đến tàn trong vòng 20 ngày Hoa xuất hiện rộ nhất từ tháng 5 – 8 dương lịch, trung bình có 4 – 6 đợt hoa mỗi năm

Trang 25

2.1.3.4 Trái thanh long

Theo Nguyễn Văn Kế (2005), trái thanh long hình thành sau khi hoa được thụ Trong 10 ngày đầu trái lớn chậm, sau đó trái lớn rất nhanh Thời gian từ khi hoa thụ phấn đến thu hoạch chỉ từ 22 đến 25 ngày Trái thanh long hình bầu dục có nhiều tai lá xanh do phiến hoa còn lại Đầu trái lõm sâu tạo thành “hốc mũi” Khi còn non, vỏ trái màu xanh, lúc chín vỏ chuyển sang màu đỏ tím rồi đỏ đậm

Thịt trái màu trắng xen những hạt nhỏ màu đen như hạt mè Trọng lượng trái trung bình từ 200 đến 700 g Hiện nay do nông dân trồng thanh long thâm canh cao nên có nhiều trái lớn trên 1 kg (Lê Thị Điểu, 2007).

2.1.4 Một số loại bệnh hại chủ yếu và cách phòng trừ

Một vài sâu bệnh hại chính trên thanh long và biện pháp phòng trừ (Tiêu Chuẩn Ngành 10TCN 636, 2006)

2.1.4.1 Sâu hại

- Kiến: cắn, đục khoét làm hư hom giống và cành, trái thanh long làm tổn thương vỏ trái cây Đây là loại côn trùng dễ phòng trị

- Rầy mềm (Toxoptera sp.): gây hại trên hoa, trái bằng cách chích hút nhựa

để lại vết chích nhỏ trên vỏ trái, đến khi trái chín sẽ mất màu đỏ của trái, làm mất giá trị xuất khẩu

- Các loại bọ xít: dùng vòi chích hút vào vỏ trái, tai trái, gây vết thương, tạo điều kiện cho nấm bệnh và vi khuẩn xâm nhập, làm giảm chất lượng của trái

Phòng trị: thường xuyên vệ sinh vườn, phát quang bụi rậm, cỏ dại

- Ruồi đục trái: là đối tượng gây hại nguy hiểm và là đối tượng kiểm dịch rất khắc khe của nhiều nước nhập khẩu thanh long trên thế giới Ruồi cái chích vào vỏ trái và đẻ trứng vào bên trong, bên ngoài lớp vỏ có dấu chích sẽ biến thành màu nâu Khi trứng nở thành giòi ăn phá bên trong trái, làm thối trái và rụng

Phòng trị:

+ Vệ sinh đồng ruộng: trái rụng là nơi lưu tồn ruồi, làm tăng mật số rất nhanh, do đó phải nhặt trái rụng, thu hái những trái còn sót lại trên cây sau khi thu hoạch, đem đốt hoặc chôn vùi vào đất sâu 10 cm

Trang 26

+ Biện pháp canh tác: thu trái đúng thời điểm

+ Sử dụng pheromone bẫy ruồi đực: tẩm pheromone có trộn thuốc trừ sâu vào miếng thấm, dắn vào bẫy và treo lên cây, tránh ánh sáng chiếu trực tiếp vào bẫy, mỗi tuần thay thuốc 1 lần, nên treo bẫy đồng loạt trên diện rộng

2.1.4.2 Bệnh hại

- Bệnh thối cành: bệnh do nấm Alternaria sp gây ra Thường xảy ra vào mùa

nắng Cành bị nhiễm bệnh chuyển sang màu vàng, mềm, sau đó thối

- Bệnh đốm nâu trên thân cành: do nấm Gloeoporium agaves gây ra Thân

cành thanh long có những đốm tròn như mắt cua màu nâu Vết bệnh nằm rãi rác hoặc tập trung, thường kéo dài thành từng vệt dọc theo thân cành

- Bệnh nám cành: do nấm Macssonina agaves syd và Spacelona sp gây ra

Trên thân cành có một lớp màng mỏng màu xám tro, nhám

Để phòng trị các bệnh trên nên vệ sinh vườn, cắt và tiêu hủy những cành bệnh

2.1.5 Kỹ thuật bón phân cho cây thanh long

Cũng như nhiều loại cây trồng khác, tùy theo loại đất, giai đoạn sinh trưởng

mà lượng phân cung cấp cho cây khác nhau Theo sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bình Thuận (2008), lượng phân bón theo các giai đoạn cây thanh long như sau:

* Giai đoạn kiến thiết cơ bản:

- Năm thứ nhất:

+ Phân hữu cơ: được áp dụng vào 1 ngày trước khi trồng và 6 tháng sau khi trồng, với liều lượng 5 – 10 kg phân chuồng hoai + 0,5 kg supper lân hoặc lân Văn Điển/ trụ Nếu không chủ động được nguồn phân chuồng có thể thay thế bằng các loại phân hữu cơ vi sinh với liều lượng 1 kg/trụ

+ Phân hóa học: 1 tháng sau khi trồng, bón 25 g urea + 25 g DAP/ trụ, hoặc bón NPK 20 – 20 – 15 khoảng 80 g/trụ Định kỳ bón 1 tháng/lần

Cách bón: rải phân xung quanh gốc (cách gốc 20 – 40 cm), dùng rơm tủ lên

và tưới nước

Trang 27

- Năm thứ hai:

+ Phân hữu cơ: bón 2 lần vào đầu và cuối mùa mưa, với liều lượng 15 – 20

kg phân chuồng hoai + 1kg super lân hoặc lân Văn Điển/trụ Nếu không chủ động được nguồn phân chuồng có thể thay thế bằng các loại phân hữu cơ vi sinh với liều lượng 2 kg/trụ

+ Phân hóa học: định kỳ 1 tháng 1 lần với liều lượng 50 g urea + 50 g DAP/ trụ, hoặc bón NPK 20 – 20 – 15 khoảng 150 g/trụ Định kỳ bón 1 tháng/lần

* Giai đoạn kinh doanh: từ năm thứ 3 trở đi

+ Phân hữu cơ: bón 2 lần vào đầu và cuối mùa mưa, với liều lượng 20 – 30

kg phân chuồng hoai + 1 kg super lân hoặc lân Văn Điển/trụ Nếu không chủ động được nguồn phân chuồng có thể thay thế bằng các loại phân hữu cơ vi sinh với liều lượng 3 – 5 kg/trụ.

+ Phân hóa học: đối với vườn 3 – 5 tuổi, mỗi năm mỗi trụ bón 500 g N, 500

g P2O5, 500 g K2O nguyên chất Đối với vườn lớn hơn 5 tuổi, bón 750 g N, 500 g P2O5, 750 g K2O nguyên chất Liều lượng và thời gian bón tùy theo tuổi của vườn (bảng 2.3) Lượng phân bón chia làm 8 lần /năm (trung bình 1,5 tháng/lần) Có thể

sử dụng phân hỗn hợp NPK thay thế phân đơn như bảng 2.4

Cách bón: rải đều trên mặt đất xung quanh trụ, tủ rơm rạ, hay cỏ khô, sau đó

tưới nước cho phân tan ra

Bảng 2.2 Liều lượng phân đơn bón cho thanh long giai đoạn kinh doanh

(Nguồn: sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bình Thuận, 2008)

Trang 28

Bảng 2.3 Liều lượng phân hỗn hợp NPK cho thanh long giai đoạn kinh doanh

(Nguồn: sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bình Thuận, 2008)

+ Phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng:

Để tăng cường thêm dinh dưỡng cho cây, giúp cây phát triển tốt, có thể sử dụng thêm phân bón qua lá để bón theo khuyến cáo

Sau khi thu hoạch và cắt tỉa cành tạo tán, phun phân bón lá NPK 30 – 30 –

10, phun 3 lần, 7 ngày/lần với liều lượng 15 g/bình 8 lít

Giai đoạn chuẩn bị ra nụ, phun phân bón lá NPK 10 – 52 – 10, phun 2 lần, 7 ngày/lần

Giai đoạn nụ được 8 – 10 ngày: dùng chất điều hòa sinh trưởng và phân bón

Trước khi thu hoạch (15 – 20 ngày), phun phân bón lá NPKCa 12 – 0 – 40 –

3, liều lượng 15 g/bình 8 lít, phun 2 lần, 7 ngày/lần

2.1.6 Một số nghiên cứu về phân bón trên cây thanh long

Theo Nguyễn Trịnh Nhất Hằng và Nguyễn Minh Châu (2001), bón phân NPK (250 – 250 – 250) kết hợp với 14 kg phân hữu cơ vi sinh hoặc NPK (375 –

375 – 375) kết hợp với 7 kg phân hữu cơ vi sinh đều làm tăng năng suất với đối chứng NPK (350 – 200 – 150) bón theo nông dân Trong đó công thức NPK (250 –

Trang 29

250 – 250) + 14 kg phân hữu cơ vi sinh làm tăng tổng số trái/trụ, tăng hàm lượng chất rắn hòa tan (TSS) và độ chắc thịt trái, đồng thời làm tăng độ sáng, màu sắc vỏ trái Bón phân KCl với lượng 800 g/trụ/vụ có tác dụng làm tăng hàm lượng TSS trong trái cao hơn so với đối chứng không bón

Theo Võ Hữu Thoại (2000), bón phân với liều lượng 540 g N – 720 g P2O5 –

300 g K2O + 20 kg phân hữu cơ đã làm tăng năng suất và phẩm chất trái thanh long

so với không bón phân hữu cơ

Theo Nguyễn Đăng Nghĩa (1999), bón phân với liều lượng 500 g N – 500 g

P2O5 – 500 g K2O + 10 kg phân Komix/gốc/vụ đã làm tăng năng suất so với không bón hữu cơ, bón kali với liều lượng 0,5 – 1 kg/gốc/vụ làm tăng năng suất và độ ngọt

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Như Hiến (2000) cho thấy, trong điều kiện bón phân hữu cơ và tủ gốc như nhau, bón N, P, K có tác dụng nâng cao tổng số trái, năng suất và phẩm chất trái thanh long một cách có nghĩa so với không bón Liều lượng N, P, K bón cho thanh long mang lại năng suất cao nhất là N: 0,74 kg/trụ, tức

988 kg/ha/năm; P2O5: 0,68 kg/trụ, tức 908 kg/ha/năm; K2O: 0,69 kg/trụ, tức 921 kg/ha/năm Phun chất sinh trưởng thực vật GA3 nồng độ 30 ppm 7 ngày/lần (3 lần/đợt trái) bắt đầu sau khi đậu trái có tác dụng nâng cao tỷ lệ trái ≥ 400 g, và tăng năng suất một cách có ý nghĩa

Theo Dương Hoa Xô (2006), sử dụng phân bón hữu cơ sinh học là biện pháp hữu hiệu để tăng nâng suất và chất lượng cho thanh long Liều lượng và thời điểm

sử dụng theo khuyến cáo của nhà sản xuất Tuy nhiên bà con cần tập trung bón trong hai thời điểm: giai đoạn sau khi tỉa cành, thanh long phát triển cành và đọt mới Do đó việc bón tập trung phân hữu cơ vào thời điểm này sẽ quyết định khả năng cho nhiều trái của vụ tới Lượng bón có thể từ 3 đến 4 kg/trụ Với lượng phân hữu cơ sinh học được bón như vậy có thể giảm tối đa lượng phân vô cơ (1/2 so với nhu cầu)

Các kết quả điều tra tình hình bón phân tại Bình Thuận cho thấy các nhà vườn đầu tư phân bón cho thanh long, chủ yếu phân chuồng và phân vô cơ Các nhà

Trang 30

vườn cũng có bón vôi, phun phân bón lá có chứa một số vi lượng cho cây thanh long nhưng rất tùy tiện, chỉ dựa vào kinh nghiệm, liều lượng bón chưa được xác định trên cơ sở khoa học Hiện nay việc nghiên cứu phân bón cho cây thanh long chủ yếu về các nguyên tố đa lượng, các nguyên tố trung và vi lượng chưa được quan tâm nhiều Vì vậy đề tài nghiên cứu về phân bón có chứa bo và canxi cho cây thanh long thực sự rất cần thiết

2.2 Vai trò của canxi (Ca) đối với cây trồng

2.2.1 Canxi trong đất

2.2.1.1 Dạng Ca trong đất được cây sử dụng

Theo Lê Văn Dũ (2004), Ca được cây trồng hấp thu dưới dạng Ca2+ từ dung dịch đất và di chuyển đến bề mặt rễ do cơ chế dòng chảy khối lượng và tiếp xúc trực tiếp Ở những vùng đất chua và bị rửa trôi mạnh và không được bón vôi, tình trạng thiếu Ca thường phổ biến Ở những vùng đất chua có khí hậu ẩm, Ca tập trung dạng trao đổi và khoáng nguyên sinh Hầu hết trong các loại đất này có nhiều ion

Ca2+, Al3+, H+ Nồng độ ion H+ trong đất cao (pH đất thấp) sẽ cản trở sự hấp thụ

Ca2+ Tỷ lệ Ca2+ bão hòa trên CEC giảm thì lượng Ca2+ cây hút được cũng giảm

Trong đất, Ca2+ dư thường được tích lũy nhiều quanh ở vùng rễ Tình trạng

đó cũng làm cản trở một phần quá trình hút Ca2+ của cây Mặc dù Ca2+ trong dung dịch đất thường lớn hơn 10 lần K+ nhưng lượng Ca2+ cây hút nhỏ hơn K+ Khả năng hút Ca2+ của cây trồng thường rất kém do Ca2+ chỉ qua được ở phần đầu các lông hút Các điều kiện cản trở sự hình thành rễ mới sẽ làm giảm sự vươn dài của rễ để tiếp cận với Ca2+ và gây ra tình trạng thiếu Ca Các vấn đề có liên quan đến sự hấp thu không đủ Ca2+ dường như chỉ xảy ra đối với các cây trồng có hệ thống rễ nhỏ

2.2.1.2 Hàm lượng Ca trong đất

Ở nước ta, trừ những đất phát triển trên đá vôi, CaO thường có hàm lượng không quá 1% Các loại đất chua thường có hàm lượng CaO không quá 0,5% Kết quả phân tích của mạng lưới FADIAP phát hiện trong 122 mẫu phân tích có tới 72% số mẫu thiếu canxi (Hội Khoa Học Đất, 2000)

Trang 31

Độ bão hòa Ca2+ cao chỉ thị pH thích hợp cho sự sinh trưởng của cây trồng

và hoạt động của vi sinh vật Nhiều cây trồng sẽ có phản ứng với việc bón Ca khi %

Ca bão hòa thấp hơn 25% Sự hữu dụng và hấp thu Ca đối với cây trồng cũng bị ảnh hưởng bởi tỉ lệ giữa Ca2+ và các cation khác trong dung dịch đất Tỉ lệ Ca/ tổng cation từ 0,1 đến 0,15 có thể cung cấp đủ Ca2+ cho phần lớn cây trồng Loại sét trong đất cũng có ảnh hưởng đến sự hữu dụng của Ca2+ Các sét 2:1 yêu cầu có độ bão hòa Ca2+ cao hơn sét 1:1 (Lê Văn Dũ, 2004)

2.2.2 Ca trong cây

2.2.2.1 Vai trò của Ca trong cây

Canxi có vai trò quan trọng trong việc hình thành tế bào, hình thành các mô

cơ quan của cây Chúng có ý nghĩa quan trọng trong việc trung hòa độ chua của đất cũng như việc khử độc do sự có mặt của các cation (Na+, Al3+ ) trong nguyên sinh chất của tế bào Cùng với P, Ca là nguyên tố hàng đầu để tăng năng suất và chất lượng cây trồng

Ca liên quan đến độ cứng của vỏ trái do nó liên kết với pectin tạo thành calcium pectate trong phiến giữa của vách tế bào, giúp vách tế bào cũng như mô thực vật vững chắc (Conwey và ctv, 1997) Theo Võ Thị Xuân Tuyền và ctv (2005), khi có Ca, hoạt tính của polygalacturonase bị kìm hãm, giúp giảm quá trình thủy phân pectin Ca cũng có vai trò kìm hãm sự thủy phân cellulose trong trái xoài Khi trái chín, hoạt tính của enzyme cellulase sẽ tăng lên gây ra hiện tượng trái bị mềm Khi Ca hiện diện đầy đủ thì quá trình này sẽ chậm lại

Theo Nguyễn Như Khanh và Cao Phi Bằng (2008), Ca ảnh hưởng đến tính thấm của màng, sự vận động của tế bào chất, hoạt động của enzyme, sự bài tiết, sự phân bào và nhiều quá trình khác Ca hoạt hóa các hệ enzyme của tế bào như dehydrogenaza, α-amilaza, lipaza, phosphataza Trong đó Ca có thể xúc tiến sự hình thành cấu trúc bậc bốn của protein, có thể là cầu nối giữa enzyme và cơ chất, ảnh hưởng đến trung tâm hoạt động của enzyme Thừa ion Ca2+ ức chế quá trình phosporyl hóa oxy và phosporyl hóa quang hợp

Trang 32

Ca2+ ảnh hưởng đến quá trình tập hợp và phân rã các thành phần của khung

tế bào Điều đó chứng tỏ vai trò cần thiết của nguyên tố này đối với quá trình phân bào Sự tập trung của Ca trong phức hệ với protein canmodulin điều tiết sự tập hợp các vi ống của thoi vô sắc Ca2+ tham gia vào sự liên kết các túi của bộ máy golgi trong sự hình thành từng phần vách tế bào mới (Nguyễn Như Khanh và Cao Phi Bằng, 2008)

Theo Bùi Trang Việt (2002), Ca có trong vách tế bào, phôi phân chia, là yếu

tố phụ của vài enzyme thủy giải ATP và phospholipid Các ion Ca2+ có vai trò quan trọng trong sự ổn định của màng

2.2.2.2 Hàm lượng Ca trong cây và triệu chứng thiếu Ca

Theo Nguyễn Xuân Trường (2002), ngưỡng thiếu hụt Ca trong cây biến động tùy theo loại cây và thời kì sinh trưởng của cây Đối với cây lúa, hàm lượng Ca trong thân ở thời kì đẻ nhánh từ 0,2 đến 0,6% là tối ưu, dưới 0,15% là thiếu Ca Để xác lập ngưỡng thiếu Ca trong cây, ngoài việc dựa vào hàm lượng Ca, nhiều tác giả còn dựa vào tỉ lệ Ca/Mg Tỉ lệ Ca/Mg trong cây thích hợp nhất là 1 – 1,5/1 Nếu tỉ lệ này dưới 1 thì triệu chứng bạc trắng đầu lá sẽ xuất hiện (Dobermann và Fairthust, 2000)

Khi thiếu Ca, các mô non đang phân chia và rễ bị hư hại Do không hình thành được vách tế bào mới ở các tế bào đang phân chia nên tạo thành tế bào nhiều nhân Ngưng hình thành rễ phụ và lông hút, rễ sinh trưởng chậm, các chất pectin bị trương lên dẫn đến hiện tượng hóa nhày vách tế bào và tế bào bị hủy hoại, rễ, lá và các phần của cây chết Trước tiên, đầu và mép lá hóa trắng, sau lại hóa đen, phiến lá

bị uốn cong và bị xoắn lại Cấu trúc của màng sinh chất và màng các bào quan bị hư hại (Nguyễn Như Khanh và Cao Phi Bằng, 2008)

Theo Lê Văn Dũ (2004), Ca có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển và phân chia tế bào, thiếu Ca sẽ xuất hiện sự thui chột các mầm trên thân và chóp rễ, làm ngưng sự sinh trưởng của cây Ca tạo những phức hợp gọi là chelate với các chất hữu cơ thường được tìm thấy ở mặt tế bào, vì nó làm trung hòa các acid pectic

Trang 33

ở giữa hai lớp celluloz của vách, không có Ca thì vách sẽ tan rã (Mai Trần Ngọc Tiếng, 1989)

Đối với cây chuối, thiếu canxi (Ca) xuất hiện những vệt vàng hình răng cưa không liên tục ở đầu lá, sau chuyển vàng óng và đỏ nâu, gân lá dày lên, lá uốn cong, thiếu nặng làm lá búp bị nghẹt, vỏ quả nứt (http://benhthankinh.com/bon-phan-cho- chuoi-tieu-hong.htm)

Canxi rất cần thiết cho sinh trưởng, phát triển cũng như năng suất, chất lượng xoài Thiếu canxi (đặc biệt trong điều kiện thừa đạm và kali) thường làm cho vỏ quả mềm và bị nứt, khó bảo quản, vận chuyển Tỷ lệ giữa canxi với đạm và kali rất quan trọng với xoài Để các chồi non phát triển tốt, năng suất cao và trái có chất lượng tốt, tỷ lệ N/Ca cần < 0.5 và tỷ lệ K/Ca cần phải < 0.2 Canxi (Ca) trong lá thứ 5 < 2% thì thiếu canxi Canxi trong lá thứ 5 từ 2 – 3,5% thì tối ưu (http://longdinh.com/)

Đối với cây dứa, theo Swete Kelly (1993), cây bị thiếu khi hàm lượng canxi trong lá D < 0,004% Khi bắt đầu thiếu canxi, cây dứa ít bị ảnh hưởng Khi thiếu nhiều canxi, màu sắc lá không bình thường, có màu xanh xám, lá ngắn, không có đỉnh lá, mép lá hình răng cưa Một số lá có vết sẹo chai cứng, dày hơn lá của cây bình thường Khi thiếu nặng, rễ cây dày hơn, cây không ra hoa hoặc trái có hình dáng và kích thước không bình thường, thậm chí cây có thể bị chết (Bartholomew D.P., 2003)

2.2.3 Các nguồn phân canxi

Nguồn vật liệu chính để làm phân bón cung cấp Ca là các dạng vôi CaCO3, CaMg(CO3)2 Gypsum (CaSO4.2H2O) được tìm thấy nhiều nơi trên thế giới, nó là sản phẩm trung gian được hình thành trong nhà máy sản xuất phosphoric acid

* Đôlômit

Theo Nguyễn Xuân Trường và ctv (2000), đôlômit có công thức phân tử CaCO3.MgCO3, chứa 30,4% CaO Dạng này có thể bón cho nhiều loại cây trồng

Trang 34

trên nhiều chân đất khác nhau, nhưng thích hợp nhất trên đất chua, đất phèn, đất cát, đất xám, đất bạc màu Dùng để bón lót trước khi làm đất đợt cuối hoặc trước khi gieo hay trồng để vùi lấp cùng với đất và phân hữu cơ vào trong đất có thể sử dụng đôlômit để ủ với phân chuồng, phân xanh, than bùn hoặc làm phụ gia trong sản xuất phân bón hỗn hợp NPK

* Canxi sunfat (thạch cao) dùng để bón trực tiếp được nhiều loại cây, trên nhiều loại đất, tốt nhất là bón cho cây họ đậu Có thể dùng làm phụ gia trong sản xuất phân bón hỗn hợp NPK

Trong phân đơn thường có một tỉ lệ đáng kể canxi Việc bón các loại phân này cũng cung cấp một phần canxi cho cây Supe lân đơn có 18 – 21% CaO, supe lân kép có 12 – 14% CaO, lân nung chảy có 13 – 14% CaO Gần đây, một số phân bón lá có chứa Ca đã được sản xuất Trong đó một số dạng thông dụng như Ca(NO3)2 chứa khoảng 19% Ca, các chelates tổng hợp như CaEDTA chứa 3 – 5%

Ca, Caltrac (56% CaO), Calmax (22,5% CaO); Calcium và Amino acids (8% CaO), Calcium – Sicogreens (24% Ca), TM – canxi (25% CaO), TNC Cal 9 (9% Ca)…

Để đánh giá ảnh hưởng của các dạng phân bón lá có chứa Ca đến năng suất

và phẩm chất thanh long trồng tại huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận; đồng thời đề xuất được các dạng phân bón lá có Ca phù hợp với cây thanh long trong giai đoạn mang trái, thí nghiệm 2: “Ảnh hưởng của các loại phân bón lá có Canxi đến năng suất và phẩm chất thanh long ruột trắng” với các loại phân bón lá chứa Ca:

TM – Canxi, Ca(NO3)2 và Calmax được thực hiện

2.2.4 Một số nghiên cứu về phân Ca trên cây trồng

Hiện nay, có rất nhiều nghiên cứu nhằm tìm hiểu ảnh hưởng của canxi đối với cây trồng Các kết quả cho thấy Ca rất cần thiết cho sự sinh trưởng, phát triển của cây trồng; đồng thời, Ca có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng quả Theo Nguyễn Xuân Trường và ctv (2000), thiếu Ca (đặc biệt trong điều kiện thừa đạm và kali) thường làm vỏ trái mềm và bị nứt, khó bảo quản và vận chuyển Đối với xoài kinh doanh cần bón vôi bột từ 0,5 đến 1 kg/cây, định kì 2 – 3 năm/lần Trong giai đoạn kinh doanh, đối với chôm chôm sau khi thu hoạch trái, cần bón cho

Trang 35

mỗi cây 0,2 – 0,5 kg vôi bột /cây, 0,3 – 0,5 kg/cây đối với mãng cầu đối với cây hồng trong giai đoạn kiến thiết cơ bản cần bón 0,2 – 0,3 kg vôi/hố trồng

Theo Nguyễn Xuân Trường và ctv (2000), Ca đặc biệt quan trọng đối với cây đậu phộng Vùng trồng đậu phộng có đất chua nên bón vôi để cung cấp Ca và giảm

độ chua cho đất Khi tia quả hình thành và bắt đầu cắm xuống đất cần bón 300 –

500 kg/ha thạch cao, đolomit hay vôi bột để tăng năng suất, tỉ lệ nhân hay hàm lượng dầu của đậu phộng

Theo Trịnh Văn Chiến và ctv (1999), trên đất phù sa có tầng loang lỗ đỏ vàng thuộc Yên Định – Thanh Hóa, bón 400 – 600 kg vôi/ha làm tăng năng suất lúa

5 – 16% Trên đất xám và đất phèn Đồng Tháp Mười, nếu không bón Ca, năng suất lúa chỉ đạt 76% và 63% so với bón Ca (Nguyễn Phi Hùng và ctv, 2001) Các kết quả cũng cho thấy thời kỳ bón Ca tốt nhất cho lúa là lót toàn bộ, dạng bón lót tốt nhất là vôi bột

Theo David và Philip (2007), sử dụng vôi bón cho cây dứa trong thời gian sinh trưởng của cây đã làm giảm những vết nâu sậm xuất hiện trong trái khi bảo quản ở kho lạnh và làm gia tăng lượng axit ascorbic Việc sử dụng các muối Ca có thể giúp cà chua chống chịu được với bệnh thối cuống hoa Việc sử dụng Ca cũng làm kéo dài thời gian bảo quản cũng như nâng cao chất lượng trái sau thu hoạch Nhúng trái cà chua chín vào 25 mM CaCl2 sau thu hoạch làm gia tăng nồng độ Ca của hạt, làm giảm tỉ lệ nứt trái Ca2+ được thấm trong môi trường chân không kéo dài thời gian chín của trái đào Vì vậy chúng có thể bào quản được trong thời gian dài trước khi đem ra bán Các muối Ca cũng được sử dụng trong bảo quản cà chua,

xoài (Mangifera indica L.) và lê (Persea americana L.) Độ cứng của trái mận tăng

khi sử dụng 1 mM CaCl2 Một vài thí nghiệm cho thấy khi bổ sung thêm Ca(NO3)2thì làm giảm bớt độ mặn do NaCl ở dâu tây được trồng trong môi trường thủy canh

và của dưa chuột và dưa lê (Cucumis spp L.) được trồng ngoài đồng

Đối với bắp, thiếu Ca làm ngăn cản sự ra lá và mở rộng của lá mới, chóp các

lá này thường không có màu xanh và được bao phủ bởi một chất keo làm cho các lá dính lại với nhau Trong cây ăn quả và rau cải, phần lớn các biểu hiện thiếu Ca là sự

Trang 36

rối loạn hoạt động của các mô dự trữ, gây thối cuống hoa đối với cà chua, gây bệnh đốm (làm đắng) trên táo (Lê Văn Dũ, 2004)

Theo Hiệp Hội Phân Bón Quốc Tế (1998), trường hợp ớt bị thối đầu hoa, có thể do thiếu Ca, cần khắc phục bằng cách phun lên lá dung dịch CaCl2 hoặc Ca(NO3)2

Để làm giảm tỉ lệ sượng phần thịt trái sầu riêng, phun qua lá Ca3(PO4)2 với liều lượng 120 g/8 lít nước/cây vào các tuần thứ 11, 12 và 13 sau khi hoa nở (Huỳnh Văn Tấn và Nguyễn Minh Châu, 2003)

Theo Millan (1986), khi xử lý Ca tiền thu hoạch sẽ làm giảm tỉ lệ nứt và rụng trái xoài, làm gia tăng năng suất xoài Tommy Atkins Theo Kassantikul (1983), đối với xoài Namdork Mai, nếu phun Ca 2 lần vào lúc 20 ngày và 35 ngày sau đậu trái

sẽ làm giảm hiện tượng nứt trái khi thu hoạch, giảm tỉ lệ bệnh do nấm

Colletotrichum gloeosporioides sau thu hoạch và tăng thời gian bảo quản trái

Kết quả nghiên cứu của Võ Thị Xuân Tuyền và ctv (2005) cho thấy xử lý CaCl2 với nồng độ 2.000 ppm đối với xoài Châu Hạng Võ trước khi thu hoạch 2 tháng sẽ giúp xoài có chất lượng tốt và tăng thời gian bảo quản trái, giảm thất thoát trong khi vận chuyển và chế biến Trên xoài Cát Hòa Lộc, xử lý CaCl2 hoặc Ca(NO3)2 với nồng độ 2000 ppm trước khi thu hoạch từ 2 – 2,5 tháng giúp hạn chế

sự mềm trái, vỏ dày và cứng

Theo Lê Bảo Long và Nguyễn Bảo Vệ (2005) cũng cho thấy xử lý CaCl2 với nồng độ 1000 – 2000 ppm vào lúc 2 tháng trước khi thu hoạch làm hạn chế quá trình gia tăng TSS của trái xoài Xử lý Ca(NO3)2 với nồng độ 1000 ppm vào lúc 2 tháng trước khi thu hoạch trên xoài cát hòa lộc làm chậm tiến trình chín 6 ngày so với đối chứng (Lê Bảo Long và ctv, 2000)

Theo Nguyễn Xuân Trường và ctv (2000), ngưỡng chịu đựng của lá cây với phân phun qua lá chứa Ca dưới dạng CaCl2 và Ca(NO3)2 là 3 – 6 kg/400 lít nước phun cho 1 ha cây trồng; tương ứng khoảng 60 – 120 g/8 lít nước phun cho 200 m2cây trồng

Trang 37

2.3 Vai trò của bo (B) đối với cây trồng

2.3.1 B trong đất

Theo Nguyễn Xuân Trường (2005), hàm lượng B trong đất dao động trong khoảng 2 – 200 ppm, trung bình 7 – 80 ppm Chỉ có khoảng < 5% tổng số B trong đất ở dạng hữu hiệu với cây trồng Thiếu hụt B đã được phát hiện ở nhiều loại đất trong khi ngộ độc B ít xảy ra trong thực tế Tuy vậy ngộ độc B cũng có thể xuất hiện ở những vùng đất phát triển trên đá giàu B và những nơi có nguồn nước tưới giàu B

2.3.1.1 Dạng B trong đất

B trong đất hiện diện ở 4 dạng chính: trong đá và khoáng, hấp phụ trên bề mặt các khoáng sét và oxit sắt, nhôm, kết hợp với các chất hữu cơ và boric axit (H3BO3) hay B(OH)-

4 trong dung dịch đất Các khoáng chứa B chủ yếu trong đất thuộc các nhóm:

- Nhóm hydrous borate: Borax Na2B4O7.10H2O, kernite Na2B4O7.4H2O, colemanite Ca2B6O11.5H2O, ulexite (NaCaB5O9).8H2O

- Nhóm anhydro borate: Ludwigite Mg2FeBO5, Ktoite Mg3(BO3)2

- Nhóm hợp chất borosilicate: Tourmalite, axinite

Trong các khoáng chứa B, nổi bật nhất là flourine borosilicate-tourmaline Tuy nhiên, các khoáng này rất bền, ít bị phong hóa nên B cung cấp từ nguồn này không đáng kể B tồn tại ở các dạng: B trong dung dịch đất, B hấp phụ, B hữu cơ và

B trong các hợp chất khoáng Luôn luôn có sự chuyển hóa các dạng B trong đất

* Axit Boric (H2BO3) chiếm ưu thế khi pH dung dịch đất từ 5 đến 9 Khi pH

> 9,2, H2BO3 có thể tách hydro để chuyển thành H4BO4 Dạng B cây hút (axit boric hay ion borat) có thể di chuyển từ dung dịch đất đến bề mặt lông hút của rễ B trong dung dịch đất có thể xác định được thông qua biện pháp phân tích đất

* B hấp phụ là dạng B chủ yếu ở đất kiềm hay đất có hàm lượng B cao Điểm hấp phụ chính của B là ở các cầu nối Si-O và Al-O trong khoáng sét, trong các cấu trúc amorphour hydroxide, oxide hay hydroxy Fe, Al Tăng pH, hàm lượng sét hay hữu cơ đều làm tăng H4BO4 hấp phụ

Trang 38

* B trong các hợp chất hữu cơ: trong các hợp chất hữu cơ có một lượng B hữu hiệu đáng kể Lượng B hữu hiệu này tăng khi hàm lượng hữu cơ trong đất tăng

B có khả năng kết hợp các chất hữu cơ mạch ngắn để tạo thành các phức hữu cơ phân tử cao hơn Theo nghiên cứu của Katalymov M.V., cho thấy trong lớp đất canh tác của 1 ha đất thuộc các loại khác nhau, có từ 0,5 – 8,2 kg B liên kết với chất hữu cơ (Nguyễn Xuân Hiển và ctv, 1977)

* B trong các chất khoáng: B có thể thay thế vị trí của Al3+ hay Si4+ trong các khoáng silicate Theo đó B có thể hấp phụ trên bề mặt các khoáng sét hay chui vào giữa các lớp khoáng

2.3.1.2 Bo tổng số trong đất

Phần lớn các loại đất nông nghiệp đều có hàm lượng bo tổng số từ 1 đến 467 ppm Ở những vùng có khí hậu ẩm ướt hàm lượng bo thấp (0,2 - 1,5 ppm), ngược lại ở vùng khô hạn, bán khô hạn hàm lương bo cao hơn (10 – 40 ppm) Bo là nguyên tố dễ bị rửa trôi, chính vì thế ở các vùng đất có khí hậu nóng ẩm mưa nhiều hàm lượng B thấp hơn so với đất vùng khô hạn và bán khô hạn Nghèo B nhất là các loại đất chua phát triển trên đá phún xuất và đất có kết cấu thô hàm lượng hữu cơ thấp Các loại đất phát triển trên đá phiến sét thường giàu B tổng số Đất kiềm thường có bo tổng số cao, song đất phát triển trên đá vôi lại nghèo B Những vùng đất mặn thường giàu B

Trong đất, bo ở những dạng hợp chất khác nhau có độ hòa tan khác nhau Phần bo của đất dễ tiêu đối với cây chủ yếu là axit boric và những muối hòa tan của axit này

2.3.1.3 Bo hữu hiệu

Bo tan trong nước nóng được xem là bo hữu hiệu với cây trồng Bo hữu hiệu trong đất thường dao động trong khoảng 0,1 - 0,3 ppm Ở những vùng khô hạn, bo hữu hiệu có thể cao hơn mức này Cấu trúc đất, loại khoáng sét, pH và chất hữu cơ trong đất là những yếu tố ảnh hưởng đến hàm lượng bo hữu hiệu trong đất

Trang 39

2.3.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến bo hữu hiệu trong đất

* pH đất

Bo hữu hiệu giảm khi pH đất tăng, ngoại trừ trên đất mặn Ảnh hưởng đến bo hữu hiệu thể hiện rõ khi pH>6 Đất kiềm thường thiếu bo hữu hiệu do pH cao Sự giảm bo hữu hiệu do canxi là nguyên nhân chính vì nó làm tăng bo hấp phụ với Al(OH)3 Mức hấp phụ đạt tối đa khi pH=7 và hạn chế lượng bo cây hút Tuy nhiên, canxi không phải luôn làm tăng bo hấp phụ và giảm bo cây hút Trường hợp pH cao

do Ca ở đất giàu hữu cơ lại có thể làm tăng độ phân giải hữu cơ, từ đó giải phóng bo hữu hiệu Ngược lại, đất quá chua (pH<4) cũng thường nghèo bo

* Chất hữu cơ

Chất hữu cơ trong đất có khả năng giữ bo tốt hơn sét Sự hấp phụ bo của chất hữu cơ tăng khi pH tăng và đạt cực đại ở pH=9 sau đó lại giảm đi Vai trò của chất hữu cơ với bo hữu hiệu chưa được biết rõ, song ở đất chua chất hữu cơ ảnh hưởng tốt tới bo hữu hiệu B trong chất hữu cơ có thể được phân giải nhờ hoạt động của các vi sinh vật Trong phẫu diện đất hàm lượng bo hữu hiệu ở lớp đất mặt thường cao hơn so với lớp đất dưới, điều này do hàm lượng chất hữu cơ cao hơn Đất giàu hữu cơ thường có nhiều bo hơn đất nghèo hữu cơ

* Cấu trúc đất

Cấu trúc đất có ảnh hưởng đến hàm lượng bo trong đất Đất có cấu trúc thô, đất cát, đất thoát nước tốt thường có hàm lượng bo thấp Đất có cấu trúc tốt có khả năng giữ được bo tốt trong khi đất cát, nghèo hữu cơ, lượng bo rửa trôi tới 85% lượng B bón vào Đất có cấu trúc tốt có khả năng giữ được bo một thời gian dài sau khi bón vào, bởi bo được hấp phụ trên bề mặt các khoáng sét Tuy nhiên, trên đất có cấu trúc kém, lượng bo cây hút có thể cao hơn Dung tích hấp thụ bo của đất phụ thuộc nguồn gốc khoáng sét theo thứ tự: Khoáng Mica > Montmorillonite > Kaolinite

* Tương tác với các nguyên tố khác

Canxi là nguyên tố tương tác mạnh với bo Nhu cầu bo của cây thấp khi cây thiếu canxi Khi canxi hữu hiệu trong đất tăng, nhu cầu bo của cây cũng tăng lên

Trang 40

Sự dư thừa Ca2+ ở đất kiềm hay do bón quá nhiều vôi sẽ hạn chế bo hữu hiệu trong đất Chính vì sự tương tác này mà tôi tiến hành nội dung thí nghiệm “Ảnh hưởng của liều lượng phân bón lá Solubor và CaCl2 đến năng suất và phẩm chất thanh long”

Đối với đất giàu B, việc bón vôi có thể khắc phục được tình trạng dư thừa B gây ngộ độc cho cây Tỉ lệ Ca/B trong cây là một chỉ tiêu quan trọng để chẩn đoán dinh dưỡng B Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng tỏ thiếu B ở lúa mạch khi tỷ

lệ Ca/B > 1370/1 và thiếu bo ở thuốc lá khi tỷ lệ Ca/B > 1200/1 Đối với cây mía, tỷ

lệ Ca/B = 20 là tối ưu cho sinh trưởng và phát triển và năng suất của mía

Kali là nguyên tố đối kháng với bo, nếu bón quá nhiều kali sẽ ức chế cây hút

bo dẫn đến thiếu hụt bo Nhiều kết quả nghiên cứu đã cho thấy tình trạng thiếu bo làm giảm năng suất ở cọ dầu và cỏ anfalfa là do lượng kali quá cao Ngược lại, khi

bị ngộ độc bo, bón Kali với lượng cao có thể làm giảm mức độ ngộ độc bo

B làm giảm sự hấp thu lân của cây Trong phần lớn các trường hợp cho thấy, khi có bo, sự hấp thu nitrat giảm B thường làm tăng sự hấp thu các cation và làm giảm hấp thu anion của cây (Nguyễn Xuân Hiển và ctv, 1977)

* Độ ẩm đất

Thiếu hụt bo thường xuất hiện ở những vùng có thời tiết khô và độ ẩm đất thấp Độ ẩm đất có liên quan đến sự giải phóng bo từ chất hữu cơ vào đất và khả năng di chuyển bo về vùng rễ cây trồng Bo là nguyên tố dễ bị rửa trôi nên đất ở các vùng khô hạn và bán khô hạn thường có hàm lượng bo cao hơn đất ở vùng khí hậu

ẩm ướt Mặc dù hàm lượng bo trong đất vùng khô hạn có thể cao, song độ ẩm đất thấp sẽ hạn chế khả năng hút bo của cây và cây trồng ở vùng này vẫn có triệu chứng thiếu bo

* Thành phần cơ giới

Đất có thành phần cơ giới nặng có khả năng giữ bo tốt hơn nên lượng bo cần phải cao hơn so với ở đất có thành phần cơ giới nhẹ Điều này có nghĩa ngưỡng thiếu bo trên đất nặng phải cao hơn so với trên đất nhẹ

Ngày đăng: 14/03/2019, 10:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm