1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN ONG KÝ SINH SÂU NON BỌ PHẤN TRẮNG (Bemisia tabaci) VÀ NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, SINH HỌC CỦA ONG Encarsia transvena (APHELINIDAE: HYMENOPTERA) TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

107 334 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 1,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỒ CHÍ MINH ************************ TRẦN QUỐC DŨNG ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN ONG KÝ SINH SÂU NON BỌ PHẤN TRẮNG Bemisia tabaci VÀ NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, SINH HỌC CỦA ONG Encar

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

************************

TRẦN QUỐC DŨNG

ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN ONG KÝ SINH SÂU NON BỌ PHẤN

TRẮNG (Bemisia tabaci) VÀ NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM

HÌNH THÁI, SINH HỌC CỦA ONG Encarsia transvena

(APHELINIDAE: HYMENOPTERA) TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Thành phố Hồ Chí Minh, Tháng 10/2011

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

************************

TRẦN QUỐC DŨNG

ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN ONG KÝ SINH SÂU NON BỌ PHẤN

TRẮNG (Bemisia tabaci) VÀ NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM

HÌNH THÁI, SINH HỌC CỦA ONG Encarsia transvena

(APHELINIDAE: HYMENOPTERA) TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tp Hồ Chí Minh, tháng 10/2011

Học viên:

Trần Quốc Dũng

Trang 5

CẢM TẠ

Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài này, ngoài sự nỗ lực của bản

thân tôi đã nhận được sự động viên, giúp đỡ nhiệt tình của gia đình, thầy cô, ban bè

Cho phép tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành đến:

Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh, Phòng Đào Tạo

Sau Đại Học, Ban Chủ Nhiệm khoa Nông Học, Quý thầy cô giảng viên đã tạo điều

kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường

Tiến sĩ Trần Thị Thiên An đã rất quan tâm, hướng dẫn, động viên và giúp đỡ

tôi trong suốt quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài này

Tiến sĩ Polaszek và tiến sĩ Zolnerowich đã gửi cho tôi những tài liệu định

danh ong kí sinh bọ phấn trắng quý báu để giúp tôi hoàn thành tốt đề tài này

Kỹ sư Nguyễn Thị Phụng Kiều đã giúp đỡ tôi hoàn thiện tốt đề tài này

Cùng gia đình, các anh chị lớp Cao học BVTV 2009 và bạn bè đã tận tình

hướng dẫn, cung cấp thông tin tài liệu và động viên giúp đỡ tôi trong quá trình học

tập và thực hiện luận án tốt nghiệp này

Học viên:

Trần Quốc Dũng

Trang 6

TÓM TẮT

Đề tài “Điều tra thành phần ong ký sinh sâu non bọ phấn trắng (Bemisia

tabaci) và nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, sinh học của ong Encarsia transvena

tại Thành phố Hồ Chí Minh” được thực hiện tại các vùng trồng rau thuộc huyện Củ Chi

- Thành phố Hồ Chí Minh và phòng thí nghiệm côn trùng, Bộ môn Bảo vệ thực vật, Khoa nông học, trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 1 năm

2011 đến tháng 8 năm 2011 Đề tài nhằm xác định thành phần ong ký sinh và nghiên

cứu một số đặc điểm hình thái và sinh học của ong E transvena – một loài ong kí sinh chính trên sâu non bọ phấn trắng B tabaci tại thành phố Hồ Chí Minh nhằm khai thác

loài ong này như là một tác nhân sinh học để quản lý bọ phấn trắng

Có 5 loài ong ký sinh trên sâu non bọ phấn trắng B tabaci đã được tìm thấy Đó là E

transvena, E formosa, E lutea, E eremicus và Amitus spp., trong đó tỷ lệ xuất hiện trong

mẫu điều tra của E transvena rất cao 83,42% tiếp theo là E lutea 8,2%, E eremicus 4,8%, Amitus sp 3%, thấp nhất là E fomosa số lần xuất hiện chỉ chiến tỷ lệ 0,56%

Ong kí sinh E transvena (Aphelinidae: Hymenoptera) có cơ thể rất nhỏ màu

vàng sáng, ong cái dài trung bình 0,601 ± 0,049 mm, ong đực dài trung bình 0,531

± 0,045 mm Râu đầu của ong dạng đầu gối có 8 đốt Ong có 2 cặp cánh trong suốt được phủ 1 lớp lông tơ mịn, cánh trước có diềm lông dài Phần bụng ong có 8 đốt, ống đẻ trứng dài từ đốt bụng thứ 4 đến đốt bụng thứ 8

Ở điều kiện nhiệt độ 30 ± 2oC, ẩm độ 65 ± 5%, vòng đời trung bình của ong E

transvena là 12,35 ± 0,33 ngày Trong điều kiện không tiếp xúc với kí chủ, ong E transvena sống được từ 3 – 4 ngày với nguồn thức ăn bổ sung thích hợp là mật ong

30% Hoạt động kí sinh không ảnh hưởng đến tuổi thọ của ong cái khi ong được cho ăn

đầy đủ Ong cái đẻ trung bình 22,75 ± 2,35 trứng kí sinh E transvena là ong nội kí

sinh chuyên tính, có tỉ lệ vũ hóa 96,38 ± 5,62%, tỉ lệ ong cái 82,33 ± 3,06% và vòng đời trung bình là 11,48 ± 0,64 ngày trên vật chủ thích hợp là sâu non bọ phấn trắng tuổi 3

Ong E transvena có khả năng tìm kiếm vật chủ để kí sinh với khoảng cách 0,05 m2

trong khoảng 1,872 giờ và có hoạt động kí sinh cao tại vùng có mật số vật chủ nhiều

Trang 7

ABSTRACT

Thesis “Current status of parasitoids attacking larva whiteflies Bemisia tabaci

(Homoptera – Aleyrodidae) and some morphology and biology characteristics of

Encarsia transvena (Hymenoptera – Aphelinidae) in Ho Chi Minh City” was

conducted on vegetables – planted areas at Cu Chi district, Ho Chi Minh City and Insect Laboratory, Plant Protection Department, Faculty of Agriculture, Nong Lam University from January to August, 2011 Targets were recording species of parasitoid attacking whiteflies in Ho Chi Minh City and discribing some

morphological and biological characteristics of E transvena, a parasitoid of B tabaci,

which was numerously recorded in Ho Chi Minh City in order to use it as a factor in whiteflies biology control program

5 species of whitefly parasitoids were found included E transvena, E formosa, E

lutea, E eremicus and Amitus sp.in Ho Chi Minh City The present frequency of E transvena was highest (83.4%), followed by E lutea (8.2%), E eremicus (4.8%), Amitus

sp (3%) and the lowest present frequency was E formosa (0.6%)

E transvena (Hymenoptera – Aphelinidae) was a tiny wasp with a pale yellow

body Body averaged 0.601 ± 0.049 mm long for females and 0.531 ± 0.045 mm long for males Antenna looked like knee shape with 8 segments Fore wings are hyaline with marginal setaes and a conspicous area of long setae Abdominal has 8 segments and ovipositor elongated from fourth segment to eighth segment

Developmental time of E transvena was 12.5 ± 0.33 days under the

experimental condition at 30 ± 2oC, 65 ± 5% RH In the absence of host, honey

solution was a type of non – host food which could elongate the longevity of E

transvena, especially 30% honey solution helped them live in 3 – 4 days The fecudity

was about 22.75 ± 2.35 eggs in whole life of female E transvena is a solitary

parasitoid, emerging rate was about 96.38 ± 5.62%, female rate was 82.33 ± 3.06%

For host preference result, third instar of B tabaci was the most suitable host for E

transvena The development time of E transvena was 11.48 ± 0.64 days on third

instar whitefly Searching rate was about 0.05 m2 in 1.872 hours and E transvena has

Trang 8

MỤC LỤC Trang TRANG TỰA

LÝ LỊCH CÁ NHÂN i

LỜI CAM ĐOAN ii

CẢM TẠ iii

TÓM TẮT iv

MỤC LỤC vi

DANH SÁCH BẢNG ix

DANH SÁCH HÌNH x

MỞ ĐẦU 1

Đặt vấn đề 1

Mục tiêu của nghiên cứu 2

Yêu cầu 2

Giới hạn của đề tài 2

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Một số nghiên cứu về bọ phấn trắng Bemisia tabaci 3

1.1.1 Lịch sử, phân bố và kí chủ của bọ phấn trắng B tabaci 3

1.1.2 Những thiệt hại kinh tế do bọ phấn trắng Bemisia tabaci gây ra 4

1.1.3 Đặc điểm sinh học và hình thái của bọ phấn trắng Bemisia tabaci 6

1.1.3.1 Đặc điểm hình thái 6

1.1.3.2 Đặc điểm sinh học 7

1.1.4 Nghiên cứu về tính kháng thuốc trừ sâu của bọ phấn trắng B tabaci 9

1.1.5 Nghiên cứu về thiên địch của bọ phấn trắng B tabaci 7

1.1.5.1 Nhóm bắt mồi 11

1.1.5.2 Nhóm nấm gây bệnh 12

1.1.5.3 Nhóm ong kí sinh 12

1.2 Các nghiên cứu về một số loài ong kí sinh thuộc giống Encarsia 13

Trang 9

1.3 Các nghiên cứu về ong kí sinh Encarsia transvena (Aphelinidae – Hymenoptera) 15

1.4 Phản ứng chức năng và phản ứng số lượng 19

1.4.1 Phản ứng chức năng 19

1.4.2 Phản ứng số lượng 23

Chương 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

2.1 Nội dung nghiên cứu 24

2.2 Thời gian và địa điểm 24

2.2.1 Thời gian 24

2.2.2 Địa điểm 24

2.3 Vật liệu và phương tiện nghiên cứu 24

2.4 Phương pháp nghiên cứu 25

2.4.1 Điều tra thành phần ong ký sinh sâu non bọ phấn trắng B tabaci 25

2.4.2 Nhân nuôi vật chủ và ký sinh 25

2.4.3 Thí nghiệm xác định vòng đời của ong E transvena 27

2.4.4 Phương pháp nghiên cứu một số đặc điểm hình thái của ong E transvena 27

2.4.5 Thí nghiệm xác định ảnh hưởng của thức ăn đến tuổi thọ của ong ký sinh E transvena 28

2.4.6 Thí nghiệm xác định ảnh hưởng của hoạt động ký sinh đến tuổi thọ của ong ký sinh cái E transvena 29

2.4.7 Thí nghiệm xác định tuổi sâu non bọ phấn trắng thích hợp cho sự ký sinh của ong E transvena 29

2.4.8 Thí nghiệm xác định khả năng đẻ trứng và phát triển sau đẻ trứng của ong E transvena 30

2.4.9 Thí nghiệm xác định khả năng ký sinh của ong E transvena 31

2.4.9.1 Thí nghiệm phản ứng chức năng 32

2.4.9.2 Thí nghiệm phản ứng số lượng 34

2.4.10 Phương pháp thống kê xử lý số liệu 34

Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 35

3.1 Thành phần ong ký sinh sâu non bọ phấn trắng B tabaci 35

Trang 10

3.2 Vị trí phân loại và đặc điểm hình thái của ong kí sinh E transvena 39

3.2.1.Vị trí phân loại 38

3.2.2 Đặc điểm hình thái 38

3.3 Tập tính sinh sống và đẻ trứng của ong E transvena 46

3.4 Thời gian phát dục các pha cơ thể và vòng đời của ong E transvena 47

3.5 Ảnh hưởng của thức ăn đến tuổi thọ ong E transvena trưởng thành 50

3.6 Ảnh hưởng của hoạt động kí sinh đến tuổi thọ ong E transvena 51

3.7 Khả năng đẻ trứng và phát triển sau đẻ trứng của ong E transvena 52

3.8 Tuổi vật chủ thích hợp cho ong E transvena kí sinh 53

3.9 Khả năng kí sinh của ong E transvena 55

3.9.1 Phản ứng chức năng 55

3.9.2 Phản ứng số lượng 58

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 60

Kết luận 60

Đề nghị 61

TÀI LIỆU THAM KHẢO 62

PHỤ LỤC 81

Trang 11

DANH SÁCH BẢNG

Bảng 2.1 Tính kháng của bọ phấn trắng B tabaci đối với một số hoạt chất thuốc trừ

sâu 10

Bảng 3.1 Thành phần thiên địch ký sinh trên sâu non bọ phấn trắng B tabaci 35

Bảng 3.2 Kích thước các pha cơ thể của ong E transvena 38

Bảng 3.3 Thời gian phát dục các pha cơ thể và vòng đời của ong kí sinh E transvena. 47

Bảng 3.4 Ảnh hưởng của thức ăn thêm đến tuổi thọ ong E transvena 50

Bảng 3.5 Ảnh hưởng của hoạt động kí sinh và thức ăn đến tuổi thọ ong cái E transvena 51

Bảng 3.6 Khả năng đẻ trứng và phát triển sau đẻ trứng của ong E transvena 52

Bảng 3.7 Sự lựa chọn tuổi vật chủ của ong E transvena 53

Bảng 3.8 Số sâu non bọ phấn trắng bị kí sinh khi cho 1 ong cái tiếp xúc với mật số kí chủ tăng dần 55

Bảng 3.9 Giá trị 1/Ha và 1/H.T được tính từ kết quả thí nghiệm 56

Bảng 3.10 Số sâu non bọ phấn trắng bị kí sinh khi cho mật số ong tăng dần tiếp xúc với cùng lượng kí chủ 58

DANH SÁCH HÌNH Hình 1.1 Các đặc điểm định danh ong E transvena 16

Hình 1.2 Các bộ phận cơ thể của ong E transvena 17

Hình 2.1 Sâu non bọ phấn trắng bị ong kí sinh trên lá cà tím 26

Hình 2.2 Lồng thu ong kí sinh 26

Hình 2.3 Bố trí thí nghiệm ảnh hưởng của thức ăn đến tuổi thọ ong E transvena 28

Trang 12

Hình 2.5 Cây cà tím sử dụng trong thí nghiệm 31

Hình 2.6 Bố trí thí nghiệm 31

Hình 3.1 Thành phần và tỷ lệ giữa các loài ong ký sinh trên sâu non bọ phấn trắng 35

Hình 3.2 Thành phần ong ký sinh bọ phấn trắng B tabaci 36

Hình 3.3 Thành trùng ong kí sinh E transvena 39

Hình 3.4 Đầu và chi phụ đầu của ong E transvena 39

Hình 3.5 Cánh của ong E transvena dưới kính hiển vi độ phóng đại × 10 40

Hình 3.6 Các đặc điểm cánh trước ong E transvena quan sát dưới kính hiển vi 40x 41

Hình 3.7 Chân của E transvena quan sát dưới kính hiển vi độ phóng đại ×10 41

Hình 3.8 Mảnh lưng ngực của E transvena quan sát dưới kính hiển vi ×40 42

Hình 3.9 Bụng của ong E transvena 42

Hình 3.10 Trứng của ong E transvena 43

Hình 3.11 Sâu non tuổi 1 của ong E transvena quan sát dưới kính lúp soi nổi 43

Hình 3.12 Sâu non tuổi 2 của ong E transvena quan sát dưới kính lúp soi nổi 44

Hình 3.13 Sâu non tuổi 3 của ong E transvena quan sát dưới kính lúp soi nổi 44

Hình 3.14 Các giai đoạn phát triển nhộng của ong E transvena 45

Hình 3.15 Tập tính của ong E transvena 47

Hình 3.16 Vòng đời của ong E transvena (Aphenilidae – Hymenoptera) 49

Hình 3.17 Số sâu non bọ phấn trắng bị kí sinh khi cho 1 ong cái tiếp xúc với mật số kí chủ tăng dần 56

Hình 3.18 Sự tương quan giữa 1/Ha và 1/H.T 57

Hình 3.19 Số sâu non bọ phấn trắng bị kí sinh khi cho cùng một lượng vật chủ tiếp xúc với mật số ong kí sinh tăng dần 58

Trang 13

MỞ ĐẦU Đặt vấn đề

Bọ phấn trắng Bemisia tabaci (Aleyrodidae - Hemiptera) là một dịch hại

nông nghiệp quan trọng trên cây rau màu và cây cảnh cũng như nhiều cây trồng khác trên thế giới (De Barro và ctv, 2000), bao gồm cây trồng ở ngoài đồng và cây

trồng trong điều kiện bảo vệ (trong nhà lưới, nhà kính) B tabaci là côn trùng đa

thực (Frohlich và ctv, 1999), phân bố rộng rãi ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới

(Delatte và ctv, 2005), chúng được ghi nhận gây hại trên 900 loài cây (Perring,

2001, Berry và ctv., 2004) và là một vector của hơn 110 bệnh virus cây trồng (Jones, 2003) Bên cạnh chích hút gây suy giảm sinh trưởng, năng suất và truyền

nhiều bệnh virus nguy hiểm, bọ phấn trắng B tabaci còn thải ra chất mật đường và

tạo điều kiện cho nấm bồ hóng phát triển, làm bẩn sản phẩm, hạn chế quá trình quang hợp và hô hấp của cây bị nhiễm Chính vì vậy, việc phòng trừ bọ phấn trắng

đã được quan tâm trên nhiều khu vực sản xuất nhằm góp phần bảo đảm năng suất và chất lượng cây trồng Nhiều biện pháp phòng trừ bọ phấn trắng đã được khuyến cáo Biện pháp sử dụng thuốc đã và đang được áp dụng phổ biến ở nhiều nước, kể

cả ở các nước phát triển và các nước đang phát triển Việc sử dụng rộng rãi biện pháp hóa học đã làm cho bọ phấn trắng phát triển nhanh tính kháng, hiệu quả của việc sử dụng thuốc giảm và chi phí phòng trừ gia tăng Thêm vào đó, việc sử dụng rộng rãi thuốc hóa học còn ảnh hưởng đến sức khỏe con người và ô nhiễm môi trường

Để hạn chế vấn đề trên thì công tác phòng trừ cần được chú trọng tới vấn đề bảo vệ và phát huy vai trò của thiên địch, sử dụng thiên địch mang lại hiệu quả kinh

tế cao và bảo vệ môi trường Hiện nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về thiên

địch của bọ phấn trắng B tabaci, tuy nhiên chưa có tài liệu nào công bố về ong E

Trang 14

transvena ký sinh sâu non bọ phấn trắng B tabaci ở Việt Nam Để có thêm cơ sở

thực tiễn cho việc xây dựng biện pháp phòng trừ sinh học đối với bọ phấn trắng có hiệu quả, góp phần làm giảm sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, bảo vệ môi trường

Chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Điều tra thành phần ong ký sinh sâu non

bọ phấn trắng Bemisia tabaci và nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, sinh học của ong Encarsia transvena (Aphelinidae : Hymenoptera) tại Thành phố

Hồ Chí Minh

Mục tiêu của nghiên cứu

Các kết quả nghiên cứu của đề tài tạo cơ sở thực tiễn cho việc xây dựng biện pháp phòng trừ sinh học bọ phấn trắng bằng cách sử dụng thiên địch tại Việt Nam

Yêu cầu

- Định danh các loài ong ký sinh thu thập được

- Xác định được loài ong chiếm ưu thế

- Nghiên cứu đặc điểm hình thái và sinh học của ong ký sinh E transvena

Giới hạn của đề tài

Đề tài được tiến hành trong điều kiện môi trường ổn định của phòng thí nghiệm, chưa tiến hành thí nghiệm trong điều kiện tự nhiên

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Một số nghiên cứu về bọ phấn trắng Bemisia tabaci

1.1.1 Lịch sử, phân bố và kí chủ của bọ phấn trắng B tabaci

Bọ phấn trắng Bemisia tabaci (Aleyrodidae – Homoptera) được ghi nhận gây hại trên cây thuốc lá vào năm 1889 tại Hy Lạp và được đặt tên là Aleyrodes tabaci

(Gennadius, 1889) Theo thời gian, bọ phấn trắng lây lan và xuất hiện khắp các châu lục trên thế giới từ vùng cận nhiệt đới cho đến nhiệt đới Năm 1897, bọ phấn trắng

được phát hiện tại Mĩ trên khoai lang với tên Aleyrodes inconspicua Quaintance (Quaintance, 1900) Tại Brazil, bọ phấn trắng xuất hiện đầu tiên trên cây Euphorbia

hirtella vào năm 1928 và được đặt tên Bemisia costalimai Bondar (Mound và

Halsey, 1978) Năm 1933, những loài bọ phấn trắng thu được ở Đài Loan được gọi

là Bemisia hibisci (Mound và Halsey, 1978) Theo Martin và ctv (1999), các loài

bọ phấn trắng có mặt ở tất cả các lục địa chỉ trừ Nam cực

Với việc xác định phân loại chi Bemisia trong họ Aleyrodidae đã cho thấy

rằng bọ phấn trắng có thể có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới châu Phi và sau đó lan truyền ra các vùng cận nhiệt (Campell và ctv., 1996) Một số dẫn chứng khác cho thấy bọ phấn trắng là sinh vật bản địa của Ấn Độ và Pakistan, những nơi đa dạng về các thành phần loài kí sinh, chỉ tiêu quan trọng để xác định trung tâm khởi nguyên của một loài (Brown và ctv., 1995)

Bọ phấn trắng có phổ kí chủ rộng, có thể gây hại trên rất nhiều loài từ cây trồng cho đến cây hoang dại Các cây trồng là kí chủ của bọ phấn trắng lên đến 600 loài thuộc 5 họ cây phổ biến bao gồm cây họ đậu (99 loài), cây họ cúc, họ bông, họ

cà và họ thầu dầu Theo Butler và Henneberry (1986), một lượng lớn cây trồng và

cây dại thuộc nhóm cây hàng niên và đa niên là thức ăn hay kí chủ phụ của B

Trang 16

tabaci Từ những năm 1980, việc bùng phát B tabaci và virus từ B tabaci trở thành

yếu tố giới hạn năng suất trên các cây lương thực và cây trồng lấy củ ở nhiều nơi

trên thế giới (Brown, 1994) B tabaci được báo cáo gây hại trên cây ăn trái đầu tiên

vào năm 1986 (Price và ctv., 1986) Trong điều kiện nhà kính, bọ phấn trắng tấn công mạnh trên cây ăn trái hơn các loại cây rau như cà chua, ớt ngọt, cà tím, dưa leo… (Cock, 1986)

1.1.2 Những thiệt hại kinh tế do bọ phấn trắng Bemisia tabaci gây ra

Việc ước tính thiệt hại do bọ phấn trắng gây ra cho nền nông nghiệp thế giới rất khó khăn do vùng thiệt hại ngày càng mở rộng, số lượng cây trồng mùa vụ và sự khác biệt về đơn vị tiền tệ giữa các quốc gia (Ellsworth, 1999) Bọ phấn trắng không chỉ chích hút mà chất bài tiết của chúng vốn là thức ăn ưa thích của nấm bồ hóng Đây là những yếu tố gây thiệt hại đến cả năng suất và phẩm chất của sản phẩm

B tabaci lần đầu tiên được báo cáo là sâu hại nghiêm trọng trên bông vải tại

Bắc Ấn Độ (một phần Pakistan hiện nay) vào thập niên 20 và đầu thập niên 30 (Misra và Lamba, 1929; Husain và Treham, 1933) Basu (1995) cho biết bọ phấn trắng đã bùng phát dữ dội ở Sudan và Iran (thập niên 50), El Salvador (1961), Mexico (1962), Brazil (1968), Thổ Nhĩ Kì (1974), Israel (1976), Thái Lan (1978), Arizona và California, Hoa Kỳ (1981) và Ethiopia (1984)

Ở Hoa Kỳ, bọ phấn trắng từ lâu đã là loài sâu hại phổ biến trên các vùng nông nghiệp khác nhau suốt các tiểu bang từ miền nam đến miền tây nhưng chưa gây thiệt hại kinh tế đáng kể cho đến năm 1981, khi chúng bộc phát thành dịch tại California và Arizona Năm 1986, ở Florida, bọ phấn trắng gây hại nặng trên cây trạng nguyên, đồng thời các triệu chứng bệnh bạc lá do virus truyền từ bọ phấn trắng xuất hiện trên bí (Price và ctv., 1986; Maynard và Cantliffe, 1989) Từ 1991 đến

1992, thiệt hại kinh tế do bọ phấn trắng gây ra tại các bang Florida, Arizona, California, Texas khoảng 200 đến 500 triệu USD Riêng vùng thung lũng Imperial, California trong

5 năm (1991-1995), bọ phấn trắng gây thiệt hại năng suất đến hơn 100 triệu USD mỗi

Trang 17

năm Các vùng Arizona, California và Texas tiêu tốn 153,9 triệu USD đề phòng trừ bọ phấn trắng trong suốt năm 1994 đến 1998 (Ellsworth và ctv., 1999)

Năm 1991 đến 1992, bọ phấn trắng gây thiệt hại đến 33 triệu USD trên dưa lưới, dưa hấu, mè trắng và bông vải tại Mexicali Valley, Mexico Cũng tại đây, diện tích trồng bông giảm từ 39,415 ha năm 1991 xuống chỉ còn 653 ha năm 1992 (R.L Lopéz; Medina Esparza và Leon Paul, 1994) Vùng trồng bông Sonora, Mexico, từ

1995 đến 1996, diện tích đã giảm 65% (Sanchez, 1997) Ở Trung Mĩ và vùng biển Caribê, bọ phấn trắng gây mất mùa trên cà chua, đậu bắp, bông vải, thuốc lá và dưa gang ở các quốc gia Cuba, Barbados, Costa Rica, Cộng hòa Dominica, El Salvador, Haiti, Honduras, Guatemala, Jamaica, Monserrat, Nicaragua và Santa Lucia (Hilje, 1996; Vazquez, 1999) Ở Guatemala, chi phí cho việc phòng trừ bọ phấn trắng tăng từ 30% đến 50% trên dưa gang, cà chua và ớt ngọt Từ 1998 -1999, thiệt hại trên dưa gang lên đến 40% do bệnh nấm bồ hóng và bệnh virus (Davila, 1999)

Năm 1995, bọ phấn trắng gây thiệt hại ước tính lên đến 5 tỉ USD ở Brazil trên cà chua, đậu, bông vải, dưa hấu, dưa gang, đậu bắp, bắp cải và nhiều loại cây trồng khác (Lima và ctv., 2000) Ngoài ra, các quốc gia Nam Mĩ khác cũng có báo cáo về vấn đề bùng phát bọ phấn trắng như Argentina (Viscarret và ctv., 2000), Colombia (Quiintero và ctv., 1998) và Bolivia (Morales và Anderson, 2000)

Nhiều nước ở Địa Trung Hải bắt đầu gặp trở ngại do bọ phấn trắng từ năm

1974 Ở Ý và miền Nam nước Pháp, bọ phấn trắng gây thiệt hại nghiêm trọng trên

cây trạng nguyên và cà chua B tabaci được ghi nhận ở Azerbaijan và Georgia,

đồng thời trên các vườn cây có múi phía Nam Crimea và bờ biển Hắc Hải cũng thấy xuất hiện bọ phấn trắng (Dantsing và Shedorovska, 1988; Traboulsi, 1994)

Tại Trung Quốc, sự bùng phát bọ phấn trắng được ghi nhận vào năm 1953 ở Đài Loan, năm 1972 ở Yunnan và hiện tại chúng phân bố rộng khắp từ miền Nam đến miền Bắc đất nước (Rumei, 1996) Rumei cũng ghi nhận sự xuất hiện bọ phấn trắng tại 6 tỉnh trong các cuộc khảo sát trước đây (1953 – 1992) và lên đến 12 tỉnh vào năm 1995

Trang 18

De Barro và ctv (1998) cho biết giữa thập niên 90, tại vùng Thái Bình

Dương, B tabaci được tìm thấy trên 18 đảo bao gồm đảo Cook, Guam, New

Caledonia, American Samoa, Fiji, Marshall Island, Niue, Federated States of Micronesia, Kiribati, Papua New Guinea và Solomon Island

1.1.3 Đặc điểm sinh học và hình thái của bọ phấn trắng Bemisia tabaci

1.1.3.1 Đặc điểm hình thái

nhiều tài liệu mô tả đặc điểm hình thái của bọ phấn trắng B tabaci Theo

tài liệu của Nguyễn Thị Chắt (2006), trứng bọ phấn trắng rất nhỏ, hình bầu dục, có cuống Bọ phấn trắng trưởng thành có kích thước nhỏ, dài khoảng 1 mm màu vàng nhạt, trên cơ thể phủ lớp bột màu trắng như phấn, chân dài và mảnh Bọ phấn trắng non màu nhạt, hình ovan dài khoảng 0,7 – 0,9 mm, khi mới nở có chân, bò dưới mặt

lá, rồi ở cố định một chỗ dưới mặt lá Sau khi lột xác chuyển sang tuổi 2 thì sâu non không còn chân, có thể nhìn rõ mắt kép và râu đầu Nhộng thuộc dạng nhộng giả, hình bầu dục, màu sáng, có lông ở 2 bên sườn, có thể nhìn thấy mắt đỏ của con trưởng thành

Theo Chu Thị Thơm và ctv (2006), trứng bọ phấn trắng hình bầu dục, dài khoảng 0,18 – 0,2 mm, vỏ mỏng, mới đẻ có màu trong suốt, sau một đêm chuyển sang màu vàng xám, sau chuyển dần sang màu nâu xám Bọ phấn trắng đực dài khoảng 1 mm, cánh trải rộng khoảng 1,5 mm, con cái dài khoảng 1,4 mm, cánh trải rộng khoảng 2 mm Bọ phấn trắng non có màu vàng nhạt, hình ovan, mới nở đã có chân bò dưới mặt lá, kích thước dài khoảng 0,7 – 0,9 mm; chiều rộng 0,5 – 0,6 mm

Bọ phấn trắng trưởng thành có râu đầu dài 6 đốt, đốt râu đầu thứ 2 phình to, chân dài và mảnh, bàn chân có 2 đốt, cuối bàn có 2 đốt, giữa 2 vuốt có đệm lồi Bụng có 9 đốt, đốt ngực bụng nhỏ dạng ong Cánh không trong suốt mà phủ lớp phấn màu trắng, mạch cánh đơn giản có 1 – 3 mạch cánh, không có mạch cánh ngang Mắt kép có một rãnh ngang chia thành hai phần gần giống hình số tám Cả

bọ phấn trắng non và bọ phấn trắng trưởng thành đều chích hút nhựa cây làm chết

mô thực vật và tiết nước bọt làm lan truyền virut (Nguyễn Thị Chắt, 2006),

Trang 19

Theo Berlinger (1986), giai đoạn mới nở (tuổi 1) thì hoạt động nhưng tuổi 2, 3 thì không hoạt động giống như vảy của rệp dính Cánh phát triển trong suốt giai đoạn biến thái và sẽ lộ ra khi chúng vũ hóa thành con trưởng thành Bọ phấn trắng trưởng thành nở thông qua ngấn lột xác hình chữ T trên vỏ nhộng và trãi rộng cánh khoảng vài phút trước khi cánh được phủ một lớp phấn bằng sáp Chất sáp được bài tiết từ một tuyến đặc biệt trên lưng Cơ thể thành trùng có màu trắng nhạt hay vàng nhạt, kích thước khoảng 0,8 – 1 mm Khi đậu cánh xếp lại phía sau bụng như mái lều che cơ thể

Theo USDA (2009) và Ebenezer (2008), thành trùng có đôi mắt kép, cơ thể màu vàng nhạt, đôi cánh được phủ lớp phấn trắng, râu dài 7 đốt, phần miệng kéo dài

và phát triển thành kim chích hút nhựa cây

Theo Waterhouse và Norris (1989), giai đoạn trứng khoảng 5 – 9 ngày, sau khi đẻ 3 – 4 ngày màu sắc của trứng thay đổi từ màu trắng sang màu nâu nhạt Giai đoạn sâu non khoảng 14 ngày, trải qua bốn giai đoạn (tuổi 1, tuổi 2, tuổi 3, tuổi 4)

Bọ phấn trắng tuổi 1, có thể di chuyển được, nó còn được gọi là "loài rận", có đôi chân và râu với chức năng riêng biệt Tuổi 2, 3, 4 chúng sống ở một nơi cố định Khi bước vào giai đoạn nhộng chúng ngừng ăn và bắt đầu tổ chức lại nội mô trước khi lột xác Con trưởng thành có thể sống đến 30 ngày, cơ thể phủ màu trắng, khá nhỏ 2 – 3 mm dài và phủ một lớp bụi như sáp Ngay sau khi vũ hóa cánh trong suốt nhưng sau vài giờ xuất hiện một loại phấn màu trắng bao phủ

1.1.3.2 Đặc điểm sinh học

Theo Nguyễn Thị Chắt (2006), vòng đời bọ phấn trắng trung bình 15 – 25 ngày Bọ phấn trắng thường hoạt động vào sáng sớm hay chiều mát, không ưa ánh sáng mạnh Khả năng sinh sản của bọ phấn trắng cái có thể đạt từ 50 – 100 trứng

Bọ phấn trắng cái đẻ thành từng ổ 4 – 6 trứng hoặc rải rác trong mô lá, chúng thường tập chung ở lá bánh tẻ

Theo Chu Thị Thơm và ctv (2006), vòng đời của bọ phấn trắng khoảng 35 –

54 ngày, nhiệt độ thích hợp từ 18 – 330 C, ẩm độ thích hợp 80 – 85% Bọ cái trưởng

Trang 20

thành đẻ thành từng ổ 4 – 6 trứng hoặc rải rác trong mô lá, chúng thường tập trung ở

lá bánh tẻ Bọ phấn trắng thường phát triển mạnh vào mùa khô

Bọ phấn trắng cái đẻ trứng một cách đơn lẻ hoặc đẻ trứng thành vòng tròn Nếu mặt dưới lá không mịn màng thì trứng đẻ rải rác xung quanh hoặc nếu mặt dưới lá trơn tru thì con cái đẻ trứng xếp thành vòng tròn nhỏ, đẻ vào lớp mô bên trong ở mặt dưới của lá cây ký chủ Đôi khi trứng còn được đặt vào các lỗ khí khổng, trứng có một cuống nhỏ dùng để hút nước từ lá do đó ngăn ngừa trứng khô trước khi trứng nở Thời gian đẻ trứng khoảng 7 ngày, khả năng sống sót trước trưởng thành là 81,25 % (Trần Đình Phả và ctv., 2008) Thời gian trứng nở tùy vào điều kiện nhiệt độ, ẩm độ, cây ký chủ, sau 5 – 9 ngày trứng sẽ nở thành bọ phấn trắng non Ba giai đoạn đầu, mỗi giai đoạn đầu kéo dài khoảng 2 – 4 ngày tùy vào nhiệt độ Giai đoạn tuổi 4 (nhộng giả) kéo dài khoảng 6 ngày Đây cũng là giai đoạn

có thể phân biệt loài bọ phấn trắng (Malumphy, 2008)

Các giai đoạn phát triển từ trứng đến trưởng thành khoảng 15 – 70 ngày, phụ thuộc vào các loài cây chủ và nhiệt độ môi trường, ở 270 C là nhiệt độ tối ưu cho bọ phấn trắng phát triển Sau khi trứng nở bọ phấn trắng non tuổi 1 bắt đầu di chuyển (có thể di chuyển trong vài giờ với một khoảng cách có thể hơn 30 mm) để tìm một

vị trí thích hợp để gây hại Sau đó, chúng đặt vòi chích sâu trong mô thực vật và bắt đầu chích hút Sang tuổi 2, 3, 4 chúng không di chuyển đi nơi khác được do chân bị tiêu biến Bọ phấn trắng không có giai đoạn nhộng, bọ phấn trắng tuổi 4 bất động giống như nhộng nên gọi là nhộng giả Sau 3 lần lột xác, bọ phấn trắng vũ hóa thành con trưởng thành Bọ phấn trắng non thải chất ngọt qua lỗ hậu môn ở trên lưng, chúng thải liên tục không bị giới hạn thời gian nhất định trong ngày

Vòng đời của bọ phấn trắng khoảng từ 2 – 3 tuần trong điều kiện thời tiết ấm

áp, trong điều kiện thời tiết mát mẻ vòng đời nó khoảng 2 tháng Tỉ lệ bọ phấn trắng đực cái trong một quần thể thay đổi theo thời gian, bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ môi trường và tuổi thọ của con đực Bọ phấn trắng đực có thời gian sống ngắn hơn bọ phấn trắng cái, vì vậy trong quần thể chủ yếu là con cái Bọ phấn trắng đẻ trứng nhiều hơn trong điều kiện thời tiết ấm áp Trứng thường được đẻ ở mặt dưới của lá và

Trang 21

vuông góc với các gân lá Ở 200 C con cái sống khoảng 10 – 15 ngày, nhiệt độ thấp ≤

14 oC con cái có thể sống được 30 – 60 ngày nhưng phát triển khá chậm Con đực có chu kỳ sống ngắn hơn chỉ kéo dài khoảng 9 – 17 ngày (Gerling và ctv., 1986)

Theo Mau và ctv (2007), bọ phấn trắng cái có thể đẻ từ 28 đến 300 quả trứng, phụ thuộc vào loài ký chủ và nhiệt độ môi trường Bọ phấn trắng cái có thể sinh sản hữu tính và sinh sản vô tính Bọ phấn trắng cái có thể đẻ trứng chưa được thụ tinh và trứng đã thụ tinh Những trứng chưa thụ tinh sẽ nở thành bọ phấn trắng đực còn những trứng thụ tinh sẽ nở thành bọ phấn trắng cái Mỗi bọ phấn trắng cái

có thể sản đẻ khoảng 200 trứng tùy thuộc vào nhiệt độ (OISAT, 2004) Bọ phấn trắng trưởng thành có thể sống hơn một tuần và số lượng trứng đẻ phụ thuộc vào nguồn thức ăn trong giai đoạn trưởng thành (Byrne và Bellows, 1991)

Theo USDA (2009), khả năng sống sót của bọ phấn trắng non là 86,5 % tỉ lệ

bọ phấn trắng đực và cái là 1 : 2,7 (Gorge, 1995) Bọ phấn trắng trưởng thành có thể

bò và bay nhưng khả năng bay kém nhưng phát tán rộng nhờ gió Bọ phấn trắng

có hai kiểu bay là bay khoảng cách ngắn và bay khoảng cách dài (Berlinger, 1986) Bay khoảng cách ngắn khi ở trong phạm tán cây hoặc di chuyển từ lá này sang lá khác hay cây này sang cây khác Bay khoảng cách dài khi côn trùng bị gió thổi đi và cuốn đi một cách thụ động nên chúng có phân tán trên phạm vi rộng nhờ gió Vì vậy, phạm vi gây hại rộng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất cây trồng

1.1.4 Nghiên cứu về tính kháng thuốc trừ sâu của bọ phấn trắng B tabaci

B tabaci đã hình thành tính kháng đối với khoảng 35 chất hoạt động (a.i) của thuốc trừ sâu được báo cáo trên ít nhất 20 nước trên thế giới (Elbert và Nauen, 2000; Cahill và ctv., 1995; Ahmad và ctv., 2002; Kranthi và ctv., 2002; Horowitz và ctv., 1998; Prabhaker và ctv., 1992; Cahill và ctv., 1996a; Dittrich và ctv., 1990;

Denholm và ctv., 1998) B tabaci đã được ghi nhận phát triển tính kháng với nhiều loại thuốc hóa học thuộc các nhóm khác nhau Các báo cáo về tính kháng của B

tabaci được tổng hợp trong bảng 2.1 cho thấy B tabaci đã thể hiện tính kháng đối

với nhiều hoạt chất của thuốc trừ sâu

Trang 22

Bảng 2.1 Tính kháng của bọ phấn trắng B tabaci đối với một số hoạt chất thuốc trừ sâu

Dittrich và ctv., 1983) Prabhaker và ctv., (1985) Dittrich V và ctv., (1985) Dittrich V và ctv., (1985) Immaraju, (1985)

Immaraju, (1985) Ahmed và ctv., (1987) Moore và ctv., (1989) Moore và ctv., (1989) Moore và ctv., (1989) Dittrich V., và Ernst G.H., (1988) Dittrich V., Uk S., và Ernst, G.H., (1988) Prabhaker và ctv., (1988)

Dittrich V., Uk S., và Ernst G.H., (1988) Omer và ctv., (1993); Qiu và ctv., (2009) Horowitz và ctv., (1994)

Bloch and Wool, (1994) Cahill và ctv., (1996a); Erdogan và ctv., (2008) Cahill và ctv., (1996a)

Cahill và ctv., (1996a) Grafton – Cardwell và ctv., (1998) Elbert và Nauen, (2000); Ishaaya và ctv., (2003) Elbert và ctv., (2000)

Kranthi và ctv., (2001) Cardona và ctv., (2001) Cardona và ctv., (2001) Cardona và ctv., (2001) Roditakis và ctv., (2005) Erdogan và ctv., (2008) Erdogan và ctv., (2008) Erdogan và ctv., (2008)

Qiu và ctv., (2009) Qiu và ctv., (2009) Roditakis và ctv., (2009) Roditakis và ctv., (2009) Crowder và ctv., (2009) Feng và ctv., (2010)

Trang 23

Tính kháng của bọ phấn trắng đối với thuốc trừ sâu đã được báo cáo ở nhiều nước như Đức, Guatemala, Israel, Ý, Mexico, Nicaragua, Pakistan, Tây Ban Nha, Sudan, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Mỹ, Ấn Độ, Colombia, Hy Lạp, Trung Quốc, Brazil Bọ phấn trắng cũng phát sinh tính kháng thuốc trừ sâu ở nhiều quốc gia khác nhưng các báo cáo vẫn chưa được tài liệu hóa chính thức Tính kháng thuốc trừ sâu của bọ

phấn trắng thể hiện trên các quần thể B tabaci ở nhiều nơi trên thế giới chứng tỏ

tầm quan trọng của vấn đề và sự cấp thiết của việc quản lý tính kháng

1.1.5 Nghiên cứu về thiên địch của bọ phấn trắng B tabaci

1.1.5.1 Nhóm bắt mồi

Theo George (1985), trong nhóm ăn mồi, nhện là loài được ghi nhận ăn sâu

non bọ phấn trắng B tabaci bao gồm một số loài như Amblyseius sp., Typhlodromus

sp. Bên cạnh đó tác giả cũng ghi nhận được bọ mắt vàng Chrysoperla sp cũng là

một loài bắt mồi ăn sâu non bọ phấn trắng Tuy nhiên, trong những loài trên không

có loài nào có chức năng kiểm soát bọ phấn trắng một cách hiệu quả

Theo Lopez-Avila (1986) Gerling (1990), có 19 loài côn trùng thuộc 4 họ

(Chrysophidae, Miridae, Anthocoridae và Cocinellidae) và 11 loài nhện thuộc 2 họ (Phytoseiidae và Stigmaeidae) là những loài thiên địch bắt mồi của bọ phấn trắng B

tabaci Nhện nhỏ ăn mồi Amblyseius swirskii có khả năng ăn trứng và sâu non bọ

phấn trắng tuổi một A swirskii có khả năng thiết lập quần thể tốt trên cây ớt ngọt

ngay cả khi không có con mồi (Karel và ctv., 2008)

Delphastus pusillus Leconte (Coleoptera: Coccinellidae) là loài bọ rùa có thể

tấn công tất cả các giai đoạn sống của bọ phấn trắng (Heinz và ctv., 1996) Nhiều

loài bọ xít bắt mồi như Cyrtopeltis, Dicyphus, Macrolophus và Deraocoris cũng

được ghi nhận là loài ăn mồi có hiệu quả đối với bọ phấn trắng (Kapadia và Puri, 1991) Tuy nhiên, các loài này không có khả năng kiểm soát bọ phấn trắng xuống dưới ngưỡng gây hại (Heinz và ctv., 1996) Hơn nữa, chúng có thể ăn lẫn nhau và việc nhân nuôi hàng loạt các nhóm bọ xít ăn mồi này phải thực hiện trong điều kiện đặc biệt để giảm thiểu sự cạnh tranh

Trang 24

Gần đây, hai loài nhện nhỏ bắt mồi Euseius scutalis (Phytoseiidae – Acari) và

Typhlodromips swiskii (Phytoseiidae – Acari) cũng đã được ghi nhận là thiên địch của

B tabaci Chúng không chỉ ăn các loài côn trùng gây hại cây trồng mà còn ăn được

phấn hoa và mật hoa Vì vậy, trong điều kiện thiếu kí chủ chúng có thể sử dụng mô cây làm thức ăn, điều này làm ảnh hưởng đến năng suất và phẩm chất của cây trồng (Nomikou và ctv., 2003)

1.1.5.2 Nhóm nấm gây bệnh

Trên đồng ruộng, loài nấm phổ biến kí sinh B tabaci hiệu quả là

Paecilomyces fumosoroceus Các loại nấm kí sinh trên côn trùng khác cũng có hiệu

quả đối với B tabaci bao gồm Paecilomyces spp., Lecanicillium lecanii, Beauveria

bassiana và Aschersonia spp (Lawrence và ctv., 2008) Các nấm kí sinh thuộc chi Archersonia đặc biệt dùng cho bọ phấn trắng và côn trùng bộ cánh vảy có thể sử

dụng là tác nhân sinh học phòng trừ bọ phấn trắng B tabaci và T vaporariorum (Meek

và ctv., 2002) Gindin và ctv (2000) kết luận Verticillium lecanii có thể kiểm soát 98% sâu non Bemisia argentifolii Còn theo Poprawski và Jones (2001), Beauveria

95-bassiana và Paecilomyces fumosoroseus có khả năng phòng trừ tốt sâu non của bọ

phấn trắng gây hại trên các cây trồng thuộc họ bầu bí Tuy nhiên, các nấm gây bệnh không phải là tác nhân biến động, vì vậy hiệu quả của chúng có thể bị ảnh hưởng bởi phương pháp và tần số áp dụng và kết quả là tốn nhiều chi phí (Ardeh, 2004)

1.1.5.3 Nhóm ong kí sinh

Gerling và ctv (2001) đã ghi nhận có 34 loài thuộc giống Encarsia, 12 loài thuộc Eretmocerus, 2 loài thuộc Amitus, 1 loài thuộc Signiphora và Methycus là các loài ong kí sinh sâu non bọ phấn trắng Amitus fuscipennis có triển vọng trong phòng trừ bọ phấn trắng T vaporariorum ở môi trường nhà kính không quá khô hoặc quá ấm (Manzano và ctv., 2000; Devis, 2001) Loài Amitus hesperidium cùng với Encarsia opulenta đã được phóng thích tại đảo Carribean của Cộng hòa

Dominica để kiểm soát bọ phấn trắng đen trên vườn cây có múi (Martin, 1999)

Trang 25

Theo Zhang và ctv (2003, 2004), ở Trung Quốc có 19 loài ong kí sinh bọ phấn

trắng trong đó có Encarsia formosa Gahan, Encarsia pergandiella Howard và

Encarsia mundus Mercet (Aphelinidae – Hymenoptera) có tần suất xuất hiện rất

cao Encarsia formosa là loài kí sinh được sử dụng rộng rãi trên thế giới để phòng

trừ bọ phấn trắng trên các loại cây rau và cây cảnh trồng trong nhà kính (Hoddle và ctv., 1998)

1.2 Các nghiên cứu về một số loài ong kí sinh thuộc giống Encarsia

Theo Heraty và ctv (2007), giống Encarsia có 336 loài đã được ghi nhận và

mô tả trên thế giới Các loài ong kí sinh thuộc giống Encarsia có vai trò quan trọng trong kiểm soát sinh học bọ phấn trắng gồm E formosa kiểm soát bọ phấn trắng nhà lưới (van Lenteren, 1986), E inaron kiểm soát bọ phấn trắng đen (Gould và ctv., 1992) và E lahorensis kiểm soát bọ phấn trắng trên cây có múi (Argov, 1986)

Ở California (Hoa Kì), một số loài Encarsia khác đã được bổ sung để quản lí bọ phấn trắng bao gồm các loài E protransvena, E transvena đối với B tabaci và E

variegata đối với bọ phấn trắng cây có múi (Gerling và ctv, 2001)

Hiện nay, ngoài loài E formosa đã được nghiên cứu và sử dụng rộng rãi trong các chương trình kiểm soát bọ phấn trắng nhà lưới Trialeurodes vaporariorum,

những hiểu biết về đặc tính sinh học của các loài ong kí sinh khác thuộc giống

Encarsia vẫn còn rất hạn chế (Gerling và ctv., 2001)

Các loài ong thuộc giống Encarsia thuộc loại nội kí sinh đơn Con cái phát triển

trên sâu non bọ phấn trắng Con đực có thể phát triển trên cùng loại vật chủ như con cái hoặc phát triển dưới dạng kí sinh bậc hai trên các loài côn trùng kí sinh họ Aphelinidae, kí sinh trứng của côn trùng bộ cánh vảy hay các loại vật chủ khác

(Walter, 1983; Gerling, 1990b; Hunter và ctv., 1996b) Ong Encarsia spp đều kí

sinh trong cơ thể sâu non bọ phấn trắng và vũ hóa từ xác sâu non bọ phấn trắng tuổi

4 Chúng tấn công sâu non bọ phấn trắng từ tuổi 2 đến tuổi 4 và đặc biệt ưa thích đẻ trứng trên sâu non bọ phấn trắng tuổi nhỏ Ong trưởng thành vừa đẻ trứng vừa ăn thêm để tiếp tục phát triển trứng trong buồng trứng (Gerling, 1990b) Thời gian phát

Trang 26

triển vòng đời và khả năng đẻ trứng của các loài rất khác biệt và tùy thuộc vào điều

kiện môi trường Vòng đời của ong Encarsia spp kéo dài khoảng từ 12 – 25 ngày

tùy điều kiện môi trường và loại vật chủ mà ong kí sinh (Gerling và ctv., 2001) Khả

năng đẻ trứng của ong Encarsia spp thấp hơn 2 nhóm ong khác cũng kí sinh trên sâu non bọ phấn trắng là Eretmocerus spp và Amitus spp (trên 60 trứng/con cái)

(Arakawa, 1982)

Các thí nghiệm trước đây cho thấy rằng ong không thể nhận biết được cây bị nhiễm bọ phấn trắng khi cho ong tiếp xúc với quần thể gồm cây bị nhiễm và cây không bị nhiễm bọ phấn trắng (van Lenteren và Martin, 1999) Khứu giác đóng vai trò quan trọng trong việc tìm kiếm kí chủ và ong cái nhanh chóng tìm được đối tượng khi chúng bắt gặp chất mật do bọ phấn trắng tiết ra trên mặt lá (Shimron và ctv., 1992) Nghiên cứu của Shimron và ctv (1992) cũng cho thấy rằng ong có phản ứng bắt mồi rất tốt với liều lượng chất thải chỉ do 1 sâu non bọ phấn trắng tiết ra Theo Shimron và ctv (1992), khi bắt gặp chất bài tiết của sâu non bọ phấn trắng, tốc độ di chuyển của ong giảm xuống (từ 0,8 mm/s còn 0,3 mm/s) nhưng góc độ tìm kiếm tăng lên (từ 267.9o lên 979.2o/cm)

Nhiều loài ong kí sinh thuộc giống Encarsia đã được nhân nuôi thiết lập quần

thể và phóng thích ngoài đồng trong kiểm soát sinh học sâu non bọ phấn trắng

Được biết đến nhiều nhất là E formosa, loài ong thường được sử dụng phòng trừ bọ

phấn trắng trong nhà lưới (van Lenteren và Martin, 1999) Một số loài khác đã được

phóng thích để kiểm soát bọ phấn trắng B tabaci như E nigricephala, E

pergandiella và E sophia (Hoelmer, 1996; Goolsby và ctv., 2000) Quần thể sinh

sản vô tính của ong E hispida đã cho thấy triển vọng đối với việc kiểm soát sinh học

bọ phấn trắng B tabaci trên cây cà chua trồng trong nhà kính (Onillon và Maignet, 2000) Tuy nhiên, ong E pergandiella lại cho kết quả ngược lại, làm giảm lượng kí

sinh bọ phấn trắng (Onillon và ctv., 1994) Tương tự, Gabarra và ctv (1999) ghi

nhận rằng hiệu quả kí sinh của E formosa trên bọ phấn trắng nhà lưới ở vùng Địa Trung Hải bị giảm khi kết hợp phòng trừ với ong ngoại lai E pergandiella Theo Gerling và ctv (2001), sự giảm hiệu quả kí sinh khi sử dụng kết hợp 2 loài E

Trang 27

formosa và E pergandiella có thể do đặc tính kí sinh bậc hai của con đực E pergandiella lên sâu non ong họ Aphelinidae Ngược lại, Heinz và Nelson (1996) lại

cho rằng tương tác giữa E formosa và E pergandiella có thể thuận lợi cho kiểm

soát sinh học bằng việc sử dụng nguồn ong kí sinh ban đầu có khả năng thích ứng từ loại kí chủ này sang loại kí chủ khác Bográn và ctv (2002) báo cáo rằng phóng

thích đồng thời E formosa và E pergandiella đã làm giảm mức độ kí sinh vật chủ

của ong Tuy nhiên, theo Gerling và ctv (2001) mật số quần thể ong ban đầu đã tác

động dẫn đến kết quả xảy ra tương tác cạnh tranh giữa E formosa và E

pergandiella Các nghiên cứu tương tự được thực hiện bởi Hunter và ctv (2002)

cũng chỉ ra rằng hiện tượng kí sinh bậc hai của E sophia trên E eremicus có ảnh hưởng không lớn trong kiểm soát bọ phấn trắng B tabaci Điều đáng ghi nhận khác

nữa trong kết quả nghiên cứu của Mills và Gutierrez (1996) đó là chỉ trong những điều kiện cụ thể thích hợp, sự kí sinh bậc hai mới có thể phá vỡ việc kiểm soát bọ phấn trắng của nguồn ong kí sinh ban đầu

1.3 Các nghiên cứu về ong kí sinh Encarsia transvena (Aphelinidae – Hymenoptera)

Ong kí sinh E transvena được báo cáo và miêu tả đầu tiên bởi Timberlake (1926) với tên gọi Prospaltella transvena Ngoài ra, E transvena còn có tên gọi khác E sophia (Heraty và Polaszek, 2000) E transvena phân bố chủ yếu từ vùng

nhiệt đới châu Phi kéo dài sang châu Á và châu Đại Dương (Heraty và ctv., 2007)

Phổ kí chủ của E transvena chủ yếu là côn trùng thuộc họ Aleyrodidae, bộ cánh đều Homoptera trong đó có 2 loài phổ biến là B tabaci Gennadius (Polaszek và ctv., 1992; Hayat, 1989a; Gerling, 1985; Schmidt và ctv., 2001) và T vaporariorum

Westwood (Polaszek và ctv., 1992; Timberlake, 1926; Gerling, 1985; Schmidth và ctv., 2001)

Theo Huang và Polaszek (1998), trưởng thành cái của E transvena là một loại

ong nhỏ toàn thân màu vàng nhạt Râu màu vàng với đoạn cuối roi râu màu nâu vàng nhạt Cặp cánh trước và các cặp chân trong suốt Con đực sậm màu hơn con

Trang 28

cái, đặc biệt là ở một vài đốt bụng đầu tiên, phần nách giữa mảnh lưng ngực giữa, mảnh lưng ngực sau và phần phía trước của mảnh lưng ngực giữa đều có màu nâu sậm

Hình 1.1 Các đặc điểm định danh ong E transvena

(Nguồn: Huang và Polaszek)

Về đặc điểm hình thái để phân loại và định danh E transvena, Huang và

Polaszek (1998) đã mô tả là trên đầu của ong có vùng “stemmaticum” với 3 mắt đơn, 5 gai lông và những vân ngang tại vùng mắt này Râu đầu gối gồm 1 đốt cuống râu, 1 đốt chân râu và 6 đốt roi râu Các đốt roi râu từ 1 đến 6 có những vân dọc trên đốt theo thứ tự sau 0 – 1 hoặc 2 – 1 – 2 – 2 – 2 Phần giữa của mảnh lưng ngực giữa

có số gai lông sắp xếp theo công thức 4 + 2 + 2, 4 + 1 + 2 + 2 hay 4 + 2 + 2 + 2 Mỗi phần bên của mảnh lưng ngực giữa có 3 gai lông Gần vùng rìa mép sau cánh trước có 1 vùng lông mọc dài hơn các lông tơ Trên mạch phụ cánh trước có 2 gai lông, mạch chính cánh trước có từ 6 – 9 gai lông Các đốt bàn chân có cấu tạo 5 – 5 – 5 Các đốt bụng từ thứ 2 đến thứ 7 có số gai lông lần lượt 1 + 1, 1 + 1, 1 + 1, 2 +

2, 2 + 2, 4

Trang 29

Hình 1.2 Các bộ phận cơ thể của ong E transvena

a Mắt đơn, b Cánh trước, c Mảnh lưng ngực, d Bụng, e Râu đầu, f Chân giữa

(Nguồn: Huang và Polaszek) Gerling (1983) đã có những quan sát, nghiên cứu ban đầu về E transvena và

ghi nhận các con cái đã giao phối được tìm thấy hầu hết trên những lá có sâu non bọ phấn trắng tuổi nhỏ Thời gian phát triển từ trứng đến khi ong vũ hóa là 15 ngày

Cũng như các loài khác trong cùng giống, các con đực của E transvena phát triển kí sinh bậc hai trên con cái hoặc trên các loài khác cùng họ Aphelinidae như E

formosa hay E nr haldemani Hoạt động giao phối của ong diễn ra trong thời gian

ngắn sau khi vũ hóa Tỉ lệ giới tính khi điều tra trên đồng ruộng thiên về con cái, tuy nhiên tại thời điểm nghiên cứu, chưa có tính toán thống kê quần thể nào được thực hiện nên không có số liệu chính xác Gerling chỉ ghi nhận theo ước lượng cá nhân của ông thì tỉ lệ ong đực – cái trên đồng ruộng thường ở mức rất thấp 1: 33 hoặc không tìm thấy con đực nào

Các kết quả thí nghiệm của Antony và ctv (2003) cho thấy E transvena là

loại ong nội kí sinh đơn, ngoài hình thức sinh sản hữu tính còn có sinh sản đơn tính

Trang 30

toàn đực Trứng đã thụ tinh được đẻ bên trong sâu non bọ phấn trắng và phát triển thành ong kí sinh đực hoặc cái Ong đực sinh ra từ trứng không thụ tinh và phát triển dưới dạng kí sinh bậc 2 trên con cái cùng loài hoặc ong kí sinh thuộc họ Aphelinidae Sự phát triển của cá thể cái và đực đều trải qua các giai đoạn trứng, 3 tuổi sâu non, tiền nhộng và nhộng Vòng đời của ong cái từ 11,3 – 15,0 ngày và của

ong đực từ 12,1 – 14,6 ngày Ong E transvena cái có thể phát triển trên tất cả các

tuổi sâu non bọ phấn trắng nhưng tuổi kí chủ ưa thích là tuổi 3 và đầu tuổi 4 Tỉ lệ sâu non bị kí sinh cao nhất ở tuổi 3 và đầu tuổi 4, thấp nhất ở tuổi 1 và cuối tuổi 4 Nghiên cứu về cấu tạo bộ phận đẻ trứng của ong E transvena, Gerling (1998)

đã chỉ ra rằng cấu tạo máng đẻ trứng trên đã ảnh hưởng đến tập tính đẻ trứng của

ong Ong E transvena có máng đẻ trứng trên thon gọn và khá cứng chắc với những

mấu răng cưa sắc nhọn Cấu tạo thuôn nhọn và cứng chắc của máng đẻ trứng trên rất phù hợp với vai trò của một kim chích để đâm thủng cơ thể sâu non bọ phấn trắng Ngoài ra, máng đẻ trứng trên còn có tác dụng như lưỡi cưa và những mấu răng sắc nhọn giúp tăng hiệu quả khi ong cắt cơ thể kí chủ (Quicke, 1997) Hơn nữa, sự hiện diện của những chóp nhọn được bọc lớp cutin dày trên máng đẻ trứng dưới của ong cũng có tác dụng hỗ trợ cho quá trình xuyên thủng cơ thể vật chủ Kết quả trên đã giúp giải thích được những quan sát về tập tính đẻ trứng của ong

Encarsia spp của các tác giả trước Ong cái đẻ trứng bằng cách đứng trên lưng sâu

non bọ phấn trắng, dùng bộ phận đẻ trứng đâm thủng lớp cutin trên mặt lưng sâu non bọ phấn trắng và đẻ trứng vào bên trong cơ thể sâu non bọ phấn trắng (van Lenteren và ctv., 1976)

Simmon và Abd – Rabou (2005) đã nghiên cứu hiệu quả kí sinh của E

transvena đối với bọ phấn trắng B tabaci trên 3 loại cây trồng bắp cải, dưa leo và

cà tím Kết quả cho thấy hiệu quả kí sinh sâu non B tabaci của ong E transvena

trên bắp cải là cao nhất (45,7 ± 6,2 %/ tuần), tiếp theo là trên cà tím (42,7 ± 6,4%/ tuần), thấp nhất là trên dưa leo (30.7 ± 4,4%/ tuần)

Luo và Liu (2010) đã khảo sát sự tương thích kí chủ và hiệu quả phòng trừ bọ

phấn trắng của E transvena trên 2 loài T vaporariorum và B tabaci Kết quả ghi

Trang 31

nhận được ong vũ hóa từ vật chủ T vaporariorum có kích thước lớn hơn ong vũ hóa

từ vật chủ B tabaci Trong điều kiện thiếu thức ăn, tuổi thọ của ong vũ hóa từ vật chủ T vaporariorum cao hơn tuổi thọ ong vũ hóa từ vật chủ B tabaci Tuy nhiên vòng đời của E transvena khi phát triển trên 2 loại vật chủ là như nhau Hơn nữa, ong vũ hóa từ T vaporariorum kí sinh sâu non bọ phấn trắng nhiều hơn ong vũ hóa

từ B tabaci

Kết quả báo cáo về nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc trừ sâu lên ong E transvena

của Aggarwal và Brar (2006) đã cho thấy các nhóm thuốc chlorpyriphos, endosulfan và triazophos thể hiện độc tính cao đối với ong ở cả hai phương pháp xông hơi và tiếp xúc Trong khi đó, nhóm thuốc thảo dược chiết xuất từ cây neem không gây độc với

thành trùng E transvena ở phương pháp xông hơi và chỉ thể hiện độc tính đáng kể với thành trùng E transvena ở một mức liều lượng nhất định khi cho ăn trực tiếp Thêm

nữa, thuốc trừ sâu thảo dược NeemAzal T/S (1,0%) khi khảo nghiệm với liều lượng thấp (200 mg/l) không ảnh hưởng đến tỉ lệ vũ hóa của ong nhưng có sự giảm tỉ lệ vũ hóa đáng kể khi áp dụng với liều lượng cao hơn (800 mg/l)

(2) Mật số kí sinh tăng lên khi mật số vật chủ tăng

Holling gọi 2 tác động này của quần thể kí sinh đối với vật chủ dưới 2 dạng phản ứng khác nhau là phản ứng chức năng (1) và phản ứng số lượng (2)

1.4.1 Phản ứng chức năng

Holling (1959) đã đề ra phương trình phản ứng chức năng mà cho đến nay trở nên rất phổ biến đối với các nhà sinh thái học Phương trình này thường được

Trang 32

gọi là “phương trình đĩa” (“disc equation”) vì Holling đã sử dụng các đĩa giấy để ước lượng vùng tìm kiếm của loài kí sinh Xét về mặt toán học, phương trình này tương đương với phương trình “enzyme kinetics” được phát triển bởi Lenor Michaelis và Maude Menten năm 1913

Phương trình này minh họa chủ yếu về thời gian trong sinh thái hành vi của động vật Qua đó, tác giả cho rằng một con ki sinh dành thời gian của nó cho 2 hoạt động chính

 Thời gian tìm kiếm vật chủ

 Thời gian kí sinh lên vật chủ bao gồm các hoạt động: săn đuổi, giết và

kí sinh

Sự kí sinh bị giới hạn trong phương trình này vì nếu mật số vật chủ rất dồi dào đến mức không tốn thời gian cho việc tìm kiếm, con ki sinh vẫn phải cần thời gian để kí sinh lên vật chủ

Như vậy, tổng thời gian mà một con kí sinh dành ra trong hoạt động kí sinh của chúng bằng thời gian tìm kiếm cộng với thời gian kí sinh con mồi Ta có phương trình

Sự tìm kiếm và kí sinh lên vật chủ được cho là một quá trình ngẫu nhiên Một con kí sinh thực hiện tìm kiếm trên một vùng diện tích a trong một đơn vị thời gian (ở đây chỉ tính thời gian tìm kiếm) và kí sinh lên tất cả vật chủ được tìm thấy trên diện tích đó Vùng diện tích giới hạn a thường được gọi là “vùng truy tìm”, tuy nhiên nó cũng được gọi là “mức tìm kiếm”

Trang 33

Sau khi dành thời gian Ttìm kiếm để tìm kiếm vật chủ, con kí sinh kiểm tra trên vùng diện tích = a Ttìm kiếm và kí sinh a.H Ttìm kiếm vật chủ trong đó H là mật số vật chủ trên một đơn vị diện tích

Ha

T = Ttìm kiếm + Tkí sinh = Ha.Th + -

a.H Trong đó H là mật số vật chủ, Ha là số vật chủ bị kí sinh, Th là thời gian để tìm kiếm

Hàm số này biểu thị số lượng vật chủ bị kí sinh bởi 1 con kí sinh ở các mật số vật chủ khác nhau Đây là dạng đồ thị điển hình của phản ứng chức năng cho rất nhiều loài kí sinh và ăn mồi Khi mật số vật chủ thấp, con kí sinh dành hầu hết thời

Trang 34

gian để tìm kiếm, ngược lại, khi mật số vật chủ cao, con kí sinh dành hầu hết thời gian để kí sinh lên vật chủ

Holling (1959) cũng đưa ra 3 dạng đồ thị điển hình của phản ứng chức năng

Đồ thị loại I là phản ứng chức năng được tìm thấy ở các loài ăn mồi thụ động như nhện Số lượng ruồi bị bắt trên lưới nhện tỉ lệ với mật số ruồi trong quần thể Số con mồi chết do sự tiêu thụ là hằng số

Đồ thị loại II là phản ứng chức năng điển hình nhất và tương ứng với phương trình trên Mức tìm kiếm a là hằng số Đoạn đồ thị bằng thể hiện sự bão hòa về mật

số con ăn mồi Số lượng con mồi chết giảm dần cùng với mật số con mồi Ở dạng

đồ thị này, con ăn mồi giết được số con mồi lớn nhất khi mật số con mồi thấp Ví

dụ, các động vật có vú nhỏ tiêu diệt hầu hết nhộng của ngài sâu róm trong quần thể chỉ có rất ít ngài sâu róm Tuy nhiên trong quần thể với mật độ lá rụng cao, các động vật có vú nhỏ giết một lượng nhỏ ngài sâu róm tỉ lệ với số nhộng

Đồ thị loại III là phản ứng chức năng thường xảy ra với động vật kí sinh có tập tính tăng hoạt động tìm kiếm khi mật số vật chủ tăng Nhiều loài kí sinh có phản ứng với kairomone (chất thải của vật chủ) và tăng cường hoạt động của chúng Lúc đầu số vật chủ chết tăng khi mật số vật chủ tăng, và sau đó giảm dần

Nếu mật số con kí sinh là hằng số thì chúng ta chỉ có thể điều chỉnh mật số vật chủ nếu như chúng ta có phương trình phản ứng chức năng loại III vì chỉ với phương trình loại này thì số lượng vật chủ chết tăng khi mật số vật chủ tăng lên Tuy nhiên, khi điều chỉnh mật số vật chủ, cần chú ý đến tác động kí sinh lên vật chủ của con kí sinh

Trang 35

Tác động này chỉ có hiệu quả, tức là số vật chủ bị kí sinh ngày càng tăng khi mật số vật chủ trong một khoảng giới hạn nhất định Nếu mật số vật chủ vượt quá ngưỡng trên của khoảng giới hạn, tỉ lệ chết của vật chủ bắt đầu giảm dần và sự kí sinh lên vật chủ sẽ gây ra hiệu ứng ngược Kết quả là, số lượng vật chủ sẽ vượt ngoài tầm kiểm soát Chúng sẽ phát triển ngày càng đông đúc về số lượng cho đến khi những yếu tố khác (bệnh tật hay sự khan hiếm thức ăn) cản trở sự sinh sản của chúng

1.4.2 Phản ứng số lượng

Phản ứng số lượng của ong kí sinh nêu lên rằng số lượng kí sinh sẽ tăng lên khi mật số vật chủ tăng Tuy nhiên, cụm từ “phản ứng số lượng” (numerical response) ít nhiều gây khó hiểu cho người đọc bởi vì kết quả của phản ứng này được suy ra từ 2 giả thuyết khác nhau

- Mức sinh sản của kí sinh tăng khi lượng vật chủ dồi dào

- Sự thu hút con kí sinh khi có sự tập hợp đông đúc của vật chủ (“phản ứng tập hợp”)

Mức sinh sản tự nhiên của con kí sinh phụ thuộc vào mức đẻ trứng của nó

Số vật chủ bị tiêu diệt càng nhiều, năng lượng tạo ra càng nhiều để cung cấp cho con kí sinh sử dụng cho hoạt động sinh sản của chúng Mức tử vong của con kí sinh cũng giảm khi lượng vật chủ bị kí sinh tăng

Mô hình toán học đơn giản nhất về phản ứng chức năng của con kí sinh dựa trên sự kí sinh lên vật chủ sử dụng cho hoạt động sinh sản của con kí sinh tỉ lệ với

số lượng vật chủ được tiêu thụ Điều này giống như việc chuyển đổi tương đương từ

số vật chủ được tiêu thụ thành một con kí sinh mới Ví dụ khi có 10 vật chủ kí sinh thì 1 con kí sinh mới được sinh ra

Sự tập trung nhiều con kí sinh ở khu vực có mật số vật chủ cao thường gọi là

“phản ứng tập hợp” (“agregrational response”) Thuật ngữ này tốt hơn “phản ứng chức năng” vì ý nghĩa của nó không quá mơ hồ Phản ứng tập hợp có vai trò rất quan trọng trong nhiều hệ thống quan hệ giữa kí sinh và vật chủ Con kí sinh được lựa chọn sử dụng cho kiểm soát sinh học côn trùng gây hại phải có phản ứng tập hợp mạnh, nếu không chúng không thể ngăn chặn sự phát triển của quần thể vật chủ Phản ứng tập hợp cũng làm tăng tính ổn định hệ thống phân phối trong không gian giữa kí sinh và vật chủ

Trang 36

Chương 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Nội dung nghiên cứu của đề tài

Nội dung 1: Điều tra thành phần ong ký sinh sâu non bọ phấn trắng hại rau tại

Thành phố Hồ Chí Minh

Nội dung 2: Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học của ong ký sinh Encarsia

transvena (Aphelinidae - Hymenoptera) tại thành phố Hồ Chí Minh

2.2 Thời gian và địa điểm

2.2.1 Thời gian

Đề tài được nghiên cứu từ tháng 01 năm 2011 đến tháng 08 năm 2011

2.2.2 Địa điểm

- Điều tra thành phần ong ký sinh sâu non bọ phấn trắng tại các vùng trồng

rau huyện Củ Chi – Thành phố Hồ Chí Minh

- Tiến hành nhân nuôi bọ phấn trắng và ong ký sinh tại trại thực tập nông học – Khoa Nông học trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh

- Các thí nghiệm được tiến hành trong phòng thí nghiệm côn trùng – Bộ Môn Bảo

vệ Thực vật – Khoa Nông học – Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh

2.3 Vật liệu và phương tiện nghiên cứu

Vật liệu nghiên cứu: Bọ phấn trắng, ong ký sinh, cây ký chủ

Phương tiện nghiên cứu: Kính lúp soi nổi, máy ảnh kỹ thuật số, lồng lưới, đĩa petri, giấy thấm, nhíp, thước, mật ong, cồn

Điều kiện môi trường: Nhiệt độ 30 ± 2OC, ẩm độ 65 ± 5%, ánh sáng 12L:12D

Trang 37

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Điều tra thành phần ong ký sinh sâu non bọ phấn trắng B tabaci

Điều tra thành phần ong ký sinh sâu non bọ phấn trắng được thực hiện theo phương pháp của Phạm Văn Lầm (1997), tiến hành điều tra theo phương pháp tự do không cố định điểm (càng nhiều càng tốt)

Thời gian thu thập mẫu từ tháng 01/2011 đến tháng 04/2011 tại các vùng sản xuất rau huyện Củ Chi Thành phố Hồ Chí Minh

+ Phương pháp thực hiện:

Phương pháp thu mẫu: Chọn những ruộng cà tím, dưa leo, ớt gần tàn không xịt thuốc Tiến hành thu thập sâu non bọ phấn trắng có dấu hiệu bị ong ký sinh Đem sâu non về phòng thí nghiệm tiếp tục nuôi và theo dõi ngày vũ hóa, ghi nhận

số bọ phấn trắng và ong vũ hóa Những loài ong ký sinh vũ hóa từ các mẫu điều tra chọn ra loài có tần suất xuất hiện thường xuyên và số lượng chiếm ưu thế trong các đợt điều tra, nhân nuôi và tiến hành thí nghiệm Các loài ong còn lại ngâm mẫu trong cồn 70o và ghi ký hiệu để phục vụ công tác định danh

Phương pháp định danh: Mẫu ong ký sinh được định danh theo tài liệu của Polaszek và Zolnerowich kết hợp với tiến sĩ Trần Thị Thiên An tại bộ môn Bảo vệ Thực vật – trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh

+ Chỉ tiêu theo dõi: Thành phần và tỷ lệ ong ký sinh sâu non bọ phấn trắng

Tần suất xuất hiện đối với mỗi loài

2.4.2 Nhân nuôi vật chủ và ký sinh

Nhân nuôi bọ phấn trắng B tabaci

+ Mục đích: thu được nguồn bọ phấn trắng “sạch” có cùng độ tuổi làm vật

chủ cho ong kí sinh

+ Phương pháp thực hiện:

Tiến hành trồng cây cà tím trong ly nhựa để vào lồng lưới Khi cây có 3 – 4

lá thật thì sử dụng làm cây kí chủ để nhân sinh khối sâu non bọ phấn trắng

Trang 38

Cho bọ phấn trắng trưởng thành đã bắt cặp tiếp xúc với cây ký chủ đã nhiễm

bọ phấn trắng trong vòng 24h Thay cây ký chủ hàng ngày để trứng bọ phấn trắng

có cùng ngày tuổi trên cây kí dùng làm thí nghiệm

Nhân nuôi ong kí sinh E transvena

+ Mục đích: thu được nguồn ong có cùng ngày tuổi để tiến hành thí nghiệm

Tách riêng những ong E transvena vũ hóa cùng ngày tuổi, đã bắt cặp được

ăn thêm và cho ong tiếp xúc với vật chủ là sâu non bọ phấn trắng để nhân sinh khối ong kí sinh làm vật liệu cho thí nghiệm

Hình 2.1 Sâu non bọ phấn trắng bị ong kí sinh trên lá cà tím

Hình 2.2 Lồng thu ong kí sinh

 

Trang 39

2.4.3 Thí nghiệm xác định vòng đời của ong E transvena

+ Mục đích: Biết được chu kỳ phát triển của ong ký sinh từ đó có thể tính

toán được thời gian phóng thích và khoảng cách giữa mỗi lần phóng thích Vòng đời của ong ký sinh tính từ giai đoạn trứng của ong kí sinh được đẻ vào sâu non bọ phấn trắng đến giai đoạn ong vũ hóa bắt đầu đẻ trứng kí sinh trở lại

+ Vật liệu: Ong đã bắt cặp, sâu non bọ phấn trắng tuổi 3

+ Phương pháp: Tiến hành cho ong mới vũ hóa 2 – 3h đã bắt cặp vào lồng tiếp xúc với sâu non bọ phấn trắng tuổi 3, mỗi lồng một cặp ong (càng nhiều càng tốt, đảm bảo số lượng mẫu cần thiết để giải phẫu) Sau 24h tiếp xúc, di chuyển kí chủ ra khỏi lồng và thay kí chủ mới Mỗi ngày giải phẫu 10 sâu non bọ phấn trắng bị kí sinh

để quan sát các giai đoạn phát triển của ong kí sinh dưới kính lúp soi nổi xác định thời

điểm trứng nở, sâu non, nhộng và trưởng thành, từ đó xác định được vòng đời của ong

+ Chỉ tiêu theo dõi: Ghi nhận thời gian phát dục các pha trứng, sâu non,

nhộng, trưởng thành và vòng đời của ong E transvena

2.4.4 Phương pháp nghiên cứu một số đặc điểm hình thái của ong E transvena

+ Mục đích: xác định chính xác tên loài, vị trí phân loại của ong E transvena

+ Vật liệu: thành trùng đực và cái của ong E transvena, trứng, sâu non tuổi

1, tuổi 2, tuổi 3 và nhộng của ong E transvena, kính lúp soi nổi

+ Phương pháp thực hiện:

Kết hợp với nghiên cứu vòng đời của ong ký sinh E transvena mục 2.4.4 Sử

dụng kính lúp soi nổi quan sát số lượng trứng, mô tả hình thái, đo đếm kích thước

và tính thời gian phát dục của ong ký sinh

+ Chỉ tiêu theo dõi:

Trưởng thành: Quan sát các bộ phận trên cơ thể: râu, mạch cánh, mắt, lưng, bụng, chân, màu sắc…, phân biệt đực cái

Trứng: Hình dạng, kích thước, màu sắc

Sâu non: Hình dạng, kích thước, màu sắc, đặc điểm bên ngoài

Trang 40

2.4.5 Thí nghiệm xác định ảnh hưởng của thức ăn đến tuổi thọ của ong ký sinh E

transvena

+ Mục đích: xác định được thức ăn thêm có hiệu quả gia tăng tuổi thọ của ong trong điều kiện không tiếp xúc với kí chủ

+ Vật liệu: ong E transvena đực và cái vừa vũ hóa, nước lã, đường, mật ong

+ Phương pháp thực hiện: thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn tòan ngẫu nhiên đơn yếu tố với 5 nghiệm thức (NT), 10 lần lặp lại

Tiến hành thí nghiệm đối với cả ong đực và ong cái

+ Chỉ tiêu theo dõi: tuổi thọ trung bình của ong đực và ong cái (ngày)

Hình 2.3 Bố trí thí nghiệm ảnh hưởng của thức ăn đến tuổi thọ ong E transvena

Ngày đăng: 14/03/2019, 10:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w