1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÌNH HÌNH NHIỄM CẦU TRÙNG TRÊN THỎ Ở HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TIỀN GIANG VÀ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ CỦA MỘT SỐ THUỐC

107 163 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 1,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT Đề tài "Tình hình nhiễm cầu trùng trên thỏ ở huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang và hiệu quả điều trị của một số thuốc" được thực hiện từ tháng 2 năm 2007 đến tháng 8 năm 2008 tại

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

******************

TRẦN HOÀNG DIỆP

TÌNH HÌNH NHIỄM CẦU TRÙNG TRÊN THỎ

Ở HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TIỀN GIANG

VÀ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ CỦA MỘT SỐ THUỐC

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Thành phố Hồ Chí Minh, Tháng 11/2010

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

******************

TRẦN HOÀNG DIỆP

TÌNH HÌNH NHIỄM CẦU TRÙNG TRÊN THỎ

Ở HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TIỀN GIANG

VÀ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ CỦA MỘT SỐ THUỐC

Trang 3

ABSTRACT

The survey of “Situation of coccidiose infection on rabbits in Chau Thanh district Tien Giang province and the efficiency of some anticoccidial drugs” was carried out from February 2007 to August 2008 in Chau Thanh district of Tien Giang province By the survey method of interview and examination of 500 rabbit fecal samples at the four group of ages, necropsy of 20 rabbits which were infected and usage of sulfaquinoxaline and toltrazuril for 60 rabbits from 1 to 2 months old

The rabbits raising in Chau Thanh district were mainly cross bred rabbits The rabbits were fed with raw feedings and fine sharps The rabbits are kept in rabbitry withtrough which was convenient for cleaning However, the sterilization was not performed on a regular basis

11 species of Eimeria were found including E piriformis, E flavescens, E.vejdovskyi, E coecicola, E intestinalis, E media, E exigua, E irresidua, E.magna, E perforans and E stiedai The highest rate of infection is E perforans (53.60%) and the lowest is E piriformis (11.40%) The total prevalance is 81.20%,

the young rabbits are the higher rate of infection, the younger rabbits have the more severe detected infection than the older rabbits The rabbits fewer than 1 month old

have species mixed infection from 4 to 6 and at the other age ranges from 1 to 3

The higher rate of infection falls into rainy season (80.53%) while it is 70.50% in

the dry season

Macrocopie lesion in liver and intestine was not clear Microcopie lesion was light

Toltrazuril at a single doses of 25mg/kg was efficacy againt coccidiosis (97,25%) and sulfaquinoxaline at the doses of 30mg/kg twice a day on three days was effective to treatment (83,35%)

Trang 4

Từ tháng 4 năm 2001 đến tháng 4 năm 2005: công tác tại xí nghiệp bò sữa

An Phước – xã Tam Phước huyện Long Thành tỉnh Đồng Nai Chức vụ: cán bộ kỹ thuật

Từ tháng 8 năm 2006 đến nay công tác tại Trường Đại học Tiền Giang Chức vụ: Giảng viên

Tháng 9 năm 2006 theo học Cao học ngành thú y tại trường đại học Nông Lâm, Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh

Tình trạng gia đình: vợ Đàm Thị Kim Yến kết hôn năm 2003, các con Trần Thanh Thảo Nguyên – sinh 2003, Trần Hoàng Bách – sinh 2005

Điạ chỉ liên lạc: khoa Nông Nghiệp trường Đại học Tiền Giang

Điện thoại: 0988331406 – 073.6545400

Email: hbach_2005@yahoo.com

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Trần Hoàng Diệp

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Chân thành cảm ơn quý thầy cô Khoa Chăn Nuôi Thú Y, Phòng Đào Tạo Sau Đại Học, đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập, hoàn thành đề tài nghiên cứu này

Chân thành cảm ơn TS LÊ HỮU KHƯƠNG đã hướng dẫn và giúp đỡ tôi thực hiện luận văn tốt nghiệp

Chân thành cảm ơn và chia sẻ những thành quả đạt được với: BS Dưu Thị Mai Phương, BS Nguyễn Thị Như Nguyện

Trang 7

TÓM TẮT

Đề tài "Tình hình nhiễm cầu trùng trên thỏ ở huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang và hiệu quả điều trị của một số thuốc" được thực hiện từ tháng 2 năm 2007 đến tháng 8 năm 2008 tại huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang Bằng phương pháp điều tra qua phỏng vấn và xét nghiệm 500 mẫu phân thỏ ở 4 lứa tuổi, mổ khám 20 thỏ và sử dụng sulfaquinoxaline, toltrazuril tẩy trừ cho 60 thỏ từ 1 đến 2 tháng tuổi

Giống thỏ được nuôi chủ yếu ở huyện Châu Thành là thỏ lai Thỏ được cho

ăn cả thức ăn xanh và thức ăn tinh Đa số là chuồng lồng có máng ăn nên vệ sinh tương đối thuận lợi, tuy nhiên việc sát trùng chưa thường xuyên

Có 11 lòai cầu trùng được định danh: E piriformis, E flavescens, E

vejdovskyi, E coecicola, E intestinalis, E media, E exigua, E irresidua, E magna,

E perforans và E stiedae Tỷ lệ nhiễm cao nhất là loài E perforans (53,60%) và thấp nhất là E piriformis (11,40%) Tỷ lệ nhiễm cầu trùng toàn đàn là 81,2%, tỷ lệ

và cường độ nhiễm tỷ lệ nghịch với tuổi thỏ Thỏ dưới 1 tháng tuổi thường nhiễm ghép từ 4 – 6 loài và các lứa tuổi còn lại thường nhiễm từ 1 – 3 loài Mùa mưa tỷ lệ nhiễm cầu trùng cao hơn (80,53%), mùa khô (70,50%)

Bệnh tích đại thể không biểu hiện rõ Bệnh tích vi thể nhẹ (50% trên gan và 53,33% trên ruột

Tottrazuril uống 1 liều duy nhất, 25mg/kg thể trọng có hiệu quả tẩy trừ tốt (tỷ lệ giảm noãn nang (97,25%) Sulfaquinoxaline liều 30mg/kg thể trọng, uống 2 lần liên tục trong 3 ngày cũng có kết quả tốt (tỷ lệ giảm noãn nang chỉ đạt 83,35%)

Trang 8

và Phát Triển Nông Thôn có nhiều chủ trương phát triển đàn thỏ ở tỉnh nhà, cụ thể

là đã kết hợp với dự án Heifer nhập một số giống thỏ thuần từ nước ngoài về để lai tạo với giống thỏ địa phương nhằm nâng cao năng suất trong chăn nuôi thỏ Trung Tâm Khuyến Nông khuyến khích hộ chăn nuôi thỏ bằng nhiều hình thức như: hỗ trợ chi phí mua giống thỏ; cung cấp cỏ giống; tập huấn cho nông dân cách chăm sóc và phòng trị bệnh cho thỏ Vì vậy, nhiều hộ nông dân đã mạnh dạn đầu tư, mở rộng quy mô chăn nuôi thỏ và xem chăn nuôi thỏ là nguồn thu nhập chính của gia đình

Bên cạnh những thuận lợi trên, nghề chăn nuôi thỏ hiện nay cũng gặp không

ít khó khăn, nhất là việc phòng và trị các bệnh trên thỏ Trong đó, bệnh do cầu trùng gây ra là một trong những bệnh gây thiệt hại nặng cho nghề chăn nuôi thỏ

Cho đến hiện nay, người ta đã định danh được 14 loài cầu trùng ở thỏ, đa số

ký sinh ở ruột chỉ có một loài Eimeria stiedae gây bệnh ở trên gan Tuy nhiên,

không phải loại cầu trùng nào cũng gây bệnh nặng, mức độ bệnh phụ thuộc vào độc lực của từng loài và cường độ nhiễm của chúng Do đó, thỏ nhiễm cầu trùng thường

ít có biểu hiện lâm sàng rõ rệt nhất là thỏ lớn Tình hình trên không những gây thiệt hại nặng cho các nhà chăn nuôi mà còn làm ảnh hưởng đến sự phát triển mở rộng thị trường tiêu thụ thỏ ở nước ta

Một trong những vấn đề cần được quan tâm đối với bệnh cầu trùng là biện pháp phòng và trị bệnh Ngoài vệ sinh chuồng trại, nâng cao sức đề kháng nhằm giảm thiểu tỷ lệ bệnh thì việc sử dụng thuốc để phòng và trị là quan trọng Bệnh cầu

Trang 9

Hiện nay thuốc đặc trị cầu trùng thỏ không nhiều cũng như liều lượng và thời gian

sử dụng thuốc chưa được nghiên cứu kỹ Hộ chăn nuôi thỏ thường sử dụng thuốc trị cầu trùng của các loài gia súc, gia cầm để điều trị nên kết quả điều trị chưa cao Do

đó, việc lựa chọn loại thuốc và liều lượng để đạt hiệu quả nhất là vấn đề cần được quan tâm và nghiên cứu

Để giúp cho nghề chăn nuôi thỏ ở huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang phát triển cần phải có những nghiên cứu và điều tra về tình hình nhiễm cầu trùng cũng như biện pháp điều trị bệnh hiệu quả

Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi thực hiện đề tài “ Tình hình nhiễm cầu trùng trên thỏ ở huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang và hiệu quả điều trị của một số thuốc”

1.2 Mục tiêu và yêu cầu

1.2.1 Mục tiêu

Đánh giá tình hình nhiễm cầu trùng thỏ ở các hộ chăn nuôi huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang và hiệu quả của một số loại thuốc để có biện pháp phòng ngừa bệnh cầu trùng thích hợp, giúp nâng cao năng suất trong chăn nuôi thỏ thúc đẩy nghề chăn nuôi thỏ ở Tiền Giang phát triển tốt hơn

1.2.2 Yêu cầu

- Định danh các loại cầu trùng nhiễm trên thỏ

- Xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng theo tuổi, mùa, quy mô chăn nuôi trên đàn thỏ ở huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang

- Khảo sát bệnh tích đại thể và vi thể trên gan, ruột bị nhiễm cầu trùng

- Đánh giá hiệu quả phòng trị của sulfaquinoxaline và toltrazuril

Trang 10

Chương 2

TỔNG QUAN

2.1 Điều kiện tự nhiên và tình hình nuôi thỏ tại Huyện Châu Thành Tỉnh Tiền Giang

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

Tiền Giang là tỉnh thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, nằm cách Thành Phố Hồ Chí Minh khoảng 75 km về phía Tây Nam Tiền Giang có 2 trung tâm hành chính là Thị xã Gò Công và Thành Phố Mỹ Tho với 7 huyện thị: Châu Thành, Chợ Gạo, Gò Công Tây, Tân Phước, Cai Lậy, Cái Bè, Tân Phú Đông Tiền Giang có diện tích không lớn (2366,6 km2) trải dài từ Tây sang Đông dọc theo tả ngạn sông Tiền Với số dân khoảng 1.6 triệu, phần lớn làm nông nghiệp (88,5%), điều đó nói lên rằng kinh tế của Tiền Giang hiện nay chủ yếu vẫn là kinh tế nông nghiệp

Huyện Châu Thành nằm ở phía Tây của Tỉnh Tiền Giang cách thành phố Mỹ Tho 12 km và cách Thành Phố Hồ Chí Minh 60 km Phía Đông giáp thành phố Mỹ Tho và huyện Chợ Gạo, phía Tây giáp huyện Cai Lậy, phía Bắc giáp huyện Tân Phước và tỉnh Long An, phía Nam giáp tỉnh Bến Tre, ngăn cách bởi sông Cửu Long

Huyện Châu Thành có 25 đơn vị hành chính với 24 xã và thị trấn, có quốc lộ 1A chạy dài xuyên từ Đông sang Tây dài khoảng 27,54 km nối thành phố Hồ Chí Minh với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long Huyện có diện tích tự nhiên là 2.257

km2, dân số: 252.122 người

Điều kiện khí hậu: khí hậu nhiệt đới gió mùa chia làm hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa nắng Lượng mưa hàng năm vào khoảng 1.400 - 1.450 mm kéo dài từ tháng 4 đến tháng 11, tập trung nhiều nhất từ tháng 8 đến tháng 10 nên nhiệt độ luôn ổn định vào khoảng 27 - 29oC, ẩm độ vào khoảng 70,8%

Trang 11

2.1.2 Tình hình chăn nuôi thỏ tại huyện Châu Thành

Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã hợp tác với chương trình Hiefer nhập một số giống thỏ thuần từ nước ngoài về để lai tạo cho đàn thỏ địa phương Trong đó trang trại chăn nuôi thỏ Thái Hòa đóng trên địa bàn Huyện Châu Thành là nơi nhận thỏ để nhân giống cung cấp giống cho thị trường Trung tâm Khuyến Nông chọn huyện Châu Thành là nơi trình diễn mô hình chăn nuôi thỏ nhằm phát triển mô hình này cho các huyện lân cận

Huyện đã xây dựng được lò mổ thỏ tập trung, đây là nơi tập trung thu mua và giết mổ lớn nhất tỉnh, được sự kiểm soát chặt chẻ của cơ quan thú y từ lúc thỏ nhập đến giết thịt nên được các nhà hàng có uy tín ở Thành phố Hồ Chí Minh chấp nhận

Được sự khuyến khích và nhận thức được hiệu quả chăn nuôi thỏ, nhiều hộ nông dân đã chuyển từ chăn nuôi gia cầm sang nuôi thỏ, đặc biệt là sau dịch cúm gia cầm Một nông hộ đã đầu tư với quy mô lớn trên 1.000 thỏ nhằm cung cấp thỏ giống cho các hộ chăn nuôi và tổ chức thu mua, giết mổ thỏ thịt để phân phối cho thị trường

2.2 Bệnh cầu trùng thỏ

Bệnh cầu trùng là một bệnh do nguyên sinh động vật gây ra thuộc

Ngành Protozoa Lớp Sporozoa

ký sinh và bệnh tích do cầu trùng gây ra, cầu trùng trên thỏ được chia làm 2 loại: cầu trùng ở gan và cầu trùng ở ruột danh

Cầu trùng ở ruột

- Eimeria perforans (Leuckart, 1897) Sluiter and Swellengrebel, 1912

Trang 12

Eimeria stiedae (Lindenmann, 1865) Kisskalt và Hartmann, 1907

Eimeria là loại động vật đơn bào chỉ quan sát được dưới kính hiển vi Dựa vào hình dạng, màu sắc, kích thước, cấu tạo của phôi bào bên trong người ta có thể

phân biệt được các loài Eimeria

Oocyst của Eimeria được cấu tạo bởi 2 lớp vỏ, với nhiều hình dạng khác

nhau: hình bầu dục, hình tròn, hình ellip, hình thoi… có hay không có thể cặn

Trang 13

2.2.1 Hình thái

Hình 2.1 Hình dạng một số noãn nang của cầu trùng

(Eckert, 1995)

Trang 14

Bảng 2.1 Đặc điểm noãn nang của các loài cầu trùng phổ biến trên thỏ

Màu sắc Hình dạng Kích thước (µm) Micropile OR SR

OR: Oocyst residua (thể cặn trong noãn nang)

SR: Sporocyst residua (thể cặn trong bào tử)

2.2.2 Dịch tễ

Mầm bệnh được truyền trực tiếp qua đường tiêu hóa Noãn nang gây nhiễm

từ môi trường ngoài theo thức ăn, nước uống vào đường tiêu hóa và phát triển ở thành tế bào biểu mô ruột hoặc ống dẫn mật của thỏ Các yếu tố như điều kiện chăn nuôi, lứa tuổi của thỏ, mùa vụ chăn nuôi đều có ảnh hưởng đến tỷ lệ bệnh và tỷ lệ chết do bệnh cầu trùng trên thỏ Theo Gill và Gay (1960), bệnh cầu trùng là bệnh quan trọng đối với thỏ, có tỷ lệ chết cao đặc biệt là trong và sau mùa mưa Thỏ lớn

và thỏ sinh sản, khi bị nhiễm cầu trùng tuy không biểu hiện triệu chứng rõ ràng

Trang 15

nhưng chúng có vai trò quan trọng trong việc lây truyền bệnh, nhất là cho thỏ con mới đẻ Thỏ con chết vì bệnh cầu trùng phụ thuộc vào mức độ nhiễm nặng hay nhẹ của thỏ trưởng thành Theo Bull (1958), Wang và Tsai (1991), thỏ trưởng thành bị bệnh không nặng nhưng chúng là nguồn gây bệnh và làm tăng tỷ lệ chết ở thỏ non Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996), nếu đàn thỏ lớn mắc bệnh nhẹ thì tỷ lệ thỏ con chết là 6%; nếu đàn thỏ lớn mắc bệnh trung bình, tỷ lệ thỏ con chết là 17%

và đàn thỏ lớn mắc bệnh nặng thì tỷ lệ thỏ con chết là 78% Một số loài động vật (ruồi, mèo, chuột…) là vật trung gian làm lây lan bệnh cầu trùng từ đàn thỏ này sang đàn thỏ khác Thức ăn, dụng cụ chăn nuôi như chổi quét chuồng, máng ăn, máng uống đóng vai trò nhất định trong việc truyền bệnh … Chuồng thỏ có đáy lồng bằng lưới lỗ quá nhỏ làm cho phân không thể lọt hết xuống nền chuồng nên các noãn nang có thể dính và tồn tại Thỏ là động vật gậm nhấm, hay cắn phá nên dễ nhiễm bệnh Ngoài ra khi thức ăn rơi vãi xuống đáy lồng, thỏ ăn lại cũng có thể nhiễm bệnh Người trực tiếp chăn nuôi cũng có vai trò phát tán mầm bệnh Khi chăm sóc thỏ, nhất là những thỏ bệnh hoặc đi từ chuồng này sang chuồng khác mà không vệ sinh sát trùng chân tay Một số trường hợp xét nghiệm đã tìm thấy noãn nang trong nước rữa tay của công nhân nuôi thỏ

2.2.3 Vòng đời

Theo Kolapxki và Paskin (1980), cầu trùng gây bệnh có vòng đời phức tạp đặc trưng qua 3 giai đoạn phát triển: sinh sản vô tính (Schizogony), sinh sản hữu tính (Gametogony) và sinh sản bào tử (Sporogony) Hai giai đoạn đầu phát triển trong tế bào biểu bì ruột gọi là chu kỳ nội sinh, giai đoạn thứ 3 diễn ra ở bên ngoài môi trường gọi là chu kỳ ngoại sinh

Giai đoạn sinh sản vô tính

Khi con vật ăn phải oocyst gây nhiễm, vỏ noãn nang bị tiêu hủy ở ruột và giải phóng sporocyst Các sporozoite bên trong được kích hoạt khi được hoạt hóa bởi dịch mật và trypsin Các sporozoite thoát ra khỏi sporocyst và xâm nhập vào tế bào biểu mô rồi tiến hành sinh sản vô tính Sporozoite cuộn tròn để tạo thành schizont chứa nhiều meroite

Trang 16

Mỗi meroite chứa khoảng 900 merozoite, sau đó chúng phá vỡ tế bào ruột hoàn thành giai đoạn sinh sản thế hệ 1 Các merozoite được sinh ra xâm nhập vào một tế bào mới lại tiếp tục sinh sản vô tính cho ra nhiều merozoite thế hệ 2 Một số merozoite thế hệ 2 xâm nhập vào tế bào biểu mô mới và tiến hành sinh sản vô tính tạo thành các merozoite thế hệ 3 Quá trình sinh sản vô tính có thể lặp lại nhiều lần

và xảy ra kế tiếp nhau Số thế hệ merozoite hình thành tùy từng loài cầu trùng Phần lớn merozoite thế hệ 2 xâm nhập vào tế bào biểu mô lân cận và bắt đầu quá trình

sinh sản hữu tính

Giai đoạn sinh sản hữu tính

Merozoite sẽ phát triển thành macrogametocyte (macrogamont) tiền giao tử cái Mỗi một merozoite tạo ra một macrogamont nằm dưới nhân tế bào biểu mô sau

đó phát triển thành giao tử cái (macrogamete) Số khác xâm nhập vào biểu mô ruột tạo thành microgamont sau đó phát triển thành microgamete (giao tử đực) Có rất nhiều các giao tử đực sinh ra từ các mirogamont, giao tử đực có 2 roi phá vỡ tế bào, xâm nhập vào tế bào có giao tử cái và thụ tinh tạo thành hợp tử (zygote) Hợp

tử phát triển thành noãn nang (Oocyst) và phá vỡ tế bào biểu mô của vật chủ theo phân ra ngoài

Giai đoạn hình thành bào tử

Các noãn nang cùng với phân ra ngoài cơ thể và phát triển ở môi trường bên ngoài Ở môi trường bên ngoài khi gặp những điều kiện thuận lợi nhất định như nhiệt độ, ẩm độ, oxy … tế bào chất của noãn nang trứng bắt đầu phân chia và phát triển sporocyst Bên trong sporocyst lại hình thành 2 sporozoite dạng lưỡi liềm Như

vậy trong quá trình sinh sản bào tử trong noãn nang, cầu trùng giống Eimeria tạo ra

4 sporocyst và mỗi bào tử có 2 sporozoite

Trang 17

Hình 2.2: Vòng đời của cầu trùng

(www.inra.fr/these/theseintegrale/these/renaux/html)

Thời gian nung bệnh và vị trí kí sinh của các loài cầu trùng trên thỏ

- Eimeria coecicola: Thời kỳ nung bệnh là 7 - 9 ngày, kí sinh ở hồi tràng

- Eimeria magna thời kỳ nung bệnh từ 9 đến 21 ngày

- Eimeria media kí sinh ở hồi tràng và manh tràng, thời gian nung bệnh từ

Sinh sản vô tính

Sinh sản vô tính

Sinh bào tử

Trang 18

Ở kỳ cuối thỏ con thường có triệu chứng thần kinh, 4 chân bị run giật và sau

đó tê liệt, chân sau cứng thẳng, chân trước vận động không theo ý muốn, đầu quay

về sau Triệu chứng này kéo dài cho đến khi thỏ chết

* Cầu trùng đường ruột

Bệnh cầu trùng đường ruột tác động chủ yếu lên thỏ con từ 4 tuần đến 5 tháng tuổi Triệu chứng thường gặp là lông xù, chậm lớn, bệnh nặng có thể dẫn đến

tiêu chảy

E coecicola và E exigua không sinh bệnh, không thể tìm thấy dấu hiệu lâm sàng

mặc dù trong phân có chứa hàng ngàn oocyst Khả năng sinh bệnh của E perforans

rất yếu, loài này không phải là nguyên nhân gây tiêu chảy hoặc tử vong, nếu thỏ nhiễm nặng (106 oocyst), cơ thể yếu ớt, giảm tăng trưởng

E irresidua, E magna, E media và E piriformis là những loài sinh bệnh và

là nguyên nhân gây ra tiêu chảy, chậm tăng trưởngđối với thỏ từ 15% đến 20% trọng lượng, khi thỏ bị nhiễm khoảng 0,5x105 đến 105 oocyst Khi thỏ bị nhiễm 1 trong số các loài trên thì thỏ có thể bệnh nặng nhưng ít khi chết

E intestinalis và E flavescens là những loài cầu trùng gây bệnh nặng nhất Chúng là nguyên nhân gây tiêu chảy và tử vong mặc dù cường độ nhiễm rất thấp (từ

103 oocyst trở lên) Nếu trọng lượng giảm 20% thì thỏ có thể chết sau 24 giờ, trước khi chết thường xảy ra co giật, bại liệt Giải phẫu tử thi cho thấy viêm sưng ở hồi

Trang 19

tràng và không tràng, thỉnh thoảng có vết loét nhầy máu

* Cầu trùng gan

Bệnh tác động lên thỏ mọi lứa tuổi Biểu hiện các triệu chứng khát nước, liệt vai và chi dưới, bụng to và sệ xuống Chụp tia X thấy gan và túi mật to Khám tử thi thấy gan, túi mật nở to phồng lên Các nốt màu trắng bao quanh bề mặt gan Có thể tìm thấy cầu trùng trong các nốt màu trắng trên gan và mật bằng cách phết kính xem tươi

2.3.5 Bệnh tích

Bệnh tích biến đổi tùy theo giống, loài cầu trùng, nơi ký sinh và mức độ nhiễm bệnh Khi nhiễm cầu trùng ruột thì mạch máu ở thành ruột thỏ sung huyết, niêm mạc viêm cata, có nhiều điểm tụ huyết, tá tràng dãn rộng và dầy lên, trong ruột non chứa đầy khí và có nhiều niêm dịch

Hình 2.3 Vị trí gây bệnh của một số loài cầu trùng

(Nguồn: Coudert, 2000)

Trang 20

Đối với cầu trùng ký sinh ở gan, trên mặt gan và bên trong gan có nhiều điểm màu trắng hoặc vàng nhạt, những điểm hoại tử hình tròn to bằng hạt đậu xanh phần nhiều ở dọc theo ống dẫn mật Những tổn thương này sau ít ngày sẽ bị vôi hóa Ngoài ra niêm mạc ống dẫn mật bị viêm cata, dịch mật đặc lại, trong có tế bào biểu mô Theo Barriga và Arno mô Theo Barriga va Arnoni (1979), kích thước và trọng lượng của gan tăng là bệnh tích đặc trưng của bệnh cầu trùng gan Thỏ bị nhiễm cầu trùng gan thì biểu mô ống dẫn mật tăng sinh

2.2.6 Phương pháp phòng trị

Trong chăn nuôi vấn đề vệ sinh cần được chú trọng để hạn chế sự tồn tại của mầm bệnh Do oocyst có khả năng đề kháng mạnh với ngoại cảnh nên khả năng lây truyền bệnh rất nhanh, do vậy nên kết hợp giữa vệ sinh và phòng trị bằng thuốc để

có được kết quả khả quan trong việc khống chế bệnh cầu trùng

Hình 2.4: Gan thỏ bị nhiễm cầu trùng E stiedae

www.radil.missouri.edu/info/para/protozoa

Trang 21

* Vệ sinh

Khi thiết kế chuồng thỏ phải chú ý đến kích thước lưới của đáy lồng, đảm bảo khi thỏ đi phân phải lọt hết xuống nền Hàng ngày, chuồng phải được quét dọn, phân thỏ và nước tiểu sau khi được hứng phải tập trung để ủ Thỏ là động vật dễ bị tác động của môi trường như tiếng ồn, mùi của thuốc sát trùng vì vậy việc sát trùng chuồng trại và lồng thỏ phải hết sức thận trọng Nên xịt thuốc sát trùng chuồng nuôi thỏ lúc chuồng trống, trường hợp cần thiết phải chọn những loại thuốc không mùi để sát trùng Thiết kế máng ăn và máng uống đảm bảo không để phân lẫn vào thức ăn Diệt ruồi, chuột ở trại để tránh sự phát tán của cầu trùng trong trại thỏ Công nhân chăn nuôi thỏ phải sát trùng kỹ khi đi từ chuồng này sang chuồng khác để hạn chế việc lây lan bệnh cho thỏ Khi thỏ bệnh phải cách ly và nên nuôi riêng thỏ con với thỏ trưởng thành

Theo Peeters và Geeroms (1986), Lindansay và Blagburn (1995), và Sanh, (1999), toltrazuril dùng để trị cầu trùng trên thỏ, thuốc có tác động trên tất cả các giai đọan phát triển của cầu trùng Theo Heberkoorn và Mundt (1988), Zurliiski và Vladiminova (1988), cho rằng toltrazuril có hiệu quả tốt đối với cầu trùng thỏ Theo Lindansay và Blagburn (1995), Sanh (1999), Singla và ctv (2000), và Karaer (2001), thì liều sử dụng để trị cầu trùng thỏ là 25mg pha vào nước uống, sử dụng 2 ngày liên tục và nếu cần thiết thì lập lại sau 5 ngày Tuy nhiên Arafa và Wanas (1996), sử dụng toltrazuril để điều trị ký sinh đường ruột hoặc cầu trùng trên thỏ thì chỉ cho uống 1 liều duy nhất

Việc phòng trị nhằm hạn chế sự bài xuất noãn nang ra môi trường ngoài, thu ngắn thời gian bệnh và hạn chế sự lây lan mầm bệnh

Trang 22

2.3 M ột số đặc tính của thuốc sulfaquinoxaline và toltrazuril

sự trao đổi chất và hô hấp của cầu trùng Ngoài ra, nó không gây trở ngại đến các tiến trình sinh miễn dịch Theo Võ Thị Trà An (2010), thuốc bài thải chậm ra khỏi

mô cơ sau 24 ngày nên thời gian ngưng thuốc cần 19 ngày

Sơ đồ 2.1: Cơ chế tác động của toltrazuril

Trang 23

Liều: 30mg/1kg trọng lượng Uống 2lần/ngày, liên tục 3 ngày

2.4 MỘT VÀI NGHIÊN CỨU VỀ CẦU TRÙNG TRÊN THỎ

Những nghiên cứu ngoài nước

Jithendran và Bhat (1994) khi nghiên cứu về bệnh cầu trùng thỏ ở Himachal Pradesh Ấn Độ, cho thấy tỷ lệ nhiễm chung là 57,3% Có 8 loại cầu trùng quan sát

được, thỏ nhiễm ghép từ 2 – 4 loại cầu trùng là 82% Các loại cầu trùng Eimeria magna, E perforans, E media thường gặp hơn các loài E irresidua, E stiedae và

E intestinalis; 2 loài E piriformis và E coecicola thì hiếm thấy Cường độ nhiễm

ở trang trại tư nhân cao hơn các trang trại quốc doanh do khâu quản lý chăm sóc

Licois và ctv (1994) khuyến cáo dùng nhóm sulfamide để phòng và trị bệnh cầu trùng trên thỏ, cấp thuốc bằng đường uống Nhóm tác giả đã sử dụng sulphadimethoxine với liều 0,08%; sulfaquinoxaline liều 0,3% rất có hiệu quả, ngược lại sulfadimerazine 0,2% có kết quả điều trị không cao Nhóm tác giả không thử nghiệm toltrazuril (Baycox) nhưng cho rằng chúng sẽ có tác dụng tốt đối với

Trang 24

cầu trùng Liệu trình: khi dùng sulfamides để điều trị cầu trùng phải dùng liên tục 3 ngày

Finzi và Mordacchini (1995) thí nghiệm trên thỏ 35 ngày tuổi, thỏ được chia làm 3 lô (mỗi lô 7 thỏ), lô 1 sử dụng robenidine 66 ppm được trộn vào thức ăn, 2 lô còn lại không sử dụng thuốc Sau 4 ngày sử dụng thuốc tiến hành lấy mẫu phân và kiểm tra lại để đánh giá hiệu quả của thuốc (lịch lấy: 2-3 ngày/lần) Kết quả cho thấy lô đối chứng (không sử dụng robenidine) sau 4 tuần tỷ lệ noãn nang giảm 55%

Lô sử dụng thuốc sau 1 tuần tỷ lệ giảm noãn nang là 44% và sau 4 tuần thì gần như không tìm thấy noãn nang trong phân Về chỉ tiêu tăng trọng, nhóm thỏ không dùng robenidin lúc 80 ngày tuổi đạt trọng lượng 2,11kg, nhóm dùng thuốc là 2,25kg (P<0,05) Tăng trọng/ngày: đối chứng 14-20g, nhóm sử dụng thuốc là 37-39g

Gres (1997) điều tra dịch tễ trong vòng 1 năm trên đàn thỏ hoang tại 6 vùng (Arjuzanx, Donzère – Mondragon, Massereau, Gerstheim) thuộc đảo Béniguer đã

phát hiện ra loài cầu trùng mới Eimeria roobrouckin.sp Tỷ lệ nhiễm của loài cầu

trùng này thấp, biến động từ 4 – 14%, nhiễm cao vào mùa đông Cường độ nhiễm thấp, biến động từ 2 – 23 oocyst/g phân và cao hơn vào mùa xuân Oocyst của loài

này có kích thước lớn 55 ± 2,7 x 33,7 ± 1,3 µm, thiếu thể cặn ở oocyst và chứa thể cặn trong sporocyst

Diehlj nghiên cứu sự ảnh hưởng của bệnh cầu trùng trên gan đến hàm lượng vitamin A và vitamin E, tác giả nhận thấy hàm lượng vitamin E ở cơ và xương của thỏ nhiễm cầu trùng gan thì thấp hơn nhiều so với thỏ không nhiễm Thỏ nhiễm cầu trùng tuy bệnh tích không nặng nhưng hàm lượng dự trữ vitamin ở gan vẫn thấp Thỏ bị nhiễm cầu trùng gan với bệnh tích nặng thì hàm lượng vitamin A trên gan thấp (nguồn: www.ji.nutrition.org)

Singla và Sandhu (2000) nghiên cứu bệnh cầu trùng gan cho thấy thỏ nhiễm cầu trùng có biểu hiện biếng ăn, ít vận động, chết trong vòng 3 – 4 ngày Quan sát trên gan thấy có những nốt trắng nằm rải rác trên bề mặt và sâu trong nhu mô, đường kính của các nốt này có kích thước từ 0,2 – 0,5cm Lấy dịch từ các nốt này

đem quan sát dưới kính hiển vi tác giả thấy có sự hiện diện của các nõan nang E

Trang 25

stiedae Tác giả dùng Baycox 2,5% với liều 25ppm cho uống liên tục 2 ngày để điều trị Kết quả 100% thỏ hết bệnh sau 7 ngày điều trị Thuốc không những ngăn chặn các triệu chứng lâm sàng và tỷ lệ chết mà còn ngăn cản được sự thải các noãn nang trong phân, trong khi đó nhóm thỏ đối chứng không điều trị có tỷ lệ chết 100% sau 7 ngày

Singla (2000) thí nghiệm được thực hiện tại Phòng ký sinh trùng trường Đại học Nông Nghiệp Punjab – Ludhiana Tác giả chọn 24 thỏ từ 1-2 tháng tuổi có

trọng lượng từ 2 -3 kg bị nhiễm E.stidae Thỏ được chia làm 2 lô: lô 1 có 18 thỏ

được điều trị bằng toltrazuril (Baycox , Bayer India., Bombay) với liều 25ppm, dùng 2 ngày liên tục bằng đường uống Sau đó lấy phân kiểm tra lại ở các ngày 0, 7,

14, 21 và 28 ngày sau khi điều trị; lô 2: 6 thỏ không sử dụng thuốc để điều trị Kết

quả điều trị cho thấy thỏ không còn triệu chứng bệnh, số lượng Oocyst giảm dần và đến ngày thứ 6 thì không tìm thấy oocyst trong phân James và Champbell (1999) cũng sử dụng toltrazuril với liều lượng là 25 ppm/2 ngày, kết quả sau 5 ngày đều trị

đã không tìm thấy noãn nang trong phân và đến ngày thứ 40 mới có sự tái nhiễm cầu trùng gan và cầu trùng ruột

Farougou và ctv (2003) nghiên cứu về nội, ngoại ký sinh trên 8 trại thỏ ở miền Nam Benin cho thấy tất cả các trại thỏ đều bị nhiễm cầu trùng Có 11 loài cầu

trùng được tìm thấy là: E perforans, E exigua, E media, E flavescens, E piriformis, E coecicola, E vejdovskyi, E stiedae, E magna, E intestinalis, E irressidua Tỷ lệ nhiễm của E magna và E media là cao nhất (30,25% và 27,25%), thấp nhất là E flavescens (0,75%) Kết quả trên cho thấy các loài E magna, E media, E perforans thường nhiễm nhất, trong đó E perforans có tỷ lệ nhiễm cao nhất E magna, E media là những loài có khả năng gây bệnh nặng

Bao và ctv (2005) khảo sát trên 4932 thỏ ở nhóm tuổi từ 1 – 3 tháng, thí nghiệm được chia làm 3 lô, lô 1 (1884 thỏ) sử dụng thuốc để phòng mà nhóm tác giả đang nghiên cứu gọi là “kill coccidiosis’; lô 2 (1586 thỏ) sử dụng Robenidine; lô

3 (1462 thỏ) sử dụng Coyden Sau 6 tuần khảo sát thì tỷ lệ chết do bệnh cầu trùng ở

lô 1 là 2,9%; lô2: 22,9%; lô 3: 18,4% Sự khác biệt giữa thuốc thử nghiệm và 2 loại

Trang 26

thuốc thông dụng với mức ý nghĩa là P<0,01 Về điều trị, nhóm tác giả cũng thử nghiệm trên thỏ 1-3 tháng tuổi Những thỏ bị bệnh cầu trùng được chia làm 3 lô để điều trị: lô 1 (482 thỏ); lô 2 (266 thỏ; lô 3 (258 thỏ) sử dụng “kill coccidiosis’ Robenidine, Coyden Sau 3 tuần điều trị tỷ lệ chết của thỏ tương ứng là: 4,77%, 22,18%, 21,32%

Zerrin và Yesari (2006) nghiên cứu bệnh cầu trùng gan thỏ Angora ở Thổ Nhĩ Kỳ Tác giả mổ khám thỏ 4 – 6 tuần tuổi Bệnh tích ghi nhận được là: những điểm hoại tử màu trắng trên bề mặt gan có kích thước 1 – 3mm, giao tử và noãn nang được xác định bằng phương pháp nhuộm giemsa, ống dẫn mật căng phồng, biểu mô ống dẫn mật tăng sinh chứa nhiều noãn nang

Yu¨ và ctv (2008) chọn 56 thỏ khỏe mạnh từ 6 – 8 tuần tuổi có trọng lượng trung bình là 1-1,5kg Thỏ chia thành 8 lô: lô 1 không gây nhiễm E stiedae; lô 2-8

gây nhiễm 40000 noãn nang Lô 1 và 2 không sử dụng thuốc điều trị Lô 3 và lô 6

sử dụng 50ppm toltrazuril; lô 4 và lô 7 sử dụng 50ppm toltrazuril +ivermectin 1mg/kg P; lô 5 và 8 sử dụng ivermectin 1mg/kg P Liệu trình dùng thuốc chỉ 1 liều duy nhất cho các lô thí nghiệm Kết quả thử nghiệm cho thấy không có triệu chứng bệnh cầu trùng ở các lô 1,3,5,6,7,8 Tuy nhiên thỏ có các dấu hiệu như tiêu chảy, giảm tính thèm ăn Kiểm tra phân lại để đánh giá hiệu quả của thuốc vào các ngày

8, 16, 24 không tìm thấy oocyst ở lô 1, 6, 7, 8 Ngược lại, lô 2, 3, 4 và 5 kiểm tra

vào ngày thứ 8 có số lượng oocyst lần lượt là 45578, 42500, 48914 và 46851; ngày thứ 16 là 82835, 11185, 85257, 9242, ngày thứ 24 là 1121000, 1257, 1350000 và 2700/gam phân

Ebtessam (2008) thí nghiệm ở các tỉnh miền Đông của Saudi Arabia Tổng

số mẫu khảo sát là 490 mẫu được lấy ngẫu nhiên theo quy mô chăn nuôi Trại từ 100-150 thỏ lấy 178 mẫu, trại 1000 thỏ lấy 170 mẫu, trại 1500 lấy 142 mẫu Tuổi thỏ khảo sát từ 1 – 4 tháng gồm 245 thỏ đực và 245 thỏ cái Sau khi xét nghiệm cho thấy tỷ lệ nhiễm cầu trùng chung là 32,4% Thỏ đực bị nhiễm chiếm 31,02%, 82 thỏ cái nhiễm chiếm 33.47% nhưng không có sự khác biệt về thống kê (P<0,562) Tỷ lệ nhiễm cao nhất ở thỏ 2 tháng tuổi (46,31%), kế đến là nhóm 3 tháng tuổi (45,26%),

Trang 27

nhóm 4 tháng tuổi (24,51%) và thấp nhất là nhóm 1 tháng tuổi (23,41%) Về quy

mô chăn nuôi, tỷ lệ nhiễm của đàn thỏ có quy mô từ 100-150 con chiếm 34,26%; đàn 1000 thỏ chiếm 37,05% và đàn 1500 thỏ chiếm 23,94% Về nhiễm ghép, có 55,06% thỏ nhiễm 1 loài là cầu trùng gan và 44,93% nhiễm thêm các loài cầu trùng khác

Những nghiên cứu trong nước

Lương Văn Huấn và Trần Kim Lan (1989) khảo sát 90 thỏ nuôi tại viện Pasteur Nha Trang qua phương pháp mổ khám tử và phù nổi cho biết có 6 loại cầu

trùng ở thỏ E perforans, E media, E magna, E irresidua, E pisiformis, E intestinalis Trong đó loài E perforans chiếm tỷ lệ 35,5%, E media 28%, E magna

10% Các loài còn lại nhiễm với tỷ lệ thấp dưới 8%

Nguyễn Quang Sức (1994) kiểm tra mức độ nhiễm của 269 thỏ vỗ béo chết

có triệu chứng tiêu chảy thì có 76,95% nhiễm cầu trùng, trong đó có 73,91% nhiễm

từ mức trung bình đến rất nặng

Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) cho biết đàn thỏ lớn mắc bệnh nhẹ, tỷ

lệ thỏ con chết là 6%, đàn thỏ lớn mắc bệnh trung bình, tỷ lệ thỏ con chết là 17%, đàn thỏ lớn mắc bệnh nặng, tỷ lệ thỏ con chết là 78%

Phạm Hùng (1978) và Nguyễn Quang Sức (1986) cho rằng hai loài cầu trùng

của thỏ gặp phổ biến ở Việt Nam là E perforans và E stiedae

Nguyễn Hữu Hưng và ctv (2008) kiểm tra 465 mẫu phân thỏ tại các cơ sở chăn nuôi thỏ TP Cần Thơ và tỉnh Sóc Trăng cho thấy thỏ nhiễm cầu trùng với tỷ lệ nhiễm cao (65,16%) Trong đó thỏ nuôi tại Thành Phố Cần Thơ nhiễm cao hơn thỏ nuôi tại tỉnh Sóc Trăng (69,50% và 58,47%) Thỏ nhiễm nặng nhất là thỏ từ 1 – 2 tháng tuổi (100%) và thỏ từ 2 – 3 tháng tuổi là 94,37%, sau đó giảm dần theo lứa tuổi và thấp nhất là thỏ 24 tháng tuổi (28,57%) Có 5 loại cầu trùng phổ biến ký

sinh trên thỏ là E perforans, E media, E magna, E stiedae và E irressidua Dùng

thuốc Rigecoccin liều 1g/15kg thể trọng và Anticoc liều 20g/15kg thể trọng, liệu trình 5 ngày liện tục cho kết quả điều trị cao

Nguyễn Thanh Hùng (2009) nghiên cứu cầu trùng trên thỏ tại Đồng Tháp,

Trang 28

Sóc Trăng và Cần Thơ đã định danh được 9 loài cầu trùng: E exigua, E perforans,

E piriformis, E flavescans, E irresidua, E stiedae, E media, E coecicola và E magna Tỷ lệ nhiễm tại Đồng Tháp (58,5%); Sóc Trăng (47,5%) và Cần Thơ (51,37%) Trong đó, nhóm thỏ sau cai sữa (30 – 60 ngày tuổi) có tỷ lệ nhiễm cao nhất (85,89%), thỏ từ 61 – 90 ngày tuổi (60,61%), thỏ trên 90 ngày tuổi (40,83%)

và thỏ sinh sản có tỷ lệ nhiễm cầu trùng thấp nhất (21,3%) Tỷ lệ nhiễm ghép 2 loài (23,6%), 3 loài (27,95%), 4 loài (20,5%) và nhiều hơn 4 loài (27,95%) Trong đó thỏ 30 – 60 ngày tuổi có tỷ lệ nhiễm ghép lớn hơn 4 loài là cao nhất Dùng toltrazuril liều 25mg/kgP trong 2 ngày liên tục tỷ lệ giảm noãn nang là 96,66%, dùng sulfaquinoxaline liều 25mg/kgP trong 3 ngày có tỷ lệ giảm noãn nang là 87,21%

Hoàng Văn Dư và ctv (2010) nghiên cứu tại Bắc Giang cho biết tỷ lệ nhiễm cầu trùng là 64,94% Trong đó, thỏ địa phương nhiễm 60,79 và thỏ New Zealand 68,16% Thỏ 2 tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm cao nhất (83,98%) và 3 tháng tuổi (77,60%), tỷ lệ và cường độ nhiễm giảm dần theo tuổi, thỏ ở giai đoạn trên 12 tháng tuổi nhiễm với tỷ lệ 43,88%

Trang 29

Chương 3

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời gian và địa điểm

3.1.2 Thời gian: từ tháng 02/2007 - 08/2008

3.1.2 Địa điểm

− Điều tra tình hình chăn nuôi, lấy mẫu phân thỏ trên 30 hộ chăn nuôi thỏ tại huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang

− Xét nghiệm đánh giá tỷ lệ, cường độ nhiễm, định danh các loại cầu trùng và

mổ khám bệnh tích đại thể, bệnh tích vi thể trên thỏ tại phòng thí nghiệm ký sinh trùng thuộc bộ môn Bệnh lý-Ký sinh, Khoa chăn nuôi thú y, trường Đại học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh và phòng thí nghiệm Khoa Nông nghiệp - Trường Đại học Tiền Giang

3.2 Đối tượng khảo sát

− Xét nghiệm 500 mẫu phân thỏ ở 04 nhóm tuổi (dưới 1 tháng; 1 - 2 tháng; trên 2 - 6 tháng và trên 6 tháng) để đánh giá tình hình nhiễm cầu trùng thỏ

3.3.2 Hóa chất

− Dung dịch NaCl bão hòa, dung dịch formol 10%

− Thuốc trị cầu trùng gồm sulfaquinoxaline và toltazuril

Trang 30

3.4 Nội dung nghiên cứu

3.4.1 Nội dung 1: Điều tra tình hình chăn nuôi thỏ ở 30 hộ tại huyện Châu Thành

Chỉ tiêu theo dõi

− Định danh các loại cầu trùng trên đàn thỏ khảo sát

− Tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm các loại cầu trùng trên thỏ theo tuổi, mùa, quy mô chăn nuôi

− Tỷ lệ nhiễm ghép các loài cầu trùng trên tổng số thỏ nhiễm

Phân bố thu thập mẫu

Bảng 3.1: Tỷ lệ và số mẫu phân thỏ xét nghiệm Nhóm thỏ Tỷ lệ lấy mẫu/đàn (%) Số mẫu

Phương pháp lấy mẫu phân

Đối với chuồng có vỉ hứng phân: mang găng tay triệt trùng vào và lấy mẫu

phân thỏ cần khảo sát, mỗi mẫu lấy khoảng 5 gam phân Bảo quản ở nhiệt độ khoảng 4oC và mang về phòng thí nghiệm để xét nghiệm

Đối với chuồng không có vỉ hứng phân: dùng một tấm bạt hứng bên dưới

chuồng thỏ vào lúc sẫm tối Sáng hôm sau, dùng găng tay lấy phân cho vào túi nylon

Trang 31

Phương pháp xét nghiệm

Xét nghiệm phân bằng phương pháp phù nổi

+ Nguyên tắc: nước muối bảo hòa có tỷ trọng cao hơn Oocyst của protozoa nhưng thấp hơn cặn của phân, do đó Oocyst sẽ nổi lên trên

+ Cách thực hiện: lấy 5g phân cho vào cốc thủy tinh, cho thêm 50 ml nước muối bão hòa vào Dùng đũa thủy tinh khuấy cho phân hòa vào trong nước Lọc qua vợt

81 lỗ/ cm2 Cho nước lọc vào lọ thủy tinh, đổ thêm nước muối bão hòa vào cho đầy miệng bình (chú ý tránh không để nước tràn ra khỏi lọ), đậy phiến kính lên miệng

lọ Chờ 20-30 phút lấy phiến kính ra và đậy lá kính rồi xem dưới kính hiển vi, độ phóng đại 100 lần để tìm trứng cầu trùng, độ phóng đại 400 lần để định danh

Phương pháp đếm trứng bằng buồng đếm McMaster

Dùng ống đong có thể tích 15ml, cho nước muối bão hòa vào đến vạch 14ml, tiếp theo cho phân vào đến vạch 15 ml, dùng đũa thủy tinh khuấy đều cho phân tan

ra hết Lọc qua lưới lọc và hút dung dịch lên 2 buồng đếm, để yên 15-20 phút, đếm

số noãn nang trong buồng đếm

Cách tính

Thể tích mỗi buồng đếm là 0,15 ml

Số noãn nang trong 1g phân = (N x 15)/ 0,15 = N x 100

N: số noãn nang trung bình đếm được trong 1 buồng đếm

Cường độ nhiễm: sau khi tính số noãn nang có trong một gram phân, chúng tôi chia thành các mức độ nhiễm sau:

Cường độ nhiễm 1(+): < 1000 noãn nang/1 gram phân

Cường độ nhiễm 2(+): 1000 – 10.000 noãn nang/1 gram phân

Cường độ nhiễm 3(+): > 10.000 noãn nang/1 gram phân

Trang 32

- Đo kích thước noãn nang: chúng tôi tiến hành đo chiều dài, chiều rộng các noãn nang bằng thước trắc vi thị kính

3.4.2 Nội dung 3: Khảo sát bệnh tích trên thỏ bị nhiễm cầu trùng

Kiểm tra bên ngoài: thể trạng, lông, da, mắt, miệng, hậu môn, tình trạng chướng

hơi, tiêu chảy Làm chết thỏ trước khi mổ khám bằng cách lấy máu động mạch cổ

Mổ khám kiểm tra bên trong

- Dùng dao rạch một đường giữa ngực đến hậu môn Khi cắt dùng kẹp kéo

da bụng lên để tránh cắt vào nội quan

- Tách các lớp cơ trên ngực rồi lấy kéo cắt xương sườn để bộc lộ nội quan

- Tách lớp da và cơ liên kết ở vùng bụng để bộc lộ ruột và các nội quan xoang bụng

Kiểm tra bệnh tích đại thể: cắt dọc thực quản để kiểm tra, kéo dạ dày, gan, mật,

ruột non, ruột già đến hậu môn ra ngoài khay sạch để kiểm tra, ghi nhận bệnh tích biến đổi trên ruột, gan Cắt dọc hệ thống tiêu hóa theo thứ tự từ dạ dày đến hậu môn

để kiểm tra chất chứa, dịch, màu sắc, điểm họai tử

Kiểm tra bệnh tích vi thể: sau khi mổ khám chúng tôi tiến hành lấy gan và ruột

bảo quản mẫu bằng formol 10% và chuyển đến bệnh xá thú y trường Đại học Nông

Trang 33

Chọn thỏ và bố trí thí nghiệm: sau khi có kết quả kiểm tra phân, chọn 60 thỏ từ 1

– 2 tháng tuổi có cường độ nhiễm cầu trùng cao 3 (+) Thí nghiệm được chia làm 2

lô, mỗi lô 30 thỏ để theo dõi kết quả thử nghiệm thuốc

Sử dụng thuốc

Lô 1: sử dụng sulfaquinoxaline liều 30mg/kg thể trọng, cấp thuốc bằng đường uống, liệu trình điều trị là 2 lần/ngày và liên tục 3 ngày

Sản phẩm sử dụng: Aleccid, chai 1000ml chứa 5g sulfaquinoxaline

Lô 2: sử dụng toltrazuril liều 25mg/kg thể trọng, cấp thuốc bằng đường uống, sử dụng 1 liều duy nhất

Sản phẩm sử dụng: Baycox, chai 100ml chứa 2500mg

Đánh giá hiệu quả của thuốc và theo dõi các phản ứng phụ

Sau khi dùng thuốc 5 ngày lấy mẫu phân kiểm tra lại bằng phương pháp

phù nổi và đếm noãn nang bằng buồng đếm McMaster để xác định kết quả điều trị của thuốc Theo dõi ghi chép các phản ứng có thể xảy ra trên thỏ trong khi dùng thuốc

Bảng 3.2: Sơ đồ bố trí thí nghiệm điều trị cầu trùng thỏ

Liều và đường cấp 30mg/kg P, uống 25mg/kgP, uống Liệu trình 2 lần/ngày x 3 ngày liên tiếp 1 lần duy nhất

3.5 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU

- Số liệu được xử lý bằng trắc nghiệm χ2của phần mềm Minitab1.3

- Các tỷ lệ được tính theo công thức:

+ Tỷ lệ thỏ nhiễm cầu trùng = ( Σ số mẫu nhiễm x 100) / Σ số mẫu khảo sát

+ Tỷ lệ nhiễm theo loài = (Σ số mẫu nhiễm theo loài x 100) / Σ số mẫu khảo sát + Tỷ lệ giảm noãn nang = ((SNNTB/1g phân trước tẩy) – (SNNTB/1g phân sau tẩy))/ (SNNTB/1g phân trước tẩy) x100

Trang 34

Chương 4

KẾT QUẢ THẢO LUẬN

4.1 Tình hình chăn nuôi thỏ

4.1.1 Cơ cấu đàn thỏ

Khảo sát 30 hộ chăn nuôi thỏ trong 4 xã ở huyện Châu Thành với tổng đàn là

4046 thỏ, cơ cấu đàn được trình bày qua bảng 4.1

Bảng 4.1: Cơ cấu đàn thỏ ở một số hộ chăn nuôi

Số

hộ

Số thỏ (con)

Số thỏ bình quân/hộ (con)

Số thỏ theo tháng tuổi (con)

Trang 35

giống để cung cấp cho các xã lân cận nuôi thịt Đến khi thỏ đạt trọng lượng giết thịt thì họ thu mua về vì ở đây có lò mổ thỏ tập trung được cơ quan Thú y cấp phép

4.1.2 Con giống

Giống thỏ được nuôi ở các hộ khảo sát chủ yếu là thỏ lai giữa thỏ Việt Nam lông xám và một số giống thỏ nước ngoài như: New Zealand White, California Màu lông của thỏ rất khác nhau từ màu trắng đến đen tuyền, pha vàng hoặc đen pha trắng, xám loang trắng…Màu mắt của thỏ cũng không đồng nhất: mắt đỏ, mắt đen, mắt xám Thỏ thường được phối giống lần đầu từ 5 – 5,5 tháng tuổi, trọng lượng trung bình từ 2,5 – 3,0 kg, số con sơ sinh trên một ổ đẻ 7 – 9 con, khoảng cách giữa

2 lứa đẻ trung bình là 1,5 – 2 tháng, thời gian cai sữa cho thỏ con là 30 – 40 ngày

Ngoài ra, trong các trại khảo sát có một trại nhập thỏ thuần New Zealand

White, California trong dự án Hiefer để phát triển đàn thỏ cho các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long Tuy nhiên, chúng tôi không ghi nhận được các chỉ tiêu sinh trưởng, sinh sản của những thỏ này cũng như con lai của chúng

Trang 36

4.1.2 Chuồng trại

Chuồng có khung làm bằng gỗ hoặc tre, chung quanh bao bằng lưới sắt, hầu hết các chuồng được kê cách mặt đất từ 40 – 50 cm để việc dọn vệ sinh được dễ dàng Chuồng có bố trí máng chứa thức ăn xanh, hỗn hợp, nước uống Máng thức

ăn xanh được bố trí trước hoặc trên nốc chuồng Một số hộ khi làm chuồng không thiết kế máng ăn nên thức ăn được bỏ trên nóc hoặc cho thẳng vào chuồng gây bẩn

và khó vệ sinh, tạo điều kiện cho mầm bệnh tồn tại Thức ăn tinh và những loại thức

ăn khác như cơm nguội, lúa, xác đậu … thường được cho vào đĩa Một số hộ làm máng ăn riêng bằng nhựa hoặc bằng lon thiếc Do chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi nên một số hộ chăn nuôi tận dụng chuồng heo, chuồng gà để làm chuồng nuôi thỏ Mỗi

Hình 4.3: Thỏ nuôi thịt Hình 4.4: Thỏ sinh sản

Hình 4.1: Thỏ con sơ sinh Hình 4.1: Thỏ cai sữa

Trang 37

dãy chuồng thường có một vỉ hứng phân, giúp cho việc dọn phân, chất thải chuồng được dễ dàng

`

Hình 4.5: Một số kiểu chuồng sử dụng nuôi thỏ

4.1.3 Thức ăn và nước uống

Thức ăn

Thức ăn thô xanh được sử dụng cho thỏ bao gồm: cỏ, rau lang, rau muống …

Trang 38

cầu trùng và một số bệnh khác Phần lớn nguồn thức ăn này do hộ chăn nuôi tự trồng, tuy nhiên một số hộ do không đủ diện tích canh tác nên phải mua hoặc cắt cỏ

tự nhiên từ nhiều nơi khác nhau, điều này gây ảnh hưởng đến chất lượng thức ăn

Thức ăn tinh được sử dụng nhiều nhất ở giai đoạn vỗ béo để giết thịt hoặc trong giai đoạn thỏ mẹ nuôi con Các loại thức ăn tinh cho thỏ thường sử dụng là loại thức ăn công nghiệp của heo, gà Một số hộ chăn nuôi thay đổi lượng và thành phần thức ăn tinh tùy theo giá thỏ thịt Ngoài ra, người chăn nuôi còn tận dụng các phụ phế phẩm trong nông nghiệp như: xác đậu, cám gạo, cơm nguội… để nuôi thỏ

Thời gian và số lần cho thỏ ăn thay đổi theo từng hộ, thông thường thỏ ăn 2lần/ngày Thỏ được cho ăn thức ăn xanh và thức ăn tinh vào buổi sáng, chiều tối chỉ cho thỏ ăn thức ăn xanh Nhìn chung, thỏ được cung cấp cả thức ăn xanh và thức ăn tinh Tuy nhiên, người chăn nuôi chưa quan tâm về khẩu phần thức ăn phù hợp cho từng giai đoạn sinh trưởng phát triển của thỏ

Nước uống

Các hộ chăn nuôi sử dụng nước máy cho thỏ, thường thỏ được uống nước tự

do Số lượng nước thay đổi tùy theo giai đoạn sinh trưởng phát triển của thỏ, thỏ nuôi con uống đến 0,5 đến 0,8 lít nước/ngày

4.1.4 Vệ sinh – phòng bệnh

Công tác vệ sinh: các hộ chăn nuôi chưa chú trọng đến việc vệ sinh, sát trùng chuồng trại Một số hộ chăn nuôi với quy mô lớn đã áp dụng phun thuốc sát trùng định kỳ, các thuốc thường được sử dụng là Benkocide, Biocide Tuy nhiên, việc sát trùng chưa theo quy trình cụ thể, chỉ phun khi xuất bán thỏ hoặc có dịch bệnh xảy ra Thời gian phun biến động từ 1 đến 6 tháng/1lần Chất thải từ thức ăn thừa, phân, nước tiểu được dùng nuôi cá hoặc bón cây mà không qua xử lý, nên mầm

bệnh có điều kiện phát tán và gây ô nhiễm môi trường xung quanh

Trang 39

4.2 T ình hình nhiễm cầu trùng trên thỏ

4.2.1 Thành phần và tỷ lệ nhiễm các loài cầu trùng trên thỏ

4.2.1.1 Kết quả định danh các loại cầu trùng

Chúng tôi đã xét nghiệm phân bằng phương pháp phù nổi của 500 thỏ ở 4 lứa tuổi tại các trại chăn nuôi thỏ thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang

Dựa vào hình dạng, màu sắc, kích thước noãn nang cầu trùng theo khóa phân loại của Eckert và ctv (1999), chúng tôi đã định danh được 11 loài cầu trùng nhiễm trên thỏ nuôi tại huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang (Hình 4.1), trong đó có 10 loài cầu trùng ký sinh ở ruột là E piriformis, E flavescens, E vejdovskyi, E coecicola,

E intestinalis, E media, E exigua, E irresidua, E magna, E perforans và 01 loài

ở gan là E stiedae Số loài cầu trùng chúng tôi đã phát hiện nhiều hơn các nghiên

cứu trước đây ở Việt Nam

Trang 40

A: E intestinalis B: E Irresidua E coeccicol

Hình 4.6: Hình ảnh noãn nang một số loài cầu trùng (x40)

Ngày đăng: 14/03/2019, 10:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w