BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH THÁI NGUYỄN QUỲNH TRANG SỬ DỤNG DDGS Distillers Dried Grains With Soluble TRONG KHẨU PHẦN THỨC ĂN HEO THỊT TỪ 90 NGÀY TUỔ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
THÁI NGUYỄN QUỲNH TRANG
SỬ DỤNG DDGS (Distillers Dried Grains With Soluble) TRONG KHẨU PHẦN THỨC ĂN HEO THỊT TỪ 90 NGÀY
TUỔI ĐẾN XUẤT CHUỒNG VÀ HEO NÁI MANG THAI
TỪ 90 NGÀY ĐẾN CAI SỮA HEO CON
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Thành phố Hồ Chí Minh - Tháng 12/2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
THÁI NGUYỄN QUỲNH TRANG
SỬ DỤNG DDGS (Distillers Dried Grains With Soluble) TRONG KHẨU PHẦN THỨC ĂN HEO THỊT TỪ 90 NGÀY
TUỔI ĐẾN XUẤT CHUỒNG VÀ HEO NÁI MANG THAI
TỪ 90 NGÀY ĐẾN CAI SỮA HEO CON
Chuyên ngành: Chăn Nuôi
Trang 3i
LÝ LỊCH CÁ NHÂN
Tôi tên là Thái Nguyễn Quỳnh Trang, sinh ngày 28 tháng 01 năm 1986 tại thị trấn
Ia Kha, huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai
Tốt nghiệp PTTH tại trường Trung học phổ thông Chuyên Hùng Vương, tỉnh Gia Lai năm 2004
Tốt nghiệp Đại học ngành Chăn Nuôi hệ chính quy tại Đại học Nông Lâm, Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh, năm 2008
Tháng 11/2008 đến 05/2009: làm việc tại Công ty TNHH Sunjin Vina Chức vụ: nhân viên
Tháng 10/2009 theo học Cao học ngành Chăn nuôitại Đại học Nông Lâm, Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 01/2011 đến nay: làm việc tại VPĐD ITPSA Việt Nam Chức vụ: nhân viên
Địa chỉ liên lạc: 40/1 Trần Não, phường Bình An, quận 2, Tp Hồ Chí Minh Điện thoại: 0937.490079 – 0938.280186
Email: quynhtrang2801@yahoo.com
Trang 4ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi.Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực vàchưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Thái nguyễn Quỳnh Trang
Trang 5iii
LỜI CẢM ƠN
Gửi đến gia đình yêu thương của tôi
Cảm ơn sâu sắc đến Ba, Mẹ, anh Thành Nam, em Trung Thành, em Phương Thu Gia đình đã luôn bên tôi chia sẻ những buồn, vui, khó khăn, hạnh phúc…trong cuộc sống
Thành kính ghi ơn
PGS.TS Bùi Huy Như Phúc đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ con trong suốt thời gian thực hiện đề tài và hoàn thành bản luận văn thạc sĩ này
Chân thành cảm tạ
Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh
Ban chủ nhiệm và toàn thể quý thầy cô Khoa Chăn nuôi Thú y Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt thời gian học tập tại trường
Quý Thầy Cô và cán bộ phòng Đào tạo sau đại học Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh đã nhiệt tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong suốt thời gian học tập và quá trình hoàn thành luận văn này
Chân thành cảm ơn
Chị Trân đã luôn động viên, chia sẻ, giúp đỡ tôi trong công việc, cuộc sống
và quá trình thực hiện đề tài
Những anh chị, bạn bè trong và ngoài lớp cao học Chăn nuôi 2009 đã động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài
Thái Nguyễn Quỳnh Trang
Trang 6iv
DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT
ADF Acid Detergent Fiber
AID Apparent Ileal Digestibility
ATTD Apparent Total Tract Digestibility
AOAC Association of Official Chemists
HPLC High Pressure Liquid Chromatography
LS-DDG Low-Solubles Distillers Dried Grains
NDF Neutral Detergent Fiber
TLHCSSCS Tỷ Lệ Heo Con Sơ Sinh Còn Sống
TLHCSSCN Tỷ Lệ Heo Con Sơ Sinh Chọn Nuôi
Trang 7v
TÓM TẮT
Đề tài“Sử dụng DDGS (DistillersDried GrainswithSoluble) trong khẩu phần thức ăn heo thịt từ 60 ngày tuổi đến xuất chuồng (90kg) và heo nái mang thai từ 90 ngày đến cai sữa heo con”
Hai thí nghiệm được tiến hành, sử dụng DDGS thay thế bắp và đậu nành Thành phần hóa học trung bình của DDGS sử dụng trong thí nghiệm có 25,64% protein thô,6,78% chất xơ, 13,9% chất béo, 4,52% khoáng tổng số
Hàm lượng độc tốtrong DDGS thấp trong đó: không tìm thấy aflatoxin,zearalenone0,31ppm,fumonisin 0,60ppm và deoxynivalenol 170ppb
Thí nghiệm 1: Sử dụng DDGS trong khẩu phần heo thịt
Thí nghiệm được thực hiện trên 176 heo lai 3 máu (Yorkshire, Landrace và Duroc), 60 ngày tuổi, trọng lượng trung bình 30,11 kg Heo được chia làm 4 nghiệm thức, bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên, một yếu tố thí nghiệm, với tỷ lệthay thế bắp và đậu nành bằng 0, 8, 16, 24 % DDGS trong khẩu phần
Kết quả cho thấy tăng trọng tuyệt đối ở các lô 1, 2, 3, 4 lần lượt là 623,7; 615,0; 585,3; 547,8 (g/con/ngày) (P < 0,01) và hệ số chuyển biến thức ăn là 3,23; 3,33; 3,34; 3,55 (P> 0,05)
Phẩm chất thịt cũng được ghi nhận Tỷ lệ thịt xẻ ở các lô 1, 2, 3, 4 lần lượt là 78,00; 76,47; 77,55 và 75,00 (%); dày mỡ lưng vị trí P2 (7,66; 7,65; 7,63 và 7,25 (mm)) và diện tích mặt cắt thịt thăn (69,00; 66,34; 62,04; 55,31 (cm2)) Những trị
số này giảm dần khi tăng sử dụng DDGS trong khẩu phần thức ăn
Thành phần hóa học thịt thăn khi phân tích vật chất khô, protein và béo không có sự khác biệt trên các lô thí nghiệm Chỉ số iod có chiều hướng tăng khi tăng sử dụng DDGS trong khẩu phần
Thí nghiệm 2: Sử dụng DDGS trong khẩu phần heo nái mang thai từ 90 ngày đến cai sữa heo con
Trang 8vi
Thí nghiệm được thực hiện trên 40 heo nái 2 máu (Landrace - Yorskshire hoặc Yorskhire – Landrace) mang thai 90 ngày được chia làm 4 nghiệm thức, bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên, một yếu tố thí nghiệm với tỷ lệ thay thế bắp và đậu nành bằng 0, 5, 10, 15 % DDGS trong khẩu phần
Lượng thức ăn heo nái ăn hàng ngày lần lượt là 4,32; 4,18; 4,14 và 4,07 (kg/con/ngày) Tuy nhiên, không có sự khác biệt về hao mòn trọng lượng nái (P>0,05)
Thời gian heo nái lên giống lại sau cai sữa heo con là 7,6; 6,7; 5,3 và 8,3 (ngày)lần lượt ở các lô 1, 2, 3 và 4 (P>0,05)
Tỷ lệ heo con sơ sinh còn sống/ổ có xu hướng tăng tương ứng là 82,06; 100; 97,98; 90,13 (%) và tỷ lệ heo con cai sữa có xu hướng giảm tương ứng 98,89; 93,84; 99,09 và 92,64 (%) trên các lô 1, 2, 3, 4 (P>0,05)
Trọng lượng sơ sinh bình quân/ổ và trọng lượng cai sữa bình quân/ổ không
sự khác biệt khi khẩu phần có mức DDGS cao Trọng lượng sơ sinh bình quân/ổ là 16,7; 16,25; 16,6 và 15,9(kg/ổ) và trọng lượng cai sữa bình quân/ổ lúc 26 ngày tuổi
là 66,87; 64,34; 71,28; 64,20 (kg/ổ) lần lượt ở các lô 1, 2, 3, 4 (P>0,05)
Trang 9Mycotoxin contents of DDGS are small, with aflatoxin (not foundppb), zearalenone (0.31ppm), fumonisin (0.60ppm) and deoxynivalenol (170ppb)
Experiment 1:Effect of using DDGS in the diets for growing pigs
The experiment was carried out with 176 crossbred pigs of Yorkshire, Landrace and Duroc at 60 days of age; the initial body weight was around 30.11kg Pigs were randomly allocated into 4 treatments in which DDGS was used at the inclusion levels of 0, 8, 16,24 % in the diet
The results showed that daily weight gain was 623.7; 615.0; 585.3 and 547, 8 (grams/ day); and feed conversion ratiowas 3.23; 3.33; 3.34 and 3.55 (P> 0.05) for the treatments 1, 2, 3 and 4, respectively
Carcass quality was also evaluated Dressing proportions (%) was 78.00; 76.47; 77.55 and 75, back-fat thickness measured at P2 point were 7.66; 7.65; 7.63 and 7.25 (mm); loin eye areas were 69.00; 66.34; 62.04; 55.31 (cm2) for treatment
1, 2, 3 and 4, respectively These criteria decreased gradually with increasingDDGS in the diet
Dry matter, crude protein and ether extract content in loin eye area were not different among treatments; while the iodine value tended to rise with increasing DDGS in the diet
Experiment 2:Effect of using DDGS in the diet of sows from 90 days of pregnant to weaning piglets
Trang 10viii
40 pregnant sows of Yorkshire and Landrace at 90 days of pregnant sows were randomly allocated into 4 treatments in which DDGS was used at the inclusion levels 0, 5, 10, 15 % in diet
There were slightly reduction of feed intake of sow (4.32; 4.18; 4.14 and 4.07 kg/day) for the treatments 1, 2, 3 and 4, respectively However, there were not significant differences in body weight loss of sows (P>0.05)
The percentage of live born piglets per litter tended to increase, and were 82.06; 100; 97.98; 90.13 (%) while the ratio ofweaned piglets per litter tended decrease and were 98.89; 93.84; 99.09 and 92.64 (%) (P>0.05)
The birth weight and weaning weight of piglets per litter were not significant different among treatments except the highest level of DDGS in the diet The average birth weight ofpiglets per litter were 16.7; 16.25; 16.6 and 15.9(kg) and 66.87; 64.34; 71.28 and 64.20 (kg/ litte) for weaning weight of piglets per litter in treatment 1, 2, 3 and 4, respectively (P>0.05)
Trang 11ix
MỤC LỤC
DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
TÓM TẮT LUẬN VĂN v
SUMMARY vii
MỤC LỤC ix
DANH SÁCH CÁC BẢNG xii
DANH SÁCH CÁC HÌNH xiv
MỞ ĐẦU 1
Đặt vấn đề 1
Nội dung nghiên cứu 2
Chương 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Giới thiệu sơ lược về DDGS 3
1.1.1 Tình hình sản xuất DDGS 3
1.1.2 Quy trình sản xuất DDGS 5
1.1.3 Giá trị dinh dưỡng của DDGS 8
1.1.4 Một số đặc điểm của DDGS 13
1.1.4.1 Độ tiêu hóa của axit amin 13
1.1.4.2 Độ tiêu hóa của photpho 14
1.1.4.3 Độ tiêu hóa của năng lượng 14
1.1.5 Các biến động phẩm chất DDGS 15
1.1.5.1 Màu sắc 15
1.1.5.2 Độc tố 16
1.2 Những nghiên cứu về DDGS 18
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Nội dung 22
2.2 Phương pháp nghiên cứu 22
2.2.1 Phân tích thành phần hóa học và độc tố nấm mốc có trong DDGS 22
2.2.2 Thí nghiệm 1: Sử dụng DDGS trong khẩu phần heo thịt lên tăng trưởng, chất lượng quày thịt xẻ và phẩm chất thịt 23
Trang 12x
2.2.2.1 Địa điểm: 23
2.2.2.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm 23
2.2.2.3 Vật liệu thí nghiệm 24
2.2.2.4 Các chỉ tiêu khảo sát 28
2.2.2.5 Xử lý thống kê 30
2.2.3 Thí nghiệm 2: Sử dụng DDGS trong khẩu phần heo nái nuôi con 31
2.2.3.1 Thời gian và địa điểm 31
2.2.3.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm 31
2.2.3.3 Điều kiện thí nghiệm 31
2.2.3.4 Các chỉ tiêu khảo sát 35
2.2.3.5 Hiệu quả kinh tế 38
2.2.3.6 Phương pháp xử lý số liệu 38
Chương 3 KẾT QUẢ THẢO LUẬN 39
3.1 Thành phần hóa học và sự hiện diện của độc tố nấm mốc của DDGS 39
3.1.1 Thành phần hóa học DDGS 39
3.1.2 Sự hiện diện của độc tố nấm mốc 39
3.2 Thí nghiệm 1: Sử dụng DDGS trong khẩu phần heo nuôi thịt từ 30 kg đến xuất chuồng 41
3.2.1 Khả năng tăng trọng của heo 41
3.2.1.1 Trọng lượng bình quân 41
3.2.1.2 Tăng trọng tuyệt đối 44
3.2.2 Lượng thức ăn tiêu thụ 47
3.2.3 Hệ số chuyển biến thức ăn (HSCBTĂ) 49
3.2.4 Chất lượng quày thịt xẻ 51
3.2.5 Phẩm chất thịt 53
3.2.6 Tỷ lệ ngày con tiêu chảy 55
3.2.7 Tỷ lệ chết và loại thải 55
3.2.8 Hiệu quả kinh tế 56
Trang 13xi
3.3 Thí nghiệm 2: Sử dụng DDGS trong khẩu phần heo nái mang thai 90 ngày đến
cai sữa heo con 57
3.3.1 Trên heo nái 57
3.3.1.1 Trọng lượng nái 58
3.3.1.2 Hao mòn trọng lượng nái 58
3.3.1.3 Dày mỡ lưng nái……… 59
3.3.1.4 Hao mòn dày mỡ lưng 60
3.3.1.5 Lượng ăn của nái từ 90 ngày đến 26 ngày sau khi sinh 61
3.3.1.6 Thời gian lên giống lại 62
3.3.2.1 Số heo con sơ sinh 64
3.3.2.2 Số heo con nuôi thực tế/ổ 65
3.3.2.3 Số heo con cai sữa 65
3.3.2.4 Trọng lượng của heo con 66
3.3.2.5 Tỷ lệ tiêu chảy 69
3.3.3 Hiệu quả kinh tế 69
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 71
Kết luận 71
Đề nghị 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
Trang 14xii
DANH SÁCH CÁC BẢNG
BẢNG
Bảng 1.1 Thành phần dinh dưỡng của DDGS từ các nguồn khác nhau
Bảng 1.2 Thành phần axit amin DDGS từ các nguồn khác nhau
Bảng 1.3 Thành phần khoáng trong DDGS từ các nguồn khác nhau
Bảng 1.4 Thành phần hóa học của bắp, lúa miến, và các phụ phẩm được dẫn
xuất từ bắp và lúa miến
Bảng 1.5 Thành phần axit amin của bắp, lúa miến, và các phụ phẩm được dẫn
xuất từ bắp và lúa miến
Bảng 1.6 Khả năng tiêu hóa thật của axit amin trên heo
Bảng 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm
Bảng 2.2 Thành phần nguyên liệu trong thức ăn số 6
Bảng 2.3 Thành phần nguyên liệu trong thức ăn số 7
Bảng 2.4 Thành phần nguyên liệu trong thức ăn số 8
Bảng 2.5 Bố trí thí nghiệm
Bảng 2.6 Thành phần nguyên liệu trong thức ăn số 10
Bảng 2.7 Lịch tiêm phòng vaccin cho heo nái mang thai, nuôi con và heo con
Bảng 3.1 Kết quả phân tích thành phần hóa học DDGS
Bảng 3.2 Kết quả phân tích nấm mốc DDGS thí nghiệm
Bảng 3.3 Hàm lượng tối đa của một số loại độc tố trong thức ăn cho heo
Bảng 3.4 Trọng lượng của heo qua các giai đoạn thí nghiệm
Bảng3.5.Tăng trọng tuyệt đối của heo qua các giai đoạn thí nghiệm
Bảng 3.6 Lượng thức ăn tiêu thụ của heo thí nghiệm
Bảng 3.7 Hệ số chuyển biến thức ăn của heo thí nghiệm
Bảng 3.8 Ảnh hưởng của việc sử dụng DDGS trong khẩu phần heo thịt lên một
số chỉ tiêu chất lượng quày thịt xẻ
Bảng 3.9 Thành phần hóa học thịt thăn của heo thí nghiệm
Trang 15xiii
Bảng 3.10 Chỉ số iod trên heo thí nghiệm
Bảng 3.11 Tỷ lệ ngày con tiêu chảy của heo thí nghiệm (%)
Bảng 3.12 Tỷ lệ heo chết và loại thải của thí nghiệm
Bảng 3.13 Chi phí thức ăn cho 1 kg tăng trọng
Bảng 3.14 Trọng lượng nái và dày mỡ lưng của heo nái thí nghiệm
Bảng 3.15 Lượng thức ăn của nái từ 90 ngày đến 26 ngày sau khi sinh
Bảng 3.16 Thời gian lên giống lại của nái giữa các lô thí nghiệm
Bảng 3.17 Heo con sơ sinh, còn sống, chọn nuôi, thực tế, còn sống đến cai sữa/ổ
Bảng 3.18 Trọng lượng bình quân của heo con thí nghiệm
Bảng 3.19 Tỉ lệ ngày con tiêu chảy
Bảng 3.20 Hiệu quả kinh tế của thí nghiệm
Trang 16xiv
DANH SÁCH CÁC HÌNH
HÌNH
Hình 1.1.Sản lượng sản xuất DDGS qua các năm tại Mỹ
Hình 1.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu DDGS tại Mỹ theo dự đoán
FAPRI 08/2008
Hình 1.3 Phương pháp sản xuất DDGS trong công nghiệp
Hình 1.4 Màu sắc khác nhau của DDGS
Hình 1.5 So sánh màu DDGS từ các khu vực miền Trung Tây Hoa Kỳ
Hình 3.1 Mối tương quan giữa trọng lượng bình quân và % sử dụng DDGS
Hình 3.2 Mối tương quan giữa tăng trọng tuyệt đối và % DDGS sử dụng
Hình 3.3 Mối tương quan giữa hệ số chuyển biến thức ăn và % DDGS sử dụng
Hình 3.4 Mặt cắt thịt thăn
Hình 3.5 Chỉ số iod trên heo thí nghiệm
Hình 3.6 Tỉ lệ hao mòn trọng lượng nái của các lô thí nghiệm
Hình 3.7 Dày mỡ lưng của nái lúc 3 ngày sau sinh
Hình 3.8 Tỉ lệ hao mòn mỡ lưng ở các lô thí nghiệm
Hình 3.9 Lượng thức ăn trung bình trong 1 ngày của 1 nái ở các lô thí nghiệm
Hình 3.10 Tỉ lệ heo con sơ sinh còn sống/ổ
Hình 3.11 Trọng lượng bình quân heo con cai sữa
Hình 3.12 Tăng trọng bình quân/con ở các lô thí nghiệm
Trang 171
MỞ ĐẦU
Đặt vấn đề
Trong những năm qua, ngành chăn nuôi heo ở nước ta đều có sự gia tăng về
số lượng, chất lượng cũng như tổng sản lượng thịt Rất nhiều trại chăn nuôi heo theo hướng công nghiệp được hình thành Nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật được áp dụng trong lĩnh vực con giống, chuồng trại, công tác quản lý và đặc biệt trong thức
ăn, một lĩnh vực chiếm gần 70% giá thành sản phẩm
DDGS (DistillersDried GrainswithSoluble) là sản phẩm phụ của quá trình sản xuất ethanol công nghiệp từ hạt ngũ cốc (chủ yếu là bắp) Trong quá trình lên men, tinh bột được chuyển hóa thành ethanol, CO2 và một số chất dinh dưỡng còn lại trong DDGStăng lên tới 2 - 3 lần so với hạt ngũ cốc ban đầu; bao gồm: 26,4% protein, 13,6% béo, 6,76% xơ và 4,74% Trên thế giới, người ta sử dụng DDGS làm nguyên liệu thức ăn cho gia súc hơn 50 năm nay; nhưng chỉ qua những năm gần đây, việc sản xuất ethanol làm nhiên liệu cho ngành công nghiệp tăng mạnh DDGS
là sản phẩm phụ của quá trình này nhờ đó cũng tăng nhiều Mỹ là quốc gia sản xuất DDGS lớn nhất thế giới, trong năm 1980 sản lượng DDGS tại Mỹ chỉ là 320.000 tấn, nhưng qua các năm sản lượng đã tăng mạnh, đặc biệt trong năm 2005 tăng lên 7.000.000 tấn (Markham, 2005) Theo viện nghiên cứu chính sách nông nghiệp và thực phẩm FAPRI,sản xuất DDGS tăng rất nhanh từ 15 triệu tấn (năm 2006 – 2007) đến hơn 35 triệu tấn (năm 2009 – 2010) và được dự đoán năm 2013 đạt khoảng 43 triệu tấn
Qua quá trình tìm hiểu chúng tôi nhận thấy tiềm năng rất lớn khi sử dụng DDGS trong chăn nuôi heo công nghiệp và đã ghi nhận rất nhiều nghiên cứu ứng dụng DDGS trong chăn nuôi heo trên thế giới Tuy nhiên, ở Việt Nam chưa có nghiên cứu cụ thể ứng dụng DDGS trong chăn nuôi heo, để góp phần tăng thêm nguyên liệu thức ăn nhằm tăng sự lựa chọn cho chăn nuôi, chúng tôi thực hiện đề
Trang 182
tài: “Sử dụng DDGS (DistillersDried GrainswithSoluble) trong khẩu phần thức
ăn heo thịt từ 90 ngày tuổi đến xuất chuồng (90kg) và heo nái mang thai từ 90 ngày đến cai sữa heo con”
Mục đích
- Tìm thêm nguồn nguyên liệu thức ăn có thể sử dụng trong chăn nuôi heo thịt và heo nái nuôi con
- Tìm hiểu những ảnh hưởng khi sử dụng DDGS trong khẩu phần thức ăn
heo thịt và heo nái nuôi con
Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá ảnh hưởng của DDGS trong khẩu phần thức ăn heo thịt lên một số chỉ tiêu (khả năng tăng trưởng, chất lượng quày thịt xẻ, phẩm chất thịt, lượng thức
ăn tiêu thụ, …) và năng suất của heo nái trong giai đoạn nuôi con thông qua các chỉ tiêu trên heo nái và trên heo con theo mẹ
- Tính sơ bộ hiệu quả kinh tế mang lại khi sử dụng DDGS trong chăn nuôi heo thịt và heo nái nuôi con
Trang 193
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1 Giới thiệu sơ lược về DDGS
Nghị định thư Kyoto là một thoả thuận ràng buộc quốc tế có tính pháp lý nhằm giảm thiểu khí nhà kínhgây thay đổi khí hậu.Nghị định có hiệu lực vào tháng 1/2005, thúc đẩy việc tìm ra nguồn năng lượng sạch với môi trường, chính vì vậy công nghiệp sản xuất ethanol đã được lựa chọn nhằm thay thế một phần năng lượng hóa thạch
DDGS (bã rượu khô) là sản phẩm phụ của quá trình sản xuất ethanol công nghiệp từ một số loại ngũ cốc (chủ yếu là bắp) Trong quá trình lên men, tinh bột được chuyển hóa thành ethanol và CO2do đó dưỡng chấtnhưprotein, chất béo, chất xơ và chất khoáng trong phần bã DDGS tăng lên 2 tới 3 lần so với hạt ngũ cốc ban đầu Ngoài ra, giá thành khẩu phần thức ăn sử dụng DDGS thấp hơn so với bắp, do vậy DDGS ngày càng được sử dụng rộng rãi để thay thế bắp trong thức ăn chăn nuôi gia
súc, gia cầm và thuỷ cầm
1.1.1 Tình hình sản xuất DDGS
Mỹ là quốc gia sản xuất ethanol từ ngũ cốc có sản lượng và diện tích trồng bắp lớn nhất; mỗi năm họ xuất khẩu 50% tổng lượng bắp xuất khẩu của thế giới Do đó, DDGS (phụ phẩm của quá trình sản xuất ethanol) tại Mỹ là rất lớn Theo Bộ Nông Nghiệp Mỹ (2006) có khoảng 50% tổng sản lượng bắp dùng cho gia súc, 20% xuất khẩu, 20% dùng sản xuất ethanol, 10 % cho người và kĩ nghệ chế biến nông sản.Sau
Mỹ làLiên Minh Châu Âu (EU) và Nhật Bản cũng là các quốc gia sản xuất ethanol rất lớn
Trang 204
Tại Mỹ, năm 1980 sản lượng DDGS chỉ là 320,000 tấn, tăng qua các năm đặc biệt trong năm 2005 tăng lên 7.000.000 tấn (Markham, 2005trích Shuron, 2005) Theo Viện nghiên cứu chính sách nông nghiệp và thực phẩm FAPRI cho biếtsản xuất DDGS tăng rất nhanh từ 15 triệu tấn năm 2006 - 2007 đến hơn 35 triệu tấn năm 2009 – 2010,
và dự đoán năm 2013 – 2014 sản lượng đạt 43 triệu tấn(Hayes, 2008)
Tình hình sản lượng DDGS tại Mỹ năm 1980-2014 được trình bày qua hình 1.1
Mỹ công bố ước lượng sản xuất ethanol đạt 16,8 tỷ gallon (1 US gallon = 3,785lít) trong năm 2013- 2014, nhưng FAPRI nhận địnhsố liệu này là không chính xác Trong thực tế, một nghiên cứu của Togkoz và ctv (2007), sử dụng mô hình khác nhưng có thể dự kiến sản xuất ethanol tại Mỹ khoảng 30 tỷ gallon, gần như gấp đôi so với con số đưa ra (Hayes, 2008)
Hình 1.1 Sản lượng sản xuất DDGS qua các năm tại Mỹ
(Nguồn: Steve Markham trích Shurson (2005) và FAPRI trích từ Hayes (2008))
Trang 21Quy trình sản xuất DDGS được tóm tắt trong hình 1.3
Hình 1.2.Tình hình sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu DDGS tại Mỹ theo FAPRI
Trang 226
Hình 1.3.Phương pháp sản xuất DDGS trong công nghiệp
Trang 237
Theo Olentine (1986), quy trình sản xuất ethanol trải qua các bước sau:
Bước một là nghiền nhỏ nguyên liệu: Nguyên liệu là bắp sau khi được kiểm tra
kĩ về số lượng, chất lượng thì được cho vào máy nghiền Việc kiểm tra nguyên liệu rất
là quan trọng, vì nếu nguyên liệu không tốt thì DDGS sẽ có chất lượng rất xấu.Trong quá trình nghiền nhiên liệu, nếu như bắp được nghiền kĩ hay thời gian nghiền đủ thì trong quá trình lên men rượu sẽ xảy ra tốt hơn
Bước hai là quá trình hấp: tại những nhà máy sản xuất lớn nhiên liệu được hấp tiếp tục sau quá trình nghiền, nhưng đối với những nhà máy nhỏ nguyên liệu sau khi nghiền được chia thành những mẻ nhỏ Tại đây nguyên liệu được bơm thêm nước sau
đó hòa tan thêm men để một thời gian Thời gian này được giữ bí mật của từng nhà máy, sau đó hỗn hợp sẽ được làm mát
Bước ba là quá trình phối trộn: quá trình phối trộn này phụ thuộc nhiều vào loại nấm men sử dụng và cần sự phối trộn số lượng và chất lượng của các loại nấm men thật chuẩn xác.Trong quá trình này, nhiệt độ sản xuất không được cao vì khi nhiệt độ cao sẽ làm mất tác dụng của nấm men
Bước bốn là quá trình pha loãng tiếp tục được xảy ra, tại đây hỗn hợp sẽ được pha loãng với nước Quá trình này phụ thuộc vào thể tích của thùng chứa dùng để đựng hỗn hợp khi pha loãng
Bước năm là quá trình lên men: đây là khoảng thời gian nguyên liệu lên men để chuyển hóa tinh bột thành rượu Quá trình phụ thuộc rất nhiều vào số lượng, chất lượng nấm men sử dụng Trong quá trình này lượng axit sinh ra phải được kiểm soát nếu không axit sẽ kìm hãm hoạt độngnấm men Lúc này, yếu tố nhiệt độ và thời gian cần luôn luôn được quan tâm
Bước sáu là quá trình bay hơi: Phải chú ý nhiệt độ bay hơi luôn giữ đúng để tạo
ra lượng hơi rượu cần thiết và kiểm soát sự thay đổi thể tích khi rượu bay hơi
Trang 248
Bước bảy là quá trình nhào trộn: Phần bã còn lại sau khi làm bay hơi rượu được nhào trộn Hoạt động của máy nhào trộn gồm có đứng yên, quay, rung Ngoài ra,còn sử dụng máy nén, máy li tâm để quá trình nhào trộn xảy ra tốt hơn
Bước tám, đây là quá trình sấy khô: Nếu bã rượu bị sấy ở nhiệt độ quá cao và thời gian quá lâu sẽ làm cho nguyên liệu có màu vàng sậm không bắt mắt
1.1.3 Giá trị dinh dưỡng của DDGS
Thành phần dinh dưỡng, các axit amin, khoáng chất của DDGS nhiều tác giả trên thế giới phân tích được trình bày qua bảng 1.1, bảng 1.2, bảng 1.3
Trang 25Dấu “-“: không có trong tài liệu tham khảo Qua bảng trên cho hàm lượng dưỡng chất căn bản như protein thô, béo thô, xơ thô, khoáng tổng số còn lại trong DDGS tương ứng là đạt khá cao
Trang 2610
Bảng1.2.Thành phần axit amin DDGS từ các nguồn khác nhau
Axit amin Trung
bình Dao động Axit amin tổng số Axit amin tiêu hóa biểu kiến
Trong đó: A: Từ 27 nguồn DDGS (Shuron, 2005)
B: NRC, 1998, trích từ Shurson và ctv, 2000
MNDDGS (MNSD),olderMidwesternplant(OMP)DDGS,NRC(1998), HeartlandLysine(1998), and Feedstuffs Reference Issue (FRI) (1999)
Dấu “-“: Không có trong tài liệu tham khảo
Trang 2711
Bảng1.3.Thành phần khoáng trong DDGS từ 27 nguồn khác nhau
Bắp và lúa miến là 2 loại ngũ cốc thường được dùng để sản xuất ethanol
trong công nghiệp, so sánh thành phần hóa học của bắp, lúa miến và các đồng sản
phẩm được Stein (2008) đúc kết qua bảng 1.4
Bảng1.4.Thành phần hóa học của bắp, lúa miến và các phụ phẩm được dẫn xuất từ
bắp và lúa miến
Thành phần Bắp Lúa miến
DDGS Bắp
DDGS Lúa miến
DDG Bắp
Trang 2812
Bảng 1.5 Thành phần axit amin của bắp, lúa miến, và các phụ phẩm được dẫn
xuất từ bắp và lúa miến
Thành phần Bắp Lúa miến DDGS
bắp
DDGS lúa miến
DDG bắp
* Số mẫu phân tích
Qua bảng 1.4, 1.5, nhận thấy các thành phần dưỡng chất trong DDGS bắp đều cao hơn gần gấp 3 lần so với bắp ban đầu như protein, Ca,béo, xơ, khoáng Đặc biệt là các axit amin thiếu yếu như lysine, methionine, tryptophan…
Trang 2913
1.1.4 Một số đặc điểm của DDGS
Hầu hết các hạt ngũ cốc chứa khoảng 60% - 70% tinh bột dễ tiêu hoá và hấp thụ trên heo ở dạng glucose Tuy nhiên, sau khi lên men trong quá trình sản xuất ethanol, phần lớn tinh bột được chuyển thành rượu Do vậy, các sản phẩm DDGS
có hàm lượng tinh bột thấp, các chất bột đường vì thế cũng thấp hơn so với hạt ngũ cốc và hầu hết carbohydrates là chất xơ Trong khi hàm lượng các chất dinh dưỡng khác thường cao hơn so với các hạt ban đầu(Stein, 2008)
Theo Stein và Shuron (2009), DDGS có thể sử dụng trên heo ở tất cả các giai đoạn DDGS có năng lượng tiêu hoá, năng lượng trao đổitương tự của bắp, photpho tiêu hóa cao và giá trị tiêu hóa biểu kiến gần 60%, tinh bột thấp (3 – 11%) nhưng có chất béo (10%), ADF, NDF và tổng chất xơ trong khẩu phần cao hơn gấp
3 lần so với bắp (tương ứng 9,9; 25,3 và 42,1 (%)) Cũng theo Stein (2010) khẩu phần có DDGS cần được tính dựa trên axit amin và photpho tiêu hóa thì có thể sử dụng DDGS cho heo nái và heo thịt khoảng 20%, nái mang thai khoảng 40%
Axit amin, photpho và năng lượng là ba trong những thành phần được chú ý khi tổ hợp khẩu phần thức ăn của heo Qua quá trình tham khảo tài liệu chúng tôi ghi nhận về axit amin, photpho và năng lượng ở các phần sau
1.1.4.1 Độ tiêu hóa của axit amin
Bảng 1.6 cho thấy khả năng heo tiêu hóa axit amin của nhiều nguồn DDGS Điều nàygiúp xác định chính xác hơn thành phần axit amin trong DDGS để lựa chọn làm thức ăn cho heo (Shuron, 2005)
Bảng1.6.Độ tiêu hóa thật của axit amin trong DDGS trên heo
Axit amin Tiêu hóa thật axit amin, % Hệ số tiêu hóa, % Trung bình
Trang 3014
Độ tiêu hóa của các axit amin trong DDGS thấp hơn khoảng 10% so với bắp Điều này, có thể do DDGS có chứa lượng lớn chất xơ, làm ảnh hưởng đến khả năng tiêu hóa axit amin, cũng có thể do trong quá trình sản xuất DDGS ở nhiệt độ cao, gây hư hỏng axit amin đặc biệt là lysine Vì vậy, người ta khuyến cáo nên phân tíchlượnglysine trước khi sử dụng DDGS trong khẩu phần cho heo(Stein và ctv, 2006)
Giữa các nguồn DDGS khác nhau thì không có khác nhau về khả năng tiêu hóa axit amin chỉ trừ lysine (giá trị lysine thường không cao trong DDGS) Lysine trong DDGS có thể bị hư do quá trình chế biến nhiệt độ cao Chỉ sử dụng DDGS khi tỉ lệ lysine/protein thô cao hơn 2,8%.Khi sử dụng DDGS với tỉ lệ lớn hơn 20% nên bổ sung thêm L-lysine với tỉ lệ là 0,015% cho mỗi 10% DDGS trong khẩu phần (Stein, 2010)
1.1.4.2 Độ tiêu hóa của photpho
Hàm lượng photpho trong DDGS có độ tiêu hóa cao là điều cần quan tâm trong khẩu phần thức ăn cho heo Photpho trong DDGS cao và hữu dụng hơnso với photpho trong bắp Photpho trong bắp chỉ khoảng 0,25% và chỉ 14% là photpho hữu dụng trong khi DDGS có khoảng 0,78% và chủ yếu là photpho hữu dụng Điều này, giúp giảm cung cấp photpho vô cơ trong khẩu phần nên làmgiảm chi phí thức ăn Đặc biệt khi sử dụng DDGS, lượng photpho vô cơ thải ra ngoài môi trường từ phân
sẽ giảm, giảm tồn dư các khoáng vô cơ là một vấn đề quan trọng mà bảo vệ môi trường hiện nay đang quan tâm(Shurson, 2005 và Stein, 2010)
Qua quá trình sản xuất ethanol, men phytase đã cắt các nối photpho Vì vậy tiêu hóa photpho trong DDGS cao hơn so với bắp(Widmer và ctv, 2007)
1.1.4.3 Độ tiêu hóa của năng lượng
Theo Pedersen và ctv (2007), hàm lượng chất xơ caonên khả năng tiêu hóa năng lượng của DDGS thấp hơn bắp do làm giảm tiêu hóa trong ruột non và sự lên men trong ruột già ít hơn 50% so với bắp Tỷ lệ tiêu hóa năng lượng DDGS là
Trang 3115
82,9% so với bắp là 90,4% Tuy nhiên, do mức năng lượng trong DDGS cao hơn bắp (5.434 so với 4.496 kcal/ kg chất khô) nên năng lượng tiêu hóa trong DDGS tương tự như trong bắp (4.088 so với 4.140 kcal năng lượng tiêu hóa/kg chất khô)
Điều này cũng phù hợp với các kết luậncủaShuron (2005) và Stein (2010), các tác giả cho rằng không có sự khác biệt giữa năng lượng tiêu hoá và năng lượng trao đổi của bắp và DDGS Đây là một thông tin quan trọng vì nó có ý nghĩa trong việc quyết định bổ sung ít hoặc không có bổ sung chất béo để đạt được mức năng lượng mong muốn trong khẩu phần ăn có chứa DDGS
1.1.5 Các biến động phẩm chất DDGS
Biến động phẩm chất DDGS là rất lớn, có thể dựa vào màu sắc, độc tố của DDGS là 2 thành phần quan trọng để đánh giá chất lượng của DDGS
1.1.5.1 Màu sắc
Phân tích thành phần hóa học, tính chất vật lý, giá trị dinh dưỡng của DDGS
từ 7 nhà máy sản xuất đồ uống có cồn và 2 nhà máy sản xuất nhiên liệu cồn cho thấy, đặc điểm về màu sắc của DDGS thay đổi nhiều, có thể từ màu vàng sáng đến màu nâu đậm, về mùi từ bình thường đến mùi cháy hoặc khét DDGS cóprotein thôdao động từ 23,4 - 28,7%;béotừ 2,9 - 12,8%; NDF từ 28,8 – 40,3%;ADFtừ 10,3 – 18,1%;chất khoáng từ 3,4 – 7,3% vàlysinetừ 0,43 – 0,89%(Cromwell và ctv, 1993)
Hình 1.4.Màu sắc khác nhau của DDGS
Trang 3216
Kết quả nghiên cứu cho thấy màu vàng của DDGS có tỷ lệ thuận với axit amin tiêu hóa trên heo do phản ứng Maillard có thể xảy ra trong quá trình sấy khô ở nhiệt độ cao Các nghiên cứu đã được tiến hành bằng cách sử dụng máy đo màu Minolta và cho thấy màu vàng nhẹ và độ sáng DDGS có tương quan cao với khả năng tiêu hóa lysine Nếu DDGS có màu vàng nhẹ và có độ sáng cao thì hàm lượng lysine trong DDGS là cao và ngược lại(Shurson, 2005)
Sự đa dạng phẩm chất của DDGS được trìnhbày qua bảng 1.2 khi so sánh các mẫu DDGS từ các khu vực miền Trung Tây Hoa Kỳ
Hình1.5 So sánh màu DDGS từ các khu vực miền Trung Tây Hoa Kỳ (Shurson,
2005)
1.1.5.2 Độc tố
Công ty Biomin khởi xướng và tiến hành một nghiên cứu với 103 mẫu nhận được chủ yếu từ Mỹ (67%) và Châu Á Khoảng 99% các mẫu DDGS được xét nghiệm dương tính với ít nhất một độc tố nấm mốc,96% của những mẫu này bị nhiễm đồng thời 2 hoặc nhiều loại độc tố nấm mốc Các độc tố xét nghiệm chính là aflatoxin B1, zearalenone (ZON), deoxynivalenol (DON hay vomitoxin - độc tố gây nôn mửa), T-2 toxin và fumonisins (FUM) Tất cả các xét nghiệm được tiến hành bởi Quantas Analytics Austria, và Romer Labs Singapore, được thực hiện với
Trang 3317
các qui trình chuẩn, aflatoxins, ZON và tổng FUM được phân tích bằng HPLC (Sắc
ký lỏng cao áp) trong khi giá trị của DON được phân tích bằng TLC (Thin Layer Chromatography - Sắc ký lớp mỏng) (Allaboutfeed, 2007)
Xét về mức độ nhiễm độc tố nấm mốc thìchất lượng của các sản phẩm phụ như DDGS phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng của hạt ngũ cốc mà các cơ sở sản xuất cồn sinh học mua vào Nếu hạt ngũ cốc bị hư chiếm phần lớn thì mức nhiễm độc tố nấm mốc trong phụ phẩm sẽ cao hơn, vì hạt ngũ cốc là nơi thích hợp cho nấm mốc phát triển và sau đó sản sinh độc tố nấm mốc
Như trên đã cho thấy quá trình lên men trong sản xuất DDGS không phá huỷ được độc tố nấm mốc Ngược lại, nó khiến chúng trở nên dễ hấp thụ hơn đối với vật nuôi Do hàm lượng độc tố thay đổi nên có thể trong DDGS có 1 độc tố riêng lẻ hoặc nhiều độc tố cùng một lúc Với số liệu phân tích từ Biomin, sử dụng 15% DDGS có thể có số lượng độc tố như sau 1216 µg/kg ZON, 1800 µg/kg DON, 33 µg/kg độc tố T-2, 1356 µg/kg FUM và 13 µg/kg AfB1 Sự hiện diện độc tố trong DDGS như vậy nên Biomin khuyến cáo tỉ lệ DDGS được sử dụng trong khẩu phần
là 5% cho heo cai sữa, 20% các loại heo như heo thịt, nái hậu bị, nái chửa và nái nuôi con; với gia cầm tỉ lệ này là 10% cho gà thịt (giai đoạn 1) tới 20% cho gà đẻ
Ngoài ra, theo Rustemeyer (2010), aflatoxin B1 có thể có nhiều trong DDGS bởi vì hàm lượng aflatoxin trên bắp trong quá trình sản xuất ethanol không bị mất
đi, sẽ tập trung trong DDGS Do vậy tăng lượng DDGS cũng có thể tăng hàm lượng độc tố aflatoxin B1 dẫn đến giảm lượng thức ăn ăn vào, giảm tăng trọng, tăng tỉ lệ bệnh trên gan Trong quá trình dự trữ DDGS có thể làm tăng hàm lượng độc tố nấm mốc nên khi bổ sung vào khẩu phần DDGS ở mức cao đồng nghĩa với lượng độc tố nấm mốc trong 1 đơn vị thức ăn sẽ tăng lên, gây ảnh hưởng không tốt đến sức khoẻ vật nuôi
Tuy nhiên, Zhangvà ctv (2009) đã phân tích độc tố: aflatoxin, deoxynivalenol, fumonisins, T- 2 và zearalenone trong 235 mẫu DDGS thu thập từ
Trang 34Ảnh hưởng của DDGS trên khả năng tiêu hóa axit amin, năng lượng và chất xơđược làm rõ qua thí nghiệm của Urriola và Stein (2010).Thí nghiệm được thực hiện trên 16 heo thịt trọng lượng 38 ± 1,6 kg đã được đặt lỗ dò ở hồi tràng và manh tràng Thời kỳ đầu tất cả heo thí nghiệm được ăn khẩu phần có bắp và đậu nành
Trang 3519
Thời kỳ 2, 3, 4 chia ra làm 2 khẩu phần thức ăn: khẩu phần đối chứng (bắp và đậu nành); khẩu phần thí nghiệm có chứa bắp, đậu nành và 30% DDGS Kết quả tiêu hóa biểu kiếnhồi tràng AID (apparent ileal digestibility)của lysine là 74,1% trong DDGS thấp hơn so với lô đối chứng 78,6%, nhưng hầu hết tiêu hóa biểu kiến hồi tràng của các axit amin, năng lượng thô, xơ trung tính và xơ tiêu hóa tổng số không
có sự khác biệt giữa 2 khẩu phần Tiêu hóa biểu kiến ở mức toàn phần ATTD (apparent total tract digestibility) của DDGS cho kết quả: năng lượng thô (81,0%),
xơ trung tính(57,2%) và vật chất khô (81,7%) thấp hơn so với lô đối chứng (tương ứng là 86,0; 69,3 và 87,2%) Acid béo bay hơi trong hồi tràng, manh tràng và phân không có sự khác nhau ở 2 khẩu phần; pH của hồi tràng và manh tràng trong DDGS
là 6,3 và 5,5 cao hơn so với khẩu phần đối chứng tương ứng là 5,8 và 5,3 Tiêu hóa biểu kiến ở mức toàn phần của vật chất khô, năng lượng thô, xơ acid và xơ trung tính không thay đổiở các thời kỳ nuôi nhưng tiêu hóa biểu kiến hồi tràng của xơ acid, xơ trung tínhtăng từ thời kỳ 2 - 4(P<0,05)
Xu và ctv (2010) đã thí nghiệm trên 432 heo (29,8 ± 0,2 kg trọng lượng) chia làm 9 khẩu phần: D0, D15-0WK, D15-3WK, D15-6WK, D15-9WK, D30-0WK, D30-3WK, D30-6WK, D30-9WK Trong đó D0, D15, D30 là khẩu phần chứa tương ứng 0, 15, 30% DDGS Còn 0WK,3WK,6WK,9WK tương ứng là 0, 3,
6, 9 tuần mà DDGS được sản xuất ra Kết quả cho thấy khẩu phần có 15%, 30% DDGS và các mẫu lấy theosố tuần sản xuất DDGS không ảnh hưởng (với P=0,76) đến tăng trọng trên ngày, lượng ăn hàng ngày và hệ số chuyển biến thức ăn ngoại trừ tăng trọng trên ngày có giảm nhẹ (0,87 so với 0,92 kg/ngày, P<0,05) khi ăn khẩu phần D30-0WK so với khẩu phần đối chứng D0 Chất lượng thịt xẻ, điểm màu sắc chất béo của mỡ lưng, mỡ bụng không chịu ảnh hưởng bởi khẩu phần có DDGS Về
độ săn chắc bụng thì trên heo ăn các khẩu phần thí nghiệm không có sự khác biệt chỉ trừ heo ăn khẩu phần D30 – 0WK có độ săn chắc bụng lớn hơn so với khẩu phần D0 Thành phần axit Linoleic và chỉ số iod của mỡ bụng tăng dần khi tăng DDGS trong khẩu phần(Xu và ctv, 2010)
Trang 3620
DDGS có thể tăng cường hệ miễn dịch cho heo được chứng minh qua thí nghiệm của Weber và ctv (2009) (trích Allaboutfeed, 2009), heo cai sữa được chia làm 4 nhóm và cho ăn các chế độ bổ sung DDGS khác nhau Sau một tuần nhóm nghiên cứu đã theo dõi sự tăng lên của yếu tố cytokine trong ruột của heo có sử dụng DDGS và đưa ra nhận xét làviệc bổ sung thêm DDGS giảm bớt khả năng mắc bệnh viêm ruột trên heo Do đó, có thể sử dụng DDGS lên đến 40% trong khẩu phần nhưng đối với heo con thì hàm lượng tối đa là 7,5% vì sự sinh trưởng của chúng có thể giảm sút khi ăn quá nhiều chất xơ
Thí nghiệm sử dụng DDGS và LS-DDG (low-solubles distillers dried grains)
để thay thế bắp, đậu nành trong khẩu phần được thực hiện bởi Dahlen (2011) Có 3 khẩu phần: không sử dụng (đối chứng);khẩu phần có 20% LS-DDGvà khẩu phần có 20% DDGS Kết quả cho thấy ở cả 3 khẩu phần không có sự khác biệt về trọng lượng, tăng trọng trên ngày, lượng thức ăn tiêu thụ Khẩu phần LS-DDG có tăng trọng/ thức ăn (0,367) tương đương với khẩu phần DDGS (0,370), nhưng giảm so với khẩu phần đối chứng (0,380) Tỷ lệ móc hàm thấp đối với heo ăn khẩu phần LS-DDG (72,8%) hoặc DDGS (72,8%) so với heo ở đối chứng (73,8%) Heo ăn khẩu phần LS-DDG có nạc thăn tương tự heo ăn khẩu phần đối chứng, nhưng cao hơn so với heo ăn khẩu phần có DDGS Nhìn chung, khi sử dụng khẩu phần LS-DDG có mức năng lượng tương tự với khẩu phần DDGS trên heo thịt đã giúp giảm ảnh hưởng xấu đến chất lượng thịt heo
Thong và ctv (1978) đã thực hiện thí nghiệmthay thế bắp và đậu nành bằng DDGS trong khẩu phần heo nái nuôi con Thí nghiệm được tiến hành trên 64 heo nái với trọng lượng khoảng 120 kg, các mức thay thế DDGS trong khẩu phần heo nái là 0; 17,7; 44,2 (%) Kết quả ghi nhận được là trọng lượng nái, số heo con trên
ổ, trọng lượng heo con cai sữa có sự khác biệt không có ý nghĩa trên cả 3 lô thí nghiệm.Lượng nitơ (gam) giữ lại trên một ngày (từ ngày 84 đến ngày 88 trong thời gian mang thai) cũng khác biệt không có ý nghĩa giữa các khẩu phần Phần trăm
Trang 37Kết quả ghi nhận là không có ảnh hưởng của các khẩu phần thức ăn thí nghiệm (1; 2; 3; 4) đến trọng lượng bình quân của heo con/ổ lúc 18 ngày tuổi, kết quả lần lượt các lô là (46,0; 46,3; 42,1; 42,2 (kg)) và hao mòn trọng lượng nái tương ứng là(8,1; 7,2; 7,4; 6,3 (kg)) Tuy nhiên, thí nghiệm đã cho thấy hàm lượng photpho trong phân giảm khi nái sử dụngthức ăn có DDGS và DDGS + phytase so với nái ăn thức ăn với bắp và bắp + phytase
Một nghiên cứu của Song và ctv (2010) sử dụng DDGS thay thế bắp, đậu nành trong khẩu phần căn bản của heo nái từ 109 ngày mang thai đến cai sữa heo con Thí nghiệm chia làm 5 lô: lô 1 đối chứng; lô 2, 3, 4 thay thế bắp và đậu nành bằng 10; 20; 30 % DDGS; lô 5 thay thế bắp và đậu nành bằng 30% DDGS có protein cao Kết quả cho thấy không có ảnh hưởng của DDGS trên lượng thức ăn ăn vào và mỡ lưng của heo nái Tuy nhiên, nái ăn khẩu phần 30% DDGS có protein cao thì giảm trọng nhiều hơn so với nái ăn khẩu phần đối chứng Trên heo con theo
mẹ thì không có ảnh hưởng đến tỉ lệ chết trên heo con trước cai sữa, trọng lượng ổ
và tăng trọng bình quân của heo con trên các khẩu phần thí nghiệm Nái ăn khẩu phần có 20 và 30 % DDGS có ít PUN (Plasma Ure Nitrogen) hơn nái ăn khẩu phần đối chứng và khẩu phần có 30% DDGS protein cao
Tóm lại, từ các thí nghiệm trên cho thấy DDGS có thể sử dụng được trên heo thịt và nái nuôi con
Trang 3822
Chương 2
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Nội dung
Đề tài được thực hiện với 3 nội dung chính như sau:
Đánh giá thành phần hóa học và độc tố nấm mốc có trong DDGS thí nghiệm Khảo sát ảnh hưởng của DDGS trong khẩu phần thức ăn heo thịt lên khả năng tăng trưởng, chất lượng quày thịt xẻ và phẩm chất thịt
Khảo sát ảnh hưởng của DDGSlên khả năng sinh sản của heo nái mang thai
từ 90 ngày đến cai sữa heo con
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phân tích thành phần hóa học và độc tố nấm mốc có trong DDGS
DDGS được phân tích để xác định thành phần dưỡng chất như vật chất khô, protein thô, béo thô, xơ thô và khoáng tổng số tại bộ môn Dinh dưỡng trường Đại học Nông Lâm TP HCM theo phương pháp AOAC (Association of official chemists, 1984)
- Vật chất khô: Mẫu được sấy ở nhiệt độ 1050C đến khi trọng lượng không đổi
- Protein thô: Được xác định bằng phương pháp Kjeldahl
- Béo thô: Được xác định bằng phương pháp Soxhlet
- Xơ thô: Được xác định bằng phương pháp Heneberg và Stoman
- Khoáng tổng số: Được xác định bằng cách đốt mẫu ở nhiệt độ 5500C trong 4 giờ
Trang 3923
Độc tố nấm mốc:Mẫu DDGS thí nghiệm được gửi đến phòng thí nghiệm của
Đại Học Kỹ Thuật Chaoyang của Đài Loan trước khi vào thí nghiệm, phương pháp
phân tích một số nấm mốc là:
- Aflatoxin: ELISA, Flourometer
- Zearalenone: ELISA, Flourometer
- Fumonisin: ELISA, Flourometer
Bố trí thí nghiệm theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên 1 yếu tố
Thí nghiệm được tiến hành trên 176 heo lai 3 máu giữa các giống Yorkshire,
Landrace và Duroc chia làm 4 nghiệm thức, được phân bố đồng đều về giới tính,
trọng lượng,lặp lại 2 lần.Trọng lượng trung bình khoảng (20 ± 1) kg/con (khoảng 60
ngày tuổi).Heo được nuôi đến trọng lượng xuất chuồng khoảng 90kg(khoảng 94
ngày nuôi).Sơ đồ bố trí thí nghiệm được trình bày trong bảng 2.1
Trang 4024
2.2.2.3 Vật liệu thí nghiệm
Thức ăn: Khẩu phần dùng cho heo thí nghiệm được cân đối về năng lượng,
protein, acid amin thiết yếu và các khoáng chất cần thiết Thức ăn cho heo thí nghiệm là thức ăn dạng bột do trại tự trộn, được đóng gói dưới dạng bao 25 kg Tùy theo giai đoạn của heo mà sử dụng khẩu phần thích hợp:
Giai đoạn 1: heo từ 30 kg đến khi đạt khoảng 50 kg sử dụng thức ăn số 6 Giai đoạn 2: heo từ 50 kg đến khi đạt khoảng 75 kg sử dụng thức ăn số 7 Giai đoạn 3: heo từ 75 kg đến khi xuất chuồng thì sử dụng thức ăn số 8 Thành phần nguyên liệu và dưỡng chất của thức ăn thí nghiệm được ghi nhận trong các bảng 2.2,bảng 2.3 và bảng 2.4